Top 3 # Xem Nhiều Nhất Nghị Định Của Chính Phủ Về Vị Trí Việc Làm Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Nghị Định Mới Về Vị Trí Việc Làm Và Biên Chế Công Chức

Xác định vị trí việc làm

Nghị định quy định các cơ quan, tổ chức xác định vị trí việc làm cho công chức phải căn cứ vào: 1- Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan, tổ chức; 2- Mức độ phức tạp, tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động; phạm vi, đối tượng phục vụ; quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Vị trí việc làm được phân loại theo khối lượng công việc; theo tính chất, nội dung công việc.

Cơ quan, tổ chức thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải đơn vị sự nghiệp công lập, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (bộ, ngành, địa phương) căn cứ vào quy định trên và văn bản hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền về vị trí việc làm để xây dựng đề án vị trí việc làm của cơ quan, tổ chức mình, gửi cơ quan, tổ chức được giao nhiệm vụ về tổ chức cán bộ của bộ, ngành, địa phương thẩm định và trình cấp có thẩm quyền quyết định.

Người đứng đầu bộ, ngành, địa phương phê duyệt vị trí việc làm trong các cơ quan, tổ chức thuộc thẩm quyền quản lý.

2 trường hợp được điều chỉnh biên chế

Nghị định nêu rõ, biên chế công chức được xác định căn cứ vào: 1- Vị trí việc làm và khối lượng công việc của từng vị trí việc làm; 2- Mức độ hiện đại hóa về trang thiết bị, phương tiện làm việc và ứng dụng công nghệ thông tin; 3- Thực tế việc sử dụng biên chế công chức được giao; 4- Đối với cơ quan, tổ chức ở địa phương, ngoài căn cứ quy định tại điểm 1, 2, 3 trên còn phải căn cứ vào quy mô dân số, diện tích tự nhiên, số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã và đặc điểm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Việc điều chỉnh biên chế công chức trong cơ quan, tổ chức được xem xét trong 2 trường hợp: 1- Cơ quan, tổ chức có thay đổi một trong các căn cứ quy định ở trên; 2- Thành lập, tổ chức lại, giải thể cơ quan, tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền; thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện.

Căn cứ xác định ngạch công chức

Nghị định cũng quy định rõ căn cứ để xác định cơ cấu ngạch công chức gồm: 1- Vị trí việc làm; 2- Mức độ phức tạp của công việc đối với từng vị trí việc làm; 3- Tiêu chuẩn ngạch công chức tương ứng với vị trí việc làm.

Cơ cấu ngạch công chức của mỗi cơ quan, tổ chức là tỷ lệ % công chức giữ các ngạch phù hợp với vị trí việc làm và mức độ phức tạp của công việc theo vị trí việc làm.

Bộ trưởng Bộ nội vụ hướng dẫn cụ thể việc xác định cơ cấu ngạch công chức.

Chính phủ giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ quyết định giao biên chế công chức đối với từng bộ, ngành, địa phương; quyết định giao biên chế công chức làm việc ở nước ngoài đối với bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; quyết định điều chuyển biên chế công chức giữa các bộ, ngành, địa phương với các cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 1 Điều 21 Nghị định này; quyết định và quản lý về số lượng ngạch và cơ cấu ngạch công chức theo đề nghị của các bộ, ngành và địa phương.

