Top 19 # Xem Nhiều Nhất Nghị Quyết Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ninh / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Athena4me.com

Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ninh Lần Thứ Xiv, Nhiệm Kỳ 2022 / 2023

Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XIV họp từ ngày 13 đến ngày 14-10-2015 tại thành phố Hạ Long, QUYẾT NGHỊ I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII (2010-2015) và mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2015-2020 nêu trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIII trình Đại hội: 1- Về đánh giá tình hình 5 năm 2010-2015

Năm năm qua, trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn, song dưới sự quan tâm chỉ đạo kịp thời, đúng hướng, hiệu quả của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh đã phát huy khối đại đoàn kết, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, có nhiều giải pháp đột phá để khai thác tiềm năng, thế mạnh, khắc phục khó khăn nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra, tỉnh Quảng Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

Kinh tế tiếp tục phát triển toàn diện, quy mô và sức cạnh tranh được nâng lên rõ rệt; tăng trưởng kinh tế đạt mức cao so với cả nước; cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực theo hướng tăng dần tỷ trọng dịch vụ; thu ngân sách luôn nằm trong nhóm 5 tỉnh, thành phố có số thu cao nhất cả nước. Bám sát mục tiêu thực hiện ba đột phá chiến lược gắn với cơ cấu lại kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện và đạt được nhiều kết quả nổi bật. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện rõ rệt, niềm tin của các nhà đầu tư nâng lên. Văn hoá – xã hội được quan tâm, đời sống nhân dân được cải thiện. Mặc dù kinh tế khó khăn, song tổng chi cho an sinh xã hội gấp hai lần so với giai đoạn trước, giải quyết nhiều việc làm mới và giảm nghèo rõ rệt. Quốc phòng – an ninh được củng cố, chủ quyền biên giới đất liền và biển đảo được giữ vững; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; hoạt động đối ngoại được tăng cường theo hướng hiệu quả, thiết thực hơn. Công tác xây dựng đảng, chính quyền và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến rõ nét theo hướng đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế; dân chủ trong đời sống chính trị, xã hội được quan tâm, phát huy.

– Về kinh tế: (1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 11-12%/năm; (2) Tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 7.000-8.000 USD; (3) Cơ cấu ngành kinh tế đến năm 2020: Dịch vụ 48-49%; Công nghiệp – xây dựng 47-48%; Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản 3-5%; (4) Thu ngân sách nội địa tăng tối thiểu 10%/năm, thu xuất nhập khẩu phấn đấu đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch Trung ương giao; (5) Tổng kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 3-5%/năm; (6) Tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn bình quân tăng trên 10%/năm; (7) Năng suất lao động xã hội bình quân tăng 15-16%/năm.

– Về xã hội, đến năm 2020: (8) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt từ 84-89%; (9) Số bác sĩ/1 vạn dân đạt trên 12 bác sĩ; (10) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 90%; (11) Tỷ lệ hộ nghèo giảm 0,7%/năm (theo tiêu chí mới).

– Về môi trường, đến năm 2020: (12) Tỷ lệ che phủ rừng đạt 54-55%; (13) Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom đạt trên 92%, tỷ lệ chất thải y tế được thu gom, xử lý đạt 100%/năm; (14) Tỷ lệ dân cư thành thị được sử dụng nước sạch trên 98% và dân cư nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh trên 98%.

– Về xây dựng Đảng, phấn đấu hàng năm: (15) Số tổ chức cơ sở đảng được đánh giá chất lượng trong sạch, vững mạnh đạt 50% (theo quy định mới); (16) Đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt trên 75% trở lên; (17) Kết nạp đảng viên từ 4-5%.

Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế, yếu kém cần quyết tâm khắc phục: 2/18 chỉ tiêu chủ yếu Đại hội XIII đề ra chưa đạt; kinh tế phát triển khá nhanh nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, nhất là một số ngành có lợi thế lớn như du lịch, thương mại, kinh tế biển. Hệ thống kết cấu hạ tầng đã được quan tâm đầu tư nhưng vẫn chưa đồng bộ. Nguồn nhân lực chất lượng cao còn thiếu, nhất là đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học đầu ngành. Đời sống văn hoá – xã hội của nhân dân đã được cải thiện nhưng có mặt chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế. Khắc phục ô nhiễm môi trường do khai thác than, sản xuất vật liệu xây dựng chưa đạt hiệu quả mong muốn. Tình hình tội phạm, vi phạm pháp luật đã được kiềm chế, kiểm soát nhưng còn tiềm ẩn phức tạp. Giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của nhân dân có lúc, có việc còn chậm. Sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên chưa đồng đều. Bộ máy trong hệ thống chính trị chưa thực sự tinh gọn, hiệu quả. Quản lý nhà nước trên một số lĩnh vực có mặt còn hạn chế. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể có nhiều đổi mới nhưng chưa toàn diện, việc nắm tình hình nhân dân có lúc, có nơi chưa kịp thời; thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội chưa rõ nét.

