Nghị Quyết Số 39 Về Tinh Giản Biên Chế: Dư Luận Nói Gì?

--- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Quyết Liệt Và Đồng Bộ Các Giải Pháp Về Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Xii) Về Tinh Giản Biên Chế, Tinh Gọn Bộ Máy: Tiếp Tục Kiện Toàn, Tinh Gọn Bộ Máy
  • Đảng Bộ Xã Phong An Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Đảng Bộ Xã Gia Hưng Phát Huy Vai Trò Lãnh Đạo Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Tw6 Khóa Xii Của Đảng
  • Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 39 về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Trong đó yêu cầu cần có các biện pháp đồng bộ để tinh giản biên chế đối với những cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng yêu cầu công việc, đồng thời có cơ chế thu hút người tài vào hoạt động công vụ đang thu hút nhiều người dân quan tâm.

    Tinh giản biên chế là câu chuyện không mới. Đó là khẳng định của ông Lê Văn Mai, nguyên cán bộ Tổng cục địa chất và khoáng sản Việt Nam, hiện trú ở phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Ngay từ thời còn công tác, ông đã nghe chuyện tinh giản biên chế. Đến bây giờ, khi ông đã nghỉ hưu nhiều năm, câu chuyện này vẫn tiếp tục được bàn đến.

    Ông Mai cho rằng, việc ban hành Nghị quyết số 39 về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Vì thực tế hiện nay, có tình trạng ở nhiều cơ quan nhà nước, số lượng đội ngũ cán bộ công chức đông nhưng không mạnh, thậm chí không đáp ứng được yêu cầu công việc. Trong đó có nguyên nhân do việc tuyển dụng đầu vào chưa thực sự chọn được người có tài. Bên cạnh đó, nhiều người tài không vào khu vực nhà nước do mức lương thấp, ít có chế độ đãi ngộ.

    Giải quyết nghịch lý này, theo ông Lê Văn Mai cần có sự quyết tâm, sự đồng lòng từ Trung ương đến cơ sở. Đặc biệt người tài, giỏi làm việc thì lương của họ phải được hưởng thụ đúng với năng lực mà họ đã bỏ ra.

    10 năm qua, nước ta đã thực hiện tinh giản biên chế 3 lần nhưng chưa lần nào đạt được kết quả như mong muốn. Bộ trưởng Bộ Nội vụ từng báo cáo trước Quốc hội, đến năm 2013, sau 10 năm thực hiện tinh giản, số lượng biên chế không những không giảm mà còn tăng thêm, bộ máy ngày càng phình ra.

    Chủ trì hội nghị trực tuyến mới đây về cải cách thủ tục hành chính và công bố chỉ số hài lòng của người dân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ rõ: Một bộ phận cán bộ, công chức có tinh thần phục vụ kém, thiếu trách nhiệm, sách nhiễu, tiêu cực trong khi việc kiểm tra, xử lý chưa quyết liệt, nghiêm túc… Và chính những hạn chế này đã và đang làm cản trở nỗ lực cải cách hành chính, làm chậm đi sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh như vậy, Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị mới ban hành rất kịp thời và có ý nghĩa.

    Theo Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị, các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã thực hiện tinh giản biên chế và không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định.

    Bà Nguyễn Thị Linh, ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội cho rằng: Quy định số lượng như vậy nhằm tránh tình trạng ngày càng “phình ra” của bộ máy các cơ quan nhà nước. Bà Linh rất quan tâm tới một nội dung trong Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị, đó là cần sớm có cơ chế thu hút người có tài vào làm việc trong các cơ quan nhà nước. Theo bà Linh, cơ chế tốt nhất là cơ chế đãi ngộ về tiền lương cũng như tạo môi trường để người tài phát huy được năng lực, đóng góp cho đất nước.

    Bà Linh cho biết thêm: “Không trách được người trẻ vì với mức lương nhà nước chỉ 2-3 triệu đồng/tháng thì không đủ sống. Bây giờ lớp trẻ rất giỏi thì nhà nước phải có cơ chế, chế độ đãi ngộ hợp lý, phù hợp với năng lực mà họ bỏ ra vì nếu ra ngoài làm, lương của họ có thể gấp 10 lần lương nhà nước”.

    Trong chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời” gần đây, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình cho biết, tới đây, Bộ Nội vụ sẽ triển khai một loạt các giải pháp quyết liệt, đồng bộ để thực hiện có hiệu quả việc tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức. Theo đó, sẽ đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý biên chế theo hướng tập trung, thống nhất, đẩy mạnh và hoàn thành việc xác định vị trí việc làm để trên cơ sở đó, bố trí số biên chế hợp lý cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện tinh giản biên chế.

    Theo ông Nguyễn Thái Bình, cần tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ để sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, đồng thời tinh giản biên chế đối với tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Xây dựng, cơ cấu đội ngũ cán bộ công chức, viên chức theo vị trí việc làm và trình độ đào tạo một cách hợp lý. nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời tiến hành xã hội hóa một số lĩnh vực nhiệm vụ công, xem đây là khâu đột phá quan trọng.

    Theo Minh Châm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Nghị Quyết Số 39
  • Hội Nghị Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 39
  • Năm 2021: Cán Bộ, Công Viên Chức Bị Tinh Giản Biên Chế Trong Các Trường Hợp Sau
  • Kế Hoạch Của Chính Phủ Về Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Hội Nghị Quán Triệt Nghị Quyết 39
  • Thực Hiện Nghị Quyết 39 Về Tinh Giản Biên Chế: Gánh Nặng Trên Vai Người Lãnh Đạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Hiệu Quả Sử Dụng, Phát Huy Các Nguồn Lực Tài Nguyên Và Môi Trường
  • Nghị Quyết 39 Của Bộ Chính Trị Về Phát Huy Các Nguồn Lực Của Nền Kinh Tế
  • Nghị Quyết 39/2012/qh13 Tiếp Tục Nâng Cao Hiệu Lực Hiệu Quả Thực Hiện Chính Sách
  • Nghị Quyết 39/2012/qh13 Của Quốc Hội Ban Hành Ngày 23/11/2012
  • Nghị Quyết 39/2012/qh13 Về Thực Hiện Chính Sách, Pháp Luật Trong Giải Quyết Khiếu Nại, Tố Cáo Về Đất Đai
  • Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 39 về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức (CBCCVC). Trong cuộc trao đổi với phóng viên báo BR-VT, bà Trần Ngọc Thân, Phó Giám đốc Sở Nội vụ cho biết:

    Nghị quyết 39-NQ/TW về việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Bộ Chính trị đề ra 4 nhiệm vụ và giải pháp. Về tổ chức bộ máy, Bộ Chính trị chỉ đạo, trước mắt, giữ ổn định tổ chức như hiện nay. Không thành lập các tổ chức trung gian; chỉ thành lập tổ chức mới trong trường hợp cá biệt thật sự cần thiết do yêu cầu của thực tiễn. Về tinh giản biên chế, Bộ Chính trị chỉ đạo kiên trì thực hiện chủ trương tinh giản biên chế CBCCVC, bảo đảm không tăng tổng biên chế của cả hệ thống chính trị. Trường hợp phải thành lập tổ chức mới hoặc được giao nhiệm vụ mới thì các cơ quan, tổ chức, đơn vị tự cân đối, điều chỉnh trong tổng số biên chế hiện có. Giữ ổn định biên chế của các tổ chức xã hội, xã hội- nghề nghiệp đến hết năm 2021. Từ năm 2021, thực hiện khoán hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao.

    Bộ Chính trị yêu cầu, từng cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế trong 7 năm (2015-2021) và từng năm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để tổ chức thực hiện. Trong đó, phải xác định tỷ lệ tinh giản biên chế đến năm 2021 tối thiểu là 10% biên chế của bộ, ban, ngành, tổ chức chính trị- xã hội, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ tuyển dụng số CBCCVC mới không quá 50% số biên chế đã thực hiện tinh giản và không quá 50% số biên chế đã giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định.

