Nghị Quyết Bộ Chính Trị Tháng 9 Năm 1954

--- Bài mới hơn ---

  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Đường Lối Trong Giai Đoạn 1954
  • Đường Lối Kháng Chiến Toàn Quốc
  • Định Hướng Chiến Lược Cách Mạng Miền Nam Sau Năm 1954
  • Đáp Án Vcnet Tuần 16 Tìm Hiểu 90 Năm Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo 2022
  • Nghị Quyết Bộ Chính Trị Tháng 9 Năm 1954, Nghị Quyết 9/1954, Em Hãy Phân Tích ý Nghĩa Lịch Sử Của Chiến Thắng Điện Biên Phủ Năm 1954, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Tháng 2 Năm 2022, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 10, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 3, Nghị Quyết Số 68/nq-cp Ngày 12 Tháng 5 Năm 2022 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 8, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 11, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Tháng 1/2020, Nghị Quyết Số 73/nq-cp Ngày 26 Tháng 8 Năm 2022 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Tháng 10/2019, Nghị Quyết Số 08 Của Bộ Chính Trị Ngày 17 Tháng 12 Năm 1998, Nghị Quyết Số 89/nq-cp Của Chính Phủ Ngày 10 Tháng 10 Năm 2022, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 11-2019, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 22 Tháng 9 Năm 2008 Của Bộ Chính Trị (khóa X), Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 12/2019, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 1/2017, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 2/2017, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 2/2020, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 02/2020, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 3/2017, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 3/2020, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 8/2019, Nghị Quyết Số 35-nq/tw Ngày 22 Tháng 10 Năm 2022 Của Bộ Chính Trị Khóa Xii, Nghị Quyết Số 08 Của Bộ Chính Trị Ngày 17 Tháng 12 Năm 1998 Năm 2022, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 4/2020, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 22 Tháng 9 Năm 2008 Của Bộ Chính Trị (khóa X) Về Tiếp Tục Xây Dựng Tỉnh,, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 22 Tháng 9 Năm 2008 Của Bộ Chính Trị (khóa X) Về Tiếp Tục Xây Dựng Tỉnh,, Ta Quyết Định Tấn Công Tập Đoàn Cứ Điểm Điện Biên Phủ 1954 Nhằm Mục Đíc, A Quyết Định Tấn Công Tập Đoàn Cứ Điểm Điện Biên Phủ (1954) Nhằm Mục Đí, Tìm Nghi Quyết Hàng Tháng Chi Bộ Nông Thôn Tháng 5, Mẫu Nghị Quyết Chi Bộ Tháng, Quyết Toán Thu Chi Tài Chính CĐcs 6 Tháng Cuối Năm, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 6/2017, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 7, Mẫu Đự Thảo Nghi Quyêt Chi Bộ Thang, Quyết Định Nghỉ Học Hết Tháng 3, Quyết Định Nghỉ Hết Tháng 3, Nghị Quyết Số 13 Tháng 5-1988, Nghị Quyết Chỉ Bộ Hàng Tháng Về Ma Túy, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 3, Nghị Quyết Số 13 Tháng 5 Năm 1988, Nghị Quyết 6 Tháng Cuối Năm, Quyết Định Nghỉ Học Tháng 3, Dự Thảo Nghi Quyết Thang, Nghị Quyết Chi Bộ Hàng Tháng, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 3/2017, Có Quyết Định Nghỉ Hết Tháng 3, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 3/2020, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 8/2017, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 1/2020, Nghị Quyết 19 Ngày 28 Tháng 3, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 4/2020, Quyết Định 790/qĐ-btc Ngày 30 Tháng 3 Năm 2012 Của Bộ Trưởng Bộ Tài Chính, Quyết Định Số 438/qĐ-tct, Ngày 21 Tháng 3 Năm 2022 Của Tổng Cục Chính Trị, Tải Quyết Định Số 438 Ngày 21 Tháng 3 Năm 2022 Của Tổng Cục Chính Trị, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Về Thực Hiện Chế Độ Chính Uỷ Chính Trị Viên, Nghị Quyết Sở 35 Nq Tw Ngày 22 Tháng 10 Nam 2022, “nghị Quyết Sở 35 Nq Tw Ngày 22 Tháng 10 Nam 2022”, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 4/2019, Nghị Quyết 36-nq/tw Ngày 1 Tháng 7 Năm 2014 , Nghị Quyết Số 18 Ngày 25 Tháng 7 Năm 2011, Nghị Quyết Số 28 Ngày 22 Tháng 9 Năm 2008, Nghị Quyết Ngày 29 Tháng 6 Năm 1951, Nghi Quyet 51 Ngay 20 Thang 7 Nam 2005, Mẫu Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Hàng Tháng, Quyết Định Cho Học Sinh Nghỉ Học Hết Tháng 3, Dự Thảo Nghi Quyet Chi Bo Thang 3 Nam 2022, Có Quyết Định Cho Học Sinh Nghỉ Hết Tháng 3, Nghị Quyết Số 29 Ngày 4 Tháng 11 Năm 2013, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 23 Tháng 5 Năm 2022, Quyết Định Học Sinh Nghỉ Hết Tháng 3, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 22 Tháng 9 Năm 2008, Nghị Quyết 35-nq/tw Ngày 22 Tháng 10 Năm 2022, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 4/2018, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 3/2019, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 1 Năm 2022, Nghị Quyết 28 Ngày 25 Tháng 10 Năm 2013, Nghị Quyết 84/nq-cp Ngày 10 Tháng 12 Năm 2022, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 5/2019, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 6/2019, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 9/2019, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 01/2020, Nghị Quyết Số 28 Ngày 25 Tháng 10 Năm 2013, Nghị Quyết Phiên Họp Thường Kỳ Tháng 3, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Hàng Tháng, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 11/2019, Quyết Định Số 438/qĐ-ct Ngày 21 Tháng 3 Năm 2022 Của Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị, Quy Trình Viết Nghị Quyết Của Chi Bộ Hàng Tháng, Toàn Văn Nghị Quyết Sở 35 Nq Tw Ngày 22 Tháng 10 Nam 2022, Mẫu Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 5/2020 Của Chi Bộ Nông Thôn, Nghi Quyet 51 Cua Bo Chinh Tri Ve Che Do Mot Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết Số 20 Ngày 04 Tháng 11 Năm 2022 Của Ban Thường Vụ Tỉnh ủy Phú Thọ, Cách Viết Dự Thảo Nghị Quyết Hàng Tháng Chi Bộ, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2022, Nghị Quyết Số 84/nq-cp20-nq/tu Ngày 04 Tháng 11 Năm 2022 Cả Ban Thường Vụ Tỉnh ủy Phú Thọ, Bản Khai Đề Nghị Tặng Thưởng Huy Chương Quân Kỳ Quyết Thắng, 112/qĐ Ttg Ngày 25 Tháng 1 Năm 2022 Quyết Định Công Nhận Bằng Khen Thủ Tướng Chính Phủ, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu,

    Nghị Quyết Bộ Chính Trị Tháng 9 Năm 1954, Nghị Quyết 9/1954, Em Hãy Phân Tích ý Nghĩa Lịch Sử Của Chiến Thắng Điện Biên Phủ Năm 1954, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Tháng 2 Năm 2022, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 10, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 3, Nghị Quyết Số 68/nq-cp Ngày 12 Tháng 5 Năm 2022 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 8, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 11, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Tháng 1/2020, Nghị Quyết Số 73/nq-cp Ngày 26 Tháng 8 Năm 2022 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Tháng 10/2019, Nghị Quyết Số 08 Của Bộ Chính Trị Ngày 17 Tháng 12 Năm 1998, Nghị Quyết Số 89/nq-cp Của Chính Phủ Ngày 10 Tháng 10 Năm 2022, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 11-2019, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 22 Tháng 9 Năm 2008 Của Bộ Chính Trị (khóa X), Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 12/2019, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 1/2017, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 2/2017, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 2/2020, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 02/2020, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 3/2017, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 3/2020, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 8/2019, Nghị Quyết Số 35-nq/tw Ngày 22 Tháng 10 Năm 2022 Của Bộ Chính Trị Khóa Xii, Nghị Quyết Số 08 Của Bộ Chính Trị Ngày 17 Tháng 12 Năm 1998 Năm 2022, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ Thường Kỳ Tháng 4/2020, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 22 Tháng 9 Năm 2008 Của Bộ Chính Trị (khóa X) Về Tiếp Tục Xây Dựng Tỉnh,, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Ngày 22 Tháng 9 Năm 2008 Của Bộ Chính Trị (khóa X) Về Tiếp Tục Xây Dựng Tỉnh,, Ta Quyết Định Tấn Công Tập Đoàn Cứ Điểm Điện Biên Phủ 1954 Nhằm Mục Đíc, A Quyết Định Tấn Công Tập Đoàn Cứ Điểm Điện Biên Phủ (1954) Nhằm Mục Đí, Tìm Nghi Quyết Hàng Tháng Chi Bộ Nông Thôn Tháng 5, Mẫu Nghị Quyết Chi Bộ Tháng, Quyết Toán Thu Chi Tài Chính CĐcs 6 Tháng Cuối Năm, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 6/2017, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 7, Mẫu Đự Thảo Nghi Quyêt Chi Bộ Thang, Quyết Định Nghỉ Học Hết Tháng 3, Quyết Định Nghỉ Hết Tháng 3, Nghị Quyết Số 13 Tháng 5-1988, Nghị Quyết Chỉ Bộ Hàng Tháng Về Ma Túy, Dự Thảo Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 3, Nghị Quyết Số 13 Tháng 5 Năm 1988, Nghị Quyết 6 Tháng Cuối Năm, Quyết Định Nghỉ Học Tháng 3, Dự Thảo Nghi Quyết Thang, Nghị Quyết Chi Bộ Hàng Tháng, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 3/2017, Có Quyết Định Nghỉ Hết Tháng 3, Nghị Quyết Chi Bộ Tháng 3/2020,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Công Văn 98/2003/khxx Của Toà Án Nhân Dân Tối Cao Về Việc Giải Quyết Bồi Thường Thiệt Hại Theo Nghị Quyết 388/2003/nq
  • Công Văn 98/2003/khxx Của Toà Án Nhân Dân Tối Cao Ban Hành Ngày 05/08/2003
  • Hướng Dẫn Về Bồi Thường Thiệt Hại Tai Nạn Giao Thông ?
  • Những Điểm Mới Về Bồi Thường Thiệt Hại Ngoài Hợp Đồng
  • Quy Định Về Bồi Thường Thiệt Hại Ngoài Hợp Đồng ?
  • Đường Lối Cách Mạng Việt Nam Trong Giai Đoạn Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Đường Lối Cmvn
  • Bộ Chính Trị Lần Đầu Ban Hành Nghị Quyết Về Phát Triển Thanh Hóa
  • Bộ Chính Trị Chỉ Đạo Xây Dựng Nghị Quyết Phát Triển Thanh Hóa Đến 2030, Tầm Nhìn 2045
  • Bộ Chính Trị Sẽ Có Nghị Quyết Riêng Phát Triển Thanh Hóa
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Tinh Giản Biên Chế
  • Đặc điểm nước ta sau tháng 7 – 1954

    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ do Đảng lãnh đạo đã giành được thắng lợi, song sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước vẫn chưa hoàn thành. Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, song miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị của thực dân và tay sai. Đất nước tạm thời bị chia làm hai miền.

