Nghị Quyết Trung Ương 6 (Lần 2)

--- Bài mới hơn ---

  • Báo Cáo Thực Hiện Nghị Quyết Tw 6 (Lần 2)
  • Đảng Ủy Catw Tiếp Tục Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Tw 6 (Lần 2)
  • Báo Cáo Tình Hình, Kết Quả Thực Hiện Cuộc Vận Động Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng Theo Tinh Thần Nqtw5, Nqtw6 (Lần 2) Tại Đảng Bộ Quận 10 Trình Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Quận Lần Viii
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 15
  • Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Trong diễn văn khai mạc Hội nghị Trung ương 6 (lần 2), với tinh thần rất cao trước Đảng và nhân dân, Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã phân tích thực trạng của Đảng đầy sâu sắc. Từ Hội nghị quan trọng này, Ban Chấp hành Trung ương đã có một quyết định đặc biệt là phải tiến hành cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tự phê bình và phê bình.

    Nghị quyết Hội nghị về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay được ban hành sau đó nêu rõ: “Trước yêu cầu mới ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng, trong Đảng đang bộc lộ một số yếu kém: sự suy thoái về tư tưởng chính trị; tình trạng tham nhũng, quan liêu, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên có chiều hướng phát triển nghiêm trọng hơn.

    Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không nghiêm, bộ máy tổ chức của Đảng và Nhà nước chậm được củng cố và đổi mới. Để đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy rmạnh CNH, HĐH đất nước, Đảng phải có biện pháp phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa các khuyết điểm, tiếp tục củng cố, chỉnh đốn, để ngày càng vững mạnh về mọi mặt, đặc biệt là về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tổ chức và cán bộ”.

    Nhớ lại giai đoạn này, Thượng tướng Phạm Thanh Ngân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cho biết, sở dĩ có Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) – khoá VIII là vì trong Đảng khi đó có một số vấn đề suy thoái, cả về tư tưởng chính trị cũng như lối sống – dù mới chỉ chớm nở, bắt đầu thì bị phát hiện.

    “Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu và Bộ Chính trị đã họp bàn và quyết định phải có Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) – mặc dù trước đó đã có Nghị quyết Trung ương 6 rồi, để chấn chỉnh, chỉnh đốn kịp thời”- Thượng tướng Phạm Thanh Ngân chia sẻ.

    Theo ông Ngân, nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu là người rất tâm huyết với công tác xây dựng Đảng. Ông luôn đặt vấn đề xây dựng Đảng là then chốt và rất chú ý đến đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, sao cho phù hợp, lập lại kỉ cương trong Đảng.

    “Thực tế trong Đảng cũng có những giai đoạn có vấn đề này, vấn đề khác không đi đúng quỹ đạo. Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã rất kiên quyết để chấn chỉnh, và Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII về công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã ra đời trong bối cảnh đó” – ông Ngân lý giải và khẳng định, Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) đã kịp thời ngăn chặn sự suy thoái khi nó mới manh nha. Nghị quyết này cũng tạo nên một sức mạnh mới, sức chiến đấu mới để xây dựng Đảng và lấy lại lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

    Lan toả quyết tâm chỉnh đốn Đảng

    Cũng nói về sự ra đời của Nghị quyết trên, nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam Phạm Thế Duyệt nhìn nhận, Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) rất có ý nghĩa, rất có giá trị về nguyên tắc, về vai trò lãnh đạo của Đảng.

    “Gọi là Trung ương 6 (lần 2) vì Hội nghị Trung ương 6 chỉ bàn được một việc về kinh tế, nên phải họp tiếp một phiên, bàn riêng về vấn đề xây dựng chỉnh đốn Đảng, lấy tên là Trung ương 6 (lần 2)”- ông Duyệt giải thích.

    Vẫn mạch hồi tưởng, nguyên Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam kể: “Chúng tôi đã có những bàn bạc, anh Phiêu đã chỉ đạo rất chặt chẽ, đặt ra vấn đề phải có cơ quan thường trực giúp cho Bộ Chính trị, cho Thường vụ, cho Thường trực, cho Tổng Bí thư. Anh Vũ Quốc Hùng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Trung ương được đưa sang làm Trưởng Bộ phận Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (lần 2), làm việc ngay ở số 4 Nguyễn Cảnh Chân.

    Các vụ việc lớn mà Trung ương phải xử lý thì việc gì phải đưa ra Bộ Chính trị, ra Thường vụ, ra Trung ương, các cái đó đều phải bàn. Với quyết tâm rất lớn từ đồng chí Tổng Bí thư, đó là thời gian giải quyết được rất nhiều vụ việc”- ông Duyệt nhìn nhận.

    Cho rằng khoảng thời gian đó tuy ngắn nhưng theo ông Phạm Thế Duyệt, thời điểm đó đã làm được rất nhiều việc, tạo sự chuyển biến từ trên xuống dưới, tạo được thái độ thẳng thắn chân thực không bị dao động hay thiếu bản lĩnh trong những quyết định.

    “Cuộc kiểm điểm phê và tự phê bình trong Bộ Chính trị được làm rất nghiêm túc, quyết liệt, thẳng thắn tới mức dư luận bên ngoài lúc ấy đặt câu hỏi, người ta không hiểu trong nội bộ có việc gì. Bộ Chính trị phải kiểm điểm từ đồng chí Tổng Bí thư trở xuống” – ông Duyệt kể, đồng thời cho biết, đó là những cuộc kiểm điểm ấy “khác so với các cuộc sinh hoạt bình thường”. Từ các cuộc kiểm điểm này, quyết tâm chỉnh đốn Đảng lan toả ra toàn thể Ban Chấp hành Trung ương, ra toàn thể các cấp uỷ.

    Có thể nói, nhiệt huyết mà nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu dành cho Đảng, cho công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn cháy bỏng, bất kể ông còn đương chức hay đã nghỉ hưu. Đó là bởi ông vẫn luôn một niềm tin yêu với lý tưởng mà mình đã chọn. Sau này, trong một lần chia sẻ với Báo Công an TPHCM, ông nói: “Cần phải thấy rằng vấn đề Đảng, vấn đề dân là quan trọng. Phải làm sao Đảng phải thật sự trong sạch, thật sự là người đầy tớ của dân”.

    Nguyên Tổng Bí thư cũng lưu ý, Đảng phải bàn chính bản thân Đảng cho đến nơi đến chốn mà trong đó vai trò lãnh đạo của Đảng đã đành rồi, nhưng đạo đức, phẩm chất của một Đảng cầm quyền cũng phải xem sao, lòng dân đối với Đảng ra sao. Từ con người đảng viên, cho đến con người cấp uỷ đảng viên, cho đến tổ chức của Đảng phải xem lại thì mới giải quyết được vấn đề.

    “Tôi tin, nếu chúng ta làm tốt tinh thần này thì dứt khoát chúng ta sẽ nâng cao sức chiến đấu của Đảng và Đảng mới trở lại đúng bản chất của Đảng mà Bác Hồ đã dày công rèn luyện, xây dựng cho chúng ta” – nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu nêu quan điểm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nghị Trung Ương 12 Khóa Iii Khẳng Định Quyết Tâm Đánh Thắng Giặc Mỹ Xâm Lược
  • Kiểm Tra Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Và Chỉ Thị 05
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Nghị Quyết Trung Ương 4 Và Chỉ Thị 05
  • Nghị Quyết Trung Ương 4 Và Chỉ Thị 05
  • Thông Báo Hội Nghị Lần Thứ Hai Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khóa Xii)
  • Bài Tập Đường Lối: Nghị Quyết Trung Ương 2 Khóa Viii

