Văn Nghị Luận: Cô Bé Bán Diêm

--- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm An
  • Ý Nghĩa Cái Chết Của Cô Bé Bán Diêm Trong Truyện
  • Cảm Nhận Ý Nghĩa Truyện Ngắn “cô Bé Bán Diêm” Của Andecxen
  • Phân Tích Ý Nghĩa Của Hình Tượng Ngọn Lửa Diêm Trong Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Vb Cô Bé Bán Diêm
  • I. Giới thiệu một vài nét về An-đéc-xen và truyện “Cô bé bán diêm”

    1. Tác giả

    – H.C. An-đéc-xen là nhà văn vĩ đại của Đan Mạch trong thế kỉ 19, nổi tiếng với thế giới về những truyện viễn tưởng, truyện cổ tích viết cho tuổi thơ. Ông sinh vào năm 1805 trong một gia đình thợ giày nghèo, nên từ nhỏ đã tự lập, kiếm sống, lưu lạc nhiều nơi.

    Say mê nghệ thuật từ thời niên thiếu, từng thử sức trong lĩnh vực thơ ca và sân khấu, nhưng đều thất bại. Tác phẩm của An-đéc-xen để lại rất nhiều, nhưng chỉ có loại truyện cổ tích là đã làm cho tên tuổi ông trở thành bất tử.

    Năm An-đéc-xen 30 tuổi, ông du lịch qua Pháp và Ý. Hoa nghệ thuật nở rộ trong tâm hồn ông. Những “Truyện kể cho các em” nối tiếp xuất hiện. Trong đó có những truyện đặc sắc như: “Nàng tiên cá”, “Nàng công chúa hạt đậu”, “Bộ quần áo mới của Hoàng đế”, “Chú lính chì dũng câm”, “Bầy thiên nga”, “Chim họa mi”, “Nữ thần băng giá”, v.v… được in đi in lại nhiều lần, để lại bao giấc mơ kì diệu trong tâm hồn tuổi thơ trên khắp hành tinh.

    Kho tàng truyện cổ tích An-đéc-xen giàu chất nhân văn, đượm màu sắc hư ảo và thơ mộng, ngộ nghĩnh và thông minh, đáng yêu. Cốt truyện hấp dẫn, cách kể sinh động, lời văn nhẹ nhàng, trong sáng… đã tạo nên vẻ đẹp lâu bền của truyện cổ tích An-đéc-xen.

    An-đéc-xen là danh nhân vãn hóa thế giới, là người bạn của tuổi thơ gần xa.

    Một đêm giao thừa. Rét dữ dội, tuyết rơi. Một cô bé đầu trần chân đi đất dò dẫm trong đêm tối. Đôi chân trần nhỏ bé, đỏ ửng lên, tím bầm lại. Chiếc tạp dề cũ kĩ đựng đầy diêm và tay cô bé còn cầm thêm một bao. Suốt một ngày dài chẳng bán được một bao nào! Chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Bụng đói cật rét mà em vẫn phải lang thang trên đường. Tuyết bám đầy tóc và xếp thành từng búp trên lưng em.

    Đêm giao thừa, nhà nhà sáng rực ánh đèn, sực nức mùi ngỗng quay. Năm xưa, khi bà nội hiền hậu còn sống, em cũng được đón giao thừa ở nhà. Sau đó, bà mất, gia sản tiêu tán, gia đình phải lìa ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh…, đến chui rúc trong một xó tối tăm. Giờ đây, em luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa…

    Lang thang mãi, đêm khuya càng rét dữ. Em không thể về, nếu không bán được ít bao diêm thì sẽ bị bố đánh. Em ngồi nép vào một góc tường, giữa hai ngôi nhà xa lạ. Đôi chân rét buốt, đôi bàn tay đã cứng đờ ra. Em đánh liều quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét. Ngọn lửa xanh lam rồi sáng rực như than hồng. Nhìn ngọn lửa diêm em tưởng chừng đang ngồi trước một lò sưởi. Que diêm tàn, lửa tắt, em bần thần cả người, chợt nghĩ ra đêm nay về nhà thế nào cũng bị bố mắng.

    Em quẹt que diêm thứ hai, diêm cháy sáng rực lên. Em chìm vào một cơn mộng đẹp. Một bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, bát đĩa bằng sứ quý giá và có cả một con ngỗng quay. Con ngỗng quay nhảy ra khỏi đĩa cùng dao ăn, phóng sết tiến về phía em… Diêm lại tắt, mộng tan, đêm tối dày đặc và lạnh lẽo.

    Em quẹt que diêm thứ ba, bỗng em thấy hiện ra cây thông Nô-en trang trí lộng lẫy, hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi. Em với tay về phía cây… nhưng diêm tắt. Nến bay lên thành những ngôi sao trên trời…

    Em quẹt que diêm thứ tư, ánh sáng xanh tỏa ra xung quanh. Em nghĩ tới một ngôi sao đổi ngôi, một linh hồn bay lên trời với Thượng đế, em nghĩ tới bà nội em đã mất. Em cất tiếng gọi: “Bà ơi!”. Em reo lên. Em nhớ lại những ngày bà còn sống, bà cháu từng được sống sung sướng. Em van bà xin Thượng đế chí nhân cho em bay lên trời để được về với bà. Diêm tắt phụt, ảo ảnh sáng rực trên khuôn mặt em cũng biến mất. Em quẹt tất cả mọi que diêm còn lại. Diêm nối nhau chiếu sáng. Em nhìn thấy gương mặt bà to lớn, đẹp lão. Bà cầm tay cháu rồi hai bà cháu cùng bay lên cao, cao mãi về chầu Thượng đế.

    Sáng hôm sau, mồng một Tết, tuyết vẫn phủ mặt đất, mặt trời chói chang trời xanh. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Họ đã nhìn thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười nằm chết ở một xó đường vì giá rét đêm giao thừa. Tử thi em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn.

    Trong chúng ta, chắc là đã có nhiều bạn từng đọc “Bầy chim thiên nga”, đọc “Nàng tiên cá”,… của nhà văn An-đéc-xen – nhà văn nổi liếng của Đan Mạch trong thế kỉ XIX. Ông là nhà văn của “mỗi thời, mọi người và mọi nhà” với loại truyện kể cho trẻ em. Cái phong vị phương Bắc, với hoa tuyết, với cánh thiên nga, với nàng tiên cá, với ngọn lửa diêm thần kì,… như đưa tuổi thơ chúng ta sống với bao giấc mơ huyền ảo, những giấc mơ tuyệt đẹp.

    Truyện “Cô bé bán diêm” được An-đéc-xen viết vào năm 1845, khi ông đã có trên 20 năm cầm bút, tên tuổi lừng danh thế giới. Nó thuộc loại truyện vừa thực vừa ảo, vừa mang màu sắc cổ tích thần kì, vừa đậm đà chất thơ trữ tình, gợi lên một tình thương, một vẻ đẹp nhân văn sáng giá. Em bé bán diêm đã chết cóng trong tuyết, với má hồng và đôi môi như mỉm cười tưởng được ru bằng những giấc mơ huyền thoại!

    Người đọc từng băn khoăn tự hỏi: mẹ em bé đi đâu? Nhiều người dự đoán em bé mồ côi mẹ. Tuổi thơ đẹp nhất của em là quãng thời gian được sống bên bà nội hiền hậu trong ngôi nhà xinh xắn có dây trường xuân bao quanh. Cuộc đời em trở nên bất hạnh từ sau ngày bà nội mất, sống bên người bố thô lỗ, cục cằn, em phải “chịu chui rúc trong một xó tối tăm, luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa”.

    An-đéc-xen dẫn chúng ta đi theo con đường bán diêm của cô bé. Một thời điểm điển hình nói lên sự nghèo khổ, nói lên nỗi bất hạnh tột cùng của một em bé. Đó là một đêm giao thừa “rét dữ dội, tuyết rơi “. Em ra đi đầu trần, lúc đầu có đôi “giày vải phỏng”, nhưng chỉ một lát sau thôi, giày của em, chiếc thì bị xe song mã nghiến, chiếc thứ hai thì bị một thằng bé xa lạ lượm lấy, tung lên trời, và nó bảo đem về “làm nôi cho con chó sau này”. Em đi bán diêm trong đêm tối với đôi chân trần nhỏ bé, chẳng mấy chốc “chân em đỏ ứng lên, rồi tím bầm lại vì rét”. Nhìn em, ai mà chẳng thương tâm?

    Nhà văn tạo nên hai nghịch cảnh một đêm giao thừa. Một em bé đi bán diêm suốt một ngày mà chẳng bán được một bao diêm nào, “bụng đói cật rét'” đi lang thang trên đường, chẳng được ai bố thí cho em chút đỉnh! Mái tóc và lưng em bám đầy tuyết. Trái lại, cửa sổ mọi nhà đều “sáng rực ánh đèn” và trong phố thì “sực nức mùi ngỗng quay”. Đó là hai cảnh trái ngược. Câu chuyện trở nên thấm vị đời cay đắng! Trên bước đường bán diêm kiếm sống giữa đêm giao thừa, em bé đang sống trong cô đơn, buồn tủi. Một quá khứ hạnh phúc trở về trong tâm hồn em. Mái nhà xưa với dây trường xuân, với hình ảnh bà nội, đầm ấm thế, yên vui thế! Nay còn đâu? Mái nhà hiện tại thì tồi tàn. suốt ngày em chỉ luôn nghe lời mắng chửi. Số phận em bé bán diêm thật cay đắng và đáng thương biết bao! Một tuổi thơ thấm đầy lệ. Đằng sau cảnh đời, số phận em bé bán diêm đêm giao thừa là một cái nhìn dõi theo của nhà văn An-đéc-xen với nhiều trắc ẩn, với nỗi lo khôn nguôi.

    Cô bé bán diêm ngoài cái rét, đơn côi,… còn có một nỗi đau tinh thần, luôn luôn bị giày vò, ám ảnh hết sức nặng nề. Ở nhà thì bị bố mắng nhiếc chửi rủa, lang thang trong đêm tuyết, giao thừa, nếu không bán được ít bao diêm hay không ai bố thí cho một đồng xu nào đem về, nhất định em sẽ bị bố đánh! Nỗi bất hạnh này thật đáng sợ, nó luôn luôn đè nặng tâm hồn em. Có biết rằng: “Tình thương của cha mẹ là thiên đường tuổi thơ” mới thấy cái sâu sắc trong tấm lòng nhân ái của nhà văn Đan Mạch. Ông nhắc khẽ ai đó đang được sống yêu thương, sung sướng trong vòng tay bố mẹ mình nên biết cảm thông với cái khổ tâm, nỗi thương đau của các bạn nhỏ bất hạnh như cô bé bán diêm này. Bởi lẽ, biết san sẻ cùng đồng loại cũng là hạnh phúc.

    Phần cảm động nhất, hay nhất khi tác giả nói về những cơn mơ của em bé bán diêm. Em đã đánh hết cả một bao diêm trên tay. Lúc đầu là “đánh liều” quẹt một que, với ý định “sưởi cho đỡ rét một chút “. Ngọn lửa của một que diêm sao có thể chống lại cả một đêm dày sương tuyết? Lúc đầu em chỉ thấy, em chỉ phát hiện ra ngọn lửa diêm đầu là ”xanh lam”, rồi “trắng ra”, “rực hồng lên quanh que gỗ trông đến vui mắt”. Từ niềm vui nhỏ nhoi, bình dị của một em bé con nhà nghèo như thế, em đã bước vào những cơn mơ kì diệu. Mỗi que diêm từ tay em bé quẹt lên là có một ngọn lửa “thần kì”. Que diêm thứ nhất “sáng rực như than hồng” làm cho em “tưởng chừng như đang ngồi trước một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Ngọn lửa trong lò sưởi ấy “nom đến vui mắt và tỏa ra hơi nóng dịu dàng”. Đó cũng là mơ ước của nhũng thân phận nghèo khổ trên đời giữa mùa đông giá rét dài lê thê! Nhà văn có cái tâm đẹp, cái tấm lòng nhân hậu và giàu trí tưởng tượng mới đồng cảm với những em bé nghèo khổ qua những mơ ước bình dị như vậy.