Vị Trí, Tính Chất Của Chính Phủ Qua Hiến Pháp

vị trí, tính chất của chính phủ qua hiến pháp

VỊ TRÍ, TÍNH CHẤT CỦA CHÍNH PHỦ QUA HIẾN PHÁP

Theo điều 1 – Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001 thì “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước; bảo đảm hiệu lực của bộ máy nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước” Và theo điều 109 Hiến pháp 1992 ” Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “. Qua hai điều trên ta thấy Chính phủ vừa là cơ quan chấp hành của Quốc hội, vừa là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất .Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội thể hiện ở : Thứ nhất Quốc hội thành lập ra Chính phủ, quy định cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn cho Chính phủ . Chính phủ hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội, nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội . Thứ hai Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, chủ tịch nước. Thứ ba thành viên của Chính phủ hoạt động dưới sự giám sát của Quốc hội, có thể bị Quốc hội bãi nhiệm, miễn nhiệm,cách chức theo quy định của pháp luật, nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội . Thứ tư, Quốc hội quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quy định vào trong Nghị quyết của Quốc hội à Chính phủ tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả trên cơ sở cụ thể hóa bằng các văn bản dưới luật, phân công, đề ra các biện pháp thích hợp, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó trên thực tế. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thể hiện ở : Hoạt động quản lý nhà nước là hoạt động chủ yếu,bao trùm toàn bộ các lĩnh vực thuộc chức năng của Chính phủ được Hiến pháp quy định, hoạt động quản lý nhà nước của Chính phủ bao trùm toàn bộ các lĩnh vực trong phạm vi cả nước : kinh tế, văn hóa,xã hội Chính phủ thực hiện vai trò lãnh đạo,chỉ đạo,hướng dẫn thực hiện và kiểm tra hoạt động của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân như vậy sẽ đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động quản lý nhà nước. Bảo đảm hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến cơ sở; bảo đảm việc tôn trọng và chấp hành Hiến pháp và pháp luật; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm ổn định và nâng cao đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân . Nhưng Hiến pháp năm 1946 lại quy định “Cơ quan hành chính cao nhất của toàn quốc là Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa “. Theo Hiến pháp năm 1946, nguyên tắc chung tổ chức quyền lực Nhà nước là xây dựng chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân và thể hiện rõ sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy Nhà nước. Đến Hiến pháp năm 1959, tại điều 71 quy định : ” Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, và là cơ quan hành chính cao nhất của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa “. Những thay đổi trong bộ máy nhà nước thời kỳ này khẳng định quan điểm mới về tổ chức bộ máy nhà nước, theo xu hướng quyền lực nhà nước tập trung vào hệ thống cơ quan dân cử. Và theo điều này thì một mặt Hội đồng Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội mặt khác là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước ta, đứng đầu hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, đảm nhận một chức năng hoạt động độc lập – hoạt động hành chính Nhà nước. Từ đây có thể thấy rằng theo Hiến pháp năm 1959 Hội đồng Chính phủ có tính độc lập tương đối. Hiến pháp năm 1959 thể hiện rõ nguyên tắc quyền lực Nhà nước tập trung thống nhất vào Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất của nhân dân và cũng cho ta thấy rằng Hội đồng Chính phủ được tổ chức hoàn toàn theo mô hình Chính phủ của các nước xã hội chủ nghĩa khác với Chính phủ trong Hiến pháp năm 1946 xây dựng theo mô hình tư sản. Kế thừa quy định của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 một lần nữa khẳng định tính chất chấp hành của Hội đồng bộ trưởng trước Quốc hội song chức năng của cơ quan này đã có sự thay đổi và vị trí cũng giống như Hiến pháp năm 1959. Theo Hiến pháp năm 1980 và Luật tổ chức Hội đồng bộ trưởng năm 1981 : “Hội đồng bộ trưởng là Chính phủ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là cơ quan chấp hành và hành chính cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất “. (Điều 104). Tuy nhiên Hội đồng bộ trưởng về tính chất không hoàn toàn giống như Hội đồng Chính phủ. Khác với Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 quy định Hội đồng bộ trưởng là cơ quan chấp hành và hành chính Nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Với quy định này, chúng ta thấy tính độc lập tương đối của Chính phủ với Quốc hội không còn nữa. Quy định này phản ánh quan niệm một thời cho rằng: Quốc hội là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát – phải thực sự trở thành “tập thể hành động”. Hội đồng bộ trưởng được tổ chức theo tinh