    * Nghị quyết 39 nhấn mạnh việc giữ ổn định tổ chức, không thành lập tổ chức trung gian, không tăng tổng biên chế của của hệ thống chính trị. Bà nhìn nhận thế nào về định hướng này?

    – Nghị quyết 39 đã chỉ ra việc tinh giản biên chế thuộc trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước và giám sát của các cơ quan dân cử, của MTTQ và các tổ chức chính trị, đặc biệt là có sự giám sát của người dân trong quá trình tổ chức thực hiện. Bên cạnh đó, Nghị quyết nhấn mạnh việc tinh giản biên chế gắn liền với cải cách hành chính và cải cách chế độ công vụ, công chức để thông qua đó đảm bảo mục tiêu, quan điểm trong thực hiện. Nghị quyết cũng xác định rõ vai trò của người đứng đầu trong các cơ quan, tổ chức, bảo đảm tinh giản biên chế được thực hiện khách quan, công bằng, đúng người.

    * Theo bà, thực hiện tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ hiện nay sẽ gặp những khó khăn gì?

    – Theo tôi, việc tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ CBCCVC gặp rất nhiều khó khăn hoặc những “rào cản” như: nhận thức; tiêu chí và phương pháp đánh giá CBCCVC; vấn đề dân chủ, công khai, minh bạch và công bằng trong cơ cấu lại đội ngũ cán bộ; chính sách hỗ trợ cho những người phải tinh giản; chống tiêu cực, kể cả tham nhũng trong thực hiện cơ cấu lại đội ngũ cán bộ… Khó khăn lớn nhất trong việc thực hiện Nghị quyết 39 thuộc về cán bộ có chức, có quyền. Vấn đề là, cán bộ này có nhận thức đúng đắn không và có khắc phục được sự thiên vị, lợi ích cá nhân không? Mấu chốt trong thực hiện Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị là khâu triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát và đánh giá tác động của Nghị quyết. Những khâu này hoàn toàn phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị ở các cấp. Tư tưởng cá nhân của cán bộ lãnh đạo sẽ là rào cản lớn nhất trong việc tinh giản biên chế hiện nay.

    * Xin cảm ơn bà!

    QUỲNH HẬU

    (Thực hiện)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tinh Giản Biên Chế Năm 2021: Ai Thuộc Diện Bị Tinh Giản?
  • Hội Nghị Thống Nhất Công Tác Tuyên Truyền Kỳ Họp Thứ 21 Hđnd Tỉnh Khóa Xiv
  • Hđnd Tỉnh Thông Qua 20 Nghị Quyết Quan Trọng
  • Hội Nông Dân Tỉnh Tổ Chức Nghiệm Thu Mô Hình Thực Hiện Theo Nghị Quyết Số 39 Của Hđnd Tỉnh Ninh Bình
  • Hà Nội Phát Huy Trí Tuệ Tập Thể Trong Thực Hiện Nghị Quyết 39 Của Bộ Chính Trị
  • Hoàn Thiện Thể Chế Về Tổ Chức Bộ Máy Và Quản Lý Biên Chế Theo Yêu Cầu Của Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6, Khóa Xii

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Triển Khai Đề Án Sắp Xếp Tổ Chức, Bộ Máy, Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Theo Tinh Thần Nghị Quyết Tw 6, Khóa Xii.
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6 Khóa Xi
  • Đảng Ủy Các Đơn Vị Bđbp Tổ Chức Học Tập, Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6 (Khóa Xi)
  • Giám Sát Việc Thực Hiện Nghị Quyết 20 Hội Nghị Trung Ương 6 (Khóa Xi) Về Phát Triển Khoa Học, Công Nghệ Tại Viện Quy Hoạch
  • Từ Hội Nghị Trung Ương 06 Lần 02 Khóa Viii (1999) Đến Hội Nghị Trung Ương 04 Khóa Xi (2012).
  • 1. Kết quả xây dựng và hoàn thiện thể chế theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa XII

    Căn cứ các nhiệm vụ, giải pháp thực hiện mục tiêu tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức và quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo yêu cầu của Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Hội nghị Trung ương 6, khóa XII; Kế hoạch số 07-KH/TW ngày 27/11/2017 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 56/2017/QH14 ngày 24/11/2017 của Quốc hội, Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 08/NQ-CP ngày 24/01/2018 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW và Nghị quyết số 10/NQ-CP ngày 03/02/2018 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Kế hoạch số 07-KH/TW và Nghị quyết số 56/ 2021/QH14.

    Việc Chính phủ ban hành 02 Nghị quyết nêu trên tạo cơ sở để Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, điều hành các bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai đồng bộ các nhóm nhiệm vụ, giải pháp. Theo đó, công tác hoàn thiện thể chế về tổ chức bộ máy và quản lý biên chế trong thời gian qua đã đạt được một số kết quả sau:

    – Bộ Nội vụ đã xây dựng trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương (đã được Quốc hội thông qua ngày 22/11/2019).

    Nội dung của Luật tập trung vào việc thể chế hóa chủ trương cải cách tổ chức bộ máy hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập theo yêu cầu của Nghị quyết số 18-NQ/TW và Nghị quyết số 19-NQ/TW của Trung ương, Kế hoạch số 07-KH/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 56/2017/QH14 của Quốc hội tạo cơ sở pháp lý cho việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả trong giai đoạn từ nay đến năm 2021 và các năm tiếp theo.

    Căn cứ quy định của Luật, Bộ Nội vụ đã và đang trình Chính phủ ban hành các nghị định để quy định cụ thể về: 1) Tiêu chí thành lập các tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; 2) Số lượng cấp phó; 3) Biên chế tối thiểu để thành lập tổ chức, đơn vị. Căn cứ quy định của Chính phủ, đẩy mạnh phân cấp cho các bộ, ngành và địa phương xây dựng phương án cụ thể sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức bên trong theo hướng tinh gọn, giảm cấp trung gian, bảo đảm phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực và đặc điểm đô thị, nông thôn, hải đảo.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 158/2018/NĐ-CP ngày 22/11/2018 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính.

    Nội dung của Nghị định tập trung các nhóm vấn đề sau: 1) Hệ thống hóa các loại hình tổ chức hành chính trong hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước theo quy định của Luật tổ chức Chính phủ và Luật tổ chức chính quyền địa phương; 2) Hoàn thiện các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của các cơ quan trong việc đề nghị, thẩm định, quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể tổ chức hành chính.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định thay thế Nghị định số 55/2012/NĐ-CP ngày 28/6/2012 quy định về thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập.

    Nội dung của dự thảo Nghị định tập trung các nhóm vấn đề sau: 1) Hệ thống hóa các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập theo cấp quản lý; 2) Hoàn thiện các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục và trách nhiệm của các cơ quan trong việc đề nghị, thẩm định, quyết định thành lập, tổ chức lại, giải thể đơn vị sự nghiệp công lập; 3) Quy định tự chủ về tổ chức bộ máy của đơn vị sự nghiệp công lập.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2016/NĐ-CP ngày 01/9/2016 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ.

    Nội dung của dự thảo Nghị định tập trung quy định về tiêu chí thành lập và số lượng cấp phó của các tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, làm cơ sở cho các bộ, cơ quan ngang bộ xây dựng phương án kiện toàn tổ chức của cơ quan mình theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2019/NĐ-CP ngày 05/6/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 10/2016/NĐ-CP ngày 01/02/2016 về cơ quan thuộc Chính phủ.

    Nội dung của Nghị định tập trung quy định về tiêu chí thành lập tổ chức và số lượng cấp phó của các tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc cơ quan thuộc Chính phủ, làm cơ sở cho các cơ quan thuộc Chính phủ xây dựng phương án kiện toàn tổ chức của cơ quan mình theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.