    Que diêm thứ hai bùng cháy dẫn hồn em đến một mái nhà êm ấm có “tấm rèm bằng vải màu”, có một mâm cỗ sang trọng. Một bàn ăn có khăn trải bàn trắng tinh, có bát đĩa bằng sứ quý giá, có ngỗng quay. Em đang “bụng đói cật rét” mà, nên em thấy có một điều kì diệu nhất là “ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa và mang cả dao ăn phóng sết cắm trên lưng, tiến về phía em”. Que diêm tắt, mộng tan. Em bé bán diêm vẫn ngồi cô đơn một mình dưới trời tuyết trong đêm giao thừa. Hỡi ai còn mang trong lòng tình người nhất định sẽ chảy lệ khi nghĩ về thân phận em bé sau khi que diêm thứ hai tắt, mộng tan.

    Lại que diêm thứ ba nữa bùng cháy. Em bé như thấy trước mắt mình một cây Nô-en được trang trí lộng lẫy với hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi… Em đang giơ tay với về phía cây… thì diêm tắt. Lần này, em thấy các ngọn nến bay lên cao mãi rồi “biến thành những ngôi sao trên trời”. Chất văn và cảm xúc của câu chuyện kể đã mang một nồng độ mới. Từ ngọn nến trên cây Nô-en (trong mơ) em nghĩ đến trời sao lấp lánh, rồi chập chờn về một ngôi sao đổi ngôi, một linh hồn nào đó đã “bay lên trời với Thượng đế”. Cũng cần cảm thụ được hình ảnh Thượng đế trong câu chuyện kể của An-đéc-xen, đó là một biểu tượng về niềm tin hướng tới cái vô cùng cao cả, thiêng liêng và tốt đẹp. Thượng đế trong ước mơ, chứ không phải trong đạo giáo, cũng như Tiên, Phật trong cổ tích Việt Nam vậy.

    Em bé chìm dần vào giấc mơ huyền diệu tuổi thơ khi em quẹt que diêm thứ tư. Trong ánh lửa xanh tỏa ra từ cây diêm, em bé “nhìn thấy rõ ràng bà em đang mỉm cười với em”. Và lần này cũng vậy, diêm cháy rồi tàn, làm tan giấc mộng; “Que diêm tắt phụt, và ảo ảnh rực sáng trên khuôn mặt em bé cũng biến mất “. Đã hơn một thế kỉ trôi qua từ ngày An-đéc-xen viết truyện này (1845) nhưng người đọc khắp hành tinh – những cô, cậu học trò nhỏ bé đáng yêu – hình như vãn còn nghe văng vẳng đâu đây lời nguyện cầu của cô bé bán diêm tội nghiệp. Cháu vẫn ngoan ngoãn đấy bà ơi! “Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà… “.

    Cái tài của An-đéc-xen là đã nói về cái chết của em bé bán diêm, chết đói, chết rét trong tuyết mà không gợi ra sự bi thảm hãi hùng. Em chưa chết và em không chết! Em đã cùng bà nội giã từ cái hiện thực cay đắng, phũ phàng và côi cút này để bước sang thế giới mới tươi đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Đó là nơi mơ ước của em; lên trời với Thượng đế chí nhân. Hình ảnh em bé bán diêm chết nằm trên tuyết, giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn”có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười” trong ngày mồng một Tết là một hình ảnh nhiều ý nghĩa gợi lên bao xót xa trong lòng người. Bầu trời thì xanh nhạt, mặt trời lên chói chang, tuyết vẫn phủ mặt đất. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Và họ bảo nhau: “Chắc nó muốn sưởi cho ấml”. Trái đất và bầu trời vẫn đẹp. Vẫn có kẻ vô tình trước nỗi đau của đồng loại. Đời vẫn nhiều nghịch cảnh đau buồn như “tuyết vẫn phủ kín mặt đất”. Ai mà biết được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm?”.

    Đọc truyện “Cô bé bán diêm”, hình tượng ngọn lửa – diêm là hình tượng lấp lánh nhất. Đó là ngọn lửa của ước mơ tuổi thơ về mái ấm gia đình, về ấm no và hạnh phúc, được ăn ngon và vui chơi, ước mơ về tình thương gia đình mà ông bà, cha mẹ đem lại cho con cháu. Từ ngọn lửa – diêm đã hóa thành những ngôi sao trên trời,… để soi đường cho em bé bay lên với Thượng đế. Qua ngọn lửa và ngôi sao sáng, An-đéc-xen đã cảm thông, trân trọng, ngợi ca những mơ ước hoặc là bình dị hoặc là kì diệu của tuổi thơ, vẻ đẹp nhân văn của truyện “Cô bé bán diêm ” được thể hiện tài tình qua hình tượng “ngọn lửa”‘. Và ông cũng nhắc khẽ mọi người phải biết san sẻ tình thương, đừng có phũ phàng hoặc vô tình trước nỗi đau, bất hạnh của các em nhỏ. An-đéc-xen có một lối viết nhẹ nhàng. Giá trị nhân bản của truyện “Cô bé bán diêm” giúp ta thấy được, ông là nhà văn của “mọi thời, mọi người và mọi nhà” như Huy-gô đại văn hào Pháp đã nói. Hãy nghĩ đến và phấn đấu vì một ngày mai – một ngày mai đẹp – cho tuổi thơ trong ấm no, hạnh phúc và ca hát, hòa bình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm Lớp 8 Ngắn Nhất
  • Em Hãy Kể Tên Bốn Ước Mơ Của Cô Bé Bán Diêm Trong Văn Bản Cô Bé Bán Diêm?
  • Kể Lại Câu Truyện Cô Bé Bán Diêm Bằng Một Kết Thúc Khác
  • Hóa Thân Cha Của Cô Bé Bán Diêm Và Kể Lại Câu Chuyện Theo Ngôi Kể Thứ 3 Câu Hỏi 101314
  • Viết Một Đoạn Văn Ngắn Về Bức Thông Điệp Mà Tác Giả Muốn Gửi Đến Cho Người Đọc Trong Văn Bản Cô Bé Bán Diêm?
  • Văn Bản “cô Bé Bán Diêm”

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Kể Lại Câu Chuyện Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Cô Bé Trong Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Phân Tích Văn Bản “cô Bé Bán Diêm”
  • Anh (Chị) Hãy Tóm Tắt Truyện Cô Bé Bán Diêm Của Andersen
  • Soạn Văn Bài 8: Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • 1.Hãy xác định ba phần của văn bản này nếu lấy việc em bé quẹt những que diêm làm phần trọng tâm.Căn cứ vào đâu để có thể chia phần thứ hai ( phần trọng tâm )thành những đoạn nhỏ hơn .

    Phần thứ nhất: Hòan cảnh của cô bé bán diêm.

    Phần thứ hai (trọng tâm): Các lần quẹt diêm và những mộng tưởng.

    Phần thứ ba: Cái chết thương tâm của em bé bán diêm.

    Phần trọng tâm có thể chia thành 5 đoạn nhỏ căn cứ vào các lần quẹt diêm. Bốn lần đầu, mỗi lần quẹt một que diêm. Lần thứ năm quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao.

    chúng tôi phần đầu,chúng ta biết gì về gia cảnh của nhân vật cô bé bán diêm và không gian,thời gian xảy ra câu chuyện?Liệt kê những hình ảnh tương phản (đối lập,đặt gần nhau,làm nổi bật lẫn nhau)được nhà văn sử dụng trong phần này nhằm khắc họa nỗi cực khổ của cô bé

    -Gia cảnh:

    +Mẹ chết, sống với bố, bà nội cũng đã qua đời.

    +Nhà nghèo, sống chui rúc trong một xó tối tăm, trên gác sát mái nhà.

    +Bố khó tính, em luôn luôn nghe những lời mắng nhiếc, chửi rủa.

    +Phải đi bán diêm kiếm sống.

    -Không gian,thời gian xảy ra câu chuyện:

    +Đêm giao thừa: gió rét, tuyết rơi.

    +Đường phố vắng vẻ.

    3.Chứng minh rằng những mộng tưởng của cô bé qua các lần quẹt diêm diễn ra theo trình tự hợp lí.Trong số các mộng tưởng ấy,điều nào gắn với thực tế,đièu nào thuần túy chỉ là ảo mông?

    -Các mộng tưởng diễn ra theo trình tự hợp lí: vì trời rét nên trước hết em nghĩ đến lò sưởi, tiếp đó, vì đói nên em nghĩ tới bàn ăn, sau đó vì hôm nay là giao thừa nên “cây thông Nôen” hiện ra, đến đây, em nhớ đến đã có một thời em cũng được đón giao thừa như thế, khi bà còn sống, thế là hình ảnh bà em xuất hiện.

    Thực tế và mộng tưởng xen kẽ với nhau: khi diêm cháy là lúc mộng tưởng hiện ra trong đầu em bé, khi diêm tắt là lúc em trở về với thực tại

    -Con ngỗng quay nhảy ra khỏi đĩa, hai bà cháu nắm tay

    nhau bay lên trời chỉ là mộng tưởng

    Các hình ảnh: lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nôen

    gắn với thực tế

    4.Phát biểu cảm nghĩ của em về truyện Cô bé bán diêm nói chung và về đoạn kết của chuyện nói riêng

    “Sáng hôm sau, tuyết vẫn phủ kín mặt đất, nhưng mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt. Mọi người vui vẻ ra khỏi nhà. Trong buổi sáng lạnh lẽo ấy, ở một xó tường, người ta thấy một em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Em đã chết vì giá rét trong đêm giao thừa. Ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm, trong đó có một bao đã đốt hết nhẵn. Chẳng ai biết những cái kì diệu em đã trông thấy và nhất là cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”

    – Em đã đi vào bầu ánh sáng vĩ đại, vào sống trong một thế giới của ánh sáng, tình thương, nơi ấy có người bà hiền hậu thân thương, có những lò sưởi ấm, những bữa ăn thịnh soạn, những cây thông trang hoàng rực rỡ, được sống trong sự bao dung chở che và lòng độ lượng nhân từ vô hạn của Chúa. Em đã vĩnh viễn thoát khỏi những đọa đày trên mặt đất đau thương, vĩnh viễn thoát khỏi những cơn đói hành hạ, thoát khỏi cái rét cắt da cắt thịt, khỏi nỗi cô đơn, bất hạnh. Em ra đi thanh thản và mãn nguyện “đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười”. Chắc hẳn gương mặt ấy sẽ còn ám ảnh độc giả bao thế hệ: cô bé ra đi trong niềm vui, sự bao dung, tha thứ. Cô mỉm cười từ giã tất cả, tha thứ tất cả: những lời chửi mắng thậm tệ, những trận đòn roi, những sự lạnh lùng vô cảm của con người…. Cô bé ra đi tựa như một thiên thần, sau khi chịu đựng những đọa đày thế gian đã được trở về với Chúa, về nước thiên đàng. Ở phương diện đó, kết thúc câu chuyện là một cái kết có hậu, ấm áp và đầy tính nhân văn. Andersen đã không dùng đôi cánh tưởng tượng để thoát li mà cúi sát xuống hiện thực khốc liệt của cuộc sống, để cảm thông và yêu thương những số phận bất hạnh, để nhận ra và trân trọng những ước mơ trong sáng, thánh thiện của con người.

