【#1】Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 129

Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 129-nq/tw Về Chiến Lược Biển Vn, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8 Về Chiến Lược Cán Bộ, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc, Nghi Quyet Trung Uong 9 Ve Chien Luoc Bien Bien Viet Nam Den Nam 2021, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii Về Chiến Lược Cán Bộ, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11 Ve Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi , Nghị Quyết Trung ương 8 (khoá Xi) Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”, Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Nghị Quyết Số 28/nq-tw Ngày 25-10-2013, Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Qu, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xi Về “chiến Lược Bảo, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xi Về “chiến Lược Bảo, Nghị Quyết Số 08 Của Đảng ủy Công An Trung ương Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia , Nghị Quyết Trung ưng 8 Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc, Nghị Quyết Trương ương 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Quốc Phòng, Nghị Quyết Trương ương 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Quốc Phòng – An Ninh, Nghị Quyết Trung 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Văn Bản Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8veef Chiế Lược Cán Bộ Công An, “; Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về “chiến Lượ, “; Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về “chiến Lượ, Ghị Quyết Trung 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Bao Cao 1 Nam Thuc Hien Nghi Quyet Trung Uong 4 Khoa 12 Tu Dien Bien Tu Chuyen Hoa, Nghị Quyết 84 Chiến Lược Biển, Nghị Quyết 09 Chiến Lược Biển, Nghi Quyet 09 Ve Chien Luoc Bien Viet Nam, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Nghi Quyet 08 Khoa 8 Ve Chien Luoc An Ninh Quoc Gia, Nghị Quyết 09 – Nq/tw Về Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Năm 2021, Nghị Quyết 09-nq/tw Về Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Nă 2021, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 28 Ngày 25/10/2013 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc, Nghị Quyết 84/nq-cp Ngày 10/11/2015 Của Chính Phủ Về Chiến Lược Biển, Nghị Quyết Tw8 Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghi Quyet So 08 Cua Bo Chinh Tri Khoa Viii Ve Chien Luoc An Ninh Quoc Gia, Nghi Quyet So 08 Cua Bo Chinh Trị Khoa Viii Ve Chien Luoc Bao Ve An Ninh Quoc Gia, Nghị Quyết Số 08 Khóa 8 Của Bộ Chính Trị Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia Năm 1998, Nghị Quyết Số 09-nq/tw Ngày 9/2/2007 “về Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Năm 2021”,, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị Khóa X Ve Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi, Nghị Quyết 08 Của Bộ Chính Trị (khóa Viii) “về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia” Trong Lực Lượng Công An , Nghị Quyết 08 Của Bộ Chính Trị (khóa Viii) “về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia” Trong Lực Lượng Công An, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 9, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11, 3 Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa Xii, Nghị Quyết 12 Trung ương 5 Khóa 12, 4 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Nghị Quyết Số 22 Trung ương 6 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Pdf, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Doc, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 11 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Học Tập Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghị Quyết 11 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa X, Nghị Quyết 10 11 12 Trung ương 5 Khóa 12, Báo Cáo Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Số 10 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 8 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết 6 Trung ương Khoá 12, Nghi Quyet So 20 Trung Uong 6 Khoa 12, Nghị Quyết 4 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 7, Nghị Quyết Số 28 Trung ương 8 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương Số 28 Khóa Xi, Bản Cam Kết Học Tập Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết 7 Trung ương Khóa 12, Bản Cam Kết Về Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết 7 Trung ương Khóa Xi, Mẫu Biên Bản Họp Nghị Quyết Trung ương 4, Nghị Quyết Trung ương 10 11 12 Khóa Xi Của Đảng, Bài Thu Hoạch 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi Download, Nghị Quyết 8 Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết 3 Của Trung ương Đảng Khóa X, Bài Thu Hoạch 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12,

Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 129-nq/tw Về Chiến Lược Biển Vn, Báo Cáo Tổng Kết Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8 Về Chiến Lược Cán Bộ, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc, Nghi Quyet Trung Uong 9 Ve Chien Luoc Bien Bien Viet Nam Den Nam 2021, Báo Cáo Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa Viii Về Chiến Lược Cán Bộ, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11 Ve Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi , Nghị Quyết Trung ương 8 (khoá Xi) Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”, Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Nghị Quyết Số 28/nq-tw Ngày 25-10-2013, Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Qu, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xi Về “chiến Lược Bảo, Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xi Về “chiến Lược Bảo, Nghị Quyết Số 08 Của Đảng ủy Công An Trung ương Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia , Nghị Quyết Trung ưng 8 Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc, Nghị Quyết Trương ương 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Quốc Phòng, Nghị Quyết Trương ương 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Quốc Phòng – An Ninh, Nghị Quyết Trung 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Văn Bản Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8veef Chiế Lược Cán Bộ Công An, “; Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về “chiến Lượ, “; Nghị Quyết Số 28-nq/tw, Ngày 25/10/2013 Của Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về “chiến Lượ, Ghị Quyết Trung 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Bao Cao 1 Nam Thuc Hien Nghi Quyet Trung Uong 4 Khoa 12 Tu Dien Bien Tu Chuyen Hoa, Nghị Quyết 84 Chiến Lược Biển, Nghị Quyết 09 Chiến Lược Biển, Nghi Quyet 09 Ve Chien Luoc Bien Viet Nam, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Nghi Quyet 08 Khoa 8 Ve Chien Luoc An Ninh Quoc Gia, Nghị Quyết 09 – Nq/tw Về Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Năm 2021, Nghị Quyết 09-nq/tw Về Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Nă 2021, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Hội Nghị Tw Viii Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghị Quyết Số 28 Ngày 25/10/2013 Khóa 11 Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc, Nghị Quyết 84/nq-cp Ngày 10/11/2015 Của Chính Phủ Về Chiến Lược Biển, Nghị Quyết Tw8 Khóa Xi Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới, Nghi Quyet So 08 Cua Bo Chinh Tri Khoa Viii Ve Chien Luoc An Ninh Quoc Gia, Nghi Quyet So 08 Cua Bo Chinh Trị Khoa Viii Ve Chien Luoc Bao Ve An Ninh Quoc Gia, Nghị Quyết Số 08 Khóa 8 Của Bộ Chính Trị Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia Năm 1998, Nghị Quyết Số 09-nq/tw Ngày 9/2/2007 “về Chiến Lược Biển Việt Nam Đến Năm 2021”,, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị Khóa X Ve Chien Luoc Bao Ve To Quoc Trong Tinh Hinh Moi, Nghị Quyết 08 Của Bộ Chính Trị (khóa Viii) “về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia” Trong Lực Lượng Công An , Nghị Quyết 08 Của Bộ Chính Trị (khóa Viii) “về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia” Trong Lực Lượng Công An, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 9, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11,

【#2】Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 29 Trung Ương 7 Khóa 12 Về Đổi Mới Căn Bản Toàn Diện Giáo Dục

Thông tin chi tiết về bài thu hoạch nghị quyết 29 trung ương 7 khóa 12

Bài thu hoạch nghị quyết 29 trung ương 7 khóa 12 về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo ra đời với mong muốn giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả. Nội dung chính của bản nghị quyết này gồm hai ý chính đó là đề ra các mục tiêu cho từng cấp học và đề ra nhiệm vụ và giải pháp thực hiện hiệu quả.

1.Mục tiêu cho từng cấp học

Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2021, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2021. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục.

Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời.

Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2021. Bảo đảm cho học sinh có trình độ trung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở; trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2021.

Phấn đấu đến năm 2021, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương.

Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.

Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền vững. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa.

Đối với việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài, có chương trình hỗ trợ tích cực việc giảng dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, góp phần phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam, gắn bó với quê hương, đồng thời xây dựng tình đoàn kết, hữu nghị với nhân dân các nước.

Thứ nhất: Ttăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo

Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình.

Đổi mới công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục.

Coi trọng công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Bảo đảm các trường học có chi bộ; các trường đại học có đảng bộ. Cấp ủy trong các cơ sở giáo dục-đào tạo phải thực sự đi đầu đổi mới, gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân về việc tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo. Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ, dựa vào đội ngũ giáo viên, viên chức và học sinh, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương để xây dựng nhà trường.

Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch dài hạn phát triển nguồn nhân lực, dự báo nhu cầu về số lượng, chất lượng nhân lực, cơ cấu ngành nghề, trình độ. Trên cơ sở đó, đặt hàng và phối hợp với các cơ sở giáo dục, đào tạo tổ chức thực hiện.

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

Thứ hai: tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học

Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo, cần xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo. Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục và đào tạo; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo.

Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài.

Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực. Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học.

Nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việc chuyên nghiệp để hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học.

Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành, nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học. Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiên tiến của thế giới.

Thứ ba: đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan

Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội.

Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

Đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp. Có cơ chế để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia vào việc đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo.

Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng kết hợp sử dụng kết quả học tập ở phổ thông và yêu cầu của ngành đào tạo. Đánh giá kết quả đào tạo đại học theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc. Giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học.

Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa phương, từng cơ sở giáo dục, đào tạo và đánh giá theo chương trình của quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáo dục, đào tạo.

Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục. Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, đào tạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả kiểm định. Chú trọng kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở ngoài công lập, các cơ sở có yếu tố nước ngoài. Xây dựng phương thức kiểm tra, đánh giá phù hợp với các loại hình giáo dục cộng đồng.

Đổi mới cách tuyển dụng, sử dụng lao động đã qua đào tạo theo hướng chú trọng năng lực, chất lượng, hiệu quả công việc thực tế, không quá nặng về bằng cấp, trước hết là trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị. Coi sự chấp nhận của thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, nghề nghiệp và là căn cứ để định hướng phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và ngành nghề đào tạo.

Thứ tư: hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

Trước mắt, ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay. Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông. Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới.

Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Thống nhất tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra. Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp sau trung học phổ thông, liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học. Thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng, thực hành. Hoàn thiện mô hình đại học quốc gia, đại học vùng; củng cố và phát triển một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.

Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư.

Đa dạng hóa các phương thức đào tạo. Thực hiện đào tạo theo tín chỉ. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học.

Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương. Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo.

Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam. Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học-công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo.

Các cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo địa phương tham gia quyết định về quản lý nhân sự, tài chính cùng với quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.

Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lý quá trình đào tạo; chú trọng quản lý chất lượng đầu ra. Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, đào tạo.

Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin trong quản lý giáo dục, đào tạo. Thực hiện cơ chế người học tham gia đánh giá hoạt động giáo dục, đào tạo; nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý; cơ sở giáo dục, đào tạo tham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước.

Hoàn thiện cơ chế quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; quản lý học sinh, sinh viên Việt Nam đi học nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước và theo hiệp định nhà nước.

Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường. Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.

Thứ sáu: phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm. Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý.

Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; ưu tiên đầu tư xây dựng một số trường sư phạm, trường sư phạm kỹ thuật trọng điểm; khắc phục tình trạng phân tán trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo. Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm.

Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp.

Có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác. Có chế độ ưu đãi và quy định tuổi nghỉ hưu hợp lý đối với nhà giáo có trình độ cao; có cơ chế miễn nhiệm, bố trí công việc khác hoặc kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng.

Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Có chính sách hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập và nghiên cứu khoa học. Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ… Tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước.

Triển khai các giải pháp, mô hình liên thông, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, nhất là các trường đại học với các tổ chức khoa học và công nghệ, đặc biệt là các viện nghiên cứu.

Thứ bảy: đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách. Từng bước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào tạo công lập. Hoàn thiện chính sách học phí.

Đối với giáo dục mầm non và phổ thông, Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định. Khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị.

Đối với giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học, ngành đào tạo trọng điểm, trường đại học sư phạm. Thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng với chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo. Minh bạch hóa các hoạt động liên danh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công ; bảo đảm sự hài hòa giữa các lợi ích với tích luỹ tái đầu tư.

Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; khuyến khích liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín. Có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động và cơ sở giáo dục, đào tạo. Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng.

Tiến tới bình đẳng về quyền được nhận hỗ trợ của Nhà nước đối với người học ở trường công lập và trường ngoài công lập. Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay để học. Khuyến khích hình thành các quỹ học bổng, khuyến học, khuyến tài, giúp học sinh, sinh viên nghèo học giỏi. Tôn vinh, khen thưởng xứng đáng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc và đóng góp nổi bật cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo. Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình trường. Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện định kỳ kiểm toán các cơ sở giáo dục-đào tạo.

Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựng trường. Từng bước hiện đại h óa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin. Bảo đảm đến năm 2021 số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học.

Phân định rõ ngân sách chi cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học với ngân sách chi cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang. Giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc sử dụng kinh phí.

Thứ tám: nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý

Quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học quản lý, tập trung đầu tư nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục. Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục.

Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học. Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Ưu tiên đầu tư phát triển khoa học cơ bản, khoa học mũi nhọn, phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành, trung tâm công nghệ cao, cơ sở sản xuất thử nghiệm hiện đại trong một số cơ sở giáo dục đại học. Có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học.

Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế, phát minh trong các cơ sở đào tạo. Hoàn thiện cơ chế đặt hàng và giao kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ cho các cơ sở giáo dục đại học. Nghiên cứu sáp nhập một số tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ với các trường đại học công lập.

Ưu tiên nguồn lực, tập trung đầu tư và có cơ chế đặc biệt để phát triển một số trường đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực sớm đạt trình độ khu vực và quốc tế, đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu hàng đầu thế giới.

Thứ chín: chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo

Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại. Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục, đào tạo.

Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi nhọn, đặc thù. Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước. Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín, chủ yếu trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo.

Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế.

Có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên Việt Nam đang học ở nước ngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam.

【#3】Băn Khoăn Quyết Định “phạt Cho Tồn Tại” Của Sở Xây Dựng Tp.hcm

27/05/2020 10:00

Nhiều công trình sai phạm tại chúng tôi đã bị cưỡng chế tháo dỡ. Ảnh: Lê Toàn

Sở Xây dựng chúng tôi vừa ban hành văn bản kèm theo Công văn số 1062/SXD-TT, ngày 22/1/2020 hướng dẫn các tiêu chí phân loại công trình trái phép dựa trên các quy định của pháp luật, để giải quyết dứt điểm các công trình trái phép.

Theo văn bản này, sẽ có 3 nhóm công trình không phép, sai phép được hợp thức hóa trong thời gian tới. Cụ thể:

Nhóm 1: Các công trình xây dựng sai phép sửa chữa, cải tạo, sai nội dung giấy phép xây dựng đối với công trình mới; Công trình không có giấy phép theo quy định; Công trình xây dựng sai thiết kế; Công trình xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế hoặc quy hoạch được duyệt theo Nghị định 121/2013, hành vi vi phạm đã kết thúc trước ngày 15/1/2018 (ngày Nghị định 139/2017 có hiệu lực – PV).

Để được tồn tại, nhóm 1 phải đáp ứng đủ 6 tiêu chí theo Thông tư 03/2028 của Bộ Xây dựng gồm: Không vi phạm chỉ giới xây dựng, không ảnh hưởng các công trình phụ cận, không tranh chấp, có chủ quyền hợp pháp, phù hợp quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Hành vi vi phạm xảy ra từ ngày 4/1/2008 đến trước ngày 15/1/2018 nhưng sau ngày 15/1/2018 mới được phát hiện hoặc đã được phát hiện trước ngày 15/1/2018 và có một trong các văn bản như quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định áp dụng bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả.

Đồng thời, chủ đầu tư công trình phải nộp số lợi bất hợp pháp bằng 40% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép đối với công trình nhà ở riêng lẻ và 50% giá trị phần xây dựng sai phép, không phép, sai thiết kế, sai quy hoạch đối với dự án đầu tư xây dựng.

Nhóm 2: Các công trình xây dựng không giấy phép, công trình xây dựng sai phép, công trình xây sai thiết kế, sai quy hoạch chi tiết 1/500.

Để được tồn tại, nhóm công trình này phải đảm bảo 6 tiêu chí: Không vi phạm chỉ giới xây dựng, không ảnh hưởng các công trình phụ cận, không tranh chấp, có chủ quyền đất, phù hợp quy hoạch hiện tại, hành vi vi phạm xảy ra từ ngày 4/1/2008 và kết thúc trước ngày 15/1/2018 nhưng sau ngày 15/1/2018 mới được phát hiện. Và chủ đầu tư các công trình này cũng phải nộp lại số lợi bất hợp pháp như nhóm 1.

Nhóm 3: Các công trình xây dựng không phép, sai phép sau ngày 15/1/2018.

Để được tồn tại, nhóm này phải đáp ứng 7 tiêu chí: Chưa tổ chức cưỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính, không vi phạm chỉ giới xây dựng, không ảnh hưởng công trình phụ cận, không tranh chấp, có chủ quyền, phù hợp quy hoạch, đủ điều kiện cấp giấy phép xây dựng.

Phạt cho tồn tại, vi phạm sẽ gia tăng?

Công văn trên của Sở Xây dựng chúng tôi nhằm mục đích xử lý dứt điểm các công trình sai phép vốn đang rất nhức nhối và khó xử lý với chính quyền Thành phố bấy lâu nay. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, văn bản này có nhiều vấn đề.

Cụ thể, theo Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ, có hiệu lực ngày 15/1/2018, các công trình đang xây dựng mà sai chỉ giới xây dựng, cơi nới, lấn chiếm sẽ tháo dỡ ngay.

Tại khoản 12, Điều 15, Nghị định 139 nêu rõ: “Đối với hành vi quy định tại khoản 2, khoản 4 và khoản 5 Điều này mà đang thi công xây dựng thì xử lý như sau: a) Lập biên bản vi phạm hành chính và yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm dừng thi công xây dựng công trình; b) Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm phải làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh hoặc cấp giấy phép xây dựng; c) Hết thời hạn quy định tại điểm b khoản này, tổ chức, cá nhân vi phạm không xuất trình với người có thẩm quyền xử phạt giấy phép xây dựng hoặc giấy phép xây dựng được điều chỉnh thì bị áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm”.

Khoản 13, Điều 15, Nghị định 139/2017 cũng nêu rõ: “Đối với trường hợp quy định tại khoản 12 Điều này, sau khi được cấp hoặc điều chỉnh giấy phép xây dựng, công trình, phần công trình đã xây dựng không phù hợp với giấy phép xây dựng thì tổ chức, cá nhân vi phạm phải tháo dỡ công trình hoặc phần công trình đó mới được tiếp tục xây dựng”.

Trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư Bất động sản, luật sư Trần Đức Phượng (Đoàn Luật sư chúng tôi cho rằng, rõ ràng là văn bản của Sở Xây dựng chúng tôi có vấn đề. Phân ra theo nhóm như trên là không phù hợp, không khách quan và cũng không thể áp dụng theo Nghị định 121/2013, vì nghị định này đã hết hiệu lực.

Theo ông Phượng, nếu Sở Xây dựng chúng tôi thống kê các sai phạm này để kỷ luật cán bộ thì được, còn để xử lý như hướng dẫn trong văn bản thì không phù hợp.

Luật sư Phượng cho biết, đối với những vi phạm về xây dựng mà đã xử phạt hành chính, nhưng chưa khắc phục hậu quả trước thời hạn Nghị định 139 có hiệu lực (15/1/2018), thì phải áp dụng Nghị định 139, vì Nghị định 121 đã hết hiệu lực. Tức là phát hiện ra sai phạm là phải xử lý ngay, không thể nói là sai từ trước. Trừ trường hợp có văn bản xử phạt và đã khắc phục theo Nghị định 121, còn không thì coi như chưa bị phát hiện và phải xử theo Nghị định 139/2017. Có thể không xử phạt hành chính nữa, nhưng bắt buộc phải khắc phục hậu quả, phá dỡ sai phạm về nguyên trạng.

Trong trường hợp sai phạm sau ngày 15/1/2018 (tức nhóm 3 nêu trên), việc phạt cho tồn tại là bất hợp lý. Bởi các sai phạm, đặc biệt là các dự án bất động sản thường là sửa quy hoạch, sau đó mới xin giấy phép xây dựng. Nếu như dự án sai về giấy phép xây dựng giờ lại xin cấp lại, thì phải sửa ở mức cao hơn là sửa quy hoạch để hợp thức hóa cho sai phạm, điều này là bất hợp lý. Đặc biệt, với trường hợp vi phạm các quy định của Luật Đất đai thì không được cấp giấy phép sửa đổi, buộc phải khắc phục nguyên trạng.

Hơn nữa, theo ông Phượng, với những dự án đầu tư sai phạm sau ngày 15/1/2018 phải xử lý vi phạm về thủ tục đầu tư của các chủ đầu tư vi phạm.

“Không thể để xảy ra chuyện năm 2021 xây dựng sai quy hoạch, năm 2021 sửa quy hoạch và năm 2021 thì hợp thức hóa được”, ông Phượng nhấn mạnh.

Đồng quan điểm, tiến sĩ luật Trương Vĩnh Khang (Viện Nhà nước và Pháp luật) cho biết, vấn đề “phạt cho tồn tại” trong xây dựng không phải bây giờ mới nói, mà trước đây Chính phủ, Quốc hội và các đơn vị phản biện xã hội đã không chấp nhận việc này. Nếu như Sở Xây dựng chúng tôi còn có tư duy “phạt cho tồn tại” trong xây dựng chính là một trong những biểu hiện của sự tùy tiện trong quản lý.

Chia sẻ với Báo Đầu tư Bất động sản, luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch cho biết, công văn của Sở Xây dựng chúng tôi về bản chất không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Đây chỉ là một loại văn bản được các cấp có thẩm quyền ban hành để hướng dẫn cụ thể hơn, chi tiết hơn những điều khoản trong văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn và Nghị định 121 và Nghị định 139.

Về nội dung công văn của Sở Xây dựng chúng tôi theo ông Tuấn Anh, mặc dù không trái với quy định pháp luật, nhưng lại cho thấy vấn đề trong công tác quản lý, thực hiện nhiệm vụ. Không thể nói câu chuyện không biết về hành vi vi phạm, hay đến hiện nay mới phát hiện được hành vi vi phạm để biện minh việc không hoàn thành nhiệm vụ, hoặc tiếp tay cho những vi phạm.

Quy định về việc tiếp tục cấp phép cho các công trình sai phạm đang tạo ra tiền lệ xấu đối với những chủ đầu tư có chủ đích lách luật, làm sai từ đầu và thực tế cũng cho thấy việc những dự án về xây dựng sai phạm gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra ở khắp cả nước.

Theo TS. Khang, vi phạm về lĩnh vực đất đai và xây dựng để lại những hậu quả rất xấu, như phá vỡ về quy hoạch đất đai, phá vỡ quy hoạch đô thị, là phá vỡ quy hoạch kinh tế của Nhà nước. Việc sai phạm này diễn ra khiến trật tự xã hội không được thiết lập và là cơ hội, điều kiện để tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm hoành hành, người dân bị vi phạm quyền lợi rất lớn.

Nếu Sở Xây dựng chúng tôi xử lý theo kiểu “phạt cho tồn tại” thì sẽ xảy ra tình trạng nhờn luật, phát sinh tâm lý cứ sai phạm rồi được nộp phạt cho tồn tại.

【#4】Gđ Trung Tâm Y Tế Ninh Hòa “không Thụ Lý Giải Quyết” Khiếu Nại Liệu Có Đúng Luật?

“Căn cứ vào Khoản 1 Điều 11 Luật Khiếu nại năm 2011, nội dung đơn khiếu nại của bà Hạ đối với Quyết định số 96/QĐ-YTNH ngày 5/6/2015 của Giám đốc Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa về việc miễn nhiệm chức vụ trưởng trạm y tế phường Ninh Giang và quyết định số 100/QĐ-YTNH ngày 8/6/2015 của Giám đốc Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa về việc điều động cán bộ y tế tuyến cơ sở, thuộc trường hợp khiếu nại không được thụ lý giải quyết theo trình tự, thủ tục của Luật Khiếu nại vì 2 Quyết định trên là Quyết định hành chính trong nội bộ cơ quan nhà nước để chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, công vụ. Vậy nội dung đơn ngày 15/6/2015, đơn ghi ngày 19/6/2015 và ngày 20/6/2015 của bà Trần Thị Hạ được Giám đốc TTYT Ninh Hòa xem xét, giải quyết như một đơn kiến nghị – phản ánh”, văn bản nói trên do ông Trịnh Tiến Khoa, giám đốc Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa – ký trả lời.

Trong đơn phản hồi công văn nói trên, bà Hạ cho rằng nội dung trả lời đơn của Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa, hoàn toàn không phù hợp với quy định trong luật Khiếu nại năm 2011. Theo bà Hạ, khoản 1 điều 2 của Luật Khiếu nại có quy định bà là người được quyền khiếu nại 2 Quyết định trên của Giám đốc Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa và việc bà yêu cầu Giám đốc phải giải quyết khiếu nại là có cơ sở. Hai quyết định này do chính người có thẩm quyền (Giám đốc Trung tâm y tế) ban hành và quyết định này xâm phạm đến quyền và lợi ích của bà. Mặt khác, bà Hạ cho rằng, nội dung khiếu nại của bà vẫn nằm trong phạm vi điều chỉnh của Luật Khiếu nại năm 2011.

Trước đó, bà Hạ có gửi đơn tới báo Dân trí phản ánh: Ngày 11/6/2015, bà nhận được Quyết định số 100/QĐ-YTNH ngày 8/6/2015 của Giám đốc Trung tâm Y tế thị xã Ninh Hòa về việc “điều động cán bộ y tế tuyến cơ sở”. Theo đó, từ Trưởng trạm y tế phường Ninh Giang, bà Hạ bị “điều động” về làm nhân viên Trạm y tế phường Ninh Hiệp, thị xã Ninh Hòa, tỉnh Khánh Hòa.

Bà Hạ phản ánh trong lúc đơn khiếu nại quyết định số 100/QĐ-YTNH chưa được giải quyết thì vào lúc 14h ngày 18/6/2015, tại phòng tổ chức, bà lại nhận Quyết định miễn nhiệm số 96/QĐ-YTNH được ghi ngày 5/6/2015 với lý do: “do nhu cầu công tác”. Cũng như quyết định số 100/QĐ-YTNH, bà Hạ cũng phản đối Quyết định miễn nhiệm số 96/QĐ-YTNH.

“Mọi việc bắt nguồn từ việc tôi công khai phản đối việc ông Khoa cử 2 nhân sự đến làm việc tại Trạm y tế nơi tôi đang quản lý giữa năm 2014, do 1 đang đi học và 1 không đáp ứng về yêu cầu về chuyên môn”, đơn thư của bà Hạ phản ánh. Được biết, bà Hạ có hơn 30 năm cống hiến cho ngành y tế địa phương (làm việc từ năm 1983) và có rất nhiều Giấy khen của ngành y tế tỉnh Khánh Hòa.

Trong văn bản gửi Thường trực Thị ủy Ninh Hòa, UBND thị xã Ninh Hòa “về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Trần Thị Hạ” số 377/YTNH-TCHC đề ngày 10/7/2015 do ông Trịnh Tiến Khoa, Giám đốc Trung tâm y tế thị xã Ninh Hòa ký – khẳng định: “Sau khi xem xét thụ lý đơn, Trung tâm y tế thị xã Ninh Hòa đã mời bà Hạ đến làm việc vào ngày 2/7/2015 để giải quyết 2 đơn khiếu nại trên. Vì vậy, Trung tâm y tế thị xã Ninh Hòa đang tiếp tục nghiên cứu để giải quyết, ra quyết định giải quyết khiếu nại theo thời hạn luật định”.

Trong khi đó, luật sư Trần Quốc Tuấn, Trưởng văn phòng luật sư Quốc Tuấn (Đoàn luật sư tỉnh Khánh Hòa) – cho rằng: “Quyết định “miễn nhiệm” là trái thẩm quyền quy định tại Điều 28, Khoản 1 và 2 của Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 bởi: Trung tâm y tế thị xã Ninh Hòa không phải là đơn vị sự nghiệp công lập được giao quyền tự chủ?. Nói về việc “điều động” có thể đây là cách nói khác để chỉ việc “biệt phái” theo quy định tại Điều 26 của Nghị định nói trên. Tuy nhiên, việc “biệt phái” viên chức chỉ được thực hiện trong một số trường hợp sau: a) Theo nhiệm vụ đột xuất, cấp bách; b) Để thực hiện công việc cần giải quyết trong một thời gian nhất định”.

Dân trí tiếp tục thông tin vụ việc đến bạn đọc.

Viết Hảo

【#5】Hà Tĩnh: Nhiều Kinh Nghiệm Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết, Chỉ Thị Của Đảng

Ngày 13/6, tại Hà Tĩnh, Đoàn kiểm tra, khảo sát của Ban Tuyên giáo Trung ương đã làm việc với Tỉnh ủy Hà Tĩnh về tình hình triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng trong 6 tháng đầu năm 2021 và kết quả 10 năm thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 7/9/2009 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới.

Đồng chí Lê Đình Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh và đồng chí Nguyễn Thanh Long, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng đoàn kiểm tra, khảo sát chủ trì buổi làm việc. Cùng dự buổi làm việc có Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hà Tĩnh Đặng Quốc Vinh; Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh Võ Hồng Hải; lãnh đạo một số sở, ngành, đoàn thể của tỉnh Hà Tĩnh.

Quang cảnh buổi làm việc.

Nghiêm túc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng

Theo báo cáo của Tỉnh ủy Hà Tĩnh, trong 6 tháng đầu năm 2021, sau khi các chỉ thị, nghị quyết của Đảng được ban hành, căn cứ văn bản hướng dẫn của Trung ương, Ban thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tham mưu ban hành kế hoạch tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện phạm vi toàn tỉnh; đã tổ chức được 18 hội nghị cốt cán cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương học tập, quán triệt các văn mới của Đảng, tỷ lệ tham gia học tập đạt 94,2%.

Bên cạnh việc tổ chức hội nghị học tập, quán triệt, các địa phương, đơn vị đã đẩy mạnh tuyên truyền, tổ chức lồng ghép nội dung các văn bản mới của Đảng bằng nhiều hình thức như thông qua các Hội nghị, sinh hoạt chào cờ đầu tháng, sinh hoạt chi bộ, qua hệ thống báo, đài, hệ thống truyền thanh cơ sở, trang thông tin điện tử, bản tin nội bộ…

Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, chủ động tham mưu của Ban Tuyên giáo trong 6 tháng đầu năm, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng được tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, sâu rộng từ tỉnh đến cơ sở; công tác sơ kết, tổng kết kịp thời, chất lượng, đảm bảo kế hoạch Trung ương đề ra.

Quá trình lãnh đạo chỉ đạo thực hiện các chủ trương, cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh đã ban hành 241 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp của các chỉ thị, nghị quyết đề ra.

Đồng chí Lê Đình Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh phát biểu tại buổi làm việc

Tỉnh Hà Tĩnh đã đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý quỹ BHYT, đặc biệt chú trọng rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính từ 118 thủ tục (năm 2012) xuống còn 28 thủ tục năm 2021. 100% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 đã được tiếp nhận, xử lý trên môi trường điện tử, với số lượt hồ sơ được xử lý lên đến hàng ngàn hồ sơ mỗi tháng.

Các cơ sở y tế đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám, chữa bệnh và thanh quyết toán BHYT. Tính đến hết năm 2021, toàn tỉnh đã có 283/283 cơ sở khám chữa bệnh BHYT triển khai phần mềm quản lý khám chữa bệnh, kết nối liên thông dữ liệu khám chữa bệnh BHYT với Hệ thống thông tin giám định BHYT, đảm bảo việc kiểm soát chi phí và thanh quyết toán nhanh chóng, chính xác, hàng ngày đưa dữ liệu thông tin khám chữa bệnh lên hệ thống một cách công khai, minh bạch.

Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng lên, đáp ứng cơ bản nhu cầu của nhân dân. Nhiều dịch vụ kỹ thuật mới, kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu từng bước mở rộng, triển khai tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh và hệ thống bệnh viện tuyến huyện.

Sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW, chỉ tiêu số lượng người tham gia BHYT, tỷ lệ bao phủ được nâng lên, chi thanh toán khám chữa bệnh BHYT tăng. Tổng số người dân tham gia BHYT tăng, từ 969.741 lượt người năm 2009 lên 1.638.592 lượt người năm 2021 (tăng 668.851 lượt người đạt 68,9%). Tỷ lệ người dân tham gia BHYT năm 2009 đạt 57%, năm 2021 đạt 88%, tăng 31%. Năm 2009, tổng chi khám chữa bệnh BHYT là 246,482 triệu đồng, năm 2021 tăng lên 613,385 triệu đồng, năm 2021 là 1,367 tỷ đồng.

Nhiều kiến nghị về công tác bảo hiểm y tế

Phát biểu kết luận buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Thanh Long, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương,Trưởng đoàn công tác bày tỏ sự phấn khởi, đánh giá cao những kết quả tỉnh Hà Tĩnh đạt được trong việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệt là việc triển khai thưc hiện Quyết định số 221-QĐ/TW của Ban Bí thư (khóa X) về ban hành Quy chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo các cấp với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong việc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh cũng triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”… Theo đồng chí Nguyễn Thanh Long, có thể khẳng định Hà Tĩnh là một trong những điểm sáng trong việc tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

,

Đồng chí Nguyễn Thanh Long, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu tại buổi làm việc.

Đối với việc thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí thư (khóa X) về đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới, đồng chí Nguyễn Thanh Long ghi nhận tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực của tỉnh Hà Tĩnh trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện Chỉ thị; đánh giá cao những kết quả Hà Tĩnh đã đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ Chỉ thị số 38-CT/TW đã đề ra, trong đó có việc nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân về chính sách BHYT, việc xây dựng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chính sách về BHYT, công tác quản lý và sử dụng quỹ BHYT…

Chiều cùng ngày, Đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương đã đi kiểm tra, khảo sát thực tế công tác khám chữa bệnh BHYT tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hà Tĩnh và Trạm y tế xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà.

Đoàn công tác làm việc tại Trạm y tế xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà.

Trong quá trình triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã rút ra một số bài học kinh nghiệm:

Thứ nhất, cần nghiên cứu, khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng tình hình một cách đầy đủ, khách quan, khoa học để đề xuất những nội dung, giải pháp phù hợp, thiết thực. Đây là nhiệm vụ quan trọng để nghị quyết, chỉ thị của Đảng sớm đi vào cuộc sống.

Thứ ba, phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban Tuyên giáo các cấp trong việc tham mưu cấp ủy tổ chức tuyên truyền, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, định kỳ chủ động hướng dẫn các ngành, địa phương sơ kết, tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.

Thứ tư, để nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, song song với việc ban hành nghị quyết cần ban hành đồng bộ các chính sách, đầu tư nguồn lực để triển khai thực hiện.

Thứ năm, cần nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực tuyên giáo; thường xuyên cập nhật thông tin, nắm chắc tình hình thực tiễn để tham mưu đúng, trúng và kịp thời. Cán bộ làm công tác tuyên giáo phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận và thực tiễn, chủ động, sáng tạo trong tham mưu.

Thứ sáu, trong công tác tham mưu, phải luôn quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy, cần tập trung giải quyết hiệu quả những vấn đề bức xúc mà thực tiễn đang đặt ra, lựa chọn một số nhiệm vụ trọng tâm đề xuất ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo.

【#6】Hình Thức Văn Bản Giao Quyền Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính, Cưỡng Chế Thi Hành Quyết Định Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính, Tạm Giữ Người Theo Thủ Tục Hành Chính Và Trách Nhiệm Pháp Lý Của Người Được Giao Quyền

Hình thức văn bản giao quyền xử phạt vi phạm hành chính, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tạm giữ người theo thủ tục hành chính và trách nhiệm pháp lý của người được giao quyền

Xử lý vi phạm hành chính là một trong các lĩnh vực cấu thành nên 4 trách nhiệm pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật của nước ta. Do đó xây dựng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc hoàn thiện hệ thống pháp luật. Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2013 đã quy định khá cụ thể, chi tiết về đối tượng và phạm vi điều chỉnh, thẩm quyền xử phạt, mức xử phạt vi phạm hành chính (vphc), các biện pháp xử lý vphc đã tạo ra hành lang pháp lý cao cho việc điều chỉnh các mối quan hệ xã hội và quản lý nhà nước trong lĩnh vực quản lý vi phạm hành chính, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đảm bảo an ninh trật tự và phòng chống vi phạm, tội phạm. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng, Luật Xử lý vi phạm hành chính trong thời gian qua đã buộc lộ một số bất cập, hạn chế, trong đó có vấn đề về giao quyền xử phạt vi phạm hành chính, nhất là hình thức văn bản giao quyền và trách nhiệm pháp lý của người giao quyền.

1. Khái niệm về giao quyền nói chung

Theo Từ điển Tiếng Việt giải thích về ủy quyền là giao quyền cho người thay mình sử dụng quyền hạn của mình.

Từ điển Luật của Viện khoa học pháp lý không có khái niệm hay giải thích về từ ngữ giao quyền, trong Luật Xử lý vi phạm hành chính cũng không giải thích từ ngữ giao quyền và ủy quyền là gì? Nhưng trong Luật quy định: Người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, tạm giữ người theo thủ tục hành chính có thể giao quyền cho cấp phó của mình thực hiện các quyền nêu trên.

Như vậy, có thể hiểu giao quyền là giao quyền hạn của mình cho cấp quản lý thấp hơn theo từng chức vụ trong cơ cấu quyền lực của tổ chức để họ thực hiện thẩm quyền của mình nhằm thực hiện công việc chung của tổ chức.

2. Hình thức văn bản trong giao quyền xử lý vi phạm hành chính

– Khoản 3, Điều 2, Chương chế độ chính trị, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: ” Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp;

Tại Điều 69, Chương Quốc hội, Hiến pháp năm 2013 cũng khẳng định: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện quyền lập pháp”;

Điều 94, Chương chính phủ, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp”;

Điều 102, Chương Tòa án nhân dân,Hiến pháp năm 2013 khẳng định: ” Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.

– Theo Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2013 quy định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và Uỷ ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương tổ chức thi hành pháp luật.

, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc quyền nào trong các quyền: Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp?

Căn cứ vào các quy định trên cho ta thấy thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuộc quyền hành pháp. Quyền xử phạt vi phạm hành chính, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tạm giữ người theo thủ tục hành chính là quyền hành pháp. Trong Luật xử lý vi phạm hành chính thì quyền hành pháp này được phân cho 2 loại cơ quan khác nhau thực hiện đó là: cơ quan hành chính (UBND…) là chính, ngoài ra còn phân cho cơ quan xét xử (Tòa án) thực hiện.

Luật Xử lý vi phạm hành chính phân ra thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và tạm giữ người theo thủ tục hành chính là 3 quyền trong rất nhiều quyền về xử lý vi phạm hành chính. Theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, người giao quyền khi giao quyền cho cấp phó của mình không hạn chế số lượng người cấp phó được người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính giao quyền xử phạt VPHC thường xuyên tại cùng một thời điểm.

Bên cạnh đó, Khoản 2, Điều 87 và Khoản 2, Điều 123 Luật Xử lý VPHC đều quy định giao quyền bằng văn bản nhưng không đề cập đến hình thức văn bản giao quyền là gì? (quyết định, công văn, thông báo…) và người giao quyền, khi giao quyền cho cấp phó rồi thì trách nhiệm pháp lý của người giao quyền sẽ

như thế nào nếu có hậu quả pháp lý xảy ra?

– Theo Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2014 quy định về công tác văn thư và Nghị định số 09/2010/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều

của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP đã quy định về hình thức văn bản, gồm: văn bản quy phạm pháp luật; văn bản hành chính; văn bản chuyên ngành và văn bản của tổ chức chính trị – xã hội.

– Theo quy định tại Điều 2 Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2021 thì: Văn bản QPPL là văn bản có chứa quy phạm pháp luật được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự và thủ tục, trong đó quy phạm pháp luật được giải thích (Điều 3 Luật ban hành văn bản QPPL 2021) như sau: là quy tắc xử sự chung có hiệu lực bắt buộc chung được áp dụng lặp đi lặp lại nhiều lần đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phạm vi cả nước hoặc đơn vị hành chính, nhất là do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định và được nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Chính vì nó không nhằm thực thi, giải quyết các công việc cụ thể, phản ánh tình hình giao dịch, trao đổi, ghi chép công việc của cơ quan nên văn bản giao quyền không phải là văn bản quy phạm pháp luật;

– Văn bản của các tổ chức chính trị – xã hội: là loại hình tài liệu được thể hiện bằng ngôn ngữ viết để ghi lại hoạt động của tổ chức chính trị xã hội do cơ quan có thẩm quyền của tổ chức chính trị – xã hội ban hành theo quy định của Điều lệ của tổ chức chính trị – xã hội và qui định của cơ quan lãnh đạo trung ương của tổ chức chính trị – xã hội. Dựa vào khái niệm trên cho thấy văn bản giao quyền trong Luật xử lý vi phạm hành chính cũng không nằm trong hệ thống văn bản của các tổ chức chính trị xã hội.

– Vậy văn bản giao quyền trong Luật xử lý VPHC được xác định là thuộc hệ thống văn bản hành chính nhưng hệ thống văn bản hành chính có 32 loại (Công văn, Quyết định, Thông báo, Kế hoạch… ). Vậy loại nào là phù hợp nhất đối với nội dung giao quyền về xử phạt vi phạm hành chính, cưỡng chế quyết định thi hành xử lý vphc và tạm giữ người theo thủ tục hành chính. Về vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau nhưng có một số ý kiến nổi bật sau:

– Có ý kiến cho rằng: tên loại của văn bản giao quyền là công văn. Vì công văn dùng để thông tin trong hoạt động giao dịch, trao đổi công tác hàng ngày trong các cơ quan như giao dịch, nhắc nhở, trả lời, đề nghị, mời họp, hướng dẫn thực hiện văn bản cấp trên, xin ý kiến, thăm hỏi, cảm ơn, phúc đáp. Tuy nhiên công văn chỉ ở mức độ nhẹ nhàng không mang tính công quyền cao.

– Theo ý kiến thứ 3 thì văn bản giao quyền xử phạt vi phạm hành chính, cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt và tạm giữ người theo thủ tục hành chính là văn bản hành chính vì văn bản hành chính mang thông tin quy phạm nhà nước và nó cụ thể hóa việc thi hành văn bản pháp quy, giải quyết những vụ việc cụ thể trong khâu quản lý. Chính vì lẽ đó, mà văn bản giao quyền phải là “Quyết định”. Vì Quyết định thể hiện quyền lực nhà nước, đảm bảo cơ sở pháp lý để nhà nước giữ vững quyền lực của mình, truyền đạt ý chí của cơ quan nhà nước tới nhân dân và các chủ thể pháp luật khác.

3. Trách nhiệm pháp lý của người giao quyền

Trách nhiệm pháp lý chỉ phát sinh khi có sự kiện pháp lý xảy ra. Vậy khi giao quyền rồi thì người giao quyền có trách nhiệm gì nữa không? Nhất là khi người được giao quyền vi phạm pháp luật?

Ví dụ: khi người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính giao quyền cho cấp phó xử phạt vi phạm hành chính nhưng cấp phó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ có tham ô tiền thu được từ xử phạt vi phạm hành chính, lúc này người được giao quyền bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì người giao quyền có chịu trách nhiệm không? Và trách nhiệm ở đây là gì? (trách nhiệm về hình sự, dân sự, kỷ luật hành chính).

Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về trách nhiệm pháp lý khi người được giao quyền phải chịu trách nhiệm trước pháp luật và trước người giao quyền. Tuy nhiên Luật không quy định trách nhiệm của người giao quyền khi người được giao quyền vi phạm pháp luật.

Theo quy định của pháp luật thì có 3 loại trách nhiệm đó là hình sự, dân sự, hành chính (kỷ luật). Có 3 quan điểm khác nhau về vấn đề này:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, người được giao quyền vi phạm pháp luật thì người giao quyền không phải chịu trách nhiệm gì. Vì người giao quyền không làm gì sai nên không phải chịu trách nhiệm trước pháp luật;

Quan điểm thứ 2 cho rằng người giao quyền phải chịu trách nhiệm khi người được giao quyền vi phạm pháp luật, trong quan điểm này lại có những ý kiến khác nhau:

*) Ý kiến 1: trường hợp này người giao quyền phải chịu trách nhiệm hình sự, vì người được giao quyền vi phạm pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng;

*) Ý kiến thứ 2: trong trường hợp người được giao quyền vi phạm pháp luật thì người giao quyền phải chịu trách nhiệm dân sự;

*) Ý kiến thứ 3: trường hợp trên phải chịu trách nhiệm hành chính.

Quan điểm thứ 3: trường hợp người được giao quyền vi phạm pháp luật thì người giao quyền không phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì theo luật hình sự quy định “người phạm tội là người thực hiện hành vi “, ở đây người giao quyền đã làm văn bản giao quyền nên người giao quyền không phải là người thực hiện hành vi, cũng không phải là chủ mưu, không phải là người xúi giục và cũng không phải là người giúp sức nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Còn về trách nhiệm Dân sự thì theo quy định của pháp luật về bồi thường nhà nước thì người nào thực hiện sai người đó phải chịu trách nhiệm, cơ quan đó phải đứng ra chịu trách nhiệm và bản thân người vi phạm phải bồi hoàn. Còn lại là trách nhiệm hành chính nhưng không chịu trách nhiệm hành chính trực tiếp (cán bộ, công chức giữ quyền vi phạm pháp luật) mà chỉ chịu trách nhiệm hành chính liên đới dưới góc độ của người quản lý, người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Vì nếu không phải chịu trách nhiệm gì thì người giao quyền “chả dại gì” mà không giao quyền, vì theo lý giải ở trên thì khi cấp trưởng đã giao quyền cho cấp phó mà cấp phó vi phạm pháp luật thì cấp trưởng là vô can.

Nhìn chung, vấn đề giao quyền trong Luật xử lý vi phạm hành chính là việc làm thường xuyên xảy ra trên thực tế tại các cơ quan, đơn vị nhưng trong Luật này lại chưa quy định cụ thể về hình thức văn bản giao quyền và trách nhiệm pháp lý của người giao quyền trong vấn đề giao quyền nên các cơ quan chức năng rất khó trong việc áp dụng…

Nguyễn Thị Hương Huệ

Phòng Quản lý xử lý VPHC&TDTHPL

【#7】Mẫu Văn Bản Quyết Định Sa Thải

Quyết Định Sa Thải Là Gì, Ký Quyết Định Sa Thải, Mẫu Quyết Định Sa Thải Cán Bộ, Mẫu Quyết Định Sa Thải .doc, Mẫu Quyết Định Sa Thải , Thu Hồi Quyết Định Sa Thải, Hủy Quyết Định Sa Thải, Mẫu Văn Bản Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải, Thủ Tục Ra Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Mẫu, Mẫu Quyết Định Sa Thải Mới Nhất, Quyết Định Nghỉ Thai Sản, Người Ký Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải, Giấy Quyết Định Sa Thải, Khiếu Nại Về Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Tiếng Anh Là Gì, Công Ty G Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Hợp Pháp, Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Sa Thải, Nội Dung Quyết Định Sa Thải, Form Quyết Định Sa Thải, Trình Tự Ra Quyết Định Sa Thải, Mẫu Quyết Định Sa Thải 2021, Biểu Mẫu Quyết Định Sa Thải, ủy Quyền Ký Quyết Định Sa Thải, Mẫu Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Mẫu Văn Bản Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Mẫu Đơn Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Soạn Thảo Quyết Định Sa Thải, Mẫu Quyết Định Sa Thải Công Nhân, Có Được ủy Quyền Ký Quyết Định Sa Thải, Văn Bản Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Sa Thải Bằng Tiếng Anh, Thẩm Quyền Ký Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Giáo Viên, Thẩm Quyền Ra Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Thẩm Quyền Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Công Nhân, Quyết Định Sa Thải Trái Pháp Luật, Biểu Mẫu Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Người Có Thẩm Quyền Ký Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Ubnd Tỉnh Thái Nguyên, Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Sa Thải Đúng Pháp Luật, Quyết Định Sa Thải Nhân Viên Do Tự ý Nghỉ Việc, Quyết Định Sa Thải Nhân Viên Tự ý Nghỉ Việc, Quyết Định Số 04/2014 Của Ubnd Tỉnh Thái Nguyên, Mẫu Quyết Định Sa Thải Nhân Viên Tự ý Nghỉ Việc, Quyết Định 38/2014 Của Ubnd Tỉnh Thái Nguyên, Quyết Định Sa Thải Có Được Hưởng Bảo Hiểm Thất Nghiệp Không, Bí Quyết Mang Thai Đôi, Bí Quyết Mang Thai, Bí Quyết Nấu Lẩu Thái Ngon, 12 Bí Quyết Trở Thành Cha Mẹ Thông Thái, Nghị Quyết Trạng Thái Sẵn Sàng Chiến Đấu, Quyết Didjnhj Sa Thải Nhân Viên Tự ý Nghỉ Việc, Mẫu Báo Cáo Xả Thải Định Kỳ, Quyết Định 1319 Năm 2021 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Quyết Định 1319 Năm 2021 Quy Định Về Quy Trình Tiếp Nhận Giải Quyết Tố Giác, Tin Báo Tội Phạm Và Kiế, Trần Thái Đỉnh, 8 Quy Định Mới Về Chế Độ Nghỉ Thai Sản, Định Nghĩa Rác Thải, Định Nghĩa 50 Sắc Thái, Thái Lan Quy Định Trình Tự Thủ Tục Ly Hôn, Quy Định Phụ Nữ Mang Thai Đi Máy Bay, Quy Định Nghỉ Thai Sản, Quy Định Hưởng Chế Độ Thai Sản, Định Nghĩa Biến Thái, Định Nghĩa Rác Thải Điện Tử, Quy Định Rác Thải Sinh Hoạt, Biên Bản Xác Định Cự Ly Đổ Chất Thải, Quy Định Hưởng Bảo Hiểm Thai Sản, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Đánh Giá Hiện Trạng Và Nghiên Cứu Sử Dụng Bèo Tây Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Tại Thành Phố Thái N, Định Nghĩa Rác Thải Sinh Hoạt, Truyện Tranh Gia Đình Biến Thái, Quy Định Uống Thuốc Tránh Thai, Định Luật Giới Hạn Sinh Thái, Nghị Định Quản Lý Chất Thải Rắn, Quy Trình Uống Thuốc Đình Chỉ Thai, Nghị Định Về Quản Lý Chất Thải Rắn, Quy Định Nghỉ Thai Sản Trong Cand, Kiến Thức ,thái Độ, Hành Vi Về Rác Thải Nhựa, Đơn Đăng Ký Sổ Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Mẫu Đơn Đăng Ký Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Sổ Đăng Ký Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Kiến Thức Của Thai Phụ Về Đái Tháo Đường Thai Kỳ, Mẫu Số 45-ds Quyết Định Đình Chỉ Giải Quyết Vụ án Dân Sự (dành Cho Thẩm Phán), Quy Định Uống Thuốc Tránh Thai Khẩn Cấp, Bảng Giá Khám Thai ở 125 Thái Thịnh, Quyết Định Hủy Bỏ Quyết Định Không Khởi Tố Vụ An Hình Sự, Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện Và Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương, Thông Tư 12/2011/tt-btnmt Quy Định Về Quản Lý Chất Thải Nguy Hại Do Bộ Trưởng Bộ Tài Nguyên Và Môi T, Nghị Quyết Chuyên Đề Về Chuyển Trạng Thái Sẵn Sàng Chiến Đấu, Thời Gian Hội Nghị Chi Bộ Ra Nghị Quyết Chuyển Trạng Thái,

Quyết Định Sa Thải Là Gì, Ký Quyết Định Sa Thải, Mẫu Quyết Định Sa Thải Cán Bộ, Mẫu Quyết Định Sa Thải .doc, Mẫu Quyết Định Sa Thải , Thu Hồi Quyết Định Sa Thải, Hủy Quyết Định Sa Thải, Mẫu Văn Bản Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải, Thủ Tục Ra Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Mẫu, Mẫu Quyết Định Sa Thải Mới Nhất, Quyết Định Nghỉ Thai Sản, Người Ký Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải, Giấy Quyết Định Sa Thải, Khiếu Nại Về Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Tiếng Anh Là Gì, Công Ty G Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Hợp Pháp, Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Sa Thải, Nội Dung Quyết Định Sa Thải, Form Quyết Định Sa Thải, Trình Tự Ra Quyết Định Sa Thải, Mẫu Quyết Định Sa Thải 2021, Biểu Mẫu Quyết Định Sa Thải, ủy Quyền Ký Quyết Định Sa Thải, Mẫu Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Mẫu Văn Bản Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Mẫu Đơn Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Soạn Thảo Quyết Định Sa Thải, Mẫu Quyết Định Sa Thải Công Nhân, Có Được ủy Quyền Ký Quyết Định Sa Thải, Văn Bản Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Sa Thải Bằng Tiếng Anh, Thẩm Quyền Ký Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Giáo Viên, Thẩm Quyền Ra Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Thẩm Quyền Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Sa Thải Công Nhân, Quyết Định Sa Thải Trái Pháp Luật, Biểu Mẫu Quyết Định Sa Thải Nhân Viên, Người Có Thẩm Quyền Ký Quyết Định Sa Thải, Quyết Định Ubnd Tỉnh Thái Nguyên, Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Sa Thải Đúng Pháp Luật, Quyết Định Sa Thải Nhân Viên Do Tự ý Nghỉ Việc, Quyết Định Sa Thải Nhân Viên Tự ý Nghỉ Việc,

【#8】Ra Quyết Định Kinh Doanh

Nền kinh tế Việt Nam đang ở trong giai đoạn khủng hoảng, nhiều doanh nghiệp bắt đầu bước vào quá trình tái cấu trúc doanh nghiệp, thay đổi và chọn lựa lại ngành kinh doanh. Việc ra các quyết định này không phải là điều dễ dàng. Hãy xem các ông lớn doanh nghiệp Việt Nam đã từng ra quyết định như thế nào?

Từ những quyết định cảm tính

Có thể bắt đầu từ câu chuyện ra quyết định của 2 doanh nhân khá đình đám là trong ông Đoàn Nguyên Đức (bầu Đức), Chủ tịch Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai ( HAG) và ông Đặng Thành Tâm, Chủ tịch Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn.

Khởi đầu từ lĩnh vực chế biến gỗ và sau đó là bất động sản. Năm 2007 mặc dù lĩnh vực bất động sản đang ăn nên làm ra, bầu Đức lại sang Lào xin đất trồng cao su. Không chỉ cao su, bầu Đức cũng thể hiện tầm nhìn chiến lược khi tiếp tục đầu tư sang các lĩnh vực khác như khai khoáng hay thuỷ điện.

Các lĩnh vực kinh doanh này đều thuộc hạng hái ra tiền trong tương lai. Tuy nhiên, khi trả lời giới truyền thông về những quyết định này, ông Đức thường chỉ đưa những phép tính đơn giản và căn cứ vào đó để ra các quyết định kinh doanh. Kiểu như, vốn đầu tư trồng cao su vào khoảng 100 triệu đồng/ha. Trồng 6 năm khai thác 25 năm. 1 ha cao su cho 2,4 tấn mủ cao su/năm và giá cao su khoảng 60 triệu đồng/tấn, thì doanh thu từ mỗi ha cao su là 147 triệu đồng/năm.

Hay như đối với quặng sắt, theo bầu Đức, với trữ lượng gần 60 triệu tấn, tập đoàn này sẽ thu được khoảng 7,2 tỉ USD (dựa trên giá bán bình quân ước tính là 120 USD/tấn quặng tinh) trong suốt quá trình khai thác.

Với cách tính nhẩm này, mọi người có thể cho rằng, bầu Đức đưa ra quyết định một cách cảm tính, thế nhưng thực tế ông là người khá hiểu bản chất của các lĩnh vực kinh doanh. Nếu có dịp tiếp xúc với bầu Đức, có thể thấy, ông kể vanh vách những kỹ thuật trong việc trồng cao su, tưới nước, diễn biến gía cao su trên thị trường thế giới. Hay với lĩnh vực quặng sắt, ông có thể nói về hàm lượng sắt bao nhiêu phần trăm trước khi mỗi mũi khoan được đưa lên mặt đất…

Sự nhanh nhạy của Bầu Đức có thể là điểm mạnh trong cách ra những quyết định kinh doanh của ông trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Nhưng việc phân sức đầu tư có làm giảm sức cạnh tranh của Hoàng Anh Gia Lai so với các đối thủ chỉ có một lĩnh vực cốt lõi vẫn là câu hỏi lớn đang đặt ra cho doanh nhân này.

Trong khi đó, khởi đầu và thành công với lĩnh vực khu công nghiệp, sau đó, Đặng Thành Tâm đã phát triển và đầu tư thêm vào nhiều lĩnh vực khác như tài chính – ngân hàng, năng lượng, khoáng sản, viễn thông. Trong lĩnh vực tài chính, Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn, do ông Tâm làm Chủ tịch Hội đồng Quản trị có tầm ảnh hưởng lớn đến 2 ngân hàng là Navibank và Western Bank.

Cả 2 ngân hàng này đều khá nhỏ trong hệ thống ngân hàng. Mới đây Western Bank đã phải chuyển nhượng lại cho Công ty Tài chính Cổ phần dầu khí ( PVF). Chưa có một phát ngôn chính thức nào về cơ sở cho việc ra quyết định đầu tư vào những lĩnh vực này của ông Tâm, nhưng mới đây, trả lời trên báo chí ông Đặng Thành Tâm đã thừa nhận rằng, việc quyết định đầu tư vào ngân hàng, và tài chính là sự thất bại của ông. Và sự thất bại này, theo ông Tâm là do mình không am hiểu và nhảy vào đầu tư theo kiểu bầy đàn.

“Ở Việt Nam ai nghe tới ngân hàng cũng thích lắm, mình cũng thế thôi, cứ thấy người ta ăn khoai thì mình vác mai đi đào. Có một thời kỳ người ta đổ xô mua cổ phiếu ngân hàng, cổ phiếu chứng khoán và cứ nhắm mắt mua là lãi. Đến giờ thì không ai dám tham gia nữa, cả nền kinh tế hôm nay gánh hậu họa vì đã mù quáng lao như vậy, tôi cũng thế thôi”, ông Tâm nói.

Cách ra quyết định kiểu đầy cảm tính như vậy hiện diện ở rất nhiều ở những ông chủ các doanh nghiệp Việt Nam. Mới nhất có lẽ là câu chuyện ông chủ của Ngân hàng Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội ( SHB), Đỗ Quang Hiển (bầu Hiển), quyết định mua lại Ngân hàng Habubank ( HBB) và Công ty Cổ phần Thủy sản Bình An.

Mặc dù Habubank đang là một ngân hàng với những khoản nợ xấu đầm đìa, nhưng với việc thành công ở Ngân hàng Cổ phần Sài Gòn – Hà Nội, quyết định mua lại ngân hàng này của bầu Hiển vẫn được nhiều người tán đồng. Tuy nhiên, với Bianfishco lại là một câu chuyện hoàn toàn khác.

Thủy sản là một lĩnh vực hoàn toàn mới với bầu Hiển. Ông Hiển là doanh nhân đi lên từ thương mại, sau đó là sản xuất xe máy và tiếp đến là ngân hàng. Những gì bầu Hiển đánh gía về Bianfishco như: có nhà máy chế biến hiện đại, thị trường đầu ra rất tốt chỉ là bề nổi và một phần trong kinh doanh thủy sản.

Thực tế, nếu những ai theo dõi kỹ ngành thủy sản, có thể thấy rằng việc kinh doanh trong lĩnh vực chế biến cá tra đã không còn hấp dẫn như trước. Xét 5 doanh nghiệp có kim ngạch xuất khẩu tra, basa lớn nhất năm 2011 (Vĩnh Hoàn, Hùng Vương, Thủy sản An Giang, Việt An và Nam Việt) cho thấy, biên lợi nhuận gộp/doanh thu thuần của hầu hết các doanh nghiệp này đang đi theo chiều hướng giảm xuống.

Theo tính toán, tỉ suất lợi nhuận của ngành nuôi cá chỉ là khoảng 10%. Trong khi đó, hình thức mua bán nợ là một loại hình đầu tư rủi ro cao, nên nếu muốn đầu tư vào dạng công ty này tỉ suất lợi nhuận phải trên 50%, thậm chí cao hơn. Tương lai của Binanfishco cần một thời gian dài nữa mới có thể thấy được, tuy nhiên trong con mắt của những nhà kinh doanh, đầu tư vào Bianfishco là một thương vụ tồi của bầu Hiển.

Không chỉ với những ông bầu nổi tiếng, trong các cuộc phỏng vấn mà chúng tôi thường thực hiện với các CEO, khi hỏi tại sao lại chọn hướng đầu tư đa ngành, rất nhiều người đã đã trả lời một cách chung chung rằng, vì đi theo phong trào.

Ví dụ như khi chúng tôi thực hiện câu hỏi trên với ông Lê Văn Quang, Chủ tịch Công ty Cổ phần Thủy Sản Minh Phú ( MPC), chuyên về chế biến xuất khẩu tôm, ông ấy đã nói rằng, việc đầu tư vào lĩnh vực bất động sản hay tài chính là do áp lực từ nhiều phía. “Họ nói rằng làm tôm không bao giờ giàu nhanh, chỉ có đầu tư tài chính mới có thể gia tăng tài sản lên nhiều lần”, ông Quang kể lại.

Hay như khi được hỏi vì sao lại đầu tư vào lĩnh vực trồng cao su, ông Đỗ Văn Minh, Tổng Giám đốc Gemadept ( GMD), cho rằng, nếu một khi các cảng này đi vào ổn định hết rồi thì câu chuyện tăng trưởng vài chục phần trăm mỗi năm là rất khó. Nếu kiên định theo đuổi ngành nghề kinh doanh lõi là đại lý vận tải, doanh thu mỗi năm cao nhất cũng chỉ khoảng 100 tỉ đồng và lợi nhuận khoảng hơn 10 tỉ đồng. “Tính đi tính lại chỉ thấy cách làm cao su là ổn nhất,” ông Minh nói.

Tuy nhiên khi được hỏi về chiến lược kinh doanh với cây cao su, ông Minh chỉ trả lời ngắn gọn: “Cứ nghe bầu Đức (Chủ tịch Hoàng Anh Gia lai) nói thì biết”.

Cho đến những quyết định hiệu quả

Nếu như phần lớn các quyết định kiểu cảm tính của phần lớn các CEO cho thấy, nó không mang lại kết quả như mong muốn, thì những quyết định tạm dừng kinh doanh hoặc đóng một lĩnh vực nào đó cho thấy, đã xuất hiện những quyết định thành công của CEO Việt.

