Nghị Luận: Từ Nhân Vật Ông Hai (Làng

--- Bài mới hơn ---

  • Nghị Luận Hình Ảnh Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • 3 Bài Văn Suy Nghĩ Về Nhân Vật Ông Hai Trong Tác Phẩm Làng Của Kim Lân
  • Trọn Bộ Nghị Luận Văn Học Liên Quan Đến Bài Thơ “làng” Kim Lân
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Một Số Tác Phẩm Ngữ Văn 9
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Của Một Số Tác Phẩm Văn Học Lớp 9
  • I. Mở Bài

    Kim Lân là nhà văn rất am hiểu cuộc sống của người nông dân ở nông thôn miền Bắc. Tất cả các truyện của ông đều xoay quanh cảnh ngộ và sinh hoạt của người nông dân. Truyện Làng được Kim Lân sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp và đăng trên tạp chí văn nghệ năm 1948. Nhân vật chính của truyện là hình ảnh tiêu biểu và chân thực của người nông dân trong mới ngày đầu tiếp xúc với cách mạng, với lòng yêu làng, yêu nước sâu sắc, với sự hồ hởi say mê, tin yêu, chung thuỷ với kháng chiến, với Bác Hồ.

    Ông hai nhân vật chính trong truyện là một người yêu làng, yêu nước tình yêu làng của ông có những nét đặc sắc, riêng biệt được thể hiện thành một đức tính đáng quý.

    Là một nông dân suốt cuộc đời sống ở quê hương, gắn bó máu thịt với từng con đường, từng nếp nhà, thửa ruộng, từng ngọn cỏ, cành cây và biết bao người ruột thịt , xóm giềng, họ hàng gần xa, vậy mà giờ đây vì giặc ngoại xâm, ông 2 phải xa rời quê hương đi tản cư, sống nhờ nơi đất khách quê người. Do đó lòng ông đau đáu nhớ quê. Ban ngày lo bận việc sản xuất, ổn định cuộc sống, chiều rồi buổi tối ông hai lại sang hàng xóm giãi bày nỗi nhớ của mình.

    Trong câu chuyện, ông không ngớt lời khoe những cái đẹp, điều hay ở quê hương mình. Làng Chợ Dầu quê ông đẹp lắm, đường là phong quang sạch sẽ, cái cổng làng rộng như cổng thanh… Ông khoe cả cái “sinh phần”- lăng mộ- của viên tổng đốc người làng, mặc dầu đó là một chứng tích đau khổ của dân làng, trong đó có ông. Đặc biệt là ông hai khoái nhất khoe và kể nhiều nhất là những ngày đầu CMT8. Quê hương được giải phóng, thoát khỏi ách cường hào phong kiến và lũ tay sai thực dân. Dân làng ông bắt đầu cuộc sống mới. Đêm đêm rậm rịch tiếng bước chân của đoàn du kích tập quân sự, sáng, chiều râm ran tiếng trẻ em học bài… lại cả những tiếng hát của thanh niên ngân vang trong những buổi cả làng bàn việc nước, việc dân… nghe những chuyện ấy, mọi người đều thông cảm với lòng nhớ quê da diết của ông.

    Không chỉ nhớ mà ông còn luôn tự hào, cho rằng làng chợ Dầu của ông đẹp nhất nhì thiên hạ. Đó là một người yêu quê hương tha thiết bằng một tình cảm tự nhiên, hồn nhiên. Tình cảm đó bắt nguồn từ những kỉ niệm trong cuộc sống hằng ngày, từ những sự vật, con người gắn bó hàng ngày… Tình cảm đó thuần phác và trong sáng biết bao.

    Khi nghe tin làng chợ dầu theo Tây ông hai “cổ nghẹn đắng lại, da mặt tê rân rân” . Trước hết là sự xót xa của ông về làng mình , sự phản bội của nơi chôn rau cắt rốn của mình . Ông lão tủi hổ, bàng hoàng trước sự việc đó . Tình yêu làng vẫn thắm thiết trong ông, làng chợ Dầu vẫn là nới ông gửi gắm sinh mệnh, danh dự và niềm hãnh diện , tự hào.

    Vậy mà bây giờ… ông lão nghĩ tới việc trở về làng. Song ý nghĩ đó ông gạt phắt đi. Trong sự tuyệt vọng, đau khổ này, lối thoát về làng chợ Dầu loé lên như một tia hi vọng rồi lại tắt ngấm . Từ lâu ông yêu làng ông, mong được trở về với làng ông song trong ông tình yêu nước mạnh hơn , thiêng liêng hơn: không vì làng mà bỏ nước, bỏ kháng chiến.

    Giữa sự giằng co trong tâm hồn , ông hai đã thốt lên đầy đau đớn song đầy quyết tâm: “Làng thì yêu thật đấy , nhưng làng theo Tây thì phải thù .. Anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông, cái lòng bố con ông là như thế đấy , có bao giờ dám đơn sai. Chết thì bao giờ dám đơn sai.” Khi ông tâm sự với con, ông Hai muốn bảo con nhớ cau”nhà ta ở làng chợ dầu”. Đồng thời ông nhắc con- cũng là tự nhắc mình “Ủng hộ Hồ Chí Minh”. Tình quê và lòng yêu nước của những người nông dân ấy rất sâu nặng và thiêng liêng biết bao. Ông hai đã trải qua những buồn vui, đau khổ, những tự hào, chua chát, những nguyện vọng và hi vọng… hài hoà , gắn bó giữa quê hương và tổ quốc.

    Trong cuộc kháng chiên gian khổ ấy thì cách mạng đã đổi đời cho những người nhân dân như ông, ông nguyện đi theo và trung thành với cách mạng. Gặt sang một bên tình cảm riêng của mình mà đi theo kháng chiến, không chịu theo Tây, sống với Tây. Tình cảm gắn bó với cách mạng , với Bác Hồ của những người nông dân như ông nó chất phác, mộc mạc, sâu sắc, nó xuất phát từ đáy lòng, máu thịt.

    Vốn là những con người chân thực, chất phác, những ngày đầu tiếp xúc với cách mạng họ vẫn có sự bỡ ngỡ và lạ lẫm ban đầu. Cảm giác ấy nhanh chóng tan đi , người ông dân đón nhận cách mạng với một tình cảm chân thành một lòng hăm hở. Cuộc đời nông dân Việt Nam rẽ sang một bước ngoặt mới tươi sáng hơn. Họ nô nức, háo hức hoà chung vào phong trào cách mạng cả nước, họ hăng hái cầm súng bảo vệ quê hương. Cách mạng trở thành một phần máu thịt của người nông dân, có những người như ông hai day dứt, tủi hổ, khổ sợ khi mình bị hiểu lầm là không trung thành với cách mạng song vẫn không bỏ cách mạng.

    Đó là lòng trung thành , là tình cảm sâu sắc, bền chặt mà người nông dân dành cho cách mạng. Cách mạng Tháng Tám đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh trong lòng họ. người nông dân đứng lên kiên quyết giữ làng, giữ nước , đâu còn là hình ảnh con người khổ nhục,khiếp sợ từ tên đầy tớ nhà giàu. Họ- những người như ông hai đứng lên đào hào, đắp luỹ trực tiếp chống lại quân thù . Lòng yêu nước nồng nàn, sự trung thành với cách mạng tất cả trở thánh sức mạnh khiến họ đứng lên bảo vệ quê hương, bảo vệ chính mình. Cách mạng mang đến cho họ cuộc đời mới, họ phải bảo vệ lấy hạnh phúc đó của mình.

    III. Kết Bài

    Vẻ đẹp tâm hồn của ông hai làng Chợ Dầu tiêu biểu cho những người nông dân Việt Nam tuy trình độ văn hoá thấp nhưng đã có ý thức giác ngộ cao, tha thiết yêu quê hương, Tổ quốc. Nói cách khác, quê hương- Tổ quốc đối với mỗi người Việt Nam chúng ta luôn gắn bó trong niềm tự hào nồng thắm! Sự mở rộng và thống nhất tình yêu quê hương trong tình yêu đất nước là nét mới trong nhận thức và tình cảm của quần chúng cách mạng mà văn học thời kháng chiến chống pháp đã trú trọng làm nổi bật. Truyện ngắn làng của Kim Lân là một trong những thành công đáng quý ấy!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Làng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Làng Ngắn Nhất
  • Em Hãy Thuyết Minh Về Một Tác Phẩm Tự Sự Đã Học Trong Chương Trình Ngữ Văn 9
  • Soạn Bài: Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh Văn 9 Trang 28 Ngắn Gọn Nhất: Cho Đề Bài: Con Trâu Ở Làng Quê Việt Nam
  • Trọn Bộ Nghị Luận Văn Học Liên Quan Đến Bài Thơ “làng” Kim Lân

    --- Bài mới hơn ---

  • Ý Nghĩa Nhan Đề Một Số Tác Phẩm Ngữ Văn 9
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Của Một Số Tác Phẩm Văn Học Lớp 9
  • Bài 21. Phương Pháp Tả Cảnh
  • Soạn Bài Luyện Tập Tóm Tắt Văn Bản Tự Sự Siêu Ngắn
  • 10 Bài Tóm Tắt Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa Của Nguyễn Thành Long Hay Nhất
  • Toàn bộ các dạng bài nghị luận văn học “Làng” Kim Lân lớp 9 ôn thi lớp 10 dễ dàng và đầy đủ theo hệ thống ôn tập và tự học chi tiết.

    TRỌN BỘ BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC “LÀNG” KIM LÂN LỚP 9

    Đề 1: Tình yêu làng và lòng yêu quê hương, tinh thần kháng chiến của người nông dân được thể hiện sâu sắc trong truyện ngắn Làng của Kim Lân. Hãy phân tích nhân vật ông Hai để làm sáng tỏ điều đó.

    Dàn ý suy nghĩ về nhân vật ông Hai – Nhân vật ông Hai là nhân vật chính trong tác phẩm “Làng” của nhà văn Kim Lân. Ở nhân vật ông Hai như mang đến cho người đọc những sự suy nghĩ về tình cảm yêu làng Chợ Dầu của ông. Thông qua đó khái quát lên tính tình cương trực yêu ghét rạch ròi của những người lao động trong xã hội cũ, họ luôn luôn tin yêu vào Đảng vào bác Hồ kính yêu

    A, Mở bài

    – Kim Lân được xem chính là nhà văn chuyên viết về cuộc sống nông thôn.

    – Có thể nói đuộc một trong những tác phẩm của ông là truyện ngắn Làng với nhân vật chính là ông Hai – một người phải rời làng của mình để đến nơi tản cư.

    B, Thân bài

    Luận điểm 1: Tình yêu làng của nhân vật ông Hai

    + Luận cứ 1: Tình yêu của ông Hai dường như thể hiện được niềm tự hào cũng như sự kiêu hãnh của ông hai về làng của mình

    – Dù đã rời làng nhưng ông Hai dường như vẫn:

    – Nghĩ về làng của mình, ông lại nghĩ về những buổi làm việc cùng anh em

    – Lo lắng và lúc nào cũng nhớ đến làng: “Chao ôi! Ông lão nhớ cái làng này quá “

    + Luận cứ 2 : Tâm trạng của nhân vật ông Hai khi nghe tin làng Chợ Dầu đi theo giặc :

    – Lúc này đây thì cổ ông nghẹn, giọng lạc hẳn đi.

    – Lúc đầu ông Hai dường như cũng không tin nên hỏi lại.

    – Ông Hai thật cảm thấy quá xấu hổ nên đã chép miệng, và đánh trống lảng đi “Hà, nắng gớm, về nào…” thế rồi ông cứ rồi cúi mặt mà đi.

    – Cho đến khi về nhà, ông nằm vật ra gường. Người đọc như nhận thấy được cũng chính tối hôm đó thì trằn trọc mà không sao ngủ được khi biết làng chợ Dầu theo Tây.

    – Ông Hai lúc này đây dường như cứ nhìn dám trẻ ngây thơ mà bị mang tiếng việt gian rồi nước mắt cứ chan chứa.

    – Ông Hai khi đã điểm lại mọi người trong làng nhưng thấy ai cũng có tinh thần cả nên ông dường như càng lại không tin lại có ai làm điều nhục nhã ấy.

    – Nhân vật ông Hai sợ sẽ bị bà chủ nhà đuổi vì ông biết rằng nơi đây ai cũng khinh bỉ và đồng thời cũng không chứa chấp Việt gian.

    +Luận cứ 3: Tâm trạng ông Hai ngay sau khi nghe tin làng được cải chính

    – Mặt ông Hai lúc này đây lại như cứ vui tươi, rạng rỡ hẳn lên.

    – Thế rồi khi về nhà, ông chia quà cho lũ trẻ xong liền chạy khắp xóm để loan tin.

    – Nhân vật ông Hai qua nhà bác Thứ và kể chuyện làng của mình.

    _Luận điểm 2: Tình yêu nước mạnh mẽ trong nhân vật ông Hai

    – Người đọc như cũng nhận thấy được chính tình yêu làng là cơ sở cho tình yêu nước.

    – Các chi tiết trong truyện đã nê chứng tỏ tình yêu làng, yêu nước của nhân vật khi nghe được tin làng theo Tây được cái chính là “Ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!” khi nghe các tin dân ta đánh Tây từ phòng thông tin.

    C, Kết bài

    – Nhân vật ông Hai là một người rất rất yêu làng và yêu nước của mình thông qua câu chuyện “Làng” của nhà văn Kim Lân.

    -Hai điều trên đã được tác giả Kim Lân như dã làm rõ qua cách xây dựng nhiều tình huống truyện khác nhau. Việc miêu tả tâm lí nhân vật qua những cuộc đối thoại hay đó chính là những cuộc độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng cho nhân vật, khiến nhân vật sống động hơn.

    Ông Hai cũng như bao người nông dân quê từ xưa luôn gắn bó với làng quê của mình.Ông yêu quí và tự hào về làng Chợ Dầu và hay khoe về nó một cách nhiệt tình, hào hứng. Ở nơi tản cư ông luôn nhớ về làng, theo dõi tin tức kháng chiến và hỏi thăm về Chợ Dầu .

    Tình yêu làng của ông càng được bộc lộ một cách sâu sắc và cảm động trong hoàn cảnh thử thách. Kim Lân đã đặt nhân vật vào tình huống gay gắt để bộc lộ chiều sâu tình cảm của nhân vật. Đó là tin làng chợ Dầu lập tề theo giặc. Từ phòng thông tin ra, đang phấn chấn, náo nức vì những tin vui của kháng chiến thì gặp những người tản cư,nghe nhắc đến tên làng, ông Hai quay phắt lại, lắp bắp hỏi, hy vọng được nghe những tin tốt lành, nào ngờ biết tin dữ: “Cả làng Việt gian theo Tây “. Tin bất ngờ ấy vừa lọt vào tai đã khiến ông bàng hoàng, đau đớn : “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại,da mặt tê rân rân ,ông lão lặng đi tưởng như đến không thở được, một lúc lâu ông mới rặn è è nuốt một cái gì vướng ở cổ. Ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi “nhằm hy vọng điều vừa nghe không phải là sự thật. Trước lời khẳng định chắc chắn của những người tản cư,ông tìm cách lảng về. Tiếng chửi văng vẳng của người đàn bà cho con bú khiến ông tê tái :”cha mẹ tiên sư nhà chúng nó, đói khổ ăn cắp ăn trộm bắt được người ta còn thương, cái giống Việt gian bán nước thì cứ cho mỗi đứa một nhát”.

    Về đến nhà ông chán chường “nằm vật ra giường”, nhìn đàn con nước mắt ông cứ giàn ra ” chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư?”. Ông căm thù những kẻ theo Tây, phản bội làng, ông nắm chặt hai tay lại mà rít lên: “chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này “. Niềm tin, nỗi ngờ giằng xé trong ông. Ông kiểm điểm lại từng người trong óc, thấy họ đều có tinh thần cả “có đời nào lại cam tâm làm cái điều nhục nhã ấy “. Ông đau xót nghĩ đến cảnh “người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước”.Suốt mấy ngày liền ông chẳng dám đi đâu,”chỉ ở nhà nghe ngóng binh tình”, lúc nào cũng nơm nớp tưởng người ta đang để ý, đang bàn tán đến cái chuyện làng mình. Nỗi ám ảnh, day dứt, nặng nề biến thành sự sợ hãi thường xuyên trong ông. Ông đau đớn, tủi hổ như chính ông là người có lỗi…

    Tình thế của ông càng trở nên bế tắc, tuyệt vọng khi bà chủ nhà có ý đuổi gia đình ông với lý do không chứa người của làng Việt gian. Trong lúc tưởng tuyệt đường sinh sống ấy,ông thoáng có ý nghĩ quay về làng nhưng rồi lại gạt phắt ngay bởi “về làng tức là bỏ kháng chiến, bỏ Cụ Hồ là “cam chịu quay trở lại làm nô lệ cho thằng Tây”.

    Tình yêu làng lúc này đã lớn rộng thành tình yêu nước bởi dẫu tình yêu, niềm tin và tự hào về làng Dầu có bị lung lay nhưng niềm tin và Cụ Hồ và cuộc kháng chiến không hề phai nhạt. Ông Hai đã lựa chọn một cách đau đớn và dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây mất rồi thì phải thù!”. Dù đã xác định thế nhưng ông vẫn không thể dứt bỏ tình cảm của mình đối với quê hương. Bởì thế mà ông càng xót xa,đau đớn…

    May thay, tin đồn thất thiệt về làng Chợ Dầu được cải chính. Ông Hai sung sướng như được sống lại. Ông đóng khăn áo chỉnh tề đi với người báo tin và khi trở về “cái mặt buồn thỉu mọi ngày bỗng tươi vui rạng rỡ hẳn lên “. Ông mua cho con bánh rán đường rồi vội vã,lật đật đi khoe với mọi người. Đến đâu cũng chỉ mấy câu”Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ !Đốt sạch !Đốt nhẵn ! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên trên này cải chính. Cải chính cái tin làng chợ Dầu chúng tôi Việt gian theo Tây ấy mà. Láo!Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả.” “Ông cứ múa tay lên mà khoe với mọi người”. Ông khoe nhà mình bị đốt sạch, đốt nhẵn như là minh chứng khẳng định làng ông không theo giặc. Mất hết cả cơ nghiệp mà ông không hề buồn tiếc, thậm chí còn rất sung sướng,hạnh phúc. Bởi lẽ,trong sự cháy rụi ngôi nhà của riêng ông là sự hồi sinh về danh dự của làng chợ Dầu anh dũng kháng chiến. Đó là một niềm vui kỳ lạ,thể hiện một cách đau xót và cảm động tình yêu làng, yêu nước, tinh thần hy sinh vì cách mạng của người dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược.

    Cách miêu tả chân thực, sinh động, ngôn ngữ đối thoại, độc thoại và độc thoại nội tâm đa dạng, tự nhiên như cuộc sống cùng với những mâu thuẫn căng thẳng, dồn đẩy, bức bối đã góp phần không nhỏ tạo nên thành công của câu chuyện, đồng thời còn thể hiện sự am hiểu và gắn bó sâu sắc của nhà văn với người nông dân và công cuộc kháng chiến của đất nước.

    Qua nhân vật ông Hai ta hiểu thêm về vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược: Yêu làng, yêu nước và gắn bó với kháng chiến. Có lẽ vì thế mà tác phẩm “Làng ” xứng đáng là một trong những truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại.

    Kim Lân là một nhà văn có sở trường viết truyện ngắn với đề tài về người nông dân. Truyện ngắn “Làng” được sáng tác năm 1948 trong thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Truyện viết về vẻ đẹp ông Hai với tình yêu làng quê mãnh liệt, tin tưởng vào Đảng, vào cách mạng và có lòng tự trọng coi danh dự của làng quê hơn tài sản vật chất. Đọc truyện ngắn “Làng” người đọc rất ấn tượng về nhân vật ông Hai là người dân hiền lành, cần cù, chăm chỉ, chất phác và có tình yêu dành cho làng chợ Dầu luôn bùng cháy mãnh liệt. Khi chiến tranh xảy ra ông phải đi tản cư ” tẩn cư âu cũng là kháng chiến” ông nhớ làng, khoe về làng đẹp, giàu: nhà ngói san sát, xầm uất. Ông vui, tự hào, hãnh diện về làng. Ông còn khoe cả cái sinh phần của viên tổng đốc mà không nhận ra viên tổng đốc là kẻ thù của mình. Ánh sáng cách mạng đã soi rọi tới cuộc đời tăm tối của ông để biết ai là kẻ thù để ông không còn khoe về nó nữa. Ông từng tham gia xây dựng những công trình kháng chiến: đào đường, đắp u, xẻ hào… những công việc vất vả nhưng ông tham gia với tinh thần hăng say, vui vẻ, trách nhiệm. Tình yêu làng quê của ông Hai không chỉ thể hiện bằng lời nói mà bằng hành động cụ thể người nông dân ấy sẵn sàng bảo vệ tổ quốc. Tình yêu làng quê đã hòa quyện trong tình yêu nước. Ông Hai có thói quen là đến phòng thông tin niềm vui sướng khi nghe được tin chiến thắng của quân ta dù có nhỏ nhưng với suy nghĩ “tích tiểu thành đại làm gì mà thằng Tây chả bước sớm”. Những suy nghĩ ấy của người nông dân về kẻ thù khi còn rất đơn giản nhưng nó cũng thể hiện niềm tin nhất định thành công của cách mạng. Đó chính là nhận thức tư tưởng mới của ông Hai khi có ánh sáng cách mạng.

    Nhà văn đã khéo léo đưa vào tình huống truyện bất ngờ được đẩy lên cao trào khi để nhân vật bộc lộ rõ một chuỗi diễn biến trong tâm lí. Tin làng chợ Dầu theo Tây giồng như ” một gáo nước lạnh” làm tắt ngấm ngọn lửa yêu làng bấy lâu trong lòng ông Hai. Tin đến đột ngột bất ngờ khiến cho ông choáng váng ” tưởng như không thở được” tưởng như tai nghe nhầm. Nhưng rồi nghe rõ tên người tên làng khiến cho ông Hai xấu hổ. Câu nói ” Hà, nắng gớm, về nào!” là cái cớ để ông lảng tránh mọi người ra về. Ngòi bút của nhà văn hướng tới miêu tả hình ảnh của ông Hai đi trên đường với dáng vẻ đi nhanh, mặt cúi gằm vì trong lòng thấy xấu hổ, nhục nhã. Những giọt nước mắt đã rơi xuống khi nhìn thấy con với ý nghĩ: ” Chúng nó cũng bị người ta rẻ rung, hắt hủi đấy ư?”, “Ai người ta chứa. ai người ta buôn bán mấy.” dòng ngôn ngữ độc thoại nội tâm kết hợp với câu hỏi tu từ diễn tả nỗi lo lắng của ông Hai cho con, cho những người dân làng chợ Dầu. Và rồi bao nỗi lo lắng tủi nhục cũng biến thành cơn giận dữ tiếng chửi đổng nhằm vào lũ Việt gian. Hai chữ Việt gian đã trở thành vết nhơ, vết nhục khó gột rửa trong lòng ông Hai mà khiến mọi người đều căm ghét. Chính trong lúc đau đớn ấy ông Hai hướng về những người đang ở lại làng với niềm tin chắc chắn ” họ quyết tâm một sống một chết với giặc” nhưng rồi cái tin làng chợ Dầu theo Tây lại làm cho ông nghi ngờ ” Không có lửa làm sao có khói”. Ông từng có ý định về làng nhưng lại không về “Làng thì yêu thật đấy nhưng làng theo Tây thì phải thù”. Là một người đã từng yêu làng đến cháy bỏng mãnh liệt mà giờ đây phải nói câu thù làng chắc hẳn trong lòng ông vô cùng đau đớn. Ngòi bút nhà văn tập trung miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật, khắc họa một cách sinh động chân dung nhân vật ông Hai nỗi xấu hổ, tủi nhục, đau đớn, lo lắng, tức giận khi nghe được tin làng theo Tây.

    Và rồi niềm tin của ông Hai trở thành hiện thực khi ông nhận được tin làng cải chính. Lòng kiêu hãnh của ông trở lại thói quen khoe tin làng không theo Tây khoe cả nhà bị Tây đốt. Trong lời khoe ấy vẻ đẹp nhân vật ông Hai nhận ra lòng tự trọng coi danh dự của làng quê hơn tài sản của mình.

    Đoạn trích không chỉ thành công về nội dung mà còn thành công về nghệ thuật. Xây dựng cốt truyện tập trung vào sự việc người dân đi tản cư. Tạo tình huống truyện bất ngờ, đặc sắc. Miêu tả diễn biến tâm lí nhân vật thông qua các hình thức ngôn ngữ đối thoại, độc thoại nội tâm. Lời văn đậm chất khẩu ngữ của người dân Bắc Bộ. Đoạn trích đã viết về vẻ đẹp nhân vật ông Hai người có tình yêu làng quê mãnh liệt, có lòng tự trọng. . Với nhà văn Kim Lân người đã từng sống và gắn bó am hiểu đời sống tâm lí của người nông dân để rồi nhà văn nhìn thấy ẩn sâu vẻ đẹp bình dị chất phác ấy của ông Hai hay của người nông dân là tình yêu làng, yêu nước. Họ là đội quân chủ lực của cuộc kháng chiến chính điều đó đã làm nên thành công cho tác phẩm, cho nhà văn mà các nhà văn cùng thời chưa làm được.

    Đọc xong truyện ngắn Làng nhưng tinh thần, vẻ đẹp của nhân vật ông Hai, của người nông dân thì để lại trong lòng người đọc những ấn tượng khó quên. Hiểu về họ ta càng thêm yêu quý và khâm phục họ hơn. Nhìn lại người nông dân trong thời đại ngày hôm nay họ vẫn phát huy truyền thống yêu làng, yêu nước xây dựng quê hương để trở thành làng quê đẹp, nông thôn mới.

    Ông Hai là một người yêu làng, luôn tự hào về làng của mình. Trong một dịp tình cờ, ông nghe được tin làng chợ Dầu yêu quý của ông đã trở thành Việt gian theo Pháp, phản bội lại kháng chiến, phản bội lại Cụ Hồ. Khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, mặt tê rân rân. Ông lão lặng hẳn đi, tưởng như không thể được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ…giọng lạc hẳn đi”. Chỉ một câu văn ngắn gọn, nhà căn Kim Lân đã cụ thể hóa cái sững sờ, ngạc nhiên cao độ, đến hốt hoảng khi nghe tin đột ngột. Không ngạc nhiên, sững sờ sao được khi ông luôn yêu quý và tự hào về làng chợ Dầu: bà con trong xóm, cây lúa ngoài đồng- ai, cái gì cũng tốt cả mà bây giờ cơ sự lại xảy ra đến mức “Việt gian từ thằng chủ tịch mà đi”

    Về đến nhà nhìn đàn con chơi đùa sậm sụi đáng thương với nhau, ông Hai vật ra giường “giàn nước mắt”. Đấy là những giọt nước mắt đau đớn, buồn tủi. Ông đau đơn, buồn tủi vì nghĩ đến sự khinh bỉ, hắt hủi của mọi người. Rồi đây người ta xua đuổi cả những đứa trẻ của làng Việt gian nữa. Chúng nhỏ bé, đáng thương nào có nỗi gì. Điều đó chẳng đau đớn, xót xa, buồn khổ lắm sao? Càng nghĩ, ông càng căm giận đến cùng những kẻ bán nước theo giặc để nhục làng, bôi xấu danh dự của làng, trong đó có ông. Ông coi chúng là “chúng bay”, không cùng phường, cùng hội, càng không phải giống người! Rít lên trong cuống họng, ông nguyền rủa: ” Chúng mày ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước nhục nhã thế này”. Ở đây, Kim Lân đã sử dụng ngôn ngữ độc thoại để bộc lộ tâm trạng nhân vật.

    Mường tượng, hình dung đến sự tẩy chay của mọi người, ông không khỏi lo lắng “rồi đây biết làm ăn buôn bán ra sao? Ai người ta chứa? Ai người ta buôn bán mấy…?” Tâm trạng lo lắng được ông đẩy lên thành lo sợ. Ông cáu gắt với bà vô cớ. Ông trằn trọc thở dài. Ông bủn rủn tay chân. Ông nín thở lắng nghe. Ông nằm im không nhúc nhích. Hóa ra ông sợ mụ chủ nhà khó tính, lắm điều biết chuyện sẽ “không ra cái gì bây giờ”. Sau đó ông không dám ra khỏi nhà, không đi tới đâu, lúc nào cũng nghĩ đến “chuyện ấy”. Một đám túm lại ông cũng để ý. Dăm bẩy tiếng nói cười xa xa ông cũng chột dạ. Thoáng nghe những tiếng “Tây”, “cam nhông”, “Việt gian” là ông lại lủi ra góc nhà, thở dài não nuột: “Thôi, lại chuyện ấy rồi”. Thông qua hành vi, cảm giác, ý nghĩ của nhân vật, Kim Lân đã diễn tả rất cụ thể nỗi ám ảnh nặng nề thành sự sợ hãi trong lòng ông Hai.

    Cuối cùng, tâm trạng ông Hai được bộc lộ trong tình huống thử thách căng thẳng, quyết liệt hơn: Làng chợ Dầu theo giặc thì làng chợ Dầu không ai chứa. Ở hoàn cảnh này, tâm trạng của ông Hai trở nên u ám, tuyệt vọng và bế tắc. Ông Hai đã phải trải qua một cuộc đấu tranh nội tâm dữ dội, đó là về hay không về làng chợ Dầu. Không về làng chợ Dầu thì ông không biết đi đâu, còn về làng thì ” Về bây giờ là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ”. Cuối cùng, ông Hai đã quyết định dứt khoát: “Làng thì yêu thật nhưng làng mà theo Tây thì phải thù”. Quyết định, tâm trạng và thái độ của ông Hai cho thấy nỗi lo cơm áo dẫu nặng thế nào cũng không đáng sợ bằng nỗi nhục bán nước, tình yêu làng quê dẫu tha thiết bao nhiêu cũng không lớn hơn mà gắn bó với tình yêu Tổ quốc.

    Khi đích thân ông chủ tịch xã lên tận chỗ ông Hai báo lại sự việc: “Hóa ra toàn sai sự mục đích cả”. Khi ấy, nỗi vui mừng trong lòng ông Hai thật là vô bờ bến. Ông mua quà cho lũ trẻ. Ông đi đầu thôn cuối xóm, lăng xăng chạy tới chạy lui, rời nhà này sang nhà kia hả hê loan báo: “Tây nó đốt nhà tôi rồi. Đốt nhẵn”. Ông nói về sự mất mát hệt như khi khoe giàu, khoe đẹp làng mình vì đó là sự cải chính hùng hồn nhất bảo vệ danh dự cho ông, cho làng chợ Dầu.

    Như vậy, khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc, diễn biến tâm trạng của ông Hai vô cùng phức tạp, ông đau khổ, tuyệt vọng sau đó lại đấu tranh dữ dội giữa suy nghĩ về làng hay không về làng. Nhà văn Kim Lân đã đặt ông Hai vào một tình huống có thể thấy là vô cùng éo le, tuy nhiên sau tình huống ấy, tính cách và con người của ông Hai cũng được bộc lộ một cách rõ nét, trọn vẹn. Ông đặt tình yêu nước lên trên hết, dù yêu quê nhưng ông một lòng trung thành với đất nước, với cụ Hồ. Qua nhân vật ông Hai, chúng ta cũng thấy, Kim Lân am hiểu sâu sắc con người, thế giới tinh thần của con người, nhất là người dân quê.

    Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975 đã xây dựng thành công hình ảnh những con người Việt Nam kiên cường, bất khuất với một tinh yêu quê hương đất nước tha thiết, sâu nặng. Bên cạnh hình ảnh những chiến sĩ trực tiếp chiến đấu trên mặt trận còn có những con người hi sinh lặng thầm nơi hậu phương đế góp phần vào thắng lơi của kháng chiến. Đó là những người nông dân có lòng yêu nước thiết tha, bình dị, sâu sắc.

    Truyện ngắn Làng của Kim Lân đã xây dựng thành công hình ảnh nhân vật ông Hai – một người nông dân chân chất nhưng mang nặng tình yêu làng và lòng yêu quê hương, có tinh thần kháng chiến mạnh mẽ.

    Phải đi tản cư do làng bị địch chiếm đóng nhưng ông lại không lúc nào nguôi nỗi nhớ về làng mìríh. Đó là nỗi nhớ da diết của một con người cả đời gắn bỏ sâu nặng với mảnh đất nơi mình sinh ra, lớn lên. Tình yêu ấy được Kim Lân cảm nhận một cách sâu sắc và thể hiện hết sức giản dị. chân thành.

    Những ai đã đọc Làng đều cảm nhận được ở ông Hai tình yêu, sự gắn bó sâu sắc với làng xóm, với quê hương. Đối với người nông dân chất phác ấy, tình cảm với làng quê, thôn xóm là tình cảm tự trong tim, ngấm sâu vào máu thịt. Cũng như bao người dân lao động khác, cả một đời ông Hai gắn bó với mảnh đất quê nghèo mà nặng sâu ân tình. Cái làng Chợ Dầu ấy đã trở thành nguồn vui sống của ông. Tác giả đã để cho ông Hai bộc lộ tình yêu đó một cách chân thật, nồng nhiệt, vừa có những .nét quen thuộc vừa có những nét riêng biệt chỉ có ở ông Hai. Yêu làng, ông yêu tất cả những gì thuộc về làng, thậm chí yêu cả những cái mà ông và biết bao người đã phải khổ sở vì nó. Ông Hai tự hào vì làng Chợ Dầu của ông có những ngôi nhà ngói san sát, sầm uất, đường trong làng toàn lát bằng đá xanh, trời mưa đi từ đầu làng đến cuối xóm bùn không dính đến gót chân. Tháng năm ngày mười phơi rơm và thóc tốt thượng hạng, không có lấy một hat thóc đất… Ông tự hào về tất cả những nét độc đáo, những thứ đả làm nên bề dày lịch sử của làng ông.

    Nhưng tình yêu làng của người nông dân ấy không bất biến mà thay đổi theo thời gian, theo sự biến chuyển của thời đại. Kháng chiến nổ ra mang theo những luồng tư tưởng mới chiếu rọi tâm hồn ông. Giờ đây, đối với ông Hai, cái lăng cụ Thượng, cái sinh phần kia đều đáng căm thù; niềm tin về làng là những ngày khởi nghĩa dồn dập, những buổi tập quán sự có cụ râu tóc bạc phơ cũng vào gậy tham gia; những hố, những ụ, những hào ,chòi phát thanh. Tất cả những điều đó, từ những cái nhỏ nhặt cho đến điều lớn lao, đều trở thành đối tượng của tình yêu tha thiết, đậm sâu trong ông. Qua những lời khoe của ông Hai, ta có cảm tưởng như cảnh vật, làng xóm đã hằn in trong ông chiếm trọn con tim, khối óc người nông dân ấy.

    Yêu làng, ông Hai có nhu cầu thể hiện, thổ lộ tình yêu ấy với tất cả mọi người. Đi đến đâu ông cũng khoe về cái làng của ông. Ông say sưa kể về làng của mình mà không cần biết người nghe có chú ý hay không. Mỗi khi bắt đầu nói về làng, “hai con mắt ông sáng hẳn lên, cái mắt biến chuyển”. Chỉ một chi tiết ấy thôi, Kim Lân đã khắc họa thành công tình cảm thiêng liêng của ông Hai dành cho mảnh đất quê mình. Tình yêu ấy luôn ấm nóng trong trái tim ông và càng trở nên mạnh mẽ hơn khi ông phải xa làng. Trong những ngày xa quê, sống nơi sơ tán xa lạ. chính tình yêu làng đã trở thành sức mạnh trong ông. Những khi mệt nhọc, chỉ cần nghĩ về làng, kể chuyện làng là ông quên hết tất cả.

    Nếu như cuộc sống cứ diễn ra yên bình như thế thì tình yêu làng của ông Hai mới chỉ là “tâm lí làng xã” của những người dân quê Việt Nam – những con người cả đời gắn bó với luỹ tre, cây đa, bến nước, sân đình; yêu nơi “chôn rau cắt rốn” bằng một tình yêu bản năng, máu thịt. Kim Lân đã để cho nhân vật trải qua tình huống truyện độc đáo: ông Hai nghe tin làng theo Tây. Đây chính là tác nhân làm bùng nổ tình yêu nước thiết tha, sâu đậm của ông. ở người nông dân ấy, tình yêu làng gắn liền với lòng yêu nước: Ta bắt gặp ở đây chân lí về cội nguồn của lòng yêu nước theo quan điểm của nhà văn Liên Xô (cũ) I. Ê-ren-bua: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất.. Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”‘.

    Nghe tin làng theo giặc, “cổ ông nghẹn ắng lại, da mặt tê rân rân.., ông lão lảng đi, tưởng như không thể thở được”. Trong ông đã diễn ra một cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt: ông tủi nhục, đớn đau, ông tự giày vò, ông hoài nghi rồi lại tự nhủ mình phải tin vì mọi chuyện đã hết sức rõ ràng. Cuốì cùng, ông cay đắng rít lên: “Chúng bay ăn miệng cơm hay ăn miệng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này…”. Tiếng rít ấy là tiếng nói của lòng căm hờn, sự căm giận đang ngùn ngụt trong lòng ông Hai. Trong ông đang có cuộc giằng co dữ dội: Ông yêu làng, làng ông đáng tự hào là thế, mà giờ lại theo Tây. Tình cảm của ông phải thế nào đây? Nhưng sự giằng co- ấy nhanh chóng đi đến kết luận: “Làng thì yêu thật, nhưng làng theo Tây thì ta phải thù”. Một thái độ dứt khoát, một tình yêu mạnh mẽ nhưng không mù quáng. Tình yêu làng trong ông rất mãnh liệt, nhưng làng phải gắn với nước. Giờ đây, làng Chợ Dầu của ông theo Việt gian, tức là hại nước, hại cách mạng thì không thế yêu làng như xưa được nữa. Niềm đau, sự oán trách cũng như thái độ kiên quyết… tất cả, tất cả đều là biểu hiện sống động nhất của tình yêu nước trong ông Hai.

    Những diễn biến trong cảm xúc, tâm trạng, những suy nghĩ và cuộc đấu tranh nội tâm gay gắt của ông Hai trong những ngày nghe tin làng theo Tây chính là tình huống giúp Kim Lân khắc họa rõ nét hơn bức chân dung tinh thần và lòng yêu nước sâu nặng, tình yêu làng tha thiết của ông Hai. Ông thấy tủi hổ vì niềm tự hào bấy lâu nay của ông giờ thành ra như thế. Ông chỉ biết “cúi gằm mặt xuống mà đi”, ông thương lũ con ông vì chúng có một quê hương đáng xấu hổ: “nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ tràn ra. Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu”. Suốt những ngày đó, ông không dám đi đâu, chỉ “nằm rũ ở trên giường, không nói gì”, “quanh quẩn trong cái gian nhà chật chội mà nghe ngóng”, lúc nào cũng nơm nớp lo âu. Ta bỗng hiểu hơn tại sao tác giả lại kể và tả tỉ mỉ những biểu hiện của tình yêu làng nơi ông Hai những ngày làng còn chưa bị đồn là theo Tây. Nó là sự đối nghịch với thái độ kiên quyết khi nghe tin làng làm Việt gian, là sự khẳng định mạnh mẽ tình yêu nước lớn lao trong ông. Tình yêu ấỵ không chỉ là bản năng mà đã trở thành ý thức của một công dân. Nó gắn liền với tình cảm dành cho kháng chiến và đối với Cụ Hồ, được thể hiện thật cảm động khi ông giãi bày tâm sự với đứa con út ngây thơ. Thực chất đó là lời thanh minh với Cụ Hồ, với anh em đồng chí và là lời tự nhủ của chính ông trong những lúc căng thẳng, thử thách. Ông mong “anh em đồng chí biết cho bố con ông. Cụ Hồ trên đầu trên cổ soi xét cho bố con ông”. Những lời bộc lộ chân tình ấy là biểu hiện của tấm lòng trung thành tuyệt đốì với cách mạng, với kháng chiến mà biểu tượng là Cụ Hồ; cũng là thể hiện tình yêu đất nước thiết tha của ông Hai. Tình cảm của một người nông dân nghèo đối với đất nước và kháng chiến thật sâu nặng và thiêng liêng: “chết thì chết có bao giờ dám đơn sai”.

    Niềm vui sướng vỡ òa khi ông Hai biết rằng làng mình vẫn là làng Kháng chiến Không còn nỗi tủi nhục đè nặng trong lòng, ông lại tiếp tục khoe về làng Chợ Dầu anh dũng của mình, “lại ngồi, trên chiếc chõng tre, vén quần lên tận bẹn mà nói chuyện về cái Làng của ông”. Người nông dân vốn gắn bó với nhà cửa ruộng vườn… Phải bỏ nhà ra đi họ đã xót xa lắm, ông Hai cũng thế. Nhưng ta lại bắt gặp hình ảnh ông Hai tất bật đi khoe cái tin “Tây nó đốt hết nhà tôi rồi, hết hẳn”, ông sung sướng bởi việc Tây đốt nhà là biểu hiện của làng ông trong sạch, làng ông không làm Việt gian. Làng vẫn là tình yêu, là niềm tự hào tha thiết của ông Hai. Nhà ông bị đốt hết nhưng như thế có là gì. Đó chỉ là một phần ông cống hiến cho đất nước. Tài sản riêng mất mát nhưng cách mạng, đất nước sẽ vững mạnh hơn, đó mới thực sự là niềm vui, là hạnh phúc. Tình yêu làng, yêu nước, hòa quyện trong tâm hồn người nông dân mộc mạc, chất phác thật đẹp biết bao. Làng của Kim Lân là một khúc ca về tình yêu quê hương đất nước mà những người lao động nghèo là những thanh âm trong trẻo, réo rắt nhất, để lại bao dư âm lắng đọng trong lòng độc giả.

    Đề 2: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

    Với người nông dân Việt Nam, có lẽ không có thứ tình cảm nào tự nhiên hơn tình yêu đất nước. Tình yêu ấy nhẹ nhàng thấm vào máu thịt qua tình cảm dành cho người thân, làng xóm, quê hương. Nó tưởng như xa xôi nhưng lại thật gần gũi, giản dị. Thấu hiểu những điều đó, nhà văn Kim Lân đã có một thiên truyện thật hay viết về tình yêu quê hương đất nước của người nông dân: “Làng”. Diễn biến tâm trạng nhân vật chính của tác phẩm – nhân vật ông Hai là một thành công lớn của tác giả khi viết về đề tài tình yêu đất nước.

    Tin làng Chợ Dầu theo giặc làm ông Hai khổ tâm là vì nó đã động chạm đến điều thiêng liêng, nhạy cảm nhất trong con người ông. Cái làng đối với người nông dân quan trọng lắm. Nó là ngôi nhà chung cho cộng đồng, họ mạc. Đời này qua đời khác, người nông dân gắn bó với cái làng như máu thịt, ruột rà. Nó là nhà cửa, đất đai, là tổ tiên, là hiện thân cho đất nước đối với họ. Trước Cách mạng tháng Tám, ông Hai thuộc loại khố rách áo ôm”, từng bị “bọn hương lí trong làng truất ngôi trừ ngoại xiêu dạt đi, lang thang hết nơi này đến nơi khác, lần mò vào đến tận đất Sài Gòn, Chợ Lớn kiếm ăn. Ba chìm bảy nổi mười mấy năm trời mới lại được trở về quê hương bản quán”. Nên ông thấm thía lắm cái cảnh tha hương cầu thực, ông yêu cái làng của mình như đứa con yêu mẹ, tự hào về mẹ, tôn thờ mẹ, một tình yêu hồn nhiên như trẻ thơ. Cứ xem cái cách ông Hai náo nức, say mê khoe về làng mình thì sẽ thấy. Trước Cách mạng tháng Tám, ông khoe cái sinh phần cùa viên tổng đốc làng ông: “Chết! Chết, tôi chưa thấy cái dinh cơ nào mà lại được như cái dinh cơ cụ thượng làng tôi.”. Và mặc dù chẳng họ hàng gì nhưng ông cứ gọi viên tổng đốc là “cụ tôi” một cách rất hả hê! Sau Cách mạng, “người ta không còn thấy ông đả động gì đến cái lăng ấy nữa”, vì ông nhận thức được nó làm khổ mình, làm khổ mọi người, là kẻ thù của cả làng: “Xây cái lăng ấy cả làng phục dịch, cả làng gánh gạch, đập đá, làm phu hồ cho nó. Trong lòng ông lão lại thấy náo nức hẳn lên”. Lúc này, niềm vui của ông chỉ là hàng ngày đi nghe tin tức thời sự kháng chiến và khoe về cái làng Chợ Dầu của ông đánh Tây. Thế mà, đùng một cái ông nghe được cái tin làng Chợ Dầu của ông theo Tây làm Việt gian

    Càng yêu làng, hãnh diện, tự hào về làng bao nhiêu thì bây giờ ông Hai lại càng thấy đau đớn, tủi hổ bấy nhiêu. Nhà văn Kim Lân đã chứng tỏ bút lực dồi dào, khả năng phân tích sắc sảo, tái hiện sinh động trạng thái tình cảm, hành động của con người khi miêu tả diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai trong biến cố này.

    Ông lão đang náo nức, “ruột gan ông lão cứ múa cả lên, vui quá!” vì những tin kháng chiến thì biến cố bất ngờ xảy ra. Cái tin làng Chợ Dầu theo giặc đã làm ông điếng người: “Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thở được. Một lúc lâu ông mới rặng è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ đâu đâu có người Chợ Dầu người ta cũng đuối như đuổi hủi. Mà cho dẫu vì chính sách của Cụ Hồ người ta chẳng đuổi đi nữa, thì mình cũng chẳng còn mặt mũi nào đi đến đâu”.

    Từ chỗ yêu tha thiết cái làng của mình, ông Hai đâm ra thù làng: “Về làm gì cái làng ấy nữa. Chúng nó theo Tây cả rồi, về làng tức là bỏ kháng chiến. Bỏ Cụ Hồ…”. Và “nước mắt ông giàn ra”. Ông lại nghĩ đến cảnh sống nô lệ tăm tối, lầm than trước kia. Bao nỗi niềm của ông không biết giãi bày cùng ai đành trút cả vào những lời trò chuyện cùng đứa con thơ dại:

    Là con thầy mấy lại con u.

    Thế nhà con ở đâu?

    Nhà ta ở làng Chợ Dầu.

    Thế con có thích về làng Chợ Dầu không?

    Thằng bé nép đầu vào ngực bố trả lời khe khẽ:

    Có.

    Ông lão ôm khít thằng bé vào lòng, một lúc lâu lại hỏi:

    Thẳng bé giơ tay lên, mạnh bạo và rành rọt:

    Ủng hộ Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

    Những lời đáp của con trẻ cũng là tâm huyết, gan ruột của ông Hai, một người lấy danh dự của làng quê làm danh dự của chính mình, một người son sắt một lòng với kháng chiến, với Cụ Hồ. Những lời thốt ra từ miệng con trẻ như minh oan cho ông, chân thành và thiêng liêng như lời thề đinh ninh vang lên từ đáy lòng ông: Anh em đồng chí biết cho bố con ông

    Cụ Hồ trên đầu trên cổ xét soi cho bố con ông.

    Cái lòng bố con ông là như thế đấy, có bao giờ dám đơn sai. Chết thì chết có bao giờ dám đơn sai:

    Nhà văn đã nhìn thấy những nét đáng trân trọng bên trong người nông dân chân lấm tay bùn. Nhân vật ông Hai hiện ra chân thực từ cái tính hay khoe làng, thích nói về làng bất kể người nghe có thích hay không; chân thực ở đặc điểm tâm lí vì cộng đồng, vui cái vui của làng, buồn cái buồn của làng và chân thực ở những diễn biến của trạng thái tâm lí hết sức đặc trưng của một người nông dân tủi nhục, đau đớn vì cái tin làng mình phản bội. Nếu như trong biến cố ấy tâm trạng của ông Hai đau đớn, tủi cực bao nhiêu thì khi vỡ lẽ ra rằng đó chỉ là tin đồn không đúng, làng Chợ Dầu của ông không hề theo giặc, sự vui sướng càng tưng bừng, hả hê bấy nhiêu, ông Hai như người vừa được hồi sinh. Một lần nữa, những thay đổi của trạng thái tâm lí lại được khắc hoạ sinh động, tài tình: “Cái mặt buồn thiu mọi ngày bỗng tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Mồm bỏm bẻm nhai trầu, cặp mắt hung hung đỏ hấp háy…”. Ông khoe khắp nơi: “Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn! Ra láo! Láo hết, chẳng có gì sất. Toàn là sai sự mục đích cả!”. Đáng lẽ ra ông phải buồn vì cái tin bị đốt nhà chứ? Nhưng ông đang tràn ngập trong niềm vui vì thoát khỏi cái ách “người làng Việt gian”. Cái tin ấy xác nhận làng ông vẫn nhất quyết đứng về phía kháng chiến. Cái tin ấy khiến ông lại được sống như một người yêu nước, lại có thể tiếp tục sự khoe khoang đáng yêu của mình, …Mâu thuẫn mà vẫn hết sức hợp lí, điếm này cũng là sự sắc sảo, độc đáo cùa ngòi bút miêu tả tâm lí nhân vật của nhà văn Kim Lân.

    Người đọc sẽ không thể quên được một ông Hai quá yêu cái làng của mình như thế. Mặt khác, cũng như các nhân vật quần chúng (chị cho con bú loan tin làng Chợ Dầu theo giặc), bà chủ nhà. Cái khó quên ở nhân vật này còn là nét cá thể hoá rất đậm về ngôn ngữ. Lúc ông Hai nói thành lời hay khi ông nghĩ, người đọc vẫn nhận thấy rất rõ đặc điểm ngôn ngữ của vùng quê Bắc Bộ, của một làng Bắc Bộ: “Nắng này là bỏ mẹ chúng nó”, “không đọc thành tiếng cho người khác nghe nhờ mấy”, “Thì vườn”, “có bao giờ dám đơn sai”, … Đặc biệt là nhà văn cố ý thể hiện những từ ngữ dùng sai trong lúc quá hưng phấn của ông Hai. Những từ ngữ “sai sự mục đích cả” là dấu ấn ngôn ngữ của người nông dân ở thời điểm nhận thức đang chuyển biến, muốn nói cái mới nhưng từ ngữ chưa hiểu hết. Sự sinh động, chân thực, thú vị của câu chuyện phần nào cũng nhờ vào đặc điểm ngôn ngữ này.

    Xây dựng thành công diễn biến tâm trạng nhân vật ông Hai là thành công lớn nhất của truyện ngắn “Làng”. Điều đó đã thể hiện được tài năng của nhà văn Kim Lân trong việc khám phá chiều sâu tâm lí nhân vật. Và hơn hết, điều đó đã xây dựng trong lòng độc giả một chân dung sống động, chân thực về một tấm lòng yêu quê hương, đất nước thiết tha cảm động của người nông dân Việt Nam chất phác, thật thà

    --- Bài cũ hơn ---

  • 3 Bài Văn Suy Nghĩ Về Nhân Vật Ông Hai Trong Tác Phẩm Làng Của Kim Lân
  • Nghị Luận Hình Ảnh Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Nghị Luận: Từ Nhân Vật Ông Hai (Làng
  • Soạn Bài: Làng (Ngắn Nhất)
  • Soạn Bài Làng Ngắn Nhất
  • Tóm Tắt Văn Bản Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Tin Học 10 Bài 16: Định Dạng Văn Bản
  • Giáo Án Môn Tin Học 10
  • Tóm Tắt Lão Hạc 10 Dòng
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nhà Văn Nam Cao
  • Soạn Bài Trao Duyên (Chi Tiết)
  • Bài tập làm văn tóm tắt văn bản làng lớp 9 ngắn gọn của Kim Lân ( khoảng 10 dòng ) bao gồm các văn bản tóm tắt chọn lọc. Hy vọng tài liệu tóm tắt văn bản làng này sẽ giúp các bạn học sinh nắm được nội dung cơ bản của truyện. Mời các bạn cùng tham khảo.

    Tóm tắt văn bản làng

    Tóm tắt văn bản làng – bài 1

    Tóm tắt văn bản làng – bài 2

    Truyện ngắn Làng của Kim Lân viết năm 1948, trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. Truyện kể về ông Hai rất yêu làng, yêu nước. Ông Hai phải đi tản cư nên ông rất nhớ làng và yêu làng, ông thường tự hào và khoe về làng Chợ Dầu giàu đẹp của mình, nhất là tinh thần kháng chiến và chính ông là một công dân tích cực.

    Ở nơi tản cư, đang vui với tin chiến thắng của ta, bất chợt ông Hai nghe tin dữ về làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây. Ông cụt hứng, đau khổ, xấu hổ. Ông buồn chán và lo sợ suốt mấy ngày chẳng dám đi đâu, càng bế tắc hơn khi mụ chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi không cho ở nhờ vì là người của làng Việt gian. Ông chỉ biết trút bầu tâm sự cùng đứa con trai bé nhỏ như nói với chính lòng mình: theo kháng chiến, theo Cụ Hồ chứ không theo giặc, còn làng theo giặc thì phải thù làng.

    Nhưng đột ngột, nghe được tin cải chính làng Dầu không theo Tây, lòng ông phơi phới trở lại. Ông khoe với mọi người nhà ông bị Tây đốt sạch, làng Dầu bị đốt sạch, đốt nhẵn. Ông lại khoe và tự hào về làng Dầu kháng chiến như chính ông vừa tham gia trận đánh vậy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 3

    Ông Hai là người một người nông dân yêu tha thiết yêu làng Chợ Dầu của mình.

    Do yêu cầu của ủy ban kháng chiến, ông Hai phải cùng gia đình tản cư. Xa làng ông nhớ làng da diết.

    Trong những ngày xa quê, ông luôn nhớ đến làng Chợ Dầu và muốn trở về.

    Một hôm, ông nghe tin làng Chợ Dầu của ông làm Việt gian theo Tây. Ông Hai vừa căm uất vừa tủi hổ, chỉ biết tâm sự cùng đứa con thơ.

    Khi cùng đường, ông Hai nhất định không quay về làng vì theo ông “làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây thì phải thù.”

    Sau đó, ông được nghe tin cải chính về làng mình rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh Pháp. Ông hồ hởi khoe với mọi người tin này dù nhà ông bị Tây đốt cháy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 4

    Ông Hai là một người nông dân sinh ra và lớn lên ở làng Chợ Dầu. Ông có một tinh thần yêu làng hết sức đặc biệt. Dù ở đâu, bất cứ lúc nào ông cũng có thể khoe về làng mình. Vì tuổi cao sức yếu, ông phải cùng vợ con đi tảo cư không được ở lại làng tham gia kháng chiến. Ở nơi tản cư, ông lại tiếp tục khoe về làng: có phòng thông tin, có chòi phát thanh và khoe luôn cả cái sinh phân của cụ thượng làng ông. Tin làng Chợ Dầu theo giặc khiến ông đau đớn, xót xa, nhục nhã. Ông không dám đi đâu không dám nhìn ai và thương cho những đứa con mình. Ông càng bế tắc tuyệt vọng khi bà chủ nhà đánh tiếng đuổi gia đình ông đi với lý do không chứa người làng Việt gian. Khi tin làng theo giặc được cải chính, ông sung sướng hạnh phúc khoe về làng mình mặc dù nhà ông bị giặc đốt cháy.

    Tóm tắt văn bản làng – bài 5

    Ông Hai là người làng Chợ Dầu. Trong kháng chiến chống Pháp, ông phải đưa gia đình đi tản cư. Ở đây, lúc nào ông cũng nhớ làng và luôn dõi theo tin tức cách mạng.. Khi nghe tin đồn làng Chợ Dầu theo giặc, ông vô cùng đau khổ, cảm thấy xấu hổ, nhục nhã. Ông không đi đâu, không gặp ai, chỉ sợ nghe đồn về làng ông theo giặc. Nỗi lòng buồn khổ đó càng tăng lên khi có tin người ta không cho những người làng ông ở nhờ vì là làng Việt gian. Ông không biết bày tỏ với ai, không dám đi ra ngoài. Thế là ông đành nói chuyện với thằng con út cho vơi nỗi buồn, cho nhẹ bớt những đau khổ tinh thần. Khi nhận tin cải chính, vẻ mặt ông tươi vui, rạng rỡ hẳn lên. Ông chia quà cho các con, và tất bật báo tin cho mọi người rằng nhà ông bị Tây đốt, làng ông không phải là làng Việt gian. Ông thêm yêu và tự hào về cái làng của mình.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Bài Tóm Tắt Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân Hay Nhất Chọn Lọc
  • Tóm Tắt Văn Bản Làng Của Kim Lân Ngắn Gọn Nhất
  • Luyện Gõ 10 Ngón Bằng Mario Teaches Typing Online, Game Luyện Đánh Máy Cực Hấp Dẫn
  • Đề Đọc Hiểu Ngữ Văn 10 Có Đáp Án
  • Tuyển Tập Các Đề Văn Về Bài Phú Sông Bạch Đằng Của Trương Hán Siêu
  • Viết 1 Văn Bản Nghị Luận Về Lòng Biết Ơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội Về Lòng Biết Ơn
  • Nghị Luận Về Tình Bạn Chân Chính: Tuyển Tập Những Bài Văn Mẫu Đặc Sắc
  • 4 Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội Về Tình Bạn, Văn Mẫu Lớp 12, Tuyển Chọn
  • Nghị Luận Xã Hội Về Tình Bạn
  • Nghị Luận Xã Hội Về Chủ Đề Tình Bạn
  • Viết 1 Văn Bản Nghị Luận Về Lòng Biết ơn, Dàn ý Nghị Luận Về Lòng Biết ơn, Biết Viết Đơn Xin Nghỉ Mặc áo Dài, Dàn Bài Lòng Biết ơn, Dàn ý Bài Lòng Biết ơn, Đề Thi Về Lòng Biết ơn, Long Biet On, Dàn ý Về Lòng Biết ơn, Bài Văn Mẫu Về Lòng Biết ơn, Dàn ý Lòng Biết ơn, Slide Về Lòng Biết ơn, Chuyên Đề Lòng Biết ơn, Dàn ý Lòng Biết ơn Thầy Cô, Định Nghĩa Lòng Biết ơn, Dàn ý Về Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo, Bài Thuyết Trình Về Lòng Biết ơn, Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo Lớp 9, Tìm ý Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo, Dàn Bài Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo, Khái Niệm Lòng Biết ơn, Thuyết Trình Về Lòng Biết ơn, Truyện Cổ Tích Về Lòng Biết ơn, Dàn ý Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo, 2 Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8 Nói Về Lòng Yêu Nước, Truyện Cổ Tích Không Chỉ Dạy Ta Biết Yêu Biết Ghét Mà Còn Dạy Ta Biết ước Mơ, Cách Tẩy Viết Lông Dầu, Hướng Dẫn Viết Kí Tự Đặc Biệt, Viet Bai Tap Lam Van So 5- Nghi Luan Xa Hoi, Văn Nghị Luận Lớp 7 Bài Viết Số 6, Văn Nghị Luận Lớp 7 Bài Viết Số 5, Cách Viết Kí Tự Đặc Biệt Trong Lol, Tiêu Chí Khu Biệt Phụ âm Đầu Tiếng Việt, Hướng Dẫn Viết Kí Tự Đặc Biệt Trong Lol, Catch Viet X Thuong R Chi Tap Biet, 100 Điều Nên Biết Về Phong Tục Việt Nam, Cách Viết 1 Bài Văn Nghị Luận, Hướng Dẫn Viết 1 Bài Văn Nghị Luận Xã Hội, Cách Viết 1 Bài Văn Nghị Luận Xã Hội, Hướng Dẫn Viết Văn Nghị Luận, Cách Viết Bài Văn Nghị Luận, Cách Viết Văn Nghị Luận, Tìm Số Tự Nhiên Có 4 Chữ Số Biết Rằng Khi Viết Thêm Chữ Số 7 Vào Bên Phải Số Đó, Tìm 1 Số Có 4 Chữ Số Biết Rằng Khi Viết Thêm Chữ Số 3 Vào Bên Trái Số Đó Thì Được 1 Số Mới Gấp 9 Lần, Cách Viết X Thuộc R Cho Ta Biết Điều Gì, Một Trăm Điều Nên Biết Về Phong Tục Việt Nam, Luận án Cầu Lông, Chuyên Đề Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội, Hướng Dẫn Viết Đoạn Văn Nghị Luận, Hướng Dẫn Viết Kí Tự Đặc Biệt Trên Điện Thoại, Luận án Tiến Sĩ Sự Hài Lòng, Chinh Ta Nghe Viet Chuoi Ngoc Lam Phan Biet Am Dau Tr Ch, Hãy Chứng Minh Đến Văn Hóa Hòa Bình Người Việt Cổ Đã Biết Đến Nền Nông Ng, Nêu Hiểu Biết Của Thầy Cô Về Cải Cách Hành Chính ở Việt Nam, Thơ Khởi Sự Từ Tâm Hồn Vượt Lên Bằng Tầm Nhìn Và Đọng Lại Nhờ Tấm Lòng Người Viết, Câu Hỏi Tự Luận Nhận Biết, Yêu Cầu Của Câu Hỏi Tự Luận Nhận Biết, Luận Văn Sự Hài Lòng Của Người Bệnh, Tiểu Luận Lòng Yêu Nước, Khóa Luận Đánh Giá Mức Độ Hài Lòng, Tham Luận Về Lòng Yêu Nước, Luận Văn Thạc Sĩ Tdtt Cầu Lông, Bài Tham Luận Về Lòng Yêu Nước, Luận Văn Sự Hài Lòng Của Nhân Viên, Luận Văn Sự Hài Lòng Của Khách Hàng, Tiểu Luận Đo Lường Sự Hài Lòng, Cach Viet Mau Don Trinh Bay Hoan Canh Kinh Te Dac Biet Kho Khan, Phẩm Vật Trong Lễ Cưới Người Việt ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Các Yếu Tố Quyết Định Sự Hài Lòng Và Sự Sẵn Lòng Quay Lại Của Khách Du Lịch, Luận Văn Về Các Nhân Tố ảnh Hưởng Đến Sự Hài Lòng Của Khách Hàng, Tiểu Luận Khảo Sát Sự Hài Lòng Của Khách Hàng, Hãy Viết Bài Văn Nghị Luận: Bảo Vệ Môi Trường Thiên Nhiên Là Bảo Vệ Cuộc Sống Của Chúng Ta, Một Dân Tộc Biết Cần Kiêm, Biết Liêm Là Một Dân Tộc Giàu Về Vật Chất, Mạnh Về Tinh Thần, Một Dân Tộc, Một Dân Tộc Biết Cần Kiêm, Biết Liêm Là Một Dân Tộc Giàu Về Vật Chất, Mạnh Về Tinh Thần, Một Dân Tộc, Trình Bày Hiêir Biết Của Em Về Cong Tác Pctn ở Việt Nam Trong Những Năm Gần Đây.hãy Đề Xuất Các Giải, Tiểu Luận Về Thuyết Phân Biệt Chủng Tộc, Nghị Định Về Quản Lý Cát Sỏi Lòng Sông, Tương Đồng Và Di Biệt Trong Nghi Lễ Và Trò Chơi Kéo Co ở Hàn Quốc, Viết Đoạn Văn Về Bài Thơ Không Có Chuyện Gì Khó Chỉ Sợ Lòng Không Bền Đào Núi Và Lấp Biển Quyết Chí , Viết Đoạn Văn Về Bài Thơ Không Có Chuyện Gì Khó Chỉ Sợ Lòng Không Bền Đào Núi Và Lấp Biển Quyết Chí, Câu Thơ ôi Hàng Tre Xanh Xanh Việt Nam Thuộc Loại Thành Phần Biệt Lập Nào, Những Tương Đồng Và Khác Biệt Của Từ Láy Trong Tiếng Việt Và Tiếng Hàn, Câu Thơ ôi Hàng Tre Xanh Xanh Việt Nam Là Thành Phần Biệt Lập Cảm Thán Hay Câu Cảm Thán, Lợi Thế Trong Việc Học Tiếng Việt Của Người Biết Tiếng Hoa, Nghị Định Gia Hạn Thời Hạn Nộp Thuế Tiêu Thụ Đặc Biệt Đối Với ô Tô Sản Xuất Hoặc Lắp Ráp Trong Nước, Lý Luận Nào Sau Đây Đã Được Cán Bộ Của Hội Việt Nam Cách Mạng Thanh Niên Truyền Bá Vào Việt Nam, Bài Tham Luận Người Việt Nam ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam, Tham Luận Người Việt Nam ưu Tiên Dùng Hàng Việt Nam, Khi Chiếu Một ánh Sáng Kích Thích Vào Một Chất Lỏng Thì Chất Lỏng Này Phát ánh Sáng Huỳnh Quang Màu, Khi Chiếu Một ánh Sáng Kích Thích Vào Một Chất Lỏng Thì Chất Lỏng Này Phát ánh Sáng Huỳnh Quang Màu , Dàn Bài Suy Nghĩ Của Em Về Tình Mẫu Tử Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ, Biết Chúa Biết Con, Danh Mục Luận Văn Luận án Chuyên Ngành Văn Học Việt Nam, Bài Tiểu Luận Viết Gdp Việt Nam, Nghị Quyết Hội Nghị Lần Thứ 12 Của Trung ương Hội Nông Dân Việt Nam, Nghị Quyết Kết Luận Của Hội Nghị Lần Thứ 4 Ban Chấp Hành Trung ương Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Lần Thứ Tư Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Khóa Xii, Nghị Quyết Kết Luận Hội Nghị Trung ương 4 Khóa Xii, Dàn ý Bài Văn Nghị Luận Đề Suy Nghĩ Từ Truyện Ngụ Ngôn Đẽo Cày Giữa Đường, Luận Văn Hán Việt, Li Luan Ve An Le Viet Nam,

    Viết 1 Văn Bản Nghị Luận Về Lòng Biết ơn, Dàn ý Nghị Luận Về Lòng Biết ơn, Biết Viết Đơn Xin Nghỉ Mặc áo Dài, Dàn Bài Lòng Biết ơn, Dàn ý Bài Lòng Biết ơn, Đề Thi Về Lòng Biết ơn, Long Biet On, Dàn ý Về Lòng Biết ơn, Bài Văn Mẫu Về Lòng Biết ơn, Dàn ý Lòng Biết ơn, Slide Về Lòng Biết ơn, Chuyên Đề Lòng Biết ơn, Dàn ý Lòng Biết ơn Thầy Cô, Định Nghĩa Lòng Biết ơn, Dàn ý Về Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo, Bài Thuyết Trình Về Lòng Biết ơn, Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo Lớp 9, Tìm ý Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo, Dàn Bài Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo, Khái Niệm Lòng Biết ơn, Thuyết Trình Về Lòng Biết ơn, Truyện Cổ Tích Về Lòng Biết ơn, Dàn ý Lòng Biết ơn Thầy Cô Giáo, 2 Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8 Nói Về Lòng Yêu Nước, Truyện Cổ Tích Không Chỉ Dạy Ta Biết Yêu Biết Ghét Mà Còn Dạy Ta Biết ước Mơ, Cách Tẩy Viết Lông Dầu, Hướng Dẫn Viết Kí Tự Đặc Biệt, Viet Bai Tap Lam Van So 5- Nghi Luan Xa Hoi, Văn Nghị Luận Lớp 7 Bài Viết Số 6, Văn Nghị Luận Lớp 7 Bài Viết Số 5, Cách Viết Kí Tự Đặc Biệt Trong Lol, Tiêu Chí Khu Biệt Phụ âm Đầu Tiếng Việt, Hướng Dẫn Viết Kí Tự Đặc Biệt Trong Lol, Catch Viet X Thuong R Chi Tap Biet, 100 Điều Nên Biết Về Phong Tục Việt Nam, Cách Viết 1 Bài Văn Nghị Luận, Hướng Dẫn Viết 1 Bài Văn Nghị Luận Xã Hội, Cách Viết 1 Bài Văn Nghị Luận Xã Hội, Hướng Dẫn Viết Văn Nghị Luận, Cách Viết Bài Văn Nghị Luận, Cách Viết Văn Nghị Luận, Tìm Số Tự Nhiên Có 4 Chữ Số Biết Rằng Khi Viết Thêm Chữ Số 7 Vào Bên Phải Số Đó, Tìm 1 Số Có 4 Chữ Số Biết Rằng Khi Viết Thêm Chữ Số 3 Vào Bên Trái Số Đó Thì Được 1 Số Mới Gấp 9 Lần, Cách Viết X Thuộc R Cho Ta Biết Điều Gì, Một Trăm Điều Nên Biết Về Phong Tục Việt Nam, Luận án Cầu Lông, Chuyên Đề Viết Đoạn Văn Nghị Luận Xã Hội, Hướng Dẫn Viết Đoạn Văn Nghị Luận, Hướng Dẫn Viết Kí Tự Đặc Biệt Trên Điện Thoại, Luận án Tiến Sĩ Sự Hài Lòng,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Về Lòng Biết Ơn
  • Soạn Bài: Tóm Tắt Văn Bản Nghị Luận
  • Bài Văn Mẫu Hãy Chứng Minh Rằng Đời Sống Của Chúng Ta Sẽ Bị Tổn Hại Rấ
  • Nghị Luận Vấn Đề Ô Nhiễm Môi Trường Trong Xã Hội Hiện Đại
  • Top 4 Bài Nghị Luận Về Ô Nhiễm Môi Trường Lớp 9 Hay Nhất
  • Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Nhân Vật Ông Hai, Truyện Ngắn “làng”
  • Bài Tập Nghị Luận Về Tác Phẩm Truyện (Hoặc Đoạn Trích) (Có Đáp Án).
  • Văn Mẫu Lớp 9: Nghị Luận Văn Học Về Bài Lặng Lẽ Sa Pa
  • Các Nhận Định Về Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • 6 Bài Vănthuyết Minh Về Một Văn Bản, Một Thể Loại Văn Học Đơn Giản
  • Câu Thơ Lãng Mạn, Mau Don Xin Dat Lang Mo, Mẫu Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đáp án Câu Đố Một Làng Có 5 Góc Mỗi Góc Có 5 ông, Văn Tế Làng, Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Văn Tế Hội Làng, Ngữ Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Ma Làng, Dàn ý Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Đại Học Văn Lang, Mau Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Lang Thi Van Anh, Lang Son, Bài Thơ Ao Làng, Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta, Bài Thơ Im Lặng, Ma Làng Tập 1, Làng, To S Tắt Văn Bản Làng, Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đơn Xin Đất Để Xây Lăng Mộ, Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Làng Quy Lai, Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Vào Lăng Bác, Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Làng, Quy ước Làng Xã, Tóm Tắt Văn Bản Làng 9, Làng Xã Bắc Kỳ, K24 Văn Lang, Quy ước Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Đại Học Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Tóm Tắt Làng, Sổ Tay Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Cây Nữa Lang, Nữa Lang, Quy ước Làng Xóm, Trường Làng Tôi, Mức Học Phí Trường Văn Lang, Tập Đọc Lập Làng Giữ Biển, Kết Quả Xét Tuyển Đợt 1 Đại Học Văn Lang, Tài Liệu 7 Lãng Phí, Hương ước Làng Xã Là Gì, Sách Im Lặng, Quy ước Xây Dựng Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Trường Đại Học Văn Lang, Mức Học Phí Của Trường Đại Học Văn Lang, Quy Định ăn Mặc Vào Lăng Bác, Lặng Yên Dưới Vực Sâu, Lập Làng Giữ Biển, Lịch Học Văn Lang, Mẫu Powerpoint Lãng Mạn, Truyện Ma Làng Quê, Truyện Ma Làng Tôi, Văn Tế Đình Làng, Nguyên Tắc Im Lặng, Nội Dung Bài Làng, Văn Bản Viếng Lăng Bác, Nội Dung Bài Lặng Lẽ Sa Pa, Truyện Ma Làng, Truyện Ma Im Lặng, Văn Tế ở Đình Làng, Xét Tuyển Đợt 2 Đại Học Văn Lang, Luật Im Lặng, Xét Tuyển Đại Học Văn Lang Đợt 3, Luật Im Lặng Pdf, Xét Tuyển Đại Học Văn Lang, Viếng Lăng Bác, Nội Quy Đình Làng, Mẫu Giấy Mời Hội Làng, ôn Tập Bài Hát Bạn ơi Lắng Nghe, 9 Nguyên Tắc Văn Hoá Văn Lang, Chuẩn Đầu Ra Đại Học Văn Lang, Chuẩn Đầu Ra Văn Lang, Dàn Bài Viếng Lăng Bác, Dàn ý Im Lặng Là Vàng, Cây Đinh Lăng, Bai Tap Mai Lang Huong Lop 8, Nôi Dung Đơn Xin Xây Lăng Mộ, Hương ước Và Lệ Làng, Hương ước Lệ Làng, Hương ước Làng Xã, Hương ước Làng Mỹ Khê, Sấy Khoai Lang, Bìa Hương ước Làng, Danh Mục Cá Làng Xã Bắc Kỳ, 9 Nguyên Tắc Văn Lang, Bài Giảng Lặng Lẽ Sa Pa, Lắng Nghe Gió Hát, Bài Tập Làm Văn Viếng Lăng Bác, Lăng Cảnh Phú, Bình Làng, Làng Nghề,

    Câu Thơ Lãng Mạn, Mau Don Xin Dat Lang Mo, Mẫu Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đáp án Câu Đố Một Làng Có 5 Góc Mỗi Góc Có 5 ông, Văn Tế Làng, Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Văn Tế Hội Làng, Ngữ Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Ma Làng, Dàn ý Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Đại Học Văn Lang, Mau Don Xin Cap Dat Xay Lang Mo, Lang Thi Van Anh, Lang Son, Bài Thơ Ao Làng, Bài Thơ Hạt Gạo Làng Ta, Bài Thơ Im Lặng, Ma Làng Tập 1, Làng, To S Tắt Văn Bản Làng, Đơn Xin Đất Xây Lăng Mộ, Đơn Xin Đất Để Xây Lăng Mộ, Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Làng Quy Lai, Lặng Lẽ Sa Pa, Nội Quy Vào Lăng Bác, Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Làng, Quy ước Làng Xã, Tóm Tắt Văn Bản Làng 9, Làng Xã Bắc Kỳ, K24 Văn Lang, Quy ước Làng Văn Hóa, Mức Học Phí Đại Học Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Làng, Tóm Tắt Làng, Sổ Tay Văn Lang, Văn 9 Tóm Tắt Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Lặng Lẽ Sa Pa, Tóm Tắt Văn Bản Làng, Văn 9 Văn Bản Lặng Lẽ Sa Pa, Cây Nữa Lang, Nữa Lang, Quy ước Làng Xóm, Trường Làng Tôi, Mức Học Phí Trường Văn Lang, Tập Đọc Lập Làng Giữ Biển, Kết Quả Xét Tuyển Đợt 1 Đại Học Văn Lang, Tài Liệu 7 Lãng Phí, Hương ước Làng Xã Là Gì,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Chuyện Người Con Gái Nam Xương Hay, Ngắn Nhất (6 Mẫu).
  • Tóm Tắt Sống Chết Mặc Bay Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • Truyện Ngắn Làng Lớp 9 Vietjack
  • Tóm Tắt Truyện: Làng Ngắn Nhất (5 Bài).
  • Bài 25. Trả Bài Tập Làm Văn Số 6
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Làng

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Phân Tích Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Dàn Ý Cảm Nhận Tình Yêu Làng Của Ông Hai Trong Truyện Ngắn Làng
  • Dàn Ý Phân Tích Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân Hay Nhất (5 Mẫu)
  • Dàn Ý Phân Tích Chi Tiết Tác Phẩm Làng
  • Dàn Bài Chi Tiết Cho Bài Văn Nghị Luận Truyện Ngắn Làng (Kim Lân) Hoặc Truyện Ngắn Lặng Lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long)
  • – Kim Lân bắt đầu ” cầm bút ” từ những năm 1941, lựa chọn cho mình sở trường truyện ngắn và nhanh chóng trở thành một cây bút xuất sắc của nền văn học Việt Nam hiện đại.

    + Trước Cách mạng tháng Tám: Tái hiện được cuộc sống, sinh hoạt văn hóa và những thú vui bình dị chốn thôn quê như: đánh vật, chọi gà, thả chim,…

    + Sau Cách mạng tháng Tám: Khám phá vẻ đẹp tâm hồn người nông dân. Đó là những con người với cuộc sống cực nhọc, khổ nghèo nhưng vẫn chăm chỉ làm lụng, tràn đầy niềm tin vào tương lai.

    – Truyện ngắn Làng được Kim Lân viết năm 1948. Đây là thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    – Tác phẩm được đăng lần đầu trên Tạp chí Văn nghệ năm 1948.

    Ông Hai người làng chợ Dầu, trong kháng chiến, buộc phải rời làng đi tản cư. Là một người nông dân yêu làng tha thiết: ông hay khoe về làng mình; ngày nào cũng ra phòng thông tin vờ xem tranh ảnh để lắng nghe tin tức về làng. Ruột gan ông cứ múa lên, trong đầu bao nhiêu ý nghĩ vui thích khi nghe về những chiến công của làng.

    Một hôm, tại quán nước, ông Hai nghe tin làng chợ Dầu làm Việt gian theo giặc. Ông cảm thấy khổ tâm, nhục nhã và xấu hổ vô cùng. Về nhà, ông nằm vật ra giường nhìn lũ con mà nước mắt trào ra. Ông không dám đi đâu, chỉ ru rú ở nhà, nơm nớp lo sợ. Ông Hai lâm vào hoàn cảnh bế tắc khi bà chủ nhà có ý đuổi khéo gia đình ông, nhưng không thể về làng vì về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ. Ông chỉ biết tâm sự với đứa con về nỗi lòng của mình.

    Chỉ khi thông tin được cải chính, rằng làng chợ Dầu vẫn kiên cường đánh giặc ông mới vui vẻ và phấn chấn hẳn lên. Ông đi khoe với bác Thứ, với mọi người: nhà ông bị giặc đốt, làng ông bị giặc phá. Về nhà, ông vui vẻ mua quà cho lũ con.

    – Truyện được kể theo ngôi thứ ba.

    – Tác dụng: Làm cho câu chuyện trở nên khách quan và tạo cảm nhận giác chân thực cho người đọc.

    – Tình huống truyện đặc sắc: Ông Hai nghe tin làng chợ Dầu làm Việt gian theo Tây.

    + Tác giả đã đặt nhân vật ông Hai vào một tình huống đối nghịch với tình cảm, niềm tự hào: Một con người vốn yêu làng và luôn hãnh diện về nó thì bỗng nghe tin làng lập tề theo giặc.

    + Tình huống bất ngờ ấy đã bộc lộ một cách sâu sắc, mãnh mẽ tình yêu làng, yêu nước và tinh thần kháng chiến của ông Hai.