    – Nhưng không hẳn là một cái kết hoàn toàn có hậu. Truyện của Andersen khép lại nhưng lòng người đọc vẫn không nguôi băn khoăn, trăn trở, day dứt suy nghĩ về con người, cuộc đời, về tình người, tình đời. Nhà văn không né tránh hiện thực nghiệt ngã. Cô bé có tâm hồn trong sáng, thánh thiện ấy đã chết, chết trong chính đêm giao thừa, trong cái đói, cái rét hành hạ. Một năm mới sang hứa hẹn những khởi đầu mới nhưng cô bé đã kết thúc cuộc hành trình của mình tại chính ngưỡng cửa của năm mới. Chẳng có cơ hội, chẳng có tương lai nào cho em. Trước khi chết vì đói, vì rét, em đã chết vì chính sự lạnh lùng, vô cảm, tàn nhẫn, ích kỉ của con người. Em không dám về nhà vì sợ những lời chửi mắng, đánh đập của bố, em trơ trọi, bơ vơ, tuyệt vọng chống chọi với cái giá rét trước ánh mắt vô cảm, thờ ơ của những người qua đường, em cô đơn, buồn tủi khi mọi người vui vẻ, hân hoan đón chào năm mới, em nằm đó trong những lời đàm tiếu vô tâm của mọi người. Em từ giã cõi đời, giã từ cuộc sống vì không ai thương em, không ai che chở, bảo vệ em. Cái chết của em mãi để lại nỗi xót thương, niềm day dứt như một câu hỏi ám ảnh trong lòng mỗi người: làm sao để không bao giờ trên mặt đất này còn có những trẻ em bất hạnh như cô bé bán diêm ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm Trang 64 Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm (Chi Tiết)
  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm
  • Văn Bản Cô Bé Bán Diêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm
  • Tóm Tắt Văn Bản Cô Bé Bán Diêm
  • Tóm Tắt Văn Bản Cổng Trường Mở Ra Lớp 7 (Hay Nhất)
  • Soạn Bài Cổng Trường Mở Ra
  • Soạn Bài Cổng Trường Mở Ra (Chi Tiết)
  • Ai đã từng đọc Cô bé bán diêm của nhà văn Đan Mạch An-đéc-xen hẳn sẽ không thể nào quên những ánh lửa diêm nhỏ nhoi bùng lên giữa đêm giao thừa giá rét gắn với một thế giới mộng tưởng thật đẹp của cô bé nghèo khổ. Kết cục câu chuyện thật buồn nhưng sức ám ảnh của những giấc mơ tuyệt đẹp vẫn ắp đầy tâm trí người đọc, người nghe qua những lời kể và sự miêu tả rất cuốn hút của An-đéc-xen.

    Trong bóng tối và cái rét cắt thịt da của xứ sở Đan Mạch, ta như nhìn thấy rõ một cô bé đôi môi tím tái, bụng đói cồn cào đang lần từng bước chân trần trên hè phố. Một cô bé mồ côi khốn khổ, không dám về nhà vì chưa bán được bao diêm nào thì sẽ bị cha đánh. Nhà văn đã tạo ra cảm giác thật sống động khi ông nhập vào những khoảnh khắc tâm trạng của cô bé.

    Ấn tượng đậm nét đầu tiên khơi lên mối cảm thương chính là hình ảnh cô bé như lọt thỏm giữa cái mênh mông của bóng đêm vào thời khắc sắp giao thừa. Khi “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn và trong phố sực nức mùi ngỗng quay”, cô bé đã hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi bà nội hiền hậu còn sống. Ngôi nhà xinh xắn với những dây trường xuân trong những ngày đầm ấm tương phản với thực tại cuộc sống của hai cha con trong một xó tối tăm, sự nghèo khổ kéo theo những lời mắng nhiếc chửi rủa của người cha khi gia sản đã tiêu tán. Để nguôi cảm giác lạnh, em đã “ngồi nép trong một góc tường”, “thu đôi chân vào người” nhưng có lẽ chính nỗi sợ hãi còn mạnh hơn giá rét đã khiến em “càng thấy rét buốt hơn”. Em không thể về vì biết “nhất định cha em sẽ đánh em”. “Ở nhà cũng rét thế thôi”, điều đáng sợ nhất đối với cô bé không phải là thiếu hơi ấm mà là thiếu tình thương. Thật đáng thương khi thân hình bé nhỏ của em phải chống chọi vô vọng với cảm giác giá buốt bên ngoài và cái lạnh từ trong trái tim khiến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”.

    Lúc ấy, em chỉ ao ước một điều thật nhỏ nhoi: “Chà! Giá quẹt một que diêm mà sưởi cho đỡ rét một chút nhỉ?” nhưng dường như em cũng không đủ can đảm vì làm như vậy em sẽ làm hỏng một bao diêm không bán được. Nhưng rồi cô bé ấy cũng “đánh liều quẹt một que”, để bắt đầu cho một hành trình mộng tưởng vượt lên thực tại khắc nghiệt. Giấc mơ của em bắt đầu từ lúc nhìn vào ngọn lửa: “lúc đầu xanh lam, dần dần biến đi, trắng ra, rực hồng lên quanh que gỗ, sáng chói trông đến vui mắt”. Ánh sáng ấy đã lấn át đi cảm giác của bóng tối mênh mông, để hiện lên hình ảnh “một lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng”. Niềm vui thích của em đến trong ảo giác “lửa cháy nom đến vui mắt và toả ra hơi nóng dịu dàng”. Đó là ước mơ thật đơn giản trong khi thực tế lại phũ phàng “tuyết phủ kín mặt đất, gió bấc thổi vun vút… trong đêm đông rét buốt”. Ước ao được ngồi hàng giờ “trước một lò sưởi” cũng biến tan khi “lửa vụt tắt, lò sưởi biến mất”. Khoảnh khắc em “bần thần cả người” khi hình dung ra những lời mắng chửi của cha khiến ta phải nao lòng. Bóng tối lại phủ lên màu u ám trong tâm hồn em.

    Có lẽ vì vậy, nhà văn đã để em tiếp tục thắp lên que diêm thứ hai, thắp lên niềm vui nhỏ nhoi dù chỉ là trong mộng tưởng. Không chỉ phải chống chọi với cái rét, cô bé còn phải cầm cự với cơn đói khi cả ngày chưa có miếng nào vào bụng. Bởi thế, ánh sáng rực lên của ngọn lửa diêm đã biến bức tường xám xịt thành “tấm rèm bằng vải màu”. Cái hạnh phúc trong những ngôi nhà ấm áp đã đến với em, khi em nhìn thấy : “Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá, và có cả một con ngỗng quay”. Giá như tất cả những hình ảnh tưởng tượng biến thành hiện thực thì em sẽ vui sướng biết bao, khi “ngỗng nhảy ra khỏi đĩa” sẽ mang đến cho em bữa ăn thịnh soạn để vượt lên phút đói lả người. Nhưng một lần nữa, ảo ảnh lại vụt biến, em lại phải đối mặt với “phố xá vắng teo, lạnh buốt, tuyết phủ trắng xoá, gió bấc vi vu”. Không những thế, em còn chứng kiến sự thờ ơ ghẻ lạnh của những người qua đường, hình ảnh tương phản được nhà văn khắc họa làm ta nhói đau trước em bé bất hạnh.

    Và một lần nữa, que diêm tiếp theo lại sáng bừng lên, để em được sống trong những giấc mơ đẹp nhất của một em bé. Trong một cuộc sống phải từng phút từng giây vật lộn mưu sinh, em đã phải từ giã những niềm vui được đùa chơi của con trẻ. Ánh sáng từ que diêm đã toả ra vầng hào quang lộng lẫy, cho em “một cây thông Nô-en”, như đem đến cho em một thiên đường của tuổi thơ: “Hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cành lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong tủ hàng”. Điều trớ trêu nghiệt ngã là tất cả những hình ảnh tươi đẹp ấy em chỉ kịp nhìn nhưng không thể chạm tay vào, bởi lẽ tất cả chỉ là ảo ảnh, như những ngôi sao trên trời mà em không thể với tới. Trái tim ta như nghẹn lại cùng lời kể của nhà văn, bởi lẽ em bé đang dần kiệt sức và sắp phải gục ngã trước cái lạnh chết người của xứ sở bà chúa Tuyết.

    Trong giây phút cuối cùng của đời em, có lẽ nhà văn không muốn người đọc phải chứng kiến một cái chết thảm thương vì rét, vì đói, vì thiếu tình thương và niềm vui trong cuộc đời khốn khổ của cô bé, nên đã cho em rất nhiều ánh lửa và niềm vui được gặp lại bà nội hiền hậu mà em rất mực kính yêu. Hình ảnh bà hiện lên trong những phút cuối cùng của em bé không hẳn là ảo ảnh mà chính là sự thực đã được nhìn qua tâm hồn thánh thiện của em. Bà em hiện ra với nụ cười như ban cho em diễm phúc được sống lại quãng đời ấm áp đầy tình thương thuở trước. Tiếng reo của em khi gặp lại bà cũng những lời cầu xin ngây thơ là tiếng nói cuối cùng của một người sắp giã từ trần thế. Em được sống với niềm vui trọn vẹn của riêng mình nhưng chúng ta có lẽ khó ai cầm được dòng nước mắt: “Dạo ấy, bà đã từng nhủ cháu rằng nếu cháu ngoan ngoãn, cháu sẽ được gặp lại bà, bà ơi! Cháu van bà, bà xin Thượng đế chí nhân cho cháu về với bà. Chắc Người không từ chối đâu.”. Trong lời tâm sự ấy, ta hiểu được sự thực về cuộc đời nghiệt ngã và bất công mà em đang hứng chịu. Điều em cần chính là tình thương thật sự trong một thế giới bao dung và nhân hậu. Bởi thế, cái chết đối với em không còn là một điều đáng sợ. Em được về với bà, đến một thế giới khác “chẳng còn đói rét, buồn đau nào đe doạ”. Nhà văn đã để chính đôi tay bé nhỏ của em thắp lên Ánh sáng – “diêm nối nhau chiếu sáng như giữa ban ngày” – để em được thấy bà em “to lớn và đẹp lão” đến đón em cùng bay vào thế giới ước mơ trong ánh sáng huy hoàng xua hết tối tăm đè nặng cuộc đời em.

    Câu chuyện kết thúc. Ngày mới lại bắt đầu, “mặt trời lên, trong sáng, chói chang trên bầu trời xanh nhợt”. Sự sống vẫn tiếp diễn, mọi người đón “ngày mồng một đầu năm hiện lên trên thi thể em bé ngồi giữa những bao diêm”, nhìn em để buông ra lời nhận xét thờ ơ: “chắc nó muốn sưởi cho ấm”. Không ai được biết những cái kỳ diệu em đã trông thấy, chỉ duy nhất một người chứng kiến được “cảnh huy hoàng lúc hai bà cháu bay lên để đón lấy những niềm vui đầu năm”, đó chính là nhà văn. Ông đã cúi xuống nỗi đau của một em bé bất hạnh, kể cho ta nghe câu chuyện cảm động này bằng tất cả tình yêu thương vô bờ bến đối với trẻ thơ và những con người nghèo khổ. An-đéc-xen đã cất lên tiếng nói cảnh tỉnh những trái tim đông cứng như băng giá, gửi bức thông điệp của tình thương đến với mọi người.

    nguồn google

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Tóm Tắt Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Chiếc Lá Cuối Cùng Của Hen
  • Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng Của O. Henri
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Cô Bé Bán Diêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Trắc Nghiệm Cô Bé Bán Diêm
  • Viết Một Đoạn Văn Ngắn Về Bức Thông Điệp Mà Tác Giả Muốn Gửi Đến Cho Người Đọc Trong Văn Bản Cô Bé Bán Diêm?
  • Hóa Thân Cha Của Cô Bé Bán Diêm Và Kể Lại Câu Chuyện Theo Ngôi Kể Thứ 3 Câu Hỏi 101314
  • Kể Lại Câu Truyện Cô Bé Bán Diêm Bằng Một Kết Thúc Khác
  • Em Hãy Kể Tên Bốn Ước Mơ Của Cô Bé Bán Diêm Trong Văn Bản Cô Bé Bán Diêm?
  • Câu chuyện kể về một cô bé bán diêm mồ côi mẹ từ nhỏ trong đêm giao thừa tuyết rơi lạnh giá cố bán những bao diêm. Cả ngày nay cô bé phải đi qua nhiều con phố nhưng không bán được bao nào, cái lạnh, cái đói làm em kiệt sức. Nhưng em lại không thể quay về nhà được vì sợ bị đòn. Ngồi nép vào góc tường em rút những que diêm trong bao ra đốt để sưởi ấm. Quẹt que diêm thứ nhất,lò sưởi hiện ra,que thứ hai vụt cháy em thấy đồ ăn thơm ngon,rồi que thứ ba em thấy cây thông noel rực rỡ đẹp đẽ , que cuối cùng em được gặp được người bà hiền hòa nhân hậu. Em đã quẹt hết chỗ diêm mà mình có để được nhìn thấy bà. Em ra đi nhưng trên môi em vẫn còn giữ lại nụ cười vì trong mơ em đã được gặp bà.

