Đọc Hiểu Văn Bản “chuyện Người Con Gái Nam Xương”

Nguyễn Dữ (chưa rõ năm sinh, năm mất), người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. Nguyễn Dữ sống ở thế kỉ XVI, là thời kì triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến Lê, Mạc, Trịnh tranh giành quyền bính, gây ra những cuộc nội chiến kéo dài. Ông học rộng, tài cao, nhưng chỉ làm quan có một năm rồi xin nghỉ.

Tác phẩm nổi tiếng nhất của Nguyễn Dữ là Truyền kì mạn lục, gồm 20 truyện viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả.

Chuyện người con gái Nam Xương thể hiện niềm cảm thương của tác giả đối với số phận oan nghiệt, đồng thời ca ngợi vẻ đẹp truyền thống của của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến.

… Về mặt nội dung, Truyền kì mạn lục chứa đựng nội dung phản ánh hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Tác phẩm cũng đồng thời cho thấy những phức tạp trong tư tưởng nhà văn.

Nguyễn Dữ phản ánh hiện thực xã hội thời đại mình qua thể truyền kì nên tác giả thường lấy xưa để nói nay, lấy cái kì để nói cái thực. Đọc Truyền kì mạn lục nếu biết bóc tách ra cái vỏ kì ảo sẽ thấy cái cốt lõi hiện thực, phủi đi lớp sương khói thời gian xưa cũ, sẽ thấy bộ mặt xã hội đương thời. Đời sống xã hội dưới ngòi bút truyền kì của nhà văn hiện lên khá toàn diện cuộc sống người dân từ bộ máy nhà nước với quan tham lại nhũng đến những quan hệ với nền đạo đức đồi phong bại tục.

Nếu khi phê phán, tố cáo hiện thực xã hội, Nguyễn Dữ chủ yếu đứng trên lập trường đạo đức thì khi phản ánh số phận con người, ông lại xuất phát tự lập trường nhân văn. Chính vì vậy, Truyền kì mạn lục chứa đựng một nội dung nhân đạo sâu sắc. Về phương diện này, Nguyễn Dữ là một trong những nhà văn mở đầu cho chủ nghĩa nhân văn trong văn học trung đại Việt Nam. Truyền kì mạn lục phản ánh số phận con người chủ yếu qua số phận của người phụ nữ, đồng thời hướng tới những giải pháp xã hội, nhưng vẫn bế tắc trên đường đi tìm hạnh phúc cho con người”. (Từ điển văn học – NXB Thế giới, 2005).

Truyện truyền kì là những truyện kì lạ được lưu truyền. Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ là sự ghi chép tản mạn về những truyện ấy. Tác phẩm được viết bằng chữ Hán, khai thác các truyện cổ dân gian, các truyền thuyết lịch sử, dã sử của Việt Nam. Nhân vật chính trong Truyền kì mạn lục phần lớn là những người phụ nữ đức hạnh nhưng lại bị các thế lực phong kiến, lễ giáo khắc nghiệt xô đẩy vào những cảnh ngộ éo le, oan khuất. Bên cạnh đó còn có kiểu nhân vật là những người trí thức có tâm huyết nhưng bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình vào vòng danh lợi chật hẹp.

4. Tóm tắt:

Câu chuyện kể về Vũ Thị Thiết – người con gái quê ở Nam Xương, tính tình nết na thuỳ mị. Lấy chồng là Trương Sinh chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính, nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ. Để dỗ con, nàng thường chỉ bóng mình trên tường và bảo đó là cha nó. Khi Trương Sinh về thì con đã biết nói. Đứa bé ngây thơ kể với Trương Sinh về người đêm đêm vẫn đến nhà. Trương Sinh sẵn có tính ghen, mắng nhiếc và đuổi vợ đi. Phẫn uất, Vũ Thị Thiết chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn. Khi hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn, Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng.

Cũng có thể tạm chia truyện thành hai phần, lấy mốc là việc Vũ Nương nhảy xuống sông tự tử:

– Đoạn 1 (từ đầu đến “và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”): bị chồng nghi oan. Vũ Nương tự vẫn.

– Đoạn 2 (còn lại): nỗi oan được giải, Vũ Nương được cứu sống nhưng vẫn không trở về đoàn tụ cùng gia đình.

II- GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

Có lẽ người Việt Nam chúng ta ai cũng hiểu và biết cách sử dụng cụm từ “oan Thị Kính”  một nỗi oan khuất mà người bị oan không có cách gì để thanh minh. Thị Kính chỉ được giải oan nhờ Đức Phật hay nói đúng hơn là nhờ tấm lòng bao dung độ lượng, luôn hiểu thấu và sẵn sàng bênh vực cho những con người bé nhỏ, thua thiệt, oan ức trong xã hội của những nghệ sĩ dân gian.

Người phụ nữ trong Chuyện người con gái Nam Xương không có được cái may mắn như Thị Kính mặc dù nỗi oan của nàng cũng không kém gì, thậm chí kết cục còn bi thảm hơn. Thị Kính được lên toà sen trong khi người phụ nữ này phải tìm đến cái chết để chứng tỏ sự trong sạch của mình. Mặc dù vậy, nhân vật này vẫn không được nhiều người biết đến, có lẽ bởi phương thức kể. Ai cũng biết đến Thị Kính vì câu chuyện về nàng được thể hiện qua một vở chèo  một loại hình nghệ thuật dân gian quen thuộc, được nhân dân ưa thích từ xa xưa, trong khi Người con gái Nam Xương là một tác phẩm văn học viết thời trung đại (trong điều kiện xã hội phong kiến, nhân dân lao động hầu hết đều không biết chữ). Ngày nay đọc lại tác phẩm này, chúng ta có thể hiểu thêm rất nhiều điều về thân phận những người phụ nữ trong xã hội phong kiến qua nghệ thuật dựng truyện, dẫn dắt mạch truyện cũng như nghệ thuật xây dựng nhân vật, cách thức kết hợp các phương thức tự sự, trữ tình và kịch của tác giả.

Trong phần đầu của truyện, trước khi biến cố lớn xảy ra, tác giả đã dành khá nhiều lời để ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ, từ nhan sắc cho đến đức hạnh. Hầu như không có sự kiện nào thật đặc biệt ngoài những chi tiết (tiễn chồng đi lính, đối xử với mẹ chồng…) chứng tỏ nàng là một người con gái đẹp người đẹp nết, một người vợ hiền, một người con dâu hiếu thảo. Chỉ có một chi tiết ở đoạn mở đầu: “Song Trương có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức”. Bạn đọc có thể dễ bỏ qua chi tiết này vì với phẩm hạnh của nàng, dẫu Trương Sinh có đa nghi đến đâu cũng khó có thể xảy ra chuyện gì được.

Nhưng đó lại là một chi tiết rất quan trọng, thể hiện tài kể chuyện của tác giả. Chi tiết nhỏ được cài rất khéo đó chính là sợi dây nối giữa phần trước và phần sau, xâu chuỗi các yếu tố trong truyện, đồng thời giúp bạn đọc hiểu được nội dung tư tưởng của tác phẩm.

Mạch truyện được dẫn rất tự nhiên. Sau khi giặc tan, Trương Sinh trở về nhà, bế đứa con nhỏ ra thăm mộ mẹ. Thằng bé quấy khóc, khi Sinh dỗ dành thì nó nói:

 “Ô hay! Thế ra ông cũng là cha tôi ư? Ông lại biết nói, chứ không như cha tôi trước kia chỉ nín thin thít”.

Thật chẳng khác gì một tiếng sét bất chợt. Lời con trẻ vô tình đã thổi bùng lên ngọn lửa ghen tuông trong lòng người đàn ông đa nghi (tác giả đã nói đến từ đầu). Nếu coi đây là một vở kịch thì lời nói của đứa con chính là nút thắt, mở ra mâu thuẫn đồng thời ngay lập tức đẩy mâu thuẫn lên cao. Sau khi gạn hỏi con, nghe thằng bé nói có một người đàn ông “đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi…”, mối nghi ngờ của Sinh đối với vợ đã đến mức không thể nào gỡ ra được.

