Hội Nghị Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05/2016/nq

--- Bài mới hơn ---

  • Người Dân Miền Núi Xóa Đói Giảm Nghèo Nhờ Nghị Quyết 30A
  • Nghị Quyết 30A Góp Phần Giảm Nghèo Bền Vững Ở Trạm Tấu
  • Người Dân Miền Núi Quan Hóa Giảm Nghèo Nhờ Nghị Quyết 30A
  • Nghị Quyết Về Cải Cách Hành Chính
  • Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 36
  • Ngày 27/10/2020, tại Bảo tàng Đắk Lắk, Ủy ban Nhân dân tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 05/2016/NQ-HĐND, ngày 30/8/2016 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2022-2020.

    Chủ trì Hội nghị là bà H’Yim Kđoh – Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh, ông Thái Hồng Hà – Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Về dự Hội nghị có bà Phan Thị Như Thủy, Trưởng ban Văn hóa – Xã hội, Hội đồng Nhân dân tỉnh. Ông Lê Đình Hoan, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy. Đại diện lãnh đạo các sở, ban ngành, đoàn thể của tỉnh; Trường Đại học Tây Nguyên; Lãnh đạo UBND, phòng Văn hóa và Thông tin các huyện, thị xã, thành phố; lãnh đạo các phòng, ban, đơn vị trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; các tập thể và cá nhân đạt thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng, giai đoạn 2022-2020.

    Văn nghệ chào mừng Hội nghị

    Chủ trì Hội nghị

    Ông Thái Hồng Hà, Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phát biểu khai mạc Hội nghị

    Ông Đặng Gia Duẩn, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết

    Các đại biểu phát biểu tham luận tại Hội nghị

    Để ghi nhận, biểu dương, khen thưởng những cơ quan, đơn vị, tập thể và cá nhân đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong việc chỉ đạo, phối hợp tổ chức, triển khai thực hiện bảo tồn và phát huy cồng chiêng trên địa bàn tỉnh, góp phần giữ vững ổn định chính trị -trật tự an toàn xã hội, kích cầu du lịch, phát triển kinh tế-xã hội của địa phương, bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, thực hiện thắng lợi mục tiêu các Nghị quyết của Trung ương. Ủy ban Nhân dân tỉnh đã quyết định tặng Bằng khen cho 07 tập thể và 06 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong công tác bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng, giai đoạn 2022-2020. Cũng trong dịp này Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tặng Giấy khen cho 07 tập thể và 07 cá nhân có thành tích trong việc thực hiện Nghị quyết 05/2016/NQ-HĐND ngày 30/8/2016 của Hội đồng Nhân dân tỉnh về bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng tỉnh Đắk Lắk, giai đoạn 2022-2020.

    Trao Bằng khen cho các tập thể và cá nhân

    Kết thúc Hội nghị bà H’Yim Kđoh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh đã khẳng định: Việc triển khai Nghị quyết của Hội đồng Nhân dân tỉnh đảm bảo lộ trình, tính khả thi, đạt được những kết quả quan trọng, góp phần bảo tồn phát huy văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên, giữ vững ổn định chính trị – trật tự an toàn xã hội, kích cầu du lịch, phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

    Hội nghị cũng rút ra bài học kinh nghiệm quý báu trong việc chỉ đạo, tổ chức, triển khai Nghị quyết, có cơ sở lý luận thực tiễn để xây dựng phương hướng, nhiệm vụ bảo tồn và phát huy văn hóa cồng chiêng trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2022-2025 đạt kết quả cao hơn, góp phần thực hiện mục tiêu Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII ” Về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” và Nghị quyết số 33-NQ/TW về ” Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước “.

    GD&TT

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Quyết Số 30 Ngày 1/3/2013
  • Hướng Dẫn Thực Hiện Nghị Quyết 35/2012/qh13
  • Nghị Quyết 30/2012/qh13 Của Quốc Hội Về Việc Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3, Quốc Hội Khóa Xiii
  • Nghị Quyết 30/2012/qh13 Về Chất Vấn Và Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3, Quốc Hội Khóa Xiii
  • Nghị Quyết 30/2012/qh13 Chất Vấn Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 3 Quốc Hội
  • Tài Liệu Học Tập Nghị Quyết Tw4 Khóa 12 Năm 2022 Nq Tu 4 Khoa 12 2022 Doc

    --- Bài mới hơn ---

  • Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Gắn Với Các Quy Định Về Trách Nhiệm Nêu Gương
  • Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii):triển Khai Những Nhiệm Vụ Trọng Tâm Trong Năm 2022
  • Bản Kiểm Điểm Đảng Viên Theo Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii) Năm 2022
  • Sơ Kết 1 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Tw 4 (khoá Xi): Đã Có Chuyển Biến Tích Cực Từ Nhận Thức Đến Hành Động
  • Kết Quả Bước Đầu Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xi) Của Tỉnh Ủy Kon Tum
  • Nghị quyết số 04-NQ/TW

    về ” Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ “

    I – TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

    Nhìn một cách tổng thể, trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng, hơn 86 năm qua Đảng ta luôn giữ vững bản lĩnh chính trị, bản chất cách mạng và khoa học; kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn và ngày càng lớn mạnh.

    Dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, nhân dân ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX.

    Trong thời kỳ đổi mới, Đảng đã lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc;

    Giữ vững ổn định chính trị; phát triển kinh tế – xã hội, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; tăng cường quốc phòng – an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

    Đảng ta xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ và vị thế như ngày nay. Đó là kết quả sự nỗ lực phấn đấu không ngừng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, trong đó có sự hy sinh quên mình và đóng góp quan trọng của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đã tạo được những chuyển biến tích cực trong hệ thống chính trị.

    Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đạt được một số kết quả; tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

    Những kết quả đó đã góp phần quan trọng vào thành công của đại hội đảng bộ các cấp, Đại hội XII của Đảng và bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2022-2021.

    Tuy nhiên, công tác xây dựng Đảng còn không ít hạn chế, khuyết điểm. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa đáp ứng yêu cầu.

    Nội dung sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn đơn điệu, hình thức, hiệu quả chưa cao. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của không ít tổ chức đảng còn thấp, thậm chí có nơi mất sức chiến đấu. Công tác tổ chức, cán bộ và quản lý cán bộ, đảng viên còn yếu kém.

    Nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, chưa thực sự sâu sát thực tế, cơ sở. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái.

    Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số việc chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Tự phê bình và phê bình nhiều nơi mang tính hình thức; vẫn còn tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm; một số cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công việc được giao.

    Việc phân định thẩm quyền, trách nhiệm, mối quan hệ công tác của người đứng đầu với tập thể cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa rõ ràng.

    Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước.

    Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty.

    Nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn hạn chế trong nhận thức, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; việc đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị còn bị động, thiếu sắc bén và hiệu quả chưa cao.

    Trong khi đó, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc.

    Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ.

    Tình hình trên có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu.

    1) Nguyên nhân khách quan:

    Tác động từ khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội trên thế giới sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; từ mặt trái của kinh tế thị trường, những hoạt động lợi dụng sự phát triển của khoa học công nghệ thông tin, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

    Những khó khăn, thách thức của các nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh quốc tế hiện nay; nhiều vấn đề mới, phức tạp phát sinh từ thực tiễn nhưng chưa được lý giải và xử lý kịp thời, hiệu quả.

    Các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ súy cho lối sống hưởng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa;

    Đồng thời, cấu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn chính trị hoạt động ráo riết, chống phá cách mạng ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn.

    2) Nguyên nhân chủ quan:

    Nguyên nhân sâu xa, chủ yếu của tình trạng suy thoái ở một bộ phận cán bộ, đảng viên trước hết là do bản thân những cán bộ, đảng viên đó thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng, hoang mang, dao động trước những tác động từ bên ngoài; sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, bị cám dỗ bởi các lợi ích vật chất, không làm tròn trách nhiệm, bổn phận của mình trước Đảng, trước dân.

    Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái , những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và những hậu quả gây ra.

    Sinh hoạt đảng, nhất là sinh hoạt chi bộ ở nhiều nơi còn hình thức, đơn điệu. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế. Chưa chú trọng xây dựng, tuyên truyền, nhân rộng những mô hình mới, điển hình tiên tiến, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực.

    Một số nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nội dung chưa sát thực tiễn, thiếu tính khả thi và thiếu chế tài xử lý.

    Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp chưa có quyết tâm chính trị cao; việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên phong, gương mẫu.

    Việc xử lý cán bộ, đảng viên vi phạm còn nương nhẹ, nể nang, thiếu cương quyết. Chưa có cơ chế khen thưởng những tập thể, cá nhân tổ chức thực hiện nghị quyết sáng tạo, có hiệu quả và xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc.

    Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, luật pháp thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời.

    Tổ chức bộ máy còn cồng kềnh, chồng chéo, hoạt động kém hiệu lực, hiệu quả. Cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở.

    Thiếu cơ chế để xử lý, thay thế kịp thời những cán bộ lãnh đạo, quản lý yếu về năng lực, giảm sút uy tín, trì trệ trong công tác, kém hiệu quả trong phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực. Chậm ban hành quy định xử lý tổ chức, cá nhân có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ. Một số c ơ chế, chính sách trong đề bạt, bổ nhiệm cán bộ chưa công bằng; chính sách tiền lương, nhà ở chưa tạo được động lực cống hiến cho cán bộ, công chức.

    Việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm, còn có biểu hiện “nhẹ trên, nặng dưới”. Công tác quản lý cán bộ, đảng viên còn thiếu chặt chẽ.

    Nguyên tắc tập trung dân chủ ở nhiều nơi bị buông lỏng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện không nghiêm, chưa có cơ chế để bảo vệ người đấu tranh phê bình.

    Sự phối hợp giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm toán , điều tra, truy tố, xét xử chưa chặt chẽ, xử lý chưa đủ nghiêm minh. Công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí chưa đạt yêu cầu; việc kê khai tài sản, thu nhập còn hình thức.

    Chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ.

    Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ mạnh để đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch , phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị.

    Việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.

    II – NHẬN DIỆN NHỮNG BIỂU HIỆN SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA”

    1. Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

    1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

    2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

    3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

    4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

    5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

    6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.

    7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.

    8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.

    9) Vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích .

    2. Biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống

    1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

    2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành.

    3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

    4) Mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che dấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”.

    5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

    6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên…; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.

    7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

    8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội… Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

    3. Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

    1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

    2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự” . Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

    3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

    4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hoá” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

    6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

    7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

    8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

    9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

    III – MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM

    Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

    Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

    Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách.

    Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

    Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy các cấp. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước.

    Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

    IV – CÁC NHÓM NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

    Đại hội XII đã đề ra yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng với 10 giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa ” trong nội bộ.

    Vì vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ, toàn diện, có hiệu quả các nhóm nhiệm vụ, giải pháp sau:

    1. Về công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình

    1) Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao nhận thức trong toàn Đảng về ý nghĩa, vai trò, tầm quan trọng và sự cần thiết của việc học tập, nghiên cứu, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

    Có kế hoạch học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận bắt buộc hằng năm đối với cán bộ, đảng viên gắn với việc cung cấp thông tin, cập nhật kiến thức mới phù hợp từng đối tượng, từng cấp, từng ngành, từng địa phương.

    Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị.

    2) Tích cực đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, nhất là những mô hình mới, kinh nghiệm hay; khuyến khích phát triển tư duy lý luận phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng.

    Đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức dạy và học lý luận chính trị gắn với ứng dụng thực tế, tăng cường kiểm tra và quản lý chặt chẽ chất lượng dạy và học. Chủ động nắm bắt diễn biến tư tưởng của cán bộ, đảng viên để có chủ trương, giải pháp xử lý kịp thời, hiệu quả.

    3) Xây dựng và thực hiện có hiệu quả nội dung xây dựng Đảng về đạo đức, trong đó chú trọng xây dựng hệ thống chuẩn mực các mối quan hệ của cán bộ, đảng viên với tổ chức đảng và với nhân dân.

    Hằng năm, người đứng đầu và từng cán bộ, đảng viên có cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; các cấp ủy, tổ chức đảng kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết của cán bộ, đảng viên ở địa phương, cơ quan, đơn vị mình.

    4) Hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và bí thư cấp ủy các cấp.

    5) Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ. Xây dựng quy định tự phê bình và phê bình, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm và bảo vệ người thẳng thắn, dám đấu tranh; cấp trên gợi ý kiểm điểm và trực tiếp dự, chỉ đạo ở những nơi có vấn đề phức tạp, nơi có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Hoàn thiện quy chế đánh giá cán bộ một cách khoa học, phù hợp; quy định lấy phiếu tín nhiệm ở các cấp, các ngành định kỳ hoặc đột xuất .

    6) Tăng cường quản lý, chấn chỉnh hoạt động báo chí, xuất bản, Internet, mạng xã hội. P hát huy vai trò, nêu cao trách nhiệm của các cơ quan báo chí, cơ quan chủ quản báo chí trong công tác đấu tranh phòng, chống suy thoái, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Chủ động định hướng, cung cấp thông tin thường xuyên hoặc đột xuất; chú trọng tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những thành quả trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, những nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt. Khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân có thành tích; xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân vi phạm quy định về thông tin, báo chí, tuyên truyền.

    7) Chủ động chuẩn bị các phương án, biện pháp cụ thể, sát với tình hình; xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả đối với các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc .

    8) Hoàn thiện Quy chế về kỷ luật phát ngôn đối với cán bộ, đảng viên; xử lý nghiêm những cá nhân, nhóm người cấu kết với nhau, lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, tôn giáo, dân tộc để tuyên truyền, xuyên tạc và có hành vi nói, viết, lưu trữ, phát tán tài liệu sai trái.

    9) Cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp phải xây dựng kế hoạch, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, giám sát, khắc phục tình trạng quan liêu, xa dân.

    Chú trọng công tác tuyên truyền, giáo dục, rèn luyện phong cách làm việc khoa học, cụ thể, sâu sát cơ sở cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

    10) Hằng năm hoặc khi chuẩn bị đề bạt, luân chuyển, điều động công tác đối với cán bộ, tiêu chí quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức và cán bộ, đảng viên là: chương trình hành động của tập thể và cá nhân; kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; kết quả thực hiện cam kết rèn luyện, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; tự phê bình và phê bình; sự nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý; hiệu quả đấu tranh, khắc phục suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    2. Về cơ chế, chính sách

    1) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện và thực hiện nghiêm cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền, theo hướng quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó; phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm tập thể, cá nhân trong từng công đoạn giải quyết công việc và có chế tài xử lý nghiêm những hành vi vi phạm.

    Kiên quyết sàng lọc, miễn nhiệm, thay thế, cho từ chức đối với cán bộ làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, tín nhiệm thấp mà không chờ hết nhiệm kỳ, hết tuổi công tác, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu.

    Trước mắt, rà soát, kiểm tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm trong thực thi quyền lực gây bức xúc trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

    2) Các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế “xin – cho”, “duyệt – cấp”; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản công, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư, đất đai, tài nguyên, khoáng sản, tài chính, ngân hàng, thuế, hải quan, phân bổ, quản lý và sử dụng biên chế…

    Tăng cường hiệu quả công tác phòng, chống rửa tiền , chuyển mạnh từ thanh toán tiền mặt sang thanh toán không dùng tiền mặt .

    3) Kiên quyết thực hiện đúng mục tiêu, có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương.

    Thực hiện chế độ hợp đồng có thời hạn đối với viên chức nhà nước. Xây dựng và thực hiện chính sách nhà ở nhằm tạo động lực cho cán bộ, công chức theo hướng nhiều chủ thể tham gia, hạn chế tối đa việc sử dụng ngân sách nhà nước.

    4) Đẩy mạnh xã hội hóa , tách cung ứng dịch vụ công và quản lý sản xuất kinh doanh ra khỏi chức năng quản lý nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước; khắc phục tình trạng quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức.

    Rà soát, thoái vốn, cổ phần hóa, chấn chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp quân đội và công an sản xuất kinh doanh thua lỗ, không phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.

    5) Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các quy định nhằm tăng cường quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; khắc phục ngay tình trạng ăn uống, chè chén, “liên hoan”, “gặp mặt” không lành mạnh, với động cơ không trong sáng; khắc phục những bất hợp lý trong công tác cán bộ, như: phân công, phân cấp, thẩm quyền quản lý, quy trình bổ nhiệm,… nhằm bảo đảm nguyên tắc bình đẳng, tổng thể, liên thông giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị và chấn chỉnh, khắc phục tình trạng kén chọn vị trí, chức danh trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

    6) Hoàn thiện quy định về tổ chức, bộ máy và công tác bảo vệ chính trị nội bộ; bảo đảm sự trong sạch về chính trị trong nội bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo cấp chiến lược.

    Chú trọng nắm tình hình và giải quyết tốt vấn đề chính trị hiện nay; chủ động phát hiện, ngăn chặn kịp thời và xử lý nghiêm các đối tượng chống đối, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

    Rà soát, hoàn thiện quy định về quản lý cán bộ, đảng viên nghiên cứu, học tập, lao động và công tác ở nước ngoài. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Quân ủy Trung ương, Đảng ủy Công an Trung ương trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    3. Về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng

    1) Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hoặc đột xuất việc tổ chức thực hiện các nghị quyết, kết luận của Đảng. Xử lý nghiêm tập thể, cá nhân ban hành văn bản không đúng, không phù hợp hoặc thực hiện không nghiêm túc các nội dung nghị quyết, kết luận của Đảng; khen thưởng kịp thời tập thể, cá nhân thực hiện có hiệu quả.

    2) Các cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp ủy các cấp chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận.

    3) Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương và cơ quan thường trực về phòng, chống tham nhũng. Nghiên cứu việc tăng thẩm quyền và chế tài xử lý trách nhiệm của ủy ban kiểm tra các cấp trong việc kiểm tra, giám sát, kỷ luật đối với tổ chức đảng, đảng viên.

    Rà soát, hoàn thiện các quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước.

    4) Tăng thẩm quyền và đề cao trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm khi có dấu hiệu vi phạm hoặc chậm trễ, trì trệ, kém hiệu quả trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao;

    Đồng thời, xem xét tư cách đảng viên và phối hợp với các cơ quan chức năng có biện pháp ngăn chặn hành vi bao che, cản trở, gây khó khăn trong xử lý hoặc có dấu hiệu bỏ trốn.

    5) Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát; phát huy vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, điều tra và các cơ quan tư pháp để nâng cao hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, xử lý nghiêm minh đối với những cán bộ sai phạm theo quy định của pháp luật;

    Trước mắt tập trung xử lý dứt điểm các vụ tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp được dư luận xã hội và nhân dân quan tâm và công khai kết quả xử lý.

    6) Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; cán bộ, đảng viên vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, chính xác, bảo đảm công khai, minh bạch, công bằng.

    Cấp ủy các cấp chỉ đạo nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên; đồng thời, tiến hành rà soát, sàng lọc và đưa ngay những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng.

    7) Thực hiện nghiêm việc kê khai tài sản, thu nhập theo quy định; xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải trình và giám sát việc tăng giảm tài sản của cán bộ, đảng viên.

    Cơ quan đề xuất đề bạt, bổ nhiệm cán bộ phải tiến hành thẩm định, xác minh, đánh giá tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập và công khai theo quy định.

    8) Xây dựng quy định xử lý những tập thể, cá nhân suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có lời nói và việc làm biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nghiêm trọng.

    Người đứng đầu cơ quan, tổ chức đảng phải chịu trách nhiệm nếu không kịp thời phát hiện hoặc phát hiện mà chậm xử lý đối với các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    4. Về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội

    1) Các cấp ủy, chính quyền phải nhận thức sâu sắc, quán triệt và thực hiện nghiêm Quyết định số 217-QĐ/TW về quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và Quyết định số 218- QĐ/TW, ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền .

    2) Tăng cường công tác dân vận của Đảng và của chính quyền; phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị – xã hội, của nhân dân, báo chí và công luận trong đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.

    Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Trước mắt, tập trung giải quyết kịp thời, dứt điểm những vấn đề bức xúc của nhân dân.

    3) Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, bảo đảm mọi chính sách, pháp luật của Nhà nước phải theo đúng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng và phải xuất phát từ nguyện vọng chính đáng, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân.

    4) Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải thực hiện nghiêm túc việc tiếp dân định kỳ hoặc đột xuất để tiếp nhận thông tin, lắng nghe, đối thoại trực tiếp và xử lý những phản ánh, kiến nghị của nhân dân, nhất là những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên.

    Xây dựng và thực hiện Quy định về việc lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với cơ quan, cán bộ, công chức trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp; có hình thức xử lý đối với những tổ chức, cá nhân có chỉ số hài lòng thấp.

    5) Xây dựng và thực hiện cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác và tích cực đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

    V – TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1. Bộ Chính trị ban hành Kế hoạch thực hiện, xác định rõ nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức đảng ở Trung ương và trực thuộc Trung ương; phân công cụ thể và chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Nghị quyết.

    2. Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ chỉ đạo các cơ quan chức năng nghiên cứu, thể chế hóa, cụ thể hóa nội dung Nghị quyết thành các văn bản pháp luật để thực hiện.

    3. Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy, cơ quan trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt, chủ động xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết.

    Nghị quyết số 05-NQ/TW

    Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII

    về ” Một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế “

    I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

    Trong thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế đã được các cấp, các ngành triển khai thực hiện và đạt được kết quả bước đầu. Kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định; tăng trưởng kinh tế duy trì ở mức hợp lý. Mô hình tăng trưởng từng bước chuyển đổi theo hướng kết hợp giữa chiều rộng và chiều sâu; năng suất lao động, năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và năng lực cạnh tranh quốc gia được cải thiện. Cơ cấu nền kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực. Nguồn nhân lực và khoa học – công nghệ có bước phát triển. Kết cấu hạ tầng tiếp tục được cải thiện, quan tâm đầu tư.

    Cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng đạt kết quả bước đầu, không để xảy ra tình trạng đổ vỡ, mất an toàn hệ thống. Nợ xấu và các ngân hàng yếu kém đang từng bước được xử lý. Quản trị doanh nghiệp nhà nước và quản lý vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp tiếp tục được hoàn thiện. Nhiều doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá; vốn đầu tư nhà nước tiếp tục được bảo toàn và phát triển. Hiệu quả đầu tư công từng bước được cải thiện, bước đầu hạn chế tình trạng đầu tư dàn trải.

    Khu vực nông nghiệp cơ bản phát triển ổn định, phương thức tổ chức sản xuất từng bước được đổi mới; sản xuất công nghiệp từng bước được phục hồi; giá trị gia tăng khu vực dịch vụ tăng khá. Hội nhập kinh tế quốc tế được chủ động đẩy mạnh và đạt được nhiều kết quả tích cực; đã hoàn tất việc đàm phán, ký kết một số hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có các FTA thế hệ mới như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA).

    Tuy nhiên, nhìn chung mô hình tăng trưởng về cơ bản vẫn theo mô hình cũ, chậm được đổi mới; tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu tư và số lượng lao động, chưa dựa nhiều vào tăng năng suất lao động, ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tốc độ tăng trưởng kinh tế đang có xu hướng chậm lại, chất lượng tăng trưởng thấp. Phương thức phân bổ nguồn lực xã hội chưa có sự thay đổi rõ rệt; năng suất lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp còn thấp. Kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc, bội chi ngân sách còn lớn, nợ công tăng nhanh, nợ chính phủ đã vượt trần cho phép, áp lực trả nợ lớn.

    Việc thực hiện ba đột phá chiến lược chưa đạt mục tiêu đề ra. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm được cải thiện; môi trường đầu tư, kinh doanh còn nhiều trở ngại. Việc xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ theo hướng hiện đại còn nhiều khó khăn. Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao.

    Cơ cấu lại nền kinh tế triển khai chậm, thiếu đồng bộ, chưa thật sự gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; chưa gắn kết chặt chẽ giữa tổng thể với các trọng tâm. Cơ cấu lại đầu tư chưa gắn với cơ cấu lại tài chính ngân sách nhà nước, bảo đảm an toàn nợ công. Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý nợ xấu gặp nhiều khó khăn; nợ xấu tiềm ẩn trong nền kinh tế còn cao, an toàn hệ thống còn nhiều bất cập; thiếu cơ chế xử lý dứt điểm, triệt để các tổ chức tín dụng yếu kém và nợ xấu. Ðổi mới, sắp xếp lại và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước chưa đạt yêu cầu, tỉ lệ vốn được cổ phần hoá thấp; quản trị doanh nghiệp nhà nước còn nhiều yếu kém.

    Cơ cấu lại nông nghiệp chưa thực sự gắn với xây dựng nông thôn mới; sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu theo mô hình kinh tế hộ nhỏ lẻ, manh mún, phân tán; liên kết giữa sản xuất, chế biến, tiêu thụ còn nhiều bất cập; sự tham gia và đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn còn hạn chế. Cơ cấu lại các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ chưa thực chất, hiệu quả thấp.

    Cơ chế, chính sách điều phối phát triển vùng chưa đủ mạnh. Sự phát triển giữa các địa phương trong vùng và giữa các vùng còn thiếu tính liên kết, bị giới hạn bởi địa giới hành chính; chưa phát huy được các lợi thế cạnh tranh của từng địa phương và của toàn vùng; một số vùng kinh tế trọng điểm chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa phát huy được vai trò đầu tàu, trở thành trung tâm kết nối cho phát triển kinh tế vùng.

    Những yếu kém, hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức và tầm nhìn của các cấp uỷ, chính quyền, doanh nghiệp và cộng đồng về đổi mới mô hình tăng trưởng chưa đầy đủ, có nơi còn bị ảnh hưởng bởi lợi ích cục bộ và tư duy nhiệm kỳ. Việc tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế ở các cấp, các ngành và địa phương còn thụ động, chậm trễ. Đột phá về thể chế, nhất là thể chế thị trường các yếu tố sản xuất để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả nguồn lực phát triển còn bất cập. Đổi mới, hoàn thiện thể chế bên trong và hội nhập với bên ngoài chưa được tiến hành đồng bộ; hội nhập quốc tế chưa gắn kết chặt chẽ với yêu cầu nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của tăng trưởng kinh tế.

    II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU ĐỔI MỚI MÔ HÌNH TĂNG TRƯỞNG

    1- Quan điểm, định hướng đổi mới

    – Đổi mới mô hình tăng trưởng là để nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững toàn diện về cả kinh tế, xã hội và môi trường. Không thúc đẩy tăng trưởng bằng mọi giá, gây tác động xấu đến ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiến bộ, công bằng xã hội, giữ gìn môi trường sinh thái.

    – Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng chú trọng và ngày càng dựa nhiều hơn vào các nhân tố thúc đẩy tăng năng suất lao động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, đặc biệt là phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, trí sáng tạo của con người Việt Nam và thành tựu khoa học – công nghệ của nhân loại, mọi tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước.

    Tuỳ theo tình hình thực tế của từng ngành, lĩnh vực và địa phương mà kết hợp hợp lý giữa tăng trưởng theo chiều rộng và chiều sâu, trong đó lấy tăng trưởng theo chiều sâu là hướng chủ đạo. Chuyển dần từ tăng chủ yếu dựa vào đầu tư và xuất khẩu sang tăng trưởng dựa đồng thời vào cả đầu tư, xuất khẩu và thị trường trong nước. Chuyển dần từ dựa vào gia tăng số lượng các yếu tố đầu vào của sản xuất sang dựa vào tăng năng suất, chất lượng lao động, ứng dụng khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo. Khai thác và phát huy tối đa nội lực kết hợp với thu hút và sử dụng hiệu quả ngoại lực.

    – Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn kết chặt chẽ với thực hiện ba đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế với trọng tâm ưu tiên là: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh hấp dẫn, thuận lợi cho khởi nghiệp và đổi mới, sáng tạo, nghiên cứu và triển khai ứng dụng khoa học – công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trọng dụng nhân tài. Cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới; cơ cấu lại đầu tư công; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng; cơ cấu lại ngân sách nhà nước và nợ công; cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công.

    – Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế là nhiệm vụ cơ bản, trọng yếu, có ý nghĩa quyết định đối với việc thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong giai đoạn hiện nay. Các cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương phải kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện. Toàn hệ thống chính trị và toàn dân, nhất là đội ngũ trí thức, các doanh nhân, doanh nghiệp cần chủ động, sáng tạo, tích cực tham gia và có nhiều đóng góp to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ này.

    2- Một số mục tiêu cụ thể

    – Tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát bình quân dưới 5%/năm; giảm dần tỉ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2022 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP.

    – Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2022 – 2022 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.

    – Giai đoạn 2022 – 2022, hằng năm có khoảng 30 – 35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân hằng năm cao hơn 5,5%; tốc độ tăng năng suất nội ngành đóng góp hơn 60% vào tăng năng suất lao động năm 2022.

    – Đến năm 2022, tỉ trọng lao động có chứng chỉ đào tạo tăng lên khoảng 25%; tỉ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%.

    – Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2022 – 2022 khoảng 30 – 35%; thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN

    III- MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN

    1- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô

    Tiếp tục ổn định và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc; kiểm soát tốt lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; cơ cấu lại thu, chi ngân sách nhà nước và nợ công theo hướng bảo đảm an toàn, bền vững; xử lý có hiệu quả nợ xấu của nền kinh tế gắn với cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng yếu kém.

    2- Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược

    2.1- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trọng tâm là:

    – Hoàn thiện thể chế về cổ phần hoá, định giá doanh nghiệp nhà nước; thể chế về tài sản và quyền về tài sản (bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ tài sản); thể chế về thị trường các yếu tố sản xuất, bảo đảm để thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực; thực hiện phân bổ nguồn lực theo nguyên tắc thị trường vào những ngành, lĩnh vực và vùng có hiệu quả cao, có tác động lan toả. Khắc phục tư tưởng bao cấp, xin – cho, ỷ lại của các cấp, ngành, địa phương và trong xã hội.

    – Phát triển thị trường tài chính một cách cân bằng hơn giữa thị trường tiền tệ và thị trường vốn; giữa thị trường vốn cổ phiếu và trái phiếu; giữa trái phiếu chính phủ và trái phiếu doanh nghiệp; giữa dịch vụ tín dụng và các dịch vụ ngân hàng phi tín dụng; quan tâm phát triển thị trường vốn đầu tư mạo hiểm và tín dụng tiêu dùng.

    – Hoàn thiện thể chế quản lý đầu tư công, bảo đảm hiệu quả và phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó ưu tiên đổi mới cách thức thẩm định, đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư theo mức độ hiệu quả kinh tế dự tính của dự án. Có chính sách thu hút mạnh mẽ các nguồn lực trong xã hội để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, cải thiện chất lượng môi trường kinh doanh, tạo niềm tin để doanh nghiệp, người dân, kiều bào ta ở nước ngoài đầu tư vốn phát triển sản xuất, kinh doanh.

    – Khuyến khích và tạo thuận lợi, hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo, phát triển doanh nghiệp. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, tăng cường kết nối và phát huy tác động lan toả với các khu vực kinh tế trong nước.

    – Tiếp tục hoàn thiện luật pháp về lao động và thị trường lao động; tạo thuận lợi cho việc dịch chuyển lao động ở trong nước.

    – Hoàn thiện chính sách, luật pháp, nâng cao năng lực thực thi pháp luật về môi trường; khắc phục cơ bản tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt quan tâm các khu vực trọng điểm; giám sát các vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới; ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.

    – Nghiên cứu, xây dựng thể chế vượt trội cho những địa phương, vùng kinh tế động lực, khu hành chính – kinh tế đặc biệt để thực hiện tốt vai trò đầu tàu, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

    2.2- Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại. Đẩy mạnh thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công – tư, bảo đảm tính công khai, minh bạch; có cơ chế giám sát, quản lý và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đối với từng dự án. Tập trung vốn đầu tư công và các nguồn vốn đầu tư khác để thực hiện một số dự án đầu tư hạ tầng trọng điểm và tại các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước. Sớm triển khai xây dựng một số khu hành chính – kinh tế đặc biệt; ưu tiên phát triển một số đô thị thông minh.

    3- Ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ, nhất là khoa học – công nghệ hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế

    – Nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ. Thực hiện cơ chế đối ứng hợp tác công – tư để doanh nghiệp khai thác có hiệu quả các dự án đổi mới công nghệ, sáng tạo, nghiên cứu và phát triển.

    – Tiếp tục phát triển mạnh các khu công nghiệp, khu công nghệ cao; thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới, sáng tạo. Xây dựng và thực hiện chính sách nhập khẩu công nghệ.

    – Xây dựng, vận hành có hiệu quả hệ thống cơ sở dữ liệu và thực hành tốt nhất về năng suất lao động để theo dõi tình hình thực hiện và phân tích, đánh giá, dự báo.

    4- Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm

    4.1- Về cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước

    – Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn đầu tư của Nhà nước một cách công khai, minh bạch theo cơ chế thị trường; tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát, kiểm toán, không để xảy ra thất thoát vốn, tài sản nhà nước; có cơ chế kiểm soát phù hợp nguồn vốn mua bán, sáp nhập doanh nghiệp; các doanh nghiệp cổ phần hoá phải niêm yết trong thời hạn một năm kể từ ngày phát hành cổ phiếu lần đầu; thu hút nhà đầu tư chiến lược có năng lực, giảm tỉ lệ sở hữu nhà nước xuống mức đủ để thay đổi quản trị doanh nghiệp một cách thực chất.

    – Xây dựng Đề án thành lập cơ quan chuyên trách làm đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước trình Bộ Chính trị xem xét, quyết định; sớm xoá bỏ chức năng đại diện sở hữu của các bộ, uỷ ban nhân dân đối với vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp; đổi mới quản trị doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc thị trường và phù hợp với thông lệ quốc tế.

    – Xây dựng và thực hiện cơ chế kiểm tra, giám sát chặt chẽ; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ, các dự án đầu tư của doanh nghiệp nhà nước không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp theo nguyên tắc và cơ chế thị trường; xem xét, thực hiện biện pháp phá sản doanh nghiệp nhà nước theo quy định của pháp luật.

    – Tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ việc vay nợ và sử dụng vốn vay của các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty nhà nước, nhất là vay nợ nước ngoài; hạn chế tối đa cấp bảo lãnh Chính phủ cho các khoản vay mới.

    4.2- Về cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng

    – Ban hành các quy định hỗ trợ xử lý nợ xấu và cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; giao thẩm quyền và nâng cao năng lực của Công ty Quản lý tài sản các tổ chức tín dụng (VAMC) trong mua bán nợ theo giá thị trường gắn với xử lý tài sản thế chấp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của chủ nợ; đồng thời, bố trí nguồn lực phù hợp để xử lý nhanh và dứt điểm nợ xấu trong nền kinh tế.

    – Tăng cường công tác thanh tra, giám sát, quản trị rủi ro các tổ chức tín dụng. Tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; xử lý căn bản và triệt để nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém bằng các hình thức phù hợp với cơ chế thị trường trên nguyên tắc thận trọng, bảo đảm quyền lợi của người gửi tiền và giữ vững sự ổn định, an toàn hệ thống.

    4.3- Tiếp tục cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công

    – Rà soát, hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn, định mức kinh tế – kỹ thuật, đơn giá xây dựng, suất đầu tư của các ngành kinh tế. Thực hiện cơ cấu lại đầu tư công gắn với cơ cấu lại tài chính, ngân sách nhà nước và nợ công; thực hiện tốt kế hoạch đầu tư công trung hạn gắn với kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch vay, trả nợ công.

    – Công khai, minh bạch thông tin và tăng cường giám sát đối với đầu tư công. Triển khai quyết liệt các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng, thất thoát, lãng phí vốn, tài sản nhà nước. Tập trung tháo gỡ vấn đề chi ngân sách, nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài. Xác định rõ trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu cơ quan, tổ chức đối với hiệu quả kinh tế của các dự án đầu tư.

    4.4- Đổi mới, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập

    – Tiếp tục thực hiện giao quyền tự chủ đầy đủ về tài chính, tổ chức, biên chế và hoạt động cho các đơn vị sự nghiệp công lập; tính đúng, tính đủ chi phí hợp lý, điều chỉnh giá các loại dịch vụ công theo cơ chế thị trường; chuyển từ cơ chế cấp phát sang đặt hàng, từ hỗ trợ cho các đơn vị cung cấp sang hỗ trợ trực tiếp cho các đối tượng thụ hưởng, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các đơn vị sự nghiệp công lập. Khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế tham gia phát triển, cung cấp dịch vụ công; phát triển thị trường dịch vụ công có sự quản lý, điều tiết phù hợp của Nhà nước.

    – Sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện hạch toán như doanh nghiệp đối với các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện, cổ phần hoá các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện, trừ các bệnh viện, trường học; giải thể các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động kém hiệu quả; không để cổ phần hoá thành tư nhân hoá và xã hội hoá thành thương mại hoá dịch vụ công.

    4.5- Đẩy mạnh cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

    – Nghiên cứu, chuyển giao, ứng dụng khoa học – công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường; chuyển mạnh từ sản xuất lấy số lượng làm mục tiêu sang sản xuất nâng cao chất lượng, hiệu quả, có giá trị gia tăng cao, phù hợp với điều kiện biến đổi khí hậu, nước biển dâng để lựa chọn phát triển các sản phẩm phát huy lợi thế so sánh của từng địa phương, từng vùng và cả nước.

    – Tiếp tục đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp; nhân rộng các mô hình tổ chức sản xuất mới, hiệu quả đã được kiểm chứng; phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị, kết nối với hệ thống tiêu thụ ở cả trong nước và ngoài nước; chuyển mạnh từ sản xuất theo hộ gia đình riêng lẻ sang mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn; có cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút mạnh mẽ các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn.

    – Phát triển mạnh công nghiệp chế biến sâu, chế biến tinh nông, lâm, thuỷ sản; phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, góp phần tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động nông nghiệp, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

    – Tiếp tục đầu tư phát triển, hiện đại hoá kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn; tăng cường năng lực phòng, chống, giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu, hợp tác sử dụng có hiệu quả, bền vững nguồn nước xuyên quốc gia; bảo vệ môi trường sinh thái.

    4.6- Cơ cấu lại một cách thực chất các ngành công nghiệp

    – Xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia, tạo khuôn khổ chính sách đồng bộ, trọng tâm, đột phá hướng vào tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh.

    – Tập trung vào những ngành công nghiệp nền tảng, có lợi thế cạnh tranh và có ý nghĩa chiến lược đối với tăng trưởng nhanh, bền vững; lựa chọn sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp chủ lực để ưu tiên phát triển, cơ cấu lại; phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, tăng mạnh năng suất nội bộ ngành, tăng hàm lượng công nghệ và tỉ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm.

    – Chú trọng phát triển công nghiệp sản xuất linh kiện, cụm linh kiện, thúc đẩy một số mặt hàng tham gia sâu, có hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị, phân phối toàn cầu.

    4.7- Thực hiện cơ cấu lại và phát triển nhanh các ngành dịch vụ, duy trì tốc độ tăng trưởng các ngành dịch vụ cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP

    – Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ tiềm năng, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như tài chính, ngân hàng, hàng hải, logistics, dịch vụ kỹ thuật dầu khí, hàng không, dịch vụ thương mại; dịch vụ giáo dục, đào tạo; dịch vụ y tế, chăm sóc sức khoẻ; các loại dịch vụ kiểm toán, tư vấn, pháp lý…

    – Thực hiện có hiệu quả chương trình phát triển du lịch quốc gia, tạo chuyển biến mạnh để đến năm 2022 du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước.

    5- Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế

    – Thúc đẩy hình thành và phát triển các tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, có công nghệ hiện đại để làm nòng cốt, mũi nhọn phát triển kinh tế, cùng với sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước, nâng cao sức cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài.

    – Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp chính thức có đăng ký, giảm dần và thu hẹp quy mô kinh doanh phi chính thức.

    – Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm cơ bản gánh nặng chi phí đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; đổi mới cách thức quản lý và thái độ làm việc của cán bộ, công chức theo hướng hỗ trợ và phục vụ doanh nghiệp; công khai, minh bạch, tăng cường kỷ luật, kỷ cương đối với cán bộ, công chức, cơ quan nhà nước, xử lý nghiêm các tiêu cực, nhũng nhiễu.

    6- Đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá

    – Hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu lực thực thi các quy hoạch phát triển kinh tế vùng; nâng cao năng lực các Ban Chỉ đạo Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ trong chỉ đạo tổ chức thực hiện các quy hoạch phát triển vùng và chỉ đạo, giám sát liên kết, phối hợp phát triển kinh tế giữa các địa phương trong vùng.

    – Nghiên cứu, rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của chính quyền địa phương và hình thành thể chế điều phối phát triển kinh tế theo vùng. Các địa phương trong vùng phối hợp xây dựng các đề án, thoả thuận phối hợp, liên kết phát triển kinh tế – xã hội; phối hợp ban hành và thực hiện chính sách thu hút đầu tư, xúc tiến đầu tư, ưu tiên các ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế cạnh tranh.

    – Thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá trong tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá; kiểm soát chặt chẽ quá trình phát triển đô thị, hoàn thiện mô hình phát triển kinh tế đô thị, tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và phương thức quản lý của chính quyền đô thị. Rà soát, hoàn thiện quy hoạch tổng thể đô thị quốc gia với tầm nhìn đến năm 2050.

    7- Đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh

    – Chính sách quốc phòng, an ninh phải tạo thuận lợi và hỗ trợ phát triển kinh tế – xã hội; đồng thời, phát triển kinh tế phải góp phần gia tăng tiềm lực quốc phòng, an ninh. Xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh tiên tiến, hiện đại. Các dự án phát triển kinh tế, xã hội trong các khu vực phòng thủ, tuyến biên giới và vị trí chiến lược phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đặc thù đối với doanh nghiệp quốc phòng, an ninh.

    – Ưu tiên phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, gắn với bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia và nâng cao đời sống nhân dân vùng biển, đảo. Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các ngành khai thác, chế biến dầu khí; cảng biển, đóng và sửa chữa tàu biển, vận tải biển; khai thác và chế biến hải sản, các dịch vụ hậu cần nghề cá; du lịch biển, đảo. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội phục vụ sản xuất và đời sống vùng biển, đảo. Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người dân định cư lâu dài trên các đảo.

    8- Đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước

    – Đổi mới phương thức quản lý nhà nước về kinh tế theo hướng xây dựng nhà nước quản lý và phục vụ; đồng thời, tăng cường khả năng điều tiết, giám sát, kiểm tra và thanh tra theo mức độ rủi ro và tuân thủ pháp luật của đối tượng quản lý; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật.

    – Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện điện tử hoá nghiệp vụ quản lý nhà nước và xã hội hoá việc xây dựng các dữ liệu thông tin quản lý nhà nước.

    – Tiếp tục thực hiện tinh giản biên chế gắn với cải cách tiền lương; đổi mới mạnh mẽ quy trình, phương thức tổ chức tuyển dụng, sử dụng, trả lương, đánh giá, đề bạt cán bộ; thực hiện bổ nhiệm, đề bạt cán bộ chủ yếu dựa trên thành tích, kết quả công việc; tăng cường trách nhiệm giải trình của người đứng đầu đối với cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý và kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao của đơn vị.

    – Tăng cường năng lực các cơ quan chức năng quản lý và giám sát thị trường. Xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, liêm chính, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương của các cơ quan nhà nước và người đứng đầu.

    IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    1- Các ban đảng Trung ương, các ban cán sự đảng, đảng đoàn, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết; xác định nhiệm vụ, chủ trương, các giải pháp phù hợp, cụ thể thực hiện ngay trong phạm vi tổ chức, cơ quan, đơn vị, ngành và địa phương.

    2- Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, ưu tiên các dự án luật trực tiếp hỗ trợ đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; tăng cường giám sát của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội về đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế.

    3- Ban cán sự đảng Chính phủ, ban cán sự đảng các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương:

    – Xây dựng kế hoạch hành động với lộ trình và phân công cụ thể trách nhiệm cho các tổ chức, đơn vị thực hiện phù hợp với mục tiêu, yêu cầu và điều kiện cụ thể của từng ngành, lĩnh vực, địa phương và đơn vị.

    – Tập trung chỉ đạo thực hiện một số nhiệm vụ cấp bách và trọng tâm sau:

    + Đẩy mạnh cơ cấu lại đầu tư công; khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, tham nhũng, lãng phí, nợ đọng xây dựng cơ bản.

    + Cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công theo hướng bảo đảm an toàn, bền vững; thực hành triệt để tiết kiệm chi tiêu trong khả năng của nền kinh tế, chỉ vay trong khả năng trả nợ; siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính – ngân sách nhà nước.

    + Xử lý có hiệu quả các tổ chức tín dụng yếu kém, tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu của nền kinh tế một cách căn bản và triệt để; từng bước xử lý và xoá bỏ tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo; đẩy mạnh thoái vốn ngoài ngành của các ngân hàng thương mại.

    + Đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn đầu tư nhà nước một cách minh bạch, thực chất, thận trọng theo cơ chế thị trường; kiên quyết xử lý các doanh nghiệp nhà nước thua lỗ không thể phục hồi.

    + Đẩy mạnh sắp xếp, cơ cấu lại và giao quyền tự chủ đầy đủ cho các tổ chức, đơn vị sự nghiệp công lập.

    + Phát huy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ và phát triển mạnh mẽ doanh nghiệp cả về số lượng và chất lượng.

    + Tập trung, tích tụ ruộng đất, cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới có hiệu quả, phù hợp với thực tế biến đổi khí hậu.

    5- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với Thông tấn xã Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, các cơ quan thông tin, báo chí tổ chức tuyên truyền sâu, rộng và liên tục về Nghị quyết, kết quả thực hiện, những cách làm sáng tạo, điển hình tốt; phê bình những cá nhân, tổ chức chần chừ, thiếu tích cực, thụ động hoặc thực hiện không đạt kết quả như yêu cầu, nhiệm vụ đề ra.

    6- Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các ban cán sự đảng, đảng uỷ trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc triển khai thực hiện Nghị quyết; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

    HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHOÁ XII

    về ” Thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp đ ịnh thương mại tự do thế hệ mới”

    1- Từ khi nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (năm 2007) đến nay, tiến trình chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta ngày càng sâu rộng hơn, đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện trên các lĩnh vực, nổi bật là:

    – Hội nhập kinh tế quốc tế đã đóng góp quan trọng vào việc mở rộng và đưa quan hệ của nước ta với các đối tác đi vào chiều sâu, tạo thế đan xen lợi ích, góp phần gìn giữ môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; quảng bá hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế của nước ta trên trường quốc tế.

    2- Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, hội nhập kinh tế quốc tế vẫn còn một số hạn chế, yếu kém:

    – Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về hội nhập kinh tế quốc tế có nơi, có lúc chưa được quán triệt kịp thời, đầy đủ và thực hiện nghiêm túc. Hội nhập kinh tế quốc tế còn bị tác động bởi cách tiếp cận phiến diện, ngắn hạn và cục bộ; do đó, chưa tận dụng được hết các cơ hội và ứng phó hữu hiệu với các thách thức.

    – Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và quá trình đổi mới ở trong nước, nhất là đổi mới, hoàn thiện thể chế, trước hết là hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách chưa được thực hiện một cách đồng bộ, chưa gắn kết chặt chẽ với quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu bảo đảm quốc phòng – an ninh, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, môi trường sinh thái, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc.

    – Hội nhập kinh tế quốc tế chưa được phối hợp chặt chẽ, hiệu quả với hội nhập trong các lĩnh vực khác. Chưa tạo được sự đan xen chặt chẽ lợi ích chiến lược, lâu dài với các đối tác, nhất là các đối tác quan trọng. Việc ứng phó với những biến động và xử lý những tác động từ môi trường khu vực và quốc tế còn bị động, lúng túng và chưa đồng bộ.

    3- Hiện nay, tình hình trong nước, khu vực và thế giới đã có nhiều thay đổi, đang diễn biến phức tạp, khó lường. Bên cạnh thời cơ, thuận lợi, đất nước ta tiếp tục phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong phát triển kinh tế – xã hội, khả năng bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định chính trị – xã hội, giữ vững môi trường hoà bình, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững.

    Tuy nhiên, việc khắc phục những hạn chế, yếu kém, tồn tại và triển khai thực hiện các cam kết quốc tế mới cũng sẽ đặt ra nhiều khó khăn, thách thức không chỉ về kinh tế mà còn cả về chính trị, xã hội. Sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, nhiều ngành, doanh nghiệp và sản phẩm của nước ta sẽ gặp khó khăn hơn. Việc thực hiện các cam kết sâu rộng và cao hơn, nhất là vấn đề lao động, việc làm, bảo vệ môi trường… đáp ứng yêu cầu nội luật hoá các cam kết nếu không được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ, có lộ trình, bước đi phù hợp, sẽ tác động tiêu cực đến quá trình đổi mới, hoàn thiện thể chế, giải quyết những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Việc thực hiện các tiêu chuẩn của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đặt ra những thách thức mới không chỉ đối với quản lý của Nhà nước mà còn có thể ảnh hưởng đến ổn định chính trị – xã hội, vai trò và hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

    Những cơ hội và thách thức nêu trên có mối quan hệ qua lại và có thể chuyển hoá lẫn nhau. Cơ hội có thể trở thành thách thức nếu không được tận dụng kịp thời. Thách thức có thể biến thành cơ hội nếu chúng ta chủ động ứng phó thành công.

    II- MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO

    Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội, nhằm tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

    2- Quan điểm chỉ đạo

    – Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia – dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ giữa tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

    – Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu. Nhà nước cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế.

    – Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xã hội, đặc biệt là công đoàn, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới.

    III- MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG, CHÍNH SÁCH LỚN

    1- Chủ trương, chính sách chung

    – Xử lý thoả đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế.

    – Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới, bảo đảm nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Xác định gia tăng xuất khẩu, số lượng và chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế là các tiêu chí kinh tế trực tiếp để đánh giá kết quả hội nhập quốc tế về kinh tế.

    – Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững; thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị trong tình hình mới và thực thi các cam kết quốc tế. Tập trung nghiên cứu, triển khai thực hiện các giải pháp mới có hiệu quả để phát huy sức mạnh tổng hợp và sự sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân; huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển.

    – Trong 5 – 10 năm tới, tập trung khai thác hiệu quả các cam kết quốc tế, xây dựng các cơ chế, chính sách phòng vệ thương mại, phòng ngừa và giải quyết tranh chấp quốc tế; có chính sách phù hợp hỗ trợ các lĩnh vực có năng lực cạnh tranh thấp vươn lên; tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ, trình độ pháp luật quốc tế, xây dựng hàng rào kỹ thuật, biện pháp phòng vệ chủ động phù hợp.

    2- Các chủ trương, chính sách cụ thể

    2.1- Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức

    – Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân về hội nhập kinh tế quốc tế nói riêng và hội nhập quốc tế nói chung. Nâng cao hiểu biết và sự đồng thuận của cả xã hội, đặc biệt là của doanh nghiệp, doanh nhân đối với các thoả thuận quốc tế, đặc biệt là cơ hội, thách thức và những yêu cầu phải đáp ứng khi tham gia và thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới bằng các hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp và hiệu quả cho từng ngành hàng, hiệp hội, doanh nghiệp và cộng đồng.

    – Chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Chủ động, kịp thời phát hiện, đấu tranh với các luận điệu, quan điểm sai trái, thù địch; bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

    2.2- Hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao năng lực thực thi pháp luật

    – Nâng cao nhận thức và năng lực pháp lý, đặc biệt là luật pháp quốc tế, thương mại quốc tế, trước hết là của cán bộ chủ chốt các ngành và chính quyền các cấp, doanh nghiệp, cán bộ làm công tác tố tụng, đội ngũ luật sư và những người trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế.

    – Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo quốc gia về hội nhập quốc tế và các ban chỉ đạo liên ngành về hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực chính trị – quốc phòng – an ninh, hội nhập quốc tế trong lĩnh vực văn hoá – xã hội, giáo dục, khoa học – công nghệ và các lĩnh vực khác nhằm tạo sức mạnh tổng hợp của quốc gia trong hội nhập kinh tế quốc tế.

    2.3- Nâng cao năng lực cạnh tranh

    – Nghiêm túc quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá XII về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung ưu tiên đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Tiếp tục ổn định và củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô vững chắc; kiểm soát tốt lạm phát; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; giữ vững an ninh kinh tế.

    – Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược; hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại; chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước. Ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ, nhất là khoa học – công nghệ hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

    – Đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng vùng, địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Tập trung ưu tiên cơ cấu lại đầu tư, trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước; cơ cấu lại thị trường tài chính, trọng tâm là các tổ chức tín dụng; đổi mới, cơ cấu lại khu vực sự nghiệp công lập; cơ cấu lại nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ… Đồng thời, đổi mới phương thức thực hiện liên kết, phối hợp trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hoá.

    – Xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân cả về số lượng, chất lượng ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế để khu vực kinh tế này thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế, một lực lượng nòng cốt trong hội nhập kinh tế quốc tế.

    – Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực. Tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo; đẩy nhanh phổ cập ngoại ngữ, trọng tâm là tiếng Anh trong giáo dục các cấp. Đẩy mạnh dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp; tăng cường ứng dụng khoa học – công nghệ trong sản xuất kinh doanh.

    – Giám sát thường xuyên, tăng cường công tác dự báo về tăng trưởng xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài, năng suất lao động, xuất khẩu lao động, xác định cơ cấu trong mỗi ngành kinh tế và toàn bộ nền kinh tế để có cơ sở đánh giá hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế và kịp thời điều chỉnh chính sách, biện pháp.

    2.4- Tập trung ưu tiên phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới

    – Đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân ở nông thôn. Chủ động ban hành và triển khai thực hiện chính sách đối với nông nghiệp và nông thôn, nhất là chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất gắn với cơ cấu lại lao động ở nông thôn nhằm khắc phục những điểm yếu của sản xuất nhỏ, manh mún, kết nối kém; khoa học – công nghệ trình độ thấp; kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn lạc hậu.

    – Tập trung phát triển ngành nông nghiệp với các sản phẩm sạch, thân thiện với môi trường, nông nghiệp hữu cơ, có năng suất cao, có giá trị lớn và có khả năng xuất khẩu phù hợp với biến đổi khí hậu và môi trường sinh thái. Triển khai hiệu quả các nội dung “tam nông”, mô hình “liên kết bốn nhà”. Khuyến khích phát triển bền vững kinh tế tập thể, nòng cốt là hợp tác xã kiểu mới với nhiều hình thức liên kết, hợp tác đa dạng; tạo điều kiện cho kinh tế hộ gia đình phát triển góp phần hình thành chuỗi giá trị từ sản xuất đến chế biến, tiêu dùng và xuất khẩu.

    – Hiện đại hoá, thương mại hoá nông nghiệp, chuyển mạnh sang phát triển nông nghiệp theo chiều sâu, sản xuất lớn, dựa vào khoa học – công nghệ, có năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng cao. Chuyển nền nông nghiệp từ sản xuất lương thực là chủ yếu sang phát triển nền nông nghiệp đa dạng phù hợp với lợi thế của từng vùng.

    – Tranh thủ lộ trình chuyển đổi quy định trong các cam kết quốc tế để tập trung thực hiện các cơ chế, chính sách phù hợp nhằm tạo động lực mới cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, đặc biệt là các chính sách để tích tụ, tập trung ruộng đất, thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; tổ chức nông dân sản xuất nông sản hàng hoá quy mô lớn, chất lượng bảo đảm gắn với chế biến, tiêu thụ và xuất khẩu. Xây dựng nông nghiệp phát triển bền vững, hiệu quả trong hội nhập kinh tế quốc tế và ứng phó với biến đổi khí hậu.

    2.5- Tăng cường quốc phòng, an ninh

    – Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân, đặc biệt là xây dựng thế trận lòng dân vững chắc. Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.

    – Kết hợp tuyên truyền, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng và tính tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế với tăng cường công tác giáo dục, nâng cao cảnh giác cách mạng cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, nhận thức rõ âm mưu và hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng hội nhập quốc tế để tiến hành chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá đất nước ta.

    – Chủ động, tỉnh táo, đấu tranh kịp thời với những âm mưu, ý đồ thông qua hội nhập kinh tế quốc tế để xâm phạm chủ quyền, an ninh quốc gia, áp đặt về chính trị đối với nước ta.

    – Đẩy mạnh việc phòng, chống tội phạm, kiên quyết triệt phá những băng nhóm tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm công nghệ cao, tội phạm kinh tế, khủng bố,… Thực hiện đồng bộ các giải pháp bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn. Tăng cường hiệu quả hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống.

    – Kết hợp tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh với phát triển kinh tế – xã hội; các dự án, công trình kinh tế trong các khu vực phòng thủ phải bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh, có tính lưỡng dụng, nhất là ở những vị trí trọng yếu, chiến lược. Theo sát, nắm chắc tình hình, làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng hội nhập, gắn kết kinh tế để chống phá, gây mất ổn định chính trị – xã hội.

    – Xây dựng kế hoạch, lộ trình và triển khai cơ cấu, sắp xếp, tổ chức lại doanh nghiệp trong lực lượng vũ trang. Tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong lực lượng vũ trang chủ động tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh kết hợp với bảo đảm an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh.

    2.6- Nâng cao và phát huy hiệu quả uy tín và vị thế quốc tế

    – Đẩy mạnh và chủ động làm sâu sắc hơn quan hệ với các đối tác, nhất là các đối tác có tầm quan trọng chiến lược đối với sự phát triển và an ninh của đất nước; chủ động, tích cực tham gia xây dựng Cộng đồng ASEAN, đưa các khuôn khổ quan hệ đã xác lập đi vào thực chất, tạo sự đan xen gắn kết lợi ích lâu bền giữa nước ta với các đối tác, nhất là các đối tác lớn, quan trọng.

    – Tạo dựng và nâng cao mức độ tin cậy, nâng cao hiệu quả các cơ chế hợp tác giữa ta và các đối tác, trước hết là các nước láng giềng, các nước lớn. Thúc đẩy các biện pháp xây dựng lòng tin, minh bạch hoá chính sách và thực hiện nghiêm túc, nhất quán các cam kết quốc tế. Gia tăng số lượng và mức độ hiệu quả của các cơ chế hợp tác giữa ta và các nước đối tác.

    – Đẩy mạnh, nâng tầm công tác đối ngoại đa phương; chủ động, tích cực tham gia các định chế đa phương, góp phần vào quá trình định hình các cấu trúc khu vực và toàn cầu; tích cực tham gia vào những vấn đề quan trọng đối với an ninh và phát triển của đất nước.

    – Phát huy vị thế quốc tế để hoàn thành tốt nhiệm vụ bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc khi triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Phát huy uy tín và vị thế quốc tế để tạo môi trường thuận lợi cho phát triển, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền trong quá trình hội nhập; giữ vững thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, ổn định chính trị, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các âm mưu và ý đồ phá hoại của các thế lực thù địch.

    – Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa ngoại giao nhà nước, đối ngoại Đảng và đối ngoại nhân dân trong quá trình hội nhập để phát huy tốt vai trò và thế mạnh đặc thù của mỗi kênh đối ngoại.

    2.7- Bảo vệ và phát huy những giá trị văn hoá dân tộc

    – Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về văn hoá trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhất là trong bối cảnh có sự phát triển đột phá của công nghệ thông tin và truyền thông.

    – Đẩy mạnh hợp tác song phương và đa phương về văn hoá. Lồng ghép các hoạt động hội nhập quốc tế trong quá trình xây dựng và triển khai chiến lược bảo tồn, phát huy và quảng bá văn hoá. Chủ động nâng cao hiệu quả quản lý nội dung sản phẩm văn hoá, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn sự xâm nhập của những sản phẩm văn hoá không lành mạnh từ bên ngoài (đặc biệt là trên mạng Internet).

    2.8- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội

    – Sửa đổi, bổ sung, kiện toàn hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, tạo khuôn khổ pháp lý đầy đủ, phù hợp, các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm an toàn vệ sinh lao động, trợ cấp xã hội…; xây dựng và triển khai chương trình hợp tác về tương hỗ bảo hiểm xã hội với các nước. Hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội, đặc biệt về quan hệ lao động và những vấn đề mới phát sinh từ quá trình thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

    – Thực hiện có hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững theo phương pháp tiếp cận đa chiều; thu hẹp khoảng cách phát triển và khoảng cách giàu – nghèo giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc, bảo đảm công bằng xã hội. Chủ động xây dựng và thực hiện chính sách bảo đảm trợ giúp xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế hoặc dễ bị tổn thương của quá trình triển khai các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

    – Bảo đảm mức sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ, các dịch vụ xã hội cơ bản cho nhân dân như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin, đặc biệt là ở các khu vực nông thôn, miền núi, biên giới và hải đảo.

    2.9- Giải quyết tốt các vấn đề môi trường

    – Tăng cường quản lý nhà nước, hoàn thiện cơ chế, chính sách và thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu. Kiên quyết bảo đảm các yêu cầu về bảo vệ môi trường trong các dự án đầu tư. Chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường. Thực hiện quy chuẩn, tiêu chuẩn phát thải theo lộ trình phù hợp với các cam kết quốc tế.

    – Triển khai mạnh mẽ các biện pháp cải thiện chất lượng môi trường và điều kiện sống của người dân. Kiểm soát chặt chẽ nguồn gây ô nhiễm. Hạn chế, tiến tới ngăn chặn hoàn toàn tình trạng ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, lưu vực sông, khu công nghiệp, khu đô thị và bờ biển. Tập trung xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng, nhất là các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) quy mô lớn. Triển khai nhanh lộ trình kiểm soát khí thải đối với xe cơ giới, nhất là ở các đô thị lớn.

    – Khẩn trương xây dựng, hoàn thiện và thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và đối với môi trường. Thúc đẩy xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường và bảo vệ môi trường. Mỗi người dân là một người thực hiện và giám sát thực tế bảo vệ môi trường để kịp thời ngăn chặn, thông báo, tố cáo những hành vi vi phạm, huỷ hoại môi trường.

    Khai thác, sử dụng khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, hoàn thiện quy hoạch và tăng cường quản lý, giám sát, sử dụng hợp lý, hiệu quả, tiết kiệm các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Khai thác và sử dụng bền vững nguồn nước; chủ động hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ, quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước xuyên quốc gia, nhất là nguồn nước sông Mê Công. Tăng cường bảo vệ và phát triển rừng, nhất là rừng phòng hộ ven biển, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học.

    2.10- Đổi mới tổ chức, hoạt động của tổ chức công đoàn và quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp

    – Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xã hội, nhất là tổ chức công đoàn trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đổi mới tổ chức, hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; tạo điều kiện về nguồn lực đủ mạnh để bảo đảm hiệu quả các hoạt động đại diện, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, thu hút người lao động và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp tham gia Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; vai trò của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các tổ chức đại diện cộng đồng doanh nghiệp. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức của người lao động nằm ngoài hệ thống của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

    – Ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật về phân công trách nhiệm quản lý nhà nước để đổi mới, tăng cường quản lý có hiệu quả sự ra đời và hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động, tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh ổn định, thành công.

    – Bảo đảm sự ra đời, hoạt động của tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp phù hợp với quá trình hoàn thiện khuôn khổ pháp luật, kiện toàn các công cụ, biện pháp quản lý nhằm tạo điều kiện để tổ chức này hoạt động thuận lợi, lành mạnh theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), đồng thời giữ vững ổn định chính trị – xã hội.

    IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    – Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban Chỉ đạo Quốc gia về Hội nhập quốc tế, các ban chỉ đạo liên ngành về hội nhập kinh tế quốc tế xây dựng và chỉ đạo triển khai thực hiện chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết.

    – Các tỉnh uỷ, thành uỷ, ban đảng, đảng đoàn, ban cán sự đảng, đảng uỷ trực thuộc Trung ương và đảng uỷ đơn vị sự nghiệp Trung ương quán triệt Nghị quyết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình.

    – Ban Tuyên giáo Trung ương hướng dẫn việc học tập, quán triệt Nghị quyết, chỉ đạo công tác tuyên truyền, tạo nhận thức đúng trong toàn bộ hệ thống chính trị, toàn dân, toàn quân, tạo sức mạnh tổng hợp bảo đảm thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

    – Ban Kinh tế Trung ương chủ trì, phối hợp với Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc triển khai thực hiện Nghị quyết; định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư.”

    HỘI NGHỊ LẦN THỨ TƯ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHOÁ XII

    về ” Tình hình kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 “

    Ban Chấp hành Trung ương cơ bản tán thành nội dung Báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, dự toán ngân sách nhà nước năm 2022 do Ban cán sự đảng Chính phủ trình; đồng thời lưu ý, nhấn mạnh một số điểm sau đây:

    I- VỀ BỐI CẢNH VÀ TÌNH HÌNH NĂM 2022

    Năm 2022 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, bên cạnh những thuận lợi, đã xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức gay gắt. Tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp. Tăng trưởng kinh tế và thương mại toàn cầu thấp hơn dự báo, giá nhiều hàng hoá cơ bản, nhất là giá dầu thô ở mức thấp. Biến đổi khí hậu diễn ra nhanh hơn dự báo. Thiên tai, rét đậm, rét hại ở phía Bắc, hạn hán kéo dài ở Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, xâm nhập mặn chưa từng có ở đồng bằng Sông Cửu Long, bão, lũ và sự cố ô nhiễm môi trường biển ở miền Trung… đã ảnh hưởng nặng nề đến kinh tế – xã hội, nhất là sản xuất và đời sống của nhân dân. Trong bối cảnh đó, nhờ có sự đổi mới mạnh mẽ, năng động, quyết liệt trong lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và sự nỗ lực phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, kinh tế – xã hội nước ta đã chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực.

    Tuy nhiên, tăng trưởng kinh tế đạt thấp hơn kế hoạch đề ra; công nghiệp khai khoáng giảm, sản xuất nông nghiệp bị thiệt hại nặng nề; sản xuất kinh doanh còn khó khăn. Xuất khẩu tăng thấp hơn cùng kỳ. Thu ngân sách nhà nước khó khăn, nhất là ngân sách Trung ương; giải ngân vốn đầu tư công còn chậm; nợ công cao, áp lực trả nợ lớn. Cơ cấu lại nhiều ngành, lĩnh vực còn chậm. Xử lý nợ xấu và tổ chức tín dụng yếu kém chưa căn bản và triệt để. Cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước chưa đạt kế hoạch; tỉ lệ vốn được cổ phần hoá còn thấp; một số dự án đầu tư lớn của doanh nghiệp nhà nước chậm tiến độ, kéo dài từ trước, hiệu quả thấp, thua lỗ, lãng phí, phải dừng đầu tư, dừng hoạt động. Nợ xây dựng nông thôn mới lớn, đa số địa phương mắc phải. Đời sống nhân dân, nhất là vùng bị thiên tai và sự cố môi trường gặp khó khăn. Chất lượng môi trường nhiều nơi bị xuống cấp; vi phạm môi trường còn xảy ra gây bức xúc xã hội. Chất lượng giáo dục, y tế cải thiện còn chậm; ứng dụng khoa học – công nghệ chưa được nhiều. Giải quyết việc làm khó khăn; lĩnh vực văn hoá chưa được quan tâm phát triển tương xứng với kinh tế. Quản lý báo chí còn bất cập, xảy ra nhiều vi phạm. Kỷ luật, kỷ cương trong bộ máy hành chính vụ trong xã hội chưa nghiêm. Tình trạng tham nhũng, lãng phí còn nghiêm trọng. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều khó khăn, thách thức.

    II- VỀ MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NĂM 2022

    2. Các chỉ tiêu chủ yếu: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 6,7%; tốc độ tăng giá tiêu dùng bình quân khoảng 4%; tổng kim ngạch xuất khẩu tăng khoảng 6 – 7%; tỉ lệ nhập siêu so với tổng kim ngạch xuất khẩu khoảng 3,5%; tỉ lệ bội chi ngânsách nhà nước so với GDP không quá 3,5%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội khoảng 31,5% GDP; tỉ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều) giảm 1 – 1,5%, riêng các huyện nghèo giảm 4%; tỉ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; tỉ lệ lao động qua đào tạo đạt 55 – 57%, trong đó tỉ lệ lao động qua đào tạo từ 3 tháng trở lên có chứng chỉ đạt 22,5%; số giường bệnh trên một vạn dân đạt 25,5 giường (không tính giường trạm y tế xã); tỉ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế đạt 82,2%; tỉ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường là 87%; tỉ lệ che phủ rừng đạt 41,45%.

    3. Nhiệm vụ, giải pháp

    3.1. Ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Điều hành hiệu quả, phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khoá với chính sách tiền tệ và các chính sách khác. Nâng cao năng lực phân tích, dự báo và ứng phó kịp thời với những biến động quốc tế và trong nước. Điều hành chủ động, linh hoạt công cụ lãi suất phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và thị trường tiền tệ; nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm vốn tín dụng cho nền kinh tế, nhất là các lĩnh vực ưu tiên; quản lý hiệu quả thị trường ngoại tệ, vàng, tăng dự trữ ngoại hối. Thực hiện chính sách tài khoá chặt chẽ, siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính – ngân sách nhà nước; tập trung chống thất thu, chuyển giá, giảm nợ đọng thuế; triệt để tiết kiệm chi ngân sách; thực hiện khoán chi hành chính, đấu thầu, đặt hàng, mua hàng, giao nhiệm vụ trong cung cấp dịch vụ công. Thực hiện hiệu quả kế hoạch tài chính – ngân sách nhà nước trung hạn, cơ cấu lại ngân sách nhà nước và quản lý nợ công giai đoạn 2022 – 2022.Tăng cường huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển, trong đó nghiên cứu, ban hành các cơ chế, chính sách phù hợp để huy động nguồn lực vàng và ngoại tệ trong xã hội. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường xuất khẩu gắn với nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu hàng Việt Nam, tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; phát triển mạnh thị trường trong nước, hệ thống bán lẻ, gắn sản xuất với tiêu thụ hàng nội địa. Tăng cường quản lý thị trường, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại. Tiếp tục thực hiện lộ trình giá thị trường đối với dịch vụ y tế, giáo dục… gắn với hỗ trợ đối tượng chính sách, hộ nghèo.

    3.3. Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh. Thực hiện hiệu quả kế hoạch đầu tư công trung hạn; tập trung vốn cho các dự án phát triển hạ tầng trọng điểm, tạo sức lan toả và kết nối phát triển. Tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; phát triển thị trường mua bán nợ, kiểm soát chặt chẽ, xử lý hiệu quả nợ xấu và các tổ chức tín dụng yếu kém theo nguyên tắc thị trường, bảo đảm an toàn hệ thống và quyền lợi của người gửi tiền. Đẩy mạnh cổ phần hoá, thoái vốn, thực hiện đấu giá niêm yết trên thị trường chứng khoán bảo đảm công khai, minh bạch; sử dụng một phần số tiền thu được cho đầu tư phát triển; đối với doanh nghiệp nhà nước thua lỗ kéo dài, mất vốn chủ sở hữu mà không thể tháo gỡ được thì xem xét cho bán hoặc phá sản theo quy định của pháp luật. Sắp xếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. Tăng cường giao quyền tự chủ; đẩy mạnh xã hội hoá các đơn vị sự nghiệp công lập có đủ điều kiện.

    3.6. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, cơ chế chính sách, nhất là về quy hoạch, hỗ trợ khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, tháo gỡ khó khăn cho đầu tư kinh doanh. Xây dựng nền hành chính hiệu lực, hiệu quả, kỷ luật, kỷ cương. Tập trung đơn giản hoá thủ tục hành chính, tăng cường công khai, minh bạch; đẩy mạnh ứng dựng công nghệ thông tin, xây dựng chính phủ điện tử. Tăng cường thanh tra, kiểm tra công vụ, xử lý nghiêm các hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực, vi phạm pháp luật. Đổi mới công tác cán bộ, kiên quyết tinh giản biên chế. Đẩy mạnh thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong cơ quan nhà nước và trong toàn xã hội. Nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; làm tốt công tác tiếp công dân. Phát hiện, xử lý nghiêm các vụ tham nhũng.

    Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia. Chủ động có những giải pháp phù hợp, yêu cầu các bên tôn trọng tiến trình ngoại giao, pháp lý, tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước liên hợp quốc về Luật Biển 1982, thực hiện đầy đủ DOC và thúc đẩy sớm đạt được COC.

    Chủ động làm sâu sắc, thực chất hơn quan hệ với các nước và đối tác, tạo sự đan xen, gắn kết lợi ích. Tích cực tham gia Cộng đồng ASEAN, tổ chức tốt Hội nghị cấp cao APEC 2022. Thực hiện hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Đẩy mạnh công tác truyền thông, chủ động chuẩn bị các điều kiện để thực hiện hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA). Nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp quốc tế. Làm tốt công tác người Việt Nam ở nước ngoài, bảo hộ công dân, nhất là ngư dân. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia, đóng góp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    8.8. Tăng cường quản lý nhà nước về thông tin, truyền thông. Phát huy truyền thống và vai trò của báo chí cách mạng. Thực hiện nghiêm quy chế phát ngôn, cung cấp thông tin về tình hình kinh tế – xã hội và những vấn đề dư luận quan tâm. Tập trung tuyên truyền xây dựng xã hội lành mạnh, sống và làm việc theo Hiến pháp, pháp luật. Biểu dương, khen thưởng kịp thời và xử lý nghiêm các vi phạm trong hoạt động báo chí. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin mạng. Làm tốt công tác dân vận, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội trong vận động nhân dân thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, góp phần tạo đồng thuận xã hội.

    3.9. Về dự toán ngân sách nhà nước năm 2022: Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về tài chính – ngân sách nhà nước và nợ công. Thực hiện thu, chi trong phạm vi dự toán; vay nợ, giải ngân trong phạm vi kế hoạch được cấp thẩm quyền phê duyệt; hạn chế tối đa việc ứng trước dự toán, chuyển nguồn. Không chuyển vốn vay, bảo lãnh chính phủ thành vốn cấp phát ngân sách nhà nước. Tăng cường kiểm soát chi ngân sách nhà nước theo hướng thống nhất quy trình, tập trung đầu mối và hoàn thiện cơ chế quản lý. Chú trọng thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, thực hiện công khai, minh bạch, đề cao trách nhiệm giải trình về ngân sách nhà nước và nợ công. Từng bước cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng tăng dần tỉ trọng thu nội địa, tỉ trọng chi đầu tư và giảm dần tỉ trọng chi thường xuyên, bảo đảm chi trả nợ. Tăng cường kiểm tra, giám sát việc vay, sử dụng vốn vay và trả nợ, nhất là đối với các khoản vay mới, vay có bảo lãnh của Chính phủ, vay về cho vay lại, khắc phục tình trạng các khoản vay bị tăng chi phí do chậm tiến độ và hạn chế tối đa cấp bảo lãnh mới. Tiếp tục cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng tỉ trọng vay trung hạn, dài hạn và giảm chi phí vay vốn; bảo đảm dư nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài của quốc gia trong giới hạn quy định và an toàn tài chính quốc gia.

    III- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

    Ban cán sự đảng Chính phủ. Đảng đoàn Quốc hội căn cứ Kết luận này hoàn chỉnh các báo cáo, dự thảo Kế hoạch để trình Quốc hội xem xét, quyết định.

    Cấp uỷ chính quyền, mặt trận và đoàn thể các cấp xây dựng các chương trình hành động cụ thể thực hiện Kết luận này và quyết định của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2022.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quán Triệt, Triển Khai Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương 4 Khóa Xii
  • Xây Dựng Chương Trình, Kế Hoạch Cụ Thể Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa Xii)
  • Báo Cáo Sơ Kết Thực Hiện Nghị Quyết Tw4 Khóa Xii
  • Tiếp Tục Là Các Luận Điệu Xuyên Tạc Nghị Quyết Tw4 Khóa Xii
  • Bản Cam Kết Và Kế Oạch Cá Nhân Nghị Quyết Tw4
  • Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Bắc Kạn Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05/nq
  • Ubnd Tỉnh Chỉ Đạo Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Số 30
  • Một Số Kết Quả Đạt Được Sau 20 Năm Thực Hiện Chương Trình 135 Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Tiếp Tục Thực Hiện Chính Sách Xóa Đói, Giảm Nghèo Và An Sinh Xã Hội Vùng Đặc Biệt Khó Khăn
  • Hiệu Quả Sau 12 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Trên Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa
  • Sáng 26/3, UBND tỉnh Bắc Kạn tổ chức Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết 05/NQ-TU về Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022 – 2022. Đồng chí Phạm Duy Hưng- Phó Chủ tịch UBND tỉnh, Phó Ban chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh chủ trì.

    Các đại biểu tham dự hội nghị.

    Theo báo cáo tại hội nghị, thực hiện mục tiêu Nghị quyết 05/NQ-TU ngày 26/4/2016 của Tỉnh ủy, công tác giảm nghèo luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của hệ thống chính trị. Hệ thống văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện được ban hành đầy đủ, đảm bảo hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về giảm nghèo được các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành triển khai tốt, thông qua đó giúp cán bộ, người dân và người nghèo thay đổi nhận thức, nâng cao trách nhiệm về công tác giảm nghèo.

    Kết quả sau 3 năm (2016 – 2022) tỷ lệ hộ nghèo giảm đạt so với mục tiêu của Nghị quyết đề ra. Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 29,40% năm 2022 xuống còn 21,88% năm 2022 (giảm 7,52%). Bình quân mỗi năm giảm 2,51%; tỷ lệ hộ cận nghèo giảm từ 12% năm 2022 xuống còn 11,82% (giảm 0,18%).

    Nguồn vốn Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022 – 2022 là 502 tỷ đồng, thực hiện các chính sách hỗ trợ sản xuất giảm nghèo bền vững. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi 1.918 tỷ đồng, hỗ trợ vay vốn cho 18.875 hộ nghèo, 5.758 hộ cận nghèo, 716 hộ mới thoát nghèo. Có 2.970 hộ vay vốn giải quyết việc làm; 10.373 hộ vay vốn nước sạch và vệ sinh môi trường. Giải quyết việc làm cho hơn 16.000 lao động; tổ chức dạy nghề cho 5.552 lao động nông thôn. Hơn 618.600 lượt đối tượng chính sách xã hộ được hỗ trợ kinh phí mua thẻ Bảo hiểm y tế; 887.471 lượt người nghèo được khám chữa bệnh… Các dự án của Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững như Chương trình 30a, Chương trình 135, Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135 được triển khai có hiệu quả.

    Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Duy Hưng nhấn mạnh: Công tác giảm nghèo là nhiệm vụ hết sức quan trọng, các giải pháp giảm nghèo đưa ra để thực hiện cần phải phù hợp và giải quyết được những nguyên nhân, hạn chế còn tồn tại hiện nay. Đề nghị các huyện, thành phố tiếp tục chỉ đạo chính quyền, cấp ủy các xã tăng cường thực hiện nhiệm vụ, giải pháp giảm nghèo bền vững, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong công tác giảm nghèo; xem xét lại hoạt động của Ban chỉ đạo cấp huyện, xây dựng kế hoạch cụ thể, giao trách nhiệm cho các thành viên xuống các xã, hướng dẫn cơ sở xây dựng kế hoạch giảm nghèo phù hợp thực tế tại địa phương. Xây dựng các mô hình sản xuất phù hợp, gắn Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” với quy hoạch chung của mỗi huyện để tạo ra vùng sản xuất hàng hóa; phát huy hiệu quả của các mô hình kinh tế tập thể hợp tác xã, tổ hợp tác, đảm bảo bao tiêu sản phẩm cho bà con; theo dõi, đôn đốc sát sao việc triển khai các mô hình sản xuất, nắm được tiến độ từng chương trình, dự án theo từng tháng. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với các địa phương tuyên truyền, thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động, đào tạo dạy nghề có hiệu quả.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu đổi mới công tác tuyên truyền theo hướng ngắn gọn, có chiều sâu, làm thay đổi nhận thức và giúp người dân vươn lên xóa đói, giảm nghèo. Các ngành, các địa phương tăng cường công tác phối hợp, nhất là giữa các tổ chức đoàn thể, giữa các phòng chuyên môn để đôn đốc thực hiện hiệu quả công tác giảm nghèo./.

    Lê Trang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lần Đầu Tiên Có Nghị Quyết Về Chính Phủ Điện Tử
  • Tiếp Tục Đẩy Mạnh Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 36A/nq
  • Góp Ý Dự Thảo Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Thực Hiện Dự Án
  • Quyết Tâm Thực Hiện Hoàn Thành Thắng Lợi Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Cải Cách Hành Chính
  • Rà Soát Kỹ Các Huyện Nghèo Theo Nghị Quyết 30A
  • Hội Nghị Sơ Kết 05 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 17/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Đảng Ủy Công An Trung Ương Quán Triệt Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4
  • Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 07 “về Công Tác Thanh Niên Cand Trong Thời Kỳ Mới”
  • Đảng Ủy Công An Trà Vinh: Triển Khai Nghị Quyết Năm 2022 .công An Tra Vinh
  • Tọa Đàm Góp Ý Dự Thảo Chỉ Thị Của Bộ Trưởng Về Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Số 17
  • Trích Đăng Bài Phát Biểu Của Đại Tướng Trần Đại Quang, Ủy Viên Bộ Chính Trị, Bí Thư Đảng Ủy Công An Trung Ương, Bộ Trưởng Công An Tại Lễ Khai Giảng Năm Học Mới 2022
  • Ngày 16/8/2019, Học viện Chính trị Công an nhân dân tổ chức Hội nghị sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 17/NQ-ĐU của Đảng ủy Công an trung ương và Chỉ thị số 13/CT-BCA ngày 28/10/2014 của Bộ trưởng Bộ Công an về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong Công an nhân dân. Đồng chí Đại tá, chúng tôi Đinh Ngọc Hoa, Phó Giám đốc Học viện, chủ trì Hội nghị. Tham dự có đồng chí: Đại tá Bùi Sơn Hiển, Phó Cục trưởng Cục Đào tạo; Đại tá Tạ Quang Huy, Ủy viên UBKT Đảng ủy Công an trung ương; Đại tá Nguyễn Trọng Chí, Phó Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động; đại diện lãnh đạo công an một số địa phương; đại diện lãnh đạo các đơn vị và toàn thể giảng viên Học viện.

    Hội nghị nhằm đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết số 17 của Đảng ủy Công an Trung ương và Chỉ thị số 13 của Bộ trưởng Bộ Công an tại Học viện Chính trị CAND từ khi thành lập đến nay (giai đoạn 2014-2019); làm rõ những thành tựu, kết quả đạt được, những hạn chế, khó khăn và nguyên nhân; rút ra những bài học kinh nghiệm và thống nhất phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp tiếp tục đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác Công an trong điều kiện mới, phù hợp với mô hình tổ chức bộ máy mới của lực lượng CAND.

    Đồng chí Đại tá, PGS. TS Đinh Ngọc Hoa, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân phát biểu tại Hội nghị

    Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Đại tá, chúng tôi Đinh Ngọc Hoa, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân khẳng định: Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện luôn quan tâm chỉ đạo, quán triệt triển khai thực hiện Nghị quyết số 17 của Đảng ủy Công an Trung ương và Chỉ thị số 13 của Bộ trưởng Bộ Công an về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong CAND. Thường xuyên quan tâm, giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ cán bộ, giảng viên và học viên để nâng cao nhận thức sâu sắc và nắm vững quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Nghị quyết số 29 nói chung và Nghị quyết số 17, Chỉ thị số 13 nói riêng; để từ đó, đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viện vận dụng vào thực tiễn công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập. Học viện đã ban hành nhiều kế hoạch, chương trình hành động, chỉ đạo các đơn vị chức năng, các tổ chức quần chúng triển khai sâu rộng nội dung Nghị quyết, Chỉ thị bằng nhiều hình thức đa dạng và phong phú.

    Tại Hội nghị, các ý kiến phát biểu tập trung vào kết quả triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp của Học viện trên các nội dung sau: Quản lý giáo dục đào tạo; đổi mới chương trình giáo dục và cách thức tổ chức đào tạo; đổi mới hình thức, phương pháp tổ chức thi, kiểm tra đánh giá và đảm bảo chất lượng đào tạo; công tác phát triển đội ngũ giảng viên; công tác tuyển sinh, quản lý giáo dục học viên, công tác hợp tác trong giáo dục và đào tạo….

    Các đồng chí đại biểu tham dự Hội nghị

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 17 Của Đảng Ủy Công An Trung Ương Và Chỉ Thị Số 13 Của Bộ Trưởng Bộ Công An Về Đôi Mới Căn Bản, Toàn Diện Giáo Dục Và Đào Tạo Trong Công An Nhân Dân
  • Nghị Quyết Số 08 Của Đảng Ủy Công An Trung Ương Về Chiến Lược An Ninh Quốc Gia
  • Mục Tiêu, Nhiệm Vụ Quốc Phòng, An Ninh Trong Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Những Nội Dung Mới Về Tăng Cường Quốc Phòng Và An Ninh, Bảo Vệ Tổ Quốc Trong Dự Thảo Các Văn Kiện Trình Đại Hội Xii Của Đảng
  • Những Phát Triển Trong Nhận Thức, Quan Điểm Của Đảng Về Quốc Phòng, Bảo Vệ Tổ Quốc
  • Bắc Kạn Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Ubnd Tỉnh Chỉ Đạo Tiếp Tục Thực Hiện Nghị Quyết Số 30
  • Một Số Kết Quả Đạt Được Sau 20 Năm Thực Hiện Chương Trình 135 Và Những Vấn Đề Đặt Ra
  • Tiếp Tục Thực Hiện Chính Sách Xóa Đói, Giảm Nghèo Và An Sinh Xã Hội Vùng Đặc Biệt Khó Khăn
  • Hiệu Quả Sau 12 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 30A Của Chính Phủ Trên Địa Bàn Tỉnh Thanh Hóa
  • Nghị Quyết 30A Tạo Động Lực Giảm Nghèo Nhanh Và Bền Vững Ở Lào Cai
  • Theo báo cáo tại hội nghị, thực hiện mục tiêu Nghị quyết 05/NQ-TU ngày 26/4/2016 của Tỉnh ủy, công tác giảm nghèo tỉnh Bắc Kạn luôn nhận được sự quan tâm, chỉ đạo sâu sắc của hệ thống chính trị. Hệ thống văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện được ban hành đầy đủ, đảm bảo hướng dẫn các địa phương tổ chức thực hiện các chính sách giảm nghèo bền vững. Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về giảm nghèo được các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành triển khai tốt, thông qua đó giúp cán bộ, người dân và người nghèo thay đổi nhận thức, nâng cao trách nhiệm về công tác giảm nghèo.

    Các đại biểu tham dự hội nghị.

    Kết quả sau 3 năm (2016 – 2022) tỷ lệ hộ nghèo giảm đạt so với mục tiêu của Nghị quyết đề ra. Cụ thể, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 29,40% năm 2022 xuống còn 21,88% năm 2022 (giảm 7,52%). Bình quân mỗi năm giảm 2,51%; tỷ lệ hộ cận nghèo giảm từ 12% năm 2022 xuống còn 11,82% (giảm 0,18%).

    Nguồn vốn Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2022 – 2022 là 502 tỷ đồng, thực hiện các chính sách hỗ trợ sản xuất giảm nghèo bền vững. Nguồn vốn tín dụng ưu đãi 1.918 tỷ đồng, hỗ trợ vay vốn cho 18.875 hộ nghèo, 5.758 hộ cận nghèo, 716 hộ mới thoát nghèo. Có 2.970 hộ vay vốn giải quyết việc làm; 10.373 hộ vay vốn nước sạch và vệ sinh môi trường. Giải quyết việc làm cho hơn 16.000 lao động; tổ chức dạy nghề cho 5.552 lao động nông thôn. Hơn 618.600 lượt đối tượng chính sách xã hộ được hỗ trợ kinh phí mua thẻ Bảo hiểm y tế; 887.471 lượt người nghèo được khám chữa bệnh… Các dự án của Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững như Chương trình 30a, Chương trình 135, Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất, đa dạng sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo trên địa bàn các xã ngoài Chương trình 30a và Chương trình 135 được triển khai có hiệu quả.

    Kết luận hội nghị, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Duy Hưng nhấn mạnh: Công tác giảm nghèo là nhiệm vụ hết sức quan trọng, các giải pháp giảm nghèo đưa ra để thực hiện cần phải phù hợp và giải quyết được những nguyên nhân, hạn chế còn tồn tại hiện nay. Đề nghị các huyện, thành phố tiếp tục chỉ đạo chính quyền, cấp ủy các xã tăng cường thực hiện nhiệm vụ, giải pháp giảm nghèo bền vững, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu trong công tác giảm nghèo; xem xét lại hoạt động của Ban chỉ đạo cấp huyện, xây dựng kế hoạch cụ thể, giao trách nhiệm cho các thành viên xuống các xã, hướng dẫn cơ sở xây dựng kế hoạch giảm nghèo phù hợp thực tế tại địa phương. Xây dựng các mô hình sản xuất phù hợp, gắn Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” với quy hoạch chung của mỗi huyện để tạo ra vùng sản xuất hàng hóa; phát huy hiệu quả của các mô hình kinh tế tập thể hợp tác xã, tổ hợp tác, đảm bảo bao tiêu sản phẩm cho bà con; theo dõi, đôn đốc sát sao việc triển khai các mô hình sản xuất, nắm được tiến độ từng chương trình, dự án theo từng tháng. Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với các địa phương tuyên truyền, thực hiện tốt công tác xuất khẩu lao động, đào tạo dạy nghề có hiệu quả.

    Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu đổi mới công tác tuyên truyền theo hướng ngắn gọn, có chiều sâu, làm thay đổi nhận thức và giúp người dân vươn lên xóa đói, giảm nghèo. Các ngành, các địa phương tăng cường công tác phối hợp, nhất là giữa các tổ chức đoàn thể, giữa các phòng chuyên môn để đôn đốc thực hiện hiệu quả công tác giảm nghèo./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sơ Kết 3 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05/nq
  • Lần Đầu Tiên Có Nghị Quyết Về Chính Phủ Điện Tử
  • Tiếp Tục Đẩy Mạnh Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết 36A/nq
  • Góp Ý Dự Thảo Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Cải Cách Thủ Tục Hành Chính Thực Hiện Dự Án
  • Quyết Tâm Thực Hiện Hoàn Thành Thắng Lợi Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Cải Cách Hành Chính
  • Tải Nghị Quyết Số 39/2016 Nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Hà Nội Phát Huy Trí Tuệ Tập Thể Trong Thực Hiện Nghị Quyết 39 Của Bộ Chính Trị
  • Hội Nông Dân Tỉnh Tổ Chức Nghiệm Thu Mô Hình Thực Hiện Theo Nghị Quyết Số 39 Của Hđnd Tỉnh Ninh Bình
  • Hđnd Tỉnh Thông Qua 20 Nghị Quyết Quan Trọng
  • Hội Nghị Thống Nhất Công Tác Tuyên Truyền Kỳ Họp Thứ 21 Hđnd Tỉnh Khóa Xiv
  • Tinh Giản Biên Chế Năm 2022: Ai Thuộc Diện Bị Tinh Giản?
  • Tải nghị quyết số 39/2016 NQ-HĐND tỉnh Khánh Hòa về lệ phí đăng ký hộ tịch: Điều 1. Quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí hộ tịch, …

    QUYẾT ĐỊNH SỐ 39/2016 NQ-HĐND TỈNH KHÁNH HÒA

    VỀ VIỆC QUY ĐỊNH MỨC THU, NỘP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG LỆ PHÍ HỘ TỊCH, LỆ PHÍ ĐĂNG KÝ CƯ TRÚ VÀ LỆ PHÍ CẤP CHỨNG MINH NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KHÁNH HÒA

    HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

    KHÓA VI, KỲ HỌP THỨ 3

    n cứ Luật tổ chức chính quyền địa phương ngày 19 tháng 6 năm 2022;

    Căn cứ Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2022;

    Căn cứ Thông tư số 250/2016/TT-BTC ngày 11 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

    Điều 1. Quy định mức thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí hộ tịchphí đăng ký cư trú và lệ phí cấp chứng minh nhân dân trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa như sau:

    1. Cơ quan thu lệ phí:

    a) Lệ phí hộ tịch: Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã theo quy định tại Luật hộ tịch và các văn bản hướng dẫn;

    b) Lệ phí đăng ký cư trú: Cơ quan Công an thực hiện việc đăng ký quản lý cư trú theo quy định của pháp luật về cư trú;

    c) Lệ phí cấp chứng minh nhân dân: Cơ quan Công an thực hiện việc cấp chứng minh nhân dân.

    a) Lệ phí hộ tịch: Người được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết các công việc về hộ tịch theo quy định của pháp luật;

    b) Lệ phí đăng ký cư trú: Người đăng ký cư trú với cơ quan đăng ký, quản lý cư trú theo quy định của pháp luật về cư trú;

    c) Lệ phí cấp chứng minh nhân dân: Người được cơ quan công an cấp chứng minh nhân dân.

    3. Các trường hợp không thu:

    a) Không thu lệ phí đăng ký cư trú đối với các trường hợp sau: bố, mẹ, vợ (hoặc chồng) của liệt sĩ, con dưới 18 tuổi của liệt sĩ; thương binh, con dưới 18 tuổi của thương binh; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; hộ gia đình thuộc diện xóa đói, giảm nghèo; công dân thuộc xã, thị trấn vùng cao theo quy định của Ủy ban Dân tộc;

    b) Không thu lệ phí cấp chứng minh nhân dân đối với các trường hợp sau: bố, mẹ, vợ (hoặc chồng) của liệt sĩ, con dưới 18 tuổi của liệt sĩ; thương binh, con dưới 18 tuổi của thương binh; Bà mẹ Việt Nam anh hùng; hộ gia đình thuộc diện xóa đói, giảm nghèo; công dân thuộc xã, thị trấn vùng cao theo quy định của Ủy ban Dân tộc.

    Bạn có thể tải nghị quyết số 39/2016 NQ-HĐND tỉnh Khánh Hòa theo đường link dưới đây:

    Bài viết tham khảo:

    Để được tư vấn về lệ phí đăng ký hộ tịch, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật hôn nhân 24/7: 1900 6500 để được luật sư tư vấn hoặc gửi câu hỏi về địa chỉ Gmail: [email protected] Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

    Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Trình Hành Động Của Chính Phủ Phát Huy Các Nguồn Lực Của Nền Kinh Tế
  • Công Văn 1138/bcđqg 2022 Sàng Lọc Cách Ly Ca Bệnh Covid
  • Lữ Đoàn Hải Quân 602 Gắn Giáo Dục Pháp Luật Với Quản Lý Kỷ Luật Bộ Đội
  • Hội Nghị Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Nghị Quyết Số 08
  • Kết Quả Tuyên Truyền, Triển Khai Thực Hiện Nq 30A Của Chính Phủ Trên Địa Bàn Huyện Konplông
  • Nho Quan Tổng Kết Nghị Quyết Số 42 Nq Tw Và Nghị Quyết Số 11 Nq Tw Của Bộ Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết 42: Ách Tắc Khâu Kê Khai Thuế Và Nộp Thuế
  • Xử Lý Tài Sản Bảo Đảm Theo Nghị Quyết Về Xử Lý Nợ Xấu: Vẫn Còn Những Điểm Trừ
  • Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Xử Lý Tài Sản Thế Chấp
  • Tiếp Tục Xử Lý Nợ Xấu Theo Nghị Quyết 42
  • Kiến Nghị Vướng Mắc Nghị Quyết 42
  • Ngày 24/8, Huyện ủy Nho Quan tổ chức Hội nghị tổng kết Nghị quyết số 42-NQ/TW và Nghị quyết số 11 – NQ/TW của Bộ Chính trị (Khóa IX) về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước và công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý.

    Dự hội nghị có các đồng chí Nguyễn Tiến Thành, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Trương Đức Lộc, TVTU, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy.

    Thực hiện Nghị quyết số 42, công tác quy hoạch cán bộ được Ban Thường vụ huyện ủy Nho quan thực hiện dân chủ, công khai theo đúng quy trình và đảm bảo số lượng cán bộ trong quy hoạch theo đúng chỉ đạo, hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.

    Với phương châm “động” và “mở”, một chức danh được giới thiệu nhiều người và một người được giới thiệu nhiều chức danh, số lượng quy hoạch BCH, Ban Thường vụ cấp ủy huyện, xã, thị trấn đều đạt hệ số 1,5 đến 2,7 lần so với số lượng đương nhiệm. Hầu hết các chức danh chủ chốt của huyện, của xã, thị trấn và các phòng, ban, ngành, đoàn thể đều có số lượng quy hoạch từ 2 đến 3 người cho một chức danh.

    Về cơ cấu quy hoạch đã chú trọng cơ cấu 3 độ tuổi theo hướng tăng tỷ lệ tuổi trẻ, tỷ lệ cán bộ nữ đưa vào quy hoạch đảm bảo không dưới 15%; các địa phương có đông đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào theo đạo công giáo đạt tỷ lệ từ 10-15% quy hoạch cấp ủy.

    Ban Thường vụ huyện ủy, đảng ủy các xã, thị trấn đã quan tâm thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ quy hoạch bằng việc cử đi học đại học chuyên ngành, cao cấp lý luận chính trị, đồng thời từng bước giao nhiệm vụ để rèn luyện. Hầu hết cán bộ quy hoạch đã được giới thiệu và bầu vào cấp ủy nhiệm kỳ 2005 – 2010, nhiệm kỳ 2010 – 2022.

    Trong 5 năm qua, huyện cũng đã bổ nhiệm, đề bạt 61 cán bộ lãnh đạo, quản lý các phòng, ban, ngành, đoàn thể chính trị – xã hội của huyện, trong đó 20 đồng chí diện quy hoạch trực tiếp, tại chỗ và 41 đồng chí diện quy hoạch “mở”…

    Đối với công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, huyện ủy đã tiếp nhận 3 đồng chí cán bộ do Ban thường vụ Tỉnh ủy luân chuyển về huyện, trong đó có 2 đồng chí làm Bí thư huyện ủy, 1 đồng chí làm Phó chủ tịch UBND huyện.

    Từ năm 2007-2011, huyện đã luân chuyển 30 đồng chí giữa huyện và xã, từ khối đảng đoàn thể sang khối nhà nước và ngược lại. Cùng với các chính sách hỗ trợ cho cán bộ luân chuyển của tỉnh, huyện đã thực hiện hỗ trợ công tác phí 150 nghìn đồng/người/tháng và tạo điều kiện cho các đồng chí luân chuyển được thanh gia các lớp đào tạo tại chức về chuyên môn và lý luận chính trị.

    Số cán bộ luân chuyển được đánh giá kỹ về phẩm chất chính trị, bản lĩnh, trình độ, năng lực, không chỉ chọn cán bộ trẻ mà còn lựa chọn những đồng chí có kinh nghiệm, vững vàng để đưa về một số đơn vị cơ sở có tình hình phức tạp, khó khăn trong lãnh đạo, chỉ đạo, đơn vị hụt hẫng cán bộ, giúp các địa phương ổn định tình hình tập trung thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH của địa phương.

    Đến nay, các đồng chí cán bộ luân chuyển đều có bước trưởng thành, tiếp cận nhanh với môi trường công tác mới, biết vận dụng và phát huy chuyên môn, nghiệp vụ, giữ gìn đạo đức lối sống được Đảng bộ và nhân dân tin tưởng.

    Bên cạnh công tác luân chuyển cán bộ, trong 3 năm qua, Nho Quan đã tuyển dụng 128 sinh viên tốt nghiệp cao đẳng trở lên về công tác tại các xã, thị trấn; xét tuyển 11 công chức dự bị gồm 7 chuyên ngành trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội có độ tuổi từ 23 đến 27, đáp ứng kịp thời nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị.

    Quốc Khang

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tháo Gỡ Khó Khăn, Vướng Mắc Trong Triển Khai Nghị Quyết Số 42
  • Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Triển Khai Nghị Quyết Số 42 Nq
  • Cơ Quan Nào Kê Khai, Chi Trả Hỗ Trợ Các Đối Tượng Của Nghị Quyết 42/nq
  • Rà Soát Nhóm Lao Động Tự Do Theo Nghị Quyết Số 42/nq
  • Dự Thảo Hướng Dẫn Nghị Quyết 42
  • Hội Ccb Tổng Kết Thực Hiện Nghị Quyết 05/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Hội Cựu Chiến Binh Tỉnh Tổng Kết Nghị Quyết Số 05/nq
  • Hội Cựu Chiến Binh Thành Phố Quyết Tâm Thực Hiện Thắng Lợi 05 Nhiệm Vụ Trọng Tâm Năm 2022
  • Luật Sư Phải Gia Nhập, Đóng Phí Gia Nhập, Phí Thành Viên Đoàn Luật Sư
  • Luật Sư Khi Tham Gia Phiên Tòa Có Phải Mặc Trang Phục Thống Nhất Bắt Buộc?
  • Số Tiền Để Một Sinh Viên Luật Có Thể Trở Thành Luật Sư?
  • Sáng ngày 14/6/2013, Ban chấp hành Hội CCB quận Ba Đình đã tổ chức Hội nghị tổng kết Nghị quyết 05/NQ-CCB ngày 16/12/2008 của Ban Chấp hành Hội CCB Việt Nam. Tới dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Văn Nghinh – Phó chủ tịch Hội CCB và các Ban của Thành hội; đồng chí Đặng Văn Tường – phó bí thư và các Ban của Quận ủy Ba Đình; dự Hội nghị còn có các đồng chí ủy viên Ban chấp hành, Chủ tịch các Hội CCB cơ sở của quận.

    Sáng ngày 14/6/2013, Ban chấp hành Hội CCB quận Ba Đình đã tổ chức Hội nghị tổng kết Nghị quyết 05/NQ-CCB ngày 16/12/2008 của Ban Chấp hành Hội CCB Việt Nam. Tới dự Hội nghị có đồng chí Nguyễn Văn Nghinh – Phó chủ tịch Hội CCB và các Ban của Thành hội; đồng chí Đặng Văn Tường – phó bí thư và các Ban của Quận ủy Ba Đình; dự Hội nghị còn có các đồng chí ủy viên Ban chấp hành, Chủ tịch các Hội CCB cơ sở của quận.

    Báo cáo tổng kết đánh giá : “Quận hội đã chấp hành nghiêm Nghị quyết 05 của TW Hội CCBVN. Đề án 76 của BCH Hội CCB Thành phố và đã xây dựng được Nghị quyết chuyên đề số 71 về quy hoạch gắn với bố trí sắp xếp cán bộ Hội nhiệm kỳ V (2012-2017). Việc triển khai thực hiện bảo đảm nguyên tắc, thủ tục, quy trình, tiêu chuẩn theo quy định. Công tác chuẩn bị nhân sự được chuẩn bị công phu, tỷ mỉ, dân chủ, công khai. Vì vậy kết quả bầu ở Đại hội các cấp đều một lần và phiếu tập trung cao. Đội ngũ BCH mới có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình, có năng lực tổ chức thực hiện, hoàn thành tốt nhiệm vụ”.

    Phát biểu với Hội nghị đồng chí Đặng Văn Tường chỉ rõ : ” Dưới sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh từ Quận đến các cơ sở của quận Ba Đình đã luôn bám sát các Nghị quyết chuyên đề của các cấp ủy Đảng. Đã xây dựng được đội ngũ cán bộ đủ về số lượng, mạnh về chất lượng theo tinh thần Nghị quyết số 05 của Ban Chấp hành Hội CCB Việt Nam, Chuyên đề số 76 của Thành hội, làm tốt việc lựa chọn, giới thiệu nhân sự ban chấp hành các cấp Hội khoá mới bảo đảm tiêu chuẩn, số lượng, cơ cấu, có sự kế thừa, đáp ứng năng lực lãnh đạo công tác Hội trong tình hình mới, đạt được yêu cầu xây dựng tổ chức Hội trong sạch vững mạnh là nhiệm vụ trọng tâm. Tuy nhiên trong quá trình triển khai còn chậm so với kế hoạch đề ra do đó gặp một số vướng mắc trong công tác cán bộ về tiêu chuẩn độ tuổi, về cấp quân hàm, về nhiệm kỳ công tác Hội…”.

    Thay mặt BCH đồng chí Nguyễn Vĩnh An – Chủ tịch Quận hội đã tiếp thu ý kiến chỉ đạo của Thường trực Quận ủy và hứa : “BCH khóa V của Quận hội Ba Đình sẽ lãnh đạo Hội hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đại hội nhiệm kỳ V đề ra, xứng đáng với niềm tin và nhiệm vụ Quận ủy giao và sớm chuẩn bị nhân sự cho nhiệm kỳ VI, đáp ứng với nhiệm vụ của Hội trong tình hình mới”.

    admin admin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Tw 5 Khóa 12 (Bài Đã Hoàn Thiện)
  • Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Nghị Quyết Trung Ương 5, Khóa Xi
  • Giới Thiệu Các Kết Luận, Nghị Quyết Trung Ương 5 (Khóa Xi)
  • Tổng Kết Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa Ix: Bảo Đảm Thực Chất, Tránh Hình Thức
  • Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 5 Khóa Ix Về Kinh Tế Tập Thể
  • Nghị Quyết Số 33 Nq Tw Của Bộ Chính Trị

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảnh Sát Biển Việt Nam Quán Triệt Và Thực Hiện Nghị Quyết 33
  • Kế Hoạch Triển Khai Quán Triệt, Tổ Chức Thực Hiện Nghị Quyết 33
  • Nhnn Yêu Cầu Giữ Lãi Suất Huy Động, Giảm Lãi Cho Vay
  • Dự Án Nhà Ở, Dự Án Khu Đô Thị Mới Đã Có Quyết Định Của Cơ Quan Nhà Nước Có Thẩm Quyền Cho Phép Thu, Nộp Tiền Sử Dụng Đất Theo Quy Định Tại Nghị Quyết Số 33/2008/nq
  • Nghị Quyết 33/2016/qh14 Chất Vấn Trả Lời Chất Vấn Tại Kỳ Họp Thứ 2 Quốc Hội Khoá Xiv
  • Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Về Thực Hiện Chế Độ Chính Uỷ Chính Trị Viên, Nghi Quyet 51 Cua Bo Chinh Tri Ve Che Do Mot Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu, Nghi Quyet 51 Thuc Hien Che Do Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy Chính Trị Viên Trong Quân Đội, Nghị Quyết 51veef Hoàn Thiện Cơ Chế Lãnh Đạo Thực Hiện Chế Độ Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính , Nghị Quyết 51veef Hoàn Thiện Cơ Chế Lãnh Đạo Thực Hiện Chế Độ Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính, Nghị Quyết 51 Về Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính Trị Viên, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Nghị Quyết 51 Về Chính ủy, Chính Trị Viên, Nghị Quyết 51 Bộ Chính Trị Về Cơ Chế Chính Uỷ, Nghị Quyết 50 Chính Phủ, Nghị Quyết 51-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 54 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 39 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 55 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 55 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 50 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 37 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 51 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 50 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 48 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 60 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 49 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 49 Của Bộ Chính Trị, Chính Phủ Ra Nghị Quyết, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 35 Của Bộ Chính Trị, Nghi Quyet 51 Cua Bo Chinh Tri Kh Ix, Nghị Quyết Số 33 Nq Tw Của Bộ Chính Trị, Nghi Quyết 51 Cua Bô Chinh Tri, Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Hỗ Trợ, Nghị Quyết 68 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 08/nq-bct Của Chính Phủ, Nghị Quyết Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 1 Nq Cp Của Chính Phủ, Nghi Quyet 51 Nq Tw Bo Chinh Tri, Nghị Quyết 52 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 35 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 36 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 08 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Của Chính Phủ Là Gì, Nghị Quyết Số 22 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 51 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 35 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 01 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 76/nq-cp Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 08-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 82 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Chính Phủ, Nghị Quyết 36 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 35-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 34 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 20 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 11 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 76 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 11 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 69 Chính Phủ, Nghị Quyết Số 11 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 08 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 37 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 49 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 89 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 51-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 28 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 45 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 43 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 42 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 8 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 12 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 21 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 54-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 25 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 41 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Năm 2005, Nghi Quyet So 28 Cua Bo Chinh Trị Ve Bao Ve To Quoc, Toàn Văn Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Phiên Họp Chính Phủ, Nghị Quyết 84 2022 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 51 Nq/tw 20-7-2005 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 28 Của Bộ Chính Trị Khóa X, Nghị Quyết 28-nq/tw Của Bộ Chính Trị (khoá X), Nghị Quyết Mới Nhất Của Chính Phủ, Nghị Quyết 51 Năm 2005 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị Khóa X, Nghị Quyết 51 Khoá Ix Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Khóa Ix, Nghị Quyết Số 28 Năm 2008 Của Bộ Chính Trị, Toàn Văn Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Khoá 9, Dự Thảo Nghị Quyết Chính Phủ, Nghị Quyết Số 08 Năm 1998 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyet Lanh Dao Hau Can Tai Chinh Cua Chi Bo, Nghị Quyết 08 Năm 1998 Của Bộ Chính Trị,

    Nghị Quyết 51 Của Bộ Chính Trị Về Thực Hiện Chế Độ Chính Uỷ Chính Trị Viên, Nghi Quyet 51 Cua Bo Chinh Tri Ve Che Do Mot Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Cơ Chế Một Người Chỉ Huy Gắn Với Chế Độ Chính ủy, Chính Trị Viên Trong Qu, Nghi Quyet 51 Thuc Hien Che Do Nguoi Chi Huy Gan Voi Chinh Uy Chinh Tri Vien, Nghị Quyết 51 Về Thực Hiện Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy Chính Trị Viên Trong Quân Đội, Nghị Quyết 51veef Hoàn Thiện Cơ Chế Lãnh Đạo Thực Hiện Chế Độ Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính , Nghị Quyết 51veef Hoàn Thiện Cơ Chế Lãnh Đạo Thực Hiện Chế Độ Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính, Nghị Quyết 51 Về Người Chỉ Huy Gắn Với Chính ủy, Chính Trị Viên, Nghị Quyết Đề Nghị Công Nhận Đảng Viên Chính Thức, Nghị Quyết Đề Nghị Chuyển Đảng Chính Thức Của Chi Bộ, Nghị Quyết 51 Về Chính ủy, Chính Trị Viên, Nghị Quyết 51 Bộ Chính Trị Về Cơ Chế Chính Uỷ, Nghị Quyết 50 Chính Phủ, Nghị Quyết 51-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 54 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 39 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 55 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 55 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 50 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 37 Của Chính Phủ, Nghị Quyết 51 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 50 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 48 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 60 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 49 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 49 Của Bộ Chính Trị, Chính Phủ Ra Nghị Quyết, Nghị Quyết 28 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 35 Của Bộ Chính Trị, Nghi Quyet 51 Cua Bo Chinh Tri Kh Ix, Nghị Quyết Số 33 Nq Tw Của Bộ Chính Trị, Nghi Quyết 51 Cua Bô Chinh Tri, Nghị Quyết Của Chính Phủ Về Hỗ Trợ, Nghị Quyết 68 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 28-nq/tw Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 08/nq-bct Của Chính Phủ, Nghị Quyết Của Chính Phủ, Nghị Quyết Số 1 Nq Cp Của Chính Phủ, Nghi Quyet 51 Nq Tw Bo Chinh Tri, Nghị Quyết 52 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 35 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 36 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 08 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Của Chính Phủ Là Gì, Nghị Quyết Số 22 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 51 Của Bộ Chính Trị, Nghị Quyết 35 Bộ Chính Trị, Nghị Quyết Số 01 Của Chính Phủ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Kết Quả Nổi Bật Trong Thực Hiện Nghị Quyết Số 33
  • Chương Trình Hành Động Tổ Chức Nghiên Cứu, Quán Triệt Thực Hiện Nghị Quyết Số 33Nqtw Ngày 962014 Hội Nghị Trung Ương 9 Khóa Xi
  • Ngành Công Thương Đà Nẵng Sau 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 33/nq
  • Thành Phố Hồ Chí Minh: Những Bài Học Kinh Nghiệm Trong Việc Thực Hiện Nghị Quyết 33
  • Nhìn Lại 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 33
  • Giồng Trôm Hội Nghị Triển Khai Nghị Quyết Số 05/2019/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 7B Của Tổng Liên Đoàn
  • Đảng Ủy Evn Học Tập, Triển Khai Chỉ Thị 05 Của Bộ Chính Trị Và Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii
  • Hướng Dẫn Khởi Tố Hình Sự Với Các Tội Liên Quan Bhxh, Bhyt, Bhtn
  • Bhxh Hà Nội: Phổ Biến Nghị Quyết 05 Của Hội Đồng Thẩm Phán Tới Các Cơ Sở Kcb Bhyt
  • Hội Nghị Sơ Kết 03 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 05
  • Chiều ngày 18-11-2019, Bảo Hiểm xã hội huyện Giồng Trôm cùng Liên đoàn Lao động huyện tổ chức hội nghị triển khai Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao về hướng dẫn áp dụng Điều 124 về tội gian lận bảo hiểm xã hội, Điều 215 về tội gian lận bảo hiểm y tế và Điều 216 về tội trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động của Bộ luật Hình sự.

    Bà Phạm Thị Thu Trang – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm triển khai Nghị quyết số 05/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng các điều nêu trên của Bộ luật hình sự. Nghị quyết quy định 8 điều: Từ phạm vi điều chỉnh; về một số thuật ngữ được sử dụng trong hướng dẫn áp dụng các điều 214, 215, 216 của Bộ luật hình sự; về một số tình tiết định khung hình phạt; truy cứu trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp cụ thể; xử lý hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động thực hiện trước 0 giờ 00 phút ngày 01 tháng 01 năm 2022; xác định tư cách tố tụng của cơ quan bảo hiểm xã hội; tổ chức thực hiện; hiệu lực thi hành. Trong đó, Nghị quyết quy định rõ hơn về các hành vi như thế nào là trốn đóng bảo hiểm, thế nào là gian dối để không đóng, không đóng đầy đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Và chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-9-2019.

    Quang cảnh các đại biểu, đại diện tham dự hội nghị.

    Việc ban hành Nghị quyết này sẽ giải quyết những vấn đề khó khăn trong xử lý các vụ việc nợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp; những hồ sơ doanh nghiệp trốn đóng các loại bảo hiểm trên sẽ được chuyển sang cơ quan Công an để điều tra, khởi tố. Đây là một kỳ vọng cho người lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp, đơn vị sản xuất kinh doanh.

    Nguyễn Hoàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hà Nội: Phổ Biến Nghị Quyết 05 Của Hội Đồng Thẩm Phán Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Tới Các Cơ Sở Khám Chữa Bệnh Bhyt
  • Nghị Quyết Số 755 Ngày 2/4/2005
  • Nghị Quyết 02 2004 Hđtp Tandtc
  • Nghị Quyết Số 04 2004 Của Hội Đồng Thẩm Phán
  • Một Số Ý Kiến Góp Ý Đối Với Nghị Quyết 01/2003/nq
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100