    Văn bản chia làm 3 phần

    – Phần 1: từ đầu đến cứng đờ ra (hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm)

    – Phần 2: tiếp theo đến chầu Thượng đế ( bốn lần quẹt diêm và điều ước sâu trong lòng em)

    – Phần 3: còn lại.( em bé đang thương ra đi trong sự bình thản)

    Soạn bài Cô bé bán diêm 3 cách

    Hãy xác định ba phần (chỗ bắt đầu, chỗ kết thúc từng phần) của bài này nếu lấy việc em bé quẹt từng que diêm làm phần trọng tâm. Căn cứ vào đâu đế có thể chia phần thứ hai (phần trọng tâm) thành những đoạn nhỏ hơn?

    Chia 3 phần như phần bố cục

    – Căn cứ vào những lần quẹt diêm của cô bé để xác định những đoạn nhỏ:

    + Ba lần quẹt diêm đầu tiên của cô bé thấy lò sưởi,đồ chơi,thức ăn: ước muốn bình thường giản dị của cô bé được như những đứa trẻ khác.

    + Lần thứ tư quẹt diêm có bé nhìn thấy bà: khát khao của cô bé muốn được bảo vệ

    + Cô bé đốt hết chỗ diêm mình có để níu giữ hình ảnh của bà.

    – Căn cứ vào từng lần quẹt diêm của cô bé bán diêm để chia phần trọng tâm thành các đoạn nhỏ.

    + Lần thứ nhất: chiếc lò sưởi xuất hiện

    + Lần thứ hai: bàn ăn thịnh soạn hiện lên

    + Lần thứ ba: cây thông nô-el rực rỡ hiện ra

    + Lần cuối cùng: người bà yêu quý của em xuất hiện

    Có thể chia thành 3 phần như sau:

    – Đoạn 1: Từ đầu đến “cứng đờ ra” : Nói về hoàn cảnh của cô bé bán diêm

    – Đoạn 2: Tiếp đến “Thượng đế”: Những lần quẹt diêm và mộng tưởng của cô bé

    – Đoạn 3: Còn lại: Cái chết thương tâm của cô bé.

    – Phần trọng tâm có thể chia thành những đoạn nhỏ dựa trên những lần quẹt diêm của em bé. Mỗi lần quẹt diêm là một đoạn nhỏ hơn.

    Trong phần đầu, nhà văn đã tạo dựng hoàn cảnh (gia đình, cuộc sống) và bối cảnh (thời gian, không gian) của em bé bán diêm như thê nào? Những hình ảnh tương phản (đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau) ở đây được thế hiện ra sao và nhằm mục đích nghệ thuật cụ thể gì?

    Hoàn cảnh cô bé bán diêm rất đáng thương:nhà nghèo,mồ côi mẹ từ nhỏ,bà ngoại mất sớm,cô sống với người cha trên căn gác sát mái nhà,cha cô bé suốt ngày uống rượu đánh đập cô bé. Ngày giáng sinh cô bé vẫn phải đi bán. Cô bé có những ước mơ nhỏ nhoi nhưng ngoài hiện thực không có. Để rồi em ra đi trong cái lạnh của ngày tuyết rơi.

    – Những hình ảnh đối lập được nhà văn sử dụng nhằm khắc họa nỗi khổ của cô bé:

    Mất đi mẹ và bà ngoại làm những tháng ngày của cô bé trở nên đáng thương.

    – Gia cảnh của nhân vật:

    + Trước kia: khá giả, sống cùng ngoại trong ngôi nhà đẹp có bức tường xuân bao quanh

    + Hiện tại: bị tiêu sản, ngoại mất, mồ côi mẹ, nhà nghèo, sống trong xó xỉnh tối tăm, ngày ngày phải đi bán diêm kiếm sống, sống cùng người cha tệ bạc, hay chửi mắng, đập đánh em.

    – Thời gian xảy ra câu chuyện: Vào đêm giao thừa

    – Không gian: trên con đường tối tăm, em đi trong bóng tối khi mà những ngôi nhà trong phố đều sáng rực những ánh điện, sực những mùi ngỗng quay,

    – Những hình ảnh tương phản:

    a. Hoàn cảnh:

    – Bà nội và mẹ đã qua đời

    – Sống với bố khó tính – hay chửi mắng

    – Nhà nghèo, nơi tối tăm

    – Phải đi bán diêm để kiếm sống

    b. Bối cảnh của truyện:

    – Thời gian: vào đêm giao thừa

    c. Các hình ảnh tương phản:

    Các mộng tưởng của em bé qua các lần quẹt diêm (lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en, người bà, hai bà cháu bay đi) diễn ra lần lượt có hợp lí không? Vì sao? Trong các mộng tưởng ấy, diều nào gắn với thực tế, điều nào thuần túy chỉ là tưởng tượng?

    Mộng tưởng của cô bé bán diêm diễn ra theo trình tự hợp lý:

    + Đầu tiên trong sự lạnh lẽo của những bông tuyết cô ước có cái lò sưởi để được cảm nhận sự ấm áp.

    + Có được sự ấm áp, cô bé thấy đói, vì cô đã nhịn rất lâu rồi.

    + Bàn thức ăn biến mất làm cô nhớ đến sự đẹp đẽ đêm giáng sinh là cả nhà được quây quần bên cây thông noel.

    + Cô gặp được người bà hiền hậu, mà mỉm cười với cô.

    + Cảnh hai bà cháu nắm chặt tay nhau bay lên trời: thoát khỏi những đau buồn.

    – Mộng tưởng gắn với thực tế: là sự ấm áp của lò sưởi, món ngỗng quay thơm ngon, cây thông được trang trí đẹp đẽ.

    – Mộng tưởng thuần túy là gặp được người bà thân thương.

    Những mộng tưởng của cô bé bán diêm là những mộng tưởng chung của tất cả những đứa trẻ đồng cảnh ngộ thời bấy giờ khao khát cuộc sống ấm no hạnh phúc bên gia đình.

    Ba lần mộng tưởng đầu tiên đều gắn với thực tế

    Lần cuối cùng em được gặp bà là mộng tưởng.

    Các mộng tưởng của em bé diễn ra lần lượt theo thứ tự hợp lý:

    – Lần 1: Vì trời rét

    – Lần 2: Vì bụng đói

    – Lần 3: Đó đó là đêm giao thừa

    – Lần 4: Trong giờ phút hạnh phúc đó bà đã hiện về đêm đến cho em tình yêu thương thuở nào.

    – Lần 5: Em muốn níu bà lại, muốn đi với bà …

    – Các mộng tưởng lò sưởi, bàn ăn, cây thông noel gắn liền với thực tế em bé đang rất cần. Còn hình ảnh con ngỗng quay bay ra khỏi đĩa và hình ảnh 2 bà cháu nắm tay nhau bay lên trời thì thuần túy là mộng tưởng. Mong ước hạnh phúc chính đáng đối với thân phận bất hạnh của em.

    Câu 4 (trang 68 Ngữ Văn 8 Tập 1)

    Hãy phát biếu những cảm nghĩ của mình về truyện “Cô bé bán diêm” (trích), nói chung và về đoạn kết của truyện nói riêng.

    Cảm nghĩ về cô bé bán diêm: một cô bé nhỏ đáng thương. Ở cái tuổi đáng ra nhận được sự yêu thương chăm sóc từ gia đình nhưng phải bươn chải kiếm tiền qua ngày cho người cha, lại còn hay bị ông ta la mắng, đánh đập. Cô bé luôn mơ ước có được cuộc sống no ấm,sum vầy bên gia đình,muốn được vui chơi đúng với lứa tuổi của em. Cô bé ra đi, để lại cho mọi người sự bàng hòng và thức tỉnh.

    – Cảm nghĩ về đoạn kết: Hình ảnh cô bé bán diêm ra đi dưới cái lạnh trogn đêm tuyết rơi nhưng nụ cười vẫn đọng trên môi- đó là hình ảnh tác giả tưởng tượng đưa vào câu chuyện giúp giảm bớt sự đau thương. Cái chế có lẽ là một sự giải thoát cho em, tác giả miêu tả cảnh hai bà cháu nắm tay nhau bay về trời. Một cái kết mang màu sắc cổ tích mặc dù bi thương nhưng vẫn có gì đó thật đẹp đẽ. Hi vọng em sẽ tìm được hạnh phúc ấm áp ở nơi xa.

    Em bé bán diêm đã chết, em chết vì đói rét. Cái chết của em được miêu tả nhẹ nhàng, thanh thản, đó là cái chết của một con người toại nguyện “đôi má hồng và đôi môi mỉm cười” bởi em đã được về với bà ở một thế giới khác không còn buồn đau và đói rét. Em thật tội nghiệp, người đời đối xử với em tệ quá, bà và mẹ là người thương em nhưng đều đã mất,. Người cha đối xử với em thiếu tình thương, khách qua đường chẳng đoái hoài đến em, những người nhìn thi thể em vào ngày mùng một cũng lạnh lùng như thế.

    Đọc truyện Cô bé bán diêm em cảm thấy buồn và xót xa cho số phận của một cô bé đầy trái ngang. Vốn là một đứa trẻ được sống trong sự ấm êm, yêu thương nhưng rồi cuộc đời đã đưa đẩy em vào cảnh phải bán từng bao diêm kiếm sống. Không may mắn được phúc phần yêu thương từ bố mẹ, em còn chịu sự vô tâm từ những người qua đường. Họ đều thấy em, nhưng không ai động lòng mà trao cho em chiếc áo, đưa em chiếc bánh đỡ đói, mua giùm em bao diêm,….Cuối cùng, em đã chết vì lạnh, vì đói, vì rét và chết bởi cả sự ích kỷ của con người. Cái chết ấy như một sự giải thoát cho em khỏi cuộc đời vô vàn những khổ cực, đớn đau mà chính em phải gặm nhấm, gánh chịu từng ngày. Câu chuyện bồi đắp cho tâm hồn em sự yêu thương, cảm thông với những người sinh ra không may mắn, em hiểu và trân trọng hơn giá trị của tình người trong cuộc đời.

    **Đoạn kết câu chuyện nói về cái chết của em bé bán diêm. Khi chết, trên khuôn mặt em đôi môi vẫn mỉm cười, đôi má em ửng hồng như một sự mãn nguyện của cô bé khi được đến bên người bà yêu quý. Qua từng lời văn, ta thấy được sự xót xa, thương cảm của nhà văn trước nỗi bất hạnh của cô bé.