thần đó là cơ quan chấp hành – hành chính Nhà nước cao nhất của Quốc hội. Chức năng, nhiệm vụ của nó là thực hiện những hoạt động chấp hành – hành chính được Quộc hội giao cho.Hội đồng bộ trưởng là Chính phủ, do Quốc hội lập ra, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội đồng thời là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước ta (chứ không phải Quốc hội). Nói cách khác nhà nước thống nhất ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Nếu như Hiến pháp năm 1946 không quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, quyền hành chính Nhà nước cao nhất đứng riêng rẽ như một cành quyền lực độc lập thì các Hiến pháp sau này 1959, 1980 đã thức nhận tính phụ thuộc của hành pháp và lập pháp, chí ít là trong lĩnh vực chấp hành. Đặc biệt Hiến pháp 1980 còn thừa nhận thật rõ, không những Chính phủ là cơ quan chấp hành, mà còn là hành chính cao nhất của cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất. Phải đến Hiến pháp năm 1992 ta mới có thể thấy được một quy định rõ ràng. Theo Hiến pháp năm 1992 được gọi đơn giản là Chính phủ. Điều 109 Hiến pháp năm 1992 quy định: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cùng với thay đổi về tên gọi, Chính phủ có nhiều thay đổi theo hướng đổi mới về cơ cấu tổ chức và hoạt động nhằm đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Nếu so sánh cả bốn bản Hiến pháp của nước ta chúng ta thấy những quan niệm về tính chất của Chính phủ có những thay đổi nhất định. Hiến pháp năm 1946 xây dựng Chính phủ theo mô hình chính phủ tư sản nên không quy định Chinh phủ là cơ quan chấp hành của Nghị viện. Hiến pháp năm 1980 xây dựng Chính phủ ( Hội đồng Bộ trưởng ) theo mô hình của Hiến pháp xã hội chủ nghĩa. Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, thống nhất các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp và giám sát. Các cơ quan Nhà nước khác do Quốc hội lập ra là để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội. Vì vậy Hiến pháp năm 1980 quy định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội và là cơ quan hành chính cao nhất của Quốc hội . Quy định này làm cho Chính phủ thiếu tính độc lập tương đối trong lĩnh vực hoạt động hành chính Nhà nước. Khắc phục nhược điểm này, Hiến pháp năm 1992 quay về với Hiến pháp năm 1959 xây dựng theo quan điểm tập quyền, nghĩa là quyền lực Nhà nước vẫn tập trung thống nhất nhưng cần phải có sự phân chia chức năng rành rọt giữa các cơ quan Nhà nước lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vì vậy Hiến pháp năm 1992 quy định : ” Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “. Với quy định này Chính phủ là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của Nhà nước chứ không phải của Quốc hội, có thể hoạt động một cách độc lập tương đối trong lĩnh vực hành chính Nhà nước. Khẳng định Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội nhưng là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm chỉ rõ tính chất của Chính phủ và mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội. Chính phủ do Quốc hội thành lập ra, nhiệm kì theo nhiệm kì của Quốc hội, khi Quốc hội hết nhiệm kì Chính phủ tiếp tục hoạt động cho đến khi bầu ra Chính phủ mới. Tuy nhiên, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đây là quan điểm có sự đổi mới so với Hiến pháp năm 1980, nhằm đề cao vị trí của Chính phủ trong hoạt động quản lí nhà nước. Hoạt động quản lí nhà nước có các đặc thù sau : Một là, hoạt động quản lí nhà nước là hoạt động chủ yếu, bao trùm toàn bộ các lĩnh vực thuộc chức năng của Chính phủ được Hiến pháp quy định. Hai là hoạt động quản lí của Chính phủ bao trùm toàn bộ các lĩnh vực trong phạm vi cả nước : kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, . Ba là đảm bảo sự thống nhất trong hoạt động quản lí nhà nước, Chính phủ thực hiện vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện và kiểm tra hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân.Quy định của Hiến pháp năm 1992 về vị trí, tính chất của Chính phủ là sự kế thừa có chọn lọc quy định của các Hiến pháp Việt Nam, đồng thời phù hợp quan điểm chung của các nhà nước hiện đại. Để Chính phủ thật sự là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Hiến pháp đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, trật tự hình thành và các hình thức hoạt động của Chính phủ cho phù hợp yêu cầu công cuộc đổi nới đất nước.Chức năng của Chính phủ Về chức năng, dù có tên gọi khác qua bốn bản Hiến pháp nhưng Chính phủ đều được xác định là cơ quan Nhà nước có chức năng hành pháp và Chính phủ còn có chức năng quan trọng là quản lí đất nước theo quy định của Hiến pháp và Pháp luật.Chức năng của Chính phủ được thể hiện thông qua việc : – Thống nhất quản lí việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước. – Đảm bảo hiệu lực của bộ máy Nhà nước từ trung ương đến địa phương. – Đảm bảo tôn trọng và thực hiện Pháp luật. – Đảm bảo ổn định và không ngừng nâng cao đời sống nhân dân .