Trường hợp của Nguyễn Kim chẳng hạn. Giữa năm ngoái, Nguyễn Kim đã rầm rộ khai trương 5 siêu thị mang tên Thế giới số 24G. Nguyễn Kim giới thiệu 24G là kênh bán lẻ kỹ thuật số do các Tập đoàn công nghệ hàng đầu như Nokia, Samsung, LG, HTC, HP, hợp tác đầu tư tại chúng tôi với mô hình “trải nghiệm trước, mua sắm sau”. Thậm chí mô hình này còn được Nguyễn Kim dự định phát triển thành chuỗi 100 cửa hàng trên toàn quốc với một chiến lược kinh doanh bài bản trong vài năm tới.

Tuy nhiên, chỉ sau vài tháng hoạt động không hiệu quả, để tránh thua lỗ, Nguyễn Kim đã buộc phải dọn dẹp nhanh chóng mô hình này để quay về mảng kinh doanh cốt lõi là buôn bán hàng điện tử gia dụng.

Mặc dù những chiến lược đầu tư mới không đạt đến kết quả, nhưng chính nhờ loại bỏ kịp thời những khoản đầu tư thiếu hiệu quả để dồn toàn lực phát triển cho thế mạnh, hệ thống siêu thị điện máy Nguyễn Kim đã đạt doanh thu 7.000 tỉ đồng trong năm 2011, tăng trưởng 30% so với năm 2010, bất chấp thảm cảnh của ngành kinh doanh điện máy với hiện tượng phá sản và thu hẹp quy mô hàng loạt. Không chỉ dừng lại đó, ông chủ Nguyễn Kim còn đặt mục tiêu doanh thu 2 tỉ USD trong 3 năm tới.

Câu chuyện của Công ty Cổ phần Ánh Dương (Vinasun corp) là trường hợp tương tự. Giống như nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong những năm bùng nổ của thị trường tài chính, ông Đặng Phước Thành, Chủ tịch Công ty cũng đưa Vinasun tham gia các lĩnh vực bất động sản, nhà hàng, đầu tư tài chính. Tuy nhiên, một số góp ý về chiến lược của các tổ chức nước ngoài đã giúp ông bỏ hết các lĩnh vực này và tập trung vào lĩnh vực taxi.

Quyết định này đã giúp Vinasun tăng trưởng tốt trong những năm sau đó và đưa Vinasun vượt lên đối thủ cạnh tranh trực tiếp là Mai Linh tại các thị trường đô thị lớn ở phía Nam, về dịch vụ taxi. Hiện nay trên thị trường chúng tôi có đến gần 13.000 xe taxi của 36 hãng đang hoạt động, nhưng với 4.300 xe Vinasun đã chiếm đến 45% thị phần. Tại những thị trường trong điểm khác Vinasun cũng chiếm thị phần rất cao, khoảng 60% tại Bình Dương, Vũng Tàu, Đồng Nai và Đà Nẵng.

Hay mới nhất là câu chuyện của Tập đoàn Hoa Sen ( HSG). Cuối năm 2011, tập đoàn này đã có thay đổi lớn trong chiến lược kinh doanh. Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch Công ty Cổ Phần Tập đoàn Hoa Sen đã quyết định để Hoa Sen rút khỏi mảng kinh doanh phụ là bất động sản, cảng biển và tập trung cho lĩnh vực kinh doanh cốt lõi là sản phẩm thép.

Là một người đi lên từ lĩnh vực tôn thép, rõ ràng ông am hiểu lĩnh vực này hơn bất động sản và Logistic nên ít nhất cũng đã thấy rằng đây là một quyết định đúng của ông Vũ. Thực tế bước đầu cho thấy quyết định của ông Vũ đã tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của Công ty, ít nhất là trong năm 2012.

Kết quả kinh doanh quý IV niên độ 2012 (từ 1.7.2012 đến 30.9.2012) của riêng Công ty Hoa Sen cho thấy, mặc dù thị trường vật liệu xây dựng bị ảnh hưởng bởi khủng hảong kinh tế, nhưng Hoa Sen vẫn đạt 3.000 tỷ đồng doanh thu thuần quý IV, tương đương bằng cùng kỳ và 12.620 tỉ đồng cả niên độ, tăng 12,26%. Lũy kế cả niên độ 2011-2012 (từ 1.10.2011 đến 30.9.2012), Hoa Sen lãi 359,21 tỉ đồng, tăng 14,24% so với niên độ trước.

Vì sao những quyết định tạm dừng kinh doanh hoặc đóng một lĩnh vực nào đó lại đưa đến kết quả tốt đẹp?

Nhà quản trị hiện đại Peter Drucker đã từng nói: “Tập trung là một yếu tính mang lại thành quả kinh tế lớn. Thắng lợi kinh tế đòi hỏi các nhà quản trị phải tập trung nỗ lực vào một số ít những hoạt động mang lại hiệu quả nhất.

Mở rộng lĩnh vực kinh doanh ban đầu có thể đem lại những lợi nhuận ngắn hạn, nhưng về lâu dài, nó sẽ gây nên hậu quả lớn. Khi thị trường ngày càng chuyên biệt hóa và phân cấp, doanh nghiệp càng phải tập trung cao. Sự tập trung trong một thị trường cạnh tranh là một yếu tố tiên quyết và trọng yếu để có thể giúp một doanh nghiệp thành công.

Những quyết định như của Nguyễn Kim, Đặng Phước Thành hay Lê Phước Vũ mang lại hiệu quả là vì vậy!

Làm sao để quyết định không sai

Thực tế ngay như Warren Buffet cũng đã có những quyết định sai lầm trong thời kỳ đầu sự nghiệp. Và ông đã mô tả đó là sai lầm ngớ ngẩn trị giá 200 tỉ USD. Trong thập niên 1960, khi đang tìm kiếm các cơ hội đầu tư, Buffet nhận thấy công ty dệt Berkshire Hathaway đang dần dần bán hạ giá các nhà xưởng của họ. Công ty này bán rẻ một xưởng dệt để lấy tiền mặt mua lại cổ phiếu của họ và giá trị cổ phiếu này sẽ trải qua một đợt tăng tương ứng trong những tháng sau khi bán xưởng.

Buffett quan sát thấy mô hình này cứ tự lặp đi lặp lại và chỉ trong một thời gian ngắn trước khi Berkshire bán một xưởng dệt khác, ông đã mua một lượng lớn cổ phiếu của công ty này. Sau đó, ông gặp CEO của Berkshire – Seabury Stanton và hứa giao dịch cổ phiếu của mình với giá 11,5 USD với hy vọng sẽ kiếm được kha khá lợi nhuận ngắn hạn.

Không lâu sau khi hợp đồng miệng nói trên bị hủy bỏ, Bufrett nhận được một lá thư của Stanton đề nghị mua cổ phần của Buffet với giá 11,38 USD. Vốn là người luôn giữ lời, Buffet cảm thấy mình như bị “lừa” mất 1/8 điểm và bắt đầu mua lại cổ phiếu của Berkshire Hathaway cho đến khi nắm quyền kiểm soát công ty. Sau đó ông sa thải Stanton.

Giờ đây, Buffett sở hữu một doanh nghiệp làm ăn tệ hại mà ông đã rót hàng triệu đôla vào nó trong suốt hơn hai thập kỷ trước khi từ bỏ. Theo tính toán của Buffett, thay vì đưa ra một quyết định đầu tư kém cỏi như vậy, lẽ ra ông phải rót toàn bộ số tiền đó vào lĩnh vực đầu tư ưu tiên của ông là bảo hiểm, lẽ ra Berkshire Hathaway có thể đáng giá gấp hai lần so với nó hiện nay, hay trị giá thêm khoảng 200 tỉ USD nữa.

Như vậy, làm sao để tránh đưa ra những quyết định sai lầm? Theo Giáo Sư Modesto A. Maidique, trường kinh doanh Harvard, để mang lại hiểu quả những quyết định cần được thực hiện theo hai câu châm ngôn sau: “Am hiểu lĩnh vực kinh doanh” và “Biết mình”. Tâm điểm của các quyết định kinh doanh là khi mức độ kiến thức chuyên ngành và hiểu biết về bản thân đều cao.

Một nghiên cứu gần đây của hãng tư vấn McKinsey Global trên 2.327 lãnh đạo doanh nghiệp thuộc đủ các lĩnh vực và ngành nghề cho thấy, có 3 yếu tố lớn nhất có thể tác động đến việc đưa ra quyết định sai lầm hay không.

Theo Đăng Hùng

【#9】Xác Định Đúng Sai Quyết Định Thu Hồi Đất

Cách đây hơn 16 năm, cô tôi có làm đơn xin giao đất có thu tiền sử dụng đất tại một khu vực nhà nước giao đất cho nhân dân trong xã tôi. Khi nhà nước thu tiền sử dụng đất thì cô tôi đóng được 500.000đ, toàn bộ số tiền còn lại do bố tôi đóng cho cô tôi vì cô tôi nói rằng cô không có khả năng đóng tiếp và bảo bố tôi tiếp tục đóng để được giao đất; đồng thời với việc đóng tiền sử dụng đất; gia đình tôi còn mua một ngôi nhà và đất khác để cho cô tôi ở với mục đích là đổi diện tích đất mà cô tôi đã làm đơn xin được giao đất. Khi thủ tục cấp đất đã hoàn thành, diện tích đất mà cô tôi xin giao được giao cho gia đình tôi và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bố tôi. Đến năm 2009 cô tôi quay trở lại tranh chấp diện tích đất trên với gia đình tôi, hiện toà án huyện đang tiến hành thủ tục hoà giải. Tuy nhiên tháng 6/2010 UBND huyện ra quyết định thu hồi diện tích là 15 năm trước đã cấp cho gia đình tôi theo đơn xin giao đất của cô tôi. Vậy tôi muốn hỏi UBND huyện ra quyết định thu hồi đất như vậy có đúng pháp luật không?

Chúng tôi chưa rõ trường hợp cụ thể đất của gia đình bạn như thế nào cũng như lý do thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền đối do đó, chúng tôi cung cấp một số quy định của pháp luật trong trường hợp thu hồi đất để bạn tham khảo như sau:

Theo quy định tại Điều 61 đến điều 65 Luật Đất đai năm 2013 thì Nhà nước thu hồi đất trong các trường hợp sau đây:

Trường hợp thứ nhất: Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh (Điều 61) trong các trường hợp sau đây: Làm nơi đóng quân, trụ sở làm việc; Xây dựng căn cứ quân sự; Xây dựng công trình phòng thủ quốc gia, trận địa và công trình đặc biệt về quốc phòng, an ninh; Xây dựng ga, cảng quân sự; Xây dựng công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh; Xây dựng kho tàng của lực lượng vũ trang nhân dân; Làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí, bãi hủy vũ khí; Xây dựng cơ sở đào tạo, trung tâm huấn luyện, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang nhân dân; Xây dựng nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; Xây dựng cơ sở giam giữ, cơ sở giáo dục do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý.

Trường hợp thứ hai, Nhà nước thu hồi đất để phát triển lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 62,63) trong các trường hợp sau đây:

Dự án xây dựng khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế; khu đô thị mới, dự án đầu tư bằng nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA); Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương; trụ sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; công trình di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp quốc gia; Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cấp quốc gia gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc; hệ thống dẫn, chứa xăng dầu, khí đốt; kho dự trữ quốc gia; công trình thu gom, xử lý chất thải; Dự án xây dựng trụ sở cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội; công trình di tích lịch sử – văn hóa, danh lam thắng cảnh được xếp hạng, công viên, quảng trường, tượng đài, bia tưởng niệm, công trình sự nghiệp công cấp địa phương; Dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của địa phương gồm giao thông, thủy lợi, cấp nước, thoát nước, điện lực, thông tin liên lạc, chiếu sáng đô thị; công trình thu gom, xử lý chất thải; Dự án xây dựng công trình phục vụ sinh hoạt chung của cộng đồng dân cư; dự án tái định cư, nhà ở cho sinh viên, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ; xây dựng công trình của cơ sở tôn giáo; khu văn hóa, thể thao, vui chơi giải trí phục vụ công cộng; chợ; nghĩa trang, nghĩa địa, nhà tang lễ, nhà hỏa táng; Dự án xây dựng khu đô thị mới, khu dân cư nông thôn mới; chỉnh trang đô thị, khu dân cư nông thôn; cụm công nghiệp; khu sản xuất, chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản, hải sản tập trung; dự án phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; Dự án khai thác khoáng sản được cơ quan có thẩm quyền cấp phép, trừ trường hợp khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường, than bùn, khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ và khai thác tận thu khoáng sản.

Việc thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế – xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng phải dựa trên các căn cứ sau đây: Dự án thuộc các trường hợp thu hồi đất quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật này; Kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Tiến độ sử dụng đất thực hiện dự án.

Trường hợp thứ ba: Thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai (Điều 64) bao gồm Sử dụng đất không đúng mục đích đã được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng đất không đúng mục đích mà tiếp tục vi phạm; Người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất; Đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc không đúng thẩm quyền; Đất không được chuyển nhượng, tặng cho theo quy định của Luật này mà nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho; Đất được Nhà nước giao để quản lý mà để bị lấn, chiếm; Đất không được chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của Luật này mà người sử dụng đất do thiếu trách nhiệm để bị lấn, chiếm; Người sử dụng đất không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà không chấp hành; Đất trồng cây hàng năm không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục; đất trồng cây lâu năm không được sử dụng trong thời hạn 18 tháng liên tục; đất trồng rừng không được sử dụng trong thời hạn 24 tháng liên tục; Đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng; trường hợp không đưa đất vào sử dụng thì chủ đầu tư được gia hạn sử dụng 24 tháng và phải nộp cho Nhà nước khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với thời gian chậm tiến độ thực hiện dự án trong thời gian này; hết thời hạn được gia hạn mà chủ đầu tư vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước thu hồi đất mà không bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất, trừ trường hợp do bất khả kháng.

Việc thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai phải căn cứ vào văn bản, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.

Trường hợp thứ tư: Thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người (Điều 65) bao gồm: T ổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất mà tiền sử dụng đất có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; người sử dụng đất thuê của Nhà nước trả tiền thuê đất hàng năm bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụng đất; Cá nhân sử dụng đất chết mà không có người thừa kế; Người sử dụng đất tự nguyện trả lại đất; Đất được Nhà nước giao, cho thuê có thời hạn nhưng không được gia hạn; Đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; Đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người.

Việc thu hồi đất trường hợp này phải dựa trên các căn cứ sau đây: Văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải quyết đã có hiệu lực pháp luật đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; Giấy chứng tử hoặc quyết định tuyên bố một người là đã chết theo quy định của pháp luật và văn bản xác nhận không có người thừa kế của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của người để thừa kế đã chết đó đối với trường hợp thu hồi đất quy định tại điểm b khoản 1 Điều này; Văn bản trả lại đất của người sử dụng đất đối với trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này; Quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 1 Điều này; Văn bản của cơ quan có thẩm quyền xác định mức độ ô nhiễm môi trường, sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người đối với trường hợp quy định tại điểm đ và điểm e khoản 1 Điều này.

Như vậy, các cơ quan có thẩm quyền chỉ được thu hồi đất của gia đình bạn nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 61 đến điều 65 Luật Đất đai 2013.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, bạn có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

【#10】2 Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8

Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, 2 Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8, 2 Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8 Nói Về Lòng Yêu Nước, Đơn Xin Nghỉ Không Đi Thực Tế Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Đơn Xin Nghỉ Không Đi Thực Tế Trung Cấp Lý Luận Chính Tri, Tham Luận Nghị Quyết Trung ương 4, Bài Tham Luận Nghị Quyết Trung ương 8, Đon Xin Nghi Không Đi Thuc Te Lop Trung Cap Li Luan Chinh Tri, Bài Tham Luận Nghị Quyết Trung ương 4, Bài Tham Luận Về Nghị Quyết Trung ương 4, Biên Bản Thảo Luận Nghị Quyết Trung ương 8, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Bát Bất Trung Đọa Trong Trung Quán Luận, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương … Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii 3 Ngh, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương … Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii 3 Ngh, Khóa Luận Tốt Nghiệp Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Khóa Luận Tốt Nghiệp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii Về Một Số Vấn Đề Về Tiếp Tục Đổi M, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Số 04 05 06 Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Su Can Thiet Trung Uong Ban Hanh Nghi Quyet Trung Uong 6, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet 10 Hoi Nghi Lan Thu5 Ban Chap Hanh Trung Khoa 12th January 2021, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 12 Của Trung ương Hội Nông Dân Việt Nam, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương Lần Thứ 6 Khóa Xiii, Bài Thu Hoạch Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Bài Thu Hoạch Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Vận Động Nhân Dân Giám Sát Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Đảng K, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Hội Nghị Hoc Tap Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa X, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 10 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Của Hội Nghị Trung ương 5 Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 11 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 9 Khóa 12, Nghị Quyết Số 10 Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6, Nghị Quyết Số 29 Của Hội Nghị Trung ương 8 Khóa Xi, Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Lý Luận Tập Trung Tư Bản, Những Thành Tựu, Hạn Chế Và Những Nguyên Nhân Cơ B Trong Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5 (khóa Xii), Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Luận Văn Tiếng Trung, Luận Văn Thạc Sĩ Cho Vay Trung Và Dài Hạn, Dơn Xin Ko Đi Thực Tế Lớp Trung Cấp Ly Luân , Luận án Quan Hệ Mỹ Trung, Luận Văn Ngôn Ngữ Trung, Báo Cáo Tham Luận Lấy Trẻ Làm Trung Tâm, Ban Lý Luận Trung ương, Bài Tham Luận Lấy Trẻ Làm Trung Tâm, Luận Văn Trợ Từ Tiếng Trung, Trung Quán Luận, Tạm Hoãn Học Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Tìm Luận án Tốt Nghiệp Khoa Trung, Bài Luận Tiếng Trung Online, Luận Văn Trung ương Cục Miền Nam, Bài Thu Hoạch Về Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Báo Cáo Thu Hoạch Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Luận án Quan Hệ Mỹ- Trung – Nhật, Tiểu Luận Môn Kinh Trung Bộ, Tiểu Luận Nguyên Tắc Tập Trung Dân Chủ, Luận á Quan Hệ Mỹ Trung Quốc Doc, Luận Văn Tốt Nghiệp Lớp Trung Cấp Chính Trị, Luận Văn Tốt Nghiệp Tiếng Trung, Khóa Luận Lớp Trung Cấp Chính Trị, Bài Tham Luận Về Việc Lấy Trẻ Làm Trung Tâm, Văn Bản Đề Nghị Mua Sắm Tài Sản Tập Trung,

Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, 2 Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8, 2 Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8 Nói Về Lòng Yêu Nước, Đơn Xin Nghỉ Không Đi Thực Tế Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Đơn Xin Nghỉ Không Đi Thực Tế Trung Cấp Lý Luận Chính Tri, Tham Luận Nghị Quyết Trung ương 4, Bài Tham Luận Nghị Quyết Trung ương 8, Đon Xin Nghi Không Đi Thuc Te Lop Trung Cap Li Luan Chinh Tri, Bài Tham Luận Nghị Quyết Trung ương 4, Bài Tham Luận Về Nghị Quyết Trung ương 4, Biên Bản Thảo Luận Nghị Quyết Trung ương 8, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Bát Bất Trung Đọa Trong Trung Quán Luận, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương … Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii 3 Ngh, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương … Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii 3 Ngh, Khóa Luận Tốt Nghiệp Lớp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Khóa Luận Tốt Nghiệp Trung Cấp Lý Luận Chính Trị, Nghị Quyết Số 18-nq/tw Hội Nghị Lần Thứ 6 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii , Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii Về Một Số Vấn Đề Về Tiếp Tục Đổi M, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Số 04 05 06 Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, 3 Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa 12, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Su Can Thiet Trung Uong Ban Hanh Nghi Quyet Trung Uong 6, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Báo Cáo Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Sáu Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 5 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, ỷ Xxi, Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khoá X) Đã Thông Qua Nghị Quyết Số 09-nq/t, Bài Thu Hoạch Qua Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Tư Bch Trung ương Đảng (khóa Xii), Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ , Nghị Quyết 28-nq/tw Hội Nghị Ban Chấp Hành Trung ương Lần Thứ Tám (khóa Xi) Về Chiến Lược Bảo Vệ Tổ, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 5, Khóa 12quyết Đại Hội Xii, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Viii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ Năm Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghi Quyet So 28 Ngay 25/10/2013 Cua Hoi Nghi Lan Thu 8 Ban Chap Hanh Trung Uong Dang Khoa Xi, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghị Quyết Số 33-nq/tw, Ngày 9/6/2014, Hội Nghị Lần Thứ 9 Ban Chấp Hành Trung ương Đảng (khóa Xi) Về, Nghi Quyet 10 Hoi Nghi Lan Thu5 Ban Chap Hanh Trung Khoa 12th January 2021, Bài Thu Hoạch Kết Quả Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 4 Khóa 12,