    Nội dung của 02 dự thảo Nghị định tập trung sửa đổi, bổ sung 06 nhóm vấn đề sau: 1) Tiêu chí thành lập cơ quan chuyên môn đặc thù (dân tộc, du lịch, ngoại vụ, quy hoạch và kiến trúc); 2) Tiêu chí thành lập tổ chức và số lượng biên chế tối thiểu để được thành lập tổ chức thuộc sở, thuộc chi cục thuộc sở; 3) Người đứng đầu và số lượng cấp phó của từng tổ chức; 4) Nhiệm vụ, quyền hạn chung của cơ quan chuyên môn và điều chỉnh chức năng của một số cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; 5) Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Bộ trưởng Bộ quản lý ngành, lĩnh vực và của chính quyền địa phương; 6) Quy định điều khoản chuyển tiếp đối với các cơ quan chuyên môn đã thực hiện thí điểm hợp nhất và lộ trình sắp xếp số lượng cấp phó của các tổ chức, đơn vị sau sáp nhập, hợp nhất, làm cơ sở cho chính quyền địa phương sắp xếp, kiện toàn tổ chức các cơ quan chuyên môn ở địa phương tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

    Riêng 02 vấn đề: 1) Không mở rộng thí điểm hợp nhất, sáp nhập các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện (thực hiện theo Kết luận số 74-KL/TW ngày 22/5/2020 của Bộ Chính trị); 2) Khung số lượng cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện vẫn giữ như Nghị định số 24/2014/NĐ-CP và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP (chưa sửa đổi).

    – Bộ Nội vụ đã xây dựng Báo cáo số 316/BC-CP ngày 10/7/2020 của Chính phủ tổng kết thực hiện Nghị quyết số 580/2018/ UBTVQH14 ngày 04/10/2018 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về thí điểm hợp nhất Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 24/6/2020 về đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực.

    Nội dung Nghị quyết đã xác định rõ mục tiêu, quan điểm, định hướng đẩy mạnh phân cấp quản lý nhà nước trong 10 ngành, lĩnh vực; xác định các nhiệm vụ, giải pháp và phân công rõ trách nhiệm của các Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết.

    – Bộ Nội vụ đã xây dựng trình Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 24/12/2018, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 653/2019/UBTVQH14 ngày 12/3/2019 và trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 32/NQ-CP ngày 14/5/2019 về sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã đồng thời chưa đạt 50% tiêu chuẩn về diện tích tự nhiên và quy mô dân số trong giai đoạn 2021 – 2021 và các năm sau.

    – Bộ trưởng Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 14/2018/TT-BNV ngày 03/12/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 04/2012/TT-BNV ngày 31/8/2012 hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của thôn, tổ dân phố, trong đó đã sửa đổi điều kiện thành lập thôn mới, tổ dân phố mới tạo điều kiện cho các địa phương chủ động sắp xếp, thu gọn thôn, tổ dân phố theo yêu cầu của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa XII.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế.

    Nội dung Nghị định số 113/2018/NĐ-CP đã mở rộng đối tượng tinh giản biên chế; đồng thời đã phân cấp tạo chủ động cho các bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện tinh giản biên chế. Đến nay, căn cứ Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức (Quốc hội thông qua ngày 25/11/2019) và Bộ luật Lao động năm 2021, Bộ Nội vụ đang trình Chính phủ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP cho phù hợp với quy định mới về đánh giá, xếp loại mức hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ, công chức, viên chức, tuổi thực hiện chính sách về hưu trước tuổi và tuổi tính trợ cấp hưởng chính sách về hưu trước tuổi.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2020/NĐ-CP ngày 01/6/2020 quy định về vị trí việc làm và biên chế công chức (thay thế Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức; Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 về quản lý biên chế công chức và Nghị định số 110/2015/NĐ-CP ngày 29/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 21/2010/NĐ-CP).

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ ban hành Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 03/7/2020 về giải pháp đối với số lượng người làm việc trong lĩnh vực sự nghiệp giáo dục và y tế.

    Nghị quyết đã tháo gỡ những vướng mắc, bất cập trong việc ký hợp đồng lao động đối với các vị trí việc làm là giáo viên và viên chức y tế trong các đơn vị sự nghiệp công lập chưa tự chủ; đồng thời giao rõ trách nhiệm đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế trong việc rà soát, sửa đổi định mức học sinh/lớp, giáo viên/lớp; viên chức y tế/giường bệnh phù hợp với thực tiễn và đáp ứng yêu cầu tinh giản biên chế theo chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật.

    – Bộ Nội vụ đã trình Chính phủ dự thảo nghị định thay thế Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập.

    Nội dung của dự thảo Nghị định tập trung sửa đổi, bổ sung các nhóm vấn đề sau: 1) Hướng dẫn về vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp; 2) Định mức số lượng người làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực; 3) Thẩm quyền quyết định số lượng người làm việc hưởng lương từ nguồn thu sự nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập có thu.

    2. Tác động và hiệu quả của việc hoàn thiện thể chế về tổ chức bộ máy và quản lý biên chế

    Việc tổng kết, đánh giá các quy định về tổ chức bộ máy và quản lý biên chế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đề xuất các chủ trương, chính sách của Đảng, Quốc hội, Chính phủ về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế của hệ thống chính trị làm cơ sở cho việc hoàn thiện thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho các bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, giảm đầu mối, giảm cấp trung gian, giảm số lượng lãnh đạo, giảm thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp, ứng dụng công nghệ thông tin, giảm biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Kết quả cụ thể về tinh gọn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế (khối Chính phủ quản lý) sau hơn 02 năm thực hiện Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 6, khóa XII như sau:

    – Về tổ chức bộ máy của bộ, cơ quan ngang bộ (so với khóa XIII).

    + Về tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ: 1) Vụ và tương đương giảm 12 (giảm 4,6%); 2) Tổng cục và tương đương (tính cả Bộ Công an) giảm 04; 3) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc bộ, cơ quan ngang bộ giảm 10 (giảm 9,09%).

    + Về cấp phó: 1) Số lượng Phó Vụ trưởng và tương đương giảm 70 người; 2) Số lượng Phó Cục trưởng và tương đương giảm 30 người; 3) Số lượng Phó Tổng cục trưởng và tương đương giảm 07 người; 4) Số lượng Phó Trưởng phòng và tương đương giảm 255 người.

    Khi Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 123/2016/NĐ-CP và Nghị định thay thế Nghị định số 55/2012/NĐ-CP thì tổ chức hành chính của bộ, cơ quan ngang bộ và số lượng đơn vị sự nghiệp công lập sẽ tiếp tục giảm, bộ máy sẽ tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn.

    – Về tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương (so sánh với thời điểm trước khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa XII).

    + Về tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập:

    Cấp tỉnh: 1) Cơ quan chuyên môn giảm 05 (giảm 0,42%); 2) Phòng thuộc cơ quan chuyên môn giảm 973 (giảm 11,24%); 3) Chi cục giảm 127 (giảm 11,79%); 4) Phòng thuộc chi cục giảm 1.179 (giảm 26,43%); 5) Tổ chức hành chính khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giảm 12 (giảm 8,45%); 6) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc sở và tương đương giảm 1.203 (giảm 11,75%); 7) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các tổ chức hành chính khác ở cấp tỉnh giảm 54 (giảm 10,11%); 8) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc chi cục và tương đương thuộc sở giảm 348 (giảm 40,32%),…

    Cấp huyện: 1) Số đơn vị hành chính cấp huyện giảm 06 (từ 713 đơn vị còn 707 đơn vị, giảm 0,84%); 2) Cơ quan chuyên môn giảm 294 (giảm 3,33%); 3) Đơn vị sự nghiệp công lập thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện giảm 2.281 (giảm 5,72%).