Từ 20/7/2020, Vị Trí Việc Làm Được Phân Loại Theo Tiêu Chí Mới?

Vị trí việc làm là căn cứ để tuyển dụng, nâng ngạch hoặc điều động công chức. Mới đây, Chính phủ đã ban hành Nghị định 62/2020/NĐ-CP về vị trí việc làm và biên chế công chức. Vậy, sắp tới, việc phân loại vị trí việc làm có gì mới?

Thêm tiêu chí phân loại vị trí việc làm của công chức

Theo khoản 3 Điều 7 Luật Cán bộ, công chức, vị trí việc làm được định nghĩa là:

Công việc gắn với chức danh, chức vụ, cơ cấu và ngạch công chức để xác định biên chế và bố trí công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

Đây cũng là định nghĩa được Chính phủ nêu tại Điều 3 Nghị định 36/2013/NĐ-CP. Theo đó tại khoản 3 Điều 3 Nghị định 36, vị trí việc làm được phân thành 03 loại:

– Vị trí việc làm do một người đảm nhận;

– Vị trí việc làm do nhiều người đảm nhận;

– Vị trí việc làm kiêm nhiệm.

Tuy nhiên, từ 20/7/2020 khi Nghị định 62 chính thức có hiệu lực, vị trí việc làm được phân loại theo các tiêu chí như sau:

– Theo khối lượng công việc: Vị trí việc làm do một người đảm nhiệm, nhiều người đảm nhiệm hoặc kiêm nhiệm;

– Theo tính chất, nội dung công việc: Vị trí việc làm lãnh đạo, quản lý; nghiệp vụ chuyên ngành; hỗ trợ, phục vụ; nghiệp vụ chuyên môn dùng chung như tài chính, kế hoạch và đầu tư, thanh tra, pháp chế, hợp tác quốc tế, tổ chức cán bộ, thi đua khen thưởng, văn phòng…

Như vậy, ngoài cách phân loại như quy định hiện nay, vị trí việc làm còn được phân theo tính chất, nội dung công việc tại Nghị định 62 vừa được ban hành và sắp có hiệu lực từ 20/7/2020.

5 trường hợp điều chỉnh vị trí việc làm của công chức

Hiện nay, theo Điều 12 Nghị định 36, việc điều chỉnh vị trí việc làm được thực hiện trong các trường hợp sau:

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị được bổ sung, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

– Cơ quan, tổ chức, đơn vị được tổ chức lại hoặc giải thể theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

– Thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính cấp tỉnh, cấp huyện; tình hình phát triển kinh tế, xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, áp dụng khoa học kỹ thuật, đô thị hóa, an ninh trật tự;

– Tính chất, đặc điểm, yêu cầu, mức độ phức tạp, quy mô công việc, phạm vi quản lý, đối tượng phục vụ, quy trình quản lý chuyên môn, nghiệp vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị thay đổi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền;

– Trang thiết bị, phương tiện làm việc, mức độ hiện đại hóa công sở, ứng dụng công nghệ thông tin của cơ quan, tổ chức, đơn vị thay đổi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Tuy nhiên, theo quy định mới tại Điều 9 Nghị định 62, việc điều chỉnh vị trí làm việc chỉ xảy ra trong các trường hợp sau:

– Có sự thay đổi một trong các căn cứ: Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức của cơ quan, tổ chức; mức độ phức tạp, tính chất, đặc điểm, quy mô hoạt động; phạm vi, đối tượng phục vụ…

– Được tổ chức lại theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền.

Như vậy, từ 20/7/2020, theo Nghị định 62, vị trí việc làm được điều chỉnh trong 02 trường hợp nêu trên. Đồng thời Nghị định 62 cũng bổ sung thêm cách phân loại vị trí việc làm của công chức.