Một lần nữa, chi tiết về tính hay ghen của Sinh phát huy tác dụng triệt để. Nó lí giải diễn biến câu chuyện, đồng thời giải đáp những thắc mắc của bạn đọc một cách hợp lí. Tại sao Sinh không chịu nghe lời người vợ thanh minh? Tại sao Sinh không nói cho vợ biết lí do mình tức giận như thế? (Nếu Sinh nói ra thì ngay lập tức câu chuyện sẽ sáng tỏ). Đó chính là hệ quả của tính đa nghi. Vì đa nghi nên Sinh không thể tỉnh táo suy xét mọi việc. Cũng vì đa nghi nên lời nói (dù rất mơ hồ) của một đứa bé cũng trở thành một bằng chứng “không thể chối cãi” rằng vợ chàng đã ngoại tình khi chồng đi vắng. Sự vô lí đã trở nên hợp lí bởi sự kết hợp giữa hoàn cảnh và tính cách nhân vật.

Không biết vì sao Sinh lại nghi oan nên người vợ không thể thanh minh. Để chứng tỏ sự trong sạch của mình, nàng chỉ có mỗi cách duy nhất là tự vẫn. Vợ Sinh chết mà mâu thuẫn kịch vẫn không được tháo gỡ, mối nghi ngờ trong lòng Sinh vẫn còn nguyên đó.

Theo dõi mạch truyện từ đầu, bạn đọc tuy không một chút nghi ngờ phẩm hạnh của người phụ nữ nhưng cũng không lí giải nổi chuyện gì đã xảy ra và vì sao đứa bé lại nói như vậy. Đây cũng là một yếu tố chứng tỏ nghệ thuật kể chuyện của tác giả. Thủ pháp “đầu cuối tương ứng” được vận dụng. Đứa trẻ ngây thơ là nguyên nhân dẫn đến bi kịch thì cũng chính nó trở thành nhân tố tháo gỡ mâu thuẫn một cách tình cờ. Sau khi vợ mất, một đêm kia, đứa trẻ lại nói:

 Cha Đản lại đến kia kìa!

Chàng hỏi đâu. Nó chỉ bóng chàng ở trên vách:

 Đây này!

Mâu thuẫn được tháo gỡ cũng bất ngờ như khi nó phát sinh. Đứa trẻ có biết đâu rằng, nó đã gây ra một sự hiểu lầm khủng khiếp để rồi khi người chồng hiểu ra, hối hận thì đã quá muộn. Ngay cả bạn đọc cũng phải sững sờ: sự thật giản đơn đến thế mà cũng đủ đẩy một con người vào cảnh tuyệt vọng.

Ai là người có lỗi? Đứa trẻ đương nhiên là không vì nó vẫn còn quá nhỏ, chỉ biết thắc mắc vì những lời nói đùa của mẹ. Vợ Sinh cũng không có lỗi vì nàng biết đâu rằng những lời nói đùa với con để vợi nỗi nhớ chồng lại gây ra hậu quả đến thế! Có trách chăng là trách Trương Sinh vì sự ghen tuông đến mất cả lí trí. Chi tiết này gợi lên nhiều suy nghĩ: giá như không phải ở trong xã hội phong kiến trọng nam khinh nữ, giá như người vợ có thể tự bảo vệ cho lẽ phải của mình thì nàng đã không phải chọn cái chết thảm thương như vậy. Tính đa nghi của Sinh đã không gây nên hậu quả xấu nếu như nó không được nuôi dưỡng trong một môi trường mà người phụ nữ luôn luôn phải nhận phần thua thiệt về mình. ý nghĩa này của tác phẩm hầu như không được tác giả trình bày trực tiếp nhưng qua hệ thống các biến cố, sự kiện được sắp xếp hợp lí, đưa bạn đọc từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, tác giả đã thể hiện một cách tinh tế sự cảm thông sâu sắc của mình đối với những số phận bất hạnh, đặc biệt là của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

Nếu câu chuyện dừng lại ở đây thì có thể cho rằng nó đã được sáng tạo theo một lỗi viết khá mới mẻ và hiện đại. Nhưng Nguyễn Dữ lại là người nổi tiếng với những câu chuyện truyền kỳ. Hoang đường, kì ảo là những yếu tố không thể thiếu trong những sáng tác thuộc loại này. Mặt khác, tuy là một tác giả của văn học viết trung đại nhưng hẳn Nguyễn Dữ cũng chịu ảnh hưởng ít nhiều từ tư tưởng “ở hiền gặp lành” của nhân dân lao động. Bản thân ông cũng luôn đứng về phía nhân dân, đặc biệt là những người phụ nữ có hoàn cảnh éo le, số phận oan nghiệt trong xã hội cũ. Bởi vậy, tác giả đã tạo cho câu chuyện một lối kết thúc có hậu. Tuy không được hoá Phật để rồi sống ở miền cực lạc như Thị Kính nhưng người phụ nữ trong truyện cũng được thần rùa cứu thoát, tránh khỏi một cái chết thảm thương.