    Cấp xã: số đơn vị hành chính cấp xã giảm 548 (từ 11.162 đơn vị còn 10.614 đơn vị, giảm 4,91%).

    Thôn, tổ dân phố (tổ chức tự quản của cộng đồng dân cư) giảm 38.369 (từ 136.824 đơn vị còn 98.455 đơn vị, giảm 28,04%).

    + Về cấp phó: 1) Số lãnh đạo cấp phó của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giảm 266 người (giảm 8,12%); 2) Số lãnh đạo cấp phó của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện giảm 1.263 người (giảm 8,67%); 3) Số lãnh đạo cấp phó của chi cục giảm 243 người (giảm 14,01%); 4) Số lãnh đạo cấp phó của phòng thuộc chi cục giảm 995 người (giảm 25,52%).

    – Biên chế thực giảm (tính theo số biên chế có mặt) theo Nghị định số 108/2014/ NĐ-CP và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP (tính đến hết năm 2021) là 57.815 người. Trong đó: 1) Nghỉ hưu trước tuổi 47.934 người (82,91%); 2) Thôi việc ngay 9.783 người (16,92%); 3) Thôi việc sau khi đi học nghề 57 người (0,1%); 4) Chuyển sang tổ chức khác 41 người (0,07%).

    – Giảm tính theo số biên chế giao (năm 2021 giảm so với năm 2021) thuộc khối Chính phủ quản lý là 204.334 người. Trong đó:

    + Biên chế công chức từ Trung ương đến cấp huyện giảm 23.896 người (từ 275.031 biên chế xuống còn 251.135 biên chế, giảm 8,68%).

    + Biên chế cán bộ, công chức cấp xã giảm 30.398 biên chế, gồm: 1) Giảm do sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã 9.534 người; 2) Giảm do thực hiện Nghị định số 34/2019/NĐ-CP là 20.864 người.

    + Số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập giảm 150.040 người (từ 1.984.764 người xuống còn 1.834.724 người, giảm 7,56%).

    – Về số lượng người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố: tổng hợp theo báo cáo của các địa phương giảm 116.892 người (từ 922.533 người xuống còn 805.641 người, giảm 12,67%) do sắp xếp giảm đơn vị hành chính cấp xã, giảm thôn, tổ dân phố và do thực hiện Nghị định số 34/2019/ NĐ-CP ngày 24/4/2019 của Chính phủ.

    Có thể nói, sau hơn 02 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa XII, việc hoàn thiện thể chế về tổ chức bộ máy và quản lý biên chế đã có tác động tích cực nhiều mặt, cơ bản đạt được mục tiêu Trung ương đề ra trong giai đoạn 2021 – 2021. Các kết quả nổi bật đã được tổng hợp và thể hiện trong Tờ trình số 456-TTr/BTCTW ngày 20/4/2020 của Ban Tổ chức Trung ương báo cáo Bộ Chính trị tổng kết 02 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW và số 19-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương và 04 năm thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17/5/2015 của Bộ Chính trị.

    Nội dung báo cáo đã được Bộ Chính trị đánh giá cao tại Kết luận số 74-KL/TW ngày 22/5/2020: “Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tiếp tục được kiện toàn, sắp xếp tinh gọn, nhất là đầu mối bên trong của các tổ chức, cơ quan, đơn vị; mối quan hệ công tác của các cơ quan, tổ chức được bổ sung, hoàn thiện từng bước khắc phục sự trùng lắp, chồng chéo. Sự phân công, phân cấp giữa Trung ương và địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới hợp lý hơn; các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và các thôn, bản, ấp, tổ dân phố được sắp xếp lại. Hoàn thành vượt chỉ tiêu tinh giản biên chế…; qua đó đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, giảm chi thường xuyên, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước”./.

    ThS. NGUYỄN DUY THĂNG – Thứ trưởng Bộ Nội vụ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Điện Tử Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Cà Mau
  • Kết Quả Và Kinh Nghiệm Bước Đầu Về Sắp Xếp Tổ Chức Bộ Máy, Tinh Giản Biên Chế Theo Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Xii)
  • Thực Tiễn Đổi Mới Và Hoàn Thiện Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị Ở Hà Tĩnh Theo Tinh Thần Nghị Quyết Trung Ương 6 Khóa Xii ​
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Xii) Về Tinh Giản Biên Chế, Tinh Gọn Bộ Máy: Tam Kỳ Triển Khai Đồng Loạt
  • Hà Tĩnh: Tập Trung Tinh Gọn Bộ Máy Theo Tinh Thần Nq Trung Ương 6, Khóa Xii
  • Kết Quả Và Kinh Nghiệm Bước Đầu Về Sắp Xếp Tổ Chức Bộ Máy, Tinh Giản Biên Chế Theo Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Xii)

    --- Bài mới hơn ---

  • Cổng Điện Tử Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Cà Mau
  • Hoàn Thiện Thể Chế Về Tổ Chức Bộ Máy Và Quản Lý Biên Chế Theo Yêu Cầu Của Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6, Khóa Xii
  • Hội Nghị Triển Khai Đề Án Sắp Xếp Tổ Chức, Bộ Máy, Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Theo Tinh Thần Nghị Quyết Tw 6, Khóa Xii.
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6 Khóa Xi
  • Đảng Ủy Các Đơn Vị Bđbp Tổ Chức Học Tập, Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 6 (Khóa Xi)
  • Ngày đăng: 04/03/2019 05:20

    Thứ nhất, về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị.

    Tính tại thời điểm tháng 6 năm 2021, cả nước có 42 tổng cục, tăng 2 lần so với năm 2011; có 826 cục, vụ thuộc tổng cục, tăng 4,7% và có 7.280 phòng trong tổng cục, tăng 4,7% so 2011; có 750 vụ, cục và tương đương trực thuộc bộ, tăng 13,6% và 3.970 phòng trong cục, vụ và tương đương thuộc bộ, tăng 13% so với năm 2011 – Chưa tính Quân đội và Công an.

    Riêng các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương tăng 23 đầu mối cấp vụ (21,9%) và 40 đầu mối cấp phòng (37,4%). Các cơ quan tham mưu giúp việc các tỉnh, thành ủy tăng 162 đầu mối cấp phòng (9,32%) và tăng 1.265 biên chế (12,12%) so với năm 2011).

    Vậy mà chỉ hơn 1 năm thực hiện, tính đến cuối năm 2021, toàn hệ thống chính trị đã giảm được 3 ban chỉ đạo; 7 tổng cục và tương đương; khoảng 200 cục, vụ và tương đương; 65 sở, ban, ngành cấp tỉnh; giảm 50 lãnh đạo cấp tổng cục; trên 300 lãnh đạo cấp cục, vụ; gần 200 lãnh đạo ban, sở, ngành cấp tỉnh và tương đương, gần 10.000 lãnh đạo cấp phòng.

    Thứ hai, về biên chế.