    Tác phẩm cho thấy sự đồng cảm của tác giả đối với những số phận đáng thương trong xã hội.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Lớp 8 Hay Nhất
  • Kiểm Tra Kì 1 Lớp 8 Môn Văn Có Đáp Án Phòng Gd Tân Châu Giới Thiệu Về Ngôi Trường Mà Em Đang Học
  • Tóm Tắt Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Ngắn Gọn + 6 Bài Mẫu
  • Đoạn Văn Nêu Cảm Nghĩ Của Em Về Cô Bé Bán Diêm
  • Em Hãy Tóm Tắt Ngắn Gọn Truyện “cô Bé Bán Diêm” Và Nêu Nhận Xét Của Mình
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Cô Bé Bán Diêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 6. Cô Bé Bán Diêm
  • Kể Lại Truyện Cô Bé Bán Diêm Theo Ngôi Kể Và Cái Kết Mới
  • 2 Bài Văn Mẫu Trong Vai Cô Bé Kể Lại Truyện Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm (Chi Tiết)
  • Có cảnh tượng thương tâm nào hơn cảnh một em bé mồ côi mẹ chết cóng trong đêm giao thừa. Câu chuyện về “Cô bé bán diêm” của An – Đec – Xen đã đưa người đọc đến với đất nước Đan Mạch vào những năm giữa thế kỷ XIX nghèo đói, bần hàn. Đan Mạch là một nước nhỏ thuộc khu vực Bắc Âu, diện tích chỉ bằng một phần tám diện tích nước ta, thủ đô là Cô-pen-na-ghen. An-Đec-Xen là nhà văn nổi tiếng nhất của Đan Mạch.

    • An-Đec-Xen (1805-1875) là nhà văn nổi tiếng nước Đan Mạch với loại truyện kể về trẻ em. Nhiều truyện ông biên soạn lại từ truyện cổ tích, nhưng cũng có những truyện do ông hoàn toàn sáng tạo ra.
    • Nhiều truyện ngắn của An-Đec-Xen đã đi cùng tuổi thơ của biết bao em nhỏ khắp năm châu: Cô bé bán diêm, Nàng tiên cá, Nàng công chúa và hạt đậu…
    • Các truyện của ông nhẹ nhàng, tươi mát, toát lên lòng yêu thươn con người, nhất là những người nghèo khổ và niềm tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cái tốt đẹp trên thế gian.

    a. Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Cô bé bán diêm” sáng tác năm 1845, ra đời vào thời điểm Am-Đec-Xen sáng tác nhiều nhất.

    Trong đêm giao thừa, trời rét mướt, có một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang rầu rĩ đi bán diêm trong bóng tối. Cô bé bán diêm ấy đã mồ côi mẹ và cũng đã mất đi người thương yêu em nhất là bà nội. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, em được thấy một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba và được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư: bà nội hiền từ của em hiện lên đẹp đẽ, gần gũi và phúc hậu biết mấy. Nhưng ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cô bé bán diêm đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi.

    • Phần 1: Từ đầu… cứng đờ ra: Hoàn cảnh của cô bé bán diêm
    • Phần 2: Tiếp theo… về chầu thượng đế: Những lần quẹt diêm của cô bé
    • Phần 3: Còn lại: Cái chết của cô bé bán diêm

    a. Gia cảnh của cô bé bán diêm

    • Mẹ chết, sống với người bố khó tính, bà nội – người yêu thương em cũng đã qua đời.
    • Nhà nghèo, sống “chui rúc trong xó tối tăm”. “trên gác sát mái nhà”, em “luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa”.
    • Vì gia cảnh nghèo túng mà em phải đi bán diêm để kiếm sống.

    b. Hình ảnh cô bé bán diêm trong đêm giao thừa

      Ở đoạn đầu của tác phẩm, tác giả đã sử dụng rất thành công nghệ thuật đối lập – tương phản.

    • Những hình ảnh đối lập tương phản có tác dụng rất lớn, nhằm làm nổi bật tình cảm hết sức tội nghiệp: rét, đói, khổ của em bé – đã rét lại càng rét hơn khi thấy “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn”; đã đói lại càng đói hơn khi “trong phố sực nức mùi ngỗng quay”.
    • Ngoài ra, hình ảnh “cái xó tối tăm” em sống chui rúc với bố hiện nay và “ngôi nhà xinh xắn có dây trưỡng xuân bao quanh” năm xưa khi bà nội em còn sống.
    • Hình ảnh tương phản này không chỉ làm nổi bật nỗi khổ về vật chất mà cả sự mất mát về chỗ dựa tinh thần của em bé vì chỉ có bà nội là người thương em.
    • Đến tận đêm vẫn không bán được bao diêm nào, vẫn không dám về vì sợ bố đánh.

    c. Cảnh thực và những ảo ảnh

    • Đêm giao thừa cô đơn, ngập chìm trong tuyết lạnh, cô bé: “thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em cảm thấy rét buốt hơn”, “lúc này đôi bàn tay” mỗi lúc lại “cứng đờ ra”.
    • Trong tình cảnh đó, cô bé đã nghĩ tới việc đánh diêm để “hơ ngón tay”, để phần nào xua đi cái cô đơn lạnh cóng.
    • Câu chuyện được tiếp tục nhờ chí tiết lặp lại và biến đổi rất tự nhiên, hợp lý và thú vị qua chi tiết 5 lần cô bé quẹt diêm. Trong đó, cảnh thật và cảnh ảo đan xen nhau.
    • Lần thứ nhất:

    + Cảnh ảo: “Hiện ra lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng tỏa ra hơi nóng dịu dàng”.

    + Cảnh thật: Bên tay cầm diêm, ngón cái nóng bỏng lên.

    + Cảnh ảo: một bàn ăn sang trọng, thức ăn ngon lành tỏa mùi thơm ngào ngạt: “Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Em nhìn thấu vào tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá và có cả một con ngỗng quay”.

    + Cảnh thực: là khi que diêm vừa tắt thì “chẳng có bàn ăn nào cả, chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt…và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm”

    + Cảnh ảo: hiện ra một cây thông noel

    + Cảnh thật: vẫn không đổi.

    + Cảnh ảo: Hình ảnh người bà đã mất xuất hiện, sống lại với nụ cười dịu dàng với dứa cháu mồ côi nhỏ bé, đáng thương. Em bé cất lời nói với bà để biểu hiện tình cảm nhớ thương bà, ước nguyện đi cùng bà.

    + Cảnh thật: vẫn không thay đổi.

      Lần thứ năm – lần cuối cùng: Em quẹt diêm liên tục cho kỳ hết bao diêm để dẫn tới hình ảnh diêm nối nhau chiếu sáng như ban ngày:

    + Cảnh ảo: Hình ảnh bà nội hiện lên trong tưởng tượng chưa bao giờ to lớn, đẹp lão như thế. Em muốn níu giữ bà em lại với em. Em lại muốn bà em đi với em, em đi theo bà.

    + Cảnh thật: vẫn không đổi. Em đã chết vì rét trong đêm giao thừa.

    • Chỉ là một tưởng tượng, đây là giây phút em bé đã ra đi vĩnh viễn trong đói khát, rét mướt, trong niềm hy vọng tan biến.
    • 5 lần quẹt diêm, 5 lần lặp lại và biến đổi, thực tại xen lẫn ảo ảnh, nối tiếp, trở đi trở lại, tất cả được sắp xếp và tưởng tượng tuyệt khéo gợi lên cho người đọc vẻ đẹp hồn nhiên, tươi tắn của em bé đáng thương như một tiểu thiên thần.
    • Tác giả bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc của mình với em bé bất hạnh. Ngòi bút nhân ái và lãng mạng của nhà văn đã làm cho câu chuyện cảm động đau thương vẫn nhẹ nhàng đầy chất thơ.
    • Hình ảnh một em bé nghèo khổ, bất hạnh, đáng thương, đáng trọng. Một con người phải đối mặt với những khó khăn thử thách ở đời mà vẫn không nguôi mong muốn, khát vọng những điều tốt đẹp nhất.
    • Ngày mồng một, người ta nhìn thấy thi thể em bé mồ côi ngồi giữa những bao diêm một cách vô tình, lạnh lùng.
    • Chỉ có cái nhìn đầy cảm thông cùng tấm lòng nhân hậu và lãng mạn của An-Đec-Xen mới có thể viết lại một câu chuyện thương tâm mà vẫn làm cho người đọc bớt đi cảm giác bi thương.
    • Cho đến những dòng cuối cùng của tác phẩm, nhà văn vẫn dùng hình ảnh đối lập, tương phản rất đặc sắc: Giữa ngày đầu năm hứa hẹn những mầm sống mới mọc lên, có một em bé chết.
    • Miêu tả một cảnh thương tâm về cái chết của cô bé bán diêm, ngòi bút của tác giả vừa thực, vừa mộng. Sự thực là em bé khốn khổ kia đã chết, nhưng đây là một cái chết đẹp, hình hài thể xác chết mà linh hồn, khát vọng của em vẫn sống, sống trên đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười. Rõ ràng, đến với những dòng cuối của áng văn, tình thương, niềm tin con người và khát vọng những điều tốt đẹp nhất con người trong cõi lòng nhà văn Đan Mạch thấm đẫm chất nhân đạo, nhân văn.
    • Trong cái xã hội thiếu tình thương, nhà văn An-Đec-Xen đã viết truyện này với tất cả niềm cảm thông, yêu thương đối với em bé bất hạnh. Nhưng rõ ràng, truyện ngắn “Cô bé bán diêm” là một cảnh tượng thương tâm.
    • Cái chết của cô bé là tiếng nói tố cáo xã hội mạnh mẽ, phê phán lối sống ích kỷ, co cụm, chỉ biết mình của thế giới hiện đại. Đó là sự cảm thông sâu sắc của nhà văn kể chuyện thiên tài An-Đéc-Xen.
      Qua số phận bất hạnh của em bé nghèo, chúng ta thấy được xã hội mà em sống, đó là một xã hội không có tình người. Đồng thời truyện còn có sức tố cáo xã hội; phê phán lối sống ích kỷ, co cụm, chỉ biết mình của thế giới hiện đại. Câu chuyện còn toát lên niềm thương cảm của nahf văn đối với những em bé nghèo khổ. Vì thế, truyện vừa có giá trị hiện thực, vừa có giá trị nhân văn, nhân đạo.
    • Tác giả thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đối lập – tương phản. Những hình ảnh đối lập tương phản càng lúc càng gay gắt, thực tế và mộng tưởng, cuộc đời và ảnh ảo cứ sóng đôi hiện hiện, đan cài, tranh chấp nhau, nâng dần lên, bay cao lên.
    • Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng, với các chi tiết tương phản, diễn biến hợp lý, truyền cho chúng ta lòng thương cảm đối với em bé bất hạnh, lay động trong ta thình thương và niềm tin ở con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Truyện Cổ Tích Cô Bé Bán Diêm
  • Cảm Nhận Về Tình Yêu Thương Con Người Trong Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 Hay Nhất
  • Phân Tích Giá Trị Nhân Đạo Trong Truyện Ngắn Chiếc Lá Cuối Cùng Của O Hen
  • Từ Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng Của Ô Hen Ri, Em Có Suy Nghĩ Gì Tình Yêu Thương Trong Cuộc Sống?
  • Cảm Nhận Về Tình Yêu Thương Con Người Trong Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Cô Bé Bán Diêm – An

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: “Cô Bé Bán Diêm” Của Andecxen
  • Cảm Nhận Ý Nghĩa Truyện Ngắn “Cô Bé Bán Diêm” Của Andecxen
  • Giải Bài Tập Ngữ Văn Lớp 7
  • Giáo Án Ngữ Văn Khối 11
  • Soạn Bài: Chị Em Thúy Kiều – Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Có cảnh tượng thương tâm nào hơn cảnh một em bé mồ côi mẹ chết cóng trong đêm giao thừa. Câu chuyện về “Cô bé bán diêm” của An – Đec – Xen đã đưa người đọc đến với đất nước Đan Mạch vào những năm giữa thế kỷ XIX nghèo đói, bần hàn. Đan Mạch là một nước nhỏ thuộc khu vực Bắc Âu, diện tích chỉ bằng một phần tám diện tích nước ta, thủ đô là Cô-pen-na-ghen. An-Đec-Xen là nhà văn nổi tiếng nhất của Đan Mạch.

    I. Tìm hiểu chung

    1. Tác giả

    • An-Đec-Xen (1805-1875) là nhà văn nổi tiếng nước Đan Mạch với loại truyện kể về trẻ em. Nhiều truyện ông biên soạn lại từ truyện cổ tích, nhưng cũng có những truyện do ông hoàn toàn sáng tạo ra.

    • Nhiều truyện ngắn của An-Đec-Xen đã đi cùng tuổi thơ của biết bao em nhỏ khắp năm châu: Cô bé bán diêm, Nàng tiên cá, Nàng công chúa và hạt đậu…

    • Các truyện của ông nhẹ nhàng, tươi mát, toát lên lòng yêu thươn con người, nhất là những người nghèo khổ và niềm tin vào sự thắng lợi cuối cùng của cái tốt đẹp trên thế gian.

    2. Tác phẩm

    a. Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn “Cô bé bán diêm” sáng tác năm 1845, ra đời vào thời điểm Am-Đec-Xen sáng tác nhiều nhất.

    b. Tóm tắt: Cô bé bán diêm

    Trong đêm giao thừa, trời rét mướt, có một cô bé đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang rầu rĩ đi bán diêm trong bóng tối. Cô bé bán diêm ấy đã mồ côi mẹ và cũng đã mất đi người thương yêu em nhất là bà nội. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Vừa lạnh vừa đói, cô bé ngồi nép vào một góc tường rồi khẽ quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em có cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em vội quẹt que diêm thứ hai, em được thấy một bàn ăn thịnh soạn hiện lên. Rồi em quẹt que diêm thứ ba và được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư: bà nội hiền từ của em hiện lên đẹp đẽ, gần gũi và phúc hậu biết mấy. Nhưng ảo ảnh đó nhanh chóng tan đi sau sự vụt tắt của que diêm. Em vội vàng quẹt hết cả bao diêm để mong níu bà nội lại. Cô bé bán diêm đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi.

    c. Bố cục: 3 phần

    • Phần 1: Từ đầu… cứng đờ ra: Hoàn cảnh của cô bé bán diêm

    • Phần 2: Tiếp theo… về chầu thượng đế: Những lần quẹt diêm của cô bé

    • Phần 3: Còn lại: Cái chết của cô bé bán diêm

    II. Tìm hiểu văn bản

    1. Cô bé trong đêm giao thừa

    a. Gia cảnh của cô bé bán diêm

    • Mẹ chết, sống với người bố khó tính, bà nội – người yêu thương em cũng đã qua đời.

    • Nhà nghèo, sống “chui rúc trong xó tối tăm”. “trên gác sát mái nhà”, em “luôn nghe những lời mắng nhiếc chửi rủa”.

    • Vì gia cảnh nghèo túng mà em phải đi bán diêm để kiếm sống.

    b. Hình ảnh cô bé bán diêm trong đêm giao thừa

    • Ở đoạn đầu của tác phẩm, tác giả đã sử dụng rất thành công nghệ thuật đối lập – tương phản.

    • Những hình ảnh đối lập tương phản có tác dụng rất lớn, nhằm làm nổi bật tình cảm hết sức tội nghiệp: rét, đói, khổ của em bé – đã rét lại càng rét hơn khi thấy “mọi nhà đều sáng rực ánh đèn”; đã đói lại càng đói hơn khi “trong phố sực nức mùi ngỗng quay”.

    • Ngoài ra, hình ảnh “cái xó tối tăm” em sống chui rúc với bố hiện nay và “ngôi nhà xinh xắn có dây trưỡng xuân bao quanh” năm xưa khi bà nội em còn sống.

    • Hình ảnh tương phản này không chỉ làm nổi bật nỗi khổ về vật chất mà cả sự mất mát về chỗ dựa tinh thần của em bé vì chỉ có bà nội là người thương em.

    • Đến tận đêm vẫn không bán được bao diêm nào, vẫn không dám về vì sợ bố đánh.

    c. Cảnh thực và những ảo ảnh

    • Đêm giao thừa cô đơn, ngập chìm trong tuyết lạnh, cô bé: “thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em cảm thấy rét buốt hơn”, “lúc này đôi bàn tay” mỗi lúc lại “cứng đờ ra”.

    • Trong tình cảnh đó, cô bé đã nghĩ tới việc đánh diêm để “hơ ngón tay”, để phần nào xua đi cái cô đơn lạnh cóng.

    • Câu chuyện được tiếp tục nhờ chí tiết lặp lại và biến đổi rất tự nhiên, hợp lý và thú vị qua chi tiết 5 lần cô bé quẹt diêm. Trong đó, cảnh thật và cảnh ảo đan xen nhau.

    • Lần thứ nhất:

    + Cảnh ảo: “Hiện ra lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng tỏa ra hơi nóng dịu dàng”.

    + Cảnh thật: Bên tay cầm diêm, ngón cái nóng bỏng lên.

    • Lần thứ hai:

    + Cảnh ảo: một bàn ăn sang trọng, thức ăn ngon lành tỏa mùi thơm ngào ngạt: “Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màu. Em nhìn thấu vào tận trong nhà. Bàn ăn đã dọn, khăn trải bàn trắng tinh, trên bàn toàn bát đĩa bằng sứ quý giá và có cả một con ngỗng quay”.

    + Cảnh thực: là khi que diêm vừa tắt thì “chẳng có bàn ăn nào cả, chỉ có phố xá vắng teo, lạnh buốt…và mấy người khách qua đường quần áo ấm áp vội vã đi đến những nơi hẹn hò, hoàn toàn lãnh đạm với cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm”

    • Lần thứ ba:

    + Cảnh ảo: hiện ra một cây thông noel

    + Cảnh thật: vẫn không đổi.

    • Lần thứ tư:

    +  Cảnh ảo: Hình ảnh người bà đã mất xuất hiện, sống lại với nụ cười dịu dàng với dứa cháu mồ côi nhỏ bé, đáng thương. Em bé cất lời nói với bà để biểu hiện tình cảm nhớ thương bà, ước nguyện đi cùng bà.

    + Cảnh thật: vẫn không thay đổi.

    • Lần thứ năm – lần cuối cùng: Em quẹt diêm liên tục cho kỳ hết bao diêm để dẫn tới hình ảnh diêm nối nhau chiếu sáng như ban ngày:

    +  Cảnh ảo: Hình ảnh bà nội hiện lên trong tưởng tượng chưa bao giờ to lớn, đẹp lão như thế. Em muốn níu giữ bà em lại với em. Em lại muốn bà em đi với em, em đi theo bà.

    + Cảnh thật: vẫn không đổi. Em đã chết vì rét trong đêm giao thừa.

    • Chỉ là một tưởng tượng, đây là giây phút em bé đã ra đi vĩnh viễn trong đói khát, rét mướt, trong niềm hy vọng tan biến.

    • 5 lần quẹt diêm, 5 lần lặp lại và biến đổi, thực tại xen lẫn ảo ảnh, nối tiếp, trở đi trở lại, tất cả được sắp xếp và tưởng tượng tuyệt khéo gợi lên cho người đọc vẻ đẹp hồn nhiên, tươi tắn của em bé đáng thương như một tiểu thiên thần.

    • Tác giả bày tỏ niềm cảm thông sâu sắc của mình với em bé bất hạnh. Ngòi bút nhân ái và lãng mạng của nhà văn đã làm cho câu chuyện cảm động đau thương vẫn nhẹ nhàng đầy chất thơ.

    • Hình ảnh một em bé nghèo khổ, bất hạnh, đáng thương, đáng trọng. Một con người phải đối mặt với những khó khăn thử thách ở đời mà vẫn không nguôi mong muốn, khát vọng những điều tốt đẹp nhất.

    2. Một cảnh thương tâm

    • Ngày mồng một, người ta nhìn thấy thi thể em bé mồ côi ngồi giữa những bao diêm một cách vô tình, lạnh lùng.

    • Chỉ có cái nhìn đầy cảm thông cùng tấm lòng nhân hậu và lãng mạn của An-Đec-Xen mới có thể viết lại một câu chuyện thương tâm mà vẫn làm cho người đọc bớt đi cảm giác bi thương.

    • Cho đến những dòng cuối cùng của tác phẩm, nhà văn vẫn dùng hình ảnh đối lập, tương phản rất đặc sắc: Giữa ngày đầu năm hứa hẹn những mầm sống mới mọc lên, có một em bé chết.

    • Miêu tả một cảnh thương tâm về cái chết của cô bé bán diêm, ngòi bút của tác giả vừa thực, vừa mộng. Sự thực là em bé khốn khổ kia đã chết, nhưng đây là một cái chết đẹp, hình hài thể xác chết mà linh hồn, khát vọng của em vẫn sống, sống trên đôi má hồng, đôi môi đang mỉm cười. Rõ ràng, đến với những dòng cuối của áng văn, tình thương, niềm tin con người và khát vọng những điều tốt đẹp nhất con người trong cõi lòng nhà văn Đan Mạch thấm đẫm chất nhân đạo, nhân văn.

    • Trong cái xã hội thiếu tình thương, nhà văn An-Đec-Xen đã viết truyện này với tất cả niềm cảm thông, yêu thương đối với em bé bất hạnh. Nhưng rõ ràng, truyện ngắn “Cô bé bán diêm” là một cảnh tượng thương tâm.

    • Cái chết của cô bé là tiếng nói tố cáo xã hội mạnh mẽ, phê phán lối sống ích kỷ, co cụm, chỉ biết mình của thế giới hiện đại. Đó là sự cảm thông sâu sắc của nhà văn kể chuyện thiên tài An-Đéc-Xen.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung

    • Qua số phận bất hạnh của em bé nghèo, chúng ta thấy được xã hội mà em sống, đó là một xã hội không có tình người. Đồng thời truyện còn có sức tố cáo xã hội; phê phán lối sống ích kỷ, co cụm, chỉ biết mình của thế giới hiện đại. Câu chuyện còn toát lên niềm thương cảm của nahf văn đối với những em bé nghèo khổ. Vì thế, truyện vừa có giá trị hiện thực, vừa có giá trị nhân văn, nhân đạo.

    2. Nghệ thuật

    • Tác giả thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đối lập – tương phản. Những hình ảnh đối lập tương phản càng lúc càng gay gắt, thực tế và mộng tưởng, cuộc đời và ảnh ảo cứ sóng đôi hiện hiện, đan cài, tranh chấp nhau, nâng dần lên, bay cao lên.

    • Nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, đan xen giữa hiện thực và mộng tưởng, với các chi tiết tương phản, diễn biến hợp lý, truyền cho chúng ta lòng thương cảm đối với em bé bất hạnh, lay động trong ta thình thương và niềm tin ở con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 28G Nghị Luận Xã Hội Để Số 3 Từ Văn…
  • Tác Phẩm: Chiếc Lá Cuối Cùng
  • Kiệt Tác Từ Điều Nhỏ Bé
  • Giáo Án Thao Giảng Ngữ Văn 8 Tiết 30: Chiếc Lá Cuối Cùng (O. Hen Ri)
  • Tóm Tắt Văn Bản Chiếc Lá Cuối Cùng Lớp 8 Ngắn Gọn Nhất
  • Phân Tích Văn Bản “cô Bé Bán Diêm”

    --- Bài mới hơn ---

  • Anh (Chị) Hãy Tóm Tắt Truyện Cô Bé Bán Diêm Của Andersen
  • Soạn Văn Bài 8: Luyện Tập Sử Dụng Yếu Tố Miêu Tả Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Soạn Bài Sử Dụng Một Số Biện Pháp Nghệ Thuật Trong Văn Bản Thuyết Minh
  • Kể Lại Câu Chuyện Cô Bé Bán Diêm Ngắn Gọn Nhất
  • Thuyết Minh Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của Andersen
  • Tư liệu Ngữ văn THCS xin gửi tới các thầy cô và các em phần hệ thống kiến thức về tác phẩm. Hi vọng sẽ là tài liệu hữu ích cho thầy cô trong quá trình soạn giáo án, ôn tập, cho các em trong quá trình tìm hiểu văn bản, ôn tập cuối kì.

    An-đéc-xen (1805 – 1875), là nhà văn Đan Mạch.

    – Ông nổi tiếng với loại truyện kể cho trẻ em. Một số truyện biên soạn từ truyện cổ tích, một số truyện tự sáng tác.

    – Một số tác phẩm nổi tiếng: Bầy chim thiên nga, Bộ quần áo mới của hoàng đế; Nàng công chúa và hạt đậu; Chú lính chì dũng cảm…

    – An-đéc-xen sinh ra trong gia đình nghèo, bố làm thợ giầy, 11 tuổi mồ côi cha, mẹ tái giá, An-đéc-xen sống với bà. An-đéc-xenthích văn thơ từ nhỏ nhưng được học ít. Từ năm 30 tuổi, ô bắt đầu s/tác cho trẻ em và trở nên nổi tiếng. Ông có tới 168 tp ở đề tài dành cho trẻ. Rất nhiều tp trong số này đã quen thuộc với bạn đọc khắp 5 châu. Truyện nhẹ nhàng, thấm đượm t/y con người, tin vào cái tốt.

    – Cô bé bán diêm là tác phẩm nổi tiếng của An-đéc-xen.

    – Văn bản trong SGK là phần trích nhưng cũng gần hết câu chuyện.

    – Phần 1: Từ đầu đến “đôi bàn tay em đã cứng đờ ra”: Hoàn cảnh của em bé bán diêm.

    – Phần 2: Tiếp theo đến “họ đã về chầu thượng đế”: Ảo mộng và thực tế qua những lần quẹt diêm.

    – Phần 3: Phần còn lại – Cái chết của cô bé bán diêm.

    Truyện kể theo trình tự thời gian kết cấu quen thuộc của truyện cổ tích.

    – Bối cảnh:đêm giao thừa, mọi nhà sáng rực ánh đèn, sực nức mùi ngỗng quay không khí ấm áp, vui vẻ.

    + Em ngồi nép ở góc tường, thu chân vào người, mỗi lúc càng thấy rét buốt hơn, không bán được que diêm nào không dám về nhà – ở nhà cũng rét.

    2. Hiện thực và mộng ảo qua những lần quẹt diêm

    Ban đầu, em bé quẹt diêm để sưởi ấm qua đêm lạnh giá. Chỉ quẹt một que diêm thôi mà em đã phải đắn đo mãi hoàn cảnh đáng thương; em bé bán diêm còn nhỏ mà đã phải lo mưu sinh; luôn lo sợ bố mắng.

    – Tiếp đó, em bé quẹt diêm để mong chờ những điều kì diệu sẽ xảy ra em mong muốn đợc đắm chìm trong hạnh phúc ảo ảnh.

    Câu chuyện đan xem giữa thực và ảo như trong thế giới cổ tích.

    * Các lần quẹt diêm của cô bé bán diêm:

    – Em bé bán diêm vui mừng, hạnh phúc.

    – Ngọn lửa xanh lam, trắng ra, rực hồng, sáng chói đến vui mắt.

    – Lửa tắt – que diêm tàn

    – Em bé bần thần cả người, lo sợ sẽ bị cha mắng.

    – Diêm tắt, chỉ còn bức tường dày đặc và lãnh lẽo.

    – Chẳng có bàn ăn thịnh soạn, chỉ có phố xá vắng tanh, lạnh buốt…

    – Bà hiện lên to lớn và đẹp lão.

    – Bà cầm lấy tay em, hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi.

    – Trong em chỉ còn mộng ảo, em không còn phải quay trở lại hiện thực lạnh lẽo.

    Khát khao hạnh phúc, thoát khỏi cuộc sống khổ đau hiện tại.

    3. Cái chết của cô bé bán diêm

    – Cái chết của em không bi lụy. Em hiện lên đẹp như một thiên thần. Hạnh phúc hiện hữu rõ trên khuôn mặt của em. Với em bé bán diêm, đây là cái chết giải thoát, em chết trong niềm hạnh phúc, mọi đau khổ sẽ không còn.

    – Mọi người thờ ơ với cái chết của em, chỉ bình phẩm mà không hề thương xót à một xã hội vô cảm, thờ ơ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Cô Bé Trong Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của An
  • ✅ Kể Lại Câu Chuyện Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Văn Bản “cô Bé Bán Diêm”
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm Trang 64 Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Cô Bé Bán Diêm (Trích)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm (Trích)
  • Top 3 Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm Ngắn Nhất.
  • Giáo Án Văn 8 Bài Cô Bé Bán Diêm (Tiết 1)
  • Cảm Nhận Về Truyện Cô Bé Bán Diêm
  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Cô Bé Bán Diêm Trong Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Cô bé bán diêm (trích)

    I. KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

    1. An-đéc-xen (1805 – 1875) là nhà văn Đan Mạch nổi tiếng với loại truyện viết cho trẻ em. Nhiều truyện ông biên soạn lại từ truyện cổ tích, nhưng cũng có những truyện do ông hoàn toàn sáng tạo ra. Truyện của ông được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, ở Việt Nam, truyện An-đéc-xen được Nhà xuất bản Văn hoá in năm 1963.

    2. Tóm tắt truyện Cô bé bán diêm: Đêm giao thừa, trời rét mướt, một cô bé bán diêm nghèo mồ côi mẹ, đầu trần, chân đi đất, bụng đói đang dò dẫm đi trong bóng tối. Suốt cả ngày em không bán được bao diêm nào. Em không dám về nhà vì sợ bố sẽ đánh em. Ngồi nép vào một góc tường, em quẹt một que diêm để sưởi ấm. Que diêm thứ nhất cho em cảm giác ấm áp như ngồi bên lò sưởi. Em quẹt que diêm thứ hai, em được thấy bàn ăn thịnh soạn. Quẹt que diêm thứ ba, em được thấy cây thông Nô-en. Quẹt que diêm thứ tư, em gặp bà em. Em đã quẹt hết cả bao diêm để được gần gũi bà em. Em đã chết trong giá rét khi mơ cùng bà bay lên cao mãi.

    3. Với cách kể chuyện giản dị, đan xen giữa mộng tưởng và hiện thực, nhà văn An-đéc-xen đã làm cho chúng ta thương cảm sâu sắc trước cái chết của em bé bán diêm trong đêm giao thừa lạnh giá, và phê phán sự lạnh lùng tàn nhẫn, dửng dưng của những người xung quanh em.

    II. HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

    1. Nếu lấy việc em bé quẹt những que diêm là trọng tâm thì có thể chia làm ba phần. Phần thứ nhất từ đầu đến đã cứng đờ ra: Hoàn cảnh của cô bé bán diêm và việc cô bé không dám vể nhà. Phần thứ hai tiếp theo cho đến về chầu thượng đế: Những lần quẹt diêm của em bé. Phần thứ ba còn lại: Cái chết cúa em bé và thái độ của mọi người.

    Việc chia phần thứ hai thành những đoạn nhỏ hơn căn cứ vào những lần quẹt diêm của em bé. Ba lần quẹt diêm để em được thấy ấm áp, được mơ thấy thức ăn và đồ chơi. Lần thứ tư em thấy bà em. Lần thứ năm, em đã quẹt cả bao diêm để níu giữ hình ảnh của bà.

    2. Trong phần thứ nhất, người đọc có thể thấy được hoàn cảnh của cô bé bán diêm: nhà cửa sa sút, mẹ chết, bà nội qua đời, chỉ còn người bố khó tính hay mắng nhiếc, chửi rủa, và đánh đập em. Nhà em lúc này là một xó tối tăm. trên gác sát mái nhà.

    Thời gian câu chuyện xảy ra vào đêm giao thừa lạnh buốt. Không gian là ngoài đường phố lạnh lẽo. Em phái ngồi nép trong một góc tường cho đỡ lạnh.

    Các hình ảnh tương phản: ngôi nhà đẹp đẽ, xinh xắn, nơi em sống đầm ấm xưa kia so với một xó tối tăm, trên gác sát mái nhà gió lùa lạnh lẽo ; cửa sổ mọi nhà sáng rực ấm áp với ngoài đường phố tối, lạnh lẽo, nhất là chỗ góc tường ; phố sực nức mùi ngỗng quay với cảnh em bé đói rét. Sự tương phản làm nổi bật nỗi khổ lang thang, đói rét của em bé. Em càng khổ hơn khi người mẹ đã qua đời, người bà thương em cũng đã mất, chỉ còn lại người bố hay mắng nhiếc, chửi rủa, đánh đập.

    3. Những mộng tưởng của cô bé mỗi lần quẹt diêm diễn ra rất hợp lí. Trước hết em đang rét, nên em muốn có lò sưởi để sưởi ấm. Sau đó, em đang đói, nên mơ ước có bàn ăn để được ăn. Khi đã được ấm no trong tưởng tượng, em mới ao ước đồ chơi trên cây thông Nô-en. Và đón năm mới, em nghĩ đến người bà hiền hậu của mình. Em đã quẹt cả bao diêm để được ở với bà.

    Trong số các mộng tưởng ấy, những điều gắn với thực tế là lò sưởi, bàn ăn, cây thông Nô-en. Những điều thuần tuý chỉ là mộng tưởng là ngỗng quay nhảy ra khỏi đĩa, mang cả dao ăn, phuốc sét cắm trên lưng tiến về phía em bé. Một điều hoàn toàn mộng tưởng ấy là bà em đang mỉm cười với em, bà cầm lấy tay em, hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi…

    4. Có thể nêu những cảm nghĩ của em về cô bé bán diêm: Đây là một em bé mồ côi, đói khổ. Em đã mất đi những người thân thiết yêu quý em. Đó là mẹ và bà. Em cũng đã mất ngôi nhà êm ấm nơi em có thời hạnh phúc. Em sống với người cha hay chửi bới, mắng nhiếc và đe doạ đánh đập. Trong đêm giao thừa rét mướt, em đã nhờ những que diêm bé nhỏ mà có được giây phút ấm áp, sung sướng. Nhưng tất cả chỉ là ảo ánh. Em đã chết đói và chết rét trong đêm giao thừa, trong giấc mơ được gặp bà và cùng bà bay lên.

    Cảnh tượng đoạn kết cho thấy người đời rất vô tâm trước số phận của em. Không ai mua diêm cho em, không ai giúp đỡ em. Họ vẫn vui vẻ ra khỏi nhà đón năm mới và bàn tán về cái chết của em.

    Nhà văn viết “em gái có đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười” là xuất phát từ tình thương, sự thông cảm với em bé bất hạnh. Ông muốn em được sung sướng, được giải thoát khỏi cuộc sống đói rét, thiếu tình thương yêu của người thân và mọi người.