Những hạn chế, yếu kém nói trên có nguyên nhân khách quan là do suy thoái kinh tế thế giới nhất là trong những năm đầu nhiệm kỳ; tình hình chính trị trong khu vực, thời tiết, dịch bệnh diễn biến phức tạp… đã tác động tiêu cực đến các ngành sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân. Nhưng trực tiếp và quyết định vẫn là nguyên nhân chủ quan: Năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, cụ thể hoá và tổ chức thực hiện của một số cấp uỷ Đảng; năng lực quản lý, điều hành ở một số cấp chính quyền chậm được nâng lên, nhất là ở cơ sở. Nhận thức, năng lực của một bộ phận cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Quyết tâm chính trị có mặt chưa cao, thiếu biện pháp hữu hiệu khắc phục triệt để các hạn chế, yếu kém đã được chỉ ra. Công tác phân tích, dự báo chiến lược chưa theo kịp tình hình.

Ba là, có tư duy đột phá, tầm nhìn chiến lược, hành động quyết liệt, không quá cầu toàn, vừa làm vừa rút kinh nghiệm. Nhận diện kịp thời những thời cơ, thách thức, ưu điểm, hạn chế để bố trí nguồn lực và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo.

Bốn là, coi trọng việc mở rộng và phát huy dân chủ, nhất là dân chủ trực tiếp, gắn với tăng cường kỷ cương pháp luật; lắng nghe tiếp thu ý kiến nhân dân, đồng hành cùng doanh nghiệp.

Năm là, thường xuyên chăm lo đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đội ngũ doanh nhân và phát triển toàn diện nguồn nhân lực.

3- Dự báo bối cảnh tình hình trong giai đoạn tới

Trên thế giới, những năm tới sẽ còn nhiều diễn biến rất phức tạp, khó lường. ASEAN trở thành cộng đồng sẽ mang đến nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức mới. Trong nước, kinh tế đang từng bước lấy lại đà tăng trưởng, nhưng vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, nhất là khi thực hiện đầy đủ các cam kết, tham gia các hiệp định thương mại khu vực và thế giới. Trong tỉnh, những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội đạt được trong những năm qua đã tạo ra thế và lực mới, tuy nhiên, Quảng Ninh vẫn phải đối mặt với các yếu tố mới; mô hình tăng trưởng chủ yếu vẫn theo chiều rộng; quy mô kinh tế còn nhỏ; năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp còn thấp; chất lượng nguồn nhân lực còn yếu; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, trật tự an toàn xã hội còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường.

4- Mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2015-2020 Mục tiêu tổng quát:

Phấn đấu đến năm 2020, xây dựng Quảng Ninh trở thành tỉnh có cơ cấu kinh tế dịch vụ, công nghiệp; là trung tâm du lịch chất lượng cao của khu vực, một trong những cực tăng trưởng kinh tế của miền Bắc với hạ tầng kinh tế – xã hội, hạ tầng kỹ thuật đô thị đồng bộ; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, giảm nghèo bền vững; tổ chức Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh; giữ vững chủ quyền biên giới; bảo đảm an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội; bảo vệ và cải thiện rõ rệt môi trường sinh thái; gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá, sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc; bảo tồn và phát huy bền vững các giá trị của Di sản – Kỳ quan thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long và các khu danh thắng, di tích lịch sử. Trong nhiệm kỳ khoá XIV, trên cơ sở quán triệt và lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp trên tất cả các lĩnh vực đã nêu trong Báo cáo chính trị, cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tạo bước phát triển đột phá trên cơ sở một số định hướng lớn sau:

Một là, tăng trưởng kinh tế đảm bảo chỉ tiêu đề ra trên nền tảng phát triển bền vững, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, quốc phòng – an ninh vững chắc. Nâng cao chất lượng và tỷ trọng các ngành dịch vụ, nhất là du lịch; phát triển công nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường; thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung với công nghệ cao.