    Cách đây hơn 20 năm, khi Đảng ta lần đầu tiên ban hành “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạị hóa đất nước theo Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, năm 1997, cả nước có 1.351.900 cán bộ, công chức. Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16-8-1999 của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa VIII “Một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước” đã đề ra mục tiêu tinh giản biên chế: “Tích cực chỉ đạo việc giảm biên chế hành chính các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, biên chế gián tiếp trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước với mức phấn đấu giảm khoảng 15% “

    Vậy mà mới chỉ sau 3 năm, chủ yếu năm 2021, cả nước đã giảm hơn 132.000 người (giảm 3,54%) so với trước khi thực hiện Nghị quyết. Trong số biên chế trên, công chức, viên chức, người lao động ở Trung ương và địa phương là 81.000 người (giảm khoảng 3,3%), người hưởng lương và phụ cấp ở cấp xã là hơn 51.000 (giảm khoảng 4,02%) Nguồn số liệu của World Bank 2021

    [3] Theo báo cáo sơ bộ của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương (chưa bao gồm Công an, Quân đội) – Tài liệu Hội nghị toàn quốc Ngành Tổ chức xây dựng Đảng năm 2021

    Theo: xaydungdang.org.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Tiễn Đổi Mới Và Hoàn Thiện Mô Hình Tổ Chức Hệ Thống Chính Trị Ở Hà Tĩnh Theo Tinh Thần Nghị Quyết Trung Ương 6 Khóa Xii ​
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Xii) Về Tinh Giản Biên Chế, Tinh Gọn Bộ Máy: Tam Kỳ Triển Khai Đồng Loạt
  • Hà Tĩnh: Tập Trung Tinh Gọn Bộ Máy Theo Tinh Thần Nq Trung Ương 6, Khóa Xii
  • Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Về Sắp Xếp, Tinh Gọn Bộ Máy Theo Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Xii)
  • Bao Quang Tri : Quảng Trị Thực Hiện Tinh Gọn Bộ Máy Theo Tinh Thần Nghị Quyết Trung Ương 6: Quyết Tâm Lớn, Hành Động Quyết Liệt, Hiệu Quả
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Xii) Về Tinh Giản Biên Chế, Tinh Gọn Bộ Máy: Tiếp Tục Kiện Toàn, Tinh Gọn Bộ Máy

    --- Bài mới hơn ---

  • Đảng Bộ Xã Phong An Lãnh Đạo Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Đảng Bộ Xã Gia Hưng Phát Huy Vai Trò Lãnh Đạo Trong Xây Dựng Nông Thôn Mới
  • Hội Nghị Trực Tuyến Toàn Quốc Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Tw6 Khóa Xii Của Đảng
  • Thực Hiện Hiệu Quả Các Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Bình Phước Hoàn Thành Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Trung Ương 7, Khóa Xii Của Đảng
  • Quảng Nam đã giảm 22 đầu mối cấp phòng trong các cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy và cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII); đồng thời tinh giản 1.521 biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP và Nghị định 113/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Kết quả này sẽ là nền tảng để Quảng Nam tiếp tục thực hiện và đảm bảo yêu cầu giảm tối thiểu 10% biên chế đến năm 2021.

    Nhiều kết quả

    Ban Thường vụ Tỉnh ủy vừa có báo cáo đánh giá kết quả 2 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương số 18 (khóa XII) “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả” và 4 năm thực hiện Nghị quyết số 39 ngày 17.4.2015 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trên địa bàn tỉnh.

    Theo báo cáo, Quảng Nam đã hoàn thành việc kiện toàn, sắp xếp tinh gọn đầu mối bên trong các cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy; tổ chức lại Văn phòng Tỉnh ủy để phục vụ chung các cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy; sắp xếp lại tổ chức bộ máy, đổi mới cơ chế hoạt động của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh.

    Ở cấp huyện, đã thực hiện hợp nhất Trung tâm Bồi dưỡng Chính trị vào Ban Tuyên giáo ở tất cả địa phương; thực hiện chủ trương Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam đồng thời là Trưởng ban Dân vận ở 11 địa phương. Đồng thời quyết định kết thúc hoạt động của Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh; sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của Đảng ủy Khối các cơ quan tỉnh.

    Ở cơ sở, các địa phương cũng đã triển khai sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính cấp xã và sáp nhập các thôn, tổ dân phố chưa đủ tiêu chuẩn; đồng thời thực hiện nhất quán việc khoán chi phụ cấp theo định mức cho người hoạt động không chuyên trách cấp xã, thôn (tổ dân phố).

    Trong 2 năm qua, tỉnh đã giảm 22 đầu mối cấp phòng trong các cơ quan tham mưu, giúp việc của Tỉnh ủy và cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; giảm 55 cán bộ lãnh đạo cấp phòng thuộc các cơ quan hành chính cấp tỉnh và tinh giảm 402 biên chế công chức. Toàn tỉnh cũng tinh giản 1.521 biên chế theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP và Nghị định 113/2018/NĐ-CP của Chính phủ. Kết quả đó sẽ là nền tảng để Quảng Nam tiếp tục thực hiện và đảm bảo yêu cầu giảm tối thiểu 10% biên chế đến năm 2021 theo Chỉ thị số 02/CT-TTg ngày 6.1.2017 của Thủ tướng Chính phủ và Kết luận số 17-KL/TW ngày 11.9.2017 của Bộ Chính trị.

    Vẫn còn lúng túng

    Tuy đạt được nhiều kết quả, Ban Thường vụ Tỉnh ủy cũng thẳng thắn nhìn nhận một số vướng mắc trong thực hiện Nghị quyết Trung ương số 18 (khóa XII) và Nghị quyết 39 của Bộ Chính trị.

    Theo Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Dũng, quá trình sắp xếp bộ máy trong các cơ quan hành chính tiến hành trong bối cảnh có nhiều biến động và thay đổi về tổ chức bộ máy; một số bộ, ngành trung ương đang rà soát và xây dựng tiêu chí, lấy ý kiến để sáp nhập, tổ chức lại các đơn vị trực thuộc, điều chỉnh các thông tư… do đó có sự lúng túng nhất định trong quá trình triển khai việc sắp xếp, kiện toàn. Một số đề án tinh giản biên chế chưa xác định được cơ cấu ngạch công chức của cơ quan, đơn vị và vị trí việc làm của từng cán bộ, công chức, người lao động, nên chưa xác định được nhu cầu biên chế theo vị trí việc làm của đơn vị mà chỉ căn cứ số lượng biên chế theo quy định của Trung ương và của tỉnh.

    Đáng nói, số lượng biên chế xác định tinh giản từ năm 2021 đến năm 2021 chủ yếu là nghỉ hưu đúng tuổi; việc tinh giản biên chế chủ yếu là tự nguyện, thiếu giải pháp tích cực để tinh giản biên chế đối với những trường hợp có trình độ, năng lực yếu. Trường hợp tinh giản biên chế chủ yếu tập trung ở ngành giáo dục, y tế; các cơ quan còn lại số lượng cán bộ, công chức, viên chức được tinh giản biên chế còn thấp, chưa đảm bảo lộ trình tinh giản biên chế theo quy định. Biên chế nhiều cơ quan tại thời điểm thực hiện tinh giản chưa đảm bảo theo chỉ tiêu giao; một số đơn vị có số người nghỉ hưu đúng tuổi và hợp đồng trong chỉ tiêu biên chế chiếm tỷ lệ cao, trong khi đó theo quy định chỉ tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số biên chế thực hiện tinh giản, giải quyết chế độ hưu hoặc thôi việc.

    Quyết tâm thực hiện

    Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết Trung ương số 18 (khóa XII) trong năm 2021 và những năm tiếp theo, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Dũng khẳng định, toàn tỉnh tiếp tục kiện toàn, sắp xếp tinh gọn đầu mối bên trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của UBND tỉnh theo đề án vị trí việc làm được phê duyệt. Tập trung đôn đốc các địa phương cấp huyện tiến hành sắp xếp đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực kinh tế, sự nghiệp khác theo chương trình hành động và kế hoạch đề ra… Đối với việc thực hiện Nghị quyết số 39 trong các năm 2021 và 2021, tỉnh phải khẩn trương hoàn thành phê duyệt Đề án vị trí việc làm và cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp trong các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn.

    Với quyết tâm trên, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Văn Dũng cho biết, tỉnh sẽ chỉ đạo tập trung rà soát tình hình biên chế và tăng cường công tác quản lý, điều chỉnh bổ sung biên chế cho các cơ quan, đơn vị trên cơ sở đề án vị trí việc làm đã được phê duyệt. Các địa phương, đơn vị phải quyết liệt thực hiện để đến cuối năm 2021 hoàn thành tinh giản tối thiểu 10% trong tổng biên chế được giao.