    Mai Thu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Cô Bé Bán Diêm Ngắn Gọn Hay Nhất
  • ✅ Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Vb Cô Bé Bán Diêm
  • Phân Tích Ý Nghĩa Của Hình Tượng Ngọn Lửa Diêm Trong Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Của An
  • ✅ Cô Bé Bán Diêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Cô Bé Bán Diêm Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Cô Bé Bán Diêm (Trích)
  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm (Trích)
  • Top 3 Soạn Bài Cô Bé Bán Diêm Ngắn Nhất.
  • Giáo Án Văn 8 Bài Cô Bé Bán Diêm (Tiết 1)
  • Câu 1 (Câu 1 trang 68 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Trả lời:

    a. Bố cục văn bản chia làm: 3 phần

    Phần 1( từ đầu… cứng đờ ra): Hoàn cảnh đáng thương của cô bé bán diêm

    Phần 2 (tiếp… chầu Thượng đế): Những lần quẹt diêm những mơ ước giản dị hiện ra

    Phần 3( còn lại) Cái chết của cô bé bán diêm và thái độ của mọi người.

    b. Phần trọng tâm của văn bản chia thành các đoạn nhỏ như sau:

    Đoạn 1: Từ Chà! Giá quẹt một que diêm đến bị cha mắng: Ước mơ của cô bé về chiếc lò sưởi

    Đoạn 2: Từ em quẹt que diêm thứ hai đến lạnh lẽo: Ước mở của cô bé về bàn thức ăn thịnh soạn.

    Đoạn 3: Từ em quẹt que diêm thứ ba đến ngôi sao trên trời: Ước mơ của cô bé về cây thông Nô – en.

    Đoạn 4: Từ em quẹt que diêm nữa đến khuôn mặt em bé cũng biến mất: Ước mơ của cô bé được gặp lại bà mình

    Đoạn 5: Từ thế là em đến họ đã về chầu Thượng đế: Cô bé quẹt diêm níu giữ bà ở lại

    Câu 2 (Câu 2 trang 68 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Trả lời:

    – Gia cảnh của cô bé bán Diêm, thời gian không gian xảy ra câu chuyện:

    + Nhà nghèo, mồ côi mẹ sống cùng bà và người cha. Khi bà mất sống với người cha nát rượu suốt ngày chửi bới đánh đập cô bé.

    + Đêm giao thừa, trời rét mướt, cô bé đầu trần chân đất bụng đói đang dò dẫm trong bóng đêm.

    – Những hình ảnh tương phản:

    – Giá trị gợi cảm: Làm nổi bật lên tình cảnh đáng thương, tội nghiệp của cô bé bán diêm.

    Câu 3 (Câu 3 trang 68 SGK Ngữ Văn 8 Tập 1):

    Trả lời:

    – Những mộng tưởng đó diễn ra theo trình tự rất hợp lí: Những mộng tưởng gắn với thực tế, là khát khao của bất cứ đứa trẻ nào

    – Cô bé cố níu giữ giấc mộng cuối cùng bởi vì: Cô bé rất thương nhớ người bà hiền hậu, muốn được quay trở về cuộc sống bên bà như xưa, muốn được cùng bà giải thoát khỏi thực tại khốn khổ đau buồn.

    Câu 4:

    Trả lời:

    Khi miêu tả về cái chết của cô bé bán Diêm, An-đéc-xen đã thể tấm lòng nhân ái đầy bào dung, yêu thương mà ông dành đến đứa trẻ tội nghiệp. Em bé chết nhưng đôi má hồng và đôi môi đang mỉm cười. Hình ảnh đó thật đẹo thể hiện sự hạnh phúc, mãn nguyện của cô bé. Em ra đi rất thanh thản, nó giống như một sự giải thoát cho chính cuộc đời em. Mọi người qua đường chỉ biết thờ ơ bảo nhau cô bé ra đi vì lạnh không ai nhận ra được nét mặt rạng rỡ kia, càng không ai thấy được giây phút huy hoàng mà em đã trải qua trong đêm ấy. Qua đây đã cho thấy, thông qua việc miêu tả cái chết của cô bé bán diêm, An-đéc-xen không chỉ thể hiện lòng thương, nói lên nỗi thống khổ của em bé mà ông còn tố cáo xã hội lạnh lùng thơ ơ trước số phận đau thương của con người bất hạnh.

    Câu 5: Em có nhận xét gì về nghệ thuật kể chuyện của An-đéc-xen

    Trả lời:

    – Lối kể chuyện của An-đéc-xen rất phong phú, linh hoạt:

    Có lúc dựa vào tâm trạng của nhân vật để dẫn dắt người đọc: Những lần quẹt diêm, diêm cháy đem đến những mộng tưởng, niềm vui, hạnh phúc, khi diêm vụt tắm đem đến sự hụt hẫng, buồn tiếc

    Có lúc xen kẽ giữa kể và tả: Mỗi lần quẹt diêm, các hình ảnh xuất diện được tác giả miêu tả rất sinh động (ngọn lửa, bàn ăn, cây thông,…)

    Có lúc độc thoại, đối thoại: Cô bé bán diêm độc thoại với chính mình, và đối thoại khi gặp bà.

    – Lối kể chuyện ấy làm cho cây chuyện vừa sinh động, lại vừa lôi cuốn, đem đến sự hấp dẫn, thú vị cho người đọc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • Vb Cô Bé Bán Diêm
  • Phân Tích Ý Nghĩa Của Hình Tượng Ngọn Lửa Diêm Trong Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Cảm Nhận Ý Nghĩa Truyện Ngắn “cô Bé Bán Diêm” Của Andecxen
  • Ý Nghĩa Cái Chết Của Cô Bé Bán Diêm Trong Truyện
  • Vb Cô Bé Bán Diêm

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm Trong Sách Giáo Khoa Ngữ Văn Lớp 8
  • ✅ Cô Bé Bán Diêm
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Cô Bé Bán Diêm Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Cô Bé Bán Diêm (Trích)
  • Soạn Bài: Cô Bé Bán Diêm (Trích)
  • CÔ BÉ BÁN DIÊM

    An- đéc- xen

    A.Mức độ cần đạt

    – Biết đọc hiểu một đoạn trích trong tác phẩm truyện.

    – Sự thể hiện của tinh thần nhân đạo, tài năng nghệ thuật xuất sắc của nhà văn An-đéc-xen qua một tác phẩm tiêu biểu.

    B. Trọng tâm kiến thức, kĩ năng, thái độ

    1. Kiến thức:

    – Những hiểu biết bước đầu về người viết truyện cổ tích an-đéc-xen.

    – Nghệ thuật kể chuyện, cách tổ chức các yếu tố hiện thực và mộng tưởng trong tác phẩm.

    – Lòng thương cảm của tác giả đối với em bé bất hạnh.

    2.Kĩ năng:

    – Đọc diễn cảm, hiểu, tóm tắt tác phẩm

    – Phân tích được một số hình ảnh tương phản(đối lập, đặt gần nhau, làm nổi bật lẫn nhau). – Phát biểu cảm nghĩ về một đoạn truyện.

    3.Thái độ: Giáo dục các em biết yêu thương những em bé mồ côi bất hạnh .

    C. Phương pháp: Đọc diễn cảm, tóm tắt văn bản, phân tích.

    D.Tiến trình dạy học:

    1. Ổn định lớp: 8a1………………………………………………… 8a2………………………………………………………

    2. Kiểm tra bài cũ :

    – Kể tóm tắt truyện ngắn Lão Hạc?

    – Trình bày ngắn gọn nguyên nhân và ý nghĩa cái chết của lão Hạc ?

    3.Bài mới

    – Lời vào bài: Có cảnh thương tâm nào hơn cảnh một em bé mồ côi mẹ chết cóng trong đêm giao thừa. Vì sao lại đến nông nổi ấy ? Câu chuyện này liệu có thật và có thể xảy ra hay không ? Tiết học hôm nay, chúng ta sẽ đi tìm hiểu qua văn bản Cô bé bán diêm.

    – Bài mới:

    Hoạt động của GV và HS

    Nội dung kiến thức

    Giới thiệu chung

    – Hs: Đọc chú thích

    – GV: Tác giả là ai, nhà văn nước nào?Kể tên một vài tác phẩm cảu ông?

    – HS: Trả lời từng ý phần chú thích

    – GV: Nhận xét, chốt ý, ghi bảng.

    Đọc hiểu văn bản

    -GV hướng dẫn HS đọc với giọng cảm thông, chậm, nhẹ nhàng và đọc đoạn dã bị lược bỏ

    – HS: 3 hs đọc tiếp đoạn trích

    – GV: Giải thích nhanh một số từ khó

    – GV: Nếu chia văn bản này thành 3 phần thì em sẽ xác định các phần văn bản cụ thể ra sao và tương ứng với nó là nội dung nào ?

    – HS:Phần 1: từ đầu đến đôi tay em cứng đờ ra : Em bé trong đêm giao thừa

    Phần 2 : tiếp theo đến đã về chầu thượng đế :Thực tế và mộng tưởng

    Phần 3 : còn lại :Một cảnh thương tâm

    Gọi hs đọc phần 1

    – GV: Theo dõi văn bản cho biết gia cảnh cô bé có gì đặc biệt ?

    – HS:Mẹ chết, sống với bố nghiện ngập, bà nội cũng đã qua đời, nhà nghèo, nơi ở của hai cha con là một xó tăm tối.Tự mình đi bán diêm để kiếm sống và mang tiền về cho bố.

    – Gv:Cảm nhận của em về gia cảnh của cô bé.

    – Hs: Trình bày

    – Gv:cảnh ngộ của cô bé trong đêm giao thừa được tả lại ra sao?

    – HS:Trong nhà cửa sổ mọi nhà đều sáng rực … sực mùi ngỗng quay.Ngoài đường: Em ngồi nép trong một góc tường ; thu đôi chân vào người, nhưng mỗi lúc em càng thấy rét buốt hơn

    – GV: Nhà văn sử dụng nghệ thuật gì giới thiệu gia cảnh của cô bé bán diêm? Tác dụng?

    – HS:Tương phản đối lập làm bật nổi cực khổ của cô bé bán diêm, gợi niềm thương cảm cho người đọc

    – GV: Những sự việt đó đã làm xuất hiện một cô bé bán diêm ntn trong cảm nhận của em ?

    – HS:nhỏ nhoi cô độc, đói rét, bị đầy ải, không được ai đoái hoài – một em bé hết sức khốn khổ và đáng thương

    – GV: phân tích, liên hệ số phận của một số em bé. trong văn học Việt Nam.

    Tiết 22 Gọi hs đọc đoạn 2

    – GV:Hãy cho biết cô bé đã quẹt diêm tất cả mấy lần?

    Cho biết mộng tưởng của cô bé qua các lần quẹt diêm và ý nghĩa của các giấc mơ đó?

    – HSTLN: Trình bày

    – Gv phân tích:Lần quẹt diêm thứ nhất, cô bé đã thấy lò sưởi bằng sắt có những hình nổi bằng đồng bóng nhoáng

    Đây là mong ước được sưởi ấm trong một mái nhà thân thuộc. Lần quẹt diêm thứ 2 qua ánh lửa diêm, cô bé đã thấy bàn ăn thịnh soạn.. Trong lần quẹt diêm thứ 3 cô bé thấy cây thông Nô- en với hàng ngàn ngọn nết sáng rực, lấp lánh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Ý Nghĩa Của Hình Tượng Ngọn Lửa Diêm Trong Văn Bản Cô Bé Bán Diêm Của An
  • Cảm Nhận Ý Nghĩa Truyện Ngắn “cô Bé Bán Diêm” Của Andecxen
  • Ý Nghĩa Cái Chết Của Cô Bé Bán Diêm Trong Truyện
  • Tóm Tắt Truyện Ngắn Cô Bé Bán Diêm An
  • Văn Nghị Luận: Cô Bé Bán Diêm
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100