Hà Tĩnh: Nhiều Kinh Nghiệm Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết, Chỉ Thị Của Đảng

--- Bài mới hơn ---

  • Hà Tĩnh: Tỉnh Ủy Gửi “bài Phát Biểu” Cho Tân Chủ Tịch Tỉnh Nghiên Cứu, Thực Hiện
  • Hà Tĩnh: Quán Triệt, Thực Hiện Nghiêm Túc Các Nghị Quyết, Kết Luận Của Tỉnh Ủy
  • Xã Hội Hóa Giáo Dục Ở Hà Tĩnh: Đã Gỡ Nút Thắt, Phải Tăng Kiểm Soát
  • Nâng Cao Chất Lượng Xây Dựng, Thẩm Định, Kiểm Tra Các Văn Bản Qppl
  • Tải Về Văn Bản Hợp Nhất Số 16/vbhn
  • Ngày 13/6, tại Hà Tĩnh, Đoàn kiểm tra, khảo sát của Ban Tuyên giáo Trung ương đã làm việc với Tỉnh ủy Hà Tĩnh về tình hình triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng trong 6 tháng đầu năm 2021 và kết quả 10 năm thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW ngày 7/9/2009 của Ban Bí thư về đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới.

    Đồng chí Lê Đình Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh và đồng chí Nguyễn Thanh Long, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng đoàn kiểm tra, khảo sát chủ trì buổi làm việc. Cùng dự buổi làm việc có Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh Hà Tĩnh Đặng Quốc Vinh; Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Tĩnh Võ Hồng Hải; lãnh đạo một số sở, ngành, đoàn thể của tỉnh Hà Tĩnh.

    Quang cảnh buổi làm việc.

    Nghiêm túc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng

    Theo báo cáo của Tỉnh ủy Hà Tĩnh, trong 6 tháng đầu năm 2021, sau khi các chỉ thị, nghị quyết của Đảng được ban hành, căn cứ văn bản hướng dẫn của Trung ương, Ban thường vụ Tỉnh ủy đã chỉ đạo Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy tham mưu ban hành kế hoạch tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện phạm vi toàn tỉnh; đã tổ chức được 18 hội nghị cốt cán cấp tỉnh, cấp huyện và tương đương học tập, quán triệt các văn mới của Đảng, tỷ lệ tham gia học tập đạt 94,2%.

    Bên cạnh việc tổ chức hội nghị học tập, quán triệt, các địa phương, đơn vị đã đẩy mạnh tuyên truyền, tổ chức lồng ghép nội dung các văn bản mới của Đảng bằng nhiều hình thức như thông qua các Hội nghị, sinh hoạt chào cờ đầu tháng, sinh hoạt chi bộ, qua hệ thống báo, đài, hệ thống truyền thanh cơ sở, trang thông tin điện tử, bản tin nội bộ…

    Nhờ sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy, chủ động tham mưu của Ban Tuyên giáo trong 6 tháng đầu năm, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng được tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, sâu rộng từ tỉnh đến cơ sở; công tác sơ kết, tổng kết kịp thời, chất lượng, đảm bảo kế hoạch Trung ương đề ra.

    Quá trình lãnh đạo chỉ đạo thực hiện các chủ trương, cấp ủy Đảng và chính quyền tỉnh đã ban hành 241 văn bản lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp của các chỉ thị, nghị quyết đề ra.

    Đồng chí Lê Đình Sơn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh phát biểu tại buổi làm việc

    Tỉnh Hà Tĩnh đã đẩy mạnh cải cách hành chính và hiện đại hóa công tác quản lý quỹ BHYT, đặc biệt chú trọng rà soát, cắt giảm các thủ tục hành chính từ 118 thủ tục (năm 2012) xuống còn 28 thủ tục năm 2021. 100% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 đã được tiếp nhận, xử lý trên môi trường điện tử, với số lượt hồ sơ được xử lý lên đến hàng ngàn hồ sơ mỗi tháng.

    Các cơ sở y tế đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý khám, chữa bệnh và thanh quyết toán BHYT. Tính đến hết năm 2021, toàn tỉnh đã có 283/283 cơ sở khám chữa bệnh BHYT triển khai phần mềm quản lý khám chữa bệnh, kết nối liên thông dữ liệu khám chữa bệnh BHYT với Hệ thống thông tin giám định BHYT, đảm bảo việc kiểm soát chi phí và thanh quyết toán nhanh chóng, chính xác, hàng ngày đưa dữ liệu thông tin khám chữa bệnh lên hệ thống một cách công khai, minh bạch.

    Chất lượng khám chữa bệnh ngày càng được nâng lên, đáp ứng cơ bản nhu cầu của nhân dân. Nhiều dịch vụ kỹ thuật mới, kỹ thuật cao, kỹ thuật chuyên sâu từng bước mở rộng, triển khai tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh và hệ thống bệnh viện tuyến huyện.

    Sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW, chỉ tiêu số lượng người tham gia BHYT, tỷ lệ bao phủ được nâng lên, chi thanh toán khám chữa bệnh BHYT tăng. Tổng số người dân tham gia BHYT tăng, từ 969.741 lượt người năm 2009 lên 1.638.592 lượt người năm 2021 (tăng 668.851 lượt người đạt 68,9%). Tỷ lệ người dân tham gia BHYT năm 2009 đạt 57%, năm 2021 đạt 88%, tăng 31%. Năm 2009, tổng chi khám chữa bệnh BHYT là 246,482 triệu đồng, năm 2021 tăng lên 613,385 triệu đồng, năm 2021 là 1,367 tỷ đồng.

    Nhiều kiến nghị về công tác bảo hiểm y tế

    Phát biểu kết luận buổi làm việc, đồng chí Nguyễn Thanh Long, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương,Trưởng đoàn công tác bày tỏ sự phấn khởi, đánh giá cao những kết quả tỉnh Hà Tĩnh đạt được trong việc triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, đặc biệt là việc triển khai thưc hiện Quyết định số 221-QĐ/TW của Ban Bí thư (khóa X) về ban hành Quy chế phối hợp giữa Ban Tuyên giáo các cấp với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp trong việc triển khai kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết các vấn đề bức xúc của nhân dân. Bên cạnh đó, Hà Tĩnh cũng triển khai thực hiện tốt Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước; Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về “Đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”… Theo đồng chí Nguyễn Thanh Long, có thể khẳng định Hà Tĩnh là một trong những điểm sáng trong việc tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

    ,

    Đồng chí Nguyễn Thanh Long, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu tại buổi làm việc.

    Đối với việc thực hiện Chỉ thị số 38-CT/TW của Ban Bí thư (khóa X) về đẩy mạnh công tác bảo hiểm y tế trong tình hình mới, đồng chí Nguyễn Thanh Long ghi nhận tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực của tỉnh Hà Tĩnh trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện Chỉ thị; đánh giá cao những kết quả Hà Tĩnh đã đạt được trong việc thực hiện các nhiệm vụ Chỉ thị số 38-CT/TW đã đề ra, trong đó có việc nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên và nhân dân về chính sách BHYT, việc xây dựng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chính sách về BHYT, công tác quản lý và sử dụng quỹ BHYT…

    Chiều cùng ngày, Đoàn công tác của Ban Tuyên giáo Trung ương đã đi kiểm tra, khảo sát thực tế công tác khám chữa bệnh BHYT tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Hà Tĩnh và Trạm y tế xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà.

    Đoàn công tác làm việc tại Trạm y tế xã Tượng Sơn, huyện Thạch Hà.

    Trong quá trình triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Tỉnh ủy Hà Tĩnh đã rút ra một số bài học kinh nghiệm:

    Thứ nhất, cần nghiên cứu, khảo sát thực tế, đánh giá thực trạng tình hình một cách đầy đủ, khách quan, khoa học để đề xuất những nội dung, giải pháp phù hợp, thiết thực. Đây là nhiệm vụ quan trọng để nghị quyết, chỉ thị của Đảng sớm đi vào cuộc sống.

    Thứ ba, phát huy vai trò, trách nhiệm của Ban Tuyên giáo các cấp trong việc tham mưu cấp ủy tổ chức tuyên truyền, triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị, định kỳ chủ động hướng dẫn các ngành, địa phương sơ kết, tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm.

    Thứ tư, để nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, song song với việc ban hành nghị quyết cần ban hành đồng bộ các chính sách, đầu tư nguồn lực để triển khai thực hiện.

    Thứ năm, cần nắm chắc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trên lĩnh vực tuyên giáo; thường xuyên cập nhật thông tin, nắm chắc tình hình thực tiễn để tham mưu đúng, trúng và kịp thời. Cán bộ làm công tác tuyên giáo phải thường xuyên học tập, nâng cao trình độ lý luận và thực tiễn, chủ động, sáng tạo trong tham mưu.

    Thứ sáu, trong công tác tham mưu, phải luôn quán triệt tư tưởng chỉ đạo của Trung ương, của Tỉnh ủy, cần tập trung giải quyết hiệu quả những vấn đề bức xúc mà thực tiễn đang đặt ra, lựa chọn một số nhiệm vụ trọng tâm đề xuất ban hành các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Hà Tĩnh Diễn Ra Từ 14
  • Lịch Sử: Lịch Sử Đảng Bộ Hà Tĩnh
  • Cách Viết Bài Giới Thiệu Sản Phẩm Hay Và Ấn Tượng
  • Vợ Ký Giấy Vay Nợ Chồng Có Trách Nhiệm Gì?
  • Mẫu Giấy Mượn Nợ Cá Nhân
  • Hướng Dẫn Lập Dự Toán Hà Tĩnh 2021 Theo Quyết Định 47/qđ

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyết Định 27 Về Bổ Nhiệm
  • Quyết Định 27 Về Bổ Nhiệm Cán Bộ
  • Quyết Định Số 27 Về Bổ Nhiệm Bổ Nhiệm Lại
  • Qd 27/2020 Ngay 26/6/2020 Cua Ubnd Tinh Dong Nai
  • ​tp.hcm Sửa Quy Định Về Cấp Phép Xây Dựng Tạm
  • Đơn giá nhân công xây dựng tỉnh Hà Tĩnh năm 2021 ban hành theo Quyết định 47/QĐ-SXD ngày 27/4/2020; Hướng dẫn xác định nhân công theo Thông tư 15/2019/TT-BXD của Bộ Xây dựng. Triển khai thực hiện Thông tư 10/2019/TT-BXD và thông tư 11/2019/TT-BXD của Bộ Xây dựng

    Đơn giá nhân công xây dựng tỉnh Hà Tĩnh năm 2021 mới nhất

    Đơn giá nhân công xây dựng tỉnh Hà Tĩnh ban hành theo Quyết định 47/QĐ-SXD ngày 27/4/2020; Hướng dẫn xác định đơn giá nhân công tạm thời trong quản lý chi phí đầu tư xây dựng theo Quy định tại Nghị định số 68/2019/NĐ-CP của Chính phủ

    Căn cứ ban hành đơn giá nhân công xây dựng Hà Tĩnh năm 2021

    – Nghị định số 68/2019/NĐ-CP ngày 14/8/2019 của Chính phủ về quản lý chi phí xây dựng

    – Thông tư 09/2019/TT-BXD của Bộ xây dựng quản lý chi phí đầu tư xây dựng

    – Thông tư số 15/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ Xây dựng; Hướng dẫn xác định đơn giá nhân công trong quản lý đầu tư xây dựng

    – Thông tư 11/2019/TT-BXD của Bộ xây dựng hướng dẫn xác định giá ca máy và thiết bị thi công

    – Thông tư số 10/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 ban hành định mức xây dựng

    Quyết định 47/QĐ-SXD ngày 27/4/2020 đơn giá nhân công xây dựng tỉnh Hà Tĩnh

    Tỉnh Hà Tĩnh theo Quyết định 47/QĐ-SXD ngày 27/4/2020 áp dụng chung mức lương nhân công. Việc phân chia khu vực dựa trên phân chia vùng theo quy định của chính phủ về lương tối thiểu vùng

    Đơn giá nhân công chia thành 2 vùng:

    Vùng III gồm: Thành phố Hà Tĩnh, Thị xã Kỳ Anh

    Vùng IV gồm: Thị xã Hồng Lĩnh, Các huyện Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Thạch Hà, Vũ Quang, Lộc Hà

    Đơn giá nhân công xây dựng công bố sử dụng để quản lý chi phí đầu tư xây dựng gồm;

    • Tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng, dự toán gói thầu
    • Giá xây dựng, giá hợp đồng
    • Chỉ số giá xây dựng

    Bảng giá ca máy thiết bị tỉnh Hà Tĩnh năm 2021 theo công văn số 849/SXD-QLHĐXD ngày 15/04/2020

    Căn cứ xác định giá ca máy và thiết bị thi công tỉnh Hà Tĩnh bao gồm

    – Định mức hao phí khấu hao bảng giá ca máy và thiết bị thi công theo Thông tư số 11/2019/TT-BXD ngày 26/12/2019 của Bộ Xây dựng

    – Nhân công lái máy theo Quyết định 47/QĐ-SXD ngày 27/4/2020 hướng dẫn theo Thông tư 15/2019/TT-BXD của Bộ xây dựng

    Chi tiết nội dung Quyết định 47/QĐ-SXD ngày 27/4/2020 ban hành đơn giá nhân công tỉnh Hà Tĩnh năm 2021

    Hỗ trợ: Dương Thắng

    Điện thoại: 096 636 0702

    Zalo: 090 336 747 9

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định Số 50 Về Việc Ban Hành Cơ Chế Xử Lý Nợ Bị Rủi Ro Tại Ngân Hàng Chính Sách Xã Hội
  • Sách Tiêu Chuẩn, Định Mức, Thủ Tục Hành Chính
  • Quyết Định Số 4322 Của Ubnd Thành Phố Hà Nội
  • Quyết Định Số 04 Của Ubnd Thành Phố Hà Nội
  • Công Bố Đơn Giá Xây Dựng Công Trình Tỉnh Đắk Lắk (Năm 2021)
  • Bộ Ngoại Giao Trao Quyết Định Tuyển Dụng Cán Bộ Năm 2021

    --- Bài mới hơn ---

  • Thu Hồi 271 Quyết Định Bổ Nhiệm Và 252 Quyết Định Tuyển Dụng Cán Bộ Có Sai Phạm
  • Quy Định Về Cán Bộ Không Chuyên Trách Tại Xã, Phường Thị Trấn
  • Bộ Tư Pháp Thông Báo Nhu Cầu Tiếp Nhận, Xét Chuyển Vào Công Chức Năm 2021
  • Bộ Tư Pháp Thông Báo Tiếp Nhận Công Chức, Tiếp Nhận Vào Công Chức Không Qua Thi Tuyển Năm 2021
  • Tổng Cục Thuế Thông Báo Tuyển Dụng Công Chức 2021
  • Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng phát biểu tại lễ trao quyết định.

    Tham dự buổi lễ trao quyết định tuyển dụng có Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ Phạm Quang Hiệu; Cục trưởng Cục Quản trị Tài vụ Hoàng Minh Sơn; đại diện các đơn vị: Văn phòng Bộ, Công đoàn Bộ, Đoàn Thanh niên Bộ…

    Sau khi trao quyết định tuyển dụng cho các cán bộ, phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng chào mừng các công chức, viên chức mới được tuyển dụng.

    Thứ trưởng nhấn mạnh, kỳ thi tuyển dụng công chức, viên chức luôn nhận được sự quan tâm sát sao và đầu tư công sức của Bộ.

    Sau 7 tháng thử thách, 82 thí sinh xuất sắc nhất đã vượt qua gần 300 hồ sơ dự tuyển, đạt các vị trí dẫn đầu trong hai vòng thi để được trao quyết định ngày hôm nay.

    “Do đó, các bạn hoàn toàn có quyền vui mừng và tự hào vì mình đang đứng trong hàng ngũ những cá nhân xuất sắc và chính thức trở thành những công chức, viên chức ngoại giao trẻ”, Thứ trưởng nói.

    Thứ trưởng cho rằng, tuy vượt qua được một trong những kỳ thi tuyển “khó khăn nhất”, nhưng chặng đường phía trước còn khó khăn và chông gai hơn rất nhiều.

    Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng và các đại biểu chụp ảnh lưu niệm với các cán bộ mới được trao quyết định.

    Điều đó sẽ khiến “có lúc bạn thấy thật mệt mỏi, thật khó khăn, nhiều gian nan và thử thách” nhưng sẽ là một chặng đường rất thú vị và nhiều trải nghiệm tuyệt vời mà không phải ngành nghề nào cũng có được, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng chia sẻ.

    Thứ trưởng cũng nhấn mạnh công tác đối ngoại là công việc cực kỳ gian lao và vất vả, đòi hỏi mỗi cán bộ ngoại giao cần có ngoại ngữ tốt, chuyên môn tốt, bản lĩnh vững vàng, tinh thần dẻo dai và quan trọng hơn cả là lòng yêu nước, sự trung thành và tinh thần mong muốn được cống hiến cho tổ quốc.

    Thứ trưởng cho biết, trong thời gian tới, các cán bộ trẻ sẽ tiếp tục được theo học lớp Tiền công vụ nhằm học hỏi và được trang bị những kiến thức, kỹ năng cơ bản để có sự hình dung nhất định về công việc sắp tới của mình, là môi trường xây dựng những kết nối công tác đầu tiên trong quãng đường khởi nghiệp.

    Cùng với đó, kết quả khóa học sẽ là một trong những yếu tố để xem xét quyết định việc phân công công tác cho các cán bộ về các đơn vị cũng như việc kết thúc thời gian tập sự của cán bộ trẻ trong thời gian tới.

    Cuối cùng, Thứ trưởng Nguyễn Quốc Dũng cho rằng, Bộ đã tuyển dụng được một thế hệ trẻ kế tiếp đầy sức sống, được đào tạo bài bản và có kiến thức tốt; bày tỏ tin tưởng các cán bộ trẻ cùng với những hoài bão của mình, sẽ nuôi dưỡng hoài bão và thành công với hoài bão đó.

    Bạn Nguyễn Hoàng Duy bày tỏ vinh dự khi được tuyển dụng vào Bộ Ngoại giao.

    Thay mặt cho các cán bộ trẻ mới được tuyển, anh Nguyễn Hoàng Duy bày tỏ vinh dự khi được đứng vào hàng ngũ cán bộ ngoại giao. Bày tỏ tự hào với truyền thống vẻ vang của Ngành, anh Nguyễn Hoàng Duy xin hứa với Lãnh đạo Bộ, sẽ không ngừng rèn luyện phẩm chất đạo đức, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ, vững vàng về bản lĩnh chính trị để hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

    Thứ trưởng thường trực Bùi Thanh Sơn trao quyết định bổ nhiệm cán bộ

    Chiều ngày 4/4, tại Trụ sở Bộ Ngoại giao, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng thường trực Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã …

    Bộ Ngoại giao trao quyết định bổ nhiệm Vụ trưởng Vụ Tổ chức Cán bộ

    Chiều 27/3, tại Trụ sở Bộ Ngoại giao, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh đã trao …

    Trao quyết định của Thủ tướng bổ nhiệm Thứ trưởng Ngoại giao Tô Anh Dũng

    Sáng 11/3, Bộ Ngoại giao đã tổ chức lễ công bố và trao quyết định của Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Nội Vụ Hủy Kết Quả Thi Tuyển Công Chức Ở Bộ Công Thương
  • Bộ Công Thương Công Bố Quyết Định Tuyển Dụng
  • Yêu Cầu Về Năng Lực Cơ Bản Của Giáo Viên Tiếng Anh
  • Tư Vấn Về Việc Xếp Lương Khi Bổ Nhiệm Ngạch Viên Chức ?
  • Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Ngạch Chuyên Viên Chính Và Quyết Định Tuyển Dụng Công Chức, Viên Chức
  • Tính Hợp Pháp Của Quyết Định Kỷ Luật Công Chức Trong Thực Tiễn Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thời Gian Ra Quyết Định Kỷ Luật Cán Bộ Công Chức Là Bao Lâu ?
  • Trình Tự Ra Quyết Định Kỷ Luật Công Chức
  • Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Cán Bộ, Giáo Viên Vi Phạm Tại Trường Mầm Non Ngọc Sơn
  • Mẫu Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Viên Chức
  • Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Viên Chức
  • Hoạt động tư vấn pháp luật là một hoạt động đa dạng, phức tạp đòi hỏi một quá trình lao động trí óc. Hiện nay, có nhiều hoạt động tư vấn pháp luật khác nhau, tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hành chính là một hoạt động phổ biến và rất đa dạng. Tư vấn pháp luật về công chức là một hoạt động trong tư vấn pháp luật trong lĩnh vực hành chính, là: hoạt động dịch vụ pháp lí trên cơ sở pháp luật về công chức đưa ra quan điểm pháp lí đối với vụ việc khách hàng yêu cầu, trợ giúp khách hàng, bảo vệ quyền, lợi ích của họ. Trong thực tiễn cuộc sống, việc xử lý kỉ luật công chức diễn ra khá phổ biến trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội,…Tuy nhiên, một số quyết định hành chính, hành vi hành chính áp dụng đối với công chức chưa hoàn toàn hợp pháp, quyền và lợi ích hợp pháp của công chức chưa thực sự được bảo đảm.

    Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, Luật Quang Huy sẽ tiến hành giải đáp vấn đề: tính hợp pháp của quyết định kỷ luật công chức.

    • Giáo trình kỹ năng tư vấn pháp luật – Học viện Tư Pháp, Nxb.Công an nhân dân, năm 2012.
    • Trương nhật Quang, Kĩ năng hành nghề tư vấn pháp Luật của Luật Sư, NXB Lao Động 2012.
    • Luật cán bộ, công chức năm 2008.
    • Luật khiếu nại năm 2011.
    • Luật tố tụng hành chính năm 2021.
    • Nghị định Số: 34/2011/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức.

    Tình huống:

    Nguyễn Văn A có chức vụ là chuyên viên phòng xây dựng văn bản pháp luật Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương. Ngày 10 tháng 10 năm 2021 A nhận được quyết định kỷ luật buộc thôi việc số: 44/2015/QĐ – UBND của chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương mà không thông qua cuộc họp kiểm điểm nào. Sau khi nhận được quyết định, A thấy mình hoàn toàn bị oan nên đã đến văn phòng luật sư xin ý kiến tư vấn của luật sư về việc kỷ luật đối với ông A. Ông A trình bày những lý do mà UBND tỉnh Hải Dương đưa ra để xử lý kỉ luật đối với ông A như sau:

    1. Ông A uống rượu say, có hành vi gây gổ đánh nhau với các đồng nghiệp trong cơ quan, gây mất đoàn kết trong cơ quan.
    2. Ông A tự ý nghỉ việc 04 ngày làm việc trong một tháng.
    3. Gia đình A xây dựng công trình nhà ở ở đô thị mà không có giấy phép. Việc làm sai trái này đã bị Thanh tra viên xây dựng lập biên bản vi phạm hành chính sau đó bị Chánh thanh tra Sở xây dựng xử phạt 10.000.000 đồng.

    Đánh giá tính hợp pháp của quyết định kỷ luật công chức trong vụ việc trên

    * Đối tượng áp dụng

    Đối tượng áp dụng trong vụ việc trên là công chức.

    * Căn cứ pháp luật

    Căn cứ vào Khoản 2 Điều 4 Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định Số: 06/2010/NĐ-CP quy định những người là công chức. Trong vụ việc trên ta thấy:

    – Ông A là công dân mang quốc tịch Việt Nam

    – Ông A là chuyên viên, làm việc trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước.

    – Nơi làm việc: ông A làm ở phòng xây dựng văn bản pháp luật Sở Tư Pháp tỉnh Hải Dương, là cơ quan của Nhà nước.

    * Nội dung quyết định hành chính

    Quyết định hành chính trong vụ việc trên là quyết định kỷ luật đối với công chức số: 44/2015/QĐ – UBND. Hình thức kỷ luật là buộc thôi việc.

    Căn cứ vào Điều 14 Nghị định Số: 34/2011/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức:

    “Hình thức kỷ luật buộc thôi việc áp dụng đối với công chức có một trong các hành vi vi phạm pháp luật sau đây:

    Bị phạt tù mà không được hưởng án treo;

    Sử dụng giấy tờ không hợp pháp để được tuyển dụng vào cơ quan, tổ chức, đơn vị;

    Nghiện ma túy có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền;

    Tự ý nghỉ việc, tổng số từ 07 ngày làm việc trở lên trong một tháng hoặc từ 20 ngày làm việc trở lên trong một năm mà đã được cơ quan sử dụng công chức thông báo bằng văn bản 03 lần liên tiếp;

    Xét trong vụ việc trên ta thấy:

    – Những lý do mà UBND tỉnh Hải Dương đưa ra để xử lý kỉ luật đối với A trong vụ việc trên không thỏa mãn với quy định của pháp luật để áp dụng hình thức kỉ luật buộc thôi việc đối với công chức.

    * Thẩm quyền, thủ tục

    Căn cứ theo Khoản 2 Điều 15 Nghị định Số: 34/2011/NĐ-CP quy định về xử lý kỷ luật đối với công chức: “Đối với công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu cơ quan quản lý hoặc người đứng đầu cơ quan được phân cấp quản lý công chức tiến hành xử lý kỷ luật và quyết định hình thức kỷ luật.”. Theo đó, chủ thể có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỉ luật công chức trong vụ việc trên là Giám đốc Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương hoặc trưởng phòng phòng xây dựng văn bản pháp luật Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương.

    Xét trong vụ việc trên ta thấy:

    – Chủ thể ra quyết định xử lý kỷ luật số: 44/2015/QĐ – UBND đối với A là chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương.