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Hai Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khoá Viii) Về Định Hướng Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục
  • Quy Định Về Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên & Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii
  • Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xii: Tăng Cường Công Khai, Minh Bạch, Dân Chủ Giữa Đảng Với Dân
  • Mẫu Kế Hoạch Tổ Chức Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12
  • Kế Hoạch Học Tập, Quán Triệt Và Tuyên Truyền Và Triển Khai Thực Hiện Các Nội Dung Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xii
  • A/ LỜI MỞ ĐẦU Bác Hồ lúc sinh thời từng nói: “Non sông Việt Nam có thể trở nên tươi đẹp được hay không, dân tộc Việt Nam có thể bước tới đài vinh quanh để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em.” .Qua đó, ta có thể thấy giáo dục-đào tạo có một vai trò rất quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Nhận định rõ được điều này, Đảng ta đã thể hiện rõ sự quan tâm và sự định hướng của mình với giáo dục-đào tạo qua Nghị quyết TW2 khóa VIII. Trong phạm vi bài viết của mình, nhóm chúng em xin được giới thiệu sơ qua về Nghị quyết này. B/NỘI DUNG: I/Nội dung nghị quyết 1/ Thực trạng giáo dục và đào tạo ở nước ta trước 1996 Phần đầu tiên của Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII đã tổng kết lại những thành tựu cùng như hạn chế từ đó đề ra phương hướng phát triển ngành giảo dục Việt Nam trong thời kì đổi mới. Thông qua Nghị quyết trung ương 2 khóa VIII chúng ta có thể nhân thấy được nhưng thành tựu giáo dục trong cả chặng đường từ 1945 đến 1996. Tiêu biểu cho những thành tựu đó là: “Mạng lưới trường học phát triển rộng khắp ; ngǎn chặn được sự giảm sút quy mô và bước tǎng trưởng khá; chất lượng giáo dục – đào tạo có tiến bộ về các môn khoa học tự nhiên và kỹ thuật; nhiều học sinh đạt giải quốc tế; ở nhiều nơi hình thành phong trào học tập sôi nổi;… Đồng thời Nghị quyết đã chỉ rõ nhưng mặt yếu kém của giảo dục Việt Nam Vẫn còn 9% dân số mù chữ; tỷ lệ sinh viên còn thấp; tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 10%. Cơ cấu ngành,trình độ, cơ cấu xã hội và cơ cấu vùng chưa hợp lý..Chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo còn thấp. Những biểu hiện tiêu cực, thiếu kỷ cương trong giáo dục đang có chiều hướng gia tǎng.. Đội ngũ cán bộ vừa thiếu vừa yếu, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục – đào tạo trong giai đoạn mới… Nguyên nhân của những yếu kém này là do: Công tác quản lý giáo dục – đào tạo có những mặt yếu kém. Cơ chế quản lý của nghành giáo dục – đào tạo chưa hợp lý. Nội dung giáo dục – đào tạo vừa thừa vừa thiếu. Phương pháp giáo dục-đào tạo chậm đổi mới. Giáo dục- đào tạo chưa kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất, nhà trường chưa gắn mật thiết với gia đình và xã hội. Chính phủ và các cơ quan nhà nước chưa có những quyết định đủ mạnh về chính sách, cơ chế và biện pháp tổ chức thực hiện giáo dục- đào tạo. .. 2/ Định hướng chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa: Để thực hiện yêu cầu vừa phát triển nhanh quy mô giáo dục – đào tạo, vừa gấp rút nâng cao chất lượng giáo dục – đào, Nghị quyết đã đề ra định hướng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá với những tư tưởng chỉ đạo như sau: Một là, nhiệm vụ chủ yếu và cơ bản của giáo dục là xây dựng những con người và thế hệ thiết tha gắn bó với ý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo, trong các chính sách, nhất là chính sách về công bằng xã hội. Hai là, thực sự coi giáo dục – đào tạo là quốc sách hàng đầu. Ba là, coi giáo dục – đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Bốn là, phát triển giáo dục – đào gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, với tiến bộ khoa học – công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh. Năm là, thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục – đào tạo. Sáu là, giữ vai trò nòng cốt của các trường công lập đi đôi với đa dạng hoá các loại hình giáo dục – đào tạo, trên cơ sở Nhà nước thống nhất quản lý. Đồng thời Hội nghị cũng đặt ra những mục tiêu phát triển cho giáo dục nước ta đến năm 2021, trong đó nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng và hoàn thiện, nâng cao chất lượng toàn bộ hệ thống giáo dục, từ bậc học mầm non cho tới đại học và trung cấp chuyên nghiệp, đáp ứng nhu cầu về con người cho đất nước. Đây là mục tiêu có tính chiến lược, dài hạn, đòi hỏi sự nỗ lực và phối hợp lớn không chỉ từ Bộ giáo dục mà cả từ hệ thống giáo dục trên cả nước. 3/ Nhiệm vụ và mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo đến năm 2000 Phát huy những thành tựu đã đạt được, phát huy các mặt yếu kém theo hướng: chấn chỉnh công tác quản lý, khẩn trương lập lại trật tự, kỷ cương, kiên quyết đẩy lùi tiêu cực; sắp xếp và củng cố hệ thống giáo dục – đào tạo và mạng lưới trường lớp; nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo; phát triển quy mô giáo dục – đào tạo, chuẩn bị tiền đề cho những bước phát triển mạnh vào đầu thế kỷ 21. Trên cơ sở định hướng chiến lược trình bày ở trên, tiến hành xây dựng chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo cho thời kỳ công nghiệp hoá , hiện đại hoá. Ban hành Luật giáo dục. Trong nǎm nǎm này, Đảng, Nhà nước, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội và toàn dân phải tập trung sức thực hiện bằng các nhiệm vụ trên, giải quyết các vấn đề bức xúc, nổi cộm, tạo nên sự phát triển ổn định với một chất lượng được cải thiện, phát triển nguồn nhân lực yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, điều kiện giải quyết việc làm cho nhân dân, nhất là thanh niên. Mục tiêu cụ thể nǎm 2000 Nghị quyết đã xác định được những mục tiêu chủ yếu là thực hiện giáo dục toàn diện đức dục trí dục, thẩm dục, mỹ dục ở tất cả các bậc học. Hết sức coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nhân cách, khả nǎng tư duy sáng tạo và nǎng lực thực hành. – Phát triển bậc học mầm non phù hợp với điều kiện và yêu cầu của từng nơi.. – Phổ cập giáo dục bậc tiểu học được học đủ 9 môn theo trương trình quy định. Phổ cập trung học cơ sở ở các thành phố, đô thị, các vùng kinh tế trọng điểm.- Thanh toán nạn mù chữ cho những người trong độ tuổi 15 – 35- Tǎng quy mô học nghề bằng mọi hình thức để đạt 22% – 25% đội ngũ lao động được qua đào tạo vào nǎm 2000. Kế hoạch đào tạo nghề phải theo sát chương trình kinh tế – xã hội của từng vùng, phục vụ cho sự chuyển đổi lao động, cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn và nông nghiệp. – Nâng quy mô giáo dục đại học, cao đẳng lên 1,5 lần so với nǎm 1995 với cơ cấu đào tạo hợp lý , theo sát nhu cầu phát triển. Xây dựng một số trường đại học trọng điểm. – Có hình thức trường, lớp thích hợp nhằm đào tạo bồi dưỡng cán bộ chủ chốt xuất thân từ công nông và lao động ưu tú, con em các gia đình thuộc diện chính sách. – Đối với miền núi, vùng sâu vùng khó khǎn, xoá “điểm trắng” về giáo dục ở bản, ấp. Mở thêm các trường dân tộc nội trú và bán trú cụm xã, các huyện, tạo nguồn cho các trường chuyên nghiệp và đại học để tạo cán bộ cho các dân tộc…. 4/ Những giải pháp chủ yếu Không chỉ đề ra những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể mà nghị quyết Trưng ương 2 khoá VIII còn đưa ra những giải pháp trên từng bước đi chặng đường nhằm định hướng chiến lược phát triển gíáo dục – đào tạo trong thời kì công nghiệp hoá hiện đại hoá. Nghị quyết đã đưa ra 4 giải pháp chính, khắc phục những nhược điểm cũng như để phù hợp với tình hình của nền giáo dục hiện tại. Đó là : tăng cường các nguồn lực có giáo dục – đào tạo; xây dựng đội ngũ giáo viên, tạo động lực cho người dạy, người học; tiếp tục đổi mới nội dung phương pháp giáo dục – đào tạo, và tăng cường cơ sở vật chất các trường học; đổi mới công tác quản lí giáo dục. Với phương châm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, thì việc tăng cường nguồn lực cho giáo dục – đào tạo là hoàn toàn hợp lí. Nghị quyết đã khẳng định: Đầu tư cho giáo dục – đào tạo lấy từ nguồn chi thường xuyên và nguồn chi phát triển trong ngân sách nhà nước. Ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ yếu trong tổng nguồn lực cho giáo dục – đào taọ và được sử dụng tập trung, ưu tiên cho việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, đào tạo cán bộ cho một số ngành trọng điểm, bồi dưỡng nhân tài, trợ giúp cho giáo dục ở những vùng khó khǎn và diện chính sách. Công khai mức học phí và các khoản đóng góp, luôn ưu tiên hộ trợ cho người nghèo và người thuộc diện chính sách. Đặc biệt với chính sách cho học sinh sinh viên vay vốn để có điều kiện học tập đã giúp cho nhiều hoàn cảnh khó khăn tiếp tục trên con đường học tập. Xây dựng đội ngũ giáo viên. tạo động lực cho người dạy, người học.. Hết sức tạo điều kiện trong việc đào tạo trong các trường sư phạm, có những chính sách ưu tiên cho giáo viên có thể yên tâm học tập và giảng dạy ở khắp các vùng miền trên cả nước. Trong bất cứ một vấn đề nào thì phương pháp luôn giữ một vai trò quan trọng. Chính bởi thế Nghị quyết chủ trương tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục- đào tạo và tăng cường cơ sở vật chất trong các trường học.. Đổi mới chương trinh sách giáo khoa cho phù hợp, tổ chức cho học sinh sinh viên tham gia nhiều hoạt động đảm bảo phát triển toàn diện. Giải pháp thứ 4 là đổi mới công tác quản lí giáo dục. Luôn phải tăng cường dự báo và kế hoạch sự nghiệp giáo dục. Quy định lại chức năng, nhiệm vụ các cơ quan quản lí, kiểm soát chặt chẽ chương trình và chất lượng. Xử lí nghiêm các trường hợp tiêu cực trong ngành. Coi trong công tác nghiên cứu khoa học giáo dục. Tăng cường hợp tác nước ngoài.những đổi mới về nội dung, quy trình phương pháp giáo dục, đấnh giá… đều phải dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ lưỡng và trải qua thực nghiệm, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và đưa vào nhà trường theo đúng quy định. Có thể nói những giải pháp mà Đảng đề ra trong nghị quyết là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu và nhiệm vụ giáo dục trong thời kì mới, nó như những chủ trương chiến lược để các cấp các ngành và từng cá nhân làm theo tiến tới mục tiêu phát triển nền giáo dục nước nhà. 5/ Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục – đào tạo Trong nghị quyết TW2 khóa VIII, sự lãnh đạo của Đảng với giáo dục và đào tạo đã được tăng cường, đều được triển khai theo chỉ thị của Đảng, cụ thể là Bộ Chính trị Trung ương Đảng. Ở cấp TW, việc thể chế hóa nhiệm vụ, mục tiêu phát triển giáo dục – đào tạo đến nǎm 2000, tổng kết những đổi mới trong giáo dục – đào tạo được tổng kết và xây dựng chiến lược được Ban cán sự Đảng Chính phủ chỉ đạo. Dự án Luật Giáo dục cũng được Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo hoàn thiện trình lên Quốc hội. Ở cấp dưới, Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt Trận tổ chức phong trào toàn dân học tập, tham gia làm giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh ở từng địa phương, trước hết trong chính đoàn thể mình. Tổ chức Đảng được tǎng cường xây dựng, củng cố để trở thành hạt nhân lãnh đạo trong các trường học. II/ Đánh giá thực hiện nghị quyết trung ương 2 khóa VIII 1/Mặt tích cực: – Giáo dục và đào tạo đã giữ vững mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong nội dung, chương trình và chính sách giáo dục. Phát huy được những ảnh hưởng tích cực, hạn chế tiêu cực của cơ chế thị trường, khuynh hướng thương mại hoá trong giáo dục. – Cải thiện công bằng xã hội trong giáo dục, đặc biệt đối với trẻ em gái, dân tộc thiểu số và con em các gia đình nghèo, các đối tượng bị thiệt thòi trong xã hội… Giáo dục ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa tiếp tục phát triển. – Các trường công lập giữ được vai trò nòng cốt trong phổ cập giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực. các trường ngoài công lập phát triển nhanh về số lượng. Việc phát triển giáo dục và đào tạo gắn với phát triển kinh tế – xã hội, khoa học – công nghệ. – Hệ thống giáo dục quốc dân được hoàn thiện hơn. Quy mô giáo dục tăng nhanh (ở bậc đại học và đào tạo nghề). Mạng lưới cơ sở giáo dục được mở rộng đến hầu hết các xã, phường, thị trấn trong toàn quốc. Cả nước đã hoàn thành công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000. – Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, giáo trình ở phổ thông, dạy nghề và đại học đang được tích cực thực hiện, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, giúp học sinh, sinh viên tiếp cận với phương pháp học tập mới. Chất lượng đào tạo sau đại học, đại học, đào tạo nghề ở một số ngành được nâng lên. – Ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục tăng nhanh. Việc huy động các nguồn lực trong xã hội đầu tư cho giáo dục được kiểm soát và tăng dần hiệu quả sử dụng, đạt hiệu quả khá cao. – Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, đóng góp quan trọng cho sự nghiệp giáo dục. 2/Mặt hạn chế: Tuy nhiên, trong quá trinh thực hiện nghị quyết trung ương 2 khóa VII giáo dục, đào tạo nước ta vẫn còn nhiều thiếu sót, chưa đáp ứng được với yêu cầu mà nghị quyết đã đề ra. Giáo dục chưa thực sự là quốc sách hàng đầu. Mặc dù hàng năm, giáo dục được đầu tư ngân sách rất lớn nhưng hiệu quả sử dụng lại không cao. Chất lượng giáo dục còn thấp, chênh lệch giữa các vùng miền, chú trọng số lượng hơn là chất lượng. Trong những năm gần đây, việc thành lập các trường đại học, cao đẳng mới tràn lan trong khi các trường này không đáp ứng được các điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên khiến chất lượng đào tạo đi xuống, sinh viên ra khỏi trường không kiếm được việc làm. Hệ thống giáo dục chưa liên thông, đồng bộ giữa các cấp học, ngành học, cơ cấu, trình độ ngành nghề, vùng, miền. Việc giáo dục đạo đức, lối sống, truyền thống dân tộc chưa được chú trọng đúng mức cả về nội dung lẫn phương pháp khiến học sinh thiếu kĩ năng sống, mất cân đối trong việc hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiên đại hóa. Nhà trường chưa gắn chặt với đời sống xã hội, nghề nghiệp, chưa chú trọng phát huy tính chủ động sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên; thi cử còn nặng nề, tốn kém. Giáo dục phổ cập ở nhiều cơ sở chưa bền vững.Công tác quản lý giáo dục còn nhiều yếu kém, chậm đổi mới chưa theo kịp được với sự phát triển trên các lĩnh vực của đất nước. Đạo đức và năng lực của các cán bộ quản lý giáo dục còn thấp. Đội ngũ nhà giáo chưa đáp ứng được yêu cầu. Chât lượng nghiên cứu khoa học còn nhiều bất cập chưa đề ra được những biện pháp hiệu quả khắc phục những hạn chế, yếu kém. Định hướng liên kết với nước ngoài còn nhiều lúng túng trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Quản lý sinh viên Việt Nam học tập tại nước ngoài còn lỏng lẻo. Một số ngành, địa phương chưa nhận thức đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục làm hạn chế khả năng thu hút các nguồn lực để chăm lo cho công tác giáo dục đào tạo III/ KẾT LUẬN Giáo dục – đào tạo đã, đang và vẫn sẽ luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu không chỉ của Đảng ta mà còn của toàn xã hội. Nghị quyết TW2 khóa VIII là bản tổng kết tình trạng thời kỳ trước đó và mục tiêu, định hướng lãnh đạo của Đảng ta về giáo dục – đào tạo trong giai đoạn 1996-2000. Tuy vẫn còn tồn tại một số nhược điểm nhưng cũng không thể phủ nhận những đổi mới trong đường lối định hướng lãnh đạo của Đảng ta với công tác giáo dục. Đây là một trong những cố gắng của Đảng để hoàn thiện, chăm lo đời sống của nhân dân, đưa nước ta từng bước phát triển tiến tới có thể “sánh vai với các cường quốc năm châu” như mong ước của Bác Hồ năm nào