Sẽ Có Nghị Định Mới Của Chính Phủ Về Xây Dựng Chính Phủ Điện Tử

Hôm nay, ngày 3/7/2018, Hội đồng Giám đốc CNTT (CIO) của cơ quan nhà nước khối các cơ quan Trung ương đã họp phiên đầu tiên của năm 2018 tại Hà Nội. Phiên họp có sự tham dự của ông Phạm Sanh Châu – Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và được chủ trì bởi Thứ trưởng Bộ TT&TT Nguyễn Thành Hưng – Chủ tịch Hội đồng CIO của cơ quan nhà nước.

Theo Thứ trưởng, tại cuộc họp nêu trên, Thủ tướng Chính phủ đã đánh giá một số thành công của các bộ, ngành, địa phương giai đoạn vừa qua trong việc triển khai xây dựng Chính phủ điện tử. Nhưng đồng thời, Thủ tướng Chính phủ cũng đặt ra nhiều yêu cầu để giải quyết những tồn tại như: các cơ chế chính sách, vấn đề nguồn lực… “Thực tiễn triển khai xây dựng Chính phủ điện tử cho thấy, hiện vẫn thiếu những cơ chế để kết nối liên thông, xây dựng các cơ sở dữ liệu; thiếu các cơ chế để đẩy mạnh sử dụng văn bản điện tử…”, Thứ trưởng nói.

Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định trong thời gian tới sẽ thành lập Ủy ban Quốc gia về Chính phủ điện tử do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu để triển khai quyết liệt hơn nữa việc xây dựng Chính phủ điện tử. Việc nhóm họp phiên đầu tiên của Ủy ban này được dự kiến sẽ diễn ra sớm, có thể ngay trong tháng 7/2018.

Thứ trưởng Nguyễn Thành Hưng cũng cho biết, trong ngày hôm nay, 3/7/2018, Văn phòng Chính phủ sẽ gửi xin ý kiến các bộ, ngành về dự thảo Nghị quyết mới của Chính phủ về một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm phát triển Chính phủ điện tử giai đoạn 2018 – 2020, định hướng đến năm 2025.

Cũng trong phiên họp đầu tiên của năm 2018, các thành viên Hội đồng CIO của cơ quan nhà nước khối các cơ quan trung ương đã tập trung trao đổi, bàn luận về các vấn đề đang còn tồn tại, cần giải quyết trong việc triển khai xây dựng Chính phủ điện tử cũng như một số công việc dự kiến trong Nghị quyết mới, Chính phủ sẽ giao cho các Bộ, ngành thời gian tới, bao gồm: việc triển khai Nghị định 61 ngày 23/4/2018 của Chính phủ về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; về dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước; một số vấn đề về đảm bảo an toàn thông tin, vai trò của việc cảnh báo sớm các mối nguốn nguy hại an toàn thông tin đối với các cơ quan, tổ chức; định hướng về phát triển Mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ triển khai Chính phủ điện tử; triển khai công nghệ IPv6 và tiêu chuẩn DNSSEC trong các cơ quan Đảng và nhà nước.

Đáng chú ý, định hướng xây dựng 2 Nghị định dự kiến sẽ được Chính phủ giao cho Bộ TT&TT chủ trì xây dựng (Nghị định về kết nối, chia sẻ dữ liệu trong hoạt động của cơ quan nhà nước và Nghị định về định danh điện tử của cá nhân, tổ chức) cũng đã được 2 cơ quan chuyên môn của Bộ là Cục Tin học hóa và Trung tâm Chứng thực điện tử quốc gia trình bày, lấy ý kiến đóng góp của các thành viên Hội đồng CIO của cơ quan nhà nước khối các cơ quan trung ương trong phiên họp sáng ngày 3/7.

Ông Nguyễn Thành Phúc – Cục trưởng Cục Tin học hóa, cơ quan thường trực Hội đồng CIO của cơ quan nhà nước cho biết, với mục tiêu phát huy hơn nữa vai trò tham mưu của Hội đồng trong việc triển khai Chính phủ điện tử một cách hiệu quả, các ý kiến đóng góp, trao đổi, đề xuất của các thành viên Hội đồng tại phiên họp đầu tiên năm 2018 này sẽ được Bộ TT&TT tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.

M.T