    – Quyết định số: 44/2015/QĐ – UBND không tuân theo trình tự, thủ tục quy định tại Điều 16, 17, 19, 20 của Nghị định Số: 34/2011/NĐ-CP, không tổ chức họp kiểm điểm công chức có hành vi vi phạm pháp luật, không thành lập, họp hội đồng kỷ luật; không tuân theo trình tự ra quyết định kỉ luật.

    * Thời hiệu, thời hạn

    Căn cứ vào Điều 80 Luật cán bộ, công chức năm 2008 và Điều 6, Điều 7 Nghị định Số: 34/2011/NĐ-CP, thời hiệu, thời hạn xử lý kỉ luật đối với công chức xác định như sau:

    – Thời hiệu xử lý kỷ luật công chức là 24 tháng, kể từ thời điểm công chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến thời điểm người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền ra thông báo bằng văn bản về việc xem xét xử lý kỷ luật.

    – Thời hạn xử lý kỷ luật công chức là tối đa 02 tháng, kể từ ngày phát hiện công chức có hành vi vi phạm pháp luật cho đến ngày cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật.

    Kết luận:

    Như vậy, quyết định kỷ luật công chức số: 44/2015/QĐ – UBND trong vụ việc trên đúng về đối tượng áp dụng, thời hiệu, thời hạn nhưng sai thẩm quyền, thủ tục, căn cứ pháp lý và hình thức kỉ luật.

    Trình bày trình tự tư vấn cho khách hàng là công chức bị kỉ luật

    Tư vấn cho khách hàng là công chức bị kỷ luật tuân theo các trình tự sau:

    Bước 1: Tiếp xúc khách hàng và nhận yêu cầu tư vấn

    – Mục đích của tiếp xúc khách hàng và tìm hiểu yêu cầu tư vấn:

    + Hiểu được mong muốn của khách hàng.

    + Hình thành quan hệ pháp lý với khách hàng.

    – Các kĩ năng tiếp xúc khách hàng: kỹ năng lắng nghe; kỹ năng giao tiếp; kỹ năng ghi chép; kỹ năng diễn giải và tổng hợp vấn đề; kỹ năng đặt câu hỏi và tìm hiểu vấn đề…

    – Phân loại đối tượng khách hàng: khách hàng lần đầu hay khách hàng quen, khách hàng nước ngoài hay khách hàng Việt Nam.

    – Quy trình tiếp khách hàng:

    + Tạo môi trường giao tiếp.

    + Tìm hiểu sự việc, làm rõ vấn đề.

    – Nhận định, đánh giá bước đầu về yêu cầu của khách hàng, xác định yêu cầu của khách hàng.

    Bước 2: Nghiên cứu hồ sơ, tìm kiếm, khai thác, thu thập thông tin, xác định căn cứ pháp lý, đánh giá vụ việc

    Sau khi tiếp xúc khách hàng và xác định yêu cầu tư vấn của khách hàng thì người tư vấn tiếp tục thực hiện các công việc sau:

    – Đọc hồ sơ (đọc sơ bộ, đọc lướt)

    + Đọc tên, tiêu đề của tài liệu.

    + Đọc trích yếu của tài liệu hoặc phần dẫn nhập của tài liệu.

    + kiểm tra thông tin về chủ thể ký và việc đóng dấu vào tài liệu.

    – Sắp xếp hồ sơ tài liệu.

    – Đọc chi tiết.

    – Tóm lược vụ việc

    + Tóm lược theo diễn biến sự việc.

    + Mô hình hóa diễn biến vụ việc.

    +Tóm lược theo vấn đề.

    + Tóm lược theo sơ đồ tư duy.

    – Phân tích vụ việc.

    – Xác định câu hỏi pháp lý.

    Bước 3: Đưa ra giải pháp pháp lý và phương án tư vấn.

    – Đưa ra nhận định với khách hàng là trong vụ việc trên, quyết định kỷ luật buộc thôi việc đối với ông A là trái pháp luật.

    – Trong vụ việc trên người tư vấn có thể đưa ra hai phướng án tư vấn cho khách hàng là khiếu nại hoặc khiếu kiện hành chính.

    Bước 4: Ký kết hợp đồng tư vấn pháp luật

    – Xác định thời gian làm việc và xác định phương án tư vấn.

    – Thống nhất phương thức và mức thù lao cụ thể, các khoản chi phí nếu có; thống nhất phương thức làm việc.

    – Quyền và nghĩa vụ các bên.

    – Phương thức gải quyết tranh chấp.

    – Đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng.

    Phân tích những phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công chức bị kỷ luật trong quyết định kỷ luật trên

    Trong quyết định kỷ luật trong vụ việc trên, với yêu cầu của khách hàng là muốn biết quyết định kỷ luật buộc thôi việc số: 44/2015/QĐ – UBND đối với ông A là đúng hay sai pháp luật và làm thế nào để bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như đã phân tích ở trên, quyết định kỷ luật đối với ông A là trái pháp luật, theo đó có hai phương thức bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông A, đó là phương thức khiếu nại hoặc khiếu kiện hành chính.

    Phương thức khiếu nại

    * Chủ thể khiếu nại:

    Chủ thể khiếu nại trong vụ việc trên là ông Nguyễn Văn A. Vì A là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, là đối tượng bị áp dụng của quyết định kỷ luật công chức, bị ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    * Đối tượng khiếu nại

    Đối tượng khiếu nại trong vụ việc trên là toàn bộ quyết định kỷ luật buộc thôi việc số: 44/2015/QĐ – UBND của UBND tỉnh Hải Dương.

    Căn cứ vào Điều 7 và Điều 11 của Luật khiếu nại năm 2011 thì quyết định xử lý kỷ luật trong vụ việc trên không thuộc trường hợp không được thụ lý giải quyết.

    * Thời hiệu khiếu nại

    Căn cứ vào Điều 9 Luật khiếu nại 2011: Thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hành chính hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính.

    * Hình thức khiếu nại và thủ tục

    Căn cứ Điều 8 Luật khiếu nại 2011: Việc khiếu nại được thực hiện bằng đơn khiếu nại hoặc khiếu nại trực tiếp. Đơn khiếu nại phải do người khiếu nại kí tên và điểm chỉ.

    Trình tự, thủ tục khiếu nại.

    • Trong vụ việc trên, thẩm quyền giải quyết khiếu nại thuộc về Chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương, căn cứ vào khoản 1 Điều 21 Luật khiếu nại năm 2011.
    • Hồ sơ khiếu nại nộp đến chủ tịch UBND tỉnh Hải Dương.

    * Ưu điểm và hạn chế của phương thức

    Phương thức khiếu nại có nhiều ưu điểm như: chi phí đỡ tốn kém, trình tự, thủ tục chặt chẽ nhưng gọn nhẹ; các tài liệu chuẩn bị đỡ phức tạp.

    Hạn chế của phương thức này là: trường hợp chủ thể có thẩm quyền giải quyết khiếu nại đồng thời giải quyết những quyết định hành chính, hành vi hành chính của chính mình dẫn đến việc thiếu khách quan, nhiều trường hợp gian lận, không thụ lý đơn khiếu nại; thời gian giải quyết khiếu nại diễn ra khá dài;…

    Phương thức khiếu kiện hành chính

    * Chủ thể khiếu kiện:

    Chủ thể khiếu kiện trong vụ việc trên là ông Nguyễn Văn A. Vì ông A là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, là đối tượng bị áp dụng của quyết định kỷ luật công chức, bị ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    * Đối tượng khiếu kiện

    Đối tượng khiếu kiện trong vụ việc trên là toàn bộ quyết định kỷ luật buộc thôi việc số: 44/2015/QĐ – UBND của UBND tỉnh Hải Dương.

    * Thời hiệu khiếu kiện

    Căn cứ theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính năm 2021, thời hiệu khiếu kiện là: “01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;”

    * Hình thức khiếu kiện và thủ tục

    Căn cứ vào Điều 119 Luật tố tụng hành chính năm 2021, người khởi kiện gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng một trong các phương thức:

    • Nộp trực tiếp tại Tòa án.
    • Gửi qua dịch vụ bưu chính.
    • Gửi trực tuyến qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

    Trình tự, thủ tục khiếu kiện

    • Trong vụ việc trên, thẩm quyền giải quyết khiếu kiện thuộc về Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, căn cứ vào Điều 32 Luật tố tụng hành chính năm 2021.
    • Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

    * Ưu điểm và hạn chế của phương thức

    Phương thức khiếu kiện hành chính tại Tòa án có nhiều ưu điểm như: đơn khiếu kiện được thụ lý nhanh hơn; quyền và lợi ích hợp pháp của người kiếu kiện được đảm đảm tối đa; Hạn chế được tình trạng bỏ qua, không thụ lý đơn; khách quan, công bằng hơn…

    Hạn chế của phương thức này là: chi phí tốn kém, trình tự, thủ tục phức tạp.

    Trân trọng./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xử Lý Trường Hợp Đảng Viên Sinh Con Thứ 3
  • Quyết Định Kỷ Luật Đảng Viên Sinh Con Thứ 3
  • Đảng Viên Sinh Con Thứ 3 Sẽ Bị Xử Lý Như Thế Nào ?
  • Thẩm Quyền Xử Lý Kỷ Luật Đảng Viên Sinh Con Thứ Ba?
  • Đảng Viên Sinh Con Thứ Ba Có Bị Kỷ Luật Không Và Hình Thức Kỷ Luật Gì ?
  • Luận Văn: Các Căn Cứ Quyết Định Hình Phạt Theo Pháp Luật Hình Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Mới Về Quyết Định Hình Phạt Dưới Mức Thấp Nhất Của Khung Hình Phạt
  • Quyết Định Ngắn Hạn (Short‑Term Decisions) Trong Kế Toán Là Gì?
  • Khái Niệm Quyết Định Ngắn Hạn
  • Đầu Tư Tài Chính Ngắn Hạn Là Gì? Trọn Bộ Từ A Đến Z
  • Các Quyết Định Tài Chính Của Doanh Nghiệp
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Download luận văn thạc sĩ ngành luật hình sự với đề tài: Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng, cho các bạn làm luận văn tham khảo

    1. 1. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ NGỌC THÙY CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, năm 2021
    2. 2. VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ NGỌC THÙY CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự Mã số: 60.38.01.04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG HÀ NỘI, năm 2021
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được trích dẫn theo nguồn đã công bố. Kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Ngọc Thùy
    4. 4. MỤC LỤC MỞ ĐẦU………………………………………………………………………………………………………………………. 1 CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT……………………………………………………….. 8 1.1. Những vấn đề lý luận về căn cứ quyết định hình phạt…………………………………………………. 8 1.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt……………….15 CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG………………………………………………………………………..35 2.1. Tổng quan kết quả áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng……35 2.2. Những vi phạm, sai lầm trong việc áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt tại thành phố Đà Nẵng và nguyên nhân…………………………………………………………………………………………40 CHƯƠNG 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG CÁC CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT……………………………………………………………..57 3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt………………………….57 3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt ……………………….61 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………………………………….79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
    5. 5. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS Bộ luật hình sự BLTTHS Bộ luật tố tụng hình sự CTTP Cấu thành tội phạm HĐTP Hội đồng thẩm phán HĐXX Hội đồng xét xử QĐHP Quyết định hình phạt TTHS Tố tụng hình sự TAND Tòa án nhân dân TANDTC Tòa án nhân dân tối cao TNHS Trách nhiệm hình sự VKSND Viện kiểm sát nhân dân VKSNDTC Viện kiểm sát nhân dân tối cao VAHS Vụ án hình sự XHCN Xã hội chủ nghĩa XXPT Xét xử phúc thẩm
    6. 6. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Pháp luật với tư cách là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội. Nó luôn tác động và ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến các quan hệ xã hội nói chung và đến các đối tượng mà nó điều chỉnh nói riêng. Để pháp luật phát huy được vai trò, tác dụng và giá trị to lớn của nó thì cần phải xây dựng một hệ thống pháp luật có tính khoa học, đảm bảo tác động có hiệu quả đến các đối tượng mà pháp luật cần điều chỉnh. Xét xử vụ án hình sự là một giai đoạn tố tụng hình sự đặc biệt quan trọng do Toà án thực hiện trên cơ sở kiểm tra, đánh giá toàn bộ các tình tiết của vụ án theo những quy định của BLTTHS để chứng minh tội phạm, giải quyết vấn đề TNHS, định tội danh và QĐHP đối với người bị kết án. Trong giai đoạn này, QĐHP là hoạt động không thể thiếu sau khi đã định tội danh mà kết quả là HĐXX nhân danh Nhà nước CHXHCN Việt Nam tuyên người bị kết tội một hình phạt cụ thể. Trong hoạt động thực tiễn, để QĐHP đúng, phát huy được hiệu quả và mục đích của hình phạt không phải là công việc đơn giản vì HĐXX (Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân) không bao giờ QĐHP lại dựa trên một khuôn mẫu chung, mang tính định sẵn trong mối quan hệ với tính đa dạng của các loại hành vi phạm tội. Đặc biệt, từ khi BLHS đầu tiên ra đời năm 1985, án lệ không còn được coi là nguồn của pháp luật hình sự thì càng không thể có một hình phạt mẫu với những thông số cho sẵn để hoạt động QĐHP chỉ việc lắp ráp một cách máy móc. Hệ thống hình phạt đa dạng, với các mức độ nghiêm khắc khác nhau được quy định trong BLHS tuy đã phát huy được tác dụng tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm nhưng việc quy định khoảng cách giữa mức tối thiểu và tối đa của hình phạt tù có thời hạn vẫn còn rộng nên dễ tạo ra sự tuỳ tiện trong QĐHP, không đảm bảo công bằng giữa các trường hợp phạm tội. Mặt khác, hoạt động QĐHP cũng không cho phép Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân được QĐHP một cách chủ quan, thiếu căn cứ pháp lý hay đi tìm tội danh cho một hình phạt đã có sẵn… vì kết quả sẽ là sự xâm hại các quyền và lợi ích chính đáng của người phạm tội, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc pháp chế của Luật hình sự trong một Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Để thực hiện đúng nguyên tắc xử lý tại Điều 3 BLHS 1999 (Điều 3 BLHS 2021) thì ngoài việc mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh
    7. 7. 2 chóng, công minh theo đúng pháp luật, khi truy cứu TNHS phải định tội danh đúng. Định tội danh đúng dẫn đến QĐHP đúng. Muốn QĐHP đúng thì cần phải tuân thủ các nguyên tắc QĐHP và phải bảo đảm đầy đủ các căn cứ QĐHP. Việc Toà án tuyên một hình phạt đảm bảo đầy đủ các căn cứ QĐHP có ý nghĩa chính trị, xã hội và pháp lý hết sức to lớn. QĐHP đúng, đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật hình sự, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chính là để bảo vệ pháp chế và chế độ XHCN, là cơ sở pháp lý đầu tiên để đạt được các mục đích của hình phạt. Nhìn chung, QĐHP đúng không chỉ có tác dụng đối với người phạm tội mà còn thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và phát huy tác dụng giáo dục, phòng ngừa chung. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của cả nước, tình hình kinh tế – xã hội trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã chuyển biến tích cực, tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh, diện mạo xã hội có nhiều thay đổi rõ rệt nhưng mặt trái của nền kinh tế thị trường đã làm cho tình hình tội phạm ngày một gia tăng về số lượng, phức tạp về tính chất và mức độ. Một bộ phận thanh thiếu niên hư hỏng, không lo tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà chạy theo lối sống thực dụng, ích kỷ, có lối hành xử theo kiểu xã hội đen, côn đồ, hung hãn; người phạm tội không chỉ trẻ hóa về độ tuổi, sự tinh vi, xảo quyệt trong hành vi mà còn lập băng nhóm phạm tội có tổ chức như: trộm cắp, cướp giật, giết người, mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép chất ma túy…. và thậm chí có nhiều loại tội phạm trước đây ít hoặc không thực hiện thì nay có xu hướng gia tăng như: nhóm tội xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, xân phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng … Trước diễn biến phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên cả nước nói chung và trên địa bàn thành phố Đà Nẵng nói riêng, vấn đề nâng cao chất lượng xét xử, áp dụng đúng các căn cứ QĐHP nhằm phục vụ cho đấu tranh và phòng chống tội phạm được đặt ra như là một yêu cầu cấp bách và cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Thực tiễn xét xử cho thấy các cấp xét xử vẫn chưa phải tuân thủ và áp dụng đúng các căn cứ QĐHP. TAND hai cấp thành phố Đà Nẵng không phải là ngoại lệ, vẫn còn một số trường hợp Tòa án để xảy ra sai sót, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, người bị hại… Nguyên nhân của những sai sót đó thì nhiều, trong đó phải kể đến một số nguyên nhân chính như: quy định của pháp luật còn hạn
    8. 8. 3 chế, bất cập, việc hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật chưa được kịp thời, kinh nghiệm và năng lực của những người tiến hành tố tụng chưa đáp ứng được yêu cầu … Nhằm góp phần bảo đảm áp dụng hình phạt đúng, tác giả chọn đề tài “Các căn cứ quyết định hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sỹ luật học. Đề tài này nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP theo pháp luật hình sự trong quá trình xét xử trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Từ đó, khắc phục những vướng mắc, thiếu sót trong thực tiễn QĐHP của Tòa án, đưa ra các giải pháp bảo đảm QĐHP đúng đối với người phạm tội là hết sức cần thiết. Ngoài ra, nghiên cứu hoàn thiện quy định về các căn cứ QĐHP cũng là một nhiệm vụ cấp thiết để xây dựng pháp luật hình sự công bằng, nhân đạo, dân chủ và công minh trong Nhà nước pháp quyền XHCN ViệtNam. 2. Tình hình nghiên cứu Các căn cứ QĐHP được quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999 (Điều 50 BLHS năm 2021) là cơ sở pháp lý bắt buộc Tòa án phải áp dụng đúng và đầy đủ khi thực hiện hoạt động QĐHP. Đây là một chế định quan trọng và không thể thiếu nhằm đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động QĐHP của Tòa án. Chính vì vậy, các căn cứ QĐHP không chỉ được đề cập đến trong giáo trình Luật hình sự của các trường đại học như Đại học Luật Hà Nội, khoa Luật thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội… để đào tạo cử nhân luật học, cán bộ tư pháp tương lai, mà còn là mối quan tâm của các cán bộ làm công tác xét xử, là trọng tâm nghiên cứu của các nhà khoa học pháp lý hình sự như: TSKH. PGS. Lê Cảm: Về bản chất pháp lý của quy phạm “Nguyên tắc quyết định hình phạt” tại Điều 37 BLHS Việt Nam – Tạp chí TAND số 1+2/1989; Nhân thân người phạm tội – Tạp chí TAND số 10/2001; TSKH. PGS. Lê Cảm và ThS. Trịnh Tiến Việt: Nhân thân người phạm tội: Một số vấn đề lý luận cơ bản – Tạp chí TAND số 1/2002; ThS. Trịnh Tiến Việt: Về các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự trong BLHS năm 1999 và một số kiến nghị – Tạp chí TAND số 13/2004; ThS. Phạm Thanh Bình: Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt Nam – Tạp chí TAND số 8/1995; ThS. Nguyễn Mai Bộ: Việc áp dụng các tình tiết tăng nặng – Tạp chí TAND số 1/1999; ThS. Đinh Văn Quế: Một số điểm mới của BLHS năm 1999 về hình phạt và quyết định hình phạt – Tạp chí TAND số 3/2000; Đặng Xuân Đào: “Một số nội dung mới của các quy định về các tình tiết giảm nhẹ,
    9. 10. 5 hiện hành về các căn cứ QĐHP. – Nghiên cứu những bất cập của pháp luật hình sự hiện hành, tác giả đưa ra các giải pháp bảo đảm vận dụng các căn cứ QĐHP đúng trong xét xử các vụ án hình sự. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản, quan điểm về QĐHP, căn cứ QĐHP. Quy định của pháp luật về căn cứ QĐHP và thực tiễn áp dụng căn cứ QĐHP trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Bởi vậy, luận văn lấy các quan điểm khoa học của khoa học luật tố tụng hình sự, các quy định của pháp luật tố tụng hình sự năm 2003 của nước ta, thực tiễn xét xử hình sự của TAND hai cấp tại thành phố Đà Nẵng để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài. 4.2. Phạm vi nghiên cứu Để đạt được mục đích đã đề ra, luận văn xác định phạm vi nghiên cứu là những quy định của pháp luật hình sự về các căn cứ QĐHP tại Điều 45 BLHS năm 1999 (Điều 50 BLHS năm 2021). Trong đó, tập trung nghiên cứu về những vấn đề lý luận, quan điểm về QĐHP, căn cứ QĐHP ở Việt Nam. Quy định của pháp luật hình sự hiện hành về căn cứ QĐHP và về thực tiễn áp dụng các căn cứ QĐHP trên địa bàn thành phố Đà Nẵng của Toà án trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xét xử sơ thẩm và phúc thẩm vụ án hình sự từ khi BLHS năm 1999 có hiệu lực (ngày 01/7/2000) đến nay. Về thời gian trong 5 năm (2012- 2021), qua đó chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân và đề xuất ý kiến hoàn thiện các căn cứ QĐHP nhằm tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động QĐHP của Toà án đảm bảo tính đúng đắn, hiệu quả, đáp ứng các yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 5.1. Phương pháp luận + Cơ sở lý luận: Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – LêNin; Tư tưởng Hồ Chí Minh và Nhà nước pháp quyền; Quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phòng, chống tội phạm, xử lý người phạm tội; Chính sách hình sự, chính sách nhân đạo, các nguyên tắc của luật hình sự Việt Nam; các quy định của BLHS năm 1999 về QĐHP và căn cứ quyết định hình phạt và các văn bản hướng dẫn thi hành BLHS năm 1999.
    10. 12. 7 gồm có 03 chương. Chương 1: Những vẫn đề lý luận và pháp luật hình sự Việt Nam về căn cứ quyết định hình phạt Chương 2: Thực tiễn áp dụng các căn cứ quyết định hình phạt trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các căn cứ quyết định hình phạt
    11. 13. 8 CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ CĂN CỨ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT 1.1. Những vấn đề lý luận về căn cứ quyết định hình phạt 1.1.1. Khái niệm và các nguyên tắc của quyết định hình phạt 1.1.1.1. Khái niệm quyết định hình phạt Với vị trí là một chế định quan trọng của Luật hình sự, là một hoạt động cơ bản của HĐXX trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, QĐHP được xác định là một khái niệm pháp lý cụ thể. Tuy nhiên, điểm đáng nói là cả BLHS năm 1999 và BLTTHS năm 2003 cũng như các văn bản hướng dẫn thi hành hai bộ luật trên đều không đề cập đến khái niệm QĐHP. Khái niệm này chỉ tồn tại trong lý luận và được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học. Thực tế này đã phần nào làm cho khái niệm QĐHP chưa đạt được sự thống nhất cao trong khoa học pháp lý hình sự. Nhưng, có thể khẳng định rằng, về cơ bản các cách hiểu đều thể hiện sự đồng nhất về nội dung (bản chất) của khái niệm QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Sự đồng nhất này có thể thấy rõ trong giáo trình Luật hình sự của các trường Đại học và trong một số tài liệu khác. Giáo trình Luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” . Tác giả Lê Văn Đệ cũng đưa ra khái niệm “QĐHP là sự lựa chọn loại hình phạt và xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng đối với người phạm tội cụ thể” .
    12. 15. 10 khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường hợp để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho chính cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định của BLHS. 1.1.1.2. Các nguyên tắc của quyết định hình phạt Để QĐHP đúng pháp luật, công bằng và đạt được mục đích của hình phạt, cần phải tuân thủ các nguyên tắc QĐHP. Các nguyên tắc QĐHP là một trong những vấn đề quan trọng của QĐHP. Việc nhận thức, vận dụng đúng các nguyên tắc QĐHP trong thực tiễn xét xử giúp Tòa án có thể quyết định đúng pháp luật, công bằng, điều này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn. Về lý luận, khi làm sáng tỏ những nguyên tắc QĐHP sẽ góp phần vào việc nhận thức được bản chất, nội dung, nguồn gốc, ý nghĩa của chế định hình phạt, phân biệt chúng với các căn cứ QĐHP, để đưa ra phương án tối ưu để thể hiện chúng trong các quy phạm của luật hình sự. Về thực tiễn, các nguyên tắc này là những tư tưởng chỉ đạo, là kim chỉ nam cho hoạt động xét xử của Tòa án để quyết định loại, mức hình phạt đối với từng bị cáo trong từng vụ án cụ thể, là tiền đề, là điều kiện cho việc cải tạo, giáo dục người bị kết án, góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm đạt hiệu quả. Chế định hình phạt có những nét đặc thù riêng, nên khi áp dụng nó, ngoài nguyên tắc chung của ngành luật, còn phải tuân thủ theo các nguyên tắc đặc thù của nó. Như vậy, giữa nguyên tắc chung của Luật hình sự và nguyên tắc QĐHP là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Các nguyên tắc của Luật hình sự là cái chung còn các nguyên tắc QĐHP là cái riêng. Hai nguyên tắc này tồn tại một cách khách quan nhưng có mối liên hệ hữu cơ, bổ sung cho nhau. Nội dung một số nguyên tắc chung của Luật hình sự cũng thể hiện ở nội dung của một số nguyên tắc QĐHP như: nguyên tắc pháp chế, nguyên tắc nhân đạo. Ngoài ra, chế định QĐHP còn có nguyên tắc đặc thù như: nguyên tắc cá thể hóa hình phạt, nguyên tắc công bằng. Sự khác nhau của các nguyên tắc QĐHP với nguyên tắc chung của Luật hình sự ở mức độ cụ thể hóa cao và tính đặc thù nhất định do các đặc điểm của QĐHP chứ không phải sự đối lập mâu thuẫn về nội dung, nó có tính thống nhất khi áp dụng những nguyên tắc này để đưa ra một phán quyết một cách chính xác, công bằng. Như vậy, có thể hiểu các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng được thể hiện
    13. 16. 11 trong luật hoặc được làm sáng tỏ bắt nguồn từ việc giải thích luật. Đó là những nguyên lý quan trọng nhất chỉ đạo, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng các chế tài luật hình sự đối với người thực hiện tội phạm. Từ những phân tích trên, có thể định nghĩa các nguyên tắc QĐHP như sau: “Các nguyên tắc QĐHP là những tư tưởng xuất phát, tư tưởng chỉ đạo được quy định trong pháp luật hình sự và do giải thích mà có, xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng chế tài luật hình sự đối với người phạm tội” trong quá trình trưởng thành của con người. Điều này hoàn toàn phù hợp với kết luận của Mác về bản chất của con người: “Bản chất con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những mối quan hệ xã hội” . Vì vậy, BLHS quy định các loại hình phạt là để áp dụng đối với người phạm tội nhằm giáo dục, cải tạo họ chứ không phải để áp dụng cho hành vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm. Đồng thời, “Hình phạt cũng như các biện pháp tác động khác chỉ được áp dụng đến mức cần cho sự cải tạo giáo dục chứ không nhằm mục đích khác” . Các tình tiết giảm nhẹ TNHS và tăng nặng TNHS là hai nhóm tình tiết về TNHS của người phạm tội nhưng lại có giá trị pháp lý trái ngược nhau. Qua nghiên cứu các khái niệm căn cứ QĐHP và trên cơ sở quy định của BLHS hiện hành, tác giả cho rằng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS trong lĩnh vực QĐHP có những đặc điểm sau: Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là một căn cứ độc lập của việc QĐHP, được quy định tại Điều 45 BLHS năm 1999. Với tính chất là một căn cứ QĐHP, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS chính là những biểu hiện cụ thể mà việc cân nhắc chúng trong tổng thể các tình tiết của vụ án hình sự sẽ đảm bảo cho HĐXX có những đánh giá chính xác hơn về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và nhân thân người phạm tội. Tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS không được ghi nhận trong cấu thành của tội phạm cụ thể mà được quy định tại Phần chung của BLHS (Điều 46 và Điều 48) nhằm đảm bảo tính thống nhất của pháp chế XHCN và góp phần loại bỏ tình trạng tuỳ tiện trong áp dụng các tình tiết này. Xuất phát từ tên gọi được quy định trong luật, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng được quy định tại Điều 46 và Điều 48 chỉ gắn liền với vấn đề TNHS. Trong mỗi vụ án hình sự, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS (nếu có) không phải là căn cứ để định tội hay để chuyển khung hình phạt mà chỉ được sử dụng để giải quyết vấn đề TNHS của người phạm tội theo hướng giảm nhẹ hoặc tăng nặng hơn trong phạm vi một khung hình phạt. Dưới góc độ này, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS được hiểu là những tình tiết phản ánh mức độ TNHS của người phạm tội giảm xuống hoặc tăng lên trong phạm vi một khung hình phạt của điều luật về tội phạm. Qua đó, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS là cơ sở cho việc xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội của những trường hợp phạm tội khác nhau trong cùng một khung hình phạt của điều luật về tội phạm. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội có tính quyết định đến mức hình phạt mà HĐXX lựa chọn để áp dụng đối với người phạm tội trong giới hạn từ mức tối thiểu đến mức tối đa của khung hình phạt. Vì vậy, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS không chỉ có tác dụng trong việc cá thể hoá TNHS mà còn làm tiền đề cho việc cá thể hoá hình phạt được chính xác. Từ những đặc điểm nêu trên, có thể hiểu: “Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS với tính chất là một căn cứ QĐHP là những tình tiết được quy định trong phần chung của BLHS, có giá trị làm giảm hoặc tăng mức độ TNHS của người phạm tội
    14. 31. 26 trong phạm vi một khung hình phạt để tạo tiền đề cho việc cá thể hoá hình phạt đối với người phạm tội được chính xác”. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS có giá trị làm giảm nhẹ và tăng nặng TNHS của người phạm tội theo những tiêu chí khác nhau. Đó là, dựa vào cơ sở để giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS, các tình tiết giảm nhẹ TNHS và các tình tiết tăng nặng TNHS được phân loại thành các nhóm khác nhau. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại Điều 46 BLHS 1999 được phân loại theo ba tiêu chí sau: Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS có giá trị làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 thuộc nhóm này bao gồm: Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc thiệt hại không lớn; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết; Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của người bị hại hoặc người khác gây ra; Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra; Phạm tội vì bị người khác đe doạ, cưỡng bức; Các tình tiết giảm nhẹ TNHS này có giá trị làm giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội vì chúng làm cho các dấu hiệu thuộc mặt khách quan, mặt chủ quan và chủ thể của tội phạm không đạt được một cách triệt để trong quá trình tội phạm được thực hiện. Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 thuộc nhóm này bao gồm: Người phạm tội đã ngăn chặn làm giảm bớt tác hại của tội phạm; Người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Người phạm tội tự thú; Phạm tội do lạc hậu; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; Người phạm tội đã lập công chuộc tội; Người phạm tội đã có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, công tác. Đây là các tình tiết phản ánh thái độ, các đặc điểm nhân thân tốt của người phạm tội trước và sau khi phạm tội cũng như khả năng đáp ứng tốt yêu cầu của công tác giáo dục, cải tạo. Vì vậy, chúng được xác định là các tình tiết giảm nhẹ TNHS của người phạm tội. Nhóm các tình tiết giảm nhẹ TNHS phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội đáng được khoan hồng. Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS 1999 thuộc nhóm này bao gồm: Người phạm tội là phụ nữ có
    15. 32. 27 thai, người phạm tội là người già; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. Cơ sở để xác định các tình tiết này có giá trị giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội là do những trường hợp này đều là đối tượng của chính sách nhân đạo, chính sách ưu đãi xã hội của Đảng và Nhà nước ta được cụ thể hoá trong luật hình sự Việt Nam. Việc giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội trong các trường hợp này còn nhằm đảm bảo cho hình phạt được tuyên phù hợp với hoàn cảnh thực tế và không gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Tóm lại, các căn cứ QĐHP được quy định tại Điều 45 BLHS 1999 là những đòi hỏi của luật, có tính bắt buộc đối với HĐXX nhằm đảm bảo cho hình phạt được quyết định tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và có giá trị cao trong việc giáo dục, cải tạo người phạm tội. Để lựa chọn mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội trong giới hạn của khung hình phạt đó cần phải tuân thủ đầy đủ các căn cứ QĐHP. Trong đó, việc tuân thủ căn cứ các quy định của BLHS có tính chất quyết định đối với việc vận dụng đúng đắn các căn cứ QĐHP còn lại và đảm bảo tính thống nhất trong áp dụng pháp luật hình sự khi QĐHP. Nói cách khác, nếu không dựa vào các quy định của BLHS thì việc QĐHP sẽ trở nên tuỳ tiện và việc tuân thủ các căn cứ còn lại cũng trở nên vô tác dụng. Chỉ trên cơ sở các quy định của BLHS thì HĐXX mới có thể cân nhắc được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và lựa chọn được đúng loại hình phạt đã được luật hình sự quy định để áp dụng cho bị cáo. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội chính là cơ sở pháp lý chính xác nhất để HĐXX có thể quyết định một mức hình phạt cụ thể đối với người phạm tội. Để có thể đạt được các mục đích của hình phạt thì loại và mức hình phạt cụ thể đó không những phải phù hợp với khả năng giáo dục, cải tạo mà con phải phù hợp với hoàn cảnh của người phạm tội để không gây ra những hậu quả tiêu cực cho xã hội. Như vậy, căn cứ vào các quy định của BLHS là tiền đề cho việc cân nhắc đúng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS. Ngược lại, việc tuân thủ đúng căn cứ thứ hai, căn cứ thứ ba, căn cứ thứ tư chính là cơ sở đảm bảo cho các quy định của BLHS được thực hiện triệt để.
    16. 33. 28 1.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về các căn cứ quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt 1.2.2.1. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về căn cứ quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội QĐHP với người chưa thành niên phạm tội là trường hợp đặc biệt. Tính chất đặc biệt của trường hợp này là ở chỗ hình phạt được quy định nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội có các tình tiết khác tương đương và mức giảm nhẹ phụ thuộc vào mức tuổi của người phạm tội. Sở dĩ người chưa thành niên được hưởng chính sách giảm TNHS của Nhà nước khi có hành vi phạm tội vì họ có những đặc điểm đặc biệt về nhân thân. Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tâm sinh lí, chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện. Nhận thức của họ thường non nớt, thiếu chính chắn và đặc biệt họ dễ bị kích động, lôi kéo bởi những người xung quanh, nếu ở môi trường xấu và không được chăm sóc giáo dục chu đáo, người chưa thành niên dễ bị ảnh hưởng thói hư tật xấu dẫn đến phạm pháp. Bên cạnh đó, so với người đã thành niên ý thức phạm tội của người chưa thành niên nói chung chưa sâu sắc, họ dễ tiếp thu sự giáo dục của xã hội, nhà trường cũng như gia đình để từ bỏ con đường phạm tội. Do vậy, không thể coi người chưa thành niên phải chịu TNHS giống như người đã thành niên. Chính vì thế, hình phạt áp dụng với người chưa thành niên phạm tội phải nhẹ hơn so với người đã thành niên. Khi QĐHP đối với người chưa thành niên phạm tội, trước hết Tòa án phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Việc xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội. Người chưa thành niên có thể được miễn truy cứu TNHS nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây thiệt hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình cơ quan tổ chức nhận giám sát giáo dục. Việc truy cứu TNHS người chưa thành niên phạm tội và áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm của nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm. Nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội thì Tòa án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp là giáo dục tại xã,
    17. 34. 29 phường, thị trấn hoặc đưa vào trường giáo dưỡng. Đối với người chưa thành niên phạm tội thì không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình, không áp dụng các hình phạt bổ sung, không áp dụng hình phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ 14 đến dưới 16 tuổi. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người thành niên đã phạm tội tương ứng. Án đã tuyên đối với người chưa thành niên phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi không được tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm. Theo quy định của BLHS năm 1999, việc QĐHP được tiến hành như sau: + Đối với phạt tiền: BLHS năm 1999 quy định phạt tiền được áp dụng là hình phạt chính đối với người chưa thành niên phạm tội nếu họ ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và họ có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Quy định này nhằm hạn chế việc áp dụng hình phạt tù đối với người chưa thành niên, đồng thời việc áp dụng phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội trong trường hợp này vẫn đảm bảo được mục đích của hình phạt. Mức phạt tiền đối với người chưa thành niên phạm tội không vượt quá 1/2 mức phạt tiền mà điều luật quy định. + Đối với hình phạt cải tạo không giam giữ: BLHS năm 1999 quy định giới hạn hình phạt áp dụng cho người thành niên phạm tội không vượt quá 1/2 thời hạn và điều luật quy định. Đồng thời, do người chưa thành niên hầu như chưa có thu nhập hoặc tài sản riêng nên BLHS 1999 đã không khấu trừ thu nhập của họ khi bị kết án. + Đối với hình phạt tù có thời hạn: BLHS 1999 đã phân hóa người chưa thành niên ra làm hai đối tượng là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi với đường lối xử lý khác nhau. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thì được xử lí nhẹ hơn người từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi. Trong từng đối tượng cụ thể nói trên, nhà làm luật tách thành hai trường hợp (trường hợp quy định hình phạt tù chung thân, tử hình và trường hợp điều luật quy định hình phạt tù có thời hạn) tương ứng với mức hình phạt khác nhau phù hợp với độ tuổi của người thành niên cũng như yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm. Quy định này thể hiện sự tiến bộ về chất của BLHS 1999 khi quy định về QĐHP đối với người chưa thành niên phạm tội. Cụ thể, Điều 74 quy định như sau: “1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù và chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao
    18. 35. 30 nhất được áp dụng không vượt quá 18 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3/4 mức phạt tù có thời hạn. 2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù: nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 1/2 mức phạt tù mà điều luật quyđịnh” Đối với trường hợp người chưa thành niên phạm nhiều tội, có tội thực hiện trước khi đủ 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi đủ 18 tuổi thì việc tổng hợp hình phạt được áp dụng như sau: Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 74 BLHS (Khoản 1 Điều 75); Nếu tội nặng nhất được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đã thành niên phạm tội (Khoản 2 Điều 75) Thực tiễn vận dụng Điều 75 BLHS năm 1999 cho thấy nảy sinh vấn đề cần giải quyết, đó là việc xác định tội nặng nhất. Thực tiễn xét xử đã xác định tội nặng nhất là tội có mức hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất cao hơn. Trong trường hợp có mức hình phạt tối đa bằng nhau thì thì tội nặng hơn là tội có mức hình phạt khởi điểm khung hình phạt cao nhất cao hơn. Tuy nhiên, có những trường hợp không thể xác định được tội nặng nhất nếu hình phạt tối đa của khung hình phạt cao nhất của hai tội ngang bằng nhau và cao nhất cũng ngang bằng nhau. 1.2.2.2. Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về căn cứ quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật hình sự QĐHP là việc Tòa án lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể áp dụng với người phạm tội. Nói chung, về nguyên tắc khi QĐHP, Tòa án chỉ được phép lựa chọn loại và mức hình phạt đã được quy định cụ thể tại khung hình phạt áp dụng đối với người phạm tội. Bởi lẽ, khi xây dựng luật, nhà làm luật đã cân nhắc đến tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của những trường hợp phạm tội khác nhau để phân ra thành những tội phạm khác nhau và các khung hình phạt khác nhau. BLHS nước ta không quy định các khung hình phạt cứng, nghĩa là chỉ có một mức hình phạt cố định để áp dụng cho tội phạm, mà bao giờ trong mỗi khung hình phạt cũng có mức tối thiểu và tối đa. Điều này cho phép Tòa án có thể có điều kiện lựa chọn loại và mức hình phạt phù hợp với từng trường hợp phạm tội cụ thể. Để tăng khả năng lựa chọn của Tòa án khi QĐHP đối với những trường hợp
    19. 36. 31 phạm tội cụ thể khác nhau, nhất là khả năng lựa chọn hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật áp dụng đối với người phạm tội, nhằm đảm bảo sự công bằng của hình phạt, Điều 47 BLHS 1999 đã quy định: “khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn”. Với quy định trên, điều kiện để Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn đã được xác định là ít nhất phải có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS trở lên. Bởi vậy, mặc dù khoản 2 Điều 46 BLHS có quy định khoản 1 Điều 46 BLHS “Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ” song nếu không có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS thì dù Tòa án có viện dẫn nhiều tình tiết giảm nhẹ khác, cũng không thể QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định hoặc chuyển sang loại hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Điều đáng lưu ý là, ý nghĩa của các tình tiết giảm nhẹ là làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt so với các trường hợp phạm tội tương tự nhưng không có tình tiết này; bởi vậy, nếu hành vi phạm tội thực tế mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS nhưng tính chất, mức độ vẫn cần thiết phải áp dụng mới phù hợp thì Tòa án cũng không được QĐHP dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Chỉ có thể QĐHP mà điều luật quy định hoặc chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn nếu không có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS, hành vi phạm tội đã có thể xử ở mức thấp của khung hình phạt mà điều luật quy định, và do có các tình tiết giảm nhẹ nên đã làm giảm đi mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội tới mức mà nếu QĐHP trong phạm vi điều luật quy định thì vẫn nặng, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, do vậy cần phải QĐHP dưới mức thấp nhất mà điều luật quy định hoặc chuyển

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định Hình Phạt Là Gì ? Quy Định Về Việc Quyết Định Hình Phạt
  • Hai Ý Kiến Về Quyết Định Hình Phạt Trong Bộ Luật Hình Sự
  • Một Số Lưu Ý Khi Quyết Định Áp Dụng Hình Phạt Dưới Mức Thấp Nhất Của Khung Hình Phạt
  • Căn Cứ Nào Để Quyết Định Hình Phạt?
  • Quy Trình 5 Bước Trong Quyết Định Mua Hàng Của Phiilip Kotler
  • Quy Định Số 01/qđi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh Ủy Quảng Bình

    --- Bài mới hơn ---

  • Đơn Giá Khảo Sát Xây Dựng Hà Nam Năm 2021 Theo Quyết Định 1219/qđ
  • Đơn Giá Đường Dây Và Trạm Biến Áp Bắc Giang Năm 2021
  • Đơn Giá Khảo Sát Tỉnh Cao Bằng Năm 2021 Theo Quyết Định 2065/qđ
  • Đơn Giá Xây Dựng Công Trình Bắc Kạn Năm 2021 Theo Quyết Định 2200
  • Mẫu Quyết Định Giải Thể Chi Đoàn
  • Uy Định Số 01/qĐi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình ( ), Quy Định Số 01-qĐ/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Quy Định Số 01/qĐi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Quy Định 01 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Luận Văn Thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình, Tình Hình Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Quảng Bình Năm 2021, Quyết Định Số 08-qĐ/tu Ngày 11/10 /2018 Của Tỉnh ủy Đồng Nai, Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Bình Dương Năm 2021, Quyết Định Về Việc Thành Lập Khu Kinh Tế Ven Biển Quảng Yên, Tỉnh Quảng Ninh, Thông Báo Vv Đề Xuất Nhiệm Vụ Kh&cn Tỉnh Quảng Nam Năm 2021, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Quyết Định 458/qĐ-ubnd Ngày 15 Tháng 2 Năm 2021 Của Ubnd Tỉnh Bình Định, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2021, Thông Báo Đề Xuất Nhiệm Vụ Khcn 2021 Tỉnh Quảng Ninh, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, “ubnd Tỉnh Bình Dương” 2021, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Quyết Định Số 1744/qĐ-ubnd Ngày 18/7/2017 Của Ubnd Tỉnh Bình Phước Về Việc Ban Hành Kế Hoạch Thời Gi, Nghị Định Số 31/2018/nĐ-cp Ngày 08 Tháng 3 Năm 2021, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-ubnd Ngay 06/10/2018, Ke Hoach 158 Ngay 16/12/2019 Cua Uy Ban Nhan Dan Tinh Quang Ngai, Kế Hoạch 3778 Ngày 17/10/2011 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Kế Hoạch 3778 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam Ngày 17/10/2012, Nghị Định Số 27/2018/nĐ-cp Ngày 01/3/2018, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-bn Ngay 06/10/2018, Nghị Định 59/2018/nĐ-cp Ngày 18/11/2018, Nghị Định 01/2018 Ngày 6/8/2018, Nghị Định 01/2018/nĐ-cp Ngày 6/8/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của , Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của, Quy Định Số 04 Của Tỉnh ủy Quảng Ninh, Văn Bản Số 8130/ubnd-vp Ngày 17 Tháng 8 Năm 2021 Của ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Bà Rịa , Quyết Định 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Sáp Nhập Xã Tỉnh Quảng Trị, Quyết Định 861 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Số 14 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Trị, Quy Định Số 126 QĐ Tw Ngày 2 6 1997 Ngày 28- 2- 2021, Quyết Định 12 Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Số 20 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định 12/2015 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Số 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định 50a/2017 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi0/qĐ-ttg, Quyết Định Số 3000 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ninh, Quyết Định Khen Thưởng Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định 4416/qĐ-ubnd Tỉnh Quảng Ninh, Quyết Định Số 539 Ubnd Tỉnh Quảng Ninh 2021, Quy Định Số 126-qĐ/tw, Ngày. 28/02/ 2021 Của Ban Chấp Hành Trung ương Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo, Quy Định Số 126-qĐ/tw, Ngày. 28/02/ 2021 Của Ban Chấp Hành Trung ương Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo , Quyết Định Khen Thưởng Của Ubnd Tỉnh Quảng Ninh, Quyết Định Số 12/2012/qĐ-ubnd Tỉnh Quảng Ngãi 27/02/2013, Quy Định 126/qĐ-tw Ngày 28/02/2018 Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ An Ninh Trong Nội Bộ Đảng, Chỉ Thị 08 Của Ubnd Tỉnh Bình Định, Văn Bản Ubnd Tỉnh Bình Định, Đề Thi 9 Lên 10 Môn Toán Tỉnh Bình Định, Văn Bản Chỉ Đạo Ubnd Tỉnh Bình Định, Quy Đinh Sô 126 Tvv Ngay 28/2/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018 , Quy Dinh 842 Ngay 6/8/2018, Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018, Qui Định 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tu, Ngày 28/02.2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28-12-2018, Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 8/2/2018, Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018, Quy Định Số 932-qĐ/qu, Ngày 03/9/2018, Quy Định 842-qĐ Qu Ngày 6 8 2021, Quy Định 126 QĐ Tw Ngày 28 2 2/2/2018, Quy Định 126 Ngày 28/2/2018, Quy Định 126/tw Ngày 28/2/2018, Quy Định 932-qĐ/qu Ngày 3/9/2018, Quy Định Số 02- QĐi/tư Ngày 10/8/2018, Quy Định 126 Của Tw Ngày 28/2/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018, Quy Định Số 08-qĐ/tu Ngày 11/10/2018, Quy Định Số 92-qĐ/tw, Ngày 15/5/2018, Quy Định 842-qĐ/Đu, Ngày 06/8/2018, Quy Dinh So 126 Ngày 28/2/2018, Quyet Dinh 691 Của Tinh Binh Duong, Mau Don Xin O Lai Trai Cai Nghien Tinh Binh Dinh, Đề Thi Tuyển Sinh Lớp 10 Tỉnh Bình Định, Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 28 Tháng 2 Năm 2021, Quy Định 126 Ngày 28 Tháng 2 Năm 2021, Quy Định Số 126-qqĐ/tw Ngày 28/2/2018 Của Bộ Chính Trị, Quyết Định Số 986/qĐ-ttg Ngày 8/8/2018, Quyết Định Số 08-qĐ/tu Ngày 11/10/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018 Của Bộ Chính Trị , Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018 Của Bộ Chính , Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Quy Định Số 126 Ngày 28 Tháng 2 Năm 2021, Quyết Định Số 275 Ngày 7/3/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28 Tháng 02 Năm 2021, Quy Định Số 126, Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị ,

    Uy Định Số 01/qĐi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình ( ), Quy Định Số 01-qĐ/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Quy Định Số 01/qĐi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Quy Định 01 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Luận Văn Thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình, Tình Hình Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Quảng Bình Năm 2021, Quyết Định Số 08-qĐ/tu Ngày 11/10 /2018 Của Tỉnh ủy Đồng Nai, Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Bình Dương Năm 2021, Quyết Định Về Việc Thành Lập Khu Kinh Tế Ven Biển Quảng Yên, Tỉnh Quảng Ninh, Thông Báo Vv Đề Xuất Nhiệm Vụ Kh&cn Tỉnh Quảng Nam Năm 2021, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Quyết Định 458/qĐ-ubnd Ngày 15 Tháng 2 Năm 2021 Của Ubnd Tỉnh Bình Định, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2021, Thông Báo Đề Xuất Nhiệm Vụ Khcn 2021 Tỉnh Quảng Ninh, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, “ubnd Tỉnh Bình Dương” 2021, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Quyết Định Số 1744/qĐ-ubnd Ngày 18/7/2017 Của Ubnd Tỉnh Bình Phước Về Việc Ban Hành Kế Hoạch Thời Gi, Nghị Định Số 31/2018/nĐ-cp Ngày 08 Tháng 3 Năm 2021, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-ubnd Ngay 06/10/2018, Ke Hoach 158 Ngay 16/12/2019 Cua Uy Ban Nhan Dan Tinh Quang Ngai, Kế Hoạch 3778 Ngày 17/10/2011 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Kế Hoạch 3778 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam Ngày 17/10/2012, Nghị Định Số 27/2018/nĐ-cp Ngày 01/3/2018, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-bn Ngay 06/10/2018, Nghị Định 59/2018/nĐ-cp Ngày 18/11/2018, Nghị Định 01/2018 Ngày 6/8/2018, Nghị Định 01/2018/nĐ-cp Ngày 6/8/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của , Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của, Quy Định Số 04 Của Tỉnh ủy Quảng Ninh, Văn Bản Số 8130/ubnd-vp Ngày 17 Tháng 8 Năm 2021 Của ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Bà Rịa , Quyết Định 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Sáp Nhập Xã Tỉnh Quảng Trị, Quyết Định 861 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Số 14 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Trị, Quy Định Số 126 QĐ Tw Ngày 2 6 1997 Ngày 28- 2- 2021, Quyết Định 12 Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Số 20 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định 12/2015 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Số 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định 50a/2017 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi0/qĐ-ttg,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Uy Định Số 01/qđi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh Ủy Quảng Bình ( )
  • Quyết Định 08/2018 Của Ubnd Tỉnh Đồng Nai
  • Nhiều Địa Phương Chưa Chấp Hành Quy Định Của Ubnd Tỉnh Trong Đấu Giá Đất
  • Quy Định Về Quản Lý Cán Bộ, Công Chức, Người Lao Động Của Tỉnh Quảng Nam
  • Cổng Điện Tử Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Quảng Nam
  • Uy Định Số 01/qđi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh Ủy Quảng Bình ( )

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Số 01/qđi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh Ủy Quảng Bình
  • Đơn Giá Khảo Sát Xây Dựng Hà Nam Năm 2021 Theo Quyết Định 1219/qđ
  • Đơn Giá Đường Dây Và Trạm Biến Áp Bắc Giang Năm 2021
  • Đơn Giá Khảo Sát Tỉnh Cao Bằng Năm 2021 Theo Quyết Định 2065/qđ
  • Đơn Giá Xây Dựng Công Trình Bắc Kạn Năm 2021 Theo Quyết Định 2200
  • Uy Định Số 01/qĐi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình ( ), Quy Định Số 01-qĐ/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Quy Định Số 01/qĐi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Quy Định 01 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Luận Văn Thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình, Tình Hình Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Quảng Bình Năm 2021, Quyết Định Số 08-qĐ/tu Ngày 11/10 /2018 Của Tỉnh ủy Đồng Nai, Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Bình Dương Năm 2021, Quyết Định Về Việc Thành Lập Khu Kinh Tế Ven Biển Quảng Yên, Tỉnh Quảng Ninh, Thông Báo Vv Đề Xuất Nhiệm Vụ Kh&cn Tỉnh Quảng Nam Năm 2021, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Quyết Định 458/qĐ-ubnd Ngày 15 Tháng 2 Năm 2021 Của Ubnd Tỉnh Bình Định, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2021, Thông Báo Đề Xuất Nhiệm Vụ Khcn 2021 Tỉnh Quảng Ninh, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, “ubnd Tỉnh Bình Dương” 2021, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Quyết Định Số 1744/qĐ-ubnd Ngày 18/7/2017 Của Ubnd Tỉnh Bình Phước Về Việc Ban Hành Kế Hoạch Thời Gi, Nghị Định Số 31/2018/nĐ-cp Ngày 08 Tháng 3 Năm 2021, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-ubnd Ngay 06/10/2018, Ke Hoach 158 Ngay 16/12/2019 Cua Uy Ban Nhan Dan Tinh Quang Ngai, Kế Hoạch 3778 Ngày 17/10/2011 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Kế Hoạch 3778 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam Ngày 17/10/2012, Nghị Định Số 27/2018/nĐ-cp Ngày 01/3/2018, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-bn Ngay 06/10/2018, Nghị Định 59/2018/nĐ-cp Ngày 18/11/2018, Nghị Định 01/2018 Ngày 6/8/2018, Nghị Định 01/2018/nĐ-cp Ngày 6/8/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của , Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của, Quy Định Số 04 Của Tỉnh ủy Quảng Ninh, Văn Bản Số 8130/ubnd-vp Ngày 17 Tháng 8 Năm 2021 Của ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Bà Rịa , Quyết Định 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Sáp Nhập Xã Tỉnh Quảng Trị, Quyết Định 861 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Số 14 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Trị, Quy Định Số 126 QĐ Tw Ngày 2 6 1997 Ngày 28- 2- 2021, Quyết Định 12 Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Số 20 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định 12/2015 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Số 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định 50a/2017 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi0/qĐ-ttg, Quyết Định Số 3000 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ninh, Quyết Định Khen Thưởng Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định 4416/qĐ-ubnd Tỉnh Quảng Ninh, Quyết Định Số 539 Ubnd Tỉnh Quảng Ninh 2021, Quy Định Số 126-qĐ/tw, Ngày. 28/02/ 2021 Của Ban Chấp Hành Trung ương Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo, Quy Định Số 126-qĐ/tw, Ngày. 28/02/ 2021 Của Ban Chấp Hành Trung ương Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo , Quyết Định Khen Thưởng Của Ubnd Tỉnh Quảng Ninh, Quyết Định Số 12/2012/qĐ-ubnd Tỉnh Quảng Ngãi 27/02/2013, Quy Định 126/qĐ-tw Ngày 28/02/2018 Quy Định Một Số Vấn Đề Về Bảo Vệ An Ninh Trong Nội Bộ Đảng, Chỉ Thị 08 Của Ubnd Tỉnh Bình Định, Văn Bản Ubnd Tỉnh Bình Định, Đề Thi 9 Lên 10 Môn Toán Tỉnh Bình Định, Văn Bản Chỉ Đạo Ubnd Tỉnh Bình Định, Quy Đinh Sô 126 Tvv Ngay 28/2/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018 , Quy Dinh 842 Ngay 6/8/2018, Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018, Qui Định 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tu, Ngày 28/02.2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28-12-2018, Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 8/2/2018, Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018, Quy Định Số 932-qĐ/qu, Ngày 03/9/2018, Quy Định 842-qĐ Qu Ngày 6 8 2021, Quy Định 126 QĐ Tw Ngày 28 2 2/2/2018, Quy Định 126 Ngày 28/2/2018, Quy Định 126/tw Ngày 28/2/2018, Quy Định 932-qĐ/qu Ngày 3/9/2018, Quy Định Số 02- QĐi/tư Ngày 10/8/2018, Quy Định 126 Của Tw Ngày 28/2/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018, Quy Định Số 08-qĐ/tu Ngày 11/10/2018, Quy Định Số 92-qĐ/tw, Ngày 15/5/2018, Quy Định 842-qĐ/Đu, Ngày 06/8/2018, Quy Dinh So 126 Ngày 28/2/2018, Quyet Dinh 691 Của Tinh Binh Duong, Mau Don Xin O Lai Trai Cai Nghien Tinh Binh Dinh, Đề Thi Tuyển Sinh Lớp 10 Tỉnh Bình Định, Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 28 Tháng 2 Năm 2021, Quy Định 126 Ngày 28 Tháng 2 Năm 2021, Quy Định Số 126-qqĐ/tw Ngày 28/2/2018 Của Bộ Chính Trị, Quyết Định Số 986/qĐ-ttg Ngày 8/8/2018, Quyết Định Số 08-qĐ/tu Ngày 11/10/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018 Của Bộ Chính Trị , Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/2/2018 Của Bộ Chính , Quy Định 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Quy Định Số 126 Ngày 28 Tháng 2 Năm 2021, Quyết Định Số 275 Ngày 7/3/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28 Tháng 02 Năm 2021, Quy Định Số 126, Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị ,

    Uy Định Số 01/qĐi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình ( ), Quy Định Số 01-qĐ/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Quy Định Số 01/qĐi/tu Ngày 01/6/2018 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Quy Định 01 Của Tỉnh ủy Quảng Bình, Luận Văn Thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình, Tình Hình Xây Dựng Nông Thôn Mới ở Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Quảng Bình Năm 2021, Quyết Định Số 08-qĐ/tu Ngày 11/10 /2018 Của Tỉnh ủy Đồng Nai, Văn Bản Chỉ Đạo Điều Hành Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội Tỉnh Bình Dương Năm 2021, Quyết Định Về Việc Thành Lập Khu Kinh Tế Ven Biển Quảng Yên, Tỉnh Quảng Ninh, Thông Báo Vv Đề Xuất Nhiệm Vụ Kh&cn Tỉnh Quảng Nam Năm 2021, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Quyết Định 458/qĐ-ubnd Ngày 15 Tháng 2 Năm 2021 Của Ubnd Tỉnh Bình Định, Nghị Quyết HĐnd Tỉnh Quảng Ninh Tháng 7 Năm 2021, Thông Báo Đề Xuất Nhiệm Vụ Khcn 2021 Tỉnh Quảng Ninh, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, “ubnd Tỉnh Bình Dương” 2021, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Nghị Định Số 01/2018/nĐ-cp Ngày 06/8/2018 Của Chính Phủ Quy Định Về Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn V, Quyết Định Số 1744/qĐ-ubnd Ngày 18/7/2017 Của Ubnd Tỉnh Bình Phước Về Việc Ban Hành Kế Hoạch Thời Gi, Nghị Định Số 31/2018/nĐ-cp Ngày 08 Tháng 3 Năm 2021, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-ubnd Ngay 06/10/2018, Ke Hoach 158 Ngay 16/12/2019 Cua Uy Ban Nhan Dan Tinh Quang Ngai, Kế Hoạch 3778 Ngày 17/10/2011 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Kế Hoạch 3778 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam Ngày 17/10/2012, Nghị Định Số 27/2018/nĐ-cp Ngày 01/3/2018, Quyet Dinh 02/2018/qĐ-bn Ngay 06/10/2018, Nghị Định 59/2018/nĐ-cp Ngày 18/11/2018, Nghị Định 01/2018 Ngày 6/8/2018, Nghị Định 01/2018/nĐ-cp Ngày 6/8/2018, Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của , Quy Định Số 126-qĐ/tw Ngày 28/02/2018 Của Bộ Chính Trị, Hướng Dẫn Số 19-hd/btctw Ngày 12/9/2019 Của, Quy Định Số 04 Của Tỉnh ủy Quảng Ninh, Văn Bản Số 8130/ubnd-vp Ngày 17 Tháng 8 Năm 2021 Của ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Bà Rịa , Quyết Định 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Sáp Nhập Xã Tỉnh Quảng Trị, Quyết Định 861 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Số 14 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Trị, Quy Định Số 126 QĐ Tw Ngày 2 6 1997 Ngày 28- 2- 2021, Quyết Định 12 Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Số 20 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định 12/2015 Của Ubnd Tỉnh Quảng Nam, Quyết Định 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định Số 12 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi, Quyết Định 50a/2017 Của Ubnd Tỉnh Quảng Ngãi0/qĐ-ttg,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyết Định 08/2018 Của Ubnd Tỉnh Đồng Nai
  • Nhiều Địa Phương Chưa Chấp Hành Quy Định Của Ubnd Tỉnh Trong Đấu Giá Đất
  • Quy Định Về Quản Lý Cán Bộ, Công Chức, Người Lao Động Của Tỉnh Quảng Nam
  • Cổng Điện Tử Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Tỉnh Quảng Nam
  • Quyết Định Số 13/2019 Của Ubnd Tỉnh Đồng Nai
  • Đề Tài: Tính Hợp Pháp Và Tính Hợp Lý Của Quyết Định Hành Chính, Hay

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẩm Quyền Của Hội Đồng Xét Xử Trong Vụ Án Dân Sự Yêu Cầu Hủy Quyết Định Cá Biệt
  • Bàn Về Thẩm Quyền, Trình Tự Giải Quyết Tranh Chấp Dân Sự Có Yêu Cầu Hủy Quyết Định Cá Biệt (Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất)
  • Có Áp Dụng Thời Hiệu Yêu Cầu Hủy Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất Hay Không?
  • Soạn Thảo 1 Quyết Định Cá Biệt
  • Bài Giảng: Kỹ Năng Soạn Thảo Một Số Loại Văn Bản Thông Dụng
  • , DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

    Published on

    Luận văn thạc sĩ ngành luật: Các yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, cho các bạn tham khảo

    1. 1. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT VŨ THỊ THU THUỶ CÁC YÊU CẦU HỢP PHÁP VÀ HỢP LÝ ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2014
    2. 2. ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT VŨ THỊ THU THUỶ CÁC YÊU CẦU HỢP PHÁP VÀ HỢP LÝ ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử và Nhà nƣớc và pháp luật Mã số: 60 38 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Cán bộ hướng dẫn khoa học: GS. TS. PHẠM HỒNG THÁI HÀ NỘI – 2014
    3. 3. LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội. Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN Vũ Thị Thu Thuỷ
    4. 4. LỜI CẢM ƠN Tác giả luận văn xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới chúng tôi Phạm Hồng Thái đã hướng dẫn và có ý kiến chỉ dẫn quý báu trong quá trình tác giả làm luận văn “Các yêu cầu hợp pháp và hợp lý đối với quyết định hành chính” Tác giả cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Chủ nhiệm, các thầy giáo, cô giáo đã tận tình giảng dạy, truyền đạt kiến thức và toàn thể cán bộ, nhân viên của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất cho tác giả trong thời gian học tập và nghiên cứu để hoàn thành chương trình cao học. Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo các cơ quan hữu quan, các đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã động viên, quan tâm và tạo điều kiện cho tác giả hoàn thành chương trình học tập và bản luận văn này. Trân trọng cảm ơn!
    5. 6. 2.1.2. Điều kiện chủ quan……………………………………………………………………………….43 2.2. Một số sai phạm thƣờng gặp trong ban hành và thực hiện quyết định hành chính ở Việt Nam………………………………………………45 2.2.1. Sai phạm về tính hợp pháp của quyết định hành chính………………………45 2.2.2. Sai phạm về tính hợp lý của quyết định hành chính …………………………..55 2.3. Đánh giá nguyên nhân của thực trạng đáp ứng yêu cầu hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính ở Việt Nam……………………………..59 2.3.1. Hệ thống luật, pháp luật hiện hành………………………………………………………59 2.3.2. Những hoạt động chuyên môn trực tiếp ảnh hưởng tới chất lượng của quyết định hành chính……………………………………………………………………62 2.3.3. Công tác tổ chức ban hành quyết định hành chính nhà nước …………….65 2.3.4. Thực hiện cơ chế dân chủ trong xây dựng và áp dụng pháp luật……….68 Chƣơng 3: CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CÁC YÊU CẦU HỢP PHÁP VÀ HỢP LÝ CỦA QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH……….. 72 3.1. Phƣơng hƣớng chung và các quan điểm chủ đạo trong việc bảo đảm yêu cầu tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính ……72 3.2. Các giải pháp cụ thể…………………………………………………………………………..76 3.2.1. Giải pháp về lập pháp……………………………………………………………………………..76 3.2.2. Giải pháp về thực hiện pháp luật……………………………………………………………79 KẾT LUẬN………………………………………………………………………………………. 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………………….. 84
    6. 7. DANH MỤC BẢNG Bảng 1.1. Văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà có thẩm quyền chung ……………………………………………………………… 16 Bảng 1.2. Văn bản quy phạm pháp luật liên tịch của cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội khác ……………. 16
    7. 8. DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT HĐND Hội đồng nhân dân PLXLVPHC Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính QPPL Quy phạm pháp luật UBND Uỷ ban nhân dân VBQPPL Văn bản quy phạm pháp luật
    8. 9. 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Quyền công dân là quyền cơ bản của con người mà Hiến pháp của nhiều nước hiện nay trên thế giới đều công nhận. Đó cũng là một trong những nét đặc trưng của nền công lý hiện đại mà thế giới loài người văn minh ngày nay đã đấu tranh giành được. Tuy nhiên trong cuộc sống, đấu tranh xảy ra hàng ngày, quyền công dân được pháp luật bảo vệ chưa được thực thi một cách hữu hiệu, đầy đủ và kịp thời. Ở nhiều nước, nơi nào tình trạng độc đoán, chuyên quyền còn ngự trị thì quyền công dân được pháp luật bảo vệ chỉ tồn tại một cách hình thức trong các văn bản pháp luật mà thôi Nhà nước Việt Nam với mô hình nhà nước pháp quyền- Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Quyền công dân được đề cao, được ghi nhận cụ thể trong các bản Hiến pháp. Và để bảo đảm cho quyền công dân được bảo vệ mọi lúc mọi nơi đúng theo Hiến pháp quy định, Nhà nước ta đã tổ chức ra hệ thống công lý- Tòa án với chức năng của mình nhằm thực thi công lý cho toàn xã hội. Trong xu hướng phát triển của xã hội, các quan hệ xã hội ngày càng có xu hướng bị xâm hại không chỉ giữa cá nhân với cá nhân, mà còn giữa cơ quan công quyền với cá nhân. Trong hoạt động quản lý của mình các cơ quan công quyền với những Quyết định hành chính có tính chất ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội trong xã hội. Trong đó với những quyết định hành chính của cơ quan hành chính nhà nước có vai trò rất quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước, là hoạt động có tính chất ảnh hưởng đến quan hệ xã hội công dân nhiều nhất. Với việc ra đời Tòa Hành Chính và đặc biệt là của Luật tố tụng hành chính Việt Nam 2010, có hiệu lực ngày 01/07/2011, đã đưa ra được cách nhìn nhận và đánh giá toàn diện, sâu sắc và cụ thể hơn đối với quyết định hành chính. Trong đó, chất lượng của một quyết định hành chính cần được xem xét
    9. 10. 2 ở hai khía cạnh: tính hợp pháp và tính hợp lý. Cùng với những thay đổi của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá cũng như sự thay đổi trong quy định về luật, chúng ta cần nhìn nhận một cách chính xác hơn các yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính. 2. Tình hình nghiên cứu của đề tài Trên thực tế vẫn còn tồn tại những văn bản pháp luật: ban hành trái thẩm quyền, nội dung trái pháp luật, các quy trình không phù hợp, lạc hậu với thực tiễn của đời sống xã hội… Bên cạnh đó, công tác kiểm tra phát hiện, xử lý các văn bản pháp luật ban hành không phù hợp với các yêu cầu hợp pháp và hợp lý không đáp ứng được yêu cầu của thực tế, nhiều văn bản đã gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống xã hội. Trong số văn bản pháp luật sai trái đó thì đa số là các quyết định hành chính nhà nước do các cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Trong tình hình đó, đã có một số các công trình nghiên cứu về vấn đề này: – Phạm Hồng Thái (Chủ biên)(2001), Sách “Quyết định hành chính, hành vi hành chính – Đối tượng xét xử hành chính của toà án”, Nxb. Tổng hợp Đồng Nai, Đồng Nai – Bùi Thị Đào, Luận án tiến sĩ luật học (2008) “Tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính”; – Lê Ngọc Anh, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội (2011), Vai trò của quyết định hành chính trong quản lý hành chính nhà nước – Nguyễn Văn Quang, Tạp chí Luật học, số 4/2004 “Về xác định các căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính trong xét xử các vụ án hành chính”; – Nguyễn Hoàng Anh, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 7/2005 “Những căn cứ đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính trong xét xử hành chính ở Cộng hòa Pháp và Vương quốc Bỉ”
    10. 11. 3 Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đã phân tích được thấu đáo những vấn đề chung nhất về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, tuy nhiên, với những biến đổi không ngừng của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá, cũng như những thay đổi về mặt lập pháp, đặc biệt với sự ra đời của Luật Tố tụng hành chính 2010, Luật khiếu nại năm 2011, Luật tố cáo năm 2011, Luận văn là công trình đi sâu vào phân tích một cách toàn diện, đầy đủ và có hệ thống vấn đề yêu cầu của quyết định hành chính chưa được đề cập đến trong những công trình nêu trên, từ đó tìm ra những ưu nhược điểm, nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật về các yêu cầu của quyết định hành chính nói riêng cũng như một số khía cạnh về nền hành chính nói chung. 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn – Làm rõ các yêu cầu, đặc điểm, tính chất và vai trò của tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính – Làm rõ mối quan hệ giữa tính hợp pháp và tính hợp lý – Đánh giá được hiện trạng đáp ứng các yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính trên thực tế – Đánh giá những điều kiện để thực hiện các yêu cầu đó – Đánh giá được những nguyên nhân và khó khăn trong việc thực hiện các yêu cầu đã nêu – Đề xuất các giải pháp nhằm đáp ứng và thực hiện tốt các yêu cầu về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính 4. Giới hạn nghiên cứu của Luận văn Quyết định hành chính là loại quyết định pháp luật được sử dụng phổ biến trong hoạt động của bộ máy nhà nước với nội dung, hình thức, tính chất khác nhau, nhưng để nội dung nghiên cứu vừa tập trung, vừa bao quát được những đặc trưng cơ bản của quyết định hành chính, đồng thời có giá trị thiết thực đối với
    11. 14. 6 quyền lực, là văn bản, là kết quả và hình thức thể hiện của hoạt động Nhà nước. Trong sách báo pháp lý nước ta thường đồng nhất khái niệm văn bản và quyết định pháp luật với văn bản. Cách hiểu này chưa thật sự đúng bởi vì thực chất văn bản chỉ là một hình thức thể hiện, hình thức bên ngoài của quyết định pháp luật, ngoài ra nó còn có cả ký hiệu, tín hiệu, hoặc hình thức nói. Văn bản thể hiện tính ưu việt hơn hẳn so với các hình thức khác bởi nó phản ánh tính khuôn mẫu, có căn cứ chắc chắn tạo nên sự ổn định của hoạt động quản lý hành chính. Có thể do tính ưu việt đó nên nhiều người đã mắc sai lầm khi đồng ý với khẳng định trên. Mục đích của những văn bản này chính là nhằm truyền tải những nội dung về chủ trương, chính sách lớn, xây dựng quy tắc ứng xử hoặc áp dụng pháp luật cho một công việc cụ thể. Trong khoa học luật hành chính, các quyết định hành chính nhà nước là sản phẩm của hoạt động quản lý hành chính nhà nước như đã nêu trên được gọi chung là quyết định hành chính. Từ điển giải thích thuật ngữ luật học đã định nghĩa quyết định hành chính là “kết quả sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những người có chức vụ, các tổ chức và cá nhân được Nhà nước trao quyền, thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành hành chính trong lĩnh vực hoặc vấn đề được phân công phụ trách” . Chủ thể này trước hết và chủ yếu các các cơ quan và những người có thẩm quyền trong hệ thống cơ
    12. 17. 9 Quyền lực nhà nước được thể hiện qua thông qua hoạt động của bộ máy nhà nước trên lĩnh vực lập pháp, hành pháp, tư pháp. Một trong những biểu hiện quyền lực nhà nước là ra quyết định pháp luật. Quyết định pháp luật bao gồm những quyết định của cơ quan lập pháp, tư pháp, hành pháp. Quyết định là một hoạt động hay dãy hoạt động có ý chí được lựa chọn một số khả năng có thể lựa chọn. Những người tham gia quá trình ra quyết định lựa chọn một trong số các lựa chọn đó. Ra quyết định có thể hiểu như là sự thực hiện lựa chọn một quan điểm hay một hoạt động trong số những điểm có thể lựa chọn. Theo khoản 1, điều 8 Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ …”. Nhà nước muốn quản lý xã hội chung nhất là trong lĩnh vực công thì không thể không thể hiện ý thông qua quyết định pháp luật mà trong đó có quyết định hành chính. Để thực hiện quyền lực nhà nước thì vai trò của hệ thống cơ quan nhà nước có chức năng quản lý là rất quan trọng, thông qua cơ quan hành chính cao nhất của Nhà nước đó là cơ quan hành pháp, với quyền hành pháp Nhà nước hướng đến việc thực hiện pháp luật nhằm cụ thể hóa những quy định của pháp luật vào đời sống của người dân. Chính vì vậy hoạt động của cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này chủ yếu và quan trọng đó là ra quyết định hành chính để để ra những chủ trương, chính sách lớn, xây dựng các quy tắc xử sự hoặc áp dụng pháp luật cho một công việc cụ thể nhằm mục tiêu thực hiện chức năng của nhà nước thông qua quyền hành pháp. Mục tiêu và hoạt động của tổ chức nói chung và cơ quan hành chính nói riêng là nền tảng và định hướng cho các nhà hành chính ra quyết định. Quyết định hành chính là mệnh lệnh điều hành của các chủ thể quản lý hành chính nhà nước, được thể hiện bằng một hình thức nhất định và thông qua theo một thể thức xác định
    13. 18. 10 nhằm mục đích thực hiện các công việc của Nhà nước. Khái niệm về quyết định hành chính dưới góc nhìn của Luật khiếu nại: Theo qui định tại khoản 8, Điều 2 của Luật Khiếu nại năm 2011 thì quyết định hành chính là “văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”. Như vậy, một quyết định hành chính có thể bị khiếu nại khi có đủ 3 yếu tố sau đây: + Là quyết định được thể hiện dưới hình thức văn bản hành chính; + Là quyết định của cơ quan hành chính nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước, đó là: quyết định của cơ quan quản lý như của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ, các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân hoặc các chức danh thuộc hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước như Bộ trưởng, giám đốc sở, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp… + Là quyết định được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể chẳng hạn, cơ quan hải quan quyết định xử phạt một người nào đó đã có hành vi vi phạm các qui định khi xuất nhập khẩu hàng hoá; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quyết định phá dỡ hàng quán lấn chiếm vỉa hè của một số hộ gia đình làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn giao thông… Như vậy, các qui định được áp dụng nhiều lần mà đối tượng không được xác định (các văn bản pháp quy), các quyết định của cơ quan không phải là cơ quan hành chính nhà nước (Toà án, Viện Kiểm sát…) thì không phải là quyết định hành chính theo quy định của Luật Khiếu nại 2011. Điều cần lưu ý là trên thực tế cơ quan hành chính nhà nước có những văn bản mặc dù không có hình thức đúng như quy định đối với một quyết định hành chính (chẳng hạn dưới hình thức một thông báo, một biên bản cuộc họp), nhưng
    14. 22. 14 thể ban hành. Trên thực tế, hầu hết các quyết định chỉ đạo được ban hành dưới hình thức văn bản Nghị quyết. Nội dung của quyết định chỉ đạo địa phương (Nghị quyết của HÐND) thường đề cập đến các vấn đề về phát triển kinh tế-xã hội, về quyết định ngân sách địa phương, về bầu cử Ủy ban nhân dân, thường trực hội đồng nhân dân. Ðây là quyết định tạo cơ sở cho các quyết định khác như quyết định quy phạm, quyết định cá biệt. Loại quyết định này rất quan trọng nên khi ban hành các chủ thể phải cân nhắc kỹ lưỡng, căn cứ vào nội dung, mục đích, đối tượng quản lý để ra quyết định đúng đắn tránh tình trạng quyết định đưa ra không chuẩn xác gây ảnh hưởng không tốt đến các quyết định khác. Trên thực tế, một số đáng kể quyết định chỉ đạo nặng về hình thức gắn liền với những thuật ngữ: “tăng cường”, “quyết tâm”, đẩy mạnh”, “kiên quyết”…Tất nhiên các thuật ngữ này là cần thiết nếu được sử dụng đúng chỗ, loại trừ hô hào chung chung, “vô thưởng vô phạt”. – Quyết định quy phạm Quyết định qui phạm được thể hiện dưới hình thức văn bản qui phạm pháp luật hành chính. Cụ thể hơn, văn bản quy phạm pháp luật là văn bản đặt ra các quy tắc xử sự chung đó do cơ quan hành chính nhà nước hoặc cán bộ nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự thủ tục nhất định nhằm thi hành Hiến pháp, luật với mục đích điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước. Đây là hình thức quyết định hành chính rất thiết yếu để thực hiện quản lý hành chính nhà nước bởi chúng thể hiện rõ tính quyền lực nhà nước, tính khái quát và bắt buộc chung. Quy phạm pháp luật hành chính có thể thể hiện dưới dạng quy phạm tiên phát (điều chỉnh các quan hệ xã hội mới mà các văn bản pháp luật hiện hành chưa điều chỉnh cụ thể, chi tiết áp dụng cho các quy phạm hiện hành; đình chỉ,sửa đổi, bãi bỏ, hoặc thay đổi phạm vi hiệu lực đối với quy phạm pháp luật hiện hành)
    15. 23. 15 – Quyết định cá biệt Là loại quyết định được ban hành trên cơ sở các quyết định chủ đạo, quyết định quy phạm với mục đích giải quyết các công việc cụ thể được áp dụng một lần. Quyết định cá biệt trực tiếp làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quan hệ pháp luật cụ thể.Tính đặc trưng của quyết định cá biệt thể hiện: Chỉ áp dụng một lần. Giá trị pháp lý của quyết định cá biệt sẽ kết thúc khi quyết định được thực hiện. Có đối tượng áp dụng cụ thể. Chỉ có đối tượng được nêu đích danh phải tuân thủ quyết định hành chính cá biệt tương ứng. Phải căn cứ trên ít nhất một quyết định qui phạm để ban hành. Các chế tài trong qui phạm tương ứng phải được áp dụng đúng, chính xác… * Căn cứ vào chủ thể ban hành, quyết định hành chính có thể được rất nhiều chủ thể ban hành nếu thỏa mãn các điều kiện Được pháp luật quy định thẩm quyền quản lý. Được pháp luật cho phép ban hành quyết định hành chính (có thể ở dạng văn bản hoặc mệnh lệnh hành chính…) Quyết định hành chính ban hành phải là quyết định dưới luật, nhằm thi hành luật. Với cách tiếp cận như vậy, số chủ thể này rất dồi dào, nên tạm chia thành 2 nhóm: Nhóm 01: Cơ quan, cán bộ hành chính nhà nước. Nhóm 02: Các chủ thể khác có thẩm quyền hành chính nhà nước.
    16. 25. 17 Ví dụ: Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc quản lý tổ chức chặt chẽ các khu dân cư biên giới. Chỉ những tỉnh có địa bàn vùng biên giới mới trực tiếp chịu sự điều chỉnh của quyết định hành chính nêu trên. Những quyết định hành chính nhà nước do các cơ quan địa phương ban hành có hiệu lực pháp lý trong phạm vi địa phương đó. Pháp luật không quy định hình thức văn bản quy phạm pháp luật “phối hợp” giữa các địa bàn địa phương. 1. 2. Yêu cầu về tính hợp pháp và hợp lý của quyết định hành chính 1.2.1. Khái quát về tính hợp lý và hợp pháp của quyết định hành chính Cùng với sự phát triển của xã hội và văn hoá pháp lý, thuật ngữ “sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật” ngày càng được sử dụng rộng rãi, ngay cả những người dân bình thường nhất cũng có thể tiếp cận với thuật ngữ này. Và khi công dân có thể sử dụng quyền khiếu nại tố cáo của mình về những quyết định hành chính của cơ quan nhà nước, vấn đề thế nào là tính “hợp pháp” và tính “hợp lý” của quyết định hành chính cần được làm sáng tỏ. Hợp pháp – hiểu một cách chung nhất là việc mọi người phải sống và hành động theo đúng quy định của pháp luật. Người chấp pháp chỉ cần biết đến pháp luật, làm theo pháp luật, trong mọi trường hợp và hoàn cảnh đều không bị bất cứ yếu tố, thế lực nào chi phối. Nói như Lão Tử: “Pháp luật không hùa theo người sang… Khi đã thi hành pháp luật thì kẻ khôn cũng không thể từ, kẻ dũng cũng không dám tranh. Trừng trị cái sai không tránh kẻ đại thần, thưởng cái đúng không bỏ sót kẻ thất phu” đã được cụ thể hoá thành những yêu cầu riêng biệt đặt ra đối với quyết định hành chính trên các khía cạnh: thẩm quyền, thủ tục, hình thức, và nội dung ban hành quyết định hành chính. Trong thực tiễn, việc xem xét đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính lại hoàn toàn không là công việc đơn giản. Điều này xuất phát từ những lý do sau đây: Thứ nhất, khi ban hành các quyết định hành chính để giải quyết các công việc cụ thể trong quản lý hành chính nhà nước, chủ thể có thẩm quyền phải căn cứ vào nhiều văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý khác nhau để áp dụng pháp luật. Nếu các văn bản quy phạm pháp luật này thống nhất, đồng bộ về nội dung thì việc đánh giá sự phù hợp của nội dung quyết định hành chính so với quy định của pháp luật tương đối thuận lợi, dễ dàng. Tuy nhiên, sẽ là khó khăn nếu như các văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở cho việc ban ban hành quyết định hành chính có sự chồng chéo, mâu thuẫn với nhau về mặt nội dung. Thực tế cho thấy, do hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương ở nước ta hiện nay khá phức tạp nên sự chồng chéo, mâu thuẫn về nội dung giữa chúng là điều khó tránh khỏi. Vì vậy, để đánh giá sự phù hợp với pháp luật về mặt nội dung, trình tự, thủ tục và hình thức ban hành của quyết định hành chính cần phải đưa ra những nguyên tắc xác định các văn bản quy phạm pháp luật làm chuẩn
    17. 33. 25 sở hữu công nghiệp. Quyết định xử phạt này đã bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao hủy vì lý do đã vi phạm thời hạn ra quyết định xử phạt. Cụ thể thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính cho đến khi ban hành quyết định xử phạt vượt quá thời hạn quy định tại Đ 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, mà không nêu ra được lý do và thủ tục gia hạn theo pháp luật quy định. (Quyết định giám đốc thẩm số 02/HĐTP-HC ngày 26 tháng 4 năm 2005 về vụ án tranh chấp hành chính “khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vi phạm quyền sở hữu công nghiệp” của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao) – Quyết định hành chính được ban hành theo đúng trình tự về thời gian và không gian được pháp luật quy định; – Quyết định hành chính tuân thủ các thủ tục được pháp luật đặt ra đối với nội dung cụ thể của công việc cần giải quyết: ví dụ: phải thực hiện “gặp gỡ, đối thoại” với người khiếu nại trước khi ra quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu, thủ tục niêm yết công khai danh sách những đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời hạn quy định của pháp luật đất đai Về hình thức ban hành quyết định hành chính, pháp luật yêu cầu: – Quyết định hành chính phải được ban hành theo đúng tên gọi quy định; – Quyết định hành chính phải được trình bày theo đúng yêu cầu về thể thức văn bản bao gồm cả thủ tục ký và đóng dấu xác nhận chữ ký. Việc đánh giá yêu cầu hợp pháp về trình tự, thủ tục và hình thức ban hành quyết định hành chính trong nhiều trường hợp thường xảy ra tranh luận trong quá trình áp dụng pháp luật. Về căn bản, các quyết định hành chính đều phải tuân thủ đầy đủ các yêu cầu về trình tự, thủ tục và hình thức ban hành. [2] Tuy nhiên, trên thực tế, trong trường hợp quyết đinh hành chính ban hành chỉ vi phạm những yêu cầu về hình thức và không hề ảnh hưởng đến nội dung áp dụng pháp luật của quyết định hành chính, thì việc đánh giá tính hợp
    18. 34. 26 pháp của những quyết định hành chính này cần phải thận trọng. Nhiều ý kiến cho rằng trong trường hợp như vậy quyết định hành chính vẫn có giá trị pháp lý thi hành trên thực tiễn mà không cần thiết phải yêu cầu chủ thể phải ban hành các quyết định hành chính mới thay thế cho phù hợp với yêu cầu của pháp luật. 1.2.3. Tính hợp lý của quyết định hành chính Tính hợp lý của quyết định hành chính được thể hiện ở những điểm sau: * Quyết định hành chính đảm bảo được lợi ích của Nhà nước và nguyện vọng của nhân dân, là phương tiện để phản ánh ý chí, nguyện vọng của đối tượng quản lý tiêu biểu là nhân dân lao động, nhằm bảo đảm kết hợp hài hòa lợi ích của các giai tầng trong xã hội. Quyết định phải phù hợp với lợi ích của nhà nước và của công dân. Đây là yêu cầu pháp chế đặc biệt. Bởi vì có thể có nhiều quyết định hành chính mẫu thuẫn với lợi ích của nhà nước và công dân, nhưng không phải là trái, vi phạm một quy định cụ thể trong văn bản của cấp trên vì pháp luật không thể “nhìn thấy trước”, điều chỉnh đầy đủ mọi quan hệ xã hội đang tồn tại hoặc sẽ phát sinh, nên vẫn còn “khoảng trống” chưa quy định. Trong trường hợp đó phải lấy lợi ích của nhà nước và của công dân nói chung là tiêu chí đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, dù quyết định đó không sai thẩm quyền. Ví dụ như trong cơ thể thoáng về quản lý sản xuất kinh doanh hiện nay, nhiều cơ sở được phép sản xuất và bán cho người tiêu dùng nhiều mặt hàng chưa có quy định cụ thể về tiêu chuẩn chất lượng như các loại nước giải khát. Nếu biết nước giải khát có những chất về lâu dài có thể gây hại cho sức khỏe của con người mà vì vụ lợi vẫn quyết định bán ra ngoài thị trường thì đó là quyết định không hợp pháp. * Quyết định hành chính phải xuất phát từ yêu cầu khách quan của tình hình thực tế
    19. 36. 28 xuất hiện trong tương lai, tránh sự lúng túng, chậm chạp, trong việc xử lý, thi hành các quyết định hành chính. * Quyết định hành chính phải có tính khả thi, sự khả thi được đánh giá ở sự phù hợp với nội dung của văn bản với các điều kiện kinh tế- xã hội. Như vậy sẽ góp phần thúc đẩy, tạo điều kiện cho kinh tế phát triển. 1.2.4. Vai trò của tính hợp pháp và hợp lý trong việc đánh giá chất lượng của quyết định hành chính Chất lượng của một quyết định hành chính được xem xét qua tính hợp pháp và tính hợp lý. Đó là hai tiêu chuẩn đánh giá quyết định hành chính ở hai góc độ khác nhau, tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ mật thiết, thống nhất và bổ trợ cho nhau Tính hợp pháp là biểu hiện của nguyên tắc pháp chế – một nguyên tắc hiến định. Trong khi tính hợp lý của quyết định hành chính thể hiện tính khả thi và hiệu quả cao nhất về kinh tế – chính trị, xã hội. Sức sống và khả năng tồn tại của các quyết định hành chính phụ thuộc rất nhiều vào tính hợp lý của nó. Quyết định hành chính khi được ban hành chỉ có thể trở thành bộ phận hữu cơ của cơ chế điều chỉnh pháp luật và có hiệu quả khi nội dung và hình thức của chúng bảo đảm cả tính hợp pháp và tính hợp lý. Mặt khác, để bảo đảm tính hợp pháp và hợp lý của nội dung và hình thức quyết định thì thủ tục xây dựng và ban hành chúng cũng phải theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với lý luận và thực tiễn, nghĩa là thủ tục đó cũng phải bảo đảm tính hợp pháp và tính hợp lý. Trong đó, tính hợp pháp là yêu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế, còn tính hợp lý là yêu cầu của nghệ thuật quản lý. Như vậy, tính hợp pháp của quyết định hành chính là sự phù hợp của quyết định đó với thẩm quyền, nội dung, hình thức, phương pháp quản lý của các chủ thể quản lý trong khuôn khổ pháp luật quy định. Tính hợp pháp đối với thủ tục xây dựng và ban hành quyết định hành chính là sự phù hợp
    20. 37. 29 của hoạt động xây dựng và ban hành quyết định đó với các yêu cầu về thủ tục do luật định Còn tính hợp lý của quyết định hành chính là sự thể hiện phương án được lựa chọn để điều chỉnh đối tượng quản lý trong quyết định là phương án tốt nhất. Quyết định đó biểu hiện tính khả thi và hiệu quả cao nhất về kinh tế – chính trị, xã hội; được sự đồng thuận của mọi người. Tính hợp lý đối với thủ tục xây dựng và ban hành quyết định hành chính là sự phù hợp của hoạt động xây dựng và ban hành quyết định với các yêu cầu về tính hợp lý đề ra đối với thủ tục này. Tuy nhiên hiện nay, pháp luật nước ta chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này, nhiều văn bản khác nhau cũng chỉ áp dụng một công thức chung là quan tâm đến việc có “trái với pháp luật”, “trái với văn bản” cấp trên hay không. Ví dụ: trong Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/04/2010 của Chính phủ về Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật chỉ đề cập đến tính hợp pháp của văn bản mà chưa coi trọng đến “tính hợp lý”. Nhà làm luật cũng nhiều khi lãng quên tính hợp lý của văn bản pháp luật, một điều rất cần sớm khắc phục. 1.2.5. Mối quan hệ giữa tính hợp pháp và tính hợp lý trong quyết định hành chính * Sự thống nhất giữa tính hợp pháp và tính hợp lý Sự thống nhất thể hiện ngay trong các biểu hiện cụ thể của tính hợp pháp và tính hợp lý trong các yêu cầu đối với quyết định hành chính, trong việc đảm bảo chất lượng của quyết định hành chính. – Sự thống nhất của tính hợp pháp, hợp lý của văn bản pháp luật trong các biểu hiện cụ thể của tính hợp pháp và hợp lý. Thông thường quyết định hành chính được coi là hợp pháp khi: Quyết định được ban hành đúng thẩm quyền; quyết định có nội dung phù hợp với pháp luật; quyết định được ban hành đúng hình thức, thủ tục pháp luật quy
    21. 38. 30 định; quyết định được ban hành trong thời hạn pháp luật quy định cho từng loại quyết định hay từng công việc quyết định được dung để giải quyết. Nói chung, quyết định hành chính được coi là hợp lý khi nội dung của nó phù hợp với các điều kiện kinh tế – xã hội, từ đó quyết định ra đời và phát huy giá trị; phù hợp với các đối tượng tác động của quyết định; nội dung của quyết định vừa gắn kết, vừa có tính độc lập tương đối so với các văn bản pháp luật khác; nội dung của quyết định được thể hiện bằng ngôn ngữ phù hợp với đặc điểm, tính chất của môi trường giao tiếp (quản lý nhà nước); quyết định được thể hiện dưới hình thức thích hợp; quyết định được ban hành kịp thời. Những biểu hiện của tính hợp pháp và tính hợp lý nói trên của quyết định hành chính chỉ mang tính chất tương đối bởi lẽ mỗi biểu hiện của tính hợp pháp đều có chứa đựng yếu tố hợp lý, vì hợp pháp là phù hợp với pháp luật mà bản thân pháp luật chính là các quy luật khách quan của đời sống xã hội nâng lên thành luật. Ngược lại, các biểu hiện của tính hợp lý đã được phản ánh vào trong các quy định của pháp luật ở những mức độ nhất định cho nên một quyết định hợp pháp thì ít nhiều đã có sự hợp lý. Cũng vì thế, có nhiều biểu hiện của tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính chỉ là hai góc nhìn khác nhau về cùng một vấn đề. Chẳng hạn biểu hiện về hình thức của quyết định, hay thời hạn ban hành của quyết định. – Sự thống nhất của tính hợp pháp, tính hợp lý của quyết định hành chính thể hiện trong những yêu cầu đối với quyết định. Một quyết định hành chính có chất lượng cao phải thỏa mãn những yêu cầu nhất định. Trong mỗi yêu cầu, tính hợp pháp, hợp lý của quyết định đồng thời thể hiện ở những mức độ khác nhau. Yêu cầu về thẩm quyền ban hành quyết định: Mỗi quyết định hành chính phải được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Nhìn một cách đơn giản thì đây là yêu cầu để đảm bảo tính hợp pháp của quyết định hành chính
    22. 40. 32 chuyển tải của từng quyết định. Khi quyết định được ban hành đúng hình thức pháp luật quy định thì thong thường cũng đồng nghĩa với việc nội dung quyết đinh đã được thể hiện bằng hình thức thích hợp. Yêu cầu về nội dung của quyết định: Có thể khẳng định rằng, không có quyết định hành chính nào hoàn toàn biệt lập mà luôn có mối quan hệ chặt chẽ với các văn bản pháp luật khác. Mỗi quyết định cụ thể chứa đựng một tác động quản lý của Nhà nước tới đối tượng chịu sự quản lý và tác động này nằm trong tổng thể các tác động được thực hiện thường xuyên, liên tục. Nếu xét dưới góc độ hợp pháp, một quyết định hành chính phải phù hợp với các văn bản pháp luật khác để đảm bảo tính thống nhất nội tại của hệ thống pháp luật hay đảm bảo sự hợp pháp của hoạt động áp dụng pháp luật. Nếu xét dưới góc độ hợp lý thì một tác động quản lý cụ thể (một quyết định hành chính) phải hài hòa với các tác động khác, là sự tiếp nối của một hoặc nhiều tác động quản lý đã được đưa ra trước đó (các quyết định pháp luật đã có) thì mới đảm bảo tính thống nhất của quản lý và dễ dàng đạt được mục tiêu đã định. Bên cạnh đó, các quyết định pháp luật hiện hành đều đã phải đạt đến độ hợp lý nhất định nên nếu một quyết định được ban hành thì bản thân nó cũng sẽ có phần hợp lý. Điều đó có nghĩa là, nếu một quyết định hành chính hợp pháp thì cũng tiềm tàng chứa đựng khả năng hợp lý, bởi vì cả tính hợp pháp và hợp lý của một quyết định hành chính đều thể hiện trong các mối quan hệ giữa các quyết định đó với các quyết định pháp luật khác. Yêu cầu về khả năng thực hiện hóa quyết định vào đời sống. Việc ban hành quyết định hành chính chỉ có ý nghĩa nếu các quyết định được thực hiện trên thực tế. Quyết định hành chính được thực hiện thông qua các hoạt động cụ thể của đối tượng tác động của quyết định. Cho dù đối tượng tác động quyết định là cá nhân hay tổ chức thì suy cho cùng nội dung của quyết định cũng được thực hiện bởi những con người cụ thể có ý chí và có lý trí. Xét dưới góc độ hợp
    23. 42. 34 dụng đối với các quyết định hành chính khiếm khuyết. Việc áp dụng các chế tài nhằm nâng cao tính hợp lý, loại trừ các biểu hiện bất hợp pháp hay loại bỏ các quyết định hành chính nếu khiếm khuyết nghiêm trọng nhưng không có khả năng khắc phục. – Sự thống nhất giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính thể hiện ở tính chất đại diện cho xã hội của Nhà nước. Như đã phân tích ở trên, nói đến tính hợp pháp của quyết định hành chính là nói đến sự phù hợp của quyết định với các yêu cầu của Nhà nước (thường được quy định khá rõ trong pháp luật); nói đến tính hợp lý là nói đến sự phù hợp với các yêu cầu của xã hội. Với tính chất là một tổ chức quyền lực đặc biệt đại diện chính thức cho toàn xã hội, cho dù Nhà nước có phần nào thoát li khỏi xã hội thì những lợi ích mà Nhà nước bảo vệ, những mục đích mà Nhà nước hướng tới cũng không thể trái ngược với mục đích phát triển của xã hội nói chung. Chính vì vậy, những yêu cầu mà Nhà nước đặt ra mặc dù không phải lúc nào cũng trùng với những yêu cầu của xã hội nhưng sẽ luôn có sự tương đồng đáng kể. Nhà nước càng dân chủ, tiến bộ bao nhiêu thì mức độ tương đồng giữa yêu cầu của Nhà nước và xã hội càng cao bấy nhiêu. Do đó, khi một quyết định thỏa mãn những yêu cầu của Nhà nước (hợp pháp) thì phần nào cũng thỏa mãn những yêu cầu của xã hội (hợp lý) và ngược lại. * Mối quan hệ giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính thể hiện trong sự độc lập tương đối giữa chúng. – Sự độc lập của tính hợp pháp và tính hợp lý thể hiện trước hết trong những biểu hiện cụ thể của chúng và việc đánh giá tính hợp pháp, hợp lý của quyết định hành chính. Như trên đã nói, những biểu hiện cụ thể của tính hợp pháp và tính hợp lý mặc dù có những điểm tương đồng, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau nhưng đó là những biểu hiện riêng hoặc ít nhất là được xem xét ở những góc độ khác
    24. 43. 35 nhau. Các biểu hiện của tính hợp pháp được pháp luật quy định khá rõ rang, trong khi các biểu hiện của tính hợp lý lại hầu như không được pháp luật quy định. Vì các biểu hiện cụ thể của tính hợp pháp thường được mô tả tương đối rõ rang trong các quy định của pháp luật nên việc đánh giá một quyết định hành chính hợp pháp hay bất hợp pháp không quá khó khăn. Trong khi đó, pháp luật không quy định rõ thế nào là một quyết định hành chính hợp lý hay không thường không dễ dàng và nhiều khi gây tranh luận. Một cách đơn giản, hợp lý là phù hợp với lẽ phải và lẽ phải thường được định tính là phù hợp với quan niệm về cái thiện theo cách nhìn của đạo đức, phù hợp với cách xử sự quen thuộc được nhiều người chấp thuận (phong tục, tập quán), phù hợp với lợi ích chung của cộng đồng. Tuy nhiên đạo đức mang tính giai cấp, phong tục, tập quán có tính vùng, miền và xã hội thì luôn có nhiều nhóm lợi ích khác nhau cùng tồn tại. Bên cạnh đó, chính các biểu hiện của tính hợp lý nhiều khi cũng không hài hòa với nhau. Đồng thời, những chuẩn giá trị nói trên cũng có sự thay đổi khi các điều kiện kinh tế – xã hội là cơ sở phát sinh và tồn tại của chúng thay đổi, những sự thay đổi đó diễn ra từ từ, không có dấu mốc rõ rệt. Trong nhiều trường hợp, các chuẩn giá trị cũ vẫn còn tồn tại, các chuẩn giá trị cũ, mới đan xen với nhau. Vì vậy, các ý kiến đánh giá một quyết định hành chính hợp lý hay không không phải lúc nào cũng thống nhất vì phục thuộc rõ rệt vào quan điểm của người đánh giá. – Sự độc lập của tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính thể hiện trong sự tác động qua lại giữa chúng. Sự tác động qua lại giữa tính hợp pháp và tính hợp lý thể hiện. Một là, tính hợp pháp mang lại giá trị pháp lý cho tính hợp lý của quyết định hành chính. Tính hợp lý được phản ánh một phần qua tính khả thi của quyết định nhưng quyết định sẽ không có giá trị thi hành nếu bất hợp pháp. Trong trường hợp quyết định vừa hợp pháp, vừa hợp lý thì như trên đã nói, hợp lý là một đại lượng
    25. 45. 37 đánh giá chung của xã hội. Tức là về mặt tâm lý thông thường thì hợp lý mang tính vượt trội. Xét về lợi ích trước mắt, việc thi hành quyết định bất hợp lý có thể gây ra hậu quả bất lợi về nhiều mặt. Hậu quả đó có thể trừu tượng, có thể cụ thể, có thể thấy ngay trước mắt, có thể mang tính lâu dài và nói chung là khó tính toán. Chính khả năng gây hậu quả bất lợi đó nên nhiều người cho rằng tính hợp lý mang tính trội, cần hi sinh tính hợp pháp để tuân theo các chuẩn mực xã hội hay đạt được hiệu quả kinh tế cần thiết. Tức là, nếu phải lựa chọn giữa việc ban hành quyết định hợp pháp nhưng bất hợp lý với việc ban hành quyết định hợp lý nhưng bất hợp pháp thì chọn quyết định bất hợp pháp nhưng hợp lý. Xét về lợi ích lâu dài, nếu khẳng định hợp lý mang tính trội thì có thể dẫn đến hai khả năng. Một là, các chủ thể có thẩm quyền có quyền ban hành quyết định hành chính bất hợp pháp nhưng hợp lý. Hai là, các đối tượng tác động của quyết định có quyền không thực hiện quyết định hợp pháp nhưng không hợp lý. Hai khả năng này đều rất nguy hiểm. Thứ nhất, do pháp luật không quy định cụ thể tiêu chuẩn đánh giá tính hợp lý của quyết định nên sự đánh giá phụ thuộc vào kiến thức, lợi ích, tình cảm, trạng thái tâm lý của người đánh giá. Điều đó rất dễ đến tình trạng cùng một vấn đề, một tình huống nhưng có cơ quan cho rằng giải quyết đúng pháp luật thì hợp lý nên tuân theo pháp luật, có cơ quan cho rằng giải quyết đúng pháp luật thì không hợp lý nên sẽ làm trái pháp luật; hay cùng một quyết định nhưng có người cho là hợp lý, có người cho là bất hợp lý, người cho là quyết định hợp lý sẽ tiếp tục thực hiện, người cho là quyết định bất hợp lý sẽ không thực hiện quyết định nữa. Khi đó sẽ không có cơ sở nào để xác định hành vi trái pháp luật hay không thực hiện quyết định hành chính có phải là vi phạm pháp luật hay không, không có cơ sở để áp dụng các biện pháp cưỡng chế, Nhà nước sẽ mất đi khả năng thiết lập,duy trì trật tự xã hội bằng pháp luật. Thứ hai, sự cho phép không thực hiện quyết định bất hợp lý sẽ tạo ra khả năng phán xét quyết định một cách tùy tiện bởi tất cả các đối tượng tác động của nó. Điều
    26. 46. 38 này mâu thuẫn với tính bắt buộc chung của pháp luật và làm suy yếu quyền lực nhà nước. Pháp luật sẽ không còn giữ được vai trò là phương tiện quan trọng mà Nhà nước dung để quản lý xã hội nữa. Thứ ba, sẽ có nhiều đối tượng ngụy biện cho hành vi trái pháp luật bằng cách chứng minh sự bất hợp lý của các quy định mà họ vi phạm. Pháp luật không còn phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng nữa mà bị lợi dụng vào các mục đích riêng của các đối tượng khác nhau. Như vậy, lẽ dĩ nhiên, một quyết định hành chính cần phải vừa hợp pháp, vừa hợp lý nhưng khi không thể thỏa mãn đồng thời cả hai mà phải lựa chọn giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định thì về căn bản vẫn phải ưu tiên tính hợp pháp. Tính hợp lý chỉ có thể là ưu trội trong một vài trường hợp cụ thể rất cá biệt và phải được xem xét cẩn trọng nếu không sẽ tạo ra những tiền lệ không tốt và tâm lý coi thường pháp luật. pháp luật phải được tôn trọng ngay trong cả khi không hợp lý. Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào tự cho mình có quyền phán xét pháp luật để quyết định có tuân theo hay không. Mặc dù xác định hợp pháp mang tính trội có vẻ hơi cứng nhắc nhưng nó có tác dụng hạn chế sự tùy tiện, lạm dụng pháp luật. Trong nhiều trường hợp đây là sự hi sinh lợi ích trước mắt để bảo về lợi ích lâu dài và việc hi sinh lợi ích trước mắt để bảo về lợi ích lâu dài thực chất mới là hợp lý. Tất nhiên sự xung đột giữa tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính chỉ là tạm thời. Để khắc phục tình trạng xung đột giữa tính hợp pháp và tính hợp lý, pháp luật đã định ra cơ chế kiểm tra, giám sát, tiếp nhận thông tin phản hồi nhằm nhanh chóng phát hiện, sớm loại trừ các quyết định bất hợp pháp, bất hợp lý. Tóm lại, một quyết định hành chính hoàn trình là quyết định vừa hợp pháp, vừa hợp lý. Tuy nhiên, tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định có sự độc lập nhất định đối với nhau nên một quyết định hợp pháp không có nghĩa là sẽ hợp lý và quyết định hợp lý không có nghĩa là chắc chắn hợp pháp. Nói một quyết định hành chính hợp pháp hay hợp lý chỉ là nhấn mạnh một khía cạnh, một góc nhìn nhất định đối với quyết định hành

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Tịch Ubnd Huyện Ký Quyết Định Không Thuộc Thẩm Quyền Của Mình Có Xem Là Quyết Định Trái Luật Không?
  • Hd Soan Thao Van Ban 55771267Kythuatsoanthaovanban Doc
  • Van Ban & Kỷ Thuật Soạn Thảo Văn Bản Qlhcnn
  • Bai Giang Kt Soạn Thảo Vb
  • Ôn Tập Môn Khhc Dap An Cau Hoi On Tap Hanh Chinh Thu Gon Doc
  • Quyết Định Ban Hành Quy Chế Làm Việc Của Trường Tiểu Học Trung Lập Thượng

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyết Định Về Việc Ban Hành Quy Chế Làm Việc Của Nhà Trường Năm Học 2021
  • Quyết Định Về Việc Ban Hành Quy Chế Làm Việc Nhà Trường
  • Quyết Định Miễn Nhiệm Kế Toán Trưởng Công Ty Cổ Phần
  • Quyết Định Bổ Nhiệm Kế Toán Trưởng Công Ty Tnhh 2 Thành Viên
  • Quyết Định Bổ Nhiệm Kế Toán Trưởng Công Ty Tnhh
  • PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN CỦ CHI

    TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG LẬP THƯỢNG

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    Số: 329/QĐ-THTLT

    Trung Lập Thượng, ngày 01 tháng 10 năm 2013

    QUYẾT ĐỊNH Ban hành Quy chế làm việc của Trường Tiểu học Trung Lập Thượng

    HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG LẬP THƯỢNG

    Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục ngày 25 tháng 11 năm 2009;

    Căn cứ Luật số 10/2012/QH13 ngày 18 tháng 6 năm 2012 của Quốc hội ban hành Bộ luật Lao động;

    Căn cứ Quyết định số 207/QĐ-UBND ngày 17 tháng 9 năm 1992 của UBND huyện Củ Chi về việc về việc điều chỉnh mạng lưới trường lớp;

    Căn cứ Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Nghị định số 07/2013/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi điểm b khoản 13 Điều 1 của Nghị định số 31/2011/NĐ-CP ngày 11 tháng 5 năm 2011 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;

    Căn cứ Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 5 năm 2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập;

    Căn cứ Thông tư số 41/2000/TT-BGDĐT ngày 30/12/2010 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ trường Tiểu học;

    Căn cứ văn bản số 1196 /GDĐT ngày 20/9/2013 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi về việc hướng dẫn xây dựng Quy chế làm việc, Nội quy cơ quan, Nội quy học sinh;

    Xét đề nghị của tổ trưởng tổ văn phòng Trường Tiểu học Trung Lập Thượng,

    QUYẾT ĐỊNH:

    Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế làm việc của Trường Tiểu học Trung Lập Thượng.

    Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký và thay thế cho Quyết định số 291/QĐ-THTLTngày 10 tháng 10 năm 2012 của Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trung Lập Thượng về việc ban hành Quy chế làm việc của Trường Tiểu học Trung Lập Thượng.

    PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN CỦ CHI

    TRƯỜNG TIỂU HỌC TRUNG LẬP THƯỢNG

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    QUY CHẾ LÀM VIỆC Của Trường Tiểu học Trung Lập Thượng

    (Ban hành kèm theo Quyết định số : 329/QĐ-THTLT ngày 01 tháng 10 năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trung Lập Thượng)

    Chương I QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1. Phạm vi và đối tượng áp dụng

    1. Quy chế này quy định nguyên tắc làm việc, chế độ trách nhiệm, lề lối làm việc, quan hệ công tác và trình tự giải quyết công việc của Trường Tiểu học Trung Lập Thượng.

    Điều 2. Giải thích thuật ngữ

    – Tổ chủ trì là tổ chịu trách nhiệm chính tổ chức thực hiện một nhiệm vụ, công việc cụ thể.

    – Tổ phối hợp là tổ chịu trách nhiệm thực hiện các yêu cầu của tổ chủ trì về việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ, công việc.

    – Lãnh đạo trường trong văn bản này được hiểu là các thành viên trong Ban Giám hiệu, bao gồm Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng.

    Điều 3. Phân loại các Tổ (Khối) trong trường

    Trường Tiểu học Trung Lập Thượng cơ cấu thành 6 tổ chuyên môn và 1 tổ văn phòng.

    – Các tổ chuyên môn bao gồm:

    + Tổ 1 gồm 3 thành viên do bà Nguyễn Kim Phượng làm tổ trưởng;

    + Tổ 2 gồm 4 thành viên do bà Nguyễn Thị Hoa làm tổ trưởng;

    + Tổ 3 gồm 4 thành viên do bà Lê Thị Xuân làm tổ trưởng;

    + Tổ 4 gồm 4 thành viên do bà Nguyễn Thị Nhờ làm tổ trưởng;

    + Tổ 5 gồm 4 thành viên do bà Lương Thị Liêm làm tổ trưởng;

    + Tổ bộ môn gồm 6 thành viên do ông Nguyễn Thanh Quang làm tổ trưởng.

    – Tổ văn phòng gồm 7 thành viên do Bà Lê Thị Thanh Thủy làm tổ trưởng và ông Nguyễn Văn Dân làm tổ phó.

    Điều 4. Nguyên tắc làm việc

    1. Trường Tiểu học Trung Lập Thượng làm việc theo chế độ thủ trưởng. Mọi hoạt động của nhà trường phải tuân thủ các quy định của pháp luật, Quy chế làm việc của nhà trường và các văn bản quản lý. Công chức, viên chức, nhân viên thuộc Trường Tiểu học Trung Lập Thượng phải xử lý và giải quyết công việc đúng trình tự, thủ tục, phạm vi trách nhiệm, thẩm quyền.

    2. Trong phân công công việc, mỗi việc chỉ giao một tổ (khối) hoặc một cá nhân chủ trì giải quyết. Tổ trưởng phải chịu trách nhiệm chính về công việc được giao. Trong trường hợp Hiệu trưởng giao công việc đó cho một người phụ trách thì người được giao công việc phải chịu trách nhiệm với Hiệu trưởng.

    3. Trình tự, thủ tục và thời hạn giải quyết công việc phải bảo đảm tuân thủ theo đúng Quy chế làm việc của trường, trừ những công việc được yêu cầu giải quyết ở mức độ “Khẩn”, “Hỏa tốc”.

    4. Ban Giám hiệu nhà trường, tổ (khối) trưởng phải bảo đảm phát huy năng lực và sở trường của công chức, viên chức, nhân viên hành chính và giáo viên trong trường; đề cao trách nhiệm trong phối hợp công tác, trao đổi thông tin giải quyết công việc và trong mọi hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định.

    5. Bảo đảm dân chủ, rõ ràng, minh bạch và hiệu quả trong mọi hoạt động; thường xuyên đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hoá các thủ tục hành chính, xây dựng môi trường làm việc văn hóa.

    Chương II TRÁCH NHIỆM, PHẠM VI VÀ CÁCH THỨC GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC CỦA BAN GIÁM HIỆU Điều 5. Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Hiệu trưởng

    1. Trách nhiệm của Hiệu trưởng

    Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trung Lập Thượng là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lí các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường. Cụ thể như sau:

    – Chịu trách nhiệm cá nhân trước Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi về toàn bộ công việc thuộc trách nhiệm và thẩm quyền, kể cả khi đã phân công hoặc uỷ nhiệm cho Phó Hiệu trưởng hoặc các tổ trưởng;

    – Chỉ đạo việc hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các tổ chuyên môn và cán bộ, giáo viên trong nhà trường trong việc thực hiện pháp luật, nhiệm vụ đã phân công, phân cấp thuộc lĩnh vực quản lý của nhà trường;

    – Ký các văn bản thuộc thẩm quyền của Hiệu trưởng.

    2. Phạm vi giải quyết công việc của Hiệu trưởng

    – Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;

    – Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;

    – Phân công, quản lí, đánh giá, xếp loại; tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;

    – Quản lí hành chính; quản lí và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;

    – Quản lí học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;

    – Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;

    – Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị – xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;

    – Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng.

    2.2. Những công việc được phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi giao hoặc uỷ quyền.

    2.3. Một số công việc đã giao cho Phó Hiệu trưởng phụ trách, nhưng trong trường hợp thấy cần thiết phải trực tiếp giải quyết do vấn đề cấp bách, quan trọng hoặc thấy cần thiết, hay do Phó Hiệu trưởng đi công tác vắng.

    Hiệu trưởng tham khảo ý kiến với phó hiệu trưởng, đại diện các đoàn thể hoặc các thành viên trong nhà trường (tùy theo tính chất) trước khi ra quyết định đối với các công việc sau: Cơ cấu bộ máy, đề nghị bổ nhiệm, phân công công tác, tuyển dụng, cử đào tạo bồi dưỡng, kế hoạch phát triển, tuyển sinh, thi đua khen thưởng – kỷ luật, dự toán và phân bổ kinh phí, xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng nội quy, quy chế; … Cụ thể như sau:

    – Chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trường;

    – Chương trình công tác, kế hoạch xây dựng văn bản quy định hàng năm và dài hạn; dự thảo các văn bản quy định do trường chủ trì soạn thảo trình cấp có thẩm quyền quyết định;

    – Báo cáo hàng năm tổng kết tình hình thực hiện kế hoạch của trường và kiểm điểm sự chỉ đạo điều hành của Ban Giám hiệu;

    – Kế hoạch tài chính của trường hàng năm;

    – Công tác tổ chức bộ máy và nhân sự của trường theo quy định;

    Hiệu trưởng có quyền quyết định và chịu trách nhiệm với quyết định của mình, sau đó sẽ báo cáo trước tập thể.

    Hiệu trưởng sẽ tự mình quyết định và chịu trách nhiệm với quyết định của mình.

    Điều 6. Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Phó Hiệu trưởng

    1. Trách nhiệm giải quyết công việc của Phó Hiệu trưởng

    Phó Hiệu trưởng là người giúp việc cho Hiệu trưởng và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng; cùng Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi, trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Trung Lập Thượng về phần việc được giao. Cụ thể như sau:

    – Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng phân công chỉ đạo, điều hành một số lĩnh vực công tác, phụ trách một số công việc được giao; được sử dụng quyền hạn của Hiệu trưởng, nhân danh Hiệu trưởng giải quyết các công việc thuộc lĩnh vực được phân công và chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng, trước pháp luật về những quyết định của mình;

    – Phó Hiệu trưởng thay Hiệu trưởng ký các văn bản thuộc lĩnh vực, công tác được phân công chỉ đạo, giải quyết và các văn bản do Hiệu trưởng ủy quyền.

    – Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao với Hiệu trưởng;

    – Được sử dụng các phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ, công tác được giao;

    – Được đề nghị Hiệu trưởng miễn nhiệm tổ trưởng chuyên môn khi nhận thấy tổ trưởng chuyên môn thuộc lĩnh vực mình phụ trách chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao;

    – Phó Hiệu trưởng nghỉ 01 ngày trở lên hoặc vắng mặt khỏi cơ quan không theo lịch công tác tuần phải báo cáo Hiệu trưởng.

    2. Phạm vi giải quyết công việc của Phó Hiệu trưởng

    2.1. Thực hiện giải quyết các công việc do Hiệu trưởng giao hoặc ủy quyền giải quyết. Cụ thể như sau:

    – Chỉ đạo việc thực hiện công tác quản lý, xây dựng kế hoạch, đề án, dự án và các văn bản quản lý khác trong lĩnh vực được Hiệu trưởng phân công;

    – Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, các quyết định của Hiệu trưởng trong phạm vi được phân công, phát hiện và đề xuất những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung hay cần hủy bỏ;

    – Xử lý các vấn đề cụ thể thuộc thẩm quyền Hiệu trưởng phân công phụ trách; ký thay Hiệu trưởng các văn bản thuộc thẩm quyền của Hiệu trưởng trong phạm vi các lĩnh vực, công việc được Hiệu trưởng phân công hoặc uỷ quyền; xin ý kiến Hiệu trưởng để xử lý các vấn đề vượt quá thẩm quyền;

    2.2. Phó Hiệu trưởng không giải quyết các việc mà Hiệu trưởng không phân công hoặc ủy quyền.

    Điều 7. Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng phân công trực Ban Giám hiệu theo lịch tuần của trường

    1. Phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm điều hành công việc do Hiệu trưởng phân công, cụ thể:

    – Căn cứ kế hoạch năm học, lập kế hoạch hoạt động chuyên môn hàng tháng, hàng tuần, triển khai thực hiện khi có phê duyệt của hiệu trưởng, chỉ đạo, theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch chuyên môn; chuẩn bị nội dung họp chuyên môn.

    – Dựa theo phân công chuyên môn lập thời khoá biểu, kế hoạch thăm lớp dự giờ, thao giảng, dạy thay…Kiểm tra hoạt động của các lớp, của giáo viên chủ nhiệm.

    – Kiểm tra đôn đốc việc thực hiện các loại hồ sơ chuyên môn: lịch, kế hoạch cá nhân, kế hoạch của tổ, giáo viên chủ nhiệm, lịch báo giảng, sổ đầu bài, sổ ghi điểm, giáo án, hồ sơ cá nhân các loại…

    – Thường xuyên kiểm tra tình hình trường lớp, các yêu cầu cần thiết và chỉ đạo kiểm tra công tác lao động.

    – Thực hiện đánh giá chất lượng, kiểm tra chất lượng các kỳ, theo dõi và đề ra biện pháp để thúc đẩy sự tiến triển chất lượng dạy và học.

    2. Phối hợp và chỉ đạo các bộ phận trong hoạt động thể dục thể thao, văn hoá văn nghệ, các phong trào thi đua…

    – Nghiên cứu, phổ biến các chỉ thị, quy định, hướng dẫn về chuyên môn và triển khai thực hiện.

    – Ghi chép, lưu giữ các hồ sơ về kế hoạch chuyên môn, số liệu kiểm tra đánh giá. Kiểm tra và xác nhận các loại hồ sơ chuyên môn đúng kỳ hạn và chịu trách nhiệm về việc được phân công.

    – Thực hiện báo cáo trước hiệu trưởng hàng tuần, tháng và hàng năm theo kế hoạch; chuẩn bị nội dung chuyên môn báo cáo cấp trên và lĩnh vực được hiệu trưởng phân công.

    – Ký duyệt hồ sơ chuyên môn hàng tháng. Kiểm tra học bạ cuối năm và tham mưu với hiệu trưởng ký duyệt.

    – Chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về chất lượng chuyên môn của nhà trường; cùng với Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước cấp trên về nhiệm vụ năm học.

    3. Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lí; tham gia giảng dạy bình quân 4 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định.

    Điều 8. Trách nhiệm, phạm vi giải quyết công việc của Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng ủy quyền phụ trách khi Hiệu trưởng đi công tác

    – Được Hiệu trưởng ủy quyền phân công chỉ đạo các công việc chung của trường và ký các văn bản thuộc thẩm quyền của Hiệu trưởng khi Hiệu trưởng vắng mặt;

    – Thay mặt Hiệu trưởng tham dự các cuộc họp hoặc giải quyết các công việc khi Hiệu trưởng vắng mặt, sau đó phải báo cáo lại cho Hiệu trưởng biết.

    Điều 9. Cách thức giải quyết công việc của Ban Giám hiệu

    – Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng xem xét, xử lý công việc trên cơ sở kế hoạch làm việc và những công việc phát sinh hàng ngày. Đối với các văn bản hành chính thông thường (không phải xin ý kiến tập thể hay Ban Giám hiệu), Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng xử lý không quá 02 ngày làm việc;

    – Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng phân công dự các cuộc họp thay Hiệu trưởng, nếu không dự được thì báo cáo Hiệu trưởng;

    – Ngoài các quy định nêu tại Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 và các khoản 1, 2, 3, của Điều này, các quy định cụ thể về quan hệ làm việc giữa Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng còn được quy định trong quyết định phân công công tác cụ thể của Ban Giám hiệu;

    – Các cách thức giải quyết công việc khác theo quy định tại Quy chế này như: chỉ đạo trực tiếp đối với các vấn đề thuộc thẩm quyền khi thấy cần thiết; đi công tác và xử lý công việc với các tổ chuyên môn; tiếp công dân, tiếp khách và các cách thức giải quyết khác ngoài quy định tại Quy chế này do Hiệu trưởng quyết định.

    Chương III TRÁCH NHIỆM, PHẠM VI VÀ CÁCH THỨC GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC CỦA TỔ (KHỐI) TRƯỞNG Điều 10. Quy định chung về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của tổ trưởng chuyên môn

    – Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm học nhằm thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục;

    – Thực hiện bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả giảng dạy, giáo dục và quản lí sử dụng sách, thiết bị của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường;

    – Tham gia đánh giá, xếp loại giáo viên theo quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học và giới thiệu tổ trưởng, tổ phó.

    – Tổ chuyên môn sinh hoạt định kì hai tuần một lần và các sinh hoạt khác khi có nhu cầu công việc.

    Điều 11. Quy định riêng về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của tổ trưởng chuyên môn

    Ngoài quy định chung về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc quy định tại Điều 10, tổ trưởng các tổ chuyên môn trực thuộc Trường Tiểu học Trung Lập Thượng còn phải tuân thủ các quy định riêng về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc như sau:

    – Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và quản lí kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch dạy học, phân phối chương trình …

    – Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ. Kiểm tra đánh giá chất lượng giảng dạy và giáo dục của giáo viên theo kế hoạch của nhà trường.

    – Hàng tháng, tổ trưởng ký duyệt giáo án 2 lần.

    – Thống kê chất lượng học sinh.

    – Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên.

    – Giúp hiệu trưởng chỉ đạo các hoạt động giáo dục khác như: phê duyệt lịch báo giảng hàng tuần, mục đích yêu cầu, nội dung bài soạn,…

    – Thông tin truyền đạt những vấn đề do Hiệu trưởng phân công cho giáo viên trong tổ.

    – Triển khai các dự thảo kế hoạch, Qui chế của trường và tập hợp ý kiến của giáo viên phản ánh cho Hiệu trưởng và Hội đồng giáo dục.

    – Chịu trách nhiệm trước Hệu trưởng về chất lượng và hiệu quả công tác của tổ.

    – Những việc phát sinh vượt quá thẩm quyền thì phải kịp thời báo cáo Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng phụ trách cho ý kiến chỉ đạo để giải quyết theo đúng quy trình và phân cấp quản lý; không chuyển công việc thuộc nhiệm vụ, thẩm quyền của tổ mình sang tổ khác hoặc lên Ban Giám hiệu; không giải quyết công việc thuộc nhiệm vụ, thẩm quyền của tổ khác.

    – Khi Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng có chương trình làm việc với tổ nào thì tổ trưởng phải chuẩn bị nội dung và tổ chức thực hiện.

    – Tổ chức và chủ trì các cuộc họp sơ kết, tổng kết, kiểm điểm công tác của tổ.

    – Thực hiện các nhiệm vụ khác do Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng giao hay được Hiệu trưởng uỷ quyền giải quyết.

    – Điều hành tổ chuyên môn chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; các chủ trương, chính sách của Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Trung Lập Thượng. Thực hiện Quy chế dân chủ trong hoạt động của đơn vị. Tôn trọng và phát huy ý kiến đóng góp, xây dựng của cán bộ, viên chức thuộc đơn vị mình phụ trách.

    Điều 12. Quy định chung về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của tổ trưởng văn phòng

    – Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ theo tuần, tháng, năm nhằm phục vụ cho việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học và hoạt động giáo dục của nhà trường;

    – Giúp hiệu trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lí tài chính, tài sản trong nhà trường và hạch toán kế toán, thống kê theo chế độ quy định;

    – Bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, kiểm tra, đánh giá chất lượng, hiệu quả công việc của các thành viên trong tổ theo kế hoạch của nhà trường;

    – Tham gia đánh giá, xếp loại viên chức; giới thiệu tổ trưởng, tổ phó;

    – Lưu trữ hồ sơ của trường.

    – Tổ văn phòng sinh hoạt định kì hai tuần một lần và các sinh hoạt khác khi có nhu cầu công việc.

    Điều 13. Quy định riêng về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của Tổ trưởng Văn phòng

    Ngoài quy định chung về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc quy định tại Điều 12, tổ trưởng tổ văn phòng trực thuộc Trường Tiểu học Trung Lập Thượng còn phải tuân thủ các quy định riêng về trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc như sau:

    – Quản lý, điều hành và tổ chức các hoạt động của tổ, công tác của các thành viên. Chủ trì các chương trình công tác, các cuộc họp của tổ. Sắp xếp phân công làm thay khi thành viên xin nghỉ phép theo đúng chế độ quy định.

    – Xây dựng kế hoạch, nội dung hoạt động của tổ trên cơ sở kế hoạch hoạt động của nhà trường.

    – Phối hợp với công đoàn theo dõi giờ giấc, ngày công lao động các thành viên trong tổ; là thành viên của ban thi đua nhà trường.

    – Thực hiện chế độ báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ hàng tháng và các báo cáo khác theo yêu cầu.

    Chương IV TRÁCH NHIỆM, PHẠM VI VÀ CÁCH THỨC GIẢI QUYẾT CÔNG VIỆC CỦA VIÊN CHỨC, NHÂN VIÊN TRONG TRƯỜNG Điều 14. Trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của viên chức, nhân viên trong trường

    – Chấp hành sự chỉ đạo, phân công nhiệm vụ của lãnh đạo nhà trường và tổ trưởng, tổ phó tổ chuyên môn phụ trách trực tiếp; thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về công chức, viên chức, công vụ, Quy chế thực hiện dân chủ và nội quy, quy định của đơn vị;

    – Giáo viên, nhân viên chịu trách nhiệm trước lãnh đạo nhà trường và tổ chuyên môn về công việc được giao và chịu trách nhiệm trước pháp luật khi thi hành nhiệm vụ;

    – Trường hợp lãnh đạo trường hoặc các tổ chuyên môn, tổ văn phòng yêu cầu làm việc trực tiếp với giáo viên, nhân viên thì giáo viên, nhân viên phải có trách nhiệm chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, tài liệu để làm việc;

    Điều 15. Trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của giáo viên

    Giáo viên của trường ngoài những trách nhiệm, phạm và quyền hạn chung đối với viên chức, nhân viên quy định tại Điều 14 Quy chế này và các Quy định tại Luật Giáo dục, Điều lệ trường tiểu học, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường còn có trách nhiệm và nghĩa vụ sau:

    1. Đối với giáo viên giảng dạy:

    – Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản lí học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục;

    – Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp;

    – Học tập, rèn luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy;

    – Tham gia công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương;

    – Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quyết định của Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trưởng phân công, chịu sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lí giáo dục;

    2. Đối với giáo viên Tổng phụ trách Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh: Tổng phụ trách Đội có nhiệm vụ tổ chức, quản lí các hoạt động của Đội Thiếu niên và Sao Nhi đồng ở nhà trường và tổ chức, quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Cụ thể như sau:

    – Tổ chức các hoạt động Đội trong nhà trường theo kế hoạch của nhà trường và Hội đồng Đội cấp trên;

    – Tổ chức, quản lí nền nếp của học sinh, phối hợp xây dựng các phong trào văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao trong nhà trường;

    – Theo dõi thi đua các mặt hoạt động nền nếp của học sinh trong nhà trường;

    – Tổ chức tốt các buổi chào cờ đầu tuần, nhận xét, đánh giá và xếp loại thi đua hàng tuần;

    – Chịu trách nhiệm về chương trình, kế hoạch tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, rèn kĩ năng sống cho học sinh;

    – Chấp hành sự chỉ đạo và tham gia đầy đủ các hoạt động theo yêu cầu của Hội đồng Đội cấp trên cấp trên;

    – Tham gia các hoạt động thi đua của nhà trường.

    Điều 16. Trách nhiệm, phạm vi và cách thức giải quyết công việc của viên chức, nhân viên hành chính

    Viên chức, nhân viên hành chính của trường ngoài những trách nhiệm, phạm và quyền hạn chung đối với viên chức, nhân viên quy định tại Điều 14 Quy chế này và các Quy định tại Luật Giáo dục, Điều lệ trường tiểu học, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường còn có trách nhiệm và nghĩa vụ sau:

    1. Viên chức phụ trách Thư viện – Thiết bị:

    – Tổ chức hoạt động của thư viện theo đúng quy định;

    – Quản lí các loại sách, báo, tạp chí, mượn trả cập nhật thông tin mượn trả vào phần mềm trên web theo đúng quy định;

    – Đề xuất với Hiệu trưởng kế hoạch mua sắm sách cho giáo viên và học sinh, kế hoạch xây dựng thư viện xuất sắc;

    – Tổ chức hoạt động của phòng đọc, phục vụ giáo viên và học sinh đọc và nghiên cứu;

    – Tuyên truyền, giới thiệu sách 1 lần/tháng với giáo viên và học sinh toàn trường;

    – Tổ chức và tham gia hội thi “Kể chuyện sách” các cấp;

    – Quản lí thư viện thông qua phần mềm VEMIS.

    – Tổ chức hoạt động của phòng đồ dùng, thiết bị theo đúng quy định;

    – Quản lí các loại đồ dùng, thiết bị dạy học, mượn trả, sử dụng, bảo quản, ghi chép và cập nhật vào phần mềm VEMIS theo đúng quy định;

    – Đề xuất với Hiệu trưởng kế hoạch mua sắm đồ dùng, thiết bị phục vụ cho giảng dạy, kế hoạch xây dựng phòng đồ dùng, thiết bị tiên tiến;

    – Chịu trách nhiệm về việc bảo quản, sửa chữa các thiết bị phục vụ cho giảng dạy và hoạt động của đoàn đội;

    2. Nhân viên Kế toán:

    – Thực hiện các công việc kế toán, lập báo cáo tài chính theo quy định của Luật kế toán.

    – Vào ngày 30 hàng tháng phải báo cáo đầy đủ, chính xác tất cả các hoạt động thu, chi của tất cả các loại quỹ của trường trong tháng cho Hiệu trưởng.

    – Thực hiện công khai tài chính theo quy định.

    – Khi mua sắm, sửa chữa phải có ý kiến chỉ đạo của Hiệu trưởng. Hiệu trưởng không thực hiện thủ tục thanh toán về việc mua sắm, sửa chữa khi không có ý kiến chỉ đạo của mình.

    – Các thủ tục quyết toán quý với phòng Tài chính phải trình cho Hiệu trưởng ký trước khi nộp cho phòng tài chính 3 ngày.

    – Từ ngày 25/12 đến ngày 05/01 hàng năm phải hoàn tất các thủ tục kiểm kê toàn bộ tài sản của nhà trường.

    – Lập kế hoạch chi tiêu nội bộ hàng năm.

    – Cập nhật sổ quản lý tài chính, tài sản nhà trường.

    – Cùng thực hiện những nhiệm vụ khác được giao.

    3. Viên chức phụ trách công tác Thủ quỹ:

    – Đảm bảo các hồ sơ giấy tờ, chứng từ rõ ràng, chính xác, giáo viên kí nhận đầy đủ, không ký thay.

    – Thu các khoản theo qui định; thu hộ, chi hộ; thu theo thoả thuận với cha mẹ học sinh. Lập hồ sơ sổ sách các loại, các khoản thu.

    – Đối chiếu sổ sách hàng tháng với kế toán và trình Hiệu trưởng ký duyệt.

    – Báo cáo Hiệu trưởng 1 tháng/lần các khoản thu chi ngân sách và ngoài ngân sách.

    – Được hưởng % các khoản thu như: học phí học 2 buổi/ ngày; tiếng Anh; tin học; dạy hè,…

    4. Nhân viên Văn thư – Lưu trữ:

    – Quản lý học bạ, sổ điểm, các loại văn bản.

    – Quản lý công văn đi, công văn đến.

    – Quản lý dấu, đóng dấu các loại công văn đi.

    – Lưu công văn đi và đến, chuyển toàn bộ công văn đến cho Hiệu trưởng xử lý.

    – Sắp xếp, lưu trữ các loại hồ sơ công chức, tuyển sinh, ra trường theo từng loại để dễ tìm kiếm.

    – Thực hiện ghi chép đầy đủ các nội dung trong sổ đăng bộ theo quy định.

    – Quản lý tốt hồ sơ khen thưởng của giáo viên và học sinh.

    – Theo dõi tiến độ nộp kế hoạch, báo cáo, … của giáo viên, nhân viên.

    – Sắp xếp gọn gàng nơi làm việc để đảm bảo vệ sinh chung.

    – Thực hiện công việc photocopy đúng quy định.

    5. Nhân viên y tế:

    – Thực hiện theo Quyết định số 73 /2007/QĐ- BGD&ĐT ngày 04/12/2007 của Bộ Giáo dục – Đào tạo quy định về hoạt động y tế trong các trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Quyết định 4458/QĐ- BGD&ĐT ngày 28/8/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định xây dựng trường học an toàn, phòng chống tệ nạn thương tích; Quyết định 1221/2000/QĐ- BYT ngày 18/4/2000 của Bộ y tế quy định về vệ sinh trường học và Thông tư Liên tịch số 18/2011/ TTLT- BGD- BYT ngày 28/4/2011 của Bộ Giáo dục – Đào tạo và Bộ Y tế quy định các nội dung đánh giá công tác y tế tại các trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học;

    – Thực hiện các quy định về vệ sinh trường học, vệ sinh cá nhân, môi trường, an toàn thực phẩm; đảm bảo đủ nước uống hợp vệ sinh; tham mưu cho Hiệu trưởng trong việc xây dựng trường học an toàn, xanh- sạch- đẹp, “không khói thuốc”…. Phối hợp với giáo viên chủ nhiệm, Tổng phụ trách Đội thực hiện tuyên truyền, vận động học sinh tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm tai nạn và lập hồ sơ cấp thẻ bảo hiểm y tế cho học sinh;

    – Thực hiện nhiệm vụ chăm sóc sức khoẻ, sơ cứu ban đầu, tuyên truyền giáo dục kiến thức sức khoẻ cho học sinh; chủ động tham mưu với lãnh đạo nhà trường để phối hợp với cơ quan y tế có đủ năng lực và điều kiện để tổ chức khám sức khẻo định kỳ, phân loại sức khỏe học sinh, tránh bệnh hình thức trong khám sức khỏe;

    – Tham mưu với Hiệu trưởng để ban hành quyết định thành lập Ban chỉ đạo công tác y tế trường học; xây dựng kế hoạch công tác y tế trường học (ghi rõ công việc, thời gian thực hiện, điều kiện thực hiện và người phụ trách, thực hiện theo năm học, từng tháng, từng tuần); sổ theo dõi cấp phát thuốc; sổ theo dõi sức khỏe học sinh; sổ tổng hợp phân loại sức khỏe học sinh; hồ sơ tài liệu tuyên truyền, ngoại khóa về công tác y tế trường học theo kế hoạch đề ra;

    – Sơ kết, tổng kết và báo cáo kết quả công tác y tế trong nhà trường định kỳ hàng tháng, học kỳ, năm cho Hiệu trưởng;

    – Thực hiện một số nhiệm vụ khác.

    6. Nhân viên bảo vệ:

    – Bảo vệ an toàn, góp phần sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả các loại tài sản;

    – Kiểm tra, bảo dưỡng tài sản (đồ mộc, đồ điện, …);

    – Ngăn chặn, phát hiện và xử lý các vụ việc làm hư hao, mất mát tài sản. Không cho bất cứ các cá nhân, tập thể nào di chuyển, sử dụng các loại tài sản khi chưa được phép của Hiệu trưởng;

    – Đóng mở điện phục vụ công tác dạy học đúng giờ (theo lịch học và lịch làm việc). Thường xuyên kiểm tra công trình điện nước, chống thất thoát, lãng phí;

    – Bảo vệ an ninh trật tự trong khuôn viên của nhà trường. Thường xuyên kiểm tra ngăn chặn việc xâm nhập, gây rối trật tự trong giờ nội khóa và ngoại khóa;

    – Bảo đảm trật tự trước cổng trường, thực hiện nghiêm túc quy định ra vào trường học với phong cách lịch sự, thái độ phục vụ chân tình;

    – Kịp thời báo cáo với lãnh đạo nhà trường khi có sư việc bất thường xảy ra;

    – Chịu trách nhiệm bồi thường các thiệt hại về tài sản bị thất thoát hư hỏng do sự chủ quan của bảo vệ gây ra, hoặc do người lạ đột nhập gây ra;

    – Không được tự ý đưa người lạ vào trường;

    – Chăm sóc cây kiểng;

    – Thực hiện một số nhiệm vụ khác.

    7. Nhân viên phục vụ:

    – Quét dọn sạch sẽ các phòng được phân công;

    – Dọn dẹp sạch sẽ nhà vệ sinh (sau khi vào học, sau giờ ra chơi);

    – Nấu nước uống cho cán bộ, giáo viên, nhân viên;

    – Trực văn phòng theo lịch công tác;

    – Cùng bảo vệ chăm sóc cây kiểng;

    – Thực hiện một số nhiệm vụ khác.

    Chương V QUAN HỆ CÔNG TÁC TRONG TRƯỜNG Điều 17. Quan hệ phối hợp giải quyết công việc giữa các tổ (khối) chuyên môn trong nhà trường

    – Khi thực hiện nhiệm vụ cần có sự phối hợp làm việc, giải quyết của nhiều tổ chuyên môn, lãnh đạo trường phân công một tổ chủ trì hoặc làm đầu mối để thực hiện;

    Điều 18. Quan hệ giữa các tổ (khối) trưởng trong trường

    – Quan hệ giữa các tổ trưởng trong trường là quan hệ đồng cấp;

    – Các tổ trưởng có nhiệm vụ phối hợp cùng thực hiện nhiệm vụ chung của trường theo sự phân công của Hiệu trưởng.

    Điều 19. Quan hệ công tác giữa tổ (khối) trưởng bộ môn, tổ phó bộ môn và các giáo viên, viên chức, nhân viên hành chính trong đơn vị

    – Trong phạm vi công tác do mình phụ trách, cấp dưới phải phục tùng và chấp hành sự chỉ đạo của cấp trên. Trong trường hợp cấp dưới không nhất trí với chỉ đạo của cấp trên về các công việc thuộc phạm vi phụ trách của mình thì vẫn phải chấp hành nhưng có quyền bảo lưu ý kiến bằng văn bản và gửi trực tiếp cho Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng phụ trách lĩnh vực đó để xem xét quyết định;

    – Trong trường hợp nhiệm vụ được giao không đúng chức năng quyền hạn của mình và không có khả năng thực hiện thì người được giao nhiệm vụ phải có ý kiến phản hồi ngay với người giao nhiệm vụ để phân công người khác;

    – Trình tự giải quyết công việc phải tuân thủ đúng các quy định về phân công phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp: cấp trên không bao biện, làm thay chức năng nhiệm vụ của cấp dưới, cấp dưới không đùn đẩy trách nhiệm lên cấp trên;

    – Cấp trên phải tôn trọng và chấp nhận các quyết định, đề xuất phù hợp, đúng quy định của cấp dưới. Trong trường hợp cấp trên thay đổi các quyết định hoặc bác bỏ các đề xuất của cấp dưới thì cấp trên phải chỉ rõ lý do bác bỏ hoặc thay đổi.

    Điều 20. Quan hệ giữa Ban Giám hiệu với Tổ (Khối) trưởng

    – Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng phụ trách lĩnh vực và các tổ chuyên môn, tổ văn phòng định kỳ hoặc đột xuất họp với tổ trưởng được phân công phụ trách, trực tiếp nghe báo cáo tình hình và chỉ đạo việc thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của tổ phụ trách và của trường;

    – Tổ trưởng các tổ chuyên môn có trách nhiệm báo cáo kịp thời với lãnh đạo trường về kết quả thực hiện công tác, kiến nghị các vấn đề cần giải quyết khi thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được phân công.

    Điều 21. Quan hệ công tác giữa trường với Phòng Giáo dục và Đào tạo

    – Quan hệ chặt chẽ với phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi để sẵn sàng nhận và thực hiện chương trình công tác, bảo đảm hoàn thành có chất lượng, đúng tiến độ các công việc được giao theo sự chỉ đạo, điều hành của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi;

    – Nhà trường thực hiện nghiêm túc, đầy đủ về sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra của phòng Giáo dục và Đào tạo về công tác phát triển giáo dục toàn diện, công tác chuyên môn;

    – Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo thường xuyên, định kỳ, đột xuất về tình hình thực hiện công tác của nhà trường.

    1. Đối với Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Trung Lập Thượng:

    – Thường xuyên xây dựng các quan hệ với cấp ủy, chính quyền và các ban ngành, đoàn thể tại địa phương.

    – Nhà trường thực hiện đầy đủ, nghiêm túc về sự chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra, thanh tra về công tác phát triển giáo dục trên địa bàn, phối hợp với địa phương về việc huy động học sinh ra lớp, thực hiện công tác phổ cập giáo dục tiểu học;

    – Thực hiện đầy đủ chế độ báo cáo thường xuyên, định kỳ, đột xuất về tình hình thực hiện công tác của nhà trường về Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Trung Lập Thượng.

    2. Đối với chi bộ:

    – Quan hệ giữa lãnh đạo trường với Chi bộ trường thực hiện theo quy định của Đảng và Quy chế làm việc của Chi bộ;

    – Nhà trường chịu sự điều hành, chỉ đạo trực tiếp của Chi bộ về việc thực hiện nhiệm vụ dạy học và giáo dục học sinh, chiến lược phát triển giáo dục, tổ chức, nhân sự.

    3. Đối với Hội đồng trường:

    Quan hệ giữa lãnh đạo trường với Hội đồng trường thực hiện theo quy định của Điều lệ trường tiểu học.

    4. Đối với Công đoàn nhà trường:

    – Quan hệ giữa lãnh đạo trường với Công đoàn trường thực hiện theo quy định tại Nghị quyết liên tịch về mối quan hệ công tác, lề lối làm việc giữa trường với Công đoàn Cơ sở và Điều lệ trường tiểu học;

    – Thực hiện theo quy chế phối hợp của Ban chấp hành Công đoàn với Hiệu trưởng nhà trường.

    5. Quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội

    – Thống nhất quy mô, kế hoạch phát triển nhà trường, các biện pháp giáo dục học sinh và quan tâm giúp đỡ học sinh cá biệt;

    – Huy động mọi lực lượng và nguồn lực của cộng đồng góp phần xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục của nhà trường, chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn; tạo điều kiện để học sinh được vui chơi, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao phù hợp với lứa tuổi;

    5.2. Giáo viên chủ nhiệm liên hệ chặt chẽ với cha mẹ học sinh của lớp để: thông báo kết quả học tập của từng học sinh; thống nhất kế hoạch phối hợp giúp đỡ học sinh yếu, giáo dục học sinh cá biệt; biểu dương kịp thời học sinh nỗ lực học tập và rèn luyện tốt.

    Chương VI QUY ĐỊNH VỀ THỜI GIAN VÀ CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC[1] Mục 1 ĐỐI VỚI CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC HÀNH CHÍNH Điều 23. Quy định chung

    1. Công chức, viên chức hành chính bao gồm:

    a) Hiệu trưởng;

    b) Phó Hiệu trưởng;

    c) Viên chức văn phòng;

    đ) Các cá nhân khác được Hiệu trưởng quy định làm việc theo chế độ hành chính.

    2. Các bộ phận có công chức, viên chức hành chính phải thực hiện bảng chấm công hàng tháng để theo dõi việc hoàn thành định mức thời gian làm việc.

    Điều 24. Chế độ và định mức thời gian làm việc của viên chức, nhân viên hành chính

    – Viên chức, nhân viên hành chính làm việc theo chế độ 8 giờ/ngày, 40 giờ/tuần theo lịch quy định như sau:

    + Buổi Sáng từ 7 giờ 00 phút đến 11 giờ 00 phút

    + Buổi Chiều từ 13 giờ 00 phút đến 16 giờ 30 phút

    – Viên chức, nhân viên hành chính phải hoàn thành định mức thời gian làm việc theo quy định của trường mới được tính để xét trả lương cơ bản và xét trả thu nhập tăng thêm (nếu có).

    Điều 25. Về chấp hành kỷ luật trong làm việc của công chức, viên chức hành chính

    – Viên chức, nhân viên hành chính có trách nhiệm chấp hành kỷ luật trong làm việc theo quy định của Nhà nước và của trường;

    – Tổ văn phòng là đầu mối quản lý, thống kê và báo cáo việc tuân thủ kỷ luật trong làm việc của cán bộ, nhân viên. Cán bộ, nhân viên vắng mặt tại cơ quan phải báo cáo Hiệu trưởng (qua tổ văn phòng).

    Mục 2 ĐỐI VỚI GIÁO VIÊN Điều 26. Chế độ và định mức thời gian làm việc của giáo viên

    Giáo viên làm việc theo chế độ và định mức thời gian quy định của Nhà nước theo Thông tư số 28/2009/TT-BGDĐT ngày 21/10/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định về chế độ làm việc đối với giáo viên phổ thông. Cụ thể là:

    – Thời gian làm việc của giáo viên tiểu học trong năm học là 42 tuần, trong đó:

    + 35 tuần dành cho việc giảng dạy và các hoạt động giáo dục theo quy định về kế hoạch thời gian năm học.

    + 05 tuần dành cho học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ.

    + 01 tuần dành cho việc chuẩn bị năm học mới.

    + 01 tuần dành cho việc tổng kết năm học.

    – Thời gian nghỉ hằng năm của giáo viên gồm: nghỉ hè, nghỉ tết âm lịch, nghỉ học kỳ và các ngày nghỉ khác, cụ thể như sau:

    + Thời gian nghỉ hè của giáo viên thay cho nghỉ phép hằng năm là 02 tháng, được hưởng nguyên lương và các phụ cấp (nếu có);

    + Thời gian nghỉ tết âm lịch, nghỉ học kỳ theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

    + Các ngày nghỉ khác theo quy định của Bộ luật Lao động.

    – Định mức tiết dạy của giáo viên tiểu học là 23 tiết/tuần; riêng giáo viên dạy tiếng Anh là 18 tiết/tuần; giáo viên Tổng phụ trách Đội dạy 1/2 định mức tiết dạy của giáo viên; Hiệu trưởng dạy 2 tiết/tuần; Phó Hiệu trưởng dạy 4 tiết/tuần.

    – Chế độ giảm định mức tiết dạy:

    + Giáo viên chủ nhiệm được giảm 3 tiết làm công tác chủ nhiệm lớp;

    + Giáo viên kiêm nhiệm công tác Chủ tịch Công đoàn cơ sở được giảm 3 tiết/tuần;

    + Giáo viên kiêm nhiệm công tác Trưởng ban Thanh tra nhân dân được giảm 2 tiết/tuần;

    + Giáo viên kiêm nhiệm công tác Thư kí Hội đồng trường được giảm 2 tiết/tuần;

    + Giáo viên làm tổ trưởng được giảm 3 tiết/tuần.

    Điều 27. Về chấp hành kỷ luật trong giảng dạy của giáo viên

    – Giáo viên có trách nhiệm chấp hành kỷ luật trong giảng dạy theo quy định của Nhà nước và của trường;

    – Giáo viên phải thực hiện nghiêm túc Điều 37 về hành vi, ngôn ngữ ứng xử, trang phục của giáo viên và Điều 38 về các hành vi giáo viên không được làm được quy định tại Điều lệ trường tiểu học ban hành bởi Thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;

    – Giáo viên có trách nhiệm chấp hành sự phân công của Ban Giám hiệu và tổ trưởng trong thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy;

    – Trường tiến hành thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ kỷ luật giảng dạy của giáo viên làm căn cứ để đánh giá, xếp loại và xét khen thưởng và kỷ luật theo quy định.

    – Các cá nhân không xử lý các văn bản không qua văn thư của trường. Đối với các văn bản do Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng giao trực tiếp cho cá nhân, bộ phận để xử lý, thì cá nhân, bộ phận được phân công phải làm thủ tục đăng ký văn thư;

    – Các văn bản gửi về trường phải trình Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng được Hiệu trưởng phân công trực Ban Giám hiệu cho ý kiến chỉ đạo trước khi giao các cá nhân, bộ phận thực hiện. Chỉ Ban Giám hiệu mới được phê ý kiến chỉ đạo trực tiếp trên văn bản gửi về trường.

    – Dự thảo các kế hoạch, quy chế, quy định thuộc thẩm quyền ban hành của Hiệu trưởng hoặc trước khi trình Hiệu trưởng ký trình cấp có thẩm quyền, thực hiện theo quy chế soạn thảo, thẩm định, ban hành, kiểm tra, xử lý, hệ thống hoá văn bản quy định do Hiệu trưởng ban hành;

    – Phó Hiệu trưởng giải quyết văn bản theo lĩnh vực được Hiệu trưởng giao phụ trách;

    – Cán bộ, giáo viên, nhân viên có trách nhiệm lập hồ sơ công việc, quản lý hồ sơ, tài liệu và thực hiện chế độ bảo mật theo quy định của Nhà nước; có trách nhiệm nộp lưu hồ sơ, tài liệu cho tổ văn phòng theo đúng quy định;

    – Cán bộ, giáo viên, nhân viên khi chuyển công tác hoặc nghỉ hưu phải bàn giao đầy đủ hồ sơ, tài liệu (thông thường và lưu trong máy tính), phương tiện làm việc (nếu có) cho người thay thế. Nội dung bàn giao phải được thể hiện bằng văn bản và có sự xác nhận của Hiệu trưởng;

    Điều 29. Xử lý hồ sơ trình và thông báo kết quả

    – Chậm nhất sau 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận báo cáo, đề nghị, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng có trách nhiệm xử lý thông tin và có ý kiến chính thức thông báo cho bộ phận, cá nhân biết kết quả. Các văn bản thông thường, Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng xử lí không quá 01 ngày làm việc kể từ khi nhận được hồ sơ trình.

    – Chậm nhất 5 ngày làm việc kể từ khi nhận được đầy đủ hồ sơ, nếu chưa có quyết định cuối cùng của lãnh đạo trường, tổ văn phòng có trách nhiệm thông báo văn bản cho các cá nhân, bộ phận biết rõ lý do.

    Điều 30. Thẩm quyền ký văn bản của Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng và tổ trưởng bộ môn

    1. Hiệu trưởng ký các văn bản sau:

    – Văn bản quy chế, quy định theo thẩm quyền, văn bản quản lý của trường, các văn bản về tổ chức bộ máy và nhân sự theo quy định của pháp luật;

    – Các văn bản trình phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi, các cơ quan ban ngành địa phương;

    – Phê duyệt kế hoạch tài chính hàng năm của trường;

    – Văn bản uỷ quyền cho Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng các tổ thuộc trường giải quyết một số công việc thuộc thẩm quyền của Hiệu trưởng;

    – Các quyết định về tổ chức bộ máy, bổ nhiệm, đề xuất khen thưởng, kỷ luật, nâng bậc lương thường xuyên, nâng bậc lương trước thời hạn, nâng ngạch, chuyển ngạch, chuyển loại công chức, viên chức, đi công tác, học tập trong nước, đối với cán bộ, giáo viên, nhân viên thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

    2. Hiệu trưởng giao cho Phó Hiệu trưởng ký thay các văn bản sau:

    – Quyết định cá biệt và các văn bản xử lý các vấn đề thuộc lĩnh vực được Hiệu trưởng phân công phụ trách;

    – Một số văn bản quy định tại khoản 1 Điều này theo lĩnh vực do Hiệu trưởng giao phụ trách;

    – Khi Hiệu trưởng vắng mặt, Phó Hiệu trưởng được ký các văn bản thuộc thẩm quyền của Hiệu trưởng.

    Điều 31. Trách nhiệm của bộ phận văn phòng trong việc ban hành văn bản

    – Tổ trưởng tổ văn phòng có trách nhiệm quản lý công tác văn thư – lưu trữ của trường, phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về thể thức, kỹ thuật trình bày và thủ tục ban hành văn bản;

    – Văn bản đi được hoàn thành thủ tục văn thư và chuyển phát ngay trong ngày, chậm nhất là trong ngày làm việc tiếp theo.

    – Từ chối phát hành những văn bản có nội dung trái với ý kiến chỉ đạo của Hiệu trưởng, trái với những quy định hiện hành của Nhà nước và những văn bản chưa đủ thủ tục.

    – Tổ chức việc lưu trữ, bảo mật các hồ sơ, quản lý con dấu, tài liệu, văn bản đi, văn bản đến theo đúng quy định của Nhà nước.

    Điều 32. Kiểm tra việc thực hiện văn bản

    Trường tiến hành kiểm tra bằng những hình thức sau:

    – Lãnh đạo trường yêu cầu các các tổ chuyên môn báo cáo bằng văn bản về tình hình và kết quả thực hiện các văn bản, công việc được giao hàng tháng;

    – Hình thức khác do Hiệu trưởng quyết định.