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 Lần 2 Khóa Viii
  • 4 Quan Điểm Của Nghị Quyết 8B Khóa Vi
  • Đề Cương Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa 12
  • Đề Cương Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xi
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Đảng Viên
  • Báo Cáo Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 Lần 2 Khóa Viii

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Tập Đường Lối: Nghị Quyết Trung Ương 2 Khóa Viii
  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Hai Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khoá Viii) Về Định Hướng Chiến Lược Phát Triển Giáo Dục
  • Quy Định Về Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên & Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii
  • Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xii: Tăng Cường Công Khai, Minh Bạch, Dân Chủ Giữa Đảng Với Dân
  • Mẫu Kế Hoạch Tổ Chức Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12
  • BÁO CÁO THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 6 ( LẦN 2 ) KHÓA VIII

    VỀ ĐẨY MẠNH CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, ĐẤU TRANH

    NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI TỆ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ (2000 – 2005)

    Phần thứ nhất KIỂM ĐIỂM THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI TỆ THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ

    Quận uỷ đã tổ chức thực hiện nghiêm túc Kế hoạch số 39-KH/TU ngày 17/3/1999 của Thành uỷ về triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết, triển khai học tập, quán triệt nghị quyết cho cán bộ chủ chốt trong 2 ngày có 215 đồng chí dự, cho đảng viên trong 1 ngày có 1.940 đồng chí dự, đạt 87%. Trong học tập đã triển khai một số các quy định, chỉ thị của Thành uỷ, về chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng, những điều đảng viên không được làm, chế độ kiểm tra cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ. Tổ chức đợt sinh hoạt kỷ niệm 30 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiến tới kỷ niệm 70 năm ngày thành lập Đảng; học tập Cương lĩnh, Điều lệ Đảng cho đảng viên (có 2.150 đồng chí dự, đạt 85%), học tập 10 chuyên đề về tư tưởng, đạo đức cách mạng của Hồ Chí Minh cho cán bộ chủ chốt. Qua việc học tập đã tổ chức các đợt tự phê bình và phê bình trong tổ chức Đảng, đảng viên nhằm xây dựng và chỉnh đốn Đảng, rèn luyện nhận thức chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của cán bộ, đảng viên, tăng cường đoàn kết nội bộ.

    Thực hiện các quy định, chỉ thị của Trung ương và Thành uỷ về việc đánh giá, phân loại tổ chức Đảng, đảng viên, kiểm điểm cán bộ. Định kỳ tổ chức sơ kết việc thực hiện các quy định, chỉ thị như kiểm tra việc lãnh đạo thực hiện quy định của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm; việc lập lại kỷ cương chấp hành pháp luật, nâng cao trách nhiệm quản lý nhà nước; về trách nhiệm của người có chức vụ, quyền hạn ở các cơ quan, tổ chức trong việc phòng chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; 3 pháp lệnh về cán bộ, công chức; Chỉ thị số 15-CT/TU của Thành uỷ thực hiện “3 xây, 3 chống”.

    Quận uỷ đã thành lập Ban Chỉ đạo 6(2) và Tổ chỉ đạo chống tham nhũng, có quy chế, chương trình công tác phối hợp với các ngành chức năng thực hiện kiểm tra đảng viên, tổ chức Đảng và các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí. Hàng năm tổ chức sơ kết đánh giá kết quả thực hiện NQTW6(2).

    Qua việc học tập Nghị quyết Trung ương 6(2) hầu hết cán bộ, đảng viên đều nâng cao được nhận thức chính trị, nắm vững, kiên định 6 quan điểm có tính nguyên tắc, nhận thức rõ hơn về 4 nguy cơ và âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch, đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn sự đoàn kết thống nhất, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh có ý thức học tập và nâng cao năng lực công tác để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới, nhiều cán bộ, đảng viên phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu làm nòng cốt trong các phong trào được quần chúng tín nhiệm.

    Các cấp uỷ Đảng đã xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết, tăng cường công tác quản lý đảng viên, tổ chức cho đảng viên đăng ký chương trình thực hiện nghị quyết, học tập lý luận chính trị, ngoài ra còn tổ chức tốt các cuộc hội thi, hội thảo chuyên đề như học tập tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng qua đó đã giáo dục về chính trị, tư tưởng, truyền thống cách mạng cho đảng viên và quần chúng.

    Thực hiện chủ trương cải cách hành chính, cải cách tư pháp đã nâng cao được vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các ngành chức năng. Bộ máy của Ủy ban nhân dân Quận, 16 phường được củng cố, xác định chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền rõ ràng theo luật định và quy chế. Tiếp tục thực hiện chương trình cải cách hành chánh theo cơ chế “một cửa, một dấu”, tổ chức thí điểm mô hình Tổ nghiệp vụ hành chính công, khắc phục một số thủ tục hành chính rườm rà, thực hiện công khai rõ ràng quy trình, thủ tục, thời gian giải quyết hồ sơ hành chính trên các lĩnh vực cấp phép đăng ký kinh doanh, cấp phép xây dựng, xử lý các trường hợp vi phạm về xây dựng; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần giải quyết các công việc kịp thời, rút ngắn thời gian, nâng cao chất lượng phục vụ cho người dân.

    Thường xuyên giáo dục cán bộ, công chức nhà nước về tinh thần trách nhiệm và thái độ văn minh trong tiếp xúc, giải quyết các yêu cầu của nhân dân, chống quan liêu, hách dịch, nhũng nhiễu gây phiền hà dân.

    Tập trung củng cố các cơ sở Đảng yếu kém, chất lượng sinh hoạt Đảng ngày càng được nâng cao, thể hiện rõ vai trò hạt nhân chính trị, góp phần xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh. Kết quả phân loại cơ sở đảng trong sạch vững mạnh năm 2001 đạt 69,1%, cơ sở đảng yếu kém 3,7%. Năm 2004 cơ sở đảng trong sạch vững mạnh đạt 79,4%, cơ sở đảng yếu kém 1,47%.

    Đã kiểm tra, xử lý 75 đ/c đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng. Công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo được kịp thời, đúng quy định. Việc xử lý kỷ luật đã nâng cao được ý thức của các cấp uỷ Đảng, đảng viên trong việc xây dựng Đảng, chấp hành các quy định, chỉ thị, nghị quyết của Đảng.

    Quận uỷ và các cấp uỷ cơ sở xây dựng kế hoạch kiểm tra việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tổ chức sơ kết thực hiện các pháp lệnh và quy định của Trung ương về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thực hiện các quy định cụ thể về việc tổ chức các ngày lễ, tết, ngày kỷ niệm truyền thống, lễ đón nhận Huân chương, họp mặt một cách thiết thực, tiết kiệm, khắc phục tình trạng phô trương hình thức, lãng phí. Thành lập tổ công tác của Quận uỷ kiểm tra trực tiếp 5 phường, 3 đơn vị hành chính-sự nghiệp; đa số các đơn vị đều thực hiện tiết kiệm hơn so với những năm trước. Hầu hết cán bộ, công chức thực hiện tốt Chỉ thị số 27-CT/TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.

    Trong hoạt động của các cơ quan, Thủ trưởng đơn vị đã xây dựng các quy định, quy chế làm việc nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, khắc phục tệ quan liêu, cửa quyền, tham nhũng, gây phiền hà với nhân dân, đồng thời lắng nghe ý kiến phản ánh, phê bình của cán bộ, công chức. Hầu hết cán bộ, công chức thực hiện tốt 3 pháp lệnh của Chính phủ về cán bộ, công chức, chấp hành các quy định về những việc cán bộ, công chức không được làm.

    – Qua việc học tập các quy định, chỉ thị, nghị quyết của Đảng đã nâng cao nhận thức tư tưởng, chính trị của các cấp uỷ Đảng, đảng viên, thống nhất cao với các quan điểm có tính nguyên tắc của Đảng, đa số đảng viên phát huy tốt vai trò tiên phong gương mẫu giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, gần gũi, sâu sát quần chúng.

    – Các cấp uỷ đã tập trung củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và đảng viên; nền nếp, nguyên tắc sinh hoạt đảng được giữ vững, phát huy dân chủ nội bộ, đảng viên tham gia góp ý xây dựng nghị quyết sát hợp với tình hình địa phương, nhiều đơn vị đã tập trung chỉ đạo tốt việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, quan tâm lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, an ninh trật tự, tệ nạn xã hội… Đặc biệt chú ý lãnh đạo giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc ở địa phương, không để xảy ra điểm nóng.

    – Sau các đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình của các cấp uỷ Đảng, đảng viên đã nâng cao được vai trò trách nhiệm trong việc củng cố tổ chức cơ sở Đảng, đảng viên, tập trung các biện pháp nhằm khắc phục, sửa chữa khuyết điểm, yếu kém, xử lý nghiêm túc các vụ việc vi phạm từ đó đã xây dựng các quy định về công tác quản lý đảng viên, đánh giá, quản lý cán bộ, thực hiện công tác quy hoạch cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cơ sở.

    – Qua việc thực hiện nghị quyết, một số cấp uỷ Đảng, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới, chương trình hành động chưa cụ thể, chưa tạo được sự chuyển biến đồng bộ trong nhận thức và hành động.

    – Một số cấp uỷ chưa làm tốt công tác giáo dục chính trị tư tưởng, việc tổ chức triển khai, quán triệt nghị quyết, chỉ thị ở một số cơ sở Đảng còn hạn chế; một bộ phận đảng viên còn ngại nghiên cứu, học tập chính trị; nhận thức chưa theo kịp tình hình, còn chủ quan trong phòng chống tham nhũng.

    – Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu ở một vài tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế, chưa thể hiện vai trò hạt nhân chính trị (chi bộ yếu kém tỷ lệ 1,47%), còn tư tưởng nể nang, ngại phê bình, không dám đấu tranh với sai trái, nền nếp sinh hoạt một số chi bộ chưa đều, chất lượng chưa cao, việc phân công đảng viên còn chung chung; một số chi bộ không kết nạp được đảng viên trong 2-3 năm liền.

    Nguyên nhân của khuyết điểm: Năng lực lãnh đạo của một số cấp uỷ Đảng, công tác triển khai thực hiện nghị quyết, quản lý điều hành ở một số đơn vị chưa theo kịp với sự phát triển của tình hình và thực tiễn đặt ra. Tinh thần đấu tranh tự phê bình, phê bình của một số đảng viên và tính chiến đấu trong sinh hoạt chi bộ chưa được phát huy mạnh. Một vài chi bộ công tác kiểm tra, quản lý đảng viên chưa được thực hiện một cách thường xuyên. Một bộ phận đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, thiếu đề cao trách nhiệm trước tổ chức và nhân dân.