    – Ý nghĩa của tình huống truyện:

    a. Người nông dân mang tình yêu làng tha thiết

    + Trước Cách mạng tháng Tám: Ông khoe con đường làng lát toàn đá xanh, trời mưa đi chẳng lấm chân; ông khoe sinh phần của một vị quan tổng đốc trong làng;…

    + Khi kháng chiến bùng nổ: Ông khoe về một làng quê đi theo kháng chiến làm cách mạng; ông kể một cách rành rọt những hộ, những ụ, những giao thông hầm hào;…

    + Ông thường xuyên chạy sang nhà bác Thứ để kể lể đủ thứ chuyện về làng, để vơi đi cái nỗi nhớ làng.

    + Ông kể cho sướng cái miệng, cho vơi cái lòng mà không cần biết người nghe có thích hay không.

    + Ông thường xuyên theo dõi tình hình của làng cũng như tình hình chiến sự.

    b. Khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc

    – Cái tin ấy quá bất ngờ và khi trấn tĩnh lại, ông còn cố không tin vào cái tin dữ ấy. Nhưng rồi những người tản cư kể rành rọt quá, lại khẳng định họ ” vừa ở dưới ấy lên“, ” mắt thấy tai nghe “, làm ông không thể không tin.

    * Sau giây phút ấy, tất cả dường như sụp đổ, tâm trí ông bị ám ảnh, lo lắng, day dứt:

    + Ông lo cho số phận của những đứa con rồi sẽ bị khinh bỉ, hắt hủi vì là trẻ con làng Việt gian: “Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư? Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng, hắt hủi đấy ư? Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu “.

    + Ông lo cho bao nhiêu người tản cư làng ông sẽ bị khinh, tẩy chay, thù hằn, ghê tởm: ” Chao ôi! Cực nhục chưa, cả làng Việt gian!… Suốt cái nước Việt Nam này người ta ghê tởm, người ta thù hằn cái giống Việt gian bán nước…”

    + Ông lo cho tương lai của gia đình rồi sẽ đi đâu, về đâu, làm ăn sinh sống ra sao: ” Rồi đây biết làm ăn, buôn bán làm sao? Ai người ta chứa”.

    – Lúc nào ông cũng nơm nớp, hoang mang, tưởng như người ta để ý đến, bàn tán đến ” cái chuyện ấy“. Thoáng nghe những tiếng Tây, Việt gian, cam nhông… là ông lùi ra một góc, nín thít: ” Thôi lại chuyện ấy rồi!”

    + Ông thoáng có ý nghĩ ” hay là trở về làng” – rồi ông lại gạt bỏ ý nghĩ về làng, bởi ” làng đã theo Tây, về làng là rời bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ, là cam chịu trở về kiếp sống nô lệ “.

    + Buộc phải lựa chọn một, ông đã tự xác định một cách đau đớn nhưng dứt khoát: ” Làng thì yêu thật nhưng làng theo Tây rồi thì phải thù “.

    c. Khi nghe tin làng cải chính

    – Nó giúp rũ sạch mọi đau khổ, tủi nhục, bế tắc và đưa ông trở lại với ” thói quen” cũ, lật đật đi khắp nơi khoe làng: ” Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn! Ông chủ tịch làng tôi vừa mới lên đây cải chính cái tin làng Dầu chúng tôi đi Việt gian ấy mà. Láo, Láo hết! Toàn là sai sự mục đích cả “.

    – Phải chăng, khi niềm tin và tình yêu bị phản bội, bị dồn nén trong những dằn dặt, khủng hoảng quá lâu dễ khiến con người ta có những suy nghĩ không bình thường?

    + Đối với người nông dân, căn nhà là tất cả cơ nghiệp, là biết bao công cày cuốc mà nên. ” Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà/ Trong ba việc ấy thật là khó thay“. Vậy mà ông sung sướng, hể hả loan báo cho mọi người biết cái tin ” Tây nó đốt nhà tôi rồi bác ạ, đốt nhẵn!” một cách tự hào như một niềm vui, niềm hạnh phúc.

    + Nhưng ngôi nhà là tài sản riêng, dù có mất nhưng danh dự vẫn còn, thế là ông vui, ông hạnh phúc.

    – Nghệ thuật xây dựng tình huống truyện: Làng – Kim Lân đặt nhân vật vào tình huống cụ thể để thử thách nhân vật, để nhân vật tự bộc lộ chiều sâu tư tưởng và chủ đề của truyện.

    + Khắc họa thành công nhân vật ông Hai, một người nông dân yêu làng, yêu nước tha thiết,…

    + Tác giả miêu tả rất cụ thể những diễn biến nội tâm từ suy nghĩ, hành động đến ngôn ngữ,…

    + Với thủ pháp nghệ thuật đối thoại và độc thoại nội tâm đã diễn tả một cách chính xác và mạnh mẽ những ám ảnh, day dứt của nhân vật.

    + Làng – Kim Lân, ngôn ngữ truyện mang tính khẩu ngữ và lời ăn, tiếng nói hàng ngày của người nông dân.

    + Lời kể chuyện và lời nói của nhân vật có sự thống nhất về sắc thái, giọng điệu.

    + Làng – Kim Lân, ngôn ngữ nhân vật vừa có nét chung của người nông dân Việt Nam cần cù, chịu khó, lại vừa mang đậm những nét cá tính riêng của nhân vật nên rất sinh động.

    – Sự kết hợp giữa ngôn ngữ độc thoại và đối thoại.

    – Hệ thống hình ảnh chi tiết, giàu sức gợi.

    IV. Một số dạng đề tham khảo

    Câu 1. Đọc kĩ đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:

    (1) Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra.(2) Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ? (3) Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư ? (4) Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu …(5) Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:

    – (6) Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.

    (Ngữ Văn 9 tập 1- Nhà xuất bản Giáo dục 2022)

    1. Cho biết đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Ai là tác giả? Nêu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm đó?

    2. Xác định những câu là lời độc thoại nội tâm trong đoạn văn trên. Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng gì của nhân vật?

    3. Hãy viết một đoạn văn giới thiệu về nhân vật “ông lão” trong tác phẩm được xác định ở câu hỏi 1 (viết không quá nửa trang giấy thi).

    Câu 2. Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

    … Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá …(1). Không biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? (2) Những đường hầm bí mật chắc còn là khướt lắm. (3)…

    (Trích Làng – Kim Lân, Ngữ văn 9, tập một, tr. 163, NXB Giáo dục)

    a. Xác định các phương thức biểu đạt của đoạn trích.

    b. Gọi tên, chỉ ra một biện pháp tu từ và nêu hiệu quả diễn đạt của biện pháp tu từ đó trong câu sau: “Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường đắp ụ, xẻ hào, khuân đá …”

    c. Trong đoạn trích trên, câu nào là lời trần thuật của tác giả? Câu nào là lời độc thoại nội tâm của nhân vật? Nêu tác dụng của lời độc thoại nội tâm trong việc biểu đạt nội dung.

    Câu 3. Cảm nhận của anh (chị) về tình yêu làng của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn “Làng” của nhà văn Kim Lân.

    Cảm nhận của em về nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Câu 4. Làng – Kim Lân. Qua đó, em rút ra bài học gì để phát huy lòng yêu nước trong thời đại ngày nay.

    Phân tích diễn biến tâm trạng của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân khi nghe tin làng mình theo giặc. ( Câu 5. Trích Làng – Kim Lân, Ngữ văn 9, tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2022)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Luyện Thi Văn Bản: “làng” Của Kim Lân
  • Tóm Tắt Truyện “làng” Của Kim Lân
  • Tóm Tắt Làng Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • 110 Bai Tap Doc Hieu Chon Loc Co Loi Giai Chi Tiet
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Truyện Ngắn Làng Của Kim Lân
  • Văn Bản Nghị Luận Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông Trong Xã Hội
  • Tài Liệu Tuyên Truyền Về Công Tác Đảm Bảo Trật Tự An Toàn Giao Thông 9 Tháng Đầu Năm Trên Địa Bàn Tỉnh
  • Quán Triệt Các Văn Bản Về “năm An Toàn Giao Thông 2022”
  • Liên Đội Th Xuân Hồng Tuyên Truyền Về An Toàn Giao Thông
  • Đẩy Mạnh Tuyên Truyền Về Trật Tự Atgt
  • Dàn Bài Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông, Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông, Văn Bản Nghị Luận Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Về An Toàn Giao Thôngan Về An Toan Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Cuộc Thi An Toàn Giao Thông 2022 Dành Cho Giáo Viên, Đáp án Phần Tự Luận Cuộc Thi An Toàn Giao Thông Cho Giáo Viên Thcs, Câu Hỏi Tự Luận An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận An Toàn Giao Thông Lớp 4, Bài Luận An Toàn Giao Thông, Luận Văn An Toàn Giao Thông, Bài Luận Về An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Về An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Về An Toàn Giao Thông Thpt, Câu Hỏi Tự Luận An Toàn Giao Thông Thcs, Bản Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Tham Luan Phu Nu Voi An Toan Giao Thong, Báo Cáo Tham Luận An Toàn Giao Thông, Báo Cáo Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Những Câu Hỏi Tự Luận Về An Toàn Giao Thông, Tiểu Luận An Toàn Giao Thông, Bài Tham Luận An Toàn Giao Thông, Bài Tiểu Luận Về An Toàn Giao Thông, Tham Luận An Toàn Giao Thông, Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Phần Thi An Toàn Giao Thông, Tham Luận Chung Về An Toàn Giao Thông, Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông Của Học Sinh, Câu Hỏi Tự Luận Của Cuộc Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông, Những Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Đáp án Tự Luận An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai, Câu Hỏi Tự Luận Cuộc Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông, Nghị Định 100 An Toàn Giao Thông, Nghị Định 171 Về An Toàn Giao Thông, Nghị Quyết 32 Về An Toàn Giao Thông, Nghị Quyết Số 32 Về An Toàn Giao Thông, Nghị Quyết An Toàn Giao Thông, Nghị Định An Toàn Giao Thông, Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông Trong Trường Học, Cách Viết Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Nghị Định An Toàn Giao Thông Đường Bộ, Bai Tham Luan Danh Gia Thuc Trang An Toan Giao Thong, Đáp án Phần Tự Luận Cuộc Thi An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai, Đáp án Phần Tự Luận Cuộc Thi An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai 2022, Đáp án Cuộc Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông 2022 Dành Cho Giáo Viên, Đáp án Cuộc Thi Tìm Hiểu N Toàn Giao Thông 2022 Dành Cho Giáo Viên, Dap An Cuoc Thi Tim Hieu An Toan Giao Thong Danh Cho Giao Vien, Đáp án An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai Dành Cho Giáo Viên, Đáp án An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai 2022 Cho Giáo Viên, Đáp án Cuộc Thi An Toàn Giao Thông 2022 Dành Cho Giáo Viên, Thay Co Hay Nêu Kinh Nghiệm Bản Thân Trong Quá Trình Giảng Dạy Nội Dung Giáo Dục An Toàn Giao Thông, Đáp án Cuộc Thi An Toàn Giao Thông Dành Cho Giáo Viên, Bài Tiểu Luận Về Xây Dựng Cơ Sở Hạ Tầng Hệ Thống Giao Thông Nông Thôn, Dap An An Toàn Giao Thong Danh Cho Giao Vien, Đáp án Giáo Dục An Toàn Giao Thông Trong Trường Học, Nguyên Tắc Giáo Dục An Toàn Giao Thông Cho Học Sinh, Giáo Trình An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Trẻ Thơ, Giao Lưu Giáo Viên Dạy Giỏi An Toàn Giao Thông Giáo Viên Khối 3,4,5, Bản Cam Kết An Toàn Giao Thông Cua Giao Vien, Giao Lưu Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông Lớp 3 3, Đáp án Giao Lưu Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông, Bài Thi Giao Lưu Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông, Giáo án An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Trẻ Thơ, Luận Văn An Toàn Và Bảo Mật Thông Tin, Khóa Luận Bài Toán Trích Xuất Thông Tin Cho Dữ Liệu Bán Cấu Trúc Và áp Dụng Xây Dựng Hệ Thống Tìm Ki, Câu Hỏi Tự Luận Hệ Thống Thông Tin Kế Toán, Tiểu Luận An Toàn Thông Tin, Mẫu Báo Cáo An Toàn Giao Thông, Bài Văn Mẫu An Toàn Giao Thông Lớp 3, Bài Tập Làm Văn Về An Toàn Giao Thông Lớp 3, Bài Văn Mẫu An Toàn Giao Thông, Đề án An Toàn Giao Thông, Văn Bản Chỉ Đạo Về An Toàn Giao Thông, Đề Thi An Toàn Giao Thông, Bài Thi An Toàn Giao Thông Lớp 4, Báo Cáo An Toàn Giao Thông, Dàn ý An Toàn Giao Thông, Đáp án Bài Thi An Toàn Giao Thông, Đề Thi An Toàn Giao Thông Lớp 5, Quy Tắc Đi Bộ An Toàn Giao Thông, Bài Thi An Toàn Giao Thông, An Toan Giao Thong, Bài Thơ An Toàn Giao Thông, Nội Quy An Toàn Giao Thông, Đề Tài An Toàn Giao Thông Lớp 4, Bộ Đề Thi An Toàn Giao Thông Lớp 5, Đáp án Đề An Toàn Giao Thông, Văn Bản An Toàn Giao Thông, Đáp án An Toàn Giao Thông, Bản Cam Kết Về An Toàn Giao Thông, Đề Tài An Toàn Giao Thông, Đáp án Thi An Toàn Giao Thông, Đề Tài An Toàn Giao Thông Lớp 7, Bộ Đề Thi An Toàn Giao Thông, Dàn Bài An Toàn Giao Thông, Bài Văn Mẫu Về An Toàn Giao Thông, Đề Bài An Toàn Giao Thông, ôn An Toàn Giao Thông Lớp 5, Bản Cam Kết An Toàn Giao Thông, Báo Cáo Sơ Kết An Toàn Giao Thông,

    Dàn Bài Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông, Nghị Luận Về An Toàn Giao Thông, Văn Bản Nghị Luận Về Vấn Đề An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Về An Toàn Giao Thôngan Về An Toan Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Cuộc Thi An Toàn Giao Thông 2022 Dành Cho Giáo Viên, Đáp án Phần Tự Luận Cuộc Thi An Toàn Giao Thông Cho Giáo Viên Thcs, Câu Hỏi Tự Luận An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận An Toàn Giao Thông Lớp 4, Bài Luận An Toàn Giao Thông, Luận Văn An Toàn Giao Thông, Bài Luận Về An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Về An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Về An Toàn Giao Thông Thpt, Câu Hỏi Tự Luận An Toàn Giao Thông Thcs, Bản Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Tham Luan Phu Nu Voi An Toan Giao Thong, Báo Cáo Tham Luận An Toàn Giao Thông, Báo Cáo Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Những Câu Hỏi Tự Luận Về An Toàn Giao Thông, Tiểu Luận An Toàn Giao Thông, Bài Tham Luận An Toàn Giao Thông, Bài Tiểu Luận Về An Toàn Giao Thông, Tham Luận An Toàn Giao Thông, Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Câu Hỏi Tự Luận Phần Thi An Toàn Giao Thông, Tham Luận Chung Về An Toàn Giao Thông, Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông Của Học Sinh, Câu Hỏi Tự Luận Của Cuộc Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông, Những Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Đáp án Tự Luận An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai, Câu Hỏi Tự Luận Cuộc Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông, Nghị Định 100 An Toàn Giao Thông, Nghị Định 171 Về An Toàn Giao Thông, Nghị Quyết 32 Về An Toàn Giao Thông, Nghị Quyết Số 32 Về An Toàn Giao Thông, Nghị Quyết An Toàn Giao Thông, Nghị Định An Toàn Giao Thông, Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông Trong Trường Học, Cách Viết Bài Tham Luận Về An Toàn Giao Thông, Nghị Định An Toàn Giao Thông Đường Bộ, Bai Tham Luan Danh Gia Thuc Trang An Toan Giao Thong, Đáp án Phần Tự Luận Cuộc Thi An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai, Đáp án Phần Tự Luận Cuộc Thi An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai 2022, Đáp án Cuộc Thi Tìm Hiểu An Toàn Giao Thông 2022 Dành Cho Giáo Viên, Đáp án Cuộc Thi Tìm Hiểu N Toàn Giao Thông 2022 Dành Cho Giáo Viên, Dap An Cuoc Thi Tim Hieu An Toan Giao Thong Danh Cho Giao Vien, Đáp án An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai Dành Cho Giáo Viên, Đáp án An Toàn Giao Thông Cho Nụ Cười Ngày Mai 2022 Cho Giáo Viên, Đáp án Cuộc Thi An Toàn Giao Thông 2022 Dành Cho Giáo Viên,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Bản Chỉ Đạo, Điều Hành
  • Văn Bản Chỉ Đạo An Toàn Giao Thông
  • Văn Bản Chỉ Đạo Về An Toàn Giao Thông
  • Tài Liệu Tuyên Truyền An Toàn Giao Thông Quý I
  • Cuộc Thi An Toàn Giao Thông
  • Văn Bản Nghị Luận Trung Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Luận Về Tinh Thần Tự Học
  • Nghị Luận Xã Hội Về Tinh Thần Tự Học
  • Nghị Luận Xã Hội: Suy Nghĩ Về Vấn Đề Tự Học
  • Viết Đoạn Văn 200 Chữ Nghị Luận Về Tinh Thần Tự Học
  • Nghị Luận Xã Hội: Tinh Thần Tự Học
  • PHÒNG GD &ĐT

    …………….. @ ……………..

