Sau 5 Năm Thực Hiện Đổi Mới Giáo Dục Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 29

--- Bài mới hơn ---

  • Nội Dung Tập Huấn Hiệu Trưởng Trường Tiểu Học Về Đổi Mới Giáo Dục Năm Học 2021
  • Nghị Quyết 29 Về Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Gd
  • Mỗi Giáo Viên Phải Là Người Tiên Phong Trong Tiến Trình Đổi Mới
  • Chuyên Đề: “vận Dụng Các Thành Tố Tích Cực Của Mô Hình Trường Học Mới Việt Nam Vào Dạy Học Chương Trình Hiện Hành.”
  • Kế Hoạch Hành Động Của Ngành Giáo Dục Triển Khai Chương Trình Hành Động Của Chính Phủ Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Sau 5 năm thực hiện đổi mới giáo dục theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW

    Trường Mầm non Ngọc Hoa, phường Tân Dân, TP Việt Trì đầu tư khá đồng bộ cơ sở vật chất, phục vụ tốt cho việc dạy và học của khối mầm non.

    – Các cháu học sinh trong giờ ra chơi. Ảnh: Quốc Hội

    PTĐT – Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) và hội nhập quốc tế”, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo và tổ chức thực hiện.

    Tỉnh ủy đã ban hành Chương trình hành động số 44-CTr/TU ngày 3/1/2014 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (gọi tắt là Nghị quyết số 29); Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 808/KH-UBND ngày 11/3/2014 về thực hiện chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW; Quyết định số 1770/QĐ-UBND ngày 04/8/2014 về việc thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ; Kế hoạch 1670-KH/UBND ngày 16/5/2016 về Đề án “Phát triển đào tạo từ xa giai đoạn 2021-2020” trên địa bàn tỉnh… Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, cấp ủy, chính quyền các cấp trong toàn tỉnh cũng ban hành nhiều văn bản nhằm triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với những nội dung cụ thể; tính khả thi cao và phù hợp với từng địa phương, đơn vị.

    Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW; Quyết định số 1770/QĐ-UBND ngày 04/8/2014 về việc thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới giáo dục và đào tạo tỉnh Phú Thọ; Kế hoạch 1670-KH/UBND ngày 16/5/2016 về Đề án “Phát triển đào tạo từ xa giai đoạn 2021-2020” trên địa bàn tỉnh… Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, cấp ủy, chính quyền các cấp trong toàn tỉnh cũng ban hành nhiều văn bản nhằm triển khai các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo với những nội dung cụ thể; tính khả thi cao và phù hợp với từng địa phương, đơn vị.Từ đổi mới phương pháp dạy học, thầy và trò Trường THCS thị trấn Sông Thao có nhiều tiết học hứng thú, bổ ích. Ảnh: Đại Nguyễn

    Qua 5 năm thực hiện, Phú Thọ cơ bản đã hoàn thành các mục tiêu trong Nghị quyết số 29: Chất lượng công tác giáo dục – đào tạo, dạy nghề có chuyển biến tích cực; hệ thống mạng lưới trường lớp và các loại hình giáo dục ở tất cả các cấp học được củng cố và có bước phát triển; cơ sở vật chất trường học được đầu tư nâng cấp; đội ngũ giáo viên được tăng cường và chuẩn hóa từng bước để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

    Đối với giáo dục mầm non, 100% cấp huyện và đơn vị cấp xã đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi; thực hiện chính sách miễn học phí cho trẻ em 5 tuổi ở vùng đặc biệt khó khăn; phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế địa phương. Với giáo dục phổ thông, chất lượng phổ cập giáo dục luôn được giữ vững và nâng cao, đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở và đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2. So với năm 2013, các mục tiêu về giáo dục phổ thông đều tăng và dự kiến đến năm 2021 sẽ hoàn thành và vượt các chỉ tiêu đề ra. Giáo dục nghề nghiệp được mở rộng về quy mô, đa dạng hóa các ngành nghề đào tạo. Bước đầu thực hiện đổi mới về đánh giá kết quả học tập theo hướng phát triển năng lực người học. Công tác giáo dục đại học được củng cố, mở rộng về quy mô, ngành nghề và hình thức đào tạo, chất lượng đào tạo ngày càng nâng cao. Hiện nay, toàn tỉnh có 3 trường (2 trường đại học và 1 trường dự bị đại học). Nhìn chung hệ thống các trường chuyên nghiệp được bố trí khá hợp lý, số lượng trường và ngành nghề đào tạo cơ bản đáp ứng được nhu cầu trong việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và các tỉnh lân cận. Cùng với đó, công tác giáo dục thường xuyên tiếp tục được duy trì, giữ vững.

    Trong công tác xây dựng hệ thống giáo dục quốc dân, tỉnh luôn chỉ đạo rà soát, điều chỉnh bổ sung quy hoạch tổng thể theo hướng mở. Đến nay, toàn tỉnh có 922 trường, trong đó có: 319 trường mầm non; 299 trường tiểu học; 260 trường THCS; 44 trường THPT. Bên cạnh đó, các trường thuộc hệ thống ngoài công lập cũng đóng vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo của tỉnh. Phú Thọ hiện có 9 trường THPT ngoài công lập, 21 trường mầm non tư thục, 24 nhóm độc lập, tư thục.

    Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý các cấp được đảm bảo ổn định cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu, cơ bản đã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trước mắt và lâu dài. 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn đào tạo, tỷ lệ trên chuẩn dần được nâng lên, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo hiện nay.

    Cùng với những kết quả đạt được, công tác Giáo dục, Đào tạo và dạy nghề của tỉnh vẫn còn một số khó khăn hạn chế cần được khắc phục. Đó là, một số trường mầm non, tiểu học khu vực thành phố có tỷ lệ trẻ/lớp, số lớp/trường cao hơn so với quy định; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của một số trường còn thiếu và xuống cấp; tỷ lệ huy động trẻ dưới 3 tuổi ra lớp chưa đạt mục tiêu; đội ngũ giáo viên mầm non còn thiếu. Chất lượng giáo dục còn có sự chênh lệch giữa các địa bàn trong tỉnh. Chất lượng dạy và học ngoại ngữ còn nhiều hạn chế, triển khai dạy học Tiếng Anh chương trình mới còn nhiều bất cập do thiếu giáo viên đạt chuẩn theo quy định; tỷ lệ học sinh được học Tin học còn thấp. Chất lượng đào tạo một số trường dạy nghề chưa đáp ứng được yêu cầu; công tác hướng nghiệp, phân luồng học sinh sau THCS, THPT còn hạn chế. Một số cấp ủy, chính quyền cơ sở chưa thực sự vào cuộc, thiếu quyết liệt; một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên ngại thay đổi, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng được với yêu cầu đổi mới.

    Để tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 29, tỉnh đề ra một số nhiệm vụ và giải pháp sau: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của chính quyền các cấp đối với việc triển khai, thực hiện Nghị quyết số 29, Chương trình hành động số 44-CTr/TU của Tỉnh ủy Phú Thọ, nhất là tập trung vào các mục tiêu phấn đấu đến năm 2021. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc của các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, về tính tất yếu phải đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Triển khai thực hiện có hiệu quả Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2012 – 2021”, Đề án “Đẩy mạnh phong trào học tập suốt đời trong gia đình, dòng họ, cộng đồng đến năm 2021”, Đề án “Xóa mù chữ đến năm 2021” trên địa bàn tỉnh. Thực hiện chuẩn hoá, đảm bảo đồng bộ về cơ cấu đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý trong các cơ sở giáo dục, chuẩn bị các điều kiện tốt nhất về đội ngũ đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa và các nhiệm vụ khác về đổi mới giáo dục và đào tạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xem Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xi
  • Lịch Âm Ngày 4 Tháng 11 Năm 2021
  • Lịch Âm Ngày 4 Tháng 11 Năm 1981
  • Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam Số: 29
  • Giáo Dục Mầm Non 5 Năm Triển Khai Nghị Quyết 29: Bước Chuyển Mình Quan Trọng
  • Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xi Về Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Triển Khai Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 (Khóa Xi) Về Giáo Dục
  • Nghị Quyết 973/2015/ubtvqh13 Sửa Đổi Bảng Phụ Cấp Chức Vụ Đối Với Cán Bộ Lãnh Đạo Của Nhà Nước Và Đại Biểu Quốc Hội Hoạt Động Chuyên Trách, Bảng Lương Chuyên Môn, Nghiệp Vụ Ngành Tòa Án, Ngành Kiểm Sát Kèm Theo Nghị Quyết 730/2004/nq
  • Công Bố 7 Nghị Quyết Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội
  • Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Tăng Cường Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Hội Nghị Cán Bộ Toàn Quốc Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 (Khóa Xii) Về Xây Dựng, Chỉnh Đốn Đảng
  • Ngày 30/5/2019, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Kết luận số 51-KL/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    Kết luận đã chỉ rõ những kết quả bước đầu, cùng những mặt hạn chế, yếu kém sau 5 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI. Để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết, phát huy kết quả đạt được, khắc phục cơ bản những hạn chế, yếu kém, Ban Bí thư yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp: Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý của cấp ủy, chính quyền các cấp; sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả và đồng bộ giữa các ngành, các cấp và cả hệ thống chính trị trong thực hiện Nghị quyết. Đẩy mạnh công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, chú trọng giáo dục nhân cách đạo đức, lối sống, kiến thức pháp luật và ý thức công dân trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực; củng cố và nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, xóa mù chữ và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở; tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở; xây dựng xã hội học tập. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; bảo đảm các điều kiện cơ bản để thực hiện tốt các chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa mới. Tiếp tục đổi mới công tác quản lý; đẩy mạnh công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát; ngăn chặn, xử lý nghiêm những tiêu cực trong hoạt động giáo dục, đào tạo. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ trong các cơ sở giáo dục và đào tạo.

    Ban Bí thư cũng yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp cần tiếp tục tổ chức thực hiện tốt Nghị quyết và Kết luận này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tỉnh Ủy Tiền Giang Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Ix) Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”.
  • Huyện Uỷ Giồng Trôm: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khoá Ix) Về “chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới”
  • Quy Định Về Trách Nhiệm Nêu Gương Của Cán Bộ, Đảng Viên Trước Hết Là Ủy Viên Bộ Chính Trị, Ủy Viên Ban Bí Thư, Ủy Viên Ban Chấp Hành Trung Ương
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 8 Hoàn Thành Chương Trình Đề Ra
  • Tổ Chức Hội Nghị Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii
  • Bộ Gtvt Với Nghị Quyết Tw 8 Về Đổi Mới Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Mẫu Bìa Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Xii
  • Đảng Bộ Văn Phòng Tỉnh Ủy Học Tập Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 Và Tư Tưởng Hồ Chí Minh Chuyên Đề Năm 2021
  • Báo Cáo Tổng Kết 20 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 3 Khóa 8
  • Bế Mạc Hội Nghị Cán Bộ Toàn Quốc Học Tập, Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Xii)
  • Hội Nghị Toàn Quốc Học Tập Quán Triệt Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Xi)
  • Sự chăm lo của các đoàn thể, tổ chức xã hội, các cá nhân cho sự nghiệp giáo dục, truyền thống hiếu học của dân tộc và sự nỗ lực, ý thức trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, sự nghiệp giáo dục của nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng.

    Tuy nhiên, nước ta cũng đang đứng trước yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh, đòi hỏi phải xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao trong thời gian tới. Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là yêu cầu cấp thiết để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đưa đất nước cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2021 và tạo tiền đề vững chắc cho phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.

    Trong bối cảnh đó, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020, Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (sau đây gọi tắt là Nghị quyết Trung ương 8).

    Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của Nghị quyết Trung ương 8 đối với sự phát triển nguồn nhân lực của cả nước nói chung và đối với ngành GTVT nói riêng, chỉ chưa đầy nửa tháng sau khi có Nghị quyết Trung ương 8, ngày 18/11/2013, Ban cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ).

    Mục đích của Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải nhằm quỏn triệt, thực hiện quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đó đề ra trong Nghị quyết số 29-NQ/TW đối với ngành Giao thông vận tải. Chương trình hành động cũng đặt ra các yêu cầu đối với các hệ đao tạo ngành GTVT; cụ thể là:

    – Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hỡnh thành hệ thống giỏo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trỡnh độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ đối với ngành Giao thông vận tải, góp phần cung cấp nhân lực cho thị trường lao động trong nước và quốc tế.

    – Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trỡnh độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Củng cố các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc, cơ cấu ngành nghề và trỡnh độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực ngành Giao thông vận tải.

    – Đối với các nội dung đào tạo, huấn luyện, bồi dưỡng do Bộ Giao thụng vận tải thực hiện quản lý nhà nước (đào tạo lái xe cơ giới đường bộ, điều khiển phương tiện thủy nội địa, huấn luyện thuyền viên…), bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trỡnh độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống.

    Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải đã đề ra 9 nhiệm vụ nhằm triển khai có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 8, bao gồm:

    1. Tăng cường sự lónh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo trong ngành Giao thông vận tải.

    2. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học.

    3. Đổi mới căn bản hỡnh thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan.

    4. Thực hiện các nhiệm vụ góp phần hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xó hội học tập.

    5. Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xó hội của cỏc cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng.

    6. Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo.

    7. Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xó hội; nõng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo

    8. Nõng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý

    9. Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo.

    Kèm theo các nhiệm vụ nêu trên, Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải cũng đề ra các giải pháp hết sức cụ thể nhằm thực hiện có hiệu quả từng nhiệm cụ của Chương trình.

    Căn cứ nhiệm vụ và giải pháp nêu ra trong Chương trình, các quan, đơn vị trong ngành chủ động triển khai Chương trỡnh hành động phù hợp với điều kiện thực tế của cơ quan, đơn vị mỡnh; Trong đó, đặc biệt quan tâm thực hiện:

    – Phối hợp với các cấp ủy đảng tổ chức việc học tập, quán triệt tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động thực hiện Nghị quyết, Chương trỡnh hành động của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xó hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế tại cơ quan, đơn vị.

    – Căn cứ Chương trỡnh hành động của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải xây dựng kế hoạch triển khai, thực hiện phù hợp với tỡnh hỡnh thực tế tại cơ quan, đơn vị mỡnh trước ngày 15/12/2013 và tổ chức triển khai thực hiện tại cơ quan, đơn vị.

    Riêng đối với các trường, học viện thuộc Bộ Giao thông vận tải, ngoài việc triển khai những công việc nêu trên, căn cứ các quy hoạch, chiến lược phát triển của ngành GTVT và tình hình thực tế tại đơn vị, các trường, học viện xây dựng Chiến lược phát triển của trường, học viện đến năm 2021 và tầm nhìn đến năm 2030; theo đó, cập nhật các quan điểm, mục tiêu, giải pháp chỉ đạo của Nghị quyết Trung ương 8, phù hợp với Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thông vận tải. Các đề án chiến lược phát triển của các trường, học viện phảI được hoàn thiện trước ngày 31/01/2014 và trình cấp trên trực tiếp quản lý phê duyệt.

    Ngay sau khi được quyết định thành lập, ngày 27/12/2013, Ban Chỉ đạo thực hiện Chương trình hành động số 302-CTr/BCSĐ của Ban Cán sự Đảng Bộ Giao thụng vận tải đã họp phiên toàn thể đầu tiên nhằm thống nhất hành động và đề ra phương hướng, kế hoạch, nhiệm vụ cụ thể của Ban trong năm 2014 và những năm tiếp theo.

    Với sự khẩn trương, quyết liệt chỉ đạo của Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ GTVT và sự thực hiện đồng bộ, quyết tâm của các cấp ủy Đảng, các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ GTVT, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng, Ngành GTVT sẽ thực hiện thắng lới Nghị quyết Nghị quyết Trung ương 8, về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nghị Lần Thứ 8 Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng (Khóa Ix): Phát Huy Trí Tuệ Để Có Những Quyết Nghị Đúng Đắn, Khả Thi
  • Huyện Ủy Kim Sơn Triển Khai Thực Hiện Tốt Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Ix
  • Cần Thơ Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa Ix
  • Tỉnh Ủy: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Ix)
  • Thành Ủy Nam Định Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Ix) Về
  • Nghị Quyết 51/2017/qh14 Về Việc Đổi Mới Chương Trình, Sách Giáo Khoa Giáo Dục Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Thường Xuyên Của Giáo Viên Thcs Năm Học 2021
  • Bài Thu Hoach Bdtx Modul 1,2,3,4 2021
  • Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Cho Ý Kiến Về Việc Thực Hiện, Triển Khai Nghị Quyết Số 88/2014/qh13 Của Quốc Hội Vể Đổi Mới Chương Trình, Sách Giáo Khoa Giáo Dục Phổ Thông
  • Ủy Ban Dân Tộc Và Hội Đồng Dân Tộc Của Quốc Hội Họp Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 88/2019/qh14 Của Quốc Hội
  • Nghị Quyết 88/2019/qh14 Về Phê Duyệt Đề Án Tổng Thể Phát Triển Kinh Tế
  • NGHỊ QUYẾT ĐIỀU CHỈNH LỘ TRÌNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI THEO NGHỊ QUYẾT SỐ 88/2014/QH13 NGÀY 28 THÁNG 11 NĂM 2014 CỦA QUỐC HỘI VỀ ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH, SÁCH GIÁO KHOA GIÁO DỤC PHỔ THÔNG QUỐC HỘI

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    Căn cứ Luật Giáo dục số 38/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 44/2009/QH12;

    QUYẾT NGHỊ: Điều 1

    1. Điều chỉnh lộ trình thực hiện việc triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo quy định tại khoản 4 Điều 2 của Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

    2. Thời gian bắt đầu triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, đảm bảo tuần tự trong từng cấp học, chậm nhất từ năm học 2021-2021 đối với lớp đầu cấp của cấp tiểu học, từ năm học 2021-2022 đối với lớp đầu cấp của cấp trung học cơ sở và từ năm học 2022-2023 đối với lớp đầu cấp của cấp trung học phổ thông.

    Điều 2

    1. Chính phủ chỉ đạo việc xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới, bảo đảm không tăng kinh phí; đồng thời, bố trí đủ nguồn lực, chuẩn bị đồng bộ các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, cơ sở vật chất để triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới. Sau khi chuẩn bị đủ các điều kiện, Chính phủ báo cáo Quốc hội thời điểm áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới theo lộ trình quy định tại khoản 2 Điều 1 của Nghị quyết này.

    2. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận thực hiện giám sát, phản biện xã hội đối với việc triển khai áp dụng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới.

    Nghị quyết này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2021.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu 1. Ct Gdpt Là Gì? Thực Hiện Luật Giáo Dục Và Nghị Quyết Số 88/2014/qh13 Ngày 28 Tháng 11 Năm 2014 Của Quốc Hội Về Đ…
  • Chuẩn Bị Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Quốc Hội Về Đổi Mới Chương Trình, Sgk
  • Resolution 78/2019/qh14 Program For Development Of Laws And Ordinances In 2021
  • Nghị Quyết 128/2020/qh14 2021 Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước Năm 2021
  • Lương, Phụ Cấp Của 09 Nhóm Đối Tượng Sẽ Tăng Mạnh Từ 01/7/2020
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xi Về Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo 29Nqtw Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Trương Ương 8 Khóa 11 Về Chiến Lược Quốc Phòng
  • Binh Chủng Công Binh Nâng Cao Chất Lượng Tổng Hợp Theo Nghị Quyết Trung Ương 8 (Khóa Xi)
  • Nghị Quyết 629/2019/ubtvqh14 Hướng Dẫn Hoạt Động Của Hội Đồng Nhân Dân Do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành
  • Nghị Quyết 1211/2016/ubtvqh13 Về Tiêu Chuẩn Của Đơn Vị Hành Chính Và Phân Loại Đơn Vị Hành Chính Do Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội Ban Hành
  • Nghị Quyết 1211/2016/ubtvqh13 Về Đơn Vị Hành Chính Và Phân Loại Đơn Vị Hành Chính
  • Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI

    về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

    Ngày 4-11-2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI Nghị quyết số 29-NQ/TW) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trường Mầm non Hoa Hồng xin giới thiệu toàn văn Nghị quyết:

    A – Tình hình và nguyên nhân

    1- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướng chiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạo nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa. Số lượng học sinh, sinh viên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp. Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý. Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước. Xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh; hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung của toàn xã hội. Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định.

    Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dục trung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kết quả xóa mù chữ cho người lớn. Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo.

    Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tận tụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.

    2- Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp. Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành. Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất, kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹ năng làm việc. Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất.

    Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp.

    Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả. Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưa phù hợp. Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn.

    3- Những hạn chế, yếu kém nói trên do các nguyên nhân chủ yếu sau:

    – Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là quan điểm “giáo dục là quốc sách hàng đầu” còn chậm và lúng túng. Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục-đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội.

    B- Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

    I- Quan điểm chỉ đạo

    1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội.

    2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học.

    Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.

    3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.

    4- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.

    7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.

    1- Mục tiêu tổng quát

    Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.

    Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.

    2- Mục tiêu cụ thể

    – Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1. Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2021, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2021. Từng bước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non. Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp với điều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục.

    – Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao động trong nước và quốc tế.

    – Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học. Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một số trường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu phát triển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế.

    – Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền vững. Hoàn thiện mạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học và giáo dục từ xa.

    1- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo

    Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận cao coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu. Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục; gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình.

    Đổi mới công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục.

    Coi trọng công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong đội ngũ giáo viên. Bảo đảm các trường học có chi bộ; các trường đại học có đảng bộ. Cấp ủy trong các cơ sở giáo dục-đào tạo phải thực sự đi đầu đổi mới, gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân về việc tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo. Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ, dựa vào đội ngũ giáo viên, viên chức và học sinh, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương để xây dựng nhà trường.

    Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch dài hạn phát triển nguồn nhân lực, dự báo nhu cầu về số lượng, chất lượng nhân lực, cơ cấu ngành nghề, trình độ. Trên cơ sở đó, đặt hàng và phối hợp với các cơ sở giáo dục, đào tạo tổ chức thực hiện.

    Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm các hiện tượng tiêu cực kéo dài, gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo.

    2- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học

    Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo, cần xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra của từng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo. Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục và đào tạo; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo.

    Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp. Dạy ngoại ngữ và tin học theo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học. Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viết của các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài.

    Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người.

    Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận. Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và của xã hội.

    Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng giảm áp lực và tốn kém cho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.

    Đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở kiến thức, năng lực thực hành, ý thức kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp. Có cơ chế để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia vào việc đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo.

    4- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập

    Trước mắt, ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay. Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở; định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông. Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới.

    Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Thống nhất tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra. Đẩy mạnh giáo dục nghề nghiệp sau trung học phổ thông, liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Tiếp tục sắp xếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiên cứu khoa học. Thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng, thực hành. Hoàn thiện mô hình đại học quốc gia, đại học vùng; củng cố và phát triển một số cơ sở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.

    Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học và trình độ đào tạo. Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Hướng tới có loại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư.

    Đa dạng hóa các phương thức đào tạo. Thực hiện đào tạo theo tín chỉ. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh. Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học.

    Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam . Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và các thành tựu khoa học-công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo.

    Các cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo địa phương tham gia quyết định về quản lý nhân sự, tài chính cùng với quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp.

    Hoàn thiện cơ chế quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam ; quản lý học sinh, sinh viên Việt Nam đi học nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước và theo hiệp định nhà nước.

    Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồng trường. Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.

    6- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo

    Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo. Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm. Giảng viên cao đẳng, đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm. Cán bộ quản lý giáo dục các cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý.

    Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; ưu tiên đầu tư xây dựng một số trường sư phạm, trường sư phạm kỹ thuật trọng điểm; khắc phục tình trạng phân tán trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo. Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng để tuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm.

    Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp.

    Có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinh nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác. Có chế độ ưu đãi và quy định tuổi nghỉ hưu hợp lý đối với nhà giáo có trình độ cao; có cơ chế miễn nhiệm, bố trí công việc khác hoặc kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ. Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng.

    Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Có chính sách hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập và nghiên cứu khoa học. Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ… Tạo điều kiện để chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước.

    Triển khai các giải pháp, mô hình liên thông, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, nhất là các trường đại học với các tổ chức khoa học và công nghệ, đặc biệt là các viện nghiên cứu.

    7- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo

    Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách. Từng bước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào tạo công lập. Hoàn thiện chính sách học phí.

    Đối với giáo dục mầm non và phổ thông, Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sở giáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định. Khuyến khích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực đô thị.

    Đối với giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số trường đại học, ngành đào tạo trọng điểm, trường đại học sư phạm. Thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mức kinh tế-kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình cơ sở đào tạo), bảo đảm chi trả tương ứng với chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo. Minh bạch hóa các hoạt động liên danh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công ; bảo đảm sự hài hòa giữa các lợi ích với tích luỹ tái đầu tư.

    Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; khuyến khích liên kết với các cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín. Có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động và cơ sở giáo dục, đào tạo. Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng. Tiến tới bình đẳng về quyền được nhận hỗ trợ của Nhà nước đối với người học ở trường công lập và trường ngoài công lập. Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay để học. Khuyến khích hình thành các quỹ học bổng, khuyến học, khuyến tài, giúp học sinh, sinh viên nghèo học giỏi. Tôn vinh, khen thưởng xứng đáng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc và đóng góp nổi bật cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo.

    Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo. Xây dựng cơ chế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình trường. Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục, đào tạo. Thực hiện định kỳ kiểm toán các cơ sở giáo dục-đào tạo.

    Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dự ng trường. Từng bước hiện đại h óa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin. Bảo đảm đến năm 2021 số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học.

    Phân định rõ ngân sách chi cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học với ngân sách chi cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang. Giám sát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc sử dụng kinh phí.

    8- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý

    Quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học quản lý, tập trung đầu tư nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục. Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục.

    Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các cơ sở giáo dục đại học. Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất, kinh doanh. Ưu tiên đầu tư phát triển khoa học cơ bản, khoa học mũi nhọn, phòng thí nghiệm trọng điểm, phòng thí nghiệm chuyên ngành, trung tâm công nghệ cao, cơ sở sản xuất thử nghiệm hiện đại trong một số cơ sở giáo dục đại học. Có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học.

    Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ, hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế, phát minh trong các cơ sở đào tạo. Hoàn thiện cơ chế đặt hàng và giao kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ cho các cơ sở giáo dục đại học. Nghiên cứu sáp nhập một số tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ với các trường đại học công lập.

    Ưu tiên nguồn lực, tập trung đầu tư và có cơ chế đặc biệt để phát triển một số trường đại học nghiên cứu đa ngành, đa lĩnh vực sớm đạt trình độ khu vực và quốc tế, đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh với các cơ sở đào tạo và nghiên cứu hàng đầu thế giới.

    9- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo

    Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa và thành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại. Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện các cam kết quốc tế về giáo dục, đào tạo.

    Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản và khoa học mũi nhọn, đặc thù. Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phí ngoài ngân sách nhà nước. Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín, chủ yếu trong giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo.

    Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam. Tăng cường giao lưu văn hóa và học thuật quốc tế.

    3- Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản dưới luật; xây dựng kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.

    Thành lập Ủy ban quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Ủy ban.

    4- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 Khóa Xi
  • Quán Triệt Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 8 (Khóa Xi)
  • Quán Triệt Nghị Quyết Tw 8 Về Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Tình Hình Mới
  • Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 11 Ve Bao Ve To Quoc
  • Bài Thu Hoạch Nqtw8 Khóa 11
  • Quảng Ninh Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29 Nq/tw Về Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Thực Hiện Kết Luận Số 55
  • Đảng Bộ Văn Phòng Tỉnh Ủy Học Tập Nghị Quyết Số 52
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 52
  • Ban Thường Vụ Tỉnh Ủy Ban Hành Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 52
  • Thành Ủy Triển Khai Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 52
  • Quảng Ninh sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29 NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

    QNP – Sau 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, công tác giáo dục đào tạo ở Quảng Ninh đã đạt được một số thành tựu, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước.

    Công tác giáo dục đào tạo ở Quảng Ninh đã đạt được một số thành tựu, góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho quê hương, đất nước.

    Ngay từ những năm đầu triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, Quảng Ninh đã ban hành nhiều văn bản cụ thể hóa nội dung Nghị quyết phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Đồng thời, chỉ đạo các cấp ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội và ngành giáo dục từ tỉnh đến cơ sở tổ chức phổ biến, tuyên truyền sâu rộng nội dung Nghị quyết, Chương trình hành động của tỉnh, của huyện đến cán bộ, đảng viên, nhân dân. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên, giáo viên về vai trò, tầm quan trọng của việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo trong việc thúc đẩy kinh tế, xã hội của tỉnh phát triển.

    Sau 5 năm qua, công tác giáo dục đào tạo của Quảng Ninh đã đạt được kết quả đáng khích lệ. Quy mô trường lớp được mở rộng. Đến nay, toàn tỉnh có 218 trường mầm non, 179 trường tiểu học, 186 trường trung học cơ sở, 59 trường trung học phổ thông, 6 trường DTNT, 14 trung tâm GDNN&GDTX, 16 trường đại học, cao đẳng và TCCN, 186 trung tâm học tập cộng đồng ở cấp xã, 86 trung tâm đào tạo tin học, ngoại ngữ. Tỉnh luôn giữ vững đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập tiểu học mức độ 3, phổ cập giáo dục trung học cơ sở mức độ 2. Công tác xóa mù chữ được quan tâm chỉ đạo tích cực, tỷ lệ người trong độ tuổi từ 15-25 biết chữ mức độ 2 đạt 99,58%, tỷ lệ người trong độ tuổi 15-60 biết chữ mức độ 2 đạt 97,97%. Công tác hướng nghiệp, dạy nghề có chuyển biến tích cực, ngày càng hiệu quả và thực chất. Chất lượng giáo dục mũi nhọn, giáo dục đại trà của tỉnh luôn đạt cao. Tỷ lệ học sinh có học lực khá, giỏi các cấp tăng hàng năm. Mỗi năm có hằng trăm giáo viên, học sinh giành giải trong các hội thi, cuộc thi cấp tỉnh, cấp quốc gia…

    Giờ thực hành của sinh viên Trường Đại học Hạ Long.

    Để đạt được kết quả trên, các cấp ủy Đảng, chính quyền và ngành giáo dục của Quảng Ninh đã luôn đặt mục tiêu chất lượng giáo dục lên hàng đầu, từ đó tập trung chỉ đạo tốt việc triển khai thực hiện chủ trương đổi mới nội dung, chương trình giáo dục phổ thông, đổi mới phương pháp giáo dục theo chuẩn kiến thức kỹ năng nhằm phát huy tư duy sáng tạo, tích cực của học sinh, đảm bảo hài hòa đức, trí, thể, mỹ…

    Song song đó, các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh cũng chủ động tổ chức các hình thức học tập đa dạng, phù hợp với đối tượng, tâm lý lứa tuổi, trong đó chú trọng các hoạt động ngoại khóa, nhất là các hoạt động giáo dục đạo đức, chính trị, pháp luật, giáo dục kỹ năng sống, thẩm mỹ, thể chất, truyền thống lịch sử và địa lý… nhằm hình thành nhân cách, lối sống lành mạnh và nâng cao năng lực hoạt động xã hội cho người học.

    Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên các ngành học, bậc học không ngừng được củng cố, kiện toàn theo yêu cầu đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chuẩn hóa về trình độ đào tạo, đáp ứng được yêu cầu đổi mới công tác quản lý giáo dục, đổi mới dạy học. Đến nay, toàn tỉnh có trên 1.300 tiến sĩ và thạc sĩ, trên 12.500 giáo viên, cán bộ quản lý các cấp học có trình độ đại học. Thực hiện chính sách thu hút nguồn nhân lực cao, đến nay toàn tỉnh đã thu hút được 14 tiến sĩ được đào tạo hoặc đang giảng dạy ở nước ngoài.

    Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học của ngành học, cấp học được quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hóa, kiên cố hóa, hiện đại hóa.

    Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học của ngành học, cấp học được quan tâm đầu tư theo hướng chuẩn hóa, kiên cố hóa, hiện đại hóa. Trong 5 năm toàn tỉnh đã kiên cố hóa trường lớp đạt trên 90%; trường đạt chuẩn quốc gia các cấp học đạt 80,8%; thiết bị dạy học các cấp được tăng cường, đặc biệt đã trang bị được trên 10% số trường phổ thông được ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến vào đổi mới phương pháp dạy và học.

    Công tác thi đua, khen thưởng từng bước được đổi mới, bảo đảm kịp thời, chính xác, công khai, minh bạch. Các phong trào thi đua của ngành như phong trào “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được phát động trở thành nhiệm vụ thường xuyên đối với các cơ sở giáo dục.

    Bên cạnh những thành tựu đạt được, việc thực hiện Nghị quyết số 29 NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở Quảng Ninh còn một số hạn chế. Đó là, công tác tuyên truyền, học tập, quán triệt nghị quyết ở một số nơi chưa thực sự hiệu quả; một số chỉ tiêu thực hiện nghị quyết chưa đạt kế hoạch; việc tinh giản biên chế, rà soát, sắp xếp, bố trí lại đội ngũ công chức, giáo viên, nhân viên, phân công, xác định rõ vị trí việc làm đảm bảo tinh gọn, hiệu quả tại một số đơn vị thực hiện chậm, chưa đáp ứng yêu cầu theo chỉ đạo của tỉnh; công tác huy động các nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục đào tạo chưa tương xứng với điều kiện của tỉnh.

    Công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội có sự phối hợp chặt chẽ, nhất là trong giáo dục đạo đức, nhân cách, giúp đỡ học sinh nghèo và học sinh có nguy cơ bỏ học, quản lý, giáo dục các em ngoài giờ học ở trường.

    Hy vọng rằng, với sự vào cuộc quyết liệt của các cấp ủy Đảng, chính quyền, sự nỗ lực của ngành giáo dục, Quảng Ninh tiếp tục khẳng định vị trí trong phong trào giáo dục của cả nước, góp phần quan trọng cùng đảng bộ, chính quyền và nhân dân các dân tộc trong toàn tỉnh thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Thực Hiện Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Mới Tập 1
  • Ueh Tiếp Đoàn Khảo Sát Liên Ngành Của Ban Tuyên Giáo Trung Ương Do Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Làm Trưởng Đoàn
  • Kế Hoạch Phát Động Phong Trào Thi Đua Chào Mừng Các Ngày Lễ Lớn Của Đất Nước Và Tổ Chức Công Đoàn, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Chủ Yếu Để Triển Khai Thực Hiện Tốt Nghị Quyết Số 29
  • Thông Báo: Kế Hoạch Phát Động Phong Trào Thi Đua Chào Mừng Các Ngày Lễ Lớn, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Kế Hoạch Tuyên Truyền, Quán Triệt Các Nghị Quyết Về Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8.
  • Bản Kiểm Điểm Cá Nhân Theo Nq Tw4 (Mới Nhất)
  • Hệ Thống Biểu Mẫu Và Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Về Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Kinh Tế, Lao Động
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Nội Dung Nghị Quyết Trung Ương 11 Ban Chấp Hành Tw Khóa Xii Của Đảng Và Hướng Dẫn Tổ Chức Đại Hội Đảng Các Cấp Sắp Tới
  • Học Tập, Quán Triệt Nội Dung Hội Nghị Trung Ương 12
  • về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo

    Thực hiện Kế hoạch số 48/KH-GD&ĐT ngày 06/02/2017 của Phòng Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Khánh Sơn về đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT trên địa bàn huyện, Trường Trung học cơ sở Ba Cụm Bắc xây dựng kế hoạch tiếp tục tuyên truyền, quán triệt các nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT trong nhà trường, cụ thể như sau:

    I. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU 1. Mục đích

    Tiếp tục tổ chức các hoạt động tuyên truyền sâu rộng để cán bộ công chức, viên chức (CBCCVC), cha mẹ học sinh và học sinh trong toàn trường có nhận thức đúng, sâu sắc về quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT; từ đó tạo sự thống nhất trong nhận thức và trách nhiệm của mỗi CBCCVC trong việc tổ chức thực hiện có hiệu quả nội dung các nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT, tạo sự đồng thuận cao, huy động sự vào cuộc của toàn xã hội trong việc thực hiện lộ trình đổi mới GD&ĐT trên địa bàn huyện, tỉnh, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    2. Yêu cầu

    – Công tác tuyên truyền phải được thực hiện thường xuyên, có chất lượng và hiệu quả. Nội dung tuyên truyền phải đầy đủ; hình thức tuyên truyền đa dạng, phong phú, sáng tạo và phù hợp với tình hình của nhà trường.

    – Kết hợp công tác tuyên truyền với việc phổ biến, tuyên truyền về đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về GD&ĐT, với các mục tiêu về GD&ĐT được nêu tại Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2021-2020, với thực hiện các phong trào thi đua, các văn bản chỉ đạo của ngành.

    II. NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN 1. Tập trung tuyên truyền nội dung các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ, Kế hoạch hành động của ngành GD&ĐT

    – Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Nghị quyết số 29-NQ/TW);

    – Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;

    – Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông;

    – Quyết định số 150/QĐ-TTg ngày 21/01/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Truyền thông về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo và dạy nghề;

    – Quyết định số 732/QĐ-TTg ngày 29/4/2016 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục đápứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2021-2020, định hướng đến năm 2025”;

    – Kế hoạch hành động của ngành giáo dục triển khai Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ban hành kèm theo Quyết định số 2653/QĐ-BGDĐT ngày 25/7/2014 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT với các đề án, kế hoạch kèm theo;

    – Những văn bản chỉ đạo thực hiện đổi mới trên các lĩnh vực khác.

    2. Tuyên truyền các văn bản của tỉnh, của huyệnvà ngành giáo dục tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW trên địa bàn tỉnh

    Sở Giáo dục và Đào tạo đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quán triệt, triển khai sâu rộng tới các phòng giáo dục và đào tạo huyện, thị, thành, các cơ sở giáo dục trong toàn tỉnh và toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong toàn ngành các văn bản chỉ đạo về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo:

    – Chương trình hành động số 20-CTr/TU ngày 24 tháng 4 năm 2014 của Tỉnh ủy Khánh Hòa về việc thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Hội nghị TW 8 (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;

    – Kế hoạch số 5369/KH-UBND ngày 04 tháng 9 năm 2014 của UBND tỉnh Khánh Hòa về việc thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế;

    – Kế hoạch số 1082 /KH-SGD&ĐT ngày 10 tháng 9 năm 2014 của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện Kế hoạch số 5369/KH-UBND ngày 04/9/2014 của UBND tỉnh Khánh Hòa.

    3. Một số nội dung khác

    – Tuyên tuyền những đổi mới về nội dung, chương trình, cách tổ chức hoạt động giáo dục, những mô hình giáo dục mới VNEN; những phương pháp dạy học tích cực, đổi mới nội dung và hình thức thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục như việc triển khai thực hiện Thông tư 30 về đánh giá học sinh tiểu học, những điểm mới trong Quy chế thi THPT quốc gia và tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2021.

    – Những chuyển biến trong chất lượng và hiệu quả giáo dục khi thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện tại địa phương, đơn vị.

    – Tuyên truyền về những tập thể và cá nhân tiêu biểu, những cách làm hay, sáng tạo của địa phương, đơn vị trong việc thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT.

    III. HÌNH THỨC TUYÊN TRUYỀN

    1. Thông qua các hội nghị chuyên đề;

    2. Lồng ghép trong các cuộc họp, hội nghị, tập huấn, sinh hoạt chuyên môn, Đảng, đoàn thể trong nhà trường;

    3. Lồng ghép trong các tiết chào cờ đầu tuần, sinh hoạt ngoại khóa, hoạt động ngoài giờ lên lớp;

    4. Chuyển các nội dung cần tuyên truyền qua email cá nhân để CBCCVC nghiên cứu, quán triệt và thực hiện.

    5. Tuyên truyền qua hệ thống tài liệu, trên Trang thông tin điện tử của của đơn vị; trên các chương trình truyền thanh, bản tin của đơn vị.

    III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1. Hiệu trưởng tổ chức triển khai, quán triệt Kế hoạch tới toàn bộ CBCCVC trong nhà trường.

    2. Hiệu trưởng phối hợp với các tổ chức đoàn thể trong trường tổ chức tuyên truyền, quán triệt các Nghị quyết về đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT đến toàn bộ CBCCVC, cha mẹ học sinh và học sinh trong nhà trường; tích hợp báo cáo kết quả triển khai thực hiện trong các báo cáo định kỳ sơ kết, tổng kết năm học về Phòng GD&ĐT.

    3. CBCCVC trong nhà trường c ăn cứ Kế hoạch của trường nghiêm túc tham gia học tập nghiên cứu nội dung các Nghị quyết trên.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ông Huỳnh Tấn Việt Xin Thôi Chức Chủ Tịch Hđnd Tỉnh Phú Yên
  • Quy Định Về Án Treo
  • Tổng Hợp Các Quy Định Về Án Treo
  • Bộ Tt&tt Được Giao Những Nhiệm Vụ Gì Theo Nghị Quyết Mới Về Chính Phủ Điện Tử?
  • Quyết Định Của Thủ Tướng Chính Phủ
  • Cần Có Nghị Quyết Mới Về Đổi Mới Chương Trình, Sách Giáo Khoa

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Hội Cần Có Nghị Quyết Về Đổi Mới Chương Trình, Sách Giáo Khoa
  • Thông Qua Nghị Quyết Đổi Mới Chương Trình, Sách Giáo Khoa
  • 7 Thay Đổi Lớn Về Lương Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Từ Năm 2021
  • Trình Bộ Chính Trị Đề Án Tiền Lương Mới, Có Thể Cải Cách Tiền Lương Từ 2021
  • 5 Bảng Lương Mới Của Cán Bộ, Công Chức, Viên Chức Từ Năm 2021
  • Cần thiết phải đổi mới chương trình, sách giáo khoa Thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển báo cáo tại phiên họp

    Tờ trình nêu rõ: Thực tiễn hoạt động giáo dục của Ngành và kết quả giám sát việc thực hiện chính sách, pháp luật về đảm bảo chất lượng và chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông của Ủy ban thường vụ Quốc hội đã chỉ rõ những hạn chế, bất cập của chương trình, sách giáo khoa và của quá trình xây dựng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông hiện hành.

    Theo thông lệ quốc tế, sau một thời gian (chu kỳ) nhất định, chương trình giáo dục cần được xem xét, thay đổi. Do sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ và đời sống hiện đại, chu kỳ của một chương trình giáo dục ngày càng rút ngắn.

    Theo đó, cuối thế kỷ XX thường là từ 7 đến 10 năm, đầu thế kỷ XXI rút xuống từ 5 đến 7 năm, và hiện nay ở nhiều nước chu kỳ này đã ngắn hơn. Trong khi đí, chương trình và sách giáo khoa hiện hành của Việt Nam đã sử dụng 11 năm.

    Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI xác định: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học. Tích cực chuẩn bị để từ sau năm 2021 thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới”.

    Nghị quyết của Hội nghị lần 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT cũng đã khẳng định các mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, những nhiệm vụ và giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT.

    Cụ thể: “Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội”.

    Trong đó: “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.

    Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

    Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2021.

    Đảm bảo cho học sinh có trình độ THCS (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau THCS; THPT phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn sau phổ thông có chất lượng. Nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2021″.

    Những quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước nêu trên vừa thể hiện tầm quan trọng của sự nghiệp giáo dục nói chung và chương trình giáo dục phổ thông nói riêng, vừa là cơ sở pháp lý để thực hiện xây dựng chương trình giáo dục phổ thông mới giai đoạn sau năm 2021…

    Với bối cảnh và thực trạng trên, giáo dục phổ thông Việt Nam nói chung và chương trình giáo dục phổ thông nói riêng cần được đổi mới một cách căn bản, toàn diện ở tất cả những vấn đề lớn, cốt lõi để nâng cao chất lượng giáo dục, chất lượng nguồn nhân lực và thực hiện các yêu cầu mà Nghị quyết của Đảng đã nêu.

    Đổi mới chương trình, sách giáo khoa là một công việc trọng đại, cần huy động trí tuệ của nhiều cá nhân và tập thể; đầu tư nhiều nguồn lực; cần có sự đồng tình, thống nhất phối hợp của nhiều cơ quan, ban ngành và các tổ chức xã hội.

    Với quy mô, mức độ và tính chất của việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông như trên, rất cần có Nghị quyết mới của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

    Đồng thời, đề nghị nhấn mạnh yêu cầu và định hướng đổi mới đối với 4 vấn đề: Mục tiêu của chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2021; Cấu trúc, nội dung giáo dục; Phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục; Kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục…

    Thường trực Ủy ban cho rằng Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa phổ thông sau năm 2021 đề xuất thiết kế chương trình theo hướng tích hợp mạnh ở cấp tiểu học và cấp THCS với các môn học tích hợp theo các lĩnh vực hoặc liên ngành, dẫn tới việc thay đổi trong cơ cấu các môn học và cơ cấu đội ngũ giáo viên theo các môn học. Vì vậy, cần thể hiện nội dung này trong Dự thảo Nghị quyết.

    Bên cạnh đó, Thường trực Ủy ban nhất trí với chủ trương có một số sách giáo khoa cho mỗi môn học. Để thực hiện chủ trương này, cần có bộ chương trình chuẩn đủ chi tiết với những chuẩn kiến thức, kỹ năng cụ thể và những phẩm chất cần thiết khác; đồng thời cần ban hành bộ tiêu chí đánh giá sách giáo khoa.

    Bộ GD&ĐT tổ chức biên soạn một bộ sách giáo khoa và khuyến khích các tổ chức, cá nhân biên soạn một số sách giáo khoa khác cho các môn học, Bộ GD&ĐT thẩm định và cho phép sử dụng trong các cơ sở giáo dục phổ thông.

    Về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và đầu tư cơ sở vật chất – kỹ thuật nhà trường, Thường trực Ủy ban đề nghị đưa vào Nghị quyết của Quốc hội một số quy định cần thiết nhằm phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện chương trình, sách giáo khoa phổ thông sau năm 2021;

    Sắp xếp lại hệ thống các trường, khoa sư phạm và cơ sở đào tạo giáo viên phổ thông khác; ban hành cơ chế, chính sách đặc thù đối với các trường, khoa sư phạm để nâng cao chất lượng đào tạo, đặc biệt là đào tạo giáo viên chất lượng cao và nghiên cứu khoa học giáo dục;

    Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, đánh giá, sử dụng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục; chế độ, chính sách ưu đãi nhằm thu hút người có năng lực, trình độ về làm công tác giảng dạy, quản lý tại các trường, khoa sư phạm và các cơ sở giáo dục phổ thông…

    Về lộ trình triển khai thực hiện đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau năm 2021, Thường trực Ủy ban nhất trí về cơ bản với kế hoạch triển khai do Bộ GD&ĐT đề xuất.

    Tuy nhiên lộ trình này cần được quy định trong Nghị quyết để có cơ sở lập kế hoạch chuẩn bị các điều kiện bảo đảm thực hiện chương trình, sách giáo khoa mới, như: đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng dạy học…

    Dự kiến lộ trình triển khai trong dự thảo Nghị quyết mới của Quốc hội ghi rõ: “Việc bắt đầu áp dụng chương trình đổi mới chỉ được thực hiện ở những trường đã có đủ điều kiện về giáo viên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất và trang thiết bị giáo dục. Những trường chưa đủ điều kiện phải nhanh chóng bổ sung để có đủ điều kiện áp dụng chương trình mới”.

    Về việc này, Thường trực Ủy ban đề nghị cần đánh giá điều kiện về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý và cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục để xác định kế hoạch triển khai đổi mới chương trình, sách giáo khoa cụ thể cho từng trường.

    Nhà nước quy định những điều kiện tối thiểu để thực hiện phần bắt buộc của chương trình, sách giáo khoa mới và ưu tiên tập trung sớm bổ sung điều kiện đối với những trường gặp khó khăn. Nghị quyết cần quy định thời hạn chậm nhất toàn quốc áp dụng chương trình, sách giáo khoa phổ thông mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nhìn Lại 25 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 10 Của Bộ Chính Trị, Khóa Vi Về Đổi Mới Quản Lý Kinh Tế Nông Nghiệp
  • Nghị Quyết 42 Của Chính Phủ
  • Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Ở Lai Châu Theo Tinh Thần Nghị Quyết Trung Ương Iv Khóa Xii
  • Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 (Khoá Xii) Về Tiếp Tục Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng
  • Toàn Văn Nghị Quyết Tw 4 Về Tiếp Tục Đổi Mới Mô Hình Tăng Trưởng Của Nền Kinh Tế
  • Nghị Quyết 88/2014/qh13 Về Đổi Mới Chương Trình, Sách Giáo Khoa Giáo Dục Phổ Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết Số 24 Về Tôn Giáo
  • Nghị Quyết Số 25 Về Tôn Giáo
  • 7 Nhóm Giải Pháp Đổi Mới Toàn Diện Giáo Dục Đại Học Vn
  • Tận Dụng Hợp Tác Quốc Tế Trong Giáo Dục Đại Học Việt Nam (2 Kỳ)
  • Tiếp Tục Đổi Mới, Sắp Xếp Tổ Chức Bộ Máy Của Hệ Thống Chính Trị
  • tusachluat.vn

    Về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông

    QUỐC HỘI

    NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    Căn cứ Luật giáo dục số một số điều theo Luật số 38/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung 44/2009/QH12;

    Xét Tờ trình số đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Báo cáo thẩm tra số 335/TTr-CP ngày 18 tháng 9 năm 2014 của Chính phủ về việc ban hành Nghị quyết của Quốc hội về của Ủy ban văn hóa , giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc 1299/BC-UBVHGDTTN13 ngày 06 tháng 10 năm 2014 hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội;

    Điều 1. Tán thành chủ trương về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông theo Đề án của Chính phủ.

    Điều 2. Chính phủ chỉ đạo thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông bảo đảm mục tiêu, yêu cầu và nội dung đổi mới như sau:

    Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hòa đức, trí, thể, mỹ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh.

    2. Về yêu cầu đổi mới:

    Kế thừa và phát triển những ưu điểm của chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông hiện hành, phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của nền văn hóa Việt Nam và phù hợp với xu thế quốc tế, đồng thời đổi mới toàn diện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, thi, kiểm tra , đánh giá chất lượng giáo dục theo yêu cầu phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; khắc phục tình trạng quá tải; tăng cường thực hành và gắn với thực tiễn cuộc sống. Việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông được tiến hành đồng bộ, công khai, minh bạch, tiếp thu rộng rãi ý kiến của nhân dân, các nhà khoa học, nhà giáo và người học.

    3. Về nội dung đổi mới:

    Thực hiện một chương trình giáo dục phổ thông thống nhất nhưng mềm dẻo, linh hoạt. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình giáo dục phổ thông, quy định những yêu cầu về phẩm chất và năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học, những lĩnh vực và nội dung giáo dục bắt buộc đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc; Ủy ban nhân dân tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương tổ chức biên soạn bổ sung những nội dung về đặc điểm lịch sử, văn hóa và kinh tế – xã hội của địa phương; đồng thời dành thời lượng cho cơ sở giáo dục chủ động vận dụng để xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường;

    đ) Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, làm việc nhóm và khả năng tư duy độc lập: đa dạng hóa hình thức tổ chức học tập, tăng cường hiệu quả sử dụng các phương tiện dạy học, đặc biệt là công ng hệ thông tin và truyền thông; giáo dục ở nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và xã hội;

    e) Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh; phản ánh mức độ đạt chuẩn quy định trong chương trình; cung cấp thông tin chính xác, khách quan, kịp thời cho việc điều chỉnh hoạt động dạy, h ướ ng dẫn hoạt động học nhằm nâng cao dần năng lực học sinh.

    g) Sách giáo khoa cụ thể hóa các yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông về nội dung giáo dục, yêu cầu về phẩm chất và năng lực học sinh; định hướng về phương pháp giáo dục và cách thức kiểm tra , đánh giá chất lượng giáo dục. Thực hiện xã hội hóa biên soạn sách giáo khoa; có một số sách giáo khoa cho mỗi môn học.

    Khuyến khích các tổ chức , cá nhân biên soạn sách giáo khoa trên cơ sở chương trình giáo dục phổ thông. Để chủ động triển khai chương trình giáo dục phổ thông mới, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức việc biên soạn một bộ sách giáo khoa. Bộ sách giáo khoa này được thẩm định , phê duyệt công bằng với các sách giáo khoa do tổ chức, cá nhân biên soạn.

    Các cơ sở giáo dục phổ thông lựa chọn sách giáo khoa để sử dụng dựa trên ý kiến của giáo viên, học sinh và cha mẹ học sinh theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

    4. Về lộ trình thực hiện:

    5. Về kinh phí thực hiện:

    2. Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban văn hóa , giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội giám sát việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông; Hội đồng dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và đại biểu Hội đồng nhân dân giám sát việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông trong phạm vi trách nhiệm của mình.

    Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận thực hiện giám sát, phản biện xã hội đối với việc triển khai thực hiện đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

    Nghị quyết này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam k hóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2014. /.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kiểm Tra, Giám Sát Việc Thực Hiện Chủ Trương, Nghị Quyết Và Văn Bản Của Đảng Về Công Tác Dân Vận
  • Công Tác Dân Vận Là Trách Nhiệm Của Cả Hệ Thống Chính Trị
  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Dân Vận Trong Tình Hình Mới
  • Nhất Trí Ban Hành Nghị Quyết Về Đổi Mới Giáo Dục
  • Sách Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Từ Năm 2007
  • Nhất Trí Ban Hành Nghị Quyết Về Đổi Mới Giáo Dục

    --- Bài mới hơn ---

  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Dân Vận Trong Tình Hình Mới
  • Công Tác Dân Vận Là Trách Nhiệm Của Cả Hệ Thống Chính Trị
  • Kiểm Tra, Giám Sát Việc Thực Hiện Chủ Trương, Nghị Quyết Và Văn Bản Của Đảng Về Công Tác Dân Vận
  • Nghị Quyết 88/2014/qh13 Về Đổi Mới Chương Trình, Sách Giáo Khoa Giáo Dục Phổ Thông
  • Nghị Quyết Số 24 Về Tôn Giáo
  • Bế mạc hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI – Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết, hội nghị đã nhất trí ban hành nghị quyết về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo…

    Sau 10 ngày làm việc, trưa ngày 9/10, tại Hà Nội, hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã bế mạc, hoàn thành toàn bộ chương trình đã đề ra.

    Phát biểu bế mạc, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khái quát những kết quả chủ yếu đã đạt được và nhấn mạnh, làm rõ thêm một số vấn đề để thống nhất trong lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghị quyết của hội nghị…

    Ảnh: Lê Huyền

    So với Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII, Nghị quyết của Hội nghị lần này đã kế thừa, bổ sung, phát triển nhiều nội dung đổi mới về nhận thức, tư duy, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện.Về nhận thức, Trung ương cho rằng, đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục – đào tạo cùng các cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm việc thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đến đổi mới các cơ sở giáo dục – đào tạo và sự tham gia của gia đình, cộng đồng xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học, ở cả Trung ương và địa phương.

    Đổi mới căn bản và toàn diện không có nghĩa là làm lại tất cả từ đầu mà phải kế thừa, phát triển những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đúng đắn, phát huy những thành tựu và kinh nghiệm tốt đã có, đồng thời bổ sung những quan điểm, tư tưởng mới, kiên quyết chấn chỉnh những lệch lạc, những việc làm trái quy luật, phát triển những nhân tố mới.

    Đổi mới phải đảm bảo tính hệ thống, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học, có tầm nhìn dài hạn, các giải pháp đồng bộ, khả thi, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.Về mục tiêu của đổi mới lần này, Trung ương chỉ rõ, phải tạo cho được chuyển biến căn bản về chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo; khắc phục cơ bản các yếu kém kéo dài đang gây bức xúc trong xã hội.

    Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân và đất nước; có hiểu biết và kỹ năng cơ bản, khả năng sáng tạo để làm chủ bản thân, sống tốt và làm việc hiệu quả.

    Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương pháp giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng. Hệ thống giáo dục và đào tạo được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc.

    Để thực hiện mục tiêu nêu trên, phải thực sự coi giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân, là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Từ Năm 2007
  • Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao
  • Hệ Thống Biểu Mẫu Và Các Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán
  • Ban Hành Nghị Quyết Về Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục
  • Nghị Quyết Về Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện Nền Giáo Dục
  • Tin tức online tv