    Phần thứ hai PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ CHỦ YẾU CỦA CÔNG TÁC XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG, CHỐNG THAM NHŨNG, LÃNG PHÍ TRONG NHIỆM KỲ 2005 – 2010 1/ Công tác chính trị tư tưởng:

    Tiếp tục thực hiện chỉ thị của Ban Bí thư về “đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh”. Tổ chức tốt việc học tập, nghiên cứu, quán triệt các văn kiện Nghị quyết Đại hội đảng các cấp nhất là học tập quán triệt Nghị quyết Đại hội X của Đảng, tạo sự thống nhất về nhận thức tư tưởng; thực hiện quy định về chế độ học tập lý luận chính trị, chuyên môn cho cán bộ, đảng viên. Kịp thời uốn nắn những biểu hiện dao động về tư tưởng, sự suy giảm niềm tin vào CNXH, vào chủ nghĩa Mác-Lênin, sự lãnh đạo của Đảng; chống tư tưởng bè phái, cục bộ, gây mất đoàn kết. Xây dựng phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh trong cán bộ, đảng viên theo Chỉ thị số 15-CT/TU của Thành uỷ.

    Tập trung quán triệt chức năng, nhiệm vụ các loại hình tổ chức cơ sở Đảng và nghiệp vụ công tác Đảng cho các cấp uỷ. Làm chuyển biến, đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của chi bộ thực sự là hạt nhân chính trị ở đơn vị, phấn đấu có 85% chi bộ đạt trong sạch vững mạnh. Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên; thực hiện tốt công tác phân tích chất lượng cơ sở Đảng, đảng viên, tự phê bình và phê bình hàng năm, phát huy vai trò tính tiên phong gương mẫu của đảng viên sâu sát cơ sở, quần chúng. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ từng bước chuẩn hoá trình độ cán bộ theo quy định.

    Tiếp tục triển khai sâu rộng trong bộ máy nhà nước và nhân dân Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) về dân chủ cơ sở. Tập trung củng cố, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở nhằm tạo điều kiện để nhân dân phát huy và thực hiện tốt quy chế dân chủ. UBMTTQ và các đoàn thể chính trị đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tăng cường vai trò giám sát, xây dựng tổ chức hướng mạnh về cơ sở. Chú trọng một số nội dung “dân bàn, dân giám sát, dân quyết định”; thực hiện công khai những nội dung theo quy định một cách đầy đủ, rộng rãi. Duy trì chặt chẽ, thường xuyên công tác tiếp dân, giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo của công dân theo đúng quy định.

    Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) đã tạo ra sự chuyển biến, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng, xây dựng các tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh, tăng cường được sự đoàn kết thống nhất về nhận thức chính trị, tạo được niềm tin của quần chúng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đảng bộ. Tuy nhiên cũng còn những mặt khuyết điểm, hạn chế. Ban chấp hành Đảng bộ nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và có phương hướng cụ thể khắc phục thiếu sót nhằm thực hiện có kết quả NQTW6(2) trong thời gian tới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Quan Điểm Của Nghị Quyết 8B Khóa Vi
  • Đề Cương Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa 12
  • Đề Cương Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xi
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Đảng Viên
  • Toàn Quốc Học Tập, Quán Triệt, Triển Khai Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8
  • Quân Đoàn 2 Quán Triệt, Thực Hiện Nghị Quyết 765 Của Quân Ủy Trung Ương

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 765 Của Quân Ủy Trung Ương
  • Nội Dung Nghị Quyết 765 Của Quân Ủy Trung Ương
  • Quân Khu 1 Và Quân Chủng Hải Quân Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 765 Của Quân Ủy Trung Ương
  • Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 765 Của Quân Ủy Trung Ương
  • Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 765 Của Quân Ủy Trung Ương
  • Những năm qua, Quân đoàn 2 đã quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 765-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương về “Nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 – 2021 và những năm tiếp theo” bằng nhiều biện pháp quyết liệt, đồng bộ và đạt được những kết quả tích cực. Đây là tiền đề quan trọng để Quân đoàn tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết trong thời gian tới.

    Nghị quyết 765-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương là văn kiện quan trọng, nhằm tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy các cấp đối với công tác huấn luyện, với trọng tâm tập trung đổi mới, nâng cao chất lượng công tác huấn luyện, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nhận thức rõ tầm quan trọng của Nghị quyết này, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 đã lãnh đạo, chỉ đạo các cấp ủy, tổ chức đảng, các đơn vị tổ chức học tập, quán triệt và nghiêm túc triển khai thực hiện. Đảng ủy Quân đoàn đã ra Nghị quyết 253-NQ/ĐU, ngày 13-6-2013 “Về nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 – 2021 và những năm tiếp theo”, cụ thể hóa quan điểm, phương châm chỉ đạo, mục tiêu, yêu cầu huấn luyện, phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ của một đơn vị chủ lực cơ động chiến lược, làm cơ sở lãnh đạo thực hiện.

    Với định hướng đúng, quyết tâm cao, biện pháp phù hợp, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 765, công tác huấn luyện của Quân đoàn có bước chuyển biến tiến bộ toàn diện, rõ nét 1; các khâu yếu, mặt yếu trong huấn luyện của thời gian trước về cơ bản đã được khắc phục. Qua đó, thiết thực góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, xây dựng Quân đoàn vững mạnh toàn diện, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

    Quán triệt sâu sắc định hướng của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo đổi mới toàn diện công tác huấn luyện. Trọng tâm là đổi mới công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành huấn luyện; đổi mới nội dung, tổ chức, phương pháp huấn luyện, diễn tập ở các cấp, v.v. Theo đó, Quân đoàn chú trọng, đặt lên hàng đầu việc đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp đối với nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu, đảm bảo cho công tác này luôn đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện, chặt chẽ, thống nhất của cấp ủy, chỉ huy đơn vị. Đồng thời, đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức đầy đủ về vị trí, tầm quan trọng của công tác huấn luyện, tạo sự chuyển biến toàn diện về nhận thức, hành động; có bản lĩnh chính trị vững vàng, động cơ, ý chí, quyết tâm cao trong huấn luyện. Để thực hiện tốt các mục tiêu, yêu cầu huấn luyện đã đề ra, Quân đoàn chỉ đạo các đơn vị căn cứ vào nhiệm vụ được giao, xây dựng, bổ sung quy chế lãnh đạo, ra nghị quyết chuyên đề; cụ thể hóa chỉ tiêu nhiệm vụ huấn luyện trong nghị quyết lãnh đạo thường kỳ, kế hoạch công tác. Cùng với đó, Quân đoàn chú trọng nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị trong huấn luyện; đẩy mạnh phong trào thi đua xây dựng “Đơn vị huấn luyện giỏi” ở các cấp; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân có thành tích cao trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và triển khai nhiều biện pháp mạnh, kiên quyết khắc phục những khâu yếu, mặt yếu, nhất là tư tưởng giản đơn, thỏa mãn dừng lại, biểu hiện ngại khó, ngại khổ, “bệnh thành tích”, v.v.

    Bám sát tinh thần Nghị quyết 765, Quân đoàn đẩy mạnh đổi mới cơ chế quản lý, điều hành huấn luyện theo hướng “tập trung, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả, không chồng chéo” thông qua việc xây dựng, quản lý chặt chẽ kế hoạch huấn luyện, tăng cường phân cấp huấn luyện, gắn phân cấp với phân rõ trách nhiệm của cơ quan, chỉ huy các cấp và nâng cao hiệu quả phối hợp, hiệp đồng giữa các cơ quan, đơn vị trong tham mưu, chỉ đạo, tổ chức huấn luyện. Đồng thời, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, phúc tra huấn luyện; trong đó, chú trọng đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp kiểm tra, tự kiểm tra, giám sát của đơn vị, kiểm tra đột xuất, kiểm tra vượt cấp, kịp thời rút kinh nghiệm, đánh giá thực chất kết quả huấn luyện ở các cấp. Đặc biệt, Quân đoàn tích cực rà soát, kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ huấn luyện, nhất là cán bộ cơ quan tham mưu tác chiến Quân đoàn, sư (lữ) đoàn, cán bộ trực tiếp huấn luyện cấp phân đội. Để cán bộ “giỏi cấp mình, thành thạo cấp dưới và hiểu biết cấp trên”, Quân đoàn duy trì nền nếp, chất lượng công tác tập huấn, bồi dưỡng cán bộ ở các cấp, với đa dạng hình thức, biện pháp tiến hành. Trong 5 năm qua, Quân đoàn đã tổ chức 277 lớp tập huấn cho gần 21 nghìn lượt cán bộ; 31 cuộc hội thi, hội thao với hàng trăm lượt cán bộ tham gia. Qua đó, năng lực, trình độ tham mưu, quản lý, điều hành, tổ chức huấn luyện của đội ngũ cán bộ được nâng thêm một bước. Hiện nay, 100% cán bộ của Quân đoàn huấn luyện được theo phân cấp; trong đó, 90% cán bộ cấp tiểu đoàn; 70% cán bộ cấp đại đội, trung đội huấn luyện đạt loại khá, giỏi. Đây là nhân tố quan trọng, đảm bảo cho Quân đoàn hoàn thành tốt nhiệm vụ huấn luyện, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài.

    Đổi mới chương trình, nội dung, tổ chức và phương pháp huấn luyện là vấn đề quan trọng, biện pháp cơ bản, yêu cầu cấp thiết, khâu đột phá để nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Quân đoàn chủ động nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh, bổ sung chương trình huấn luyện cơ bản cho các đối tượng, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Đồng thời, đẩy mạnh đổi mới tổ chức, phương pháp huấn luyện, phù hợp với từng cấp, từng chuyên ngành, nội dung, khoa mục,… theo hướng thiết thực, hiệu quả. Thực hiện phương châm huấn luyện “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”, Quân đoàn chỉ đạo các đơn vị, nhà trường rà soát, cắt giảm những nội dung không phù hợp; xây dựng, chuẩn hóa quy trình, nội dung huấn luyện, đào tạo, đảm bảo đồng bộ, chuyên sâu, sát thực tế chiến đấu, địa bàn hoạt động, đối tượng tác chiến, phù hợp với tổ chức biên chế, trang bị và yêu cầu tác chiến trong điều kiện chiến tranh địch sử dụng vũ khí công nghệ cao. Trong đó, lấy huấn luyện chiến thuật làm trung tâm, kỹ thuật làm cơ sở, huấn luyện phân đội là trọng điểm, huấn luyện cán bộ là then chốt, đảm bảo cho bộ đội giỏi tác chiến độc lập cũng như tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng ở mọi địa hình.

    Rút kinh nghiệm từ thực tiễn, Quân đoàn đã có nhiều biện pháp kết hợp huấn luyện với luyện tập, diễn tập, huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị, rèn luyện kỷ luật; gắn giáo dục, đào tạo với huấn luyện chiến đấu, huấn luyện kỹ thuật, chiến thuật chiến đấu bộ binh với chuyên ngành, huấn luyện với sẵn sàng chiến đấu, xây dựng chính quy, rèn luyện thể lực. Các đơn vị đã duy trì nghiêm quy trình huấn luyện cho chỉ huy, cơ quan, phân đội; thực hiện huấn luyện cơ bản ngay từ đầu, kết hợp huấn luyện cơ bản với nâng cao, truyền thống với hiện đại; tăng cường huấn luyện dã ngoại, huấn luyện ban đêm, huấn luyện làm chủ, khai thác, sử dụng và xây dựng cho bộ đội niềm tin vào cách đánh, vũ khí, trang bị hiện có, v.v. Để đáp ứng nhiệm vụ của quân đoàn chủ lực cơ động chiến lược, Quân đoàn chú trọng huấn luyện, diễn tập nâng cao sức đột kích, khả năng cơ động trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; tăng cường huấn luyện theo nhiệm vụ, tình huống, huấn luyện đối kháng, diễn tập tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng, diễn tập vòng tổng hợp, thực binh có bắn đạn thật; kết hợp huấn luyện cơ động với ngụy trang, nghi binh, phòng, chống trinh sát, tác chiến điện tử của địch, v.v. Thời gian qua, nội dung, hình thức diễn tập của Quân đoàn được đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả, quy mô ngày càng mở rộng. Từ năm 2013 đến nay, Quân đoàn đã tham gia và hoàn thành tốt nhiệm vụ trong các cuộc diễn tập chiến lược: PK-14, DT-17, MB-17; đồng thời, tổ chức và chỉ đạo các đơn vị thực hiện hơn 60 cuộc diễn tập chiến dịch, chiến thuật, diễn tập dự bị động viên, tổ chức bắn chiến đấu cho hàng trăm lượt trung đội, đại đội bộ binh, đạt kết quả tốt, an toàn tuyệt đối. Với các biện pháp phù hợp, chất lượng huấn luyện các đối tượng của Quân đoàn được nâng cao; trình độ, năng lực tổ chức chỉ huy, tác chiến của cán bộ, chiến sĩ, khả năng cơ động, hiệp đồng chiến đấu của các đơn vị tiến bộ rõ rệt. Qua báo động kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, thực hành diễn tập, xử lý các tình huống phòng, chống thiên tai, cứu hộ, cứu nạn, các đơn vị đều đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra.