    Đặc biệt, toàn tỉnh phải rà soát trình độ đào tạo, năng lực của công chức, viên chức để có kế hoạch sắp xếp, bố trí, sử dụng phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ; đồng thời kiên quyết tinh giản biên chế đối với những cán bộ công chức, viên chức không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, không đạt tiêu chuẩn quy định, những người dôi dư do sắp xếp lại tổ chức. Mỗi cơ quan, địa phương, đơn vị phải xây dựng tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để đánh giá cán bộ theo chức danh, vị trí việc làm; qua đó, xử lý nghiêm đối với những cán bộ không hoàn thành nhiệm vụ, hạn chế về năng lực, có tỷ lệ phiếu tín nhiệm thấp (dưới 50%)…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thực Hiện Quyết Liệt Và Đồng Bộ Các Giải Pháp Về Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Nghị Quyết Số 39 Về Tinh Giản Biên Chế: Dư Luận Nói Gì?
  • Thực Hiện Nghị Quyết Số 39
  • Hội Nghị Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 39
  • Năm 2021: Cán Bộ, Công Viên Chức Bị Tinh Giản Biên Chế Trong Các Trường Hợp Sau
  • Quyết Định Của Thủ Tướng Cp Về Tinh Giản Biên Chế

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Quán Triệt Nghị Quyết 39
  • Kế Hoạch Của Chính Phủ Về Tinh Giản Biên Chế Và Cơ Cấu Lại Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức
  • Năm 2021: Cán Bộ, Công Viên Chức Bị Tinh Giản Biên Chế Trong Các Trường Hợp Sau
  • Hội Nghị Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 39
  • Thực Hiện Nghị Quyết Số 39
  • Thủ tướng vừa ban hành Quyết định 2218/QĐ-TTg thực hiện Nghị quyết 39-NQ/TW về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC).

    – Đảm bảo đến năm 2021, về cơ bản không tăng tổng biên chế Bộ, ngành ở trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương so với biên chế được giao năm 2021.

    – Số CBCCVC được tuyển dụng mới không được vượt quá 50% số CBCCVC đã ra khỏi biên chế sau khi thực hiện việc tinh giản hoặc nghỉ hưu đúng tuổi, thôi việc theo quy định pháp luật.

    – Tỷ lệ tinh giản biên chế tối thiểu là 10% biên chế của từng Bộ, ngành; tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

    – Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp:

    + Khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm.

    + Nguồn thu sự nghiệp được dùng để trả lương thay thế việc trả lương từ Ngân sách Nhà nước.

    – Đối với tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp:

    + Giữ ổn định biên chế đến năm 2021.

    + Được thực hiện khoán hoặc hỗ trợ kinh phí đối với nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao kể từ năm 2021.

    Quyết định 2218/QĐ-TTg có hiệu lực kể từ ngày 10/12/2015.

    ***********************************************************************

    QUYẾT ĐỊNH

    VỀ KẾ HOẠCH CỦA CHÍNH PHỦ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 39-NQ/TW NGÀY 17 THÁNG 4 NĂM 2021 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ TINH GIẢN BIÊN CHẾ VÀ CƠ CẤU LẠI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC

    THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001; Căn cứ Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2021 của Bộ Chính trị Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ, QUYẾT ĐỊNH: về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức;

    Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2021 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày ký.

    KẾ HOẠCH CỦA CHÍNH PHỦ

    Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.

    A. MỤC TIÊU, YÊU CẦU

    THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 39-NQ/TW NGÀY 17 THÁNG 4 NĂM 2021 CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ TINH GIẢN BIÊN CHẾ VÀ CƠ CẤU LẠI ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC(Ban hành kèm theo Quyết định s ố 2218/QĐ-TTg ngày 10ng 12 năm 2021 của Thủ tướng Chính phủ)

    1. Tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2021 của Bộ Chính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị), nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, thu hút những người có đức, có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan, tổchức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế. Từ đó, góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý nhà nước, tiết kiệm ngân sách, giảm chi thường xuyên, cải cách tiền lương.

    B. NỘI DUNG KẾ HOẠCH I. TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC

    2. Xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp chủ yếu để các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai, thực hiện và kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện Nghị quyết, bảo đảm đạt được mục tiêu và hiệu quả, kết quả của công tác tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    Các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, thống nhất về nhận thức, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, của cán bộ, công chức, viên chức và thực hiện sự giám sát của nhân dân về chủ trương thực hiện tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức:

    1. Tuyên truyền về mục tiêu, ý nghĩa, yêu cầu của công tác tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức để nâng cao trách nhiệm, thống nhất nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và mỗi cán bộ, công chức, viên chức.

    2. Đổi mới hình thức tuyên truyền, giáo dục thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, hội nghị quán triệt, tập huấn cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác tổ chức cán bộ.

    1. Về tổ chức bộ máy

    – Tập trung rà soát, sửa đổi và bãi bỏ các quy định về tổ chức, bộ máy và biên chế trong các văn bản pháp luật hiện hành không thuộc lĩnh vực tổ chức nhà nước. Từ nay, chấm dứt tình trạng đưa các quy định về tổ chức, bộ máy và biên chế vào trong các văn bản pháp luật không thuộc lĩnh vực tổ chức nhà nước.

    – Tập trung rà soát, sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương, đơn vị sự nghiệp công lập phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Trước mắt, giữ ổn định cơ cấu tổ chức như hiện nay. Không thành lập các tổ chức trung gian; chỉ thành lập tổ chức mới trong trường hợp cá biệt thật sự cần thiết do yêu cầu thực tiễn.

    – Kiện toàn tổ chức bộ máy phải gắn với rà soát, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức cấu thành.

    – Tiếp tục củng cố và nâng cao hoạt động của mô hình tổ chức quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức tổng cục, cục, vụ phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Xây dựng, hoàn thiện tiêu chí, điều kiện thành lập, giải thể, sáp nhập tổng cục, cục, vụ; xem xét hợp nhất các tổng cục, cục, vụ không đáp ứng về tiêu chí, điều kiện quy định. Rà soát, bỏ cấp phòng trong vụ thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, bỏ cấp phòng trong ban của cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước khác ở Trung ương.

    – Tập trung rà soát, sắp xếp, kiện toàn cơ cấu tổ chức của tổng cục, cục, chi cục theo hướng thu gọn đầu mối, giảm bớt khâu trung gian, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; bỏ phòng trong vụ của tổng cục.

    – Phân loại các cơ quan, tổ chức hành chính phù hợp với yêu cầu quản lý và nâng cao chất lượng cung ứng các nhu cầu cơ bản thiết yếu phục vụ nhân dân. Rà soát những nhiệm vụ mà cơ quan nhà nước không cần thiết phải trực tiếp thực hiện hoặc thực hiện không có hiệu quả để chuyển sang các tổ chức ngoài nhà nước thực hiện.

    – Tập trung rà soát để kiện toàn cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện theo hướng thu gọn đầu mối, giảm bớt khâu trung gian, quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Tiếp tục phân biệt rõ hơn nữa mô hình tổ chức chính quyền đô thị và tổ chức chính quyền nông thôn.

    – Xây dựng tiêu chí, điều kiện thành lập, giải thể, sáp nhập đơn vị hành chính ở các cấp theo hướng khuyến khích sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, bảo đảm cơ bản không tăng số lượng đơn vị hành chính ở địa phương.

    – Tập trung rà soát, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập theo ngành, lĩnh vực.

    – Tổ chức phân loại đơn vị sự nghiệp và thực hiện các hình thức chuyển đổi phù hợp (hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, từng bước cổ phần hóa, hợp tác công tư…); đẩy mạnh xã hội hóa đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có khả năng tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động (trường đại học, học viện, viện nghiên cứu, cơ sở dạy nghề, bệnh viện…) theo hướng tiếp tục đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tài chính, nhân sự và khuyến khích thành lập các tổ chức cung ứng dịch vụ công thuộc các thành phần ngoài Nhà nước, nhất là các lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, khoa học và công nghệ. Tăng cường sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước và nhân dân đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập.

    b) Phân công thực hiện

    – Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước khác ở Trung ương (sau đây gọi chung là Bộ, ngành) tập trung chỉ đạo rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy thuộc thẩm quyền quản lý.

    – Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Chỉ đạo, tổ chức việc rà soát, kiện toàn cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện; sắp xếp lại mạng lưới các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn; sắp xếp lại mạng lưới các trường, lớp, bảo đảm bố trí đủ sỹ số học sinh trên lớp theo các cấp học, bậc học; sắp xếp lại mạng lưới các đơn vị sự nghiệp y tế theo hướng tinh gọn, hiệu quả đúng quy định của pháp luật.

    + Thẩm định chặt chẽ các dự thảo văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của các cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

    2. Về tinh giản biên chế

    – Kiên trì chủ trương tinh giản biên chế cán bộ, công chức, viên chức, bảo đảm đến năm 2021, về cơ bản không tăng tổng biên chế của Bộ, ngành ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương so với biên chế được giao của năm 2021. Trường hợp phải thành lập tổ chức mới hoặc giao nhiệm vụ mới thì Bộ, ngành ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tự cân đối, điều chỉnh trong tổng biên chế hiện có.

    Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thành lập mới trường, tăng lớp, tăng học sinh; lĩnh vực y tế thành lập mới tổ chức, tăng quy mô giường bệnh…, có thể bổ sung biên chế, nhưng phải quản lý chặt chẽ trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp.

    – Giữ ổn định biên chế của các tổ chức xã hội, xã hội – nghề nghiệp đến năm 2021. Từ năm 2021, thực hiện khoán hoặc hỗ trợ kinh phí để thực hiện các nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước giao.

    – Từng Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước khác ở Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương phải xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế trong 7 năm (2015-2021) và từng năm, trong đó phải xác định tỷ lệ tinh giản biên chế tối thiểu là 10% biên chế của từng Bộ, ngành, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu sự nghiệp, khuyến khích đẩy mạnh chuyển đổi thêm 10% số lượng viên chức sang cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm và xã hội hóa thay thế nguồn trả lương từ ngân sách nhà nước bằng việc trả lương từ nguồn thu sự nghiệp.

    – Chỉ tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số cán bộ, công chức, viên chức đã ra khỏi biên chế sau khi thực hiện tinh giản biên chế và không quá 50% số biên chế của cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu đúng tuổi hoặc thôi việc theo quy định của pháp luật trong các cơ quan hành chính nhà nước và đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương.

    – Hàng năm, giảm 50% số biên chế thuộc diện tinh giản và giảm 50% biên chế của số cán bộ, công chức, viên chức nghỉ hưu đúng tuổi hoặc thôi việc theo quy định trong các cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương.

    – Hoàn thành việc xác định vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập để làm căn cứ xác định biên chế phù hợp.

    – Rà soát trình độ đào tạo, năng lực của công chức, viên chức để có kế hoạch sắp xếp, bố trí sử dụng phù hợp với vị trí việc làm và yêu cầu nhiệm vụ. Có biện pháp đồng bộ để tinh giản biên chế đối với những cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, không đạt yêu cầu tiêu chuẩn quy định về phẩm chất, năng lực, trình độ đào tạo, sức khỏe; những người dôi dư do sắp xếp lại tổ chức bộ máy, nhân sự; những người dôi dư do cơ cấu lại cán bộ, công chức, viên chức theo vị trí việc làm.

    – Đẩy mạnh thực hiện kiêm nhiệm đối với một số chức danh của cán bộ, công chức từ Trung ương đến cấp xã, nhất là kiêm nhiệm đối với các chức danh người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, bản, tổ dân phố. Khoán kinh phí chi trả phụ cấp để khuyến khích giảm dần số lượng những người hoạt động không chuyên trách và tăng thu nhập của cán bộ, công chức cấp xã. Sớm sửa đổi quy định về cán bộ, công chức cấp xã theo hướng tinh gọn, giảm bớt chức danh.

    – Thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ cấp xã khi hết nhiệm kỳ mà không đủ điều kiện tái cử; xây dựng cơ chế quản lý người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã và ở thôn, tổ dân phố gắn với phát huy quyền làm chủ, giám sát của nhân dân và đẩy mạnh thực hiện hình thức tự quản tại cộng đồng dân cư.

    – Thực hiện nghiêm các chế độ, chính sách nghỉ hưu đối với cán bộ, công chức, viên chức theo đúng quy định của pháp luật.

    – Tổ chức thực hiện và tăng cường kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện tinh giản biên chế, thực hiện chế độ, chính sách nghỉ hưu đúng tuổi đối với cán bộ, công chức, viên chức bảo đảm đúng quy định, chế độ chính sách và mục tiêu đề ra.

    b) Phân công thực hiện

    – Bộ trưởng, Thủ trưởng ngành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Tập trung chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc thực hiện tinh giản biên chế trong các cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý; xây dựng kế hoạch tinh giản biên chế của Bộ, ngành, địa phương mình; phê duyệt đề án tinh giản biên chế của các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền quản lý; chịu trách nhiệm cá nhân về kết quả tinh giản biên chế trong phạm vi, thẩm quyền quản lý.

    Kết quả tổ chức triển khai thực hiện tinh giản biên chế được gắn với việc đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ hàng năm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị nếu không hoàn thành kế hoạch và chỉ tiêu tinh giản biên chế đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt phải bị xử lý trách nhiệm về Đảng và Nhà nước.

    a) Rà soát, đánh giá, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo ngạch, chức danh nghề nghiệp và trình độ đào tạo phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, bảo đảm cơ cấu phù hợp về nữ, người dân tộc thiểu số của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị.

    b) Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh, chức vụ công chức, viên chức từ thứ trưởng, chuyên gia, chuyên viên cao cấp và tương đương trở xuống theo hướng chú trọng phẩm chất, trình độ, năng lực. Mỗi tiêu chuẩn của chức vụ lãnh đạo, quản lý đều phải quy định ngạch công chức hoặc chức danh nghề nghiệp của viên chức tương ứng.

    c) Chỉ bổ nhiệm chức danh chuyên gia, chuyên viên cao cấp đối với công chức làm nhiệm vụ nghiên cứu, tham mưu tổng hợp chiến lược ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan hành chính nhà nước khác ở Trung ương, các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh theo quy định của pháp luật.

    2. Phân công thực hiện

    a) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành trong ngành, lĩnh vực quản lý.

    b) Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tập trung chỉ đạo các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc và trực thuộc rà soát, đánh giá, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền quản lý.

    a) Thực hiện nghiêm Quyết định số 253-QĐ/TW ngày 21 tháng 7 năm 2021 của Bộ Chính trị về quản lý biên chế thống nhất của hệ thống chính trị. Hàng năm, Bộ Chính trị cho ý kiến về quản lý biên chế, định hướng bố trí biên chế của cả hệ thống chính trị.

    Rà soát và hoàn thiện các quy định của pháp luật về quản lý biên chế công chức, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập để bảo đảm thống nhất quản lý biên chế từ Trung ương đến địa phương.

    b) Đổi mới phương thức tuyển dụng công chức, viên chức (bao gồm cả tuyển chọn lãnh đạo quản lý).

    c) Đổi mới cơ chế đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức theo nguyên tắc: cấp trên đánh giá, phân loại cấp dưới; người đứng đầu đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý; cấp trên trực tiếp đánh giá, phân loại người đứng đầu.

    d) Cải tiến phương thức, quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo quản lý theo hướng đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trên cơ sở tiêu chuẩn, điều kiện và kết quả công việc.