    Ở miền Bắc, mặc dù thực dân Pháp rất ngoan cố, nhưng do tinh thần đấu tranh kiên quyết của nhân dân ta, nên đến ngày 10-10-1954 tên lính Pháp cuối cùng đã rút khỏi Hà Nội và ngày 16-5-1955, toàn bộ quân đội viễn chinh Pháp đã phải rút khỏi miền Bắc. Ngay sau khi hòa bình lập lại, nhân dân miền Bắc khẩn trương khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ nhằm tạo tiền đề đưa miền Bắc từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

    Ở miền Nam, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào để thay chân Pháp nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

    Để thực hiện âm mưu nói trên, trước khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, ngày 7-7-1954, Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn làm Thủ tướng Chính phủ bù nhìn thay Bửu Lộc. Ngày 17-7-1955, theo chỉ đạo của Mỹ, Diệm tuyên bố không hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước và ngày 23-10-1955 đã tổ chức cái gọi là “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại, đưa Ngô Đình Diệm lên làm Tổng thống.

    Sau khi dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm, Mỹ – Diệm đã liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét để bình định miền Nam, áp đặt chế độ thực dân kiểu mới, chia cắt lâu dài đất nước ta. Thực chất, đây là một cuộc chiến tranh đơn phương đẫm máu chống lại nhân dân miền Nam trong tay không có vũ khí. Với chính sách “tố cộng”, “diệt cộng”, loại cộng sản ra ngoài vòng pháp luật để trừng trị, và với khẩu hiệu “thà giết nhầm hơn bỏ sót”, chúng thẳng tay đàn áp tất cả các lực lượng chống đối. Chỉ tính đến cuối năm 1955, hàng chục vạn cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng đã bị bắt và bị giết hại.

    Đứng trước những biến đổi phức tạp nêu trên, lịch sử lại đặt cho Đảng ta một yêu cầu bức thiết là phải vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên phù hợp với tình hình mới của đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại.

    Xuất phát từ việc nhận thức sâu sắc tình hình thế giới và đặc điểm cơ bản của tình hình đất nước sau tháng 7-1954, trải nhiều hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, chủ trương chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của Đảng đã từng bước hình thành.

    Chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960)

    Chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội

    Sau khi hòa bình được lập lại, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng. Tuy nhiên, miền Bắc bước vào khôi phục kinh tế trong điều kiện có nhiều khó khăn. 143.000 ha ruộng đất bị bỏ hoang, hàng trăm ngàn gia đình không có nhà ở, hàng chục vạn người không có việc làm, nhiều tệ nạn do xã hội cũ để lại còn hoành hành, phần lớn xí nghiệp ngừng hoạt động, hàng hoá khan hiếm. Nhiệm vụ trước mắt là tiếp quản những vùng giải phóng theo quy định của Hiệp định Giơnevơ. Việc tiếp quản đó bước đầu thuận lợi, nhân dân ta đã làm chủ hoàn toàn Thủ đô từ ngày 10-10-1954. Hướng đấu tranh chủ yếu của nhân dân miền Bắc thời kỳ này là chống âm mưu của địch dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam. Trong hoạt động này, do chậm phát hiện và chưa thấy hết âm mưu thâm độc của Mỹ – Pháp, nên gần một triệu người miền Bắc đã bị cưỡng ép di cư vào Nam.

    Xuất phát từ tình hình trên, Đảng chủ trương đưa miền Bắc quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa của Đảng từng bước được hình thành và phát triển.

    Tháng 9-1954, Bộ Chính trị đã đề ra nhiệm vụ chủ yếu trước mắt của miền Bắc là hàn gắn vết thương chiến tranh, phục hồi kinh tế quốc dân, trước hết là phục hồi và phát triển sản xuất nông nghiệp, ổn định xã hội, ổn định đời sống nhân dân, tăng cường và mở rộng hoạt động quan hệ quốc tế… để sớm đưa miền Bắc trở lại bình thường sau chín năm chiến tranh.

    Hội nghị lần thứ bảy tháng 3-1955 và lần thứ tám tháng 8-1955 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) đã nhận định: Mỹ và tay sai đã hất cẳng Pháp ở miền Nam, công khai lập nhà nước riêng chống phá Hiệp định Giơnevơ, đàn áp phong trào cách mạng. Muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sứccủng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.

    Để củng cố miền Bắc, Ban Chấp hành Trung ương Đảng chỉ rõ, trước hết cần hoàn thành cải cách ruộng đất, chia ruộng đất cho nông dân, xóa bỏ chế độ sở hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ; đưa miền Bắc tiến dần từng bước lên chủ nghĩa xã hội; kiện toàn lãnh đạo các cấp và củng cố Mặt trận Dân tộc thống nhất.

    Hội nghị đề ra kế hoạch 3 năm (1955-1957) với những mục tiêu cụ thể:

    – Khôi phục kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh, trên cơ sở đó phát triển sản xuất, nhằm giảm bớt khó khăn cho nhân dân. Phấn đấu phục hồi mức sản xuất năm 1939 – năm có mức sản xuất cao nhất ở Việt Nam thời Pháp thuộc.

    – Chủ trương khôi phục nông nghiệp là trọng tâm. Ban hành nhiều chính sách khuyến nông.

    – Đề ra chính sách khôi phục tiểu thủ công nghiệp và công thương nghiệp. Ban hành nhiều chính sách bảo hộ cho các xí nghiệp công, tư thương nghiệp được phát triển sản xuất để phục vụ dân sinh; không vội vàng thủ tiêu những công thương nghiệp tư nhân, nếu thấy có lợi cho nền kinh tế. Coi trọng thành phần kinh tế quốc doanh, tạo điều kiện cho thành phần này dần dần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.

    Tháng 12-1957, Hội nghị lần thứ mười ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đánh giá thắng lợi về khôi phục kinh tế và đề ra nhiệm vụ soạn thảo đường lối cách mạng trong giai đoạn mới. Đến tháng 11-1958, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ mười bốn đề ra kế hoạch ba năm phát triển kinh tế – văn hóa và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với kinh tế cá thể và kinh tế tư bản tư doanh (1958-1960).

    Hội nghị xác định cải tạo kinh tế cá thể của nông dân, thợ thủ công và buôn bán nhỏ, tư bản tư doanh, chuyển sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất thành sở hữu tập thể xã hội chủ nghĩa dưới hai hình thức toàn dân và tập thể. Lấy cải tạo làm trọng tâm nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, cải thiện đời sống nhân dân, củng cố chế độ dân chủ nhân dân. Xây dựng, củng cố miền Bắc thành cơ sở vững mạnh cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà.

    Tháng 4-1959, Hội nghị lần thứ mười sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) thông qua hai nghị quyết quan trọng: Nghị quyết về vấn đề hợp tác hóa nông nghiệp và Nghị quyết về vấn đề cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh.

    Về hợp tác hóa nông nghiệp, Hội nghị xác định hình thức và bước đi của hợp tác xã là: hợp tác hóa đi trước cơ giới hóa, do vậy hợp tác hóa phải đi đôi với thủy lợi hóa và tổ chức lại lao động, để phát huy tính ưu việt và sức mạnh của tập thể. Hội nghị chỉ rõ ba nguyên tắc cần được quán triệt trong suốt quá trình xây dựng hợp tác xã là: tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ.

    Về cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh, Hội nghị chủ trương cải tạo hòa bình đối với giai cấp tư sản. Về chính trị, vẫn coi giai cấp tư sản là thành viên của Mặt trận Tổ quốc, về kinh tế không tịch thu tư liệu sản xuất của họ, mà dùng chính sách chuộc lại, thông qua hình thức công tư hợp doanh, sắp xếp công việc cho người tư sản trong xí nghiệp, dần dần cải tạo họ thành người lao động.

    Chủ trương đưa miền Bắc lên chủ nghĩa xã hội đã tạo nên những chuyển biến cách mạng trong nền kinh tế và xã hội ở miền Bắc nước ta. Miền Bắc được củng cố, từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội, trở thành hậu phương ổn định, vững mạnh đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

    Chủ trương tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam

    Nắm vững âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương, nên ngay trước ngày ký Hiệp định Giơnevơ, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) từ ngày 15 đến ngày 17-7-1954, đã chỉ rõ: “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ”.

    Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào và cán bộ chiến sĩ cả nước: “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng” 2.

    Về cách mạng miền Nam, Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1954 nêu rõ: Đế quốc Mỹ và tay sai đang mưu tính, phá hoại Hiệp định Giơnevơ nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam. Cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam phải chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị. Nhiệm vụ của Đảng ở miền Nam trong giai đoạn mới là: ” lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến, củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ,… cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độc lập. Đồng thời phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống những hành động khủng bố, đàn áp, phá cơ sở của ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách mạng, chống nhữnghành động tiến công của địch, ngụy, giữ lấy quyền lợi quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến, nhất là ở những vùng căn cứ địa và vùng du kích cũ của ta“.

    Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về tình hình và công tác của các đảng bộ miền Nam, tháng 10-1954, Xứ ủy Nam Bộ được thành lập, do Lê Duẩn, ủy viên Bộ Chính trị làm Bí thư.