    Cùng với đó, công tác bảo đảm huấn luyện được Quân đoàn quan tâm đổi mới, đạt kết quả tích cực, nhất là bảo đảm đồng bộ vũ khí, trang bị kỹ thuật, nâng cấp hệ thống thao trường, trường bắn, nghiên cứu bổ sung tài liệu, giáo trình, đầu bài tập, cũng như ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ mô phỏng trong huấn luyện, diễn tập và bảo đảm sinh hoạt, sức khỏe cho cán bộ, chiến sĩ. Nhờ đó, đã tạo môi trường, điều kiện thuận lợi, góp phần nâng cao chất lượng công tác huấn luyện.

    Bên cạnh những kết quả đã đạt được, ở một số đơn vị, nội dung, biện pháp huấn luyện còn chung chung, tổ chức triển khai có mặt còn thiếu linh hoạt, chưa sát với đặc điểm nhiệm vụ. Kết quả thực hiện một số chỉ tiêu, nội dung huấn luyện chưa tương xứng với tiềm năng của đơn vị và yêu cầu đặt ra, v.v. Những hạn chế đó đã được Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân đoàn thẳng thắn chỉ ra trong sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 765 (giai đoạn 2013 – 2021) và yêu cầu các cơ quan, đơn vị nghiêm túc rút kinh nghiệm, có biện pháp khắc phục kịp thời.

    Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đã và đang đặt ra cho toàn quân nói chung, Quân đoàn 2 nói riêng những mục tiêu, yêu cầu rất cao. Để tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết 765 của Quân ủy Trung ương, Quân đoàn yêu cầu các đơn vị tiếp tục quán triệt, nắm vững mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ, giải pháp mà Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Quân đoàn đã xác định. Trên cơ sở đó, nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của công tác huấn luyện; đề cao hơn nữa trách nhiệm trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện. Trước mắt, rà soát lại chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết 765, điều chỉnh, bổ sung chỉ tiêu, biện pháp thực hiện giai đoạn 2021 – 2021 và những năm tiếp theo, đảm bảo khả thi, phù hợp với tình hình thực tiễn. Trong đó, gắn thực hiện Nghị quyết 765 với Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược Quân sự Việt Nam; các nghị quyết chuyên đề của Quân ủy Trung ương và phong trào Thi đua Quyết thắng, v.v. Từ kinh nghiệm, kết quả đạt được, Quân đoàn tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp và phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng trong huấn luyện; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế quản lý, điều hành; nâng cao năng lực toàn diện của cơ quan tham mưu và đội ngũ cán bộ huấn luyện các cấp. Đặc biệt, Quân đoàn tiếp tục bám sát định hướng của cấp trên, đột phá đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp huấn luyện, diễn tập, hội thi, hội thao và công tác bảo đảm huấn luyện. Tập trung khắc phục dứt điểm khâu yếu, mặt yếu, quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, chỉ tiêu đã đề ra, tạo chuyển biến toàn diện, mạnh mẽ hơn nữa trong huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng Quân đoàn cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, thiện chiến, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của một đơn vị chủ lực cơ động chiến lược trong điều kiện mới.

    1 – Từ năm 2013 đến nay, Quân đoàn có 27 lượt cơ quan, đơn vị được Bộ Quốc phòng công nhận “Đơn vị huấn luyện giỏi”; 02 lượt đơn vị được công nhận “Đơn vị huấn luyện thể lực giỏi”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quán Triệt Nghị Quyết 765 Của Quân Ủy Trung Ương, Binh Chủng Pháo Binh Tập Trung Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Huấn Luyện
  • Hội Nghị Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Xi)
  • Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 8
  • Các Địa Phương, Đơn Vị Quán Triệt Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 8
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Bản Kiểm Điểm Đảng Viên Theo Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12Bản Kiểm Điểm Đảng Viên Theo Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12
  • Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Số 04 05 06 Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa Xii
  • Toàn Văn Nghị Quyết Số 06
  • Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xi) 12Nq Tw Doc
  • Đề Nghị Góp Ý Vào Dự Thảo Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xi) Của Ban Thường Vụ Đảng Ủy Trường
  • 01/11/2016 07:58 AM

    Toàn bộ File Word Nghị quyết 04-NQ/TW

    Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, hơn 86 năm qua Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh. Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX. Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữ vững ổn định chính trị; phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; tăng cường quốc phòng – an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chúng ta có quyền tự hào về bản chất tốt đẹp, truyền thống anh hùng và lịch sử vẻ vang của Đảng ta – Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đại biểu của dân tộc Việt Nam anh hùng.

    Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa đáp ứng yêu cầu. Nội dung sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn đơn điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu. Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém. Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, một số việc chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao. Việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của người đứng đầu với tập thể cấp uỷ, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty. Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao. Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

    Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe doạ sự tồn vong của Đảng và chế độ.

    2- Nguyên nhân

    Tình hình trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.

    1) Nguyên nhân khách quan:

    Tác động từ khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; từ mặt trái của kinh tế thị trường, những hoạt động lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế.

    Những khó khăn, thách thức của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế hiện nay; nhiều vấn đề mới, phức tạp phát sinh từ thực tiễn nhưng chưa được lý giải và xử lý kịp thời, hiệu quả.

    Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ suý cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa; đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.

    2) Nguyên nhân chủ quan:

    Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân.

    Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” và những hậu quả gây ra. Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế. Chưa chú trọng xây dựng, tuyên truyền, nhân rộng những mô hình mới, điển hình tiên tiến, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực.

    Một số nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nội dung chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi và thiếu chế tài xử lý. Nhiều cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp chưa có quyết tâm chính trị cao; việc cụ thể hoá các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên phong, gương mẫu. Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm còn nương nhẹ, nể nang, thiếu cương quyết. Chưa có cơ chế khen thưởng những tập thể, cá nhân tổ chức thực hiện nghị quyết sáng tạo, có hiệu quả và xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc.

    Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời. Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở. Thiếu cơ chế để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực, giảm sút uy tín, trì trệ trong công tác, kém hiệu quả trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Chậm ban hành quy định xử lý tổ chức, cá nhân có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

    Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số cơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng; chính sách tiền lương, nhà ở chưa tạo được động lực cống hiến cho cán bộ, công chức.

    Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm, còn có biểu hiện “nhẹ trên, nặng dưới”. Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt chẽ. Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh phê bình. Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử chưa chặt chẽ, xử lý chưa đủ nghiêm minh. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu; việc kê khai tài sản, thu nhập còn hình thức.

    Chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ. Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ mạnh để đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

    II- NHẬN DIỆN NHỮNG BIỂU HIỆN SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ”

    Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.

    1- Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

    1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

    2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ hoạ theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

    3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

    5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

    6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.

    7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.

    8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.

    9) Vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

    2- Biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống

    1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

    2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành.

    3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

    4) Mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”.

    5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

    6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên…; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tuỳ tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.

    7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

    8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội… Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

    3- Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ

    1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

    2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

    3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

    4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

    6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

    7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

    8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ suý cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hoá, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

    III- MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM

    9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

    1- Mục tiêu

    Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

    2- Quan điểm

    Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách.

    Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

    IV- CÁC NHÓM NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

    Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp uỷ và ban thường vụ cấp uỷ các cấp. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước. Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

    Đại hội XII đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XI, với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá ” trong nội bộ. Vì vậy, các cấp uỷ, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, toàn diện, có hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:

    1- Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình

    1) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị.

    2) Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng. Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.

    3) Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân. Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”; các cấp uỷ, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

    4) Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp uỷ các cấp.

    5) Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất.

    6) Tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội. Phát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên hoặc đột xuất; chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích; xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm quy định về thông tin, báo chí, tuyên truyền.

    7) Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    9) Cấp uỷ, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân. Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách làm việc khoa học, cụ thể, sâu sát cơ sở cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

    10) Hằng năm hoặc khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, điều động công tác đối với cán bộ, tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên là: chương trình hành động của tập thể và cá nhân; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; kết quả thực hiện cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; tự phê bình và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiệu quả đấu tranh, khắc phục suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

    2- Về cơ chế, chính sách

    1) Các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm. Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu. Trước mắt, rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    2) Các cấp uỷ, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xoá bỏ cơ chế “xin – cho”, “duyệt – cấp”; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế… Tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền, chuyển mạnh từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt.

    3) Kiên quyết thực hiện đúng mục tiêu, có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương. Thực hiện chế độ hợp đồng có thời hạn đối với viên chức nhà nước. Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức theo hướng nhiều chủ thể tham gia, hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách nhà nước.

    4) Đẩy mạnh xã hội hoá, tách cung ứng dịch vụ công và quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước; khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức. Rà soát, thoái vốn, cổ phần hoá, chấn chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp quân đội và công an sản xuất kinh doanh thua lỗ, không phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

    5) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; khắc phục ngay tình trạng ăn uống, chè chén, “liên hoan”, “gặp mặt” không lành mạnh, với động cơ không trong sáng; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ, như: phân công, phân cấp, thẩm quyền quản lý, quy trình bổ nhiệm,… nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tổng thể, liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị và chấn chỉnh, khắc phục tình trạng kén chọn vị trí, chức danh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    6) Hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược. Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị. Rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, lao động và công tác ở nước ngoài. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân uỷ Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

    3- Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

    1) Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng. Xử lý nghiêm tập thể, cá nhân ban hành văn bản không đúng, không phù hợp hoặc thực hiện không nghiêm túc các nội dung nghị quyết, kết luận của Đảng; khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân thực hiện có hiệu quả.

    2) Các cấp uỷ, tổ chức đảng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp uỷ các cấp chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận.

    3) Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương và cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng. Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm của uỷ ban kiểm tra các cấp trong việc kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên. Rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước.

    4) Tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; đồng thời, xem xét tư cách đảng viên và phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn hành vi bao che, cản trở, gây khó khăn trong xử lý hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.

    5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và các cơ quan tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp luật; trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội và nhân dân quan tâm và công khai kết quả xử lý.

    6) Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng. Cấp uỷ các cấp chỉ đạo nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên; đồng thời, tiến hành rà soát, sàng lọc và đưa ngay những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.

    7) Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, đảng viên. Cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai theo quy định.

    8) Xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” nghiêm trọng. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đảng phải chịu trách nhiệm nếu không kịp thời phát hiện hoặc phát hiện mà chậm xử lý đối với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

    4- Về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội

    1) Các cấp uỷ, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.

    2) Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trước mắt, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của nhân dân.

    3) Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước phải theo đúng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

    4) Người đứng đầu cấp uỷ, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên. Xây dựng và thực hiện Quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp.

    V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    5) Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”.

    1- Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch thực hiện, xác định rõ nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức đảng ở Trung ương và trực thuộc Trung ương; phân công cụ thể và chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết.

    2- Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, thể chế hoá, cụ thể hoá nội dung Nghị quyết thành các văn bản pháp luật để thực hiện.

    3- Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ, cơ quan trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt, chủ động xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.

    Theo Cổng thông tin điện tử Chính phủ

    Nghị quyết này phổ biến đến chi bộ.