    đ) Quy định rõ số lượng cấp phó phù hợp trong các cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập từ Trung ương đến địa phương.

    e) Tiếp tục thực hiện cơ chế khoán kinh phí quản lý hành chính gắn với chế độ tiền thưởng để khuyến khích những người làm việc tốt, hiệu quả.

    g) Sớm xây dựng cơ chế thu hút người có tài năng, các chuyên gia trong các ngành, lĩnh vực vào làm việc tại các cơ quan của Đảng, Nhà nước và các đơn vị sự nghiệp công lập.

    h) Thực hiện chính sách thu hút, tạo nguồn cán bộ, công chức từ sinh viên tốt nghiệp xuất sắc, nhà khoa học trẻ vào công tác trong các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị.

    i) Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức gắn với tiêu chuẩn chức danh.

    2. Phân công thực hiện

    a) Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm thực hiện nghiêm công tác quản lý và sử dụng biên chế cán bộ, công chức, số lượng người làm việctrong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc thẩm quyền quản lý.

    C. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    – Hướng dẫn và chỉ đạo tổ chức thực hiện việc đổi mới phương thức tuyển dụng, đánh giá công chức, viên chức; cải tiến phương thức, quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại cán bộ, công chức, viên chức; nâng cao chất lượng công tác bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức gắn với tiêu chuẩn chức danh.

    1. Các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động thuộc thẩm quyền quản lý về chủ trương tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Căn cứ kế hoạch của Chính phủ để cụ thể hóa thành kế hoạch của Bộ, ngành, địa phương mình.

    Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định Mới Của Chính Phủ Về Tinh Giản Biên Chế
  • Thông Tư 2/tbxh Hướng Dẫn Thi Hành Nghị Quyết Số 16
  • Hướng Dẫn Thực Hiện Tinh Giản Biên Chế Theo Nghị Định 113/2018/nđ
  • Nghị Định 108 Về Tinh Giản Biên Chế
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 6 (Khóa Xii) Về Tinh Giản Biên Chế, Tinh Gọn Bộ Máy: Đồng Thuận Vào Cuộc
  • Nghị Quyết 39 Về Tinh Giản Biên Chế: Dư Luận Nói Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tinh Giản Biên Chế Nâng Cao Hiệu Quả Của Các Đơn Vị Sự Nghiệp Công Lập
  • Nghị Quyết Phê Chuẩn Nghị Định Thư Gia Nhập Wto
  • Tác Động Khó Lường Sau 3 Năm Gia Nhập Wto
  • Mối Quan Hệ Giữa Cam Kết Với Wto, Luật Doanh Nghiệp Và Nghị Quyết Số 71/2006/qh11
  • Trình Tự Gia Nhập Wto Của Việt Nam
  • Tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức đang là đòi hỏi bức thiết của thực tiễn nước ta hiện nay.

    Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 39 về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Trong đó yêu cầu cần có các biện pháp đồng bộ để tinh giản biên chế đối với những cán bộ, công chức, viên chức không hoàn thành nhiệm vụ, không đáp ứng yêu cầu công việc, đồng thời có cơ chế thu hút người tài vào hoạt động công vụ đang thu hút nhiều người dân quan tâm.

    Ông Mai cho rằng, việc ban hành Nghị quyết số 39 về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Vì thực tế hiện nay, có tình trạng ở nhiều cơ quan nhà nước, số lượng đội ngũ cán bộ công chức đông nhưng không mạnh, thậm chí không đáp ứng được yêu cầu công việc. Trong đó có nguyên nhân do việc tuyển dụng đầu vào chưa thực sự chọn được người có tài. Bên cạnh đó, nhiều người tài không vào khu vực nhà nước do mức lương thấp, ít có chế độ đãi ngộ.

    Giải quyết nghịch lý này, theo ông Lê Văn Mai cần có sự quyết tâm, sự đồng lòng từ Trung ương đến cơ sở. Đặc biệt người tài, giỏi làm việc thì lương của họ phải được hưởng thụ đúng với năng lực mà họ đã bỏ ra.

    10 năm qua, nước ta đã thực hiện tinh giản biên chế 3 lần nhưng chưa lần nào đạt được kết quả như mong muốn. Bộ trưởng Bộ Nội vụ từng báo cáo trước Quốc hội, đến năm 2013, sau 10 năm thực hiện tinh giản, số lượng biên chế không những không giảm mà còn tăng thêm, bộ máy ngày càng phình ra.

    Chủ trì hội nghị trực tuyến mới đây về cải cách thủ tục hành chính và công bố chỉ số hài lòng của người dân, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chỉ rõ: Một bộ phận cán bộ, công chức có tinh thần phục vụ kém, thiếu trách nhiệm, sách nhiễu, tiêu cực trong khi việc kiểm tra, xử lý chưa quyết liệt, nghiêm túc… Và chính những hạn chế này đã và đang làm cản trở nỗ lực cải cách hành chính, làm chậm đi sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh như vậy, Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị mới ban hành rất kịp thời và có ý nghĩa.

    Theo Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị, các cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ tuyển dụng số cán bộ, công chức, viên chức mới không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã thực hiện tinh giản biên chế và không quá 50% số biên chế cán bộ, công chức, viên chức đã giải quyết chế độ nghỉ hưu hoặc thôi việc theo quy định.

    Bà Nguyễn Thị Linh, ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội cho rằng: Quy định số lượng như vậy nhằm tránh tình trạng ngày càng “phình ra” của bộ máy các cơ quan nhà nước. Bà Linh rất quan tâm tới một nội dung trong Nghị quyết số 39 của Bộ Chính trị, đó là cần sớm có cơ chế thu hút người có tài vào làm việc trong các cơ quan nhà nước. Theo bà Linh, cơ chế tốt nhất là cơ chế đãi ngộ về tiền lương cũng như tạo môi trường để người tài phát huy được năng lực, đóng góp cho đất nước.

    Bà Linh cho biết thêm: “Không trách được người trẻ vì với mức lương nhà nước chỉ 2-3 triệu đồng/tháng thì không đủ sống. Bây giờ lớp trẻ rất giỏi thì nhà nước phải có cơ chế, chế độ đãi ngộ hợp lý, phù hợp với năng lực mà họ bỏ ra vì nếu ra ngoài làm, lương của họ có thể gấp 10 lần lương nhà nước”.

    Trong chương trình “Dân hỏi Bộ trưởng trả lời” gần đây, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình cho biết, tới đây, Bộ Nội vụ sẽ triển khai một loạt các giải pháp quyết liệt, đồng bộ để thực hiện có hiệu quả việc tinh giản biên chế, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ công chức. Theo đó, sẽ đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý biên chế theo hướng tập trung, thống nhất, đẩy mạnh và hoàn thành việc xác định vị trí việc làm để trên cơ sở đó, bố trí số biên chế hợp lý cho từng cơ quan, tổ chức, đơn vị; nâng cao trách nhiệm của người đứng đầu trong thực hiện tinh giản biên chế.

    Theo ông Nguyễn Thái Bình, cần tiếp tục rà soát chức năng, nhiệm vụ để sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy, đồng thời tinh giản biên chế đối với tất cả các cơ quan, tổ chức, đơn vị. Xây dựng, cơ cấu đội ngũ cán bộ công chức, viên chức theo vị trí việc làm và trình độ đào tạo một cách hợp lý. nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đội ngũ cán bộ công chức, viên chức. Đẩy mạnh giao quyền tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Đồng thời tiến hành xã hội hóa một số lĩnh vực nhiệm vụ công, xem đây là khâu đột phá quan trọng.

    VOV

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Về Tinh Giản Biên Chế
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 29 Trung Ương 7 Khóa 12 Về Đổi Mới Căn Bản Toàn Diện Giáo Dục
  • Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 25 Về Công Tác Dân Vận
  • Hà Nội Chủ Động Thực Hiện Hiệu Quả Nghị Quyết 25
  • Chuyển Biến Qua 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 25
  • Tin tức online tv