    Bản Đường lối vạch rõ ngày 20-7-1956 đã không có tổng tuyển cử như Hiệp định Giơnevơ quy định. Chế độ thống trị của Mỹ, Diệm ở miền Nam lúc bấy giờ là một chế độ độc tài, phátxít, hiếu chiến. Để chống Mỹ-Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và tự cứu mình là con đường cách mạng. Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác.

    Mục đích của cách mạng miền Nam là phải đánh đổ chính quyền độc tài phátxít Mỹ – Diệm, thực hiện một chính quyền liên hiệp dân chủ có tính chất dân tộc, độc lập, để giải phóng nhân dân miền Nam ra khỏi ách đế quốc phong kiến độc tài phátxít Mỹ – Diệm để cùng với toàn quốc thực hiện hòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc 2.

    Đường lối cách mạng miền Nam là một trong những văn kiện quan trọng, góp phần vào sự hình thành đường lối cách mạng Việt Nam ở miền Nam của Đảng.

    Tháng 12-1957, tại Hội nghị lần thứ mười ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, nước ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm.

    Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ mười lăm. Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam; Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là con đường lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam.

    Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ, đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến cho nên cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang lâu dài và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta.

    Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ cần tăng cường công tác Mặt trận để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; củng cố, xây dựng Đảng bộ miền Nam thật vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để đủ sức lãnh đạo trực tiếp cách mạng miền Nam.

    Nghị quyết Hội nghị lần thứ mười lăm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã đáp ứng đúng nhu cầu của lịch sử, mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh cách mạng độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960)

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960. Tới dự có 525 đại biểu chính thức và 51 đại biểu dự khuyết, thay mặt hơn 50 vạn đảng viên trong cả nước. Gần 20 đoàn đại biểu quốc tế đến dự Đại hội.

    Trong diễn văn khai mạc Đại hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhà”.

    Về đường lối chiến lược cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:

    Trên cơ sở phân tích tình hình và đặc điểm nước ta, Đại hội xác định nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới:

    Một là, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc.

    Hai là, tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước.

    Cách mạng ở miền Bắc và cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, song trước mắt đều hướng vào mục tiêu chung là giải phóng miền Nam, hòa bình, thống nhất đất nước.

    Đại hội còn xác định vị trí, vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng chiến lược cách mạng ở mỗi miền. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

    Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà là nhiệm vụ thiêng liêng của nhân dân cả nước ta. Đó là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam. Đại hội chủ trương kiên quyết giữ vững đường lối hòa bình để thống nhất nước nhà, vì chủ trương phù hợp với nguyện vọng và lợi ích của nhân dân cả nước ta cũng như của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới. Song ta phải luôn luôn đề cao cảnh giác, chuẩn bị sẵn sàng đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng lên đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc. Lịch sử đã chứng minh rằng, đường lối trên phản ánh đúng quy luật vận động của cách mạng ở từng miền và chung của cả nước trong giai đoạn 1954-1975. Nó thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ của Đảng ta trong việc tìm ra một đường lối phù hợp với hoàn cảnh mới. Như vậy, một Đảng thống nhất lãnh đạo một đất nước tạm thời bị chia cắt, tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng khác nhau ở hai miền là nét độc đáo và đặc điểm lớn nhất của cách mạng nước ta.

    Về đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc

    Xuất phát từ đặc điểm của miền Bắc, trong đó, đặc điểm lớn nhất là từ một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, Đại hội xác định rằng, cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là một quá trình cải biến cách mạng về mọi mặt. Đó là quá trình đấu tranh gay go giữa hai con đường, con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật nhằm đưa miền Bắc từ một nền kinh tế chủ yếu dựa trên sở hữu cá thể về tư liệu sản xuất tiến lên nền kinh tế xã hội chủ nghĩa dựa trên sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, từ nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội về kinh tế được xem là hai mặt của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về quan hệ sản xuất, hai mặt này có quan hệ mật thiết, tác động qua lại và thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển.

    Công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa được xem là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ ở nước ta nhằm xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

    Cùng với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa về kinh tế, phải tiến hành cuộc cách mạng tư tưởng và văn hóa, nhằm thay đổi cơ bản đời sống tư tưởng, tinh thần và văn hóa của toàn xã hội phù hợp với chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa.

    Để thực hiện mục tiêu nói trên, phải sử dụng chính quyền dân chủ nhân dân làm nhiệm vụ lịch sử của chuyên chính vô sản để thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp nhỏ và công thương nghiệp tư bản tư doanh; phát triển thành phần kinh tế quốc doanh; thực hiện công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa bằng cách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, đồng thời ra sức phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ; đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa về tư tưởng, văn hóa và kỹ thuật, biến nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa học tiên tiến.

    Thành công của Đại hội là cơ sở cho toàn Đảng, toàn dân đoàn kết chặt chẽ thành một khối, là nguồn sức mạnh cho chúng ta sáng tạo, chúng ta xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đáp Án Vcnet Tuần 16 Tìm Hiểu 90 Năm Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo 2022
  • Định Hướng Chiến Lược Cách Mạng Miền Nam Sau Năm 1954
  • Đường Lối Kháng Chiến Toàn Quốc
  • Đường Lối Trong Giai Đoạn 1954
  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Đảng Cộng Sản Việt Nam Ra Đời Là Bước Ngoặt To Lớn Trong Lịch Sử Cách Mạng Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ Của Đảng Cộng Sản Việt Nam Bao Gồm Những Nội Dung Cơ Bản Gì?
  • Các Cương Lĩnh Của Đảng Cộng Sản Việt Nam
  • Văn Bản Nào Sau Đây Không Phải Là Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật?
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 5).
  • Công Văn Của Bộ Xây Dựng Không Phải Là Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và từng bước thiết lập bộ máy thống trị, biến nước ta từ một quốc gia phong kiến thành “Một xứ thuộc địa, dân ta là vong quốc nô, Tổ quốc ta bị giày xéo dưới gót sắt của kẻ thù hung ác”. Chính sách thống trị của thực dân Pháp đã làm cho xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi. Về chính trị, thực dân Pháp thi hành chính sách cai trị thực dân, tước bỏ quyền lực đối nội, đối ngoại của chính quyền phong kiến nhà Nguyễn, đó là một chính sách chuyên chế điển hình, chúng đàn áp đẫm máu các phong trào và hành động yêu nước của người Việt Nam, mọi quyền tự do bị cấm. Chúng chia rẽ ba nước Đông Dương, chia Việt Nam thành ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ) và thực hiện ở mỗi kỳ một chế độ cai trị riêng. Về kinh tế, thực dân Pháp cấu kết với giai cấp địa chủ để thực hiện chính sách bóc lột tàn bạo, cướp đoạt ruộng đất để lập đồn điền; ra sức vơ vét tài nguyên, cùng nhiều hình thức thuế khóa nặng nề, vô lý; xây dựng một số cơ sở công nghiệp, hệ thống đường giao thông, bến cảng phục vụ chính sách khai thác thuộc địa. V ề văn hóa, thực dân Pháp tiến hành chính sách ngu dân, chúng bưng bít, ngăn cản ảnh hưởng của văn hóa tiến bộ trên thế giới, khuyến khích văn hóa độc hại, xuyên tạc lịch sử, giá trị văn hóa Việt Nam và dung túng, duy trì các hủ tục lạc hậu.

    Sự phân hóa giai cấp và mâu thuẫn xã hội diễn ra ngày càng gay gắt. Phần lớn giai cấp địa chủ cấu kết với thực dân Pháp ra sức bóc lột nông dân; một bộ phận địa chủ có lòng yêu nước, đã tham gia đấu tranh chống Pháp dưới các hình thức và mức độ khác nhau. Các giai cấp, tầng lớp khác trong xã hội Việt Nam đều mang thân phận người dân mất nước và đều bị thực dân áp bức, bóc lột, chèn ép nên đều căm phẫn thực dân Pháp. Do đó, mẫu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam lúc này, không chỉ là mâu thuẫn giữa nhân dân, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ và phong kiến, mà đã nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt giữa toàn thể nhân dân Việt Nam với thực dân Pháp xâm lược.

    Các cuộc khởi nghĩa và phong trào đấu tranh của quần chúng chống thực dân Pháp xâm lược diễn ra mạnh mẽ nhưng đều bị thất bại, xã hội Việt Nam rơi vào khủng hoảng về đường lối cách mạng. Trước sự xâm lược của thực dân Pháp, các cuộc khởi nghĩa và các phong trào đấu tranh của nhân dân ta diễn ra liên tục và mạnh mẽ. Tuy nhiên do thiếu đường lối đúng đắn, thiếu tổ chức và lực lượng cần thiết nên các phong trào đó đã lần lượt thất bại. Phong trào yêu nước theo ý thức hệ phong kiến như phong trào Cần Vương đã chấm dứt với sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1896); phong trào nông dân Yên Thế của Hoàng Hoa Thám kéo dài 30 năm cũng không giành được thắng lợi. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản do các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Lương Văn Can lãnh đạo cũng rơi vào bế tắc. Cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo cũng bị thất bại,… Cách mạng Việt Nam chìm trong cuộc khủng hoảng sâu sắc về đường lối cứu nước.

    Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, nhiều nhà yêu nước đương thời tiếp tục con đường cứu nước theo lối cũ thì ngày 5/6/1911 người thanh niên Nguyễn Tất Thành (tức là Nguyễn Ái Quốc, Hồ Chí Minh sau này) ra đi tìm đường cứu nước theo phương hướng mới. Với khát vọng cháy bỏng giành độc lập tự do cho dân, cho nước, Nguyễn Tất Thành đã bất chấp mọi nguy hiểm, gian khổ, đi qua nhiều nước của châu Âu, châu Phi, châu Mỹ và đã rút ra chân lý: Chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc thực dân là cội nguồn mọi đau khổ của công nhân và nhân dân lao động ở chính quốc cũng như ở các nước thuộc địa.