    33,231

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Địa Phương Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii)
  • Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa 12
  • Thuyết Trình Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12
  • Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Cho Cán Bộ Chủ Chốt
  • Nghị Quyết Trung Ương 4 Quy Định Số 08
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 15

    --- Bài mới hơn ---

  • Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Bài Thu Hoạch Nqtw7 Khóa 11
  • Một Số Giải Pháp Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Của Ban Nội Chính Tỉnh Ủy Lạng Sơn
  • Nghị Quyết Trung Ương 7 Về Cải Cách Chính Sách Bảo Hiểm Xã Hội Hướng Tới Mục Tiêu Bhxh Toàn Dân
  • Toàn Văn Nghị Quyết Trung Ương 7 Về Cải Cách Chính Sách Bảo Hiểm Xã Hội
  • Cuối năm 1958 đầu năm 1959, cách mạng miền nam đứng trước những thử thách ác liệt. Dưới ánh sáng các nghị quyết của Ðảng, nhân dân miền nam đã từ đấu tranh chính trị, tiến lên đấu tranh chính trị kết hợp vũ trang tự vệ, giành được nhiều thắng lợi. Song, với chính sách tố Cộng, diệt Cộng, Mỹ – Diệm đã gây cho ta những tổn thất nặng nề. Chỉ tính từ tháng 7-1955 đến tháng 2-1956, chúng đã giết hại, giam cầm 93.362 cán bộ, đảng viên. Từ 1955 đến 1958, riêng ở Nam Bộ, địch đã giết hại khoảng 68.000 cán bộ, đảng viên, bắt 446.000 người.

    Tháng 12-1958, chúng đầu độc hàng nghìn tù chính trị ở trại giam Phú Lợi, làm chết nhiều chiến sĩ cách mạng. Tháng 4-1959, Ngô Ðình Diệm tuyên bố “đặt miền nam trong tình trạng khẩn cấp”. Tháng 5-1959, Quốc hội của chính quyền Sài Gòn thông qua Luật 10/59 lê máy chém đi khắp các vùng nông thôn và thành thị miền nam, công khai giết hại những người yêu nước, tàn sát đồng bào ta hết sức man rợ.

    Tình hình trên chỉ ra rằng, với chính sách khủng bố, đàn áp tàn bạo của chính quyền phát-xít Ngô Ðình Diệm, nhất là với các biện pháp tố Cộng, diệt Cộng ngày càng quyết liệt, thì phương châm đấu tranh chính trị đơn thuần cũng như đấu tranh chính trị kết hợp với vũ trang tự vệ như trước đó không còn phù hợp với thực tế tình hình. Ðiều này đòi hỏi Ðảng phải có sự chuyển hướng chỉ đạo kịp thời để duy trì và phát triển phong trào cách mạng, đáp ứng đòi hỏi bức xúc của cán bộ, đảng viên và đồng bào yêu nước miền nam và cũng là đòi hỏi cấp bách của lịch sử đặt ra lúc bấy giờ, nhằm đưa sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước của nhân dân ta vượt qua thử thách hiểm nghèo.

    Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Ðảng triệu tập Hội nghị lần thứ 15. Dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hội nghị đã kiểm điểm tình hình trong nước từ khi Hiệp định Geneva được ký kết và đề ra nhiệm vụ đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân ta. Phân tích đặc điểm, tình hình nước ta từ khi hòa bình được lập lại, Hội nghị chỉ ra hai mâu thuẫn cơ bản mà cách mạng Việt Nam phải giải quyết. Ðó là mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc, giai cấp địa chủ phong kiến, tư sản mại bản ở miền nam với dân tộc Việt Nam, nhân dân cả nước Việt Nam và mâu thuẫn giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa ở miền bắc.

    Từ đó, Hội nghị cho rằng: “Cách mạng Việt Nam do Ðảng ta lãnh đạo bao gồm hai nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam”. Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy tính chất khác nhau nhưng quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành, ảnh hưởng sâu sắc lẫn nhau, trợ lực mạnh mẽ cho nhau nhằm phương hướng chung là giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà, tạo điều kiện thuận lợi để đưa cả nước Việt Nam tiến lên chủ nghĩa xã hội (1).

    Hội nghị đề ra nhiệm vụ chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại là: “Tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh để giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, ra sức củng cố miền bắc và đưa miền bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Ðông-Nam Á và thế giới” (2).

    Ðối với cách mạng Việt Nam ở miền nam, Hội nghị xác định: “Miền nam đã trở thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của đế quốc Mỹ. Chính quyền Ngô Ðình Diệm là chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ, chế độ thực dân và nửa phong kiến ở miền nam là một chế độ phản động, tàn bạo và đen tối” (3). Mâu thuẫn chủ yếu ở miền nam trong giai đoạn hiện nay là mâu thuẫn giữa dân tộc ta, nhân dân ta ở miền nam và bọn đế quốc xâm lược Mỹ cùng tập đoàn thống trị Ngô Ðình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, đại diện cho bọn địa chủ, phong kiến và tư sản mại bản thân Mỹ phản động nhất. Vì vậy, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam ở miền nam được Hội nghị đề ra là:

    – Nhiệm vụ cơ bản là giải phóng miền nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc và người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam, góp phần xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

    – Nhiệm vụ trước mắt là đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị độc tài Ngô Ðình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc dân chủ ở miền nam, thực hiện độc lập dân tộc và các quyền tự do dân chủ, cải thiện đời sống của nhân dân, giữ vững hòa bình, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Ðông-Nam Á và thế giới.

    – Phương pháp cách mạng và phương thức đấu tranh là dùng bạo lực cách mạng từ đấu tranh chính trị tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang; và dự kiến xu hướng phát triển từ khởi nghĩa của nhân dân có thể tiến lên cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ… Hội nghị chỉ rõ, con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là “khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Theo tình hình cụ thể và yêu cầu hiện nay của cách mạng thì con đường đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng nên chính quyền cách mạng của nhân dân (4)”.

    Hội nghị nhấn mạnh: “Vì chế độ thống trị của Mỹ – Diệm dựa vào vũ lực để tồn tại mà chúng ta thì phải dựa vào lực lượng quần chúng, lấy lực lượng quần chúng để đánh đổ chúng, cho nên muốn đạt được mục tiêu đó, cần phải có một quá trình đấu tranh lâu dài và gian khổ” (5). Trong quá trình đó “hình thức đấu tranh chính trị là chủ yếu. Song do quân thù quyết dìm cách mạng trong máu lửa, do nhu cầu của phong trào cách mạng ở miền nam, cho nên trong một chừng mực nhất định và ở những địa bàn nhất định đã xuất hiện những lực lượng vũ trang tự vệ và vũ trang tuyên truyền để trợ lực cho đấu tranh chính trị. Ðó là một điều cần thiết” (6).

    Trên cơ sở đúc kết kinh nghiệm thực tiễn của đồng bào, chiến sĩ miền nam trong hơn bốn năm đấu tranh đầy hy sinh gian khổ và nghiên cứu cẩn trọng những kiến nghị khẩn thiết của nhiều cán bộ, đảng viên và một số cấp ủy, Bộ Chính trị đã dành nhiều công sức, trí tuệ chuẩn bị một giải pháp cơ bản cho cách mạng miền nam để trình ra Ban Chấp hành Trung ương. Do bối cảnh phức tạp, do tính chất đặc biệt quan trọng của vấn đề nghị bàn, Hội nghị đã tiến hành qua hai đợt. Ðợt 1 vào tháng 1-1959, sau đó tiếp tục nghiên cứu tình hình và họp đợt 2 vào tháng 7-1959, nhằm hoàn thiện những kết luận của đợt 1. Nghị quyết Hội nghị được chính thức thông qua trong đợt 2.

    Nghị quyết Hội nghị T.Ư 15 là một mốc lịch sử vô cùng quan trọng. Nghị quyết đã đề ra một cách toàn diện đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền nam. Nó đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận và chỉ đạo thực tiễn của Ðảng ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhằm mục tiêu chiến lược giải phóng miền nam, thống nhất đất nước. Những quyết sách về đường hướng phát triển của cách mạng miền nam mà Hội nghị đưa ra phản ánh đúng tình thế chín muồi của cách mạng miền nam, đáp ứng được yêu cầu bức thiết của thực tế tình hình cách mạng miền nam lúc bấy giờ, phù hợp với nguyện vọng tha thiết của đồng bào, cán bộ, chiến sĩ miền nam và phù hợp với xu thế phát triển tất yếu của cách mạng miền nam.

    Nghị quyết 15 như một luồng sinh khí mới thổi bùng lên ngọn lửa đấu tranh của quần chúng cách mạng mà đỉnh cao là phong trào đồng khởi cuối năm 1959 đầu năm 1960, đưa cách mạng miền nam vượt qua thử thách nghiêm trọng nhất, chuyển sang thế tiến công đập tan hình thức xâm lược, thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân mới mà đế quốc Mỹ dày công tạo dựng ở miền nam Việt Nam. Nghị quyết 15 và tiếp đó là Nghị quyết Ðại hội toàn quốc lần thứ III của Ðảng (tháng 9-1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam nói chung, đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam ở miền nam nói riêng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Nghị quyết cũng thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Ðảng ta. Nghị quyết 15 là một quyết định lịch sử.

    (1), (2), (3). Văn kiện Ðảng toàn tập, tập 20, NXB CTQG, H, 2002, tr 62, 63, 71.

    (4), (5), (6). Văn kiện Ðảng toàn tập, tập 20, đd, tr 82, 84.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Cáo Tình Hình, Kết Quả Thực Hiện Cuộc Vận Động Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng Theo Tinh Thần Nqtw5, Nqtw6 (Lần 2) Tại Đảng Bộ Quận 10 Trình Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Quận Lần Viii
  • Đảng Ủy Catw Tiếp Tục Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Tw 6 (Lần 2)
  • Báo Cáo Thực Hiện Nghị Quyết Tw 6 (Lần 2)
  • Nghị Quyết Trung Ương 6 (Lần 2)
  • Hội Nghị Trung Ương 12 Khóa Iii Khẳng Định Quyết Tâm Đánh Thắng Giặc Mỹ Xâm Lược
  • Từ Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Viii) Đến Nghị Quyết Trung Ương Iv (Khóa Xi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Báo Cao Bằng Điện Tử
  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Bảy Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khoá Ix Sè 25
  • Nhiệm Vụ, Giải Pháp Về Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Xi) Về Đổi Mới Giáo Dục Và Đào Tạo
  • Chương Trình Hành Động Thực Hiện Các Nội Dung Hội Nghị Trung Ương 8, Khóa Xii Của Đảng
  • Báo Bà Rịa Vũng Tàu
  • (QNĐT)-  vấn đề xây dựng và chỉnh đốn Đảng đã được Đảng ta đặt ra và tiến hành thường xuyên trong quá trình 82 năm hình thành và phát triển của mình. Bước vào công cuộc đổi mới với nhiều yếu tố tác động khác nhau, vấn đề này càng đặt ra một cách cấp bách hơn bao giờ hết.

    Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (lần 2), vào năm 1999 Đảng ta đã ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cơ bản và cấp bách về công tác xây dựng Đảng hiện nay”. Trải qua 12 năm thực hiện Nghị quyết, đã mang lại những kết quả khả quan, góp phần quan trọng vào sự lớn mạnh của Đảng, sự thắng lợi của công cuộc đổi mới của đất nước.

    Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Đảng ta cũng đã thẳng thắn nhìn nhận một thực tế, đó là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp diễn ra ngày càng nhiều cả về số lượng lẫn phạm vi. Những biểu hiện cụ thể của tình trạng này gồm:

    Một là, sự suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên có xu hướng gia tăng. Khi bước vào thời kỳ đổi mới, mới chỉ là một lời cảnh báo tại Đại hội VI: “Trong xã hội ta đang diễn ra cuộc đấu tranh giữa hai lối sống: lối sống có lý tưởng, lành mạnh, trung thực, sống bằng lao động của mình, có ý thức tôn trọng và bảo vệ của công, chăm lo lợi ích của tập thể, của nhà nước, với lối sống thực dụng, ích kỷ, chạy theo đồng tiền”, thì đến nay, tình trạng đó đã, đang diễn ra ngay trong Đảng.

    Từ chỗ chỉ có ở “một bộ phận” thì nay đã diễn ra ở “một bộ phận không nhỏ”, trong đó có cả cán bộ đảng viên có chức, có quyền. Nếu như trước kia tình trạng này diễn ra ở một số cán bộ, đảng viên hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, thì nay đã xảy ra tất cả các ngành, các lĩnh vực. Mức độ này ngày càng tăng, nếu trước kia chủ yếu là những hành vi mang tính chất cá nhân, đơn lẻ thì nay ngày càng chặt chẽ, móc nối trên dưới, trong ngoài để trục lợi như: thông đồng, chia chác giữa các bên trong đầu tư xây dựng cơ bản, giải phóng mặt bằng, mua sắm vật tư, đấu thầu và chỉ định thầu, phân phối dự án, hoàn thuế giá trị gia tăng, trong cấp phát vốn, trong điều tra truy tố xét xử…

    – Hai là, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân có chiều hướng gia tăng. Việc này không chỉ có ở đảng viên trẻ mà còn biểu hiện cả trong một bộ phận cán bộ, đảng viên nói chung, nhất là những cán bộ nắm nhiều quyền lực và tài sản công. Lối sống này trái với đạo đức, phẩm chất của người cộng sản “cần kiệm liên chính, chí công vô tư” như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

    Báo cáo của Bộ Chính trị trình Hội nghị trung ương VI (lần 2) khóa VIII đã đề cập đến 5 kiểu “chạy”. Đó là “chạy chức”, trước khi bầu cử; “chạy quyền” trước khi bổ nhiệm, thuyên chuyển công tác cán bộ; “chạy chỗ”, nhằm tìm chỗ kiếm được nhiều lợi (chẳng những cho bản thân mà còn cho cả người thân, người nhà); “chạy lợi” khi phân chia ngân sách, xét duyệt dự án đầu tư, giao thầu, tính thuế, xét duyệt đề tài nghiên cứu….; “chạy tội” cho bản thân, cho người thân…thì gần đây trong các báo cáo xây dựng Đảng, Trung ương đã bổ sung thêm các hình thức “chạy” khác như “chạy bằng cấp”, “chạy huân chương”, “chạy tuổi”… đang bị xã hội lên án gay gắt, cán bộ, đảng viên bức xúc nhưng chưa có biện pháp cụ thể và hiệu quả để ngăn chặn.

    – Ba là, tình trạng nói nhiều làm ít; nói nhưng không làm. Tình trạng này còn xảy ra ở không ít cán bộ, đảng viên, trái với lời dạy của Bác Hồ là “nói phải đi đôi với làm”, “dù khó khăn đến mấy cũng kiên quyết làm đúng chính sách và nghị quyết của Đảng”. Thực tế, vẫn còn tình trạng nói một đàng, nhưng làm một nẻo, nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, thậm chí nói suông mà không làm ở một bộ phận cán bộ.

    – Bốn là, tình trạng quan liêu, xa dân, thích nghe thành tích, ngại nghe sự thật. Trong Đảng ta hiện nay vẫn còn không ít cấp ủy, người lãnh đạo còn xa dân, không sát cơ sở, ít lắng nghe ý kiến cấp dưới, nên có trường hợp đề ra chủ trương chính sách không phù hợp với thực tế, làm người dân không đồng tình.

    – Năm là, tình trạng tham nhũng, làm thất thoát tài sản Nhà nước và nhũng nhiễu cho nhân dân gây hậu quả nặng nề về kinh tế – xã hội, đặc biệt làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng, niềm tin của nhân dân. Biểu hiện của tình trạng này là sự “hạch sách”, “vòi vĩnh” nhân dân ở nhiều cán bộ, đảng viên, công chức khi thực thi công vụ diễn ra ngày càng nhiều gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư, làm nhiều cán bộ, đảng viên và nhân dân băn khoăn, chưa thật sự tin tưởng đối với cuộc đấu tranh phòng chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí mà Đảng và toàn xã hội đang phát động.

    Từ những biểu hiện trên, có thể thấy việc suy thoái đạo đức lối sống ở cán bộ, đảng viên có cả nguyên nhân chủ quan và khách quan. Khách quan là đời sống cán bộ còn khó khăn, ảnh hưởng của mặt trái cơ chế thị trường, kẻ xấu mua chuộc, chính sách cán bộ chưa hợp lý…; nhưng cũng có nguyên nhân từ cơ chế quản lý cán bộ lỏng lẻo, không phù hợp để cán bộ lợi dụng kẻ hở pháp luật gây phiền hà cho người dân; thiếu sự kiểm tra, giám sát…

    Về nguyên nhân chủ quan, trước hết đó trình độ cán bộ còn hạn chế, thể hiện ở chỗ nhận thức không đúng về xã hội, bám vào một vị trí quyền lực nào đó để tư lợi chứ không phải để hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Ngoài ra, còn có nguyên nhân là do thiếu tu dưỡng, có những cán bộ trình độ học vấn rất cao, có kiến thức cũng vi phạm đạo đức, thậm chí vi phạm pháp luật…

    Có thể nói, những biểu hiện tiêu cực trên trên đã làm cho nhân dân bất bình, lo lắng, giảm lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, là nhân tố kìm hãm bước tiến của công cuộc đổi mới mà Nghị quyết Trung ương IV (khóa XI) lần này vẫn cho đó là nguy cơ, hiểm họa lớn đe dọa sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta.

    Vì vậy, tiếp nối tinh thần của Nghị quyết Trung ương 6 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 (khóa XI) lần này, Đảng ta quyết định phải tiếp tục tiến hành xây dựng, chỉnh đốn Đảng với tinh thần tích cực và kiên quyết hơn, mạnh mẽ hơn, nhằm tạo ra một bước chuyển biến mới trên các mặt, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, củng cố sự kiên định về mục tiêu, lý tưởng cách mạng; tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng và toàn xã hội; tăng cường mối liên hệ mật thiết với nhân dân.

    Hy vọng, với những giải pháp mạnh mẽ cùng với sự đồng thuận của toàn Đảng và toàn xã hội, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong thời gian tới sẽ mang lại những kết quả khả quan, nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, nâng cao uy tín, bồi đắp thêm niềm tin của nhân dân đối với Đảng trong công cuộc đổi mới hiện nay.

                                                                      Th.s Đỗ Tiến Cẩn

                                                             (Trường Chính trị Quảng Ngãi)

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Hoạch Tổ Chức Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Nghiên Cứu, Học Tập, Quán Triệt, Tuyên Truyền Nghị Quyết Đại Hội Xiii Của Đảng
  • Kế Hoạch Tổ Chức Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6 (Khóa Xii)
  • Sự Chuyển Hướng Chỉ Đạo Chiến Lược Cách Mạng Của Đảng Thời Kỳ 1939
  • Hội Nghị Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 25
  • Bộ Chính Trị Ban Hành Kết Luận Về Công Tác Dân Tộc Trong Tình Hình Mới
  • Nghị Quyết Trung Ương Số 29

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Chi Tiết Thi Hành Nghị Quyết Số 29/2012/qh13
  • Giảm Thuế Thu Nhập Doanh Nghiệp Theo Nghị Quyết Số 29/2012/qh13?
  • Nghị Quyết 29/2012/qh13 Về Chính Sách Thuế Nhằm Tháo Gỡ Khó Khăn Cho Tổ Chức Và Cá Nhân Do Quốc Hội Ban Hành
  • Nghị Quyết 29/2016/qh14 Phân Bổ Ngân Sách Trung Ương Năm 2021 2021
  • Nghị Quyết 29/2016/qh14 Về Việc Phân Bổ Ngân Sách Trung Ương Năm 2021
  • Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Nghị Quyết 4 Trung ương Đảng, Nghị Quyết Trung Uong Dang Xii, Nghị Quyết Trung ương Số 29-nq/tw Của Đảng, Bản Đăng Ký Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết 382 Của Đảng ủy Quân Sự Trung ương, Nghị Quyết 8 Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 10 11 12 Khóa Xi Của Đảng, Nghị Quyết 513 Của Đảng ủy Quân Sự Trung ương, Nghi Quyet 86 Cua Dang Uy Quan Su Trung Uong, Nghị Quyết 3 Của Trung ương Đảng Khóa X, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bản Đăng Ký Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12 Về Xây Dựng Đảng, Nghị Quyết 12 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng, Nghị Quyết Số 10 – Nq/tw Ngày 9/2/2007 Của Bch Trung ương Đảng, Bản Cam Kết Đảng Viên Theo Nghị Quyết Trung ương 4, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương … Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii 3 Ngh, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương … Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii 3 Ngh, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Bản Cam Kết Và Đăng Ký Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Nào Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Iii), Nghị Quyết Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Nào Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 3, Bản Đăng Ký Cá Nhân Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi Xii Về Xây Dựng Chỉnh Đốn Đảng Và Quy Chế Nê, Nghị Quyết Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bản Cam Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12 Của Đảng Viên, Bản Đăng Ký Và Cam Kết Năm 2021 Về Thực Hiện Chỉ Thị 05-ct/tw Và Nghị Quyết Trung ương 4 (khóa Xii), Nghị Quyết 51/nq-tw Của Bộ Chính Trị Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khoá Ix, Nghị Quyết Số 08 Của Đảng ủy Công An Trung ương Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia , Mẫu Bản Kiểm Điểm Đảng Viên Theo Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi), Nghi Quyet So 10 – Nq/tw Ngay 3/6/2017 Cua Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xii, Su Can Thiet Trung Uong Ban Hanh Nghi Quyet Trung Uong 6, Bản Kiểm Điểm Đảng Viên Theo Nghị Quyết Trung ương 4 (khóa Xii) Năm 2021, “; Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về “chiến Lượ, “; Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về “chiến Lượ, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xi Về “chiến Lược Bảo, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xi Về “chiến Lược Bảo, Sự Cần Thiết Ban Hành Nghị Quyết Số 18 Nghị Quyết Trung ương 6, Sự Cần Thiết Ban Hành Các Nghị Quyết Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Quyết Định Của Trung ương Đảng, Quyết Định Số 30 Của Trung ương Đảng, Quyết Định Số 51 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, Quyết Định Số 39 Của Văn Phòng Trung ương Đảng, Góp ý Nghị Quyết Trung ương 7, Bản Cam Kết Nghị Quyết Trung ương 4, Góp ý Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương 8 Số 29, Nghị Quyết Trung ương Số 24, 3 Nghị Quyết Trung ương 5, Nghị Quyết Trung ương 10, Nghị Quyết Trung ương, Bản Cam Kết Học Tập Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương 9, 3 Nghị Quyết Trung ương 7, Nghị Quyết Số 29 Trung ương 8, Góp ý Nghị Quyết Trung ương 8, Nghị Quyết Trung ương 10, 11, 12, Chỉ Thị 05 Gắn Với Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương 8, Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương 4 Ra Đời Khi Nào, Nghị Quyết Số 12 Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương Số 29, Nghị Quyết Trung ương 7, Báo Cáo Sơ Kết Nghị Quyết Trung ương 4, Báo Cáo Sơ Kết Nghị Quyết Trung ương 3, Nghị Quyết Trung ương 6, Báo Cáo Kết Quả Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương Số 33, Nghị Quyết Trung ương 4 Và Chỉ Thị 05, Nghị Quyết 8 Trung ương, Mẫu Báo Cáo Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương Số 28, Nghi Quyet Trung Uong 5, Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii,

    Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Nghị Quyết 4 Trung ương Đảng, Nghị Quyết Trung Uong Dang Xii, Nghị Quyết Trung ương Số 29-nq/tw Của Đảng, Bản Đăng Ký Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết 382 Của Đảng ủy Quân Sự Trung ương, Nghị Quyết 8 Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 10 11 12 Khóa Xi Của Đảng, Nghị Quyết 513 Của Đảng ủy Quân Sự Trung ương, Nghi Quyet 86 Cua Dang Uy Quan Su Trung Uong, Nghị Quyết 3 Của Trung ương Đảng Khóa X, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bản Đăng Ký Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12 Về Xây Dựng Đảng, Nghị Quyết 12 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng, Nghị Quyết Số 10 – Nq/tw Ngày 9/2/2007 Của Bch Trung ương Đảng, Bản Cam Kết Đảng Viên Theo Nghị Quyết Trung ương 4, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương … Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii 3 Ngh, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương … Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii 3 Ngh, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Bản Cam Kết Và Đăng Ký Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Nào Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Iii), Nghị Quyết Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Nào Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 3, Bản Đăng Ký Cá Nhân Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi Xii Về Xây Dựng Chỉnh Đốn Đảng Và Quy Chế Nê, Nghị Quyết Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bản Cam Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12 Của Đảng Viên, Bản Đăng Ký Và Cam Kết Năm 2021 Về Thực Hiện Chỉ Thị 05-ct/tw Và Nghị Quyết Trung ương 4 (khóa Xii),

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Kế Hoạch Thực Hiện Nq 29 Về Đổi Mới Giáo Dục
  • Trường Thcs Ngô Quyền: Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Và Kiểm Tra, Đánh Giá
  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học, Chú Trọng Phát Triển Toàn Diện Phẩm Chất Và Năng Lực Người Học
  • Tiếp Tục Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học Để Nâng Cao Chất Lượng Giáo Dục
  • Từ Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa Xi Đến Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa Xii

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xi Và Xii: ”bảo Bối” Trong Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Khánh Hòa: Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xi, Xii) Gắn Với Học Và Làm Theo Bác
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xi Và Xii Của Đảng Gắn Với Đẩy Mạnh Học Tập Và Làm Theo Bác
  • Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xi Xii Về Xây Dựng Chỉnh Đốn Đảng Và Quy Chế Nê
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xi Và Xii::”bảo Bối” Trong Công Tác Xây Dựng Đảng
  • Đại hội XII của Đảng xác định rõ 6 nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ, với nhiệm vụ trọng tâm đầu tiên là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, nhằm tiếp tục thực hiện tốt hơn nữa công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Tin tưởng rằng, việc thực hiện nghiêm Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII với quyết tâm cao sẽ nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

    1– Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Hội nghị Trung ương 4 khóa XI đã ban hành Nghị quyết ” Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay ” (Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-1-2012). Sau 4 năm triển khai thực hiện, Đại hội XII của Đảng đã tổng kết và đánh giá: Nhìn chung, các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 với quyết tâm chính trị cao và đạt được những kết quả bước đầu quan trọng, tạo chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị, có tác dụng cảnh tỉnh, cảnh báo, răn đe, phòng ngừa sai phạm. Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 ở các cấp đã từng bước đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi được một số biểu hiện tiêu cực, suy thoái trong Đảng; khắc phục được một số khuyết điểm trong công tác cán bộ và thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách… Nhiều vụ, việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp đã được chỉ đạo tiến hành điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh theo quy định của pháp luật, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, đánh giá cao…

    Trung ương đã sửa đổi, bổ sung và ban hành mới một số quy định, quy chế nhằm tiếp tục cụ thể hóa các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, như: Quy chế Bầu cử trong Đảng; Quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; Quy định về việc chất vấn và trả lời chất vấn trong Đảng; Quy chế Giám sát cán bộ, đảng viên diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý; Quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội; Quy định việc Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Công tác tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, điều động và luân chuyển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp được đẩy mạnh hơn, nhất là việc triển khai xây dựng, thực hiện có hiệu quả Đề án Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2021 – 2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo, góp phần quan trọng vào thành công của đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2021, Đại hội XII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 – 2021.

    Bên cạnh những ưu điểm và kết quả quan trọng đã đạt được, Đại hội XII của Đảng cũng chỉ rõ một số hạn chế, khuyết điểm trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng, vẫn còn một số việc chưa đạt được mục tiêu, yêu cầu Nghị quyết đề ra. Trong kiểm điểm tự phê bình và phê bình, tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn khá phổ biến ở các cấp… Trên một số vấn đề, qua kiểm điểm từ Trung ương đến cơ sở vẫn chưa làm rõ được thực chất, mức độ nghiêm trọng của tình hình; chưa chỉ ra được địa chỉ cụ thể và trách nhiệm của tập thể, cá nhân, như tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; việc chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, chạy quy hoạch, chạy luân chuyển. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; thậm chí có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn. Tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn diễn ra nghiêm trọng và xảy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành nhưng chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Sự xuống cấp về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là một số cán bộ có chức, có quyền, gây bức xúc trong dư luận xã hội, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

    Việc Trung ương ban hành Nghị quyết này nhằm thực hiện 10 nhiệm vụ, giải pháp lớn về xây dựng Đảng mà Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đề ra; vừa tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, nhất là những việc Nghị quyết đề ra nhưng chưa được thực hiện và thực hiện chưa tốt; đồng thời có bổ sung nội dung mới là, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016, của Bộ Chính trị, về đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và phát huy vai trò của nhân dân trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đây là những nội dung cơ bản cần thực hiện đồng bộ, toàn diện mà trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đáp ứng lòng mong đợi của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII có phạm vi và nội dung rộng hơn so với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI. Quan điểm là, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật để đánh giá tình hình; kết hợp hài hòa, chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài, lấy “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách trước mắt. Mục tiêu mà Nghị quyết đề ra là: Nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về nguy cơ và đề ra các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ; góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trách nhiệm và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, biết đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân; củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng. Đặc biệt, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã xác định, nhận diện cụ thể và đưa ra một hệ thống các biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, cụ thể như sau:

    Những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị: 1- Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. 2- Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái. 3- Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. 4- Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao. 5- Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng. 6- Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu. 7- Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác. 8- Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh. 9- Vướng vào “Tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

    Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là: 1- Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. 2- Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. 3- Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. 4- Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. 5- Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an. 6- Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước. 7- Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước. 8- Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng. 9- Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

    3– Để đấu tranh ngăn chặn sự suy thoái trong Đảng, Nghị quyết số 04-NQ/TW đề ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ để thực hiện là: Nhóm nhiệm vụ, giải pháp về giáo dục chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về cơ chế, chính sách; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng; nhóm nhiệm vụ, giải pháp về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội.

    Trong các nhóm nhiệm vụ, giải pháp Nghị quyết số 04-NQ/TW đề ra, có một số giải pháp mới, mạnh mẽ, như tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và bắt buộc hằng năm mỗi cán bộ, đảng viên phải được bồi dưỡng, nâng cao trình độ lý luận chính trị; coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức cho cán bộ, đảng viên, gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị một cách thiết thực, hiệu quả. Hằng năm, mỗi cán bộ, đảng viên có bản cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, không có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” báo cáo với chi bộ và thủ trưởng cơ quan, đơn vị để làm cơ sở cho kiểm điểm, đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên cuối năm. Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình tiến hành đồng thời ở các cấp và mỗi cấp đều xác định những trọng tâm, trọng điểm để tập trung chỉ đạo, với phương châm làm đến đâu chắc đến đó. Kết hợp chặt chẽ giữa tự phê bình và phê bình với tăng cường sự chỉ đạo, kiểm tra của cấp trên và đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện ký hợp đồng lao động có thời hạn đối với viên chức nhà nước. Tập trung kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền; bảo đảm quyền hạn đến đâu, trách nhiệm đến đó; kiên quyết sắp xếp lại những cá nhân không đủ năng lực, điều kiện… mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác; xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm hoặc không chấp hành nghiêm túc nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng. Thực hiện ngay việc kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố và xử lý nghiêm minh những vụ, việc, vụ án tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phức tạp, gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước và những vấn đề về công tác cán bộ mà dư luận xã hội quan tâm, nhân dân bức xúc, đồng thời công khai kết quả xử lý để nhân dân biết. Phát huy vai trò giám sát của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; thực sự dựa vào dân để xây dựng Đảng và xây dựng chính quyền. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII cũng nhấn mạnh, để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết, đòi hỏi phải có quyết tâm chính trị rất cao và nỗ lực rất lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; của cả hệ thống chính trị, trước hết là đề cao trách nhiệm, phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp ủy các cấp./.

    (Theo tapchicongsan.org.vn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Hợp Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12 Hay Nhất
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4, Khóa Xii Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng: Khẳng Định Vai Trò Của Đảng Về Công Tác Cán Bộ
  • Kết Quả Bước Đầu Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Ở Đảng Bộ Tỉnh Đắk Nông
  • Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12 Năm 2021
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4

    --- Bài mới hơn ---

  • Kiểm Tra Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii), Các Quy Định Về Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên Tại Tỉnh Đắk Lắk
  • Đẩy Mạnh Việc Thực Hiện Quy Định 08 Của Bch Trung Ương Về Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên
  • Hndtw – Hội Nông Dân Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu
  • Toàn Văn Nghị Quyết Số 05
  • Một Số Kinh Nghiệm Thực Hiện Nghị Quyết Số 49
  • Thiết thực kỷ niệm lần thứ 129 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890-19/5/2019) và chào mừng thành công của Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Đảng ủy khối các …

    Đánh giá cán bộ cần thực chất

    Đánh giá cán bộ cần thực chất

              Đánh giá cán bộ được coi là tiền đề, là khâu trọng yếu nhất trong công tác cán bộ, nhưng đến nay chưa đạt hiệu quả như mong muốn. Hội nghị T.Ư 7 khóa XII xác định, …

    Đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng đất đai hiện nay

    Đẩy mạnh đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tham nhũng đất đai hiện nay

              Tham nhũng đất đai đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, tạo ra những nguy cơ tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị – xã hội của đất nước. Nhưng nó lại trở …

    Cán bộ trẻ, được chọn và tôi luyện

    Cán bộ trẻ, được chọn và tôi luyện

             Việc thi hành kỷ luật một số cán bộ trẻ gần đây, trong đó có những cán bộ cấp chiến lược để lại bài học sâu sắc về kiểm soát quyền lực, về ý thức tự rèn luyện, tu dưỡng của cán bộ, đảng …

    Quyền lực, trách nhiệm người lãnh đạo và niềm tin của nhân dân

    Quyền lực, trách nhiệm người lãnh đạo và niềm tin của nhân dân

           2-9-2018, đất nước ta đã độc lập được 73 năm, ngày hoàn toàn thống nhất cũng đã hơn 43 năm. Trong thời gian đó, ngay tại châu lục chúng ta đang sống đã xuất hiện những “rồng, hổ”, những “điều thần kỳ” châu Á. Ðã có những quốc gia từng đi …

    Lịch sử giúp chúng ta hiểu về hiện tại, dự báo tương lai

    Lịch sử giúp chúng ta hiểu về hiện tại, dự báo tương lai

            Trải qua mấy nghìn năm dựng và giữ nước, dân tộc ta đã viết nên những trang sử hào hùng. Nhưng cũng trên chặng đường dài hàng chục thế kỷ ấy, dân tộc ta cũng từng nếm trải biết bao nỗi cay đắng, gian truân. Lịch sử không chỉ là …

    Về xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Đảng

    Về xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Đảng

           Sau khi học tập, quán triệt chỉ thị, nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy đều phải xây dựng chương trình, kế hoạch hành động thực hiện nghị quyết Trung ương. Đây là việc làm thường xuyên, bắt buộc, nhằm đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống. Tuy …

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, khóa XII

    Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ngày 30/10 đã ký ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khắc Phục Tồn Tại, Hạn Chế Sau Kiểm Điểm Theo Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ướng 4 (Khóa Xii)
  • Chi Bộ Khối Hình Sự Sinh Hoạt Chuyên Đề “Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam”
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4, Khóa Xii Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng: Kiểm Soát Việc Thực Thi Quyền Lực Để Ngăn Ngừa Suy Thoái (Kỳ 1)
  • Chuyển Biến Trong Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100