Phần cuối truyện còn được cài thêm nhiều yếu tố kì ảo khác nữa. Ví dụ như chi tiết chàng Phan Lang trở thành ân nhân của rùa, sau lại được rùa đền ơn. Trên đường chạy giặc, bị đắm thuyền, dạt lên đảo và được chính con rùa năm xưa cứu thoát. Đó có thể coi là sự “đền ơn trả nghĩa”  những hành động rất phù hợp với lí tưởng thẩm mĩ của nhân dân. Việc người phụ nữ trở về gặp chồng nhưng không đồng ý trở lại chốn nhân gian có lẽ cũng nhằm khẳng định tư tưởng nhân nghĩa ấy. Mặc dù đã được cứu thoát, được giải oan nhưng vì lời thề với vợ vua biển Nam Hải, nàng quyết không vì hạnh phúc riêng mà bỏ qua tất cả. Những chi tiết đó càng chứng tỏ vẻ đẹp trong tính cách của người phụ nữ, đồng thời cũng cho thấy thái độ ngưỡng mộ, ngợi ca của tác giả đối với người phụ nữ trong câu chuyện này nói riêng và người phụ nữ Việt Nam nói chung.

(ST)

5 Bài Văn Tóm Tắt Chuyện Người Con Gái Nam Xương Của Nguyễn Dữ, Ngắn G

Đề bài: Tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương

5 bài văn mẫu Tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương

1. Tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương, mẫu số 1:

Vũ Thị Thiết gả cho Trương Sinh chưa được bao lâu thì phải tiễn chồng đi lính. Ở nhà, nàng một mình sinh con, lo ma chay cho mẹ chồng. Sau ba năm, Trương Sinh về, chàng hiểu lầm vợ ngoại tình liền đánh đuổi nàng đi, vì oan ức, nàng trẫm mình xuống bến Hoàng Giang. Sau khi nàng chết, Trương Sinh mới thấu nỗi oan của vợ nhưng đã muộn. Vũ Nương trẫm mình được Linh Phi cưu mang, làm tiên nữ dưới thủy cung, một ngày gặp được Phan Lang- người cùng quê liền đưa tín vật và nhờ gửi lời nhắn đến chồng. Trương Sinh nhận được lời nhắn, lập đàn trên bến Hoàng Giang, Vũ Nương hiện về một thoáng rồi biến mất mãi mãi.

2. Tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương, mẫu số 2:

Vũ Nương tên thật là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương là người con gái thùy mị nết na tư dung tốt đẹp nên Trương Sinh đem lòng yêu mến bảo mẹ đem trăm lạng vàng cưới nàng làm vợ. Biết chồng có tính đa nghi Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép ăn ở đúng mực. Đất nước có chiến tranh, Trương Sinh đi lính, Vũ Nương ở nhà sinh con và nuôi con chăm sóc mẹ già. Mẹ Trương Sinh nhớ thương con mà ốm Vũ Nương hết lòng chăm sóc tận tình. Khi mẹ chồng chết, Vũ Nương lo ma chay chu đáo như cha mẹ đẻ. Những tưởng hạnh phúc sẽ đến với nàng nhưng ngày nàng mong đợi là ngày nàng phải chịu một nỗi oan khó rửa sạch. Khi bế con ra mộ mẹ, Trương Sinh tình cờ biết con còn có một người khác mà đêm đêm vẫn đến, về đến nhà chàng mắng chửi thậm tệ và ruồng bỏ đuổi Vũ Nương ra khỏi nhà mặc cho hàng xóm và nàng đã hết sức thanh minh. Vũ Nương uất ức tự tử ở bến Hoàng Giang được Linh Phi – vợ vua Nam Hải cứu sống và đưa về ở trong động rùa. Ở nhà, đêm tối bóng Trương Sinh in trên vách thấy con gọi cha Trương Sinh mới vỡ lẽ ra nỗi oan của vợ thì quá muộn. Ở dưới thủy cung, Vũ Nương luôn hướng về gia đinh nhờ sự giúp đỡ của Linh Phi và Phan Lang (người cùng làng) Vũ Nương được Trương Sinh lập đàn giải oan ở bến Hoàng Giang. Sự trở về của nàng vô cùng lộng lẫy lúc ẩn lúc hiện rồi biến mất.

3. Tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương, mẫu số 3:

Vũ Nương nết na xinh đẹp. Trương Sinh cưới nàng về. Sau đó, Trương Sinh phải đi lính. Vũ Nương ở nhà chăm sóc mẹ già con trẻ. Bà mẹ vì quá nhớ con buồn rầu mà chết. Nàng ma chay tế lễ chu đáo. Vũ Nương hàng đêm thường chỉ bóng mình trên vách bảo với con đấy là cha Đản. Khi giặc tan trương Sinh trở về đứa trẻ không nhận là cha mình. Nghe nó kể lại Trương Sinh nghi ngờ vợ mình thất tiết, đánh đuổi vợ ra khỏi nhà. Vũ Nương thanh minh không được đành phải nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Cùng làng có người tên là Phan Lan vì cứu Linh Phi lúc hóa rùa đã được Linh Phi cứu sống, tình cờ gặp Vũ Nương ở thủy cung. Phan Lang trở về trần gian Vũ Nương gửi theo chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương Sinh. Biết vợ bị oan Trương Sinh đã lập đàn giải oan bên bến Hoàng Giang. Vũ Nương hiện ra giữa dòng ngồi trên chiếc kiệu hoa đạ tạ chàng rồi biến mất.

4. Tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương, mẫu số 4:

Truyện kể về người con gái Nam Xương, có tên là Vũ Thị Thiết. Nàng là người có dung hạnh vẹn toàn, chồng là Trương Sinh tính tình hay ghen, Vũ Nương sắp đến kì sinh nở thì chồng bị gọi đi lính.

Ở nhà Vũ Nương sinh con và chăm nom mẹ chồng rất mực chu đáo, vì nhớ thương con mẹ chồng nàng ngày càng ốm nặng rồi mất, nàng lo tang ma chu đáo như với cha mẹ đẻ mình. Để đỡ nhớ chồng, nàng hay đùa với con bằng cách chỉ cái bóng của mình lên vách và nói với con đó là cha Đản.

Từ chiến trường trở về, Trương Sinh đau buồn ra thăm mộ mẹ, bế Đản theo, ra đến đồng đứa trẻ quấy khóc vì đứa bé bảo Trương không phải là cha Đản, cha Đản đêm nào cũng đến, mẹ Đản đi cũng đi, mẹ Đản ngồi cũng ngồi nhưng chẳng bao giờ bế Đản cả. Không cần hỏi cho rõ ngọn ngành, Trương đã nổi cơn ghen tam bành đánh đuổi Vũ Nương đi, không ai có thể khuyên can được. Không thể thanh minh được, Vũ Nương đành nhảy xuống sông tự tận, lấy cái chết để minh oan cho mình. Nàng được Linh Phi vợ vua Nam Hải cứu.

Trương Sinh tuy giận nhưng vẫn thương xót. Một buổi tối Đản chỉ vào cái bóng trên tường và nói “Đấy cha Đản lại đến kia kìa”. Trương Sinh ân hận vô cùng nhưng việc đã rồi.

Dưới động rùa, Vũ Nương đã gặp lại Phan Lang người cùng làng, nàng gửi chiếc hoa vàng cùng lời nhắn Trương lập đàn giải oan cho mình. Trương bèn lập đàn giải oan cho nàng, quả thấy Vũ Nương ngồi trên kiệu hoa ở giữa dòng với cờ tán võng lọng rực rỡ cả bến sông thoắt ẩn thoắt hiện. Nàng từ biệt và không trở về dương gian được nữa.

5. Tóm tắt Chuyện người con gái Nam Xương, mẫu số 5:

Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, vừa đẹp người đẹp nết, gả cho Trương Sinh con nhà hào phú nhưng ít học. Chưa bao lâu, Trương Sinh phải đi lính, Vũ Nương ở nhà sinh con đầu lòng, chăm sóