Top 2 # Xem Nhiều Nhất Nghị Quyết 04 Về Trả Lại Đơn Khởi Kiện Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Giải Quyết Khiếu Nại Về Việc Trả Lại Đơn Khởi Kiện

Giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện. Thời hạn khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện. Thời hạn khiếu nại việc trả lại đơn khởi kiện. Thẩm quyền giải quyết khiếu nại.

Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện căn cứ theo quy định tại :

Khoản 2, Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định rõ: “Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.”.

Pháp luật quy định như vậy nhằm bảo vệ người khởi kiện, cho họ căn cứ để khiếu nại khi họ bị tòa án trả lại đơn khởi kiện không đúng với quy định. Theo quy định tại Điều 170 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 thì trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Tòa án, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.

Điều 170 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 quy định về vấn đề giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn khởi kiện như sau:

“…2.Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải ra một trong các quyết định sau đây:

a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời đơn khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Tòa án, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết.

4. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:

b) Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng. Quyết định của Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp phải được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.”

Điều 170 Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung năm 2011 có sự bổ sung quyền kiến nghị của viện kiểm sát đối với việc trả lại đơn khởi kiện của tòa án. Quy định về quyền khiếu nại của người khởi kiện, quyền kiến nghị của Viện kiểm sát nhằm các mục đích:

Để người khởi kiện bảo vệ và thực hiện quyền khởi kiện VADS tại Tòa án.

Để tòa án có thẩm quyền nhận đơn khởi kiện và thụ lý VADS có điều kiện tự phát hiện sửa chữa hoặc tòa án cấp trên phát hiện sửa chữa những sai lầm trong quá trình nhận đơn khởi kiện.

Để viện kiểm sát thực hiện tốt chức năng giám sát hoạt động tư pháp của tòa án.

Khiếu Nại, Kiến Nghị Và Giải Quyết Khiếu Nại, Kiến Nghị Về Việc Trả Lại Đơn Khởi Kiện Được Quy Định Như Thế Nào?

Căn cứ quy định tại Điều 194 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện được quy định như sau:

1. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện.

2. Ngay sau khi nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phải phân công một Thẩm phán khác xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải mở phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Phiên họp xem xét, giải quyết khiếu nại, kiến nghị có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp và đương sự có khiếu nại; trường hợp đương sự vắng mặt thì Thẩm phán vẫn tiến hành phiên họp.

a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện và thông báo cho đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp;

b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

5. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Thẩm phán, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp xem xét, giải quyết.

6. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:

a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;

b) Yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.

Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp có hiệu lực thi hành và được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Tòa án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.

7. Trường hợp có căn cứ xác định quyết định giải quyết của Chánh án Tòa án trên một cấp trực tiếp quy định tại khoản 6 Điều này có vi phạm pháp luật thì trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định, đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc với Chánh án Tòa án nhân dân tối cao nếu quyết định bị khiếu nại, kiến nghị là của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại của đương sự, kiến nghị của Viện kiểm sát thì Chánh án phải giải quyết. Quyết định của Chánh án là quyết định cuối cùng.

Trân trọng!

Thời Hiệu Khởi Kiện Về Thừa Kế: Mốc Để Tính Là Khi Nộp Đơn Kiện

Bên lề hội nghị toàn quốc của ngành tòa án, chúng tôi đã trao đổi với lãnh đạo TAND tối cao để làm rõ các nội dung này.

Hai trường hợp không tính thời hiệu

Phó Chánh án TAND tối cao Nguyễn Như Bích cho biết tại Nghị quyết 02 của Hội đồng thẩm phán hướng dẫn có hai trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.

Thứ nhất là trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế thì tài sản thành di sản chung. Khi xảy ra tranh chấp thì không tính thời hiệu và tòa sẽ tiến hành chia tài sản theo di chúc hoặc chia theo thỏa thuận của các đồng thừa kế.

Thứ hai là di sản người chết để lại nhưng do người ngoài quản lý, còn các thừa kế không quản lý, không biết gì về di sản. Thực tế có những trường hợp do nhiều nguyên nhân khác nhau mà sau một thời gian dài đương sự mới phát hiện đó là tài sản của cha mẹ và chưa chia, nay họ muốn đòi lại thì không tính thời hiệu khởi kiện. Một số tòa án thời gian qua đã không nhận thức rõ vấn đề này nên vẫn tính thời hiệu khởi kiện là sai.

Còn thời hiệu phần nào, làm phần đó

Một vấn đề khác là nếu đương sự khởi kiện đòi chia di sản thừa kế mà trong khối di sản này có cả phần tài sản còn thời hiệu lẫn phần tài sản hết thời hiệu thì các tòa có thụ lý, giải quyết?

Theo Chánh tòa dân sự TAND tối cao Tưởng Duy Lượng, tòa án có thẩm quyền phải nhận đơn khởi kiện, thụ lý vụ án nếu như đương sự thực hiện đúng quy định tại Điều 164, 165, 166 Bộ luật Tố tụng dân sự và nộp tiền tạm ứng án phí (với trường hợp phải nộp)

Mốc để tính thời hiệu khởi kiện về thừa kế còn hay hết là vào lúc đương sự có đơn khởi kiện tại tòa án chứ không phải từ thời điểm thụ lý như một số tòa vẫn áp dụng. Khi giải quyết, tòa chỉ phân chia theo yêu cầu của các bên đương sự đối với phần di sản còn thời hiệu khởi kiện, phần di sản hết thời hiệu thì không “đụng” tới.

Không cần chờ hướng dẫn

Nghị quyết 1037 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giao dịch dân sự về nhà ở được xác lập trước ngày 1/7/1991 có người VN định cư ở nước ngoài tham gia đã gây ra một số cách hiểu khác nhau. Một số tòa án địa phương đã từ chối thụ lý các vụ án dạng này với lý do chưa có hướng dẫn của TAND tối cao. Người dân thì hoang mang vì sợ hết thời hiệu khởi kiện (hai năm) theo Bộ luật Dân sự.

Theo ông Tưởng Duy Lượng, những quy định trong Nghị quyết 1037 đã khá rõ, các tòa án địa phương hoàn toàn có thể giải quyết được mà không phải đợi hướng dẫn của TAND tối cao. Việc chậm hướng dẫn Nghị quyết 1037 không ảnh hưởng đến thời hiệu khởi kiện theo BLDS vì thời hiệu hai năm này cũng được xác định còn hay hết với mốc là lúc tòa nhận đơn của đương sự.

Ông Lượng giải thích cụ thể: Nếu người khởi kiện đã thực hiện đúng quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tòa án phải nhận đơn kiện và tiến hành xử lý theo quy định. Đối với các trường hợp tòa án đã tạm đình chỉ theo Nghị quyết của Quốc hội khóa IX, Kỳ họp thứ 8 và Nghị quyết 58 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì phải tiếp tục giải quyết ngay. Tòa án các cấp không chỉ áp dụng Nghị quyết 1037 mà còn phải áp dụng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự tương ứng với giai đoạn tạm đình chỉ để giải quyết.

Tòa đã thụ lý: Không cần thông báo!

Ngoài ra, theo ông Lượng, đối với một số loại việc như thuê nhà ở, mượn nhà ở, ở nhờ nhà ở theo quy định của Nghị quyết 1037, khi chủ nhà muốn lấy lại nhà phải thực hiện thủ tục thông báo bằng văn bản theo đúng hạn định của pháp luật. Do đó, gặp trường hợp các đương sự mới bắt đầu khởi kiện mà chưa thực hiện việc thông báo cho phía bên kia theo đúng Nghị quyết 1037 thì tòa án trả lại đơn kiện.

Tuy nhiên, đối với tòa án các cấp đã thụ lý hoặc đã chuẩn bị xét xử sơ thẩm, chuẩn bị xét xử phúc thẩm…, sau đó phải tạm đình chỉ theo nghị quyết của Quốc hội, nay lý do tạm đình chỉ không còn (Nghị quyết 1037 có hiệu lực), tòa án tiếp tục đưa vụ án ra giải quyết thì không yêu cầu đương sự phải tiến hành thủ tục thông báo. Trường hợp tòa án cấp phúc thẩm, giám đốc thẩm huỷ các bản án, giao hồ sơ về cho tòa án cấp sơ thẩm hoặc cấp phúc thẩm giải quyết lại thì cũng không yêu cầu đương sự phải tiến hành thủ tục thông báo!