    CHUYÊN ĐỀ: ” HƯỚNG DẪN HỌC SINH

    TIẾP CẬN CÁC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN

    TRUNG ĐẠI VIỆT NAM NGỮ VĂN 8″

    Người thực hiện:

    Tháng 4 năm 2022

    PHẦN I: MỞ ĐẦU

    I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.

    1. Cơ sở khoa học.

    Xuất phát từ mục đích đưa bộ môn Ngữ Văn về gần với cuộc sống tăng tính

    thực tiễn của bộ môn này chương trình Ngữ Văn THCS đã có rất nhiều đổi mới.

    Trong đó phải kể đến là sự xuất hiện của những văn bản nghị luận. Nếu văn bản

    nghệ thuật là sản phẩm của lối tư duy hình tượng thì văn bản nghị luận là sản phẩm

    lối tư duy logic. Trong chương trình Ngữ Văn THPT nói chung và chương trình

    Ngữ Văn 8 nói riêng, các văn bản nghị luận có vai trò rất quan trọng. Đặc biệt là

    những văn bản nghị luận trung đại. Các văn bản này không những nhằm cung cấp

    cho học sinh kiến thức về những sự kiện trọng đại của lịch sử đất nước quá khứ,

    những vấn đề thiết yếu trong đời sống mà còn tiếp tục cung cấp cho học sinh những

    kiến thức về thẻ loại của văn học trung đại Việt Nam. Từ đó các em có cái nhìn đầy

    đủ hơn về thành tựu của văn học trung đại (vấn đề này học sinh sẽ được cung cấp

    hoàn chỉnh trong chương trình Ngữ văn 9).

    Mặt khác cụm bài nghị luận còn giúp các em học sinh thấy được trí tuệ sáng

    suốt, lối tư duy sắc sảo của ông cha ta trước đây. Từ đó các em học sinh được cách

    tập luận chặt chẽ, sắc sảo trong lối tư duy logic có sự kết hợp hài hòa giữa lý lẽ và

    tình cảm để áp dụng vào việc học kiểu bài văn nghị luận trong phân môn Tập làm

    văn. Đồng thời việc tiếp cận với cụm bài này cũng rèn khả năng tư duy logic cho

    các em vì đây là một thao tác tư duy rất cần thiết trong đời sống.

    2. Cơ sở thực tiễn.

    Trong chương trình Ngữ văn THCS học sinh đã được làm quen với kiểu văn

    bản nghị luận từ lớp 7 ở phần Đọc – Hiểu văn bản với các tác phẩm: Tiếng Việt ta

    rất giàu và đẹp; Đức tính giản dị của Bác Hồ; Ý nghĩa của văn chương, để tích hợp

    với phần Tập làm văn khi các em bước đầu được làm quen kiểu bài nghị luận. Sang

    lớp 8, số lượng văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn được tăng lên và độ

    khó cũng cao hơn. Các văn bản nghị luận các em được học: Chiếu dời đô; Hịch

    tướng sỹ, Nước Đại Việt ta; Bàn luận về phép học; Thuế máu. Trong đó đại đa số là

    văn bản nghị luận trung đại. Trong thực tế dạy – học cụm bài nghị luận trung đại,

    giáo viên và học sinh đều gặp những khó khăn nhất định. Trước hết đối với học

    sinh, những văn bản nghị luận trung đại đều là sản phẩm trí tuệ uyên bác của các

    bậc vua chúa, tướng lĩnh, học giả thời phong kiến. Nó đề cập đến những sự kiện

    chính trị – xã hội mang tính trọng đại của quốc gia dân tộc trong quá khứ. Người

    viết sử dụng quá nhiều điển tích điển cốtrong bài viết khiến cho học sinh đọc – nhớ

    2

    hiểu văn bản gặp nhiều khó khăn. Ngôn ngữ trong các văn bản chủ yếu là ngôn ngữ

    dịch, tư liệu tham khảo cho cụm bài này cũng không dễ kiếm tìm. Đây là những khó

    khăn nhất định đối với đối tượng tiếp nhận cụm văn bản này.

    Còn đối với giáo viên, dạy văn bản nghị luận trung đại không phải là vấn đề

    mới hoàn toàn. Trong chương trình môn Văn cải cách trước đây, văn bản nghị luận

    đã được đưa vào, song đối tượng tiếp nhận loại văn bản này là học sinh lớp 9 (trình

    độ tư duy của các em ở mức cao hơn) . Mặt khác số lượng văn bản nghị luận trung

    đại phải dạy cũng ít hơn về số lượng và phạm vi thể loại cũng hẹp hơn (Lớp 9 cũ

    chỉ có thể loại Hịch và Cáo, lớp 8 mới có thêm Chiếu, Tấu). Với những văn bản

    mới được đưa vào trong chương trình Ngữ văn 8, giáo viên cũng thực sự chưa có độ

    nhuần nhuyễn về kiến thức cũng như về phương pháp giảng dạy. Vì vậy rất dễ sa

    vào diễn xuôi nội dung văn bản. Sách và tài liệu tham khảo để dạy cụm bài này

    cũng chưa nhiều và vốn Hán tự của giáo viên cũng ít. Đó là khó khăn mà chúng tôi

    gặ phải trong quá trình giảng dạy cụm bài này.

    II. PHẠM VI – MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI

    1. Phạm vi.

    Áp dụng đối với việc giảng dạy cụm bài ” Nghị luận trung đại Việt Nam “

    trong chương trình ngữ văn lớp 8.

    2. Mục đích.

    Nhằm tháo gỡ phần nào những lúng túng của GV khi giảng dạy kiểu bài này

    và nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn Ngữ văn nói chung.

    III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.

    HS Trường THCS.

    IV- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.

    3

    PHẦN II: NỘI DUNG

    I. KHÁI NIỆM.

    – Văn nghị luận là kiểu văn bản nêu ra những luận điểm rồi bằng những luận

    cứ, luận chứng làm sáng tỏ những luận điểm ấy một cách thuyết phục. Cốt lõi của

    văn nghị luận là ý kiến – luận điểm, lí lẽ và dẫn chứng, lập luận ( Sách GV Ngữ văn

    8)

    – Văn nghị luận trung đại là những văn bản nghị luận ra đời trong thời kì

    trung đại ( thời kì nhà nước phong kiến ).

    – So sánh nghị luận trung đại với nghị luận hiện đại.

    Nghị luận trung đại.

    – Văn – sử – triết bất phân.

    – Khuôn vào những thể loại

    riêng: chiếu, tấu, hịch, cáo…với

    kết cấu, bố cục riêng.

    – Mang đậm thế giới quan của

    con người trung đại: tư tưởng

    thiên mệnh,nhân nghĩa, thần –

    chủ, tâm lí sùng cổ…

    – Từ ngữ cổ: cách xưng hô trẫm

    – khanh…

    Nghị luận hiện đại.

    – Không phân chia thành các

    thể lọai rạch ròi, sử dụng trong

    các thể laọi văn xuôi hiện đại:

    Tiểu thuyết luận đề, phóng sự

    chính luận, tuyên ngôn…

    – Cách viết giản dị, câu văn

    gần với lời nói thường ngày,

    gắn với đời sống hơn.

    – Dùng nhiều điển tích, điển cố,

    II. NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý KHI HƯỚNG DẪN HS TIẾP CẬN VĂN NGHỊ

    LUẬN TRUNG ĐẠI.

    1. Cần nắm bối cảnh lịch sử – tác giả – tác phẩm.

    Có thể nói đây là những đặc điểm bên ngoài, gián cách với văn bản song lại là

    những tiền đề hết sức quan trọng để học sinh tìm hiểu tác phẩm. Đặc biệt với các

    tác phẩm nghị luận trung đại là những tác phẩm có ý nghĩa lịch sử gắn liền với các

    sự kiện trọng đại của lịch sử đất nước và các tác giả là những vị vua, vị tướng sĩ –

    những người đã gắn cuộc đời mình với vận mệnh của đất nước lúc bấy giờ. Vì vậy

    chính việc nắm vững các khía cạnh bối cảnh lịch sử – tác giả – tác phẩm sẽ gợi lên

    không khí thời đại, tính lịch sử và góp phần soi sáng nội dung tác phẩm.

    * Với bối cảnh lịch sử: HS cần vận dụng những kiến thức trong phân môn lịch

    sử để hiểu rõ tình hình đất nước trong hoàn cảnh văn bản ra đời.

    * Với tác giả: ngoài những gợi ý SGK, HS có thể tìm hiểu thêm về cuộc đời,

    sự nghiệp, tư tưởng của tác giả.

    4

    5

    6

    Tuy nhiên, văn nghị luận trung đại Việt Nam (chiếu, hịch, cáo, tấu) lại mang những

    đặc điểm thi pháp riêng. Trước hết GV chúng ta phải hướng dẫn học sinh nắm vững

    khái niệm của từng thể loại. Nội dung này được SGK trình bày đầy đủ, giáo viên

    chỉ cần nhấn mạnh thêm: Đây là nhóm các thể loại văn kiện hành chính mà người

    viết, người nhận đều có cương vị xã hội rõ rệt. Ở các thể Hịch, Chiếu, Cáo chủ thể

    phải là thiên tử hoặc chủ tướng, còn thể Tấu chủ thể là thần tử trình bày với thiên

    tử. Chiếu dùng để ban bố mệnh lênh, Hịch dùng để kêu gọi, cổ vũ; Cáo dùng để

    công bố kết quả một sự nghiệp còn Tấu dùng để trình bày sự việc, ý kiến, đề nghị.

    Trong mỗi giờ học chúng ta nên so sánh điểm giống và khác nhau về đặc điểm và

    chức năng của các văn bản để học sinh nắm vững khái niệm thể loại.

    Chúng ta cần lưu ý là văn nghị luận trung đại mang đặc điểm chung của thi

    pháp văn học thời phong kiến, tức là thể hiện thế giới, tư tưởng qua một hệ thống

    ước lệ chặt chẽ, có tính uyên bác, cách điệu hóa, sùng cổ và phi ngã, quan niệm về

    con người và trời đất “nhất thể”. Đặc biệt do tư duy nguyên hợp không phân biệt

    văn học thuật và văn nghệ thuật nên có quan niệm văn sử bất phân, vì thế một số

    thể như chiếu, cáo, hịch…., tuy mang nội dung chức năng hành chính nhưng vẫn

    được coi là văn. Vì vậy khi tìm hiểu giá trị của các văn bản này phải phân tích được

    chất lượng chính luận (vấn đề được để cập phải là quan trọng, thiết yếu, thật sự có ý

    nghĩa, khuynh hướng rõ ràng, quan điểm đúng đắn tiền bộ, lập luận chặt chẽ, logic,

    chứng cứ hùng hồn) và chất lượng thẩm mỹ, đây là yêu cầu quy luật của nghệ thuật.

    * Chất lượng chính luận của 4 văn bản nghị luận trung đại trong chương trình Ngữ

    văn 8 đều đạt đến trình độ mẫu mực. Các văn bản này đều đề cập đến những vấn đề

    trọng đại mang ý nghĩa lịch sử của nước nhà: Chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc, xây dựng

    mở mang đất nước. Các văn bản đó có kết cấu chặt chẽ, cách lập luận giàu sức

    thuyết phục.

    * Về chất lượng thẩm mỹ, các văn bản trung đại này đều đáp ứng được yêu cầu

    quy luật của nghệ thuật. Tính thẩm mỹ ở đây chủ yếu thể hiện ở 2 phương diện:

    cảm hứng của chủ thể sáng tạo và tính hình tượng của văn bản. Các văn bản chính

    luận trung đại Việt Nam thường được viết với một nhiệt huyết nồng nàn. Tuy thuộc

    loại văn bản chính trị, hành chính nhưng các tác phẩm: Chiếu dời đô, Hịch tướng

    sỹ, Cáo Bình Ngô, Bàn luận về phép học không hề có giọng khô khan, chỉ chú trọng

    sự lập luận khúc triết lôgic và văn phong chặt chẽ mà còn tràn đầy cảm xúc.

    * Ví dụ: Hịch tướng sĩ sau khi tố cáo tội ác của kẻ thù để tô đậm nỗi đau xót

    chung của đất nước, để khơi gợi lòng căm thù, danh dự người làm tướng của các tì

    tướng Trần Quốc Tuấn đã bộc lộ trực tiếp cảm xúc của mình. Đó là nỗi đau xót “Ta

    7

    8

    Với ý nghĩa đó quan điểm tích hợp cần được vận dụng linh hoạt trong mỗi giờ

    Đọc – Hiểu văn bản nghị luận trung đại Việt Nam.Trước tiên chúng ta thấy rằng

    cụm bài Nghị luận trung đại được sắp xếp sau khi ở vòng 1 HS đã được học cụm

    văn bản trữ tình trung đại. Mặc dù khác về kiểu văn bản, khác về phương thức biểu

    đạt nhưng các văn bản này đều mang nội dung tư tưởng yêu nước sâu sắc. Đây là

    một trong những nguồn cảm hứng cơ bản của VHVN nói chung và VHTĐ nói

    riêng. Giá trị tinh thần ấy đã được thể hiện phong phú trong các văn bản trữ tình

    trung đại (Ngữ văn 7), ý thức độc lập tự chủ dân tộc (Nam quốc sơn hà – Lí Thường

    Kiệt), tinh thần tự cường tự tôn dân tộc (Tụng giá hoàn kinh sư – TQK), niềm vui

    giao hòa với thiên nhiên (Côn Sơn ca – NT)…. Vì vậy khi dạy Chiếu dời đô không

    thể không nhắc đến Nam quốc sơn hà, dạy Hịch tướng sĩ không thể không gắn với

    Tụng giá hoàn kinh sư.

    Hoặc khi dạy cụm bài nghị luận trung đại này, quan điểm tích hợp còn được

    vận dụng bằng việc chúng ta phải chỉ rõ cho HS nhận thức được bước phát triển về

    tư tưởng yêu nước của dân tộc qua 3 văn bản Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình

    Ngô đại cáo. Cụ thể là: nếu ở Nam quốc sơn hà quan niệm nước nhà của Lí Thường

    Kiệt là “Nam đế”, là “thiên thư”, ở Trần Quốc Tuấn là vua chúa, triều đình, tông

    miếu, thái ấp, tướng sỹ và bổng lộc…. thì đến với Nguyễn Trãi quan niệm nước nhà

    phong phú, đầy đủ hơn. Không dựa vào trời, vào thần, vào vua mà Nguyễn Trãi dựa

    vào nền văn hiến, cương vị lãnh thổ, phong tục tập quán, chính trị, lịch sử nước nhà,

    …. để định nghĩa nước nhà. Để từ đó chỉ ra bước phát triển lớn nhất trong tư tưởng

    yêu nước là ở Nguyễn Trãi, là ở tư tưởng “thân dân”. Tư tưởng ấy được nêu cao ngay ở

    những câu mở đầu trong Bình Ngô đại cáo:

    Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

    Quân điếu phạt trước lo trừ bạo

    Tiếp theo chúng ta thấy rằng các văn bản NLTĐ trong SGK Ngữ Văn 8 được

    sắp xếp sau khi ở vòng 1 HS đã được học kiểu văn bản nghị luận trong phân môn

    TLV và các văn bản nghị luận hiện đại (Đức tính giản dị của Bác, Ý nghĩa văn

    chương, Sự giàu đẹp của tiếng việt…) trong các giờ đọc – hiểu. Vì vậy chúng

    ta để HS vận dụng những kiến thức đã học để phân tích các băn bản NLTĐ lớp 8

    theo nguyên tắc tích hợp dọc. Chẳng hạn khi vận dụng kiến thức về các yếu tố luận

    điểm, luận cứ, lập luận trong văn nghị luận để HS nhanh chóng xác định được luận

    điểm (quan điểm tư tưởng trong bài), nghệ thuật lập luận của các văn bản, tư duy

    sáng suốt của các tác giả.

    * Ví dụ: Trong văn bản Bàn về phép học, trước khi hướng dẫn HS phân tích văn

    9

    10

    ý trong SGK, GV có thể xây dựng những câu hỏi, bài tập, yêu cầu HS tự tìm hiểu

    thêm những thông tin về tác giả, bối cảnh lịch sử… ( qua các tài liệu SGK, các câu

    chuyện lịch sử hoặc các phương tiện thông tin ) góp phần vừa kích thích,phát huy

    sự ham học hỏi, khám phá của HS vừa bổ sung, làm sinh động thêm nội dung kiến

    thức SGK.

    Nói tóm lại việc vận dụng quan điểm tích hợp vào quá trình dạy học là yêu cầu

    nhất thiết. Tất nhiên việc vận dụng nó, nhất là khi dạy cụm bài NLTĐ thì không

    phải là dễ. Chúng ta cần xây dựng các tình huống tích hợp trong các khâu của quá

    trình dạy học. Nhưng cũng cần tránh lối tích hợp một cách khiên cưỡng hoặc tích

    hợp tràn lan, không xoáy sâu vào bào giảng mà chỉ huy động kiến thức khi chúng

    thực sự cần thiết cho việc giải quyết các vấn đề trước mắt.

    5- Khi giảng dạy cụm bài nghị luận trung đại Việt Nam cần chú ý đến

    thiết bị, phương tiện dạy học.

    Đứng trước một thực tế cộng nghệ thông tin trong đời sống phát triển mạnh

    mẽ. Học sinh ngày nay có khả năng cập nhật thông tin rất nhanh chóng và thuận

    tiện thông qua các phương tiện thông tin nghe nhìn. Làm thế nào để cho học sinh

    không quay lại với các môn khoa học xã hội và nhân văn đặc biệt là bộ môn Văn –

    bộ môn giáo dục nhân cách và tâm hồn học sinh qua các bài giảng. Đây là môn học

    có tính đặc thù riêng vì vậy việc chuẩn bị và sử dụng thiết bị, phương tiện dạy học

    là khó khăn đối với mỗi giáo viên chúng ta. Đứng trước thực tế đó, điều đầu tiên là

    chúng ta phải sử dụng tốt các kênh hình trong SGK. Chỉ có điều sử dụng các kênh

    hình đó như thế nào cho hợp lý để góp phần làm nổi bật nội dung văn bản.

    * Ví dụ: Trong văn bản Chiếu dời đô có hình ảnh Chùa Một Cột – công trình

    kiến trúc nổi tiếng của thủ đô Hà Nội được xây dựng từ thời Lý. Giáo viên cho học

    sinh quan sát rồi từ đó giới thiệu cho HS những thành tựu văn hóa nhà Lý khẳng

    định tầm nhìn xa, sự đóng góp lớn lao của một vị minh quân đầy tinh thần trách

    nhiệm với đất nước. Hay cho HS quan sát bản đồ khu di tích kinh đô Hoa Lư và

    thành Đại La để thấy được sự sáng suốt của Lí Công Uẩn trong việc dời đô.

    Bên cạnh đấy chúng tôi nhận thấy dạy học văn, đặc biệt là dạy – học cụm bài

    Nghị luận trung đại theo hướng công nghệ có khả năng hấp dẫn thu hút học sinh,

    đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh. Bởi đây là cụm

    tác phẩm ra đời cách chúng ta tới cả nghìn năm hoặc vài trăm năm nếu chúng ta

    sử dụng tốt các thông tin do khoa học công nghệ đem lại sẽ làm cho học sinh học

    tập hào hứng, lượng thông tin truyền tải tới học sinh nhiều hơn, hào hứng hơn. Vì

    vậy mỗi GV chúng ta phải nắm được kỹ thuật thiết kế bài giảng và tổ chức dạy học

    theo hướng công nghệ.

    11

    12

    --- Bài cũ hơn ---

  • 2 Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8
  • Chứng Minh Tình Yêu Nước Qua Các Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8 Câu Hỏi 887173
  • Chu Đê Các Văn Bản Nghị Luận Trung Đại Lớp 8
  • Nghị Luận Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo
  • Nghị Luận Về Truyền Thống Tôn Sư Trọng Đạo Của Dân Tộc Việt Nam
  • Tóm Tắt Văn Bản Nghị Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tìm Hiểu Chung Về Văn Nghị Luận
  • Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội Về Vấn Đề Ô Nhiễm Môi Trường
  • Soạn Bài Bố Cục Và Phương Pháp Lập Luận Trong Bài Văn Nghị Luận
  • Bài Tập Bố Cục Và Phương Pháp Lập Luận Trong Bài Văn Nghị Luận (Có Đáp Án).
  • Nhận Xét Bố Cục Và Phương Pháp Lập Luận Trong Văn Bản Nghị Luận
  • -Tóm tắt VBNL: một hình thức làm văn kết hợp kĩ năng đọc – hiểu với kĩ năng diễn đạt, đáp ứng nhu cầu học tập suy nghĩ trong thực tế.

    2. Mục đích, yêu cầu của tóm tắt VBNL:

    + Giúp ta có những hiểu biết khái quát, chính xác và sâu sắc về VB gốc.

    + Tích lũy tư liệu và kiến thức cần thiết làm tài liệu.

    + Học tập cách tư duy và diễn đạt trong văn NL.

    + Rèn luyện kĩ năng đọc – hiểu, tiếp nhận văn bản và tóm tắt VBNL.

    + Phản ánh trung thành các tư tưởng, luận điểm của VB gốc; không tự ý thêm bớt.

    +Diễn đạt ngắn gọn, súc tích, loại bỏ những thông tin không phù họp với mục đích tóm tắt.

    – Bước 1: Đọc kĩ văn bản gốc. Dựa vào nhan đề,phần mở đầu và kết thúc àlựa chọn những ý, những chi tiết phù hợp với mục đích tóm tắt.

    -Bước 2: Đọc từng đoạn trong phần triển khai (thân bài)ànắm được các luận điểm, luận cứ làm sáng tỏ vấn đề.

    – Bước 3: Lập dàn ý trình bày lại một cách hệ thống những luận điểm của văn bản được tóm tắt.

    – Bước 4: Dùng lời văn của mình để thuật lại nội dung cơ bản của văn bản được tóm tắt nhưng cần giữ lại bố cục và những câu văn quan trọng của văn bản gốc.

    a)Chủ đề NL :Bàn về đặc trưng tổng thể của đất nước Indonesia.

    b)CĐ NL :nói về tài năng của Xuân Diệu trong việc nghiên cứu , phê bình VH.

    a.V/đề NL: Tình trạng sử dụng nguồn nước ngọt không hợp lý và tình trạng nguồn nước ngày càng bị cạn kiệt và ô nhiễm.

    b.Mục đích NL: nhằm nhắc nhở mọi người nhân thức giá trị và tầm quan trọng của tài nguyên nước èkêu gọi mọi người hãy tiết kiệm và tránh làm ô nhiễm nguồn nước.

    LĐ 1: Đặt v/đ: nước là tài sản quý báu nhưng đang bị hủy hoại và lãng phí nhiều nhất.

    LĐ 2:CM và PT à Tài nguyên nước trong tương lai sẽ không đáp ứng đủ cho yêu cầu của đ/s con người.

    LĐ 3:CMà Tình trạng khan hiếm và ô nhiễm môi trường nước trên thế giới.

    LĐ 4: Lời kêu gọi của LHQ về việc bảo vệ nguồn nước ngọt, chống ô nhiễm môi trường.

    d.Tóm tắt VBNL trong ba câu:

    -Trong đ/s chúng ta, thứ tài sản thường bị lãng phí và hủy hoại nhất chính là nước.

    -Các nhà KH đã chứng minh nguồn nước ngọt trên trái đất có hạn và ngày càng cạn kiệt dần.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghị Luận Xã Hội Về Tình Bạn Trong Cuộc Sống
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Tình Bạn
  • Nghị Luận Xã Hội Về Chủ Đề Tình Bạn
  • Nghị Luận Xã Hội Về Tình Bạn
  • 4 Bài Văn Mẫu Nghị Luận Xã Hội Về Tình Bạn, Văn Mẫu Lớp 12, Tuyển Chọn
  • Khái Niệm Về Văn Nghị Luận

    --- Bài mới hơn ---

  • Đặc Điểm Của Văn Bản Nghị Luận
  • Soạn Bài Tóm Tắt Văn Bản Nghị Luận
  • Bài Giảng Môn Học Ngữ Văn Lớp 7
  • Một Số Kinh Nghịêm Dạy Văn Bản Nhật Dụng Lớp 7 Và Lớp 9
  • Người Lái Đò Sông Đà
  • Văn nghị luận là loại văn được viết ra nhằm xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng nào đó đối với các sự việc, hiện tượng trong đời sống hay trong văn học bằng các luận điểm, luận cứ và lập luận.

    – Luận điểm: là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm trong bài văn nghị luận. Một bài văn thường có các luận điểm: luận điểm chính, luận điểm xuất phát, luận điểm khai triển, luận điểm kết luận.

    – Luận cứ: là những lí lẽ và dẫn chứng làm cơ sở cho luận điểm. Luân điểm là kết luận của những lí lẽ và dẫn chứng đó.

    Luận cứ trả lời các câu hỏi: Vì sao phải nêu luận điểm? Nêu ra để làm gì? Luận điểm ấy có đáng tin cậy không?

    – Mở bài (đặt vấn đề): Giới thiệu vấn đề, tầm quan trọng của vấn đề, nêu được luận điểm cơ bản cần giải quyết.

    – Thân bài ( giải quyết vấn đề): Triển khai các luận điểm, dùng lí lẽ dẫn chứng lập luận để thuyết phục người nghe theo quan điểm đã trình bày.

    – Kết bài ( kết thúc vấn đề): Khẳng định tầm quan trọng, ý nghĩa của vấn đề đã nêu.

    – Phương pháp chứng minh: mục đích làm sáng tỏ vấn đề, dùng lí lẽ và dẫn chứng để khẳng định tính đúng đắn của vấn đề.

    – Phương pháp giải thích: chỉ ra nguyên nhân, lí do, quy luật của sự việc hiện tượng được nêu trong luận điểm. Trong văn nghị luận, giải thích là làm sáng tỏ một từ, một câu, một nhận định.

    – Phương pháp phân tích: là cách lập luận trình bày từng bộ phận, phương diện của một vấn đề nhằm chỉ ra nội dung của sự vật, hiện tượng. Để phân tích nội dung của một sự vật, hiện tượng, người ta có thể vận dụng các biện pháp nêu giả thiết, so sánh đối chiếu,… và cả phép lập luận giải thích, chứng minh.

    – Phương pháp tổng hợp: là phép lập luận rút ra cái chung từ những điều đã phân tích. Lập luận tổng hợp thường đặt ở cuối đoạn hay cuối bài, phần kết luận của một phần hoặc toàn bộ văn bản.

    Về nội dung: Phải làm rõ được sự viêc, hiện tượng có vấn đề; phân tích mặt sai đúng, mặt lợi hại của nó; chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ ý kiến, nhận định của người viết. Bài làm cần lựa chọn góc độ riêng để phân tích, nhận định; đưa ra ý kiến, có suy nghĩ và cảm thụ riêng của người viết.

    Về hình thức: Bài viết phải có bố cục mạch lạc, có luận điểm rõ ràng, luận cứ xác thực, phép lập luận phù hợp; lời văn chính xác, sống động.

    + Mở bài: Giới thiệu sự việc, hiện tượng có vấn đề.

    + Thân bài: Liên hệ thực tế, phân tích các mặt, đánh giá, nhận định.

    + Kết bài : Kết luận, khẳng định, phủ định, lời khuyên.

    + Về nội dung: Phải làm sáng tỏ các vấn đề về tư tưởng, đạo lí bằng cách giải thích, chứng minh, so sánh, đối chiếu, phân tích,… để chỉ ra chỗ đúng hay chỗ sai của một tư tưởng nào đó, nhằm khẳng định tư tưởng của người viết.

    + Về hình thức: Bài viết phải có bố cục ba phần; có luận điểm đúng đắn, sáng tỏ; lời văn chính xác, sinh động.

    + Về nội dung: Nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ được thể hiện qua ngôn từ, giọng điệu, …Bài nghị luận cần phân tích các yếu tố ấy để có những nhận xét đánh giá cụ thể, xác đáng.

    + Về hình thức: Bài viết cần có bố cục mạch lạc, rõ ràng; có lời văn gợi cảm, thể hiện rung động chân thành của người viết.

    + Mở bài: Giới thiệu đoạn thơ, bài thơ và bước đầu nêu nhận xét đánh giá của mình ( nếu phân tích một đoạn thơ nên nêu rõ vị trí của đoạn thơ ấy trong tác phẩm và khái quát nội dung cảm xúc của nó)

    + Thân bài: Lần lượt trình bày những suy nghĩ, đánh giá về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ ấy.

    + Kết bài: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ, bài thơ.

    + Về nội dung: Những nhận xét đánh già về truyện phải xuất phát từ ý nghĩa của cốt truyện, tính cách, số phận của nhân vật và nghệ thuật trong tác phẩm được người viết phát hiện và khái quát.

    Các nhận xét, đánh giá về tác phẩm truyện (hay đoạn trích) trong bài nghị luận phải rõ ràng, đúng đắn, có luận cứ và lập luận thuyết phục.

    + Về hình thức: Bài nghị luận về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích) cần có bố cục mạch lạc, có lời văn chuẩn xác, gợi cảm.

    Để bài văn nghị luận có sức biểu cảm cao, người làm văn phải thật sự có cảm xúc trước những điều mình viết (nói) và phải biết biểu hiện cảm xúc đó bằng những từ ngữ, những câu văn có sức truyền cảm. Sự diễn tả cảm xúc cần phải chân thực và không được phá vỡ mạch lạc nghị luận cuả bài văn.

    Bài văn nghị luận vẫn thường phải có các yếu tố tự sự và miêu tả. Hai yếu tố này giúp cho việc trình bày luận cứ được rõ ràng, cụ thể, sinh động hơn, và do đó, có sức thuyết phục mạnh mẽ hơn.

    Các yếu tố miêu tả và tự sự được dùng làm luận cứ phải phục vụ cho niệc làm rõ luận điểm và không phá vỡ mạch lạc của bài nghị luận.

    Những tin mới hơn

    Những tin cũ hơn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Đặc Điểm Của Văn Bản Nghị Luận (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Đặc Điểm Của Văn Bản Nghị Luận
  • Văn Bản Nào Dưới Đây Không Phải Là Văn Bản Dưới Luật
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 1 (Có Đáp Án): Pháp Luật Đời Sống (Phần 6).
  • Chuyên Đề : Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100