    Chương VIII CHƯƠNG TRÌNH CÔNG TÁC CỦA TRƯỜNG Điều 33. Các loại chương trình công tác

    – Hiệu trưởng thực hiện chương trình công tác thực hiện nhiệm vụ năm học, tháng, tuần; các kế hoạch chính trị tư tưởng, an toàn giao thông, các cuộc vận động của ngành,…

    – Phó Hiệu trưởng chuyên môn thực hiện chương trình công tác chuyên môn năm học, tháng, tuần;

    – Các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các bộ phận thực hiện chương trình công tác năm học, tháng, tuần;

    – Các cá nhân giáo viên, nhân viên thực hiện chương trình công tác năm học, tháng, tuần.

    Điều 34. Chuẩn bị đề án, dự án, kế hoạch

    – Hiệu trưởng dựa vào kế hoạch của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học; công tác chính trị tư tưởng, …

    – Phó Hiệu trưởng chuyên môn dựa vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của Hiệu trưởng để xây dựng kế hoạch chuyên môn;

    – Các tổ chuyên môn, tổ văn phòng dựa vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của Hiệu trưởng và kế hoạch chuyên môn của Phó Hiệu trưởng để lập kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học cho tổ mình;

    – Các thành viên trong tổ dựa theo kế hoạch chung của tổ để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học cho cá nhân;

    – Các bộ phận dựa vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của từng bộ phận của phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi; dựa vào kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của Hiệu trưởng để xây dựng kế hoạch thực hiện nhiệm vụ năm học của bộ phận mình phụ trách.

    Điều 35. Quan hệ phối hợp trong chuẩn bị đề án, dự án, kế hoạch

    Các bộ phận, cá nhân khi thực hiện lập kế hoạch phải phối hợp với nhau và phối hợp với Tổng phụ trách Đội nhằm xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa; phối hợp với y tế để lập kế hoạch giáo dục sức khỏe y tế học đường cho học sinh; phối hợp với giáo viên chuyên trách phổ cập để xây dựng kế hoạch duy trì sĩ số, chống bỏ học giữa chừng; …

    Điều 36. Theo dõi và đánh giá kết quả thực hiện chương trình công tác

    – Kế hoạch công tác của các tổ chuyên môn, tổ văn phòng, các bộ phận và cá nhân đều được Hiệu trưởng hoặc Hiệu trưởng ủy quyền cho Phó Hiệu trưởng kí duyệt mới có hiệu lực;

    – Các tổ trưởng chuyên môn, tổ văn phòng, các bộ phận và cá nhân phải thực hiện nghiêm chỉnh kế hoạch đã được duyệt;

    – Các tổ trưởng chuyên môn, tổ văn phòng, các bộ phận và cá nhân có nhiệm vụ điều chỉnh, bổ sung kế hoạch, ghi nhận kết quả, rút kinh nghiệm cho kế hoạch của mình.

    Chương IX TỔ CHỨC CÁC HỘI NGHỊ VÀ CUỘC HỌP Điều 37. Các loại hội nghị và cuộc họp

    1. Nguyên tắc tổ chức các cuộc hội nghị và cuộc họp:

    Căn cứ yêu cầu công việc và phạm vi lĩnh vực công tác, trường tổ chức các hội nghị và cuộc họp trên nguyên tắc thiết thực, hợp lý, hiệu quả và tiết kiệm.

    Việc tổ chức các hội nghị và cuộc họp phải tuân thủ nghiêm túc quy định về chế độ họp trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước và các quy định của trường.

    2. Các loại hội nghị và cuộc họp:

    – Họp Hội đồng Sư phạm được thực hiện mỗi tháng 1 lần;

    – Họp giao ban lãnh đạo đơn vị mỗi tuần 1 lần;

    – Họp tổ chuyên môn 2 tuần 1 lần;

    – Họp tổ công đoàn mỗi tháng 1 lần;

    – Họp Ban đại diện cha mẹ học sinh 1 quý 1 lần;

    – Họp xử lí các công việc đột xuất, thường xuyên;

    – Hội nghị Cán bộ công chức mỗi năm 1 lần;

    – Đại hội đại biểu ban đại diện cha mẹ học sinh mỗi năm 1 lần;

    – Tham dự hội nghị giao ban Hiệu trưởng do Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức;

    – Tham dự Hội nghị Sơ kết, Tổng kết và triển khai phương hướng nhiệm vụ năm học hàng năm theo chỉ đạo của ngành;

    – Tham dự đầy đủ các cuộc họp theo thư mời.

    Điều 38. Công tác chuẩn bị hội nghị, họp

    1. Chức năng điều hành hội nghị, cuộc họp:

    1.1. Hiệu trưởng quyết định các cuộc họp, hội nghị sau:

    – Hội nghị toàn trường;

    – Hội nghị chuyên đề, tập huấn, bồi dưỡng (thuộc lĩnh vực Hiệu trưởng chủ trì);

    – Họp lãnh đạo trường thường kỳ hàng tuần, hàng tháng;

    – Họp tập thể lãnh đạo trường, các cuộc họp khác để giải quyết công việc;

    1.2. Phó Hiệu trưởng quyết định các cuộc họp, hội nghị thuộc lĩnh vực Phó Hiệu trưởng được phân công phụ trách, gồm:

    – Họp, làm việc tại các tổ chuyên môn và bộ phận chuyên môn được phân công phụ trách;

    – Hội nghị chuyên đề, tập huấn;

    – Các cuộc họp để giải quyết công việc do Phó Hiệu trưởng phụ trách.

    1.3. Tổ trưởng quyết định các cuộc họp do tổ chủ trì để giải quyết các công việc chuyên môn và các công việc khác theo chức năng, nhiệm vụ.

    2. Người chủ trì hội nghị, cuộc họp có trách nhiệm chuẩn bị trước nội dung của hội nghị, cuộc họp. Khi cần, có thể phân công các bộ phận giúp việc chuẩn bị dự thảo, cung cấp thông tin, tài liệu phục vụ và các điều kiện về cơ sở vật chất cho hội nghị, cuộc họp.

    Điều 39. Tổ chức họp, hội nghị

    – Tại hội nghị, cuộc họp, người chủ trì điều hành hội nghị, cuộc họp theo chương trình dự kiến; nếu có điều chỉnh chương trình phải thông báo để người dự họp biết;

    – Thư kí ghi biên bản và thông báo kết quả hội nghị, cuộc họp.

    Điều 40. Họp giao ban trường

    – Hiệu trưởng chủ trì họp giao ban trường để đánh giá các mặt hoạt động của tuần qua và triển khai các công tác trọng tâm trong tuần;

    – Cuộc họp giao ban trường được thực hiện vào giờ chơi thứ hai đầu tuần.

    Điều 41. Họp toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường

    – Hiệu trưởng chủ trì họp toàn thể cán bộ, giáo viên, nhân viên của trường mỗi tháng để đánh giá, rút kinh nghiệm việc thực hiện nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân trong tháng qua đồng thời triển khai việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm trong tháng;

    – Việc tổ chức cuộc họp toàn thể công chức, viên chức, nhân viên của trường được thực hiện mỗi tháng 1 lần;

    – Ngoài ra, khi cần trao đổi, triển khai các quy định chuyên môn, Phó Hiệu trưởng sẽ triệu tập cuộc họp đột xuất theo yêu cầu công việc.

    – Đồng thời báo cáo với Hiệu trưởng, tổ trưởng tổ bộ môn để sắp xếp, phân công dạy thay;

    – Các bộ phận, cá nhân khi được mời hay triệu tập phải nghiêm túc thực hiện. Sau khi tham gia cuộc họp phải báo cáo nội dung với tổ trưởng và Hiệu trưởng.

    Điều 43. Họp xử lý công việc thường xuyên

    – Các tổ chuyên môn và tổ văn phòng thực hiện họp tổ mỗi 2 tuần 1 lần vào thứ sáu (tuần lẻ). Nội dung cuộc họp theo Quyết định số 178 QĐ-GD&ĐT ngày 24/9/2012 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi ban hành Quy định về hồ sơ chuyên môn, hoạt động sư phạm của trường tiểu học trên địa bàn huyện Củ Chi;

    – Ngoài ra, khi có yêu cầu giải quyết những công việc đột xuất, Hiệu trưởng hoặc tổ trưởng sẽ tổ chức cuộc họp để giải quyết những công việc có tính thời sự, thời vụ của trường.

    Điều 44. Về chấp hành kỷ luật trong tổ chức và tham dự họp và hội nghị

    – Các cuộc họp, hội nghị để giải quyết các công việc có tính chất cấp trường phải được duyệt kế hoạch hàng tháng, trừ trường hợp do yêu cầu công việc phải tổ chức để triển khai các nhiệm vụ cấp bách;

    – Đại biểu dự các cuộc họp, hội nghị của trường phải đúng thành phần theo quy định, có trách nhiệm đến dự họp đúng giờ, phải tắt điện thoại di động hoặc để ở chế độ im lặng trong lúc dự họp, hội nghị;

    – Tổ văn phòng hoặc tổ chuyên môn tổ chức họp có trách nhiệm thống kê, báo cáo tình hình dự họp của các đại biểu;

    – Cá nhân được mời hoặc triệu tập họp nhưng vì lí do chính đáng không thể tham dự phải báo cáo người chủ trì có trách nhiệm lĩnh hội các nội dung của cuộc họp.

    – Hiệu trưởng hoặc Phó Hiệu trưởng có trách nhiệm tiếp công dân và giải quyết các yêu cầu, khiếu nại của công dân. Trường hợp cần thiết hoặc không thuộc thẩm quyền giải quyết thì báo cáo lên cấp trên để xem xét giải quyết.

    Điều 46. Giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo

    – Tổ Văn phòng thực hiện nhiệm vụ làm đầu mối tiếp nhận đơn thư, khiếu nại, tố cáo gửi đến trường; đồng thời báo cáo Hiệu trưởng để được giải quyết;

    Điều 47. Tiếp lãnh đạo, khách trong nước đến làm việc với trường:

    – Đối với các cuộc tiếp và làm việc chính thức theo kế hoạch của lãnh đạo trường, tổ trưởng tổ văn phòng có trách nhiệm phân công, bố trí cơ sở vật chất và các điều kiện khác để lãnh đạo trường tiếp khách.

    – Đối với các cuộc tiếp khách đến thăm xã giao hoặc làm việc không chính thức với trường, tổ văn phòng có trách nhiệm bố trí chương trình và chủ trì công tác phục vụ theo yêu cầu của lãnh đạo nhà trường, phù hợp với quy định của pháp luật và quy chế của trường.

    Điều 48. Tiếp khách nước ngoài

    Trường không được phép tiếp khách nước ngoài; trường chỉ thực hiện tiếp khách nước ngoài khi có sự giới thiệu, chỉ đạo và đồng ý của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi;

    Sau khi tiếp khách nước ngoài, Hiệu trưởng có nhiệm vụ báo cáo tình hình, nội dung cũng như mục đích của buổi tiếp khách cho Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi; Đảng ủy, Ủy ban nhân dân xã Trung Lập Thượng.

    Chương XI ĐI CÔNG TÁC TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI Điều 49. Đi công tác trong nước

    – Hiệu trưởng quyết định việc cử cán bộ, giáo viên đi công tác theo yêu cầu nhiệm vụ. Các Phó Hiệu trưởng có trách nhiệm tham mưu, đề xuất với Hiệu trưởng về thành phần được cử đi công tác;

    – Trong thời hạn 03 ngày làm việc, sau khi đi công tác về, cán bộ, giáo viên và nhân viên được cử đi công tác phải có báo cáo bằng văn bản với Hiệu trưởng về kết quả của đợt công tác;

    – Người được cử đi công tác được hưởng các chế độ theo Quy chế chi tiêu nội bộ của trường.

    Điều 50. Đi công tác nước ngoài

    Thực hiện theo văn bản 1602/GDĐT-TC ngày 02 tháng 12 năm 2010 của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ chi về thực hiện quy định thủ tục, hồ sơ của cán bộ, công chức, viên chức khi ra nước ngoài

    Chương XII CHẾ ĐỘ BÁO CÁO, THÔNG TIN Điều 51. Chế độ báo cáo thông tin của Hiệu trưởng

    – Hiệu trưởng chịu trách nhiệm báo cáo định kì hàng tháng về các hoạt động của nhà trường cho phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Củ Chi vào ngày 10 mỗi tháng;

    – Hiệu trưởng có trách nhiệm báo cáo thông tin cho Chi bộ và Hội đồng trường theo quy định của Điều lệ trường tiểu học, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường và các Quy chế làm việc của Hội đồng trường, của Chi bộ nhà trường;

    – Tổ văn phòng có trách nhiệm là đầu mối, phối hợp với các bộ phận chuyên môn chuẩn bị các báo cáo của Hiệu trưởng theo quy định.

    Điều 52. Trách nhiệm báo cáo của Phó Hiệu trưởng với Hiệu trưởng

    – Phó Hiệu trưởng báo cáo với Hiệu trưởng về tình hình thực hiện những công việc thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách, những việc vượt quá thẩm quyền giải quyết và những việc cần xin ý kiến Hiệu trưởng;

    – Nội dung và kết quả các hội nghị, cuộc họp được Hiệu trưởng uỷ quyền tham dự hoặc chỉ đạo;

    – Những vấn đề mới nảy sinh, vấn đề đột xuất hoặc những vấn đề phức tạp, nhạy cảm phát sinh trong quá trình triển khai công việc.

    Điều 53. Các tổ (khối) chuyên môn báo cáo Ban Giám hiệu

    1. Tổ trưởng các tổ chuyên môn và tổ văn phòng phải thực hiện đầy đủ chế độ thông tin, báo cáo cho Hiệu trưởng theo quy định. Các báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ chỉ đạo của Hiệu trưởng và lĩnh vực phụ trách phải thông qua Phó Hiệu trưởng phụ trách.

    2. Khi có vấn đề phát sinh vượt quá thẩm quyền quản lý của tổ chuyên môn, tổ văn phòng hoặc vấn đề phức tạp, nhạy cảm, các tổ trưởng phải báo cáo lãnh đạo trường để xử lý kịp thời;

    3. Ngoài việc thực hiện các quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, tổ trưởng tổ văn phòng còn phải thực hiện nhiệm vụ sau đây:

    – Tổ chức cung cấp thông tin hằng ngày cho Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng về các vấn đề đã được giải quyết;

    – Tổng hợp và xây dựng báo cáo công tác của trường, báo cáo các cơ quan hữu quan khi có nhu cầu;

    – Hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các bộ phận trực thuộc trường thực hiện nghiêm túc chế độ thông tin, báo cáo; tổ chức khai thác thông tin phục vụ sự chỉ đạo điều hành của Hiệu trưởng;

    – Chủ trì thực hiện công tác thống kê các số liệu về mọi mặt của trường, cập nhật các số liệu thống kê theo chế độ báo cáo thống kê công khai do ngành quy định.

    Điều 54. Cung cấp thông tin về hoạt động của trường

    1. Về việc phát ngôn, cung cấp thông tin cho báo chí

    Hiệu trưởng là người phát ngôn, cung cấp thông tin chính thức của cơ sở giáo dục cho báo chí.

    2. Đưa thông tin trên cổng thông tin của Trường.

    GV Nguyễn Thanh Quang chịu trách nhiệm đưa thông tin của đơn ve65mtre6n cổng thông tin khi được Hiệu trưởng cho phép.

    Chương XIII TRÁCH NHIỆM THI HÀNH Điều 55. Trách nhiệm phổ biến Quy chế làm việc này đến công chức, viên chức, nhân viên, học sinh trong đơn vị để thực hiện.

    Các Tổ trưởng chuyên môn, Tổ trưởng tổ Văn phòng có trách nhiệm phổ biến Quy chế này đến cán bộ, giáo viên, nhân viên trong nhà trường để thực hiện.

    Điều 56. Trách nhiệm triển khai, đôn đốc thực hiện Quy chế làm việc của trường và báo cáo định kỳ hoặc đột xuất tình hình thực hiện Quy chế làm việc cho Hiệu trưởng:

    Giao các tổ trưởng chuyên môn, tổ trưởng tổ văn phòng triển khai, đôn đốc thực hiện Quy chế làm việc của trường và báo cáo định kỳ hoặc đột xuất tình hình thực hiện Quy chế làm việc của trường cho Hiệu trưởng;

    Cán bộ, giáo viên và nhân viên trong nhà trường có trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các quy định tại Quy chế này. Các cá nhân vi phạm Quy chế sẽ bị xem xét, xử lý kỷ luật;

    Nếu có các vướng mắc, bất cập trong quá trình thực hiện Quy chế này, các bộ phận, cá nhân có trách nhiệm báo cáo Hiệu trưởng để xem xét bổ sung, sửa đổi cho phù hợp.

    Tác giả: Trường Tiểu học Trung Lập Thượng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Chế Làm Việc Của Phòng Nghiệp Vụ
  • Quyết Định Ban Hành Quy Chế Làm Việc Của Ban Chấp Hành
  • Quy Chế Làm Việc Trường Thcs Chuyên Mỹ (Kèm Theo Quyết Định Số 05/qđ
  • Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Sở Tài Chính
  • Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Chức Danh Phó Giám Đốc Sở Tài Chính
  • Lễ Công Bố Quyết Định Bổ Nhiệm 2 Phó Tổng Giám Đốc Tổng Công Ty Khí Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Song Ngữ
  • Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc
  • Mẫu Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc.
  • Mẫu Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Năm 2021
  • Công Bố Và Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc Sở Y Tế Nghệ An
  • Lễ Công bố quyết định bổ nhiệm 2 Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Khí Việt Nam

    Căn cứ yêu cầu công việc và công tác cán bộ, được sự chấp thuận của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Ngày 20/2/2020, Tổng công ty Khí Việt Nam đã tổ chức Lễ công bố và trao quyết định của Hội đồng quản trị Tổng công ty Khí Việt Nam (PV GAS) về việc bổ nhiệm 2 Phó tổng Giám đốc mới của Tổng công ty: ông Hoàng Văn Quang – Giám đốc Công ty Dịch vụ Khí, kiêm Giám đốc Chi nhánh Khí Hải Phòng, Trưởng Chi nhánh của Tổng công ty tại Thái Bình và ông Huỳnh Quang Hải – Trưởng Ban Đầu tư – Xây dựng kiêm Trưởng Ban QLDA Nhà máy xử lý Khí Cà Mau.

    Tham dự buổi Lễ công bố, có ông Nguyễn Sinh Khang – Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT; ông Dương Mạnh Sơn – Phó Bí thư Đảng ủy, Thành viên Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty; Ban Thường vụ Đảng ủy, Ban chấp hành Đảng bộ, Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc, Ban kiểm soát, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Công đoàn, Bí thư và Phó Bí thư Đoàn thanh niên, Chủ tịch và Phó chủ tịch Hội Cựu chiến binh Tổng công ty; Bí thư các chi, đảng bộ trực thuộc Đảng bộ Tổng công ty; lãnh đạo Văn phòng, các Ban/Trung tâm thuộc cơ quan điều hành Tổng công ty; lãnh đạo các đơn vị trực thuộc; Chủ tịch và Giám đốc các công ty thành viên PV GAS.

    Trao quyết định bổ nhiệm cho 2 PTGĐ mới của PV GAS

    Mở đầu buổi lễ, ông Trần Đức Sơn -Trưởng Ban Tổ chức – Nhân sự Tổng công ty đã công bố 2 quyết định bổ nhiệm cán bộ cấp cao của PV GAS. Đại diện lãnh đạo PV GAS đã trân trọng trao quyết định và tặng hoa chúc mừng 2 Phó Tổng giám đốc Hoàng Văn Quang và Huỳnh Quang Hải.

    PTGĐ PV GAS Hoàng Văn Quang phát biểu

    PTGĐ PV GAS Huỳnh Quang Hải phát biểu

    Ông Huỳnh Quang Hải cũng nhận nhiệm vụ Phó Tổng Giám đốc với lời chia sẻ quyết tâm cao: “Trên cơ sở phân công nhiệm vụ của Tổng Giám đốc, tôi sẽ ngay lập tức tham gia tích cực vào quá trình tiếp nhận nguồn khí từ dự án Sao Vàng – Đại Nguyệt, đẩy mạnh việc nhận diện và xử lý các thử thách mới một cách hiệu quả. Đặc biệt, trong giai đoạn PV GAS đang quyết liệt triển khai nhiệm vụ chiến lược được Tập đoàn giao cho là: xây dựng và phát triển mảng nhập khẩu và kinh doanh LNG, tôi xin hứa sẽ đóng góp công sức vào công tác phát triển nguồn cung cấp khí LNG nhập khẩu và đầu tư phù hợp cho hạ tầng cơ sở cho LNG; định hướng đào tạo và phát triển đội ngũ để thích nghi, linh hoạt xử lý trong quá trình xây dựng, tiếp nhận, vận hành các dự án LNG; xây dựng mô hình quản lý dự án quy chuẩn, tối ưu hóa việc quản lý chuỗi giá trị LNG”.

    Chủ tịch HĐQT PV GAS Nguyễn Sinh Khang chúc mừng cán bộ mới

    Phát biểu chúc mừng, Chủ tịch HĐQT PV GAS Nguyễn Sinh Khang khẳng định: “Việc bổ nhiệm đánh dấu sự tin tưởng, đánh giá và ghi nhận của Tổng công ty đối với những đóng góp của 2 đồng chí vào sự phát triển của Tổng công ty trong suốt thời gian gắn bó và đi cùng theo đó là trách nhiệm. Trên cương vị trọng trách mới được giao, tôi hy vọng rằng các đồng chí phát huy những thành tích đã đạt được trong những năm qua, tiếp tục không ngừng phấn đấu, tu dưỡng và rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, nâng cao bản lĩnh chính trị, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để hoàn thành tốt nhiệm vụ.

    TGĐ PV GAS Dương Mạnh Sơn phát biểu giao nhiệm vụ cho các PTGĐ mới

    Năm 2021 là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Tổng công ty, đánh dấu cột mốc 30 năm xây dựng, hình thành và phát triển để tiếp tục vươn tới những tầm cao mới, đồng thời cũng là năm khởi đầu cho khóa X, nhiệm kỳ 2021 – 2025 của Đảng bộ Tổng công ty Khí Việt Nam. Năm đầu tiên toàn ngành thực hiện Nghị quyết của Bộ chính trị về chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến 2030 và tầm nhìn đến 2045. Bên cạnh những thành tích rất đáng tự hào về kết quả đã đạt được, phía trước chúng ta cũng còn rất nhiều khó khoăn và thử thách. Trong buổi lễ này tôi đề nghị các đồng chí cán bộ chủ chốt nêu cao tinh thần trách nhiệm, gương mẫu, luôn sát cánh, chung vai đồng lòng cùng với tập thể người lao động của Tổng công ty phấn đấu hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu được Tập đoàn giao”.

    Phát biểu giao nhiệm vụ cho 2 Phó tổng giám đốc mới, ông Dương Mạnh Sơn – Tổng giám đốc PV GAS nhấn mạnh: “2 cán bộ mới nhận nhiệm vụ đúng vào thời điểm có ý nghĩa rất to lớn đối với PV GAS. Đây cũng là thời điểm PV GAS tiếp tục nhận được niềm tin tưởng cũng như những trọng trách của đơn vị lá cờ đầu Tập đoàn Dầu khí Việt Nam. Việc bổ nhiệm đồng thời 2 Phó Tổng Giám đốc đều từ nguồn cán bộ của PV GAS cho thấy niềm tin và sự động viên to lớn của Ban Lãnh đạo Tập đoàn đối với PV GAS, đồng thời khẳng định tập thể PV GAS đã chứng tỏ được sức mạnh đoàn kết của một đội ngũ cán bộ có năng lực, có kinh nghiệm và có lòng nhiệt thành vì sự nghiệp chung.

    Tập thể lãnh đạo PV GAS chúc mừng 2 PTGĐ mới

    Nhiệm vụ của 2 cán bộ mới cũng như toàn thể đội ngũ cán bộ PV GAS trong giai đoạn hiện nay và sắp tới đây vẫn là chứng minh khả năng lãnh đạo vượt qua thử thách, giữ vững vị thế của đơn vị chủ đạo ngành công nghiệp Khí, trong bối cảnh ngành công nghiệp trẻ đang mở rộng quyền tiếp cận hạ tầng khí, phát triển cạnh tranh minh bạch, định hướng quy hoạch ngành có nhiều thay đổi mới. Lễ công bố quyết định bổ nhiệm 2 Phó tổng giám đốc PV GAS cũng là dịp để toàn thể Ban Lãnh đạo PV GAS và người lao động khẳng định quyết tâm, xiết chặt đội ngũ, bước vững vàng về phía trước vì sự nghiệp và vì trách nhiệm của các thế hệ PV GAS giao phó”.

    Hai Phó tổng giám đốc Hoàng Văn Quang và Huỳnh Quang Hải đã nhận được những lời chúc mừng của lãnh đạo và đồng nghiệp trong ngày vui nhận nhiệm vụ mới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lễ Công Bố Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Tổng Giám Đốc Công Ty Tnhh Hải Hà
  • Công Bố Quyết Định Bổ Nhiệm 2 Phó Giám Đốc Công An Tỉnh Hải Dương
  • Hà Tĩnh Công Bố Quyết Định Bổ Nhiệm 2 Phó Giám Đốc Công An Tỉnh
  • Công Bố Quyết Định Bổ Nhiệm Các Phó Giám Đốc Công An Tỉnh Hà Giang
  • Vietinbank Chi Nhánh 11 Tp. Hồ Chí Minh Trao Quyết Định Bổ Nhiệm Phó Giám Đốc
  • Tin tức online tv