Tòa Trả Đơn Kiện Hủy Bỏ Quyết Định Kỷ Luật Vì ‘Quyết Định Mang Tính Nội Bộ’

Theo thông báo này, TAND tỉnh Long An cho rằng quyết định ngày 24-5-2019 của giám đốc Sở Y tế Long An về việc hủy bỏ quyết định kỷ luật công chức là quyết định hành chính mang tính chất nội bộ của cơ quan, tổ chức.

Do đó tòa cho rằng yêu cầu khởi kiện của bà Cúc không thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Tuy nhiên, nhiều luật sư cho rằng việc TAND tỉnh Long An trả lại đơn là chưa xác đáng.

Theo luật sư Nguyễn Ngô Quang Nhật (Đoàn luật sư TP.HCM), quyết định hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức được hiểu là “những quyết định, hành vi quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó”.

Ví dụ quyết định hành chính, hành vi hành chính về việc bổ nhiệm, điều động, nâng lương, kỷ luật cán bộ, công chức (trừ hình thức buộc thôi việc).

Như vậy, quyết định ngày 24-5-2019 về việc hủy bỏ quyết định kỷ luật không phải là quyết định hành chính mang tính nội bộ của Sở Y tế Long An, bởi quyết định này thỏa mãn các điều kiện là dấu hiệu của một quyết định hành chính thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật tố tụng hành chính năm 2015.

Chủ thể ban hành quyết định là Sở Y tế cũng là cơ quan hành chính nhà nước, cũng thuộc đối tượng xét xử của tòa án.

Theo luật sư Nhật, quyết định này có ảnh hưởng đến quyền lợi của cá nhân bà Cúc. Do đó bà Cúc hoàn toàn có thể tiếp tục khiếu nại, yêu cầu TAND tỉnh Long An xác minh lại căn cứ trong thông báo trả lại đơn khiếu nại và giải quyết đơn khởi kiện của bà Cúc về việc yêu cầu hủy quyết định ngày 24-5-2019 của Sở Y tế Long An.

Trước đó, như Tuổi Trẻ Online đã thông tin, cách đây 7 năm, bà Trần Thị Ngọc Cúc nhận quyết định kỷ luật của Sở Y tế Long An với hình thức cảnh cáo sau khi thanh tra Sở Y tế thanh tra và phát hiện bà có nhận tiền để xét duyệt cho một đơn vị sản xuất kem, kèm theo 14 bản hồ sơ xét nghiệm không đúng quy định trình lên sở.

Đến năm 2013, cơ quan điều tra đã xem xét hồ sơ, mời bà lên làm việc, tuy nhiên sau đó không đả động tiếp gì đến vụ việc. Đến cuối năm 2016, Cơ quan CSĐT Công an TP Tân An (Long An) bất ngờ khởi tố bà Cúc để điều tra làm rõ.

Tuy nhiên, vì bà Cúc đã nhận quyết định kỷ luật cảnh cáo trước đó nên đến đầu năm 2019, cơ quan điều tra yêu cầu Sở Y tế hủy quyết định kỷ luật này. Đến ngày 24-5-2019, Sở Y tế ra văn bản hủy bỏ quyết định kỷ luật ban hành từ 7 năm trước.

Bà Cúc đã khởi kiện quyết định hủy bỏ quyết định kỷ luật này.

Kiện vì bị hủy quyết định kỷ luật từ… 7 năm trước

TTO – Việc bà Cúc khởi kiện khiến dư luận quan tâm, bởi sự việc hủy bỏ một quyết định kỷ luật có từ 7 năm trước hiếm khi xảy ra. Lạ hơn là bà Cúc khởi kiện vì không muốn cơ quan hủy bỏ quyết định kỷ luật chính mình, vì sao?