Top 2 # Xem Nhiều Nhất Nghị Quyết 26 Khóa Xii Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Đề Cương Giới Thiệu Nghị Quyết Trung Ương 7 Khóa Xii, Nghị Quyết Số 26

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực

Đại tá Huỳnh Văn Mầm

Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19/5/2018 về “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ Đây là Nghị quyết chuyên đề của Trung ương về công tác cán bộ, nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ trọng tâm thứ nhất trong nhiệm kỳ mà Đại hội XII của Đảng đề ra.

Một là, vì sao Ban Chấp hành Trung ương phải ban hành Nghị quyết về công tác cán bộ?

Hai là, thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay.

Bốn là, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu và những trọng tâm, nội dung đột phá.

Năm là, một số vấn đề về Kế hoạch thực hiện Nghị quyết.

I. VÌ SAO BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG PHẢI BAN HÀNH NGHỊ QUYẾT MỚI VỀ CÔNG TÁC CÁN BỘ?

c án bộ và công tác cán bộ có vai trò đặc biệt quan trọng, quyết định sự thành bại của cách mạng và sự phát triển của đất nước.

– Như chúng ta biết, xây dựng đường lối chính trị, hệ thống tổ chức và đội ngũ cán bộ là ba vấn đề cốt yếu, quyết định sự thành bại của một đảng cầm quyền. Song, suy đến cùng thì cán bộ có vai trò quyết định, bởi vì: đường lối chính trị của Đảng cũng do cán bộ xây dựng nên; tổ chức bộ máy và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị cũng do cán bộ thiết lập ra và khi đã có đường lối chính trị, tổ chức bộ máy thì cán bộ cũng là người lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đưa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống.

– Từ kinh nghiệm và thực tiễn hoạt động cách mạng phong phú của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rút ra kết luận: ” Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém“. Người còn nói: “Bất cứ chính sách, công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi. Không có cán bộ tốt thì hỏng việc, tức là lỗ vốn”.

– Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: Xây dựng Đảng là nhiệm vụ ” then chốt” thì công tác cán bộ là ” then chốt” của nhiệm vụ ” then chốt “.

Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới đất nước: Xây dựng nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN; giải quyết hài hòa mối quan hệ Nhà nước – Thị trường – Xã hội; đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng; thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, với nền kinh tế số, kinh tế tri thức và sự biến đổi khí hậu; công cuộc đổi mới đất nước ngày càng đi vào chiều sâu, thực tiễn luôn đặt ra những vấn đề mới, khó và phức tạp, đòi hỏi Đảng ta phải xử lý, giải quyết một cách khoa học, hiệu quả cả về lý luận và thực tiễn.

Hơn nữa, chúng ta phải giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển trong bối cảnh khu vực và thế giới luôn có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường.

Sự tác động thường xuyên, mạnh mẽ, nhiều chiều từ mặt trái của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, Internet, mạng xã hội…

qua 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ các cấp đã trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, từng bước đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Thứ ba, Tuy nhiên, cho đến nay Chiến lược cán bộ có một số nội dung không còn phù hợp, cần được điều chỉnh, bổ sung và phát triển để đáp ứng với yêu cầu của thời kỳ mới. Đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, khuyết điểm và bất cập, trong đó có những khuyết điểm, yếu kém kéo dài, nhưng chậm được khắc phục, đổi mới như:

(1) Công tác cán bộ đổi mới còn chậm so với đổi mới kinh tế.

(2) Đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh.

(4) Tình trạng chạy chức, chạy quyền , … còn diễn ra nhưng chậm được khắc phục.

Thứ tư , sau hơn 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đất nước ta đang đứng trước sự chuyển giao thế hệ lãnh đạo, từ lớp cán bộ được rèn luyện, thử thách trong chiến tranh, chủ yếu được đào tạo ở trong nước và các nước xã hội chủ nghĩa; sang lớp cán bộ sinh ra, lớn lên trong hòa bình và được đào tạo từ nhiều nguồn, ở nhiều nước có các thể chế chính trị khác nhau.

chúng ta luôn luôn phải động viên, khích lệ, lan tỏa những thành tựu đã đạt được sau 30 năm đổi mới nhưng không chủ quan, thỏa mãn, lơ là, mất cảnh giác, nhất là trước sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với Đảng, Nhà nước ta bằng Chiến lược “Thứ năm , diễn biến hòa bình ” với những thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn; chúng lợi dụng triệt để những hạn chế, khuyết điểm của Đảng, Nhà nước ta nói chung và về công tác cán bộ nói riêng để xuyên tạc, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước ta gây hoang mang, hoài nghi, phân tâm nhằm chia rẽ nội bộ, tác động xấu đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của nhân dân đối với đội ngũ cán bộ các cấp.

Như vậy, trong tình hình, bối cảnh nêu trên và để cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tạo sự thống nhất, đồng bộ với thực hiện các nghị quyết 4, 5, 6 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, việc ban hành Nghị quyết “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” là rất cần thiết, vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa đáp ứng nhiệm vụ chiến lược, cơ bản, lâu dài của công tác xây dựng Đảng trong những năm tới.

Trên cơ sở Tổng kết 20 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương đã đánh giá đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ như sau:

– Đ ội ngũ cán bộ các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng lên; cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn. Số cán bộ có trình độ đại học, sau đại học tăng nhanh.

– Trình độ, năng lực và kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ có nhiều tiến bộ. Số lượng cán bộ được quy hoạch khá dồi dào, cơ bản, bảo đảm sự chuyển tiếp vững vàng giữa các thế hệ.

– Đa số cán bộ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, đoàn thể ở các cấp có phẩm chất, năng lực và uy tín. Cán bộ cấp chiến lược luôn kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập, dân tộc và CNXH; có tư duy đổi mới và tầm nhìn chiến lược, có khả năng hoạch định đường lối, đồng thời lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện.

– Hầu hết cán bộ lãnh đạo, chỉ huy trong lực lượng vũ trang được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

– Nhiều cán bộ khoa học tâm huyết, say mê nghiên cứu, đóng góp tích cực cho sự phát triển của đất nước trong điều kiện còn nhiều khó khăn.

– Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp nhà nước thích ứng nhanh với cơ chế thị trường, tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả.

nhìn tổng thể, đội ngũ cán bộ đông nhưng chưa mạnh, tình trạng vừa thừa, vừa thiếu xảy ra ở nhiều nơi.

– Tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

– Độ tuổi bình quân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở một số ban, bộ, ngành Trung ương và các địa phương còn cao.

– Còn thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực; tỷ lệ cán bộ nghiên cứu khoa học trên tổng dân số còn thấp.

– Năng lực của đội ngũ cán bộ chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, năng suất lao động, hiệu quả làm việc thấp.

Nhiều cán bộ thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường; trình độ ngoại ngữ, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế còn hạn chế. Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại khó, ngại khổ.

– Một số cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có cả cán bộ cấp chiến lược thiếu gương mẫu, uy tín thấp; còn quan liêu, xa dân, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; có không ít cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật Đảng và xử lý theo pháp luật.

– Công tác cán bộ đã bám sát các quan điểm, nguyên tắc của Đảng, ngày càng đi vào nền nếp. Đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận, luật, nghị định và sửa đổi, bổ sung nhiều quy định, quy chế để thực hiện. Các quy trình trong công tác cán bộ đã có nhiều đổi mới, ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và dân chủ hơn.

– Chủ trương luân chuyển kết hợp với bố trí một số chức danh lãnh đạo không là người địa phương có từ khóa IX đạt được kết quả bước đầu.

– Công tác kiểm tra, giám sát, bảo vệ chính trị nội bộ đã được coi trọng hơn; kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước được tăng cường. Việc xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm, cả cán bộ đương chức hoặc đã nghỉ hưu và không có “vùng cấm“, không có ” ngoại lệ ” đã góp phần đấu tranh ngăn chặn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, làm trong sạch một bước đội ngũ cán bộ, đảng viên, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

– Công tác cán bộ còn nhiều hạn chế, việc thực hiện một số nội dung còn hình thức. Đánh giá cán bộ vẫn là khâu yếu, nhìn chung chưa phản ánh đúng thực chất.

– Quy hoạch cán bộ thiếu tính tổng thể, liên thông giữa các cấp, các ngành, các địa phương; chưa bảo đảm phương châm “động” và “mở”, còn dàn trải, khép kín, dựa nhiều vào tuổi.

– Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chậm đổi mới về nội dung và phương pháp; chưa kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, chưa gắn với quy hoạch và theo chức danh. Chủ trương bố trí một số chức danh (9 chức danh) lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương thực hiện chưa đạt yêu cầu.

– Tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình còn xảy ra ở một số nơi, trong đó có cả người nhà, người thân của một số cán bộ lãnh đạo gây bức xúc trong dư luận xã hội.

– Công tác tuyển dụng còn nhiều hạn chế, chất lượng chưa đồng đều, có nơi còn xảy ra sai phạm, tiêu cực. Chủ trương thu hút nhân tài chậm được cụ thể hóa, thiếu trọng tâm, trọng điểm hiệu quả thấp; kết quả thu hút trí thức trẻ và người có trình độ cao chưa đạt yêu cầu. Chính sách tiền lương, nhà ở, thi đua, khen thưởng chưa thực sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc.

– Phân cấp quản lý cán bộ chưa theo kịp tình hình ( Quy định 67-QĐ/TW về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị ban hành năm 2007, đến 2017 mới được bổ sung thành Quy định 105-QĐ/TW.

– Việc chỉ đạo, triển khai một số chủ trương thí điểm chưa thực sự quyết liệt, chậm sơ kết, tổng kết như việc đại hội đảng bộ cơ sở bầu ban thường vụ, bí thư, phó bí thư; việc sắp xếp tổ chức, kiêm nhiệm để tinh giản biên chế ...

– Việc kiểm tra, giám sát chưa thường xuyên, thiếu chủ động, mới chỉ tập trung được kiểm tra, xử lý vi phạm, thiếu giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm; việc kiểm tra theo chuyên đề, chuyên ngành còn hạn chế. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ còn bị động, chưa theo kịp tình hình, tổ chức bộ máy thiếu ổn định.

– Tổ chức bộ máy cơ quan tham mưu còn nhiều đầu mối (Hiện nay, Ban ổ chức của cấp ủy, cơ quan nội vụ của chính quyền các cấp, Ban Công tác đại biểu của Quốc hội có chức năng tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ. Nếu không phối hợp chặt chẽ, hiệu quả rất dễ xảy ra thiếu thống nhất, phát sinh nhiều thủ tục hành chính không cần thiết).

– Phẩm chất, năng lực và uy tín của một số cán bộ làm công tác cán bộ chưa đáp ứng yêu cầu. Chậm sơ kết, tổng kết thực tiễn; thiếu nghiên cứu cơ bản và phát triển lý luận về công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ.

Phân công, phân cấp, phân quyền chưa gắn với ràng buộc trách nhiệm, với tăng cường kiểm tra, giám sát và chưa có cơ chế đủ mạnh để kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Chưa có biện pháp hiệu quả để kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng chạy chức, chạy quyền và những tiêu cực trong công tác cán bộ. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa được đầu tư, quan tâm đúng mứcThứ tư: .

Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực vẫn tiếp tục có những diễn biến phức tạp, khó lường. Hòa bình, hợp tác, hội nhập và phát triển vẫn là xu thế chủ đạo, nhưng các mối đe dọa truyền thống, phi truyền thống và biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Sự bùng nổ của khoa học – công nghệ, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số, kinh tế tri thức và xu hướng quốc tế hóa nguồn nhân lực vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với nước ta. C ông cuộc đổi mới đất nước, hội nhập quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu; sức mạnh tổng hợp và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng nâng cao, Việt Nam ngày càng có vị thế và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế… Tuy nhiên: Sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức; tình hình an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội vẫn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định.

Nghị quyết Trung ương lần này xác định 05quan điểm sau:

cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “Một là, then chốt ” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành một cách khoa học, thận trọng, thường xuyên, chặt chẽ và hiệu quả. Đ ầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

Hai là, thực hiện nghiêm, nhất quán Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. C huẩn hóa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

Ba là t ôn trọng và hành động theo quy luật khách quan, thường xuyên đổi mới công tác cán bộ phù hợp với tình hình thực tiễn. Xây dựng đội ngũ cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới; thông qua hoạt động thực tiễn và phong trào cách mạng của nhân dân; đặt trong tổng thể của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; gắn với đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao và thu hút, trọng dụng nhân tài.

Thứ tư, q uán triệt nguyên tắc về quan hệ giữa đường lối chính trị và đường lối cán bộ; quan điểm giai cấp và chính sách đại đoàn kết rộng rãi trong công tác cán bộ. Xử lý hài hòa, hợp lý mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và cơ cấu; giữa xây và chống; giữa đức và tài; giữa tính phổ biến và đặc thù; giữa kế thừa, đổi mới và ổn định, phát triển; giữa thẩm quyền, trách nhiệm cá nhân và tập thể.

Các quan điểm chỉ đạo nêu trên hợp thành hệ thống quan điểm đồng bộ, toàn diện, thể hiện rõ tinh thần kế thừa, ổn định, đổi mới và phát triển; vừa mang tính nguyên tắc chỉ đạo, vừa định hướng cách tiếp cận, phương pháp khoa học cho việc đổi mới công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ trong những năm tới.

có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ cán bộ, đủ sức lãnh đạo Nghị quyết đề ra m ục tiêu tổng quát là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến l ược công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030 (kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng) và tầm nhìn đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước (kỷ niệm 100 năm thành lập Nước), trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Nghị quyết xác định mục tiêu cụ thể, với 3 mốc thời gian:đến năm 2020, năm 2025 và năm 2030. Việc xác định các mục tiêu cụ thể trong Nghị quyết căn cứ vào kết quả thực hiện các nghị quyết, kết luận trước đây và tình hình thực tế hiện nay. Các mục tiêu đề ra cho từng giai đoạn, phù hợp với từng nhóm đối tượng và có tính khả thi, nhưng đòi hỏi phải có sự nỗ lực phấn đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị, nhất là người đứng đầu mới có thể đạt được. Cụ thể là:

– Đến năm 2025, Nghị quyết đề ra 03 mục tiêu lớn:

Cơ bản xây dựng được đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp chiến lược ngang tầm nhiệm vụ. Cụ thể là:

(Tại sao lại đặt ra mục tiêu làm việc trong môi trường quốc tế? Vì chúng ta đang tích cực, chủ động hội nhập (cả địa phương, Trung ương, các cấp, các ngành); nước ta có vị trí là thành viên có trách nhiệm đối với cộng đồng quốc tế. Đủ k hả năng làm việc trong môi trường quốc tếhiểu biết rộng; sử dụng được một trong các ngoại ngữAnh, Pháp, Nga, Trung, Tây Ban Nha, Arab; sử dụng thành thạo máy tính có kỹ năng, chuyên môn phù hợp , hiểu biết về thông lệ và luật pháp quốc tế, có khả năng làm việc độc lập, làm việc nhóm…

+ Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp tổng cục, cục, vụ, phòng và tương đương ở Trung ương: Từ 20 – 25% dưới 40 tuổi; từ 50 – 60% đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.

+ Phải có cán bộ nữ trong cơ cấu ban thường vụ cấp ủy và tổ chức đảng các cấp. Tỷ lệ nữ cấp ủy viên các cấp đạt từ 20 – 25%; tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp đạt trên 35%. Ở những địa bàn có đồng bào dân tộc, phải có cán bộ lãnh đạo là người dân tộc phù hợp với cơ cấu dân cư.

Căn cứ vào các quan điểm, mục tiêu nêu trên và tình hình thực tế,Nghị quyết đề ra 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn chủ yếu; đồng thời xác định 02 trọng tâm và 05 đột phá để thực hiện.

Kiên quyết đấu tranh với những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc; mở rộng các hình thức tuyên truyền, nhân rộng những điển hình tiên tiến, những cách làm mới sáng tạo, có hiệu quả(2) .

Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và thế hệ trẻ, trong đó chú trọng nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc.

(4) Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo với rèn luyện trong thực tiễn và đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Thực hiện nghiêm chế độ học tập, bồi dưỡng lý luận chính trị và cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, nhất là cán bộ trẻ được đào tạo ở nước ngoài.

Các cấp ủy, tổ chức đảng căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình t hể chế hóa, cụ thể hóa các chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ b ảo đảm đ ồng bộ, liên thông, nhất quán trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế.

Đánh giá đa chiều (360 độ) là c ấp trên đánh giá cấp dưới; đồng cấp đánh giá; cấp dưới đánh giá cấp trên; bản thân tự đánh giá.

Đánh giá bằng tiêu chí là đánh giá trên các mặt: chính trị tư tưởng; đạo đức, lối sống; ý thức tổ chức kỷ luật; tác phong, lề lối làm việc; kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao theo vị trí việc làm; chiều hướng phát triển.

Đánh giá bằng “sản phẩm” là lượng hóa kết quả làm việc của cán bộ mà có thể “cân, đong, đo, đếm” được và được cấp có thẩm quyền ghi nhậnánh giá phải có sự so sánh với các chức danh tương đương: Vụ trưởng so với vụ trưởng; giám đốc sở so với giám đốc sở; trưởng phòng so với trưởng phòng…

thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm và khảo sát nhân sự trước khi bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử. Đánh giá người đứng đầu phải gắn với kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị nơi công tác và công khai kết quả đánh giá ).

(3) Thống nhất việc kiểm định chất lượng đầu vào công chức, làm cơ sở cho các địa phương, cơ quan, đơn vị lựa chọn, tuyển dụng theo yêu cầu; đồng thời, nghiên cứu phân cấp kiểm định theo lĩnh vực đặc thù và theo vùng, khu vực, theo ngành.

(8) Hoàn thiện các quy định, quy chế để cấp ủy các cấp có cơ cấu hợp lý, tinh giản số lượng và nâng cao chất lượng, không nhất thiết địa phương, cơ quan, đơn vị nào cũng phải có cấp ủy viên.

Xây dựng chính sách nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức theo hướng: Nhà nước ban hành cơ chế, chính sách công khai, minh bạch đối với từng đối tượng; địa phương quy hoạch đất ở, nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức, viên chức mua và thuê mua nhà ở.

Tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộvà tập trung vào vấn đề chính trị hiện nay. Không xem xét quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử khi chưa có kết luận về tiêu chuẩn chính trị.

Tiếp tục mở rộng thí điểm thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp vụ, sở, phòng. Đồng thời, thực hiện các thí điểm: (16) Một, người đứng đầu lựa chọn, giới thiệu cán bộ trong quy hoạch để thực hiện quy trình bầu cử, bổ nhiệm cấp phó; bí thư cấp ủy giới thiệu để bầu ủy viên ban thường vụ theo một quy trình nhất định, bảo đảm các nguyên tắc của Đảng và phải chịu trách nhiệm về việc giới thiệu của mình.Hai, giao quyền cho người đứng đầu bổ nhiệm cán bộ trong quy hoạch, miễn nhiệm cấp trưởng cấp dưới trực tiếp và chịu trách nhiệm về quyết định đó.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có phẩm chất, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ mới (với 6 nội dung chủ yếu).

(Đây là giải pháp nhằm khắc phục tình trạng buông lỏng quản lý cán bộ ở một số nơi như vừa qua

(6) K iểm soát chặt chẽ, sàng lọc kỹ càng những cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, không bảo đảm sức khỏe, có sai phạm , không chờ hết nhiệm kỳ, hết thời hạn bổ nhiệm, đến tuổi nghỉ hưu. Không lấy việc bố trí chức vụ, phong hàm, phong thăng quân hàm, nâng ngạch để thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.

Tổ chức các lớp dự nguồn cán bộ cao cấp để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự cán bộ cấp chiến lược, nhất là nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, lãnh đạo chủ chốt các ban, bộ, ngành và các tỉnh, thành phố.

Vấn đề kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền đang là vấn đề nhức nhối, gây bức xúc trong dư luận. Vì thế, các cấp ủy, tổ chức đảng phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi có hiệu quả vấn nạn này. Trong mục tiêu đã xác định rất cương quyết, phần giải pháp xin giới thiệu với các đồng chí nội dung cơ bản:

( Quyền hạn càng cao, trách nhiệm càng lớn thì càng phải kiểm soát chặt chẽ quyền lực. Như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng đã nói “phải kiểm soát quyền lực bằng cơ chế” và “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”).

Thể chế hóa, cụ thể hóa và thực hiện có hiệu quả các quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân tham gia xây dựng đội ngũ cán bộ.

(2) Thường trực cấp ủy các cấp ở địa phương định kỳ tiếp dân; bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ và cấp ủy viên dự sinh hoạt với chi bộ khu dân cư; đảng viên công tác tại xã, phường, thị trấn sinh hoạt đảng tại chi bộ khu dân cư.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp t

Thường xuyên chăm lo, xây dựng, củng cố cơ quan tham mưu và đội ngũ làm công tác cán bộ thật sự trong sạch, vững mạnh; đặc biệt coi trọng lựa chọn, bố trí đúng người đứng đầu cơ quan tổ chức cán bộ.

Nhóm nhiệm vụ, giải pháp t

(1) Cụ thể hóa, hoàn thiện các văn bản về đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc, nhất là phương hướng công tác nhân sự.

(2) Rà soát kỹ, bổ sung đầy đủ thông tin, đánh giá chính xác, nắm chắc cán bộ và vấn đề chính trị của cán bộ; tăng cường thực hiện việc bố trí, sắp xếp, điều động, luân chuyển, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ và phải có các phương án phù hợp, hiệu quả để thực hiện việc bố trí bí thư cấp ủy cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương theo mục tiêu đề ra.

(3) Tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ dự nguồn trong quy hoạch để chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp.

hực hiện tốt 08 nhóm nhiệm vụ, giải pháp nêu trên, Nghị quyết xác định hai trọng tâm và năm đột phá sau:

(1) Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ, hiệu quả công tác cán bộ; chuẩn hóa , siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với tạo cơ chế, môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, sáng tạo phục vụ phát triển và có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung .

(2) Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ cấp chiến lược và bí thư cấp ủy, người đứng đầu các cấpđi đôi vớiphân cấp, phân quyền nhằm phát huy tính chủ động, sáng tạo của cán bộ và tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ quyền lực.

(2) K iểm soát chặt chẽ quyền lực, sàng lọc kỹ càng, thay thế kịp thời những người năng lực hạn chế, uy tín thấp, không bảo đảm sức khỏe, có sai phạm ; chấm dứt tình trạng chạy chức, chạy quyền.

1. Về học tập, quán triệt, triển khai Nghị quyết

(1) Các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị phải tổ chức học tập, quán triệt nghiêm túc Nghị quyết và Kế hoạch thực hiện để cán bộ, đảng viên nhận thức rõ thực trạng công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ hiện nay; nắm vững các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Nghị quyết.

(2) Trên cơ sở Nghị quyết của Trung ương, Kế hoạch của Bộ Chính trị, Kế hoạch của Quân ủy Trung ương, xây dựng Kế hoạch, chương trình thực hiện Nghị quyết của cơ quan, đơn vị mình phù hợp với thực tiễn; xác định rõ trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể đối với từng tổ chức, cá nhân; thời gian thực hiện và hoàn thành từng nhiệm vụ.

(3) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện với quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả ; tăng cường kiểm tra, giám sát, định kỳ đánh giá, báo cáo kết quả thực hiện theo Kế hoạch để kiểm soát nội dung và tiến độ.

Khi có Kế hoạch của Đảng ủy Quân khu c ăn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện, tạo sự chuyển biến rõ nét về công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ quan, đơn vị mình./.

Nghị Quyết 26 Của Hội Nghị Trung Ương 7 (Khóa Xii): Bước Đột Phá Mới Về Công Tác Cán Bộ

(Báo Quảng Ngãi)- Nghị quyết 26 của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) không chỉ thay thế Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà còn thể hiện một bước tiến mới về tư duy lãnh đạo của Đảng đối với công tác cán bộ.

Đây được coi là căn cứ và tiền đề quan trọng để thực hiện công tác nhân sự cho Đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Ngay sau khi Trung ương ban hành Nghị quyết 26 về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, Tỉnh ủy đã ban hành Kế hoạch 156 để thực hiện theo hướng cụ thể, rõ các đầu việc, thực chất và hiệu quả; phân công trách nhiệm cụ thể cho từng tập thể, cá nhân.

Cán bộ Ban Tổ chức Tỉnh ủy kiểm tra hồ sơ đảng viên của huyện Nghĩa Hành.

Kế hoạch của Tỉnh ủy nêu rõ, đến năm 2020, hoàn thành việc bố trí bí thư cấp ủy cấp huyện không phải là người địa phương; đẩy mạnh bố trí các chức danh: Chủ tịch UBND huyện, cán bộ cấp trưởng các ngành thanh tra, tài chính, viện trưởng viện KSND, chánh án TAND cấp huyện, trưởng công an cấp huyện… không phải là người địa phương; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp chuyên nghiệp, chất lượng cao, có số lượng và cơ cấu hợp lý, bảo đảm sự chuyển giao thế hệ một cách vững vàng.

Kế hoạch 156 của Tỉnh ủy cũng xác định 9 nhiệm vụ thường xuyên mà các cấp ủy, tổ chức đảng phải thực hiện và phân công nhiệm vụ đối với từng tập thể, cá nhân theo nhóm có cơ quan chủ trì các đầu việc.

Như Ban Tổ chức Tỉnh ủy được giao chủ trì 10 đầu việc; Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy đảm nhận 2 đầu việc; Ban cán sự Đảng UBND tỉnh được phân công phối hợp thực hiện 5 đầu việc… Đây là căn cứ để Đảng bộ tỉnh kiểm điểm, đánh giá và làm tốt hơn nữa đối với công tác lãnh đạo, chỉ đạo.

Trong nhiệm kỳ 2015 -2020, nhiều quy định về công tác cán bộ được Tỉnh ủy chỉ đạo rà soát, sửa đổi bổ sung cho phù hợp, như Quy định về luân chuyển, điều động cán bộ lãnh đạo, quản lý và cán bộ trẻ; thí điểm thi tuyển chức danh cán bộ lãnh đạo thuộc diện Ban Thường vụ quản lý; Quy định trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu, cấp phó người đứng đầu…

Điểm yếu trong khâu đánh giá cán bộ đã được khắc phục đáng kể nhờ đánh giá theo tiêu chí, sản phẩm cụ thể, có sự so sánh giữa các vị trí tương đương và công khai kết quả. Công tác quy hoạch cán bộ được thực hiện chặt chẽ, nhất là quy hoạch cấp ủy các cấp và các chức danh lãnh đạo cấp tỉnh, nhằm chuẩn bị tốt công tác nhân sự Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XX, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Công tác bổ nhiệm, bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ thực hiện đúng quy trình. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng tiếp tục thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí các chức danh chủ chốt cấp huyện không phải là người địa phương, với 8/14 huyện, thành phố đã thực hiện.

Tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đảm bảo chất lượng

Theo Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Phạm Thanh Tùng, Nghị quyết Trung ương 7 về công tác cán bộ ban hành trong thời điểm toàn Đảng chuẩn bị cho đại hội đảng các cấp với những giải pháp toàn diện, vừa bảo đảm tính lý luận, vừa gắn với thực tiễn, có tiếp thu, kế thừa những giải pháp cũ… chắc chắn sẽ tạo ra những chuyển biến tích cực trong xây dựng đội ngũ cán bộ thời gian tới; nhất là đổi mới trong công tác đánh giá cán bộ nhằm khắc phục tình trạng “cào bằng” như lâu nay. Ban Tổ chức Tỉnh ủy sẽ tham mưu với Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết 26 và công tác kiểm soát quyền lực, ngăn chặn chạy chức, chạy quyền…

Nghị Quyết Trung Ương 6 Khóa Xii

Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, Học Tập Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, 4 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Nghị Quyết 12 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 11 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Pdf, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Doc, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghị Quyết 4 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa Xii, Nghị Quyết 7 Trung ương Khóa Xi, 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 7 Trung ương Khóa 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết 6 Trung ương Khoá 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Bản Cam Kết Học Tập Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết 10 11 12 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 8 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 7, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 9, Nghị Quyết Trung ương 11 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11, Nghị Quyết Số 10 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 12, Bản Cam Kết Về Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Nghi Quyet So 20 Trung Uong 6 Khoa 12, Nghị Quyết Trung ương Số 28 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 12, Báo Cáo Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 11, Nghị Quyết Số 22 Trung ương 6 Khóa X, Nghị Quyết Số 28 Trung ương 8 Khóa 11, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Nghị Quyết 8 Trung ương Đảng Khóa 12, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xii, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, Bản Đăng Ký Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa Xi, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa Xi, ý Nghĩa Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 8, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Mâu Bài Viết Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Bai Mâu Vê Thu Hoach Nghi Quyêt Trung ương 5 Khoa Xii, 5 Chuyên Đề Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 11, Tài Liệu Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xii, Bài Giảng Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Bài Giảng Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nội Dung Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nội Dung Nghị Quyết 37 Trung ương 8 Khóa 12, Báo Cáo Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Báo Cáo Thu Hoạch Học Tập Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Tài Liệu Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12yết 51, Báo Cáo Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi Download, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi “một Số Vấn Đề Cấp Bách Về, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 10, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa Xii, Đề Cương Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 10 11 12 Khóa Xi Của Đảng, Bai Thu Hoach Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa Xi, Chuyên Đề 2 Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Chuyên Đề 3 Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Nghi Quyet Trung Uong 8 Khoa 11, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Uong 8 Khóa 12, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Uong 8 Khóa Xii, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa Xi, Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 10 11 12 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11 Ve Bao Ve To Quoc,

Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa 12, Sự Cần Thiết Của Việc Trung ương Ban Hành Các Nghị Quyết Hội Nghị Trung ương 6 Khóa Vii, Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng, Gắn Với Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii Và Các Chỉ, Bài Thu Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, Học Tập Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, 4 Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Nghị Quyết 12 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 11 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 11, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Pdf, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11 Doc, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Nghị Quyết 4 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 7 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa Xii, Nghị Quyết 7 Trung ương Khóa Xi, 3 Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 7 Trung ương Khóa 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết 6 Trung ương Khoá 12, 3 Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 12, Bản Cam Kết Học Tập Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12, Nghị Quyết 10 11 12 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết 8 Trung ương Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 3 Khóa 7, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa 8, Nghị Quyết Trung ương 5 Khóa X, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 6 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa 9, Nghị Quyết Trung ương 11 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 11, Nghị Quyết Số 10 Trung ương 5 Khóa 12, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 12, Bản Cam Kết Về Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa Xii, Nghị Quyết Trung ương 9 Khóa 11, Nghi Quyet So 20 Trung Uong 6 Khoa 12, Nghị Quyết Trung ương Số 28 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 8 Khóa Xi, Nghị Quyết Trung ương 10 Khóa 12, Báo Cáo Nghị Quyết Trung ương 4 Khóa 12,

Bài 1: Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii

Xét tổng thể, quyết sách chính trị lần này của Đảng không chỉ tiếp tục giải quyết những vấn đề thực tiễn nóng bỏng, không thể lùi bước, mang ý nghĩa sinh tử đối với Đảng, sự tồn vong đối với chế độ, thách thức trước Đảng cầm quyền, được đặt ra từ Hội nghị Trung ương 4 khóa XI: “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, mà còn đặt nền móng kiến tạo và phát triển những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học xây dựng Đảng đặt ra từ Đại hội XII, hợp thành chỉnh thể hoàn bị khoa học về Đảng, đó là: Cùng với xây dựng Đảng vững mạnh, trong sạch về chính trị, tư tưởng, tổ chức, cần coi trọng xây dựng Đảng về đạo đức trong bối cảnh hiện nay và tương lai.

1- Tự đổi mới, tự chỉnh đốn ngang tầm trọng trách lịch sử

Xác định nội hàm trên nhằm phát triển liên tục và bền vững, để Đảng tiếp tục xứng đáng hơn “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”, “đứa con nòi của giai cấp lao động”…

Là một “cơ thể sống”, việc không ngừng xây dựng, chỉnh đốn của Đảng là công việc tự nhiên, nếu tự mình muốn phát triển và trưởng thành. Với tư cách là một đảng, ngay từ lúc chưa cầm quyền và hiện nay là một đảng cầm quyền, công việc đó càng tự nhiên, càng có vai trò quyết định trước trách nhiệm lịch sử dân tộc đã tin cậy và trao cho, để ngày càng xứng đáng “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”, là “đứa con nòi của giai cấp lao động”.

Nhìn lại lịch sử hơn 87 năm của Đảng, qua 5 lần vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, có thể nói, chưa lần nào như cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng lần này, xét cả tầm vóc, quy mô, tính chất, chiều sâu và ý nghĩa của nó.

Xã hội xã hội chủ nghĩa mà dân tộc đang xây dựng, dưới ngọn cờ của Đảng, như Ph.Ăng-ghen từng nói, “không phải là cái gì đó nhất thành, bất biến, mà cũng như mọi chế độ xã hội khác, nó cần phải được xem xét như một xã hội được thay đổi và cải tạo thường xuyên”. Là người lãnh đạo sự nghiệp đó, một cách tự nhiên, Đảng không thể không tự đổi mới, tự chỉnh đốn ngang tầm trọng trách lịch sử dân tộc giao phó, nếu không, Đảng sẽ tự tụt hậu, không xứng đáng là người lãnh đạo.

Vì vậy, hơn 87 năm trong lịch sử của mình, Đảng ta đã 5 lần tiến hành chỉnh đốn lớn và không dưới 30 lần chỉnh đốn nội bộ mình và trên từng phương diện lãnh đạo đối với xã hội. Lần này, với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, Đảng ta tiếp tục chỉnh đốn lớn, không chỉ về quy mô mang tầm chiến lược, mà còn giải quyết những vần đề về tính chất, mức độ ở những “tầng chìm thực thể” rất tinh tế nhưng nguy hiểm, về nhận diện và tẩy trừ các “căn bệnh” trong Đảng. Nếu không đủ bản lĩnh, không thể và không dám làm. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là dấu hiệu của một đảng mạnh.

Từ nghị quyết Hội nghị trung ương 4 khóa XII, lần đầu tiên, trong tầm vóc và ý nghĩa của một nghị quyết Trung ương, Đảng ta không chỉ định hướng, định tính mà còn định lượng, định danh 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng. Các quyết nghị của Đảng trước đó, dù đặt ra nhưng vẫn còn, hoặc chừng mực, hoặc dang dở. Đó là bước tiến mới về nhận thức và tổ chức thực tiễn trong công tác xây dựng Đảng qua Nghị quyết lần này. Nó khắc phục tình trạng chung chung, phiếm chỉ, thậm chí né tránh khi bàn, nhất là công khai về những thói tệ, bệnh làm tổn hại vị thế, vai trò, năng lực và uy tín của đảng cầm quyền. Điều cần ghi nhận hơn, đó là sự đổi mới đột phá về phương pháp khoa học phát triển lý luận xây dựng Đảng ở tầm mức mới, như Đại hội XII của Đảng yêu cầu: “… Đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” và “nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, đáp ứng yêu cầu mới”.

Xin được nhấn mạnh quan điểm đổi mới toàn diện và đồng bộ của Đại hội XII so với Đại hội VI của Đảng: Đó là đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới kinh tế, với khâu đột phá là đổi mới tư duy.

Với tư cách là người khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, Đảng lĩnh nhiệm về mình trọng trách to lớn, nặng nề của lịch sử, chịu trách nhiệm trước hết đối với dân tộc về vị thế, tầm vóc và sức mạnh của đất nước, bởi nghiêm túc nhìn nhận, trên nhiều phương diện lãnh đạo công cuộc đổi mới trong thời kỳ mới, Đảng chưa ngang tầm nhiệm vụ, do vậy cấp bách đòi hỏi phải không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn mình một cách nghiêm khắc và thành tâm, nhằm hóa giải không ít nguy cơ có ý nghĩa sinh tử đối với chế độ, thành bại đối với đất nước và sự tồn vong đối với Đảng.

Vấn đề quan trọng bậc nhất “đo lường” tính hiện thực và sức sống của một nghị quyết cấp ủy, với tư cách là một quyết sách chính trị, nằm ở tính hiện thực hóa, vì nó là cương lĩnh hành động chính trị. Vì Đảng là tổ chức chính trị hành động chứ không phải là câu lạc bộ. Điều đó góp phần lý giải vì sao số nghị quyết của cấp ủy các cấp chúng ta có khả năng hiện thực hóa chiếm tỷ lệ không như mong muốn, phần nào làm giảm uy tín chính trị của Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII là cương lĩnh khắc phục điều đó; đã kết tinh ở đó không chỉ là tầm nhìn chính trị, quyết tâm chính trị, mà ở khả năng tổ chức hành động chính trị và hiệu quả chính trị; không chỉ ở định hướng, định tính mà còn định lượng và định vị vấn đề; không chỉ nhận diện vấn đề ở tầm vóc, chiều sâu mà còn giải quyết vấn đề cả chiến lược và sách lược một cách hiện thực, khả thi. Nó cung cấp không chỉ về nhận thức mà quan trọng nhất là phương pháp, giải pháp và cách thức xử lý vấn đề đặt ra. Đây là điều quan trọng nhất, xứng đáng là một quyết nghị chính trị bàn về công việc xưa nay khó nhất đối với Đảng, để không chung chung, trừu tượng; không đao to búa lớn, mà cụ thể, sinh động: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng từ tổ chức tới mỗi cán bộ, đảng viên.

Ở mỗi thời kỳ, nhất là ở những bước ngoặt của lịch sử, hay bước ngoặt trong sự phát triển và trưởng thành của Đảng, công việc tự đổi mới, tự chỉnh đốn là lẽ thường, liên tục và thậm chí là những quyết sách đụng chạm tới toàn Đảng, không trừ một cấp bộ nào, không trừ một ai, nếu muốn Đảng xứng đáng với vị trí mà Đảng đang giữ, công việc mà Đảng đang toàn lực tiến hành, cao hơn hết là trách nhiệm lịch sử mà Đảng được dân tộc giao cho. Đó là pháp lý và đạo lý của Đảng hiện nay.

2 – Đột phá vấn đề rất cơ bản và thời sự: Vấn đề đạo đức

Qua các kỳ đại hội, công tác xây dựng Đảng được thực thi trên ba phương diện: Về chính trị, về tư tưởng và về tổ chức.

Nhìn lại 5 năm trước, kể từ năm 2012, từ những kết quả bước đầu trong thực hiện nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” cho thấy, khi Đảng ta giữ vững được bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng gương mẫu đi đầu, thì niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được giữ vững, củng cố và tăng cường; sức mạnh của cách mạng nước ta vì thế mà được khơi nguồn, giữ gìn và phát huy cao nhất.

Đồng thời, trước những trọng trách mới và thách thức hiện nay, thực tiễn đã và đang cảnh báo những nguy cơ hiện hữu, những tổn thất khôn lường đe dọa vận mệnh đất nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và sức sống của Đảng. Đó là tệ tham nhũng, lợi ích nhóm tiêu cực, tư duy nhiệm kỳ, tệ lãng phí và tình trạng suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; sự chống phá ngày càng quyết liệt của các thế lực thù địch; lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước bị giảm sút; khối đại đoàn kết toàn dân tộc bị xâm hại… Sức mạnh nội sinh của cách mạng Việt Nam, của dân tộc, tầm vóc và sự ảnh hưởng của đất nước ta, vì thế cũng bị xâm hại. Khi Đảng cầm quyền, quyền lực ở nơi này, người kia đang bị tha hóa, bởi những cá nhân được trao quyền, nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Khi lòng dạ họ không còn trong sáng nữa, họ không thường xuyên tự tu dưỡng rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng…”, làm cho tình hình phức tạp, vị thế chính trị, vai trò lãnh đạo và uy tín chính trị của Đảng bị xâm hại. Nếu buông lơi vấn đề xây dựng đạo đức trong Đảng sẽ dẫn đến những tổn thất khôn lường đối với vận mệnh của đất nước, của chế độ xã hội chủ nghĩa và của Đảng.

Thực tiễn đó cấp bách đòi hỏi, thách thức và nghiêm khắc yêu cầu, để Đảng tiếp tục xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”, xứng đáng “vừa là người lãnh đạo, vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”, xứng đáng là “đứa con nòi của giai cấp lao động”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, thì việc xây dựng Đảng không thể không thực thi vấn đề đạo đức một cách ngang tầm và xây dựng Đảng về phương diện đạo đức phải là một trong những lĩnh vực cơ bản, đồng thời là một trong những giải pháp chủ yếu, quan trọng để xây dựng Đảng vững mạnh, trong sạch, củng cố và tăng cường đoàn kết trong Đảng, đoàn kết nhân dân, đoàn kết quốc tế, trực tiếp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, phát triển và nhân lên sức mạnh nội sinh của cách mạng nước ta.

Đại hội XII của Đảng quyết định bổ sung vấn đề “đạo đức”, cùng với ba phương diện trên, hợp thành mục tiêu bao trùm toàn bộ công tác xây dựng Đảng: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”. Tháng 10-2016, nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ” là sự tiếp tục tự nhiên vấn đề cơ bản đó, đáp ứng nhu cầu phát triển tự nhiên đó.

Với vị thế Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiền phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, của nhân dân và của dân tộc, do vậy, xây dựng Đảng về đạo đức là xây dựng cái nền gốc tinh thần vững chắc của Đảng và sức mạnh nội sinh của cách mạng, bảo đảm cho toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng ngang tầm mục tiêu chính trị của dân tộc, của đất nước, dưới ngọn cờ của Đảng, thực hiện “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đây không chỉ là lý tưởng chính trị, là chuẩn mực đạo đức cao nhất trước hết cho mọi chủ trương, đường lối của Đảng, mà còn phải là suy nghĩ và hành động-hành động chính trị của mỗi cán bộ, đảng viên. Đây không chỉ là trọng trách lịch sử “là người lãnh đạo” mà còn là lương tri, là đạo lý của Đảng “vừa là người đày tớ trung thành của nhân dân”, “đứa con nòi của giai cấp lao động” Việt Nam.

TS NHỊ LÊ, Phó tổng biên tập Tạp chí Cộng sản

(Còn nữa)