    Đầu năm 1919, Nguyễn Tất Thành tham gia Đảng Xã hội Pháp. Tháng 6 năm 1919, với tên mới là Nguyễn Ái Quốc, Người thay mặt những người yêu nước Việt Nam gửi đến Hội nghị Véc-xây Bản yêu sách của nhân dân An Nam gồm 8 điểm đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam. Tháng 7/1920, Nguyễn Ái Quốc được đọc bản Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin đăng trên báo Nhân đạo và cũng chính từ đây đã giải đáp cho Người con đường đấu tranh giành độc lập tự do thực sự cho dân tộc, cho đồng bào mình. Từ ngày 25 đến 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội lần thứ 18 Đảng Xã hội Pháp với tư cách đại biểu Đông Dương. Kết thúc Đại hội ngày 30/12/1920, Nguyễn Ái Quốc tán thành thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Pháp, và cũng là người Cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Từ năm 1921-1930, Nguyễn Ái Quốc vừa tiếp tục hoạt động trong Đảng Cộng sản Pháp, nghiên cứu bổ sung và hoàn thiện tư tưởng cứu nước, vừa tích cực truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Người tập trung chuẩn bị về tổ chức và cán bộ, lập ra Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên (1925), tổ chức nhiều lớp đào tạo cán bộ tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng thời gửi cán bộ đi học tại trường Đại học Phương Đông (Liên Xô) và trường Lục quân Hoàng Phố (Trung Quốc). Nhờ hoạt động không mệt mỏi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và nhiều đồng chí cách mạng tiền bối mà đến cuối năm 1929, đầu năm 1930, những điều kiện cho sự ra đời của một Đảng vô sản ở Việt Nam đã chín muồi.

    Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, ngày 17/6/1929, Kỳ Bộ Bắc Kỳ Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên đã thành lập Đông Dương Cộng sản Đảng tại Hà Nội. Tháng 11/1929, các đồng chí Tổng bộ và Kỳ Bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên quyết định thành lập An Nam Cộng sản Đảng. Ngày 1/1/1930, những đại biểu ưu tú của Tân Việt cách mạng Đảng (một tổ chức tiền thân của Đảng) đã họp và thành lập Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn ở Trung Kỳ. Tuy nhiên ở một nước có tới ba tổ chức cộng sản nên không tránh khỏi sự phân tán về lực lượng và tổ chức, không thể thống nhất về tư tưởng và hành động. Trách nhiệm lịch sử là phải thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất, chấm dứt tình trạng chia rẽ phong trào Cộng sản ở Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 29: Chương Trình Địa Phương (Phần Văn)
  • Ôn Tập Văn Học Nước Ngoài Và Văn Bản Nhật Dụng Lớp 8
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Góp Một Cách Dạy Văn Bảng Nhật Dụng Trong Chương Trình Ngữ Văn Bậc Trung Học Cơ Sở
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Một Số Kinh Nghiệm Khi Dạy Văn Bản Nhật Dụng Để Góp Phần Nâng Cao Hiệu Quả Giờ Dạy Văn Bản Nhật Dụng
  • Skkn Dạy Văn Bản Nhật Dụng Trong Chương Trình Ngữ Văn Thcs
  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 24 Bchtw Đảng Khóa Iii Ngày 29 9 1975 Về Nhiệm Vụ Của Cách Mạng Việt Nam Trong Giai Đoạn Mới

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Các Nghị Quyết Của Bch Trung Ương Đảng, Đoàn Và Các Bài Học Lý Luận Chính Trị Sửa Đổi Năm 2022
  • Tỉnh Đoàn Tổ Chức Triển Khai Học Tập, Quán Triệt Các Nghị Quyết Của Bch Trung Ương Đảng Khóa Xii Và Các Kết Luận Của Ban Chấp Hành, Ban Thường Vụ Trung Ương Đoàn Khóa Xi.
  • Hđnd Xã Phước Thành Ban Hành Nghị Quyết Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn
  • Nâng Cao Chất Lượng Hoạt Động Ban Hành Nghị Quyết Của Hđnd Cấp Xã
  • Ông Nguyễn Trường Tô Bị Bãi Nhiệm Chức Chủ Tịch Tỉnh Hà Giang
  • “…Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội”.

    Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mặt khăng khít của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. “Một mặt, cần phải đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm cải tạo những quan hệ sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong đó mấu chốt là cải biến chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa để giải phóng sức sản xuất, mở đường cho sức sản xuất phát triển. Mặt khác, cần đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển sức sản xuất đã được giải phóng, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ tình trạng lạc hậu, cải biến nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, không ngừng phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới” 1.

    Vận dụng đường lối chung của Đại hội lần thứ III của Đảng vào tình hình thực tế hiện nay. Trung ương đề ra nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước là: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học – kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học – kỹ thuật là then chốt), đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng nền kinh tế sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội; kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng, kịp thời đập tan mọi mưu mô ngóc đầu dậy của chúng; sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, hành động xâm lược và phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai; đoàn kết toàn dân phấn đấu xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, quốc phòng vững mạnh, văn hoá khoa học tiên tiến, có cuộc sống văn minh và hạnh phúc.

    Đó cũng là nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp gay go và phức tạp nhằm giải quyết vấn đề “ai thắng ai” giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cuộc đấu tranh đó được tiến hành bằng nhiều hình thức: cải tạo và xây dựng, chính trị và kinh tế, thuyết phục và cưỡng bức, hoà bình và bạo lực. Nó đòi hỏi toàn thể cán bộ, đảng viên ta phải có quyết tâm mới, có năng lực mới, có kiến thức cần thiết và phương pháp công tác đúng đắn trên mọi lĩnh vực, có tinh thần cách mạng tiến công, kiên trì phấn đấu cho sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải vươn lên mạnh mẽ, ra sức lao động sản xuất và tiến quân vào khoa học, kỹ thuật với khí thế cách mạng và tinh thần hăng hái như khi đánh giặc, cứu nước.

    Phải nắm vững nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đưa nền kinh tế nước ta tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

    Đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp đúng đắn công nghiệp và nông nghiệp; xây dựng kinh tế trung ương, đồng thời phát triển kinh tế địa phương; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tranh thủ mở rộng quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền và có lợi cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; phấn đấu để trong vòng 15 – 20 năm hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta”.

    1. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng.

    Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, tập 36, tr. 375.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Nào Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khóa Iii)
  • Nghị Quyết Nào Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa 3
  • Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa Xii
  • Toàn Văn Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa Xii
  • Nghị Quyết Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khóa Xii
  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Cách Mạng Công Nghệ 4.0

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Thúc Đẩy Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Thanh Hóa Cho Ý Kiến Vào Kế Hoạch Nghiên Cứu, Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị
  • Chỉ Thị Của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Về Việc Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Cấp Huyện, Cấp Xã Theo Nghị Quyết Số 37
  • Hòa Bình Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 37
  • TCDN – Theo đánh giá của Bộ Chính trị, mức độ chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta còn thấp, thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập.

    Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Nghị quyết số 52-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    Theo đánh giá của Bộ Chính trị, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội đất nước.

    Tuy vậy, mức độ chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa thực sự là động lực phát triển kinh tế – xã hội; hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia mới được hình thành, chưa đồng bộ và hiệu quả.

    Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn nhiều hạn chế; nhiều doanh nghiệp còn bị động, năng lực tiếp cận, ứng dụng, phát triển công nghệ hiện đại còn thấp. Kinh tế số có quy mô còn nhỏ. Việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức.

    Trước thực tế đó, Bộ Chính trị yêu cầu phải đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội.

    Xác định nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư của nước ta là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số.

    Nhà nước ưu tiên chuyển giao và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ mới trong các ngành, lĩnh vực; có trách nhiệm thúc đẩy nghiên cứu khoa học, công nghệ, tạo môi trường thuận lợi và hỗ trợ có trọng tâm, trọng điểm để người dân và doanh nghiệp là các chủ thể quyết định tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    Bộ Chính trị cũng yêu cầu các cấp ngành phải hoàn thiện pháp luật, trước hết là pháp luật về doanh nghiệp, khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, thương mại, đầu tư, kinh doanh để tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển đổi số quốc gia và phát triển các sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh tế mới dựa trên nền tảng công nghệ số, Internet và không gian mạng; đồng thời ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.

    Bổ sung một số ngành nghề kinh doanh mới được ưu đãi đầu tư để thúc đẩy tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Có cơ chế cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm, đầu tư vào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

    Xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với môi trường kinh doanh số, tạo thuận lợi cho đổi mới sáng tạo. Sớm ban hành khung thể chế thử nghiệm có kiểm soát đối với các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, mô hình kinh doanh mới hình thành từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quy định rõ phạm vi không gian và thời gian thử nghiệm. Nghiên cứu, xây dựng các khu thử nghiệm dành cho doanh nghiệp công nghệ theo mô hình tiên tiến của thế giới. Thực hiện định danh, công nhận, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn đối với các sản phẩm, công nghệ, mô hình kinh doanh mới.

    Triển khai băng thông rộng chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc. Khuyến khích doanh nghiệp tư nhân có đủ năng lực tham gia xây dựng hạ tầng viễn thông và các hạ tầng khác cho chuyển đổi số quốc gia.

    Xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia. Hình thành hệ thống trung tâm dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu vùng và địa phương kết nối đồng bộ và thống nhất. Hình thành các hệ thống dữ liệu tin cậy, ổn định của Nhà nước và doanh nghiệp. Đầu tư trang bị các hệ thống thiết bị thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ dữ liệu công.

    Quy hoạch xây dựng hạ tầng thanh toán số quốc gia theo hướng đồng bộ, thống nhất, dùng chung, tận dụng và khai thác có hiệu quả hạ tầng mạng lưới viễn thông để triển khai các dịch vụ thanh toán cho người dân với chi phí thấp. Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy mạnh mẽ thanh toán không dùng tiền mặt. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng các hệ thống thanh toán số. Quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hình thức thanh toán trực tuyến qua biên giới.

    Đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Xây dựng và triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25/7/2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia.

    Nâng cấp hạ tầng các ngành, lĩnh vực quan trọng, thiết yếu đồng bộ, hiện đại đáp ứng yêu cầu áp dụng công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, trước hết là hạ tầng năng lượng và giao thông. Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia.

    Cùng với đó là có chính sách phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia. Cơ cấu lại toàn diện hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ công lập. Xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, tập trung vào các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nâng cao hiệu quả đầu tư công cho hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ trên cơ sở áp dụng mô hình quản trị mới theo thông lệ tốt của thế giới.

    Có hính sách phát triển nguồn nhân lực; Có cơ chế khuyến khích và ưu đãi đối với các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp công nghệ tham gia trực tiếp vào quá trình giáo dục và đào tạo, tạo ra sản phẩm phục vụ cho nền kinh tế số. Xây dựng một số trung tâm giáo dục, đào tạo xuất sắc về công nghệ theo hình thức hợp tác công – tư. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút, sử dụng nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao; Chính sách phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên, hội nhập quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Sáp Nhập Quận Huyện, Phường Xã
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Nq 55 Của Bộ Chính Trị Về Định Hướng Phát Triển Năng Lượng Quốc Gia
  • Hút Nguồn Lực Tỷ Usd Đầu Tư Phát Triển Năng Lượng
  • Nghị Quyết Bộ Chính Trị Về Năng Lượng
  • Nghị Quyết 08 Của Bộ Chính Trị (Khóa Viii) “về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia” Trong Lực Lượng Công An
  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Cách Mạng Công Nghiệp 4.0

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Thúc Đẩy Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Thanh Hóa Cho Ý Kiến Vào Kế Hoạch Nghiên Cứu, Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị
  • Chỉ Thị Của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Về Việc Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Cấp Huyện, Cấp Xã Theo Nghị Quyết Số 37
  • Hòa Bình Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 37
  • Hội Nghị Triển Khai Nghị Quyết Số 37
  • Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành nghị quyết của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

    Theo đó, cuộc Cách mạng công nghiệp này mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, xã hội đất nước.

    Bộ Chính trị nhận định thời gian qua, nước ta đã đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4.

    Tuy nhiên, mức độ chủ động tham gia của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Quá trình chuyển đổi số quốc gia còn chậm, thiếu chủ động do hạ tầng phục vụ quá trình chuyển đổi số còn hạn chế. Nguyên nhân chính của những hạn chế nêu trên là do chủ quan.

    Bộ Chính trị cũng lưu ý, cần có cách tiếp cận mở, sáng tạo, cho thí điểm đối với những vấn đề thực tiễn mới đặt ra, tạo mọi thuận lợi cho đổi mới sáng tạo; tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không chủ quan, nóng vội, duy ý chí.

    Đồng thời, phát huy tối đa các nguồn lực, bảo đảm đủ nguồn lực cho việc chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Xác định nguồn lực bên trong là quyết định, chiến lược, cơ bản lâu dài; nguồn lực bên ngoài là quan trọng, đột phá, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của toàn xã hội.

    Bộ Chính trị đưa ra mục tiêu tổng quát là tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước.

    Cùng với đó là phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái.

    Bộ Chính trị đưa ra 8 chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    Thứ 1, đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của MTTQ Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội.

    Thứ 2, hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia, trong đó chú trọng đến vấn đề khởi nghiệp sáng tạo, sở hữu trí tuệ, Chính phủ điện tử, phát triển đô thị thông minh…

    Đồng thời, bổ sung một số ngành nghề kinh doanh mới được ưu đãi đầu tư để thúc đẩy tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    Có cơ chế cho DN nhà nước thực hiện đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm, đầu tư vào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Khuyến khích các công ty đa quốc gia đặt các cơ sở nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.

    Thứ 3, chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu, trong đó triển khai băng thông rộng chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc; quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hình thức thanh toán trực tuyến qua biên giới; đầu tư nâng cấp hạ tầng kỹ thuật bảo đảm an toàn, an ninh mạng…

    Thứ 4, chính sách phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia, trong đó xây dựng và phát triển các trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia, tập trung vào các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư

    Áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt, có tính đột phá đối với các trung tâm đổi mới sáng tạo.

    Trên cơ sở các khu công nghệ cao Hoà Lạc (Hà Nội), Đà Nẵng và chúng tôi phát triển các khu đô thị sáng tạo đạt đẳng cấp quốc tế.

    Thúc đẩy phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, đẩy nhanh thành lập các trung tâm khởi nghiệp sáng tạo quốc gia, trước mắt tại Hà Nội, Đà Nẵng, chúng tôi

    Thứ 5, chính sách phát triển nguồn nhân lực, trong đó đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu; đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút, sử dụng nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao…

    Thứ 6, chính sách phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên, trong đó tập trung phát triển các ngành ưu tiên có mức độ sẵn sàng cao như: Công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử – viễn thông; an toàn, an ninh mạng; công nghiệp chế tạo thông minh; tài chính – ngân hàng; thương mại điện tử; nông nghiệp số; du lịch số; công nghiệp văn hoá số; y tế; giáo dục và đào tạo…

    Thứ 7, chính sách hội nhập quốc tế, trong đó phải chủ động tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu; hoàn thiện luật pháp, chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài, về đầu tư mạo hiểm có vốn nước ngoài…

    Thứ 8, chính sách thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội, tiên phong thực hiện, đảm thống nhất, kết nối liên thông và đồng bộ.

    Xây dựng cơ sở dữ liệu số của Chính phủ và các cấp chính quyền, tạo điều kiện để mọi công dân có thể cập nhật thông tin cần thiết về hoạt động của bộ máy nhà nước.

    Cùng với đó, chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; chuẩn hoá và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước các cấp; cắt giảm tối đa giao dịch trực tiếp.

    Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 còn tác động không nhỏ đến ngành bán lẻ Việt Nam. Và để bàn thêm về những lợi thế cũng như những khó khăn của ngành bán lẻ trước tác động của cuộc cách mạng 4.0, xin mời quý cơ quan, đại diện doanh nghiệp đến với Hội thảo:”Cách mạng Công nghiệp 4.0 – Bước đi mới cho thị trường phân phối hàng hóa”. Sự kiện được Viện nghiên cứu chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh (BCSI) tổ chức vào 8h ngày 03/10/2019 tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế, 11 Lê Hồng Phong, Ba Đình, Hà Nội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Cách Mạng Công Nghệ 4.0
  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Sáp Nhập Quận Huyện, Phường Xã
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Nq 55 Của Bộ Chính Trị Về Định Hướng Phát Triển Năng Lượng Quốc Gia
  • Hút Nguồn Lực Tỷ Usd Đầu Tư Phát Triển Năng Lượng
  • Nghị Quyết Bộ Chính Trị Về Năng Lượng
  • Đường Lối Trong Giai Đoạn 1954

    --- Bài mới hơn ---

  • Đường Lối Kháng Chiến Toàn Quốc
  • Định Hướng Chiến Lược Cách Mạng Miền Nam Sau Năm 1954
  • Đáp Án Vcnet Tuần 16 Tìm Hiểu 90 Năm Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo 2022
  • Đường Lối Cách Mạng Việt Nam Trong Giai Đoạn Mới
  • Trắc Nghiệm Đường Lối Cmvn
  • 1. Đường lối trong giai đoạn 1954-1964

    a) Bối cảnh lịch sử của cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954

    Sau Hội nghị Giơnevơ, cách mạng Việt Nam vừa có những thuận lợi mới, vừa đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp.

    Thuận lợi: Hệ thống xã hội chủ nghĩa tiếp tục lớn mạnh cả về kinh tể, quân sự, khoa học – kỹ thuật, nhất là của Liên Xô; phong trào giải phóng dân tộc tiếp tục phát triển ở châu Á, châu Phi vả khu vực Mỹ latinh; phong trào hòa bình, dân chủ lên cao ở các nước tư bản chủ nghĩa; miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, làm căn cứ địa vững chắc cho cả nước; thế và lực của cách mạng đã lớn mạnh hơn sau chín năm kháng chiến; có ý chí độc lập thống nhất Tổ quốc của nhân dân từ Bắc chí Nam.

    Khó khăn: Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu làm bá chủ thế giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng; thế giới buớc vào thời kỳ chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang giữa hai phe xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa; xuất hiện sự bất đồng trong hệ thống xã hội chủ nghĩa, nhất là giữa Liên Xô và Trung Quốc; đất nước ta bị chia làm hai miền, kinh tế miền Bắc nghèo nàn, lạc hậu, miền Nam trờ thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ và đế quốc Mỹ trở thành kẻ thù trực tiếp của nhân dân ta.

    Một Đảng lãnh đạo hai cuộc cách mạng khác nhau, ở hai miền dất mrớc có chế độ chính trị khác nhau là đặc điểm lớn nhất của cách mạng Việt Nam sau tháng 7-1954. Đặc điểm bao trùm và các thuận lợi, khó khăn nêu trên là cơ sở để Đảng ta phân tích, hoạch định đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước trong giai đoạn mới.

    b) Quá trình hình thành, nội dung và ý nghĩa của đường lối.

    – Quá trình hình thành và nội dung đường lối:

    Yêu cầu bức thiết đặt ra cho Đảng ta sau tháng 7-1954 là phải đề ra được đường lối đúng đắn, vừa phù hợp với tình hình mỗi miền, tình hình cả nước, vừa phù hợp với xu thế chung của thời đại.

    Tháng 7-1954, Hội nghị Trung ương lần thứ sáu đã phân tích tình hình cách mạng nước ta, xác định đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân Việt Nam.

    Tháng 9-1954, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng. Nghị quyết đã chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của tình hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn mới là: từ chiến tranh chuyển sang hòa bình; nước nhà tạm chia làm hai miền; từ nông thôn chuyển vào thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung.

    Tại Hội nghị lần thứ bảy (tháng 3-1955) và lần thứ tám (tháng 8-1955) Trung ương Đảng nhận định: Muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hòa bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc đấu tranh của nhân dân miền Nam.

    Tháng 8-1956, tại Nam Bộ đồng chí Lê Duẩn đã dự thảo Đường lối cách mạng miền Nam, xác định con đường phát triển của cách mạng miền Nam là bạo lực cách mạng, Ngoài con đường cách mạng không có một con đường khác”.

    Tháng 12-1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, được xác định: “Mục tiêu và nhiệm vụ cách mạng của toàn Đảng, toàn dân ta hiện nay là: Củng cố miền Bắc, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp tục đấu tranh để thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ bằng phương pháp hòa bình”.

    Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bản lĩnh độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng.

    Quá trình đề ra và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết, chủ trương nói trên chính là quá trình hình thành đường lối chiến lược chung cho cách mạng cả nước, được “hoàn chỉnh tại Đại hội lần thứ III của Đảng.

    Đại hội lần thứ III của Đảng họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960. Đại hội đã hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Cụ thể là:

    Nhiệm vụ chung: “tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đẩy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đồng thời đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thế giới”.

    Nhiệm vụ chiến lược: “Cách mạng Việt Nam trong giai đoạn hiện tại có hai nhiệm vụ chiến lược. Một là, tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Hai là, giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước”. “Nhiệm vụ cách mạng ở miền Bắc và nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam thuộc hai chiến lược khác nhau, mỗi nhiệm vụ nhằm giải quyết yêu cầu cụ thể của mỗi miền trong hoàn cảnh nước nhà tạm bị chia cắt. Hai nhiệm vụ đó lại nhằm giải quyết mâu thuẫn chung của cả nước giữa nhân dân ta với đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng, thực hiện mục tiêu chung trước mắt là hòa bình thống nhất Tổ quốc”.

    Mối quan hệ của cách mạng hai miền: Do cùng thực hiện mệt mục tiêu chung nên “Hai nhiệm vụ chiến lược ẩy có quan hệ mật thiết với nhau và có tác dụng thúc đẩy lẫn nhau”.

    Vai trò, nhiệm vụ của cách mạng mỗi miền đối với cách mạng cả nước: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc có nhiệm vụ xây dựng tiềm lực và bảo vệ căn cứ địa của cả nước, hậu thuẫn cho cách mạng miền Nam, chuẩn bị cho cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội về sau, nên giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam và đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà. Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trong cả nước.

    Con đường thống nhất đất nước: Trong khi tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, Đảng kiên trì con đường hòa bình thống nhất theo tinh thần Hiệp nghị Giơnevơ, sẵn sàng thực hiện hiệp thương tổng tuyển cử hòa bình thống nhất Việt Nam, vì đó là con đường tránh được sự hao tổn xương máu cho dân tộc ta và phù hợp với xu hướng chung của thế giới. “Nhưng chúng ta phải luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với mọi tình thế. Nếu đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng liều lĩnh gây ra chiến tranh hòng xâm lược miền Bắc, thì nhân dân cả nước ta sẽ kiên quyết đứng dậy đánh bại chúng, hoàn thành độc lập và thống nhất Tổ quốc”.

    Triển vọng của cách mạng Việt Nam: Cuộc đấu tranh nhằm thực hiện thống nhất nước nhà là một quá trình đấu tranh cách mạng gay go, gian khổ, phức tạp và lâu dài chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai của chúng ở miền Nam. Thắng lợi cuối cùng nhất định thuộc về nhân dân ta, Nam Bắc nhất định sum họp một nhà, cả nước sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội.

    Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Trong ương Đảng do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch và Lê Duẩn làm Bí thư thứ nhất.

    – Ý nghĩa của đường lối:

    Đường lối tiến hành đồng thời và kết hợp chặt chẽ hai chiến lược cách mạng do Đại hội lần thứ III của Đảng đề ra có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn.

    + Đường lối đó thể hiện tư tưởng chiến lược của Đảng là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vừa phù hợp với miền Bắc, vừa phù hợp với miền Nam, vừa phù hợp với cả nước Việt Nam, vừa phù hợp với tình hình quốc tế, nên đã huy động và kết hợp được sức mạnh của hậu phương và tiền tuyến, sức mạnh cả nước và sức mạnh của ba dòng thác cách mạng trên thế giới, tranh thủ được sự đồng tình giúp đỡ của cả Liên Xô và Trung Quốc. Do đó đã tạo ra được sức mạnh tổng hợp để dân tộc ta đủ sức đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

    + Đặt trong bối cảnh Việt Nam và quốc tế lúc bấy giờ, đường lối chung của cách mạng Việt Nam đã thể hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng ta trong việc giải quyết những vấn đề không có tiền lệ lịch sử, vừa đúng với thực tiễn Việt Nam, vừa phù hợp với lợi ích của nhân loại và xu thế của thời đại.

    + Đường lối chiến lược chung cho cả nước và đường lối cách mạng ở mỗi miền là cơ sở để Đảng chỉ đạo quân dân ta phấn đấu giành được những thành tựu to lớn trong xây đựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thắng lợi chống các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay sai ở miền Nam.

    Đường lối của Đại hội III được Đảng bổ sung, phát triển qua quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng ở mỗi miền trong những năm 1960-1965. Trong đó, đối với miền Bắc, các Hội nghị Trung ương lần thứ tư (tháng 4-1961) đã bàn về công tác xây dựng Đảng, Hội nghị Trung ương lần thứ năm (tháng 7-1961) bàn về phát triển nông nghiệp, Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (tháng 6-1962) bàn về phát triển công nghiệp. Hội nghị Trung ương lần thứ 10 (tháng 12- 1964) bàn về lưu thông, phân phối… Đối với cách mạng miền Nam, các Hội nghị Bộ Chính trị đầu năm 1961, 1962 đã chủ trương giữ vững và phát triển thế tiến công của cách mạng. Bộ Chính trị chủ trương kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đồng thời phát triển đấu tranh vũ trang lên một bước mới, ngang tầm với đấu tranh chính trị. Thực hành kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị song song, đẩy mạnh đánh địch bằng ba mũi giáp công: quân sự, chính trị, binh vận. Vận dụng phương châm đấu tranh phù hợp với đặc điểm từng vùng chiến lược: rừng núi, đồng bằng, thành thị.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Nghị Quyết Bộ Chính Trị Tháng 9 Năm 1954
  • Công Văn 98/2003/khxx Của Toà Án Nhân Dân Tối Cao Về Việc Giải Quyết Bồi Thường Thiệt Hại Theo Nghị Quyết 388/2003/nq
  • Công Văn 98/2003/khxx Của Toà Án Nhân Dân Tối Cao Ban Hành Ngày 05/08/2003
  • Hướng Dẫn Về Bồi Thường Thiệt Hại Tai Nạn Giao Thông ?
  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Thúc Đẩy Cách Mạng Công Nghiệp 4.0

    --- Bài mới hơn ---

  • Thanh Hóa Cho Ý Kiến Vào Kế Hoạch Nghiên Cứu, Học Tập Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 58 Của Bộ Chính Trị
  • Chỉ Thị Của Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Về Việc Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Cấp Huyện, Cấp Xã Theo Nghị Quyết Số 37
  • Hòa Bình Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 37
  • Hội Nghị Triển Khai Nghị Quyết Số 37
  • Bộ Đội Biên Phòng Quán Triệt, Thực Hiện Nghị Quyết 33 Của Bộ Chính Trị (Khóa Xii) Về Chiến Lược Bảo Vệ Biên Giới Quốc Gia
  • Để chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, Bộ Chính trị yêu cầu hoàn thiện chính sách đặt hàng sản xuất, mua sắm công với sản phẩm công nghệ số do Việt Nam sản xuất.

    Tổng bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành nghị quyết của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    Bộ Chính trị nhận định đây là cuộc cách mạng mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức, tác động mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống, kinh tế, xã hội đất nước.

    Thời gian qua, nước ta đã đẩy mạnh ứng dụng, phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực tiếp cận và chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

    Tuy vậy, mức độ chủ động tham gia của nước ta còn thấp. Thể chế, chính sách còn nhiều hạn chế và bất cập. Cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu. Trong khi đó, việc đấu tranh với tội phạm, bảo đảm an ninh mạng còn nhiều thách thức.

    Mạng 5G phủ sóng toàn quốc năm 2030

    Bộ Chính trị ban hành nghị quyết này với mục tiêu tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước.

    Cùng với đó, Bộ Chính trị đặt kỳ vọng phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao; nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân.

    Đề ra mục tiêu cụ thể đến năm 2025, Bộ Chính trị nhấn mạnh phải xây dựng được hạ tầng số đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN; Internet băng thông rộng phủ 100% các xã. Kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP; năng suất lao động tăng bình quân trên 7%/năm. Có ít nhất 3 đô thị thông minh tại 3 vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, phía nam và miền Trung.

    Đến năm 2030 sẽ có mạng di động 5G phủ sóng toàn quốc; mọi người dân được truy cập Internet băng thông rộng với chi phí thấp. Kinh tế số chiếm trên 30% GDP; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 7,5%/năm. Hoàn thành xây dựng Chính phủ số và hình thành một số chuỗi đô thị thông minh tại các khu vực kinh tế trọng điểm phía bắc, phía nam và miền Trung.

    Đến năm 2045, Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực Châu Á; có năng suất lao động cao, có đủ năng lực làm chủ và áp dụng công nghệ hiện đại trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh.

    Ngăn chặn tiêu cực, đảm bảo an ninh không gian mạng

    Để đạt được các mục tiêu đề ra, Bộ Chính trị nhấn mạnh chủ trương phải đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội.

    Theo đó, xác định nội dung cốt lõi của chính sách là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các lĩnh vực, và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số.

    Chủ trương tiếp theo là hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số quốc gia.

    Đặc biệt, Bộ Chính trị yêu cầu phải ngăn chặn kịp thời các tác động tiêu cực cả về kinh tế và xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng.

    Cùng với đó, bổ sung một số ngành nghề kinh doanh mới được ưu đãi đầu tư để thúc đẩy tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Có cơ chế cho doanh nghiệp Nhà nước thực hiện đầu tư nghiên cứu phát triển công nghệ, đầu tư mạo hiểm, đầu tư vào khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.

    Xây dựng dữ liệu số để người dân cập nhật thông tin

    Bộ Chính trị cũng yêu cầu hoàn thiện các chính sách tài chính nhằm khuyến khích, huy động mọi nguồn lực xã hội đầu tư cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát triển và ứng dụng công nghệ, đổi mới sáng tạo.

    Hoàn thiện pháp luật, chính sách về tài chính – tiền tệ, thanh toán điện tử, quản lý thuế và các dịch vụ xuyên biên giới phù hợp với xu thế phát triển của kinh tế số. Hoàn thiện chính sách đặt hàng sản xuất và mua sắm công đối với các sản phẩm công nghệ số do Việt Nam sản xuất.

    Cùng với đó, xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý về phát triển đô thị thông minh bền vững; xác định rõ lộ trình thí điểm và lựa chọn các đô thị thí điểm đô thị thông minh; cho phép thực hiện thí điểm một số cơ chế đặc thù trong quá trình triển khai.

    Bộ Chính trị cũng nêu chủ trương chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu bằng cách xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia. Hình thành hệ thống trung tâm dữ liệu quốc gia, các trung tâm dữ liệu vùng và địa phương kết nối đồng bộ và thống nhất.

    Đồng thời, hình thành các hệ thống dữ liệu tin cậy, ổn định của Nhà nước và doanh nghiệp. Đầu tư trang bị các hệ thống thiết bị thu thập, lưu trữ, xử lý, bảo vệ dữ liệu công.

    Hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy mạnh mẽ thanh toán không dùng tiền mặt. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam xây dựng các hệ thống thanh toán số. Quản lý và kiểm soát chặt chẽ các hình thức thanh toán trực tuyến.

    Bên cạnh đó, cần thực hiện một số chính sách về phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia; phát triển nguồn nhân lực; phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên…

    Bộ Chính trị yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu số của Chính phủ và các cấp chính quyền, tạo điều kiện để mọi công dân có thể cập nhật thông tin cần thiết về hoạt động của bộ máy nhà nước. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thu thập, quản lý dữ liệu và giao dịch trên nền tảng Internet ở các cơ quan Nhà nước.

    Cùng với đó, chú trọng xây dựng, chuẩn hoá và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước các cấp. Hoàn thiện các quy trình, thủ tục hành chính phù hợp với hoạt động của chính quyền số, cắt giảm tối đa giao dịch trực tiếp.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Cách Mạng Công Nghiệp 4.0
  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Cách Mạng Công Nghệ 4.0
  • Bộ Chính Trị Ra Nghị Quyết Về Sáp Nhập Quận Huyện, Phường Xã
  • Tiếp Tục Thực Hiện Tốt Nq 55 Của Bộ Chính Trị Về Định Hướng Phát Triển Năng Lượng Quốc Gia
  • Hút Nguồn Lực Tỷ Usd Đầu Tư Phát Triển Năng Lượng
  • Đưa Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0 Vào Cuộc Sống

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỷ Niệm 50 Năm Ngày Thành Lập Quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam (15
  • 275 Câu Trắc Nghiệm Môn Đường Lối Cách Mạng Của Đcsvn Có Đáp Án
  • Một Số Văn Kiện Của Đảng Chỉ Đạo Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975
  • Chỉ Đạo Chiến Lược Của Bộ Chính Trị Trong Cuộc Tổng Tiến Công Và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975
  • Nghị Quyết 26 Của Bộ Chính Trị Đối Với Nghệ An
  • Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình cho biết nắm bắt và tận dụng các cơ hội của cuộc CMCN 4.0 để phát triển bứt phá, Bộ Chính trị đã giao Ban Kinh tế Trung ương chủ trì xây dựng Đề án “Chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN lần thứ tư”. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của Đề án, ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0. Trên cơ sở Nghị quyết này, Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành, các địa phương sẽ cụ thể hóa thành các chương trình hành động, kế hoạch triển khai cụ thể.

    Trưởng ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình phát biểu tại diễn đàn.

    “Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị là nghị quyết toàn diện, tổng thể đầu tiên của Đảng về chủ trương, chính sách của Việt Nam tham gia cuộc CMCN lần thứ tư, được hệ thống chính trị và toàn xã hội đón nhận tích cực, nhiều chuyên gia quốc tế và trong nước đã đánh giá cao. Nghị quyết đã thể hiện rõ quan điểm và sự quyết tâm của Đảng cộng sản Việt Nam khi coi “Chủ động, tích cực tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng; đồng thời nhận thức đầy đủ, đúng đắn về nội hàm, bản chất của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để quyết tâm đổi mới tư duy và hành động, coi đó là giải pháp đột phá với bước đi và lộ trình phù hợp là cơ hội để Việt Nam bứt phá trong phát triển kinh tế – xã hội”, đồng chí Nguyễn Văn Bình nhấn mạnh.

    Việt Nam cũng đã xác định, nội dung cốt lõi của chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư là thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trên tất cả các ngành, lĩnh vực và thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là phát triển kinh tế số, xây dựng đô thị thông minh, chính quyền điện tử, tiến tới chính quyền số. Xây dựng và ban hành Nghị quyết của Bộ Chính trị là quan trọng nhưng đưa Nghị quyết nhanh chóng vào cuộc sống để Việt Nam có thể bắt kịp, tiến cùng và vượt lên ở một số lĩnh vực so với khu vực và thế giới trong cuộc Cách mạng công nghiệp này có tầm quan trọng không kém.

    Tại diễn đàn, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam cho biết, mặc dù Bộ Chính trị mới ban hành nghị quyết về chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, nhưng nhận thức cũng như hành động để tận dụng cơ hội của cuộc cách mạng này đã bắt đầu từ trước đó. Tại Diễn đàn Công nghiệp 4.0 năm 2022, Thủ tướng Chính phủ đã nhấn mạnh yêu cầu tập trung đồng bộ nhiều giải pháp từ thể chế, hạ tầng đến nhân lực, khoa học, công nghệ để phát triển nền kinh tế số, nền sản xuất thông minh với tầm nhìn chiến lược, hành động cụ thể và khẩn trương. Trong cuộc CMCN 4.0, vai trò chủ đạo và tiên phong là của doanh nghiệp. Chúng ta cần chủ động ứng phó với những mặt tiêu cực của cuộc CMCN 4.0, trong đó lưu ý cơ chế quản lý rủi ro.

    “Một đặc trưng của cuộc CMCN 4.0 là kết nối, hợp tác. Vì vậy phải tăng cường hợp tác giữa các cơ quan Chính phủ với nhau; giữa Chính phủ với doanh nghiệp, người dân; giữa người dân với nhau; giữa trong nước với ngoài nước. Việt Nam không thể đứng ngoài cuộc cách mạng này. Chúng ta không chỉ giải quyết những “bài toán” của riêng mình mà còn có trách nhiệm trước những vấn đề chung của thế giới”, Phó thủ tướng nhấn mạnh.

    Theo Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng, vấn đề lớn được đặt ra tại diễn đàn về Công nghiệp 4.0 là làm sao Việt Nam có thể tận dụng cơ hội này. “Nếu có chính sách phù hợp thì Việt Nam sẽ tận dụng được cơ hội này để vượt lên thành nước phát triển” – Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng đánh giá như vậy trong bài phát biểu tại diễn đàn.

    Gian hàng của Viettel tại diễn đàn.

    Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cho rằng, khi cuộc cách mạng số, Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo cơ hội cho các đổi mới sáng tạo. “Các nước như Việt Nam chúng ta có cơ hội bứt phá. Nhưng phải là một tư duy mới, không truyền thống, không tuần tự. Cả quản lý nhà nước, doanh nghiệp, đều cần một sự đột phá trong tư duy, trong chính sách, trong cách tiếp cận”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nói.

    Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng, chuyển đổi số là một cuộc cách mạng về chính sách và thể chế nhiều hơn là một cuộc cách mạng về công nghệ. Và đây lại càng là lợi thế của Việt Nam khi có Đảng lãnh đạo, có thể ra được những quyết sách lớn một cách nhanh và tập trung.

    Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 52 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Trên cơ sở Nghị quyết này, Quốc hội, Chính phủ, các bộ ngành, các địa phương sẽ cụ thể hóa thành các chương trình hành động, kế hoạch triển khai cụ thể. “Muốn đi nhanh thì Chính phủ phải đi đầu. Nghị quyết 52 đã yêu cầu Chính phủ phải đi tiên phong trong chuyển đổi số”, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định, đồng thời cho biết, chuyển đổi số quốc gia bao gồm chuyển đổi số chính phủ, chuyển đổi số doanh nghiệp và chuyển đổi số xã hội.

    Bên cạnh các yếu tố nền tảng này, dự kiến Chính phủ Việt Nam sẽ triển khai nhiều nhóm chính sách quan trọng như: Áp dụng công nghệ, chuyển đổi quản trị khu vực công; hỗ trợ, khuyến khích ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khu vực doanh nghiệp; cơ cấu lại, tập trung nguồn lực đầu tư nâng cao hiệu quả hoạt động khoa học công nghệ, nghiên cứu; thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nghiên cứu phát triển, đổi mới sáng tạo; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo…

    Bài, ảnh: VĂN PHONG

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị: Tham Gia Cách Mạng Công Nghiệp 4.0 Để Bứt Phá
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0: Cảnh Báo Về Vấn Đề Nhân Lực
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0 Giữ Vị Trí Số 1 Các Sự Kiện Ict Tiêu Biểu 2022
  • Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0
  • Nghị Quyết Bộ Chính Trị Về Cách Mạng 4.0
  • Định Hướng Chiến Lược Cách Mạng Miền Nam Sau Năm 1954

    --- Bài mới hơn ---

  • Đáp Án Vcnet Tuần 16 Tìm Hiểu 90 Năm Truyền Thống Ngành Tuyên Giáo 2022
  • Đường Lối Cách Mạng Việt Nam Trong Giai Đoạn Mới
  • Trắc Nghiệm Đường Lối Cmvn
  • Bộ Chính Trị Lần Đầu Ban Hành Nghị Quyết Về Phát Triển Thanh Hóa
  • Bộ Chính Trị Chỉ Đạo Xây Dựng Nghị Quyết Phát Triển Thanh Hóa Đến 2030, Tầm Nhìn 2045
  • Đế quốc Mỹ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam thông qua chế độ cai trị độc tài phát xít của bọn tay sai Ngô Đình Diệm. Ta ra sức ổn định, củng cố miền Bắc, xây dựng miền Bắc theo hướng xã hội chủ nghĩa làm căn cứ địa vững chắc cho cách mạng cả nước; nhân dân miền Nam tiến hành đấu tranh chính trị đòi thi hành hiệp định Giơnevơ, đồng thời ra sức tìm phương pháp đấu tranh thích hợp để vừa đẩy mạnh cách mạng miền Nam, hạn chế được tổn thất, vừa bảo vệ miền Bắc, bảo vệ hệ thống xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình thế giới.

    * Cách mạng miền Nam gian nan thử thách từ sau tháng 7/1954

    Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta thắng lợi, buộc thực dân pháp phải ngồi Hội nghị và ký Hiệp định Giơnevơ (21/7/1954). Hội nghị ra tuyên bố cuối cùng, trong đó có những nội dung rất quan trọng: Các bên tham gia Hội nghị thừa nhận về nguyên tắc sự độc lập; thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, việc hiệp thương giữa hai miền bắt đầu từ ngày 20/7/1955 và tổng tuyển cử tiến hành vào tháng 7/1956; quyết định lấy vĩ tuyến 17 là giới tuyến quân sự tạm thời ở Việt Nam. Trong khi đó, về phía Mỹ không ký tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơnevơ, xúc tiến kế hoạch xâm nhập vào miền Nam nước ta để thay thế thực dân Pháp, xâm chiếm miền Nam bằng chính sách thực dân mới, thúc bọn ngụy quân, ngụy quyền tay sai ra sức phá hoại hiệp định bằng mọi biện pháp, thủ đoạn tàn ác và thâm hiểm.

    Trước tình hình trên, Trung ương Đảng đã thấy ý đồ can thiệp và xâm lược nguy hiểm của đế quốc Mỹ đối với Việt Nam và Đông Dương. Khi kết thúc kháng chiến, Nghị quyết của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 mở rộng, tháng 7/1954, xác định ngay: “Đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương”, nhận thức ngày càng rõ âm mưu cơ bản của đế quốc Mỹ là tiêu diệt bằng được phong trào yêu nước và cách mạng của nhân dân ta, chia cắt lâu dài đất nước ta, biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.

    Thực hiện chiến lược phản cách mạng tại nước ta, Mỹ gạt Pháp ra khỏi miền Nam, phân hóa và loại trừ các giáo phái thân Pháp, xây dựng chính quyền tay sai độc tài phátxít Ngô Đình Diệm, ra sức xây dựng lại và nắm trọn quyền chỉ huy quân ngụy trước đó là của Pháp, tổ chức các đảng phái thân Mỹ. Biện pháp chiến lược cơ bản của chúng là thực hành “tố cộng, diệt cộng”, tập trung đánh phá cách mạng miền Nam vô cùng khốc liệt. Đồng thời Mỹ tăng cường âm mưu cô lập Việt Nam với các nước láng giềng. Với Lào, Mỹ mưu toan tiến công xóa bỏ thành quả cách mạng Lào hòng uy hiếp miền Bắc nước ta từ phía tây. Với Campuchia, Mỹ chủ trương hù dọa, mua chuộc, lôi kéo Vương quốc Campuchia, chống đường lối hòa bình trung lập tích cực của Chính phủ Xihanúc, hồng cô lập cách mạng nước ta về phía Tây Nam.

    Mỹ – Diệm tập trung thực hiện biện pháp chiến lược “tố cộng, diệt cộng” để đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước, trả thù những người kháng chiến cũ, tiêu diệt cơ sở cách mạng miền Nam. Chúng coi “tố cộng, diệt cộng” là quốc sách; với khẩu hiệu: “giết nhầm còn hơn bỏ sót”, chúng chủ trương tiêu diệt hết những người cộng sản, tiêu diệt cả tổ chức và tư tưởng cộng sản. Chúng đã huy động mọi lực lượng quân sự, an ninh, hành chính, tình báo, thông tin, tuyên truyền,…thực hành cuộc khủng bố, đàn áp toàn diện cả quân sự, chính trị, tâm lý, kinh tế,…cực kỳ thâm độc, tàn bạo. Ngoài ra, chúng dùng quân đội mở nhiều cuộc hành quân càn quét quy mô lớn, dài ngày như chiến dịch “Thoại Ngọc Hầu” kéo dài trong 9 tháng (5/1956 – 2/1957) ở 18 tỉnh miền Tây Nam Bộ, chiến dịch “Trương Tấn Bửu” trong 7 tháng (7/1956 – 2/1957) ở 8 tỉnh miền Đông Nam Bộ,…để triệt phá cách mạng, tàn sát những người yêu nước, khủng bố những người kháng chiến cũ mà chúng gọi là cộng sản hoặc phần tử thân cộng sản. Mỹ – Diệm đã ban hành luật 10/59 “đặt cộng sản ngoài vòng pháp luật”, biến cả miền Nam thành nơi tràn ngập nhà tù, trại giam, trại tập trung. Chúng thẳng tay bắt bớ, tra tấn, chém giết những người yêu nước…

    Trước tình hình trên, Đảng ta đã động viên và tổ chức hơn 12 triệu lượt quần chúng (1955-1958) đấu tranh chính trị với những hình thức và mức độ khác nhau. Phong trào đấu tranh bất khuất chống lại cường quyền, áp bức và khủng bố tàn khốc của địch để giữ gìn lực lượng ngày càng ác liệt, nhiều cán bộ, đảng viên, đồng bào cốt cán trong các phong trào,…phải thường xuyên chuyển vùng và rút vào hoạt động bí mật. Cách mạng miền Nam chịu những tổn thất năng nề, từ năm 1955 đến năm 1959 ở Nam Bộ chỉ còn hơn 5.000 đảng viên so với 60.000 đảng viên trước đó, có huyện không còn cơ sở đảng,…Cách mạng miền Nam ở vào thời điểm khó khăn nhất.

    Trong những tháng ngày đen tối nhất của cách mạng miền Nam, đồng bào tiến bộ Miền Nam, kiên trung một lòng theo Đảng. Cán bộ và nhân dân xác định đúng đắn rằng khi kẻ địch lồng lộn, điên cuồng đến cao độ cũng chính là lúc nền thống trị thực dân mới của chúng đã mất ổn định và khủng hoảng.

    Tháng 12/1957, tại Hội nghị lần thứ mười ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ, nước ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa. Hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coi nhẹ một nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm.

    Tháng 1/1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ mười lăm. Trên cơ sở phân tích tình hình thế giới và trong nước, Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: Nhiệm vụ cơ bản của cách mạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam; con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Đó là con đường lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hợp đấu tranh chính trị và vũ trang để đánh đổ chính quyền thống trị độc tài Ngô Đình Diệm, tay sai của đế quốc Mỹ, thành lập một chính quyền liên hiệp dân tộc, dân chủ ở miền Nam. Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ, đế quốc Mỹ là đế quốc hiếu chiến cho nên cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang lâu dài và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta. Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ cần tăng cường công tác Mặt trận để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; củng cố, xây dựng Đảng bộ miền Nam thật vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để đủ sức lãnh đạo trực tiếp cách mạng miền Nam. Nghị quyết Hội nghị lần thứ mười lăm Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá II) với tinh thần khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân có ý nghĩa lịch sử to lớn, chẳng những đã đáp ứng đúng nhu cầu lịch sử, giải quyết kịp thời yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam trong tình thế thật sự chín muồi, đáp ứng nguyện vọng thiết tha lúc này của đông đảo cán bộ và đồng bào miền Nam mà còn là ánh sáng dấy lên ngọn lửa cao trào Đồng khởi làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền Nam lúc bấy giờ.

    Bằng nhiều nhiều phương pháp cực kỳ phong phú, sáng tạo, những cuộc khởi nghĩa ở miền núi khu 5, cực Nam Trung Bộ, miền Tây Nam Bộ, đặc biệt là phong trào Đồng Khởi của nhân dân Bến Tre (1959-1960) đã làm tan rã hàng loạt bộ máy kìm kẹp của ngụy quyền cơ sở các xã, giành quyền tự quản hàng nghìn xã, ấp,…; đẩy ngụy quân, ngụy quyền lâm vào thế bị động lúng túng, khủng hoảng trầm trọng. Từ cao trào Đồng khởi, Đảng bộ miền Nam được khôi phục, đội quân đấu tranh chính trị, đặc biệt là “đội quân tóc dài” của phụ nữ (Bến Tre) Nam Bộ ra đời. Lực lượng vũ trang ba thứ quân và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp từng bước được hình thành. Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập, các căn cứ cách mạng tại chỗ được khôi phục, mở rộng,…Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam ra đời đánh dấu một bước phát triển mới của cách mạng miền Nam, đồng thời, sự ra đời của Mặt trận cũng chính là giải pháp chính trị mang tính chiến lược trong việc xây dựng đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

    Tóm lại, Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ mười lăm (1/1959), tiếp sau đó là Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (9/1960) đã hoàn chỉnh đường lối cách mạng Việt Nam – đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam là một sáng tạo lớn của Đảng ta trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cuộc đấu tranh và chiến đấu của nhân cả nước chống lại kẻ thù mới của dân tộc, tên trùm đầu sỏ thực dân mới là đế quốc Mỹ. Với thắng lợi của cuộc Đồng khởi vĩ đại đánh dấu bước nhảy vọt đầu tiên của cách mạng miền Nam. Đưa cách mạng miền Nam từ vượt qua thử thách khốc liệt nhất, từ thoái trào và thế giữ gìn lực lượng, chuyển hẳn sang thế tiến công

    Chính đường lối và phương pháp cách mạng miền Nam ngày càng hoàn thiện là tiền đề cho phong trào cách mạng nước ta nói chung và cách mạng miền Nam nói riêng mỗi bước tiến công, luôn làm thất bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và tay say cho đến ngày toàn thắng 30/4/1975. Đại thắng mùa xuân năm 1975 là một chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, là niềm tự hào to lớn của bao thế hệ người Việt Nam – hôm nay và mãi mãi về sau. Chúng ta rất tự hào có Đảng Cộng sản Việt Nam, người đã lèo lái con thuyền cách mạng đến bến bờ vinh quang, đưa đất nước đến độc lập, thống nhất. Chúng ta tự hào về dân tộc Việt Nam anh hùng, bằng bản lĩnh và trí tuệ của mình, dân tộc ta đã làm nên một chiến thắng thần kỳ, đánh bại kẻ thù hùng mạnh nhất là đế quốc Mỹ và tay sai./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đường Lối Kháng Chiến Toàn Quốc
  • Đường Lối Trong Giai Đoạn 1954
  • :: Lich Su Viet Nam ::
  • Nghị Quyết Bộ Chính Trị Tháng 9 Năm 1954
  • Công Văn 98/2003/khxx Của Toà Án Nhân Dân Tối Cao Về Việc Giải Quyết Bồi Thường Thiệt Hại Theo Nghị Quyết 388/2003/nq
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100