Hai là, tiếp tục thực hiện có hiệu quả ba đột phá chiến lược. Hoàn thành và đầu tư mới các dự án kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại như hệ thống đường cao tốc, sân bay đảm bảo kết nối nhanh hơn với khu vực và quốc tế; nhất là đối với các địa bàn trọng điểm như thành phố Hạ Long, hai khu kinh tế Vân Đồn, Móng Cái. Cải cách hành chính theo hướng phát huy vai trò tích cực của chính quyền điện tử gắn với hoạt động hiệu quả của các trung tâm hành chính công; lấy hiệu quả phục vụ, sự hài lòng của nhân dân, doanh nghiệp làm thước đo. Tạo môi trường thuận lợi thực sự để đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức chuyên nghiệp, thái độ văn minh, lịch sự gắn với tăng cường kỷ cương công chức, đổi mới chế độ công chức, công vụ.

Ba là, huy động và sử dụng nguồn lực bảo đảm nguyên tắc nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước chủ yếu đầu tư các công trình động lực có sức lan toả và bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng – an ninh; huy động tối đa mọi nguồn lực xã hội, đặc biệt là vận dụng có hiệu quả hình thức đối tác công tư. Tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, làm động lực để nâng cao sức cạnh tranh.

Bốn là, chú trọng bảo vệ môi trường, xây dựng văn minh đô thị, tạo dựng thương hiệu địa phương; đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống, bảo vệ sức khoẻ và tính mạng của nhân dân; thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, miền.

Năm là, khai thác hiệu quả hợp tác liên kết vùng giữa các địa phương, khu vực và quốc tế; tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương, chủ động hội nhập và hợp tác quốc tế, kịp thời nắm bắt các cơ hội, nhận diện, dự báo những khó khăn, thách thức. Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo đảm quốc phòng, an ninh; bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, an ninh biên giới trên bộ, trên biển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Sáu là, tập trung thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 19-NQ/TU của Tỉnh uỷ “về đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; thực hiện tinh giản bộ máy, biên chế” nhằm củng cố, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp và chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội, phát huy dân chủ và sức mạnh của khối đại đoàn kết; đẩy mạnh công tác đấu tranh và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí.

ĐẠI HỘI ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LẦN THỨ XIV

Hội Nghị Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ninh Lần Thứ 27 / 2023

QTV – Trong hai ngày, 4 và 5/7, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tổ chức họp hội nghị lần thứ 27 để kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 14, nhiệm kỳ 2015-2020 và cho ý kiến về tình hình công tác 6 tháng đầu năm, nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2018. Đồng chí Nguyễn Văn Đọc, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh chủ trì.

Sau hai năm rưỡi thực hiện Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, tỉnh Quảng Ninh đã đạt kết quả quan trọng và toàn diện trên các lĩnh vực. Công tác xây dựng đảng, chính quyền và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến, tiến bộ; nhất là, đã nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đội ngũ cán bộ từ tỉnh tới cơ sở có nhiều đổi mới về tư duy, tầm nhìn, phong cách, lề lối làm việc; trình độ, năng lực được nâng lên… từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

Nhiều cách làm của tỉnh được nhân rộng trong cả nước, là thực tế để TW ban hành Nghị Quyết 18, 19. Kinh tế Quảng Ninh tiếp tục phát triển toàn diện, quy mô và sức cạnh tranh được nâng lên rõ rệt. Tới nay, có 8 nhóm chỉ tiêu đạt và vượt theo Nghị quyết là thu ngân sách, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, số bác sĩ trên 1 vạn dân, tỷ lệ bảo hiểm y tế, tỷ lệ hộ nghèo, tỷ lệ che phủ rừng, tỷ lệ chất thải rắn, tỷ lệ chất thải y tế được thu gom; ngoài ra còn 4 chỉ tiêu chưa cao cần có giải pháp tích cực hơn

Kế thừa những kết quả của năm 2017 và những năm trước, 6 tháng đầu năm 2018, kinh tế tỉnh phát triển bứt phá, tăng trưởng 10,16%, cao nhất so với cùng kỳ 6 năm gần đây. Thu ngân sách trên 20 nghìn tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ, trong đó thu nội địa đạt 15 nghìn tỷ đồng. Đặc biệt, ngành than sau thời gian khó khăn đang trên đà phục hồi. Khu vực công nghiệp – xây dựng; nông – lâm- thủy sản tăng trưởng ổn định. Khu vực dịch vụ phát triển vượt bậc.

Tại hội nghị, các đại biểu đã tập trung đánh giá, làm rõ những kết quả đã làm được; những khó khăn, tồn tại trong thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ của cả nhiệm kỳ và đề ra giải pháp cụ thể.

Cũng trong sáng nay, Ban Tổ chức Tỉnh ủy đã công bố 02 Quyết định của Ban Bí thưTrung ương Đảng về việc chỉ định Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh khóa 14 nhiệm kỳ 2015-2020. Theo đó, Ban Bí thư Trung ương Đảng có quyết định chỉ định đồng chí Vũ Anh Tuấn, Bí thư Đảng ủy Than Quảng Ninh, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam và đồng chí Bùi Văn Khắng, Cục trưởng Cục Hải quan Quảng Ninh tham gia Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh khóa 14.

Tiếp tục cập nhật… Minh Hiền

Quacontrol Triển Khai Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Than Quảng Ninh, Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tkv / 2023

Ngày 30/6, Đảng bộ Công ty Cổ phần Giám định – Vinacomin (Quacontrol) tổ chức Hội nghị học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Than Quảng Ninh khóa V, nhiệm kỳ 2020 – 2025 và Đại hội Đảng bộ Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) khóa III, nhiệm kỳ 2020-2025.

Hội nghị nhằm mục đích phổ biến, quán triệt những nội dung cơ bản các văn kiện Đại hội Đảng bộ Than Quảng Ninh khóa V, nhiệm kỳ 2020-2025 và Đại hội Đảng bộ TKV khóa III, nhiệm kỳ 2020-2025.

Tham dự hội nghị có các đồng chí UV BCH Đảng ủy và các ban xây dựng Đảng, các đ/c cán bộ chủ chốt Công ty, Bí thư các chi bộ trực thuộc.

Đồng chí Nguyễn Ngọc Sơn – Bí thư Đảng ủy công ty trình bày nội dung cơ bản của Nghị quyết hai Đại hội qua hai chuyên đề.

Nội dung chuyên đề 1: Học tập, nghiên cứu nội dung về đánh giá tình hình và kết quả 5 năm 2015 – 2020; mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp trong 5 năm 2020 – 2025, bao gồm: Báo cáo chính trị, Báo cáo kiểm điểm của BCH Đảng bộ Than Quảng Ninh khóa IV, nhiệm kỳ 2015 – 2020; Nghị quyết và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Than Quảng Ninh lần thứ V, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ là: Phát huy truyền thống “Kỷ luật và Đồng tâm”; đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng bộ Than Quảng Ninh trong sạch, vững mạnh, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam phát triển bền vững, góp phần xây dựng Quảng Ninh là tỉnh dịch vụ, công nghiệp hiện đại và trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2030.

Nội dung chuyên đề 2: Học tập, nghiên cứu nội dung về đánh giá tình hình và kết quả 5 năm 2015 – 2020; mục tiêu nhiệm vụ và giải pháp trong 5 năm 2020 – 2025, bao gồm: Báo cáo chính trị, Báo cáo kiểm điểm của BCH Đảng bộ Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam khóa II, nhiệm kỳ 2015 – 2020; Nghị quyết và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam lần thứ III, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Bước sang nhiệm kỳ mới 2020 – 2025, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ Tập đoàn TKV là lãnh đạo Tập đoàn các Công ty TKV hoàn thành nhiệm vụ chính trị hằng năm, kế hoạch 5 năm 2021-2025, chiến lược phát triển TKV giai đoạn 2015-2025, tầm nhìn 2030 góp phần đảm bảo an ninh quốc phòng, an ninh năng lượng quốc gia và hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước; đảm bảo đủ việc làm và thu nhập của NLĐ, phấn đấu hoàn thành tốt mục tiêu: “An toàn – Phát triển – Hiệu quả”.

Một số chỉ tiêu phấn đấu cụ thể trong nhiệm kỳ như sau: Tổng doanh thu đạt 760 ngàn tỷ đồng (tăng 25% so với thực hiện giai đoạn 2015-2020, bình quân tăng 5%/năm); lợi nhuận 17,5 ngàn tỷ đồng, bình quân 3,5 ngàn tỷ đồng/năm; nộp ngân sách tăng 5%/năm; đảm bảo đủ việc làm cho người lao động, thu nhập bình quân tăng 5-7%/năm; chăm lo, thực hiện tốt các chế độ chính sách, phúc lợi và nhà ở cho người lao động.

Theo kế hoạch của Đảng bộ công ty, các Chi bộ trực thuộc tổ chức cho 100% cán bộ, đảng viên học tập, quán triệt và viết bài thu hoạch gắn với kế hoạch triển khai thực hiện của cá nhân trong tháng 7 năm 2020. Đảng ủy công ty giao nhiệm vụ cho các đồng chí Bí thư Chi bộ phổ biến, quán triệt, triển khai thực hiện nội dung của hai Nghị quyết trên tại chi bộ.

Việc tổ chức nghiên cứu, học tập, quán triệt các chuyên đề Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Than Quảng Ninh khóa V, nhiệm kỳ 2020 – 2025 và Đại hội Đảng bộ TKV khóa III, nhiệm kỳ 2020-2025 giúp đội ngũ cán bộ chủ chốt của Công ty và toàn thể đảng viên nắm vững những nội dung cốt lõi của Nghị quyết Đại hội. Qua đó, tạo sự thống nhất ý chí và hành động, nêu cao quyết tâm của cả hệ thống chính trị, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện tốt chương trình hành động thực hiện Nghị quyết của Đảng bộ Công ty và mỗi chi bộ Đảng, nhằm đưa Nghị quyết đi vào thực tiễn, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp./.

Quyết Tâm Hoàn Thành Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Quảng Ninh Lần Thứ Xiii / 2023

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII triển khai thực hiện trong bối cảnh tình hình chính trị, kinh tế thế giới còn diễn biến phức tạp. Trong nước, kinh tế vĩ mô bộc lộ nhiều bất ổn, khó khăn… Song, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo và quan tâm đầu tư của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền, quân và nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã phát huy truyền thống đoàn kết, chủ động, phấn đấu vượt qua khó khăn, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XIII đạt được những kết quả rất quan trọng.

Cụ thể, nền kinh tế của tỉnh tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá. Nếu như năm 2011, GDP tăng 11,7%; năm 2012 tăng 7,4%; 9 tháng đầu năm 2013, tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng 7,1%, ước tốc độ tăng trưởng bình quân 3 năm tăng 8,53%/năm (Chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XIII đề ra tăng trên 13%/năm). GDP giá hiện hành đến năm 2013 ước đạt trên 73.400 tỷ đồng; GDP bình quân đầu người ước đạt 2.910 USD/người, tăng 56,3% so với năm 2010.

Quảng Ninh quyết tâm phấn đấu trở thành trung tâm nhiệt điện lớn của cả nước. (Trong ảnh: Trung tâm điều hành Nhà máy nhiệt điện Mạo Khê, Đông Triều)

Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực và đúng hướng. Trong đó dịch vụ tăng từ 34,9% đến 39,8%. Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân ước đạt 12,37%/năm, cao hơn gấp 2,79 lần nửa nhiệm kỳ trước. Nếu như tổng thu ngân sách giai đoạn 2006-2008 đạt trên 32.400 tỷ đồng thì giai đoạn 2011-2013 ước đạt 90.607 tỷ đồng.

Bám sát mục tiêu thực hiện 3 khâu đột phá chiến lược gắn với tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, Quảng Ninh đã tập trung chỉ đạo thực hiện có kết quả các nhiệm vụ trọng tâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo cơ sở, nền tảng và động lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững những năm tiếp theo, bước đầu đã đạt được một số kết quả quan trọng. Công tác tổ chức lập Quy hoạch được đổi mới căn bản cả về nhận thức và cách làm theo hướng coi trọng chất lượng, các cấp, các ngành cùng tham gia thực hiện, khắc phục tình trạng khoán trắng.

Bên cạnh đó, các ngành, đơn vị, địa phương đã chủ động xây dựng và đề xuất mô hình phát triển mới cho vùng động lực và các cơ chế, chính sách đặc thù tạo nguồn lực và tiền đề phát triển lâu dài. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nhất là đầu tư nước ngoài tăng mạnh. Quảng Ninh đã làm việc với một số nhà đầu tư chiến lược triển khai nhiều dự án quan trọng, cho thấy môi trường đầu tư kinh doanh của tỉnh được cải thiện và hấp dẫn hơn, niềm tin của các nhà đầu tư tăng lên.

Công trình Bệnh viện Sản Nhi tỉnh đang gấp rút hoàn thành.

Mặc dù kinh tế khó khăn, song công tác đảm bảo an sinh xã hội được tỉnh đặc biệt quan tâm, tổng chi cho an sinh xã hội nửa nhiệm kỳ qua đạt gần 3.000 tỷ đồng, tăng 640% so với giai đoạn 2006-2008. Bình quân giải quyết việc làm cho 2,69 vạn lao động/năm và góp phần giảm 1,72% tỷ lệ hộ nghèo/năm.

Hơn nửa nhiệm kỳ qua, Quảng Ninh kêu gọi nhiều doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào tỉnh. (Trong ảnh: Nhà máy sản xuất sợi của Texhong)

Việc phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất có nhiều tiến bộ; công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính và triển khai xây dựng chính quyền điện tử gắn với các trung tâm hành chính công được quan tâm tập trung nguồn lực để triển khai thực hiện. Công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí tiếp tục được đẩy mạnh. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị – xã hội ổn định. Trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác đối ngoại, hoạt động xúc tiến đầu tư đạt kết quả nổi bật…

Những kết quả đạt được nêu trên đã tạo thêm thế và lực mới thúc đẩy Quảng Ninh phát triển. Quá trình thực hiện Nghị quyết đã tác động tích cực, làm xuất hiện một số năng lực, khả năng mới để đạt được mục tiêu phát triển nhanh, bền vững hơn trong giai đoạn tới.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn một số hạn chế, yếu kém. Một số chỉ tiêu kinh tế đạt thấp so với mục tiêu đề ra cho cả nhiệm kỳ. Việc phát triển kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và vị trí, vai trò là cực tăng trưởng trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc; sự tác động, lan toả cho phát triển trong Vùng còn hạn chế; chưa rõ vị trí trọng tâm về kinh tế biển và vai trò là một trong những trung tâm khai thác về du lịch, cảng biển, thuỷ sản, thương mại của Vùng kinh tế phía Bắc. Mô hình tăng trưởng chưa bền vững; tốc độ tăng trưởng kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu đòi hỏi; chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã có bước tích cực nhưng biểu hiện thiếu tính vững chắc; chưa phát huy tốt các yếu tố lợi thế và nội lực; hiệu quả sức cạnh tranh của nhiều ngành, lĩnh vực kinh tế, kể cả những ngành truyền thống vốn có nhiều thế mạnh. Công tác quản lý, phân bổ nguồn lực đầu tư phát triển đã được tỉnh đặc biệt coi trọng, tập trung cao cho việc phát triển các ngành, lĩnh vực có lợi thế, song đến nay vẫn còn dàn trải, phân tán do nhiều dự án công trình tồn đọng hoàn thành chưa quyết toán và một số công trình chuyển tiếp sắp hoàn thành nhưng thiếu vốn. Hạ tầng kỹ thuật (điện, nước, giao thông…) còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nên chưa hấp dẫn các nhà đầu tư, chưa đủ sức cạnh tranh trong khu vực. Nguồn nhân lực thiếu về số lượng, hạn chế về chất lượng, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao. Chính sách thu hút nguồn nhân lực chưa đủ mạnh.

Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII, Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015, từ nay đến cuối nhiệm kỳ, Quảng Ninh sẽ tập trung thực hiện đồng bộ các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp nghị quyết đã đề ra. Trong đó, tiếp tục hoàn thành các quy hoạch quan trọng tạo tiền đề cho việc xây dựng định hướng phát triển và thu hút nguồn lực đầu tư; đẩy mạnh cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính, hoàn thành việc đầu tư hạ tầng cơ sở phục vụ triển khai xây dựng chính quyền điện tử và các trung tâm hành chính công đi vào hoạt động; phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao; tập trung xây dựng và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông huyết mạch và một số công trình động lực, tạo sức lan tỏa nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 13/NQ-TW Hội nghị Trung ương 4 khóa XI; ứng dụng, chuyển giao và làm chủ khoa học công nghệ, nghiên cứu phát triển khoa học công nghệ…

Quảng Ninh xây dựng thương hiệu – Mỗi xã, phường một sản phẩm

Cùng với đó, Quảng Ninh tiếp tục thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh về công tác bảo đảm an ninh trật tự, chủ động nắm chắc tình hình, tấn công, trấn áp tội phạm, xóa các tụ điểm phức tạp về tệ nạn xã hội; tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông; nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, tăng cường giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân theo thẩm quyền.

Ngoài ra, tỉnh tiếp tục quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Trung ương, của tỉnh, trọng tâm là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”.

Có thể khẳng định, với những giải pháp phù hợp cùng tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt khó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh quyết tâm khắc phục khó khăn, phát huy lợi thế và kết quả đạt được, Quảng Ninh quyết tâm phấn đấu hoàn thành toàn diện các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội XIII Đảng bộ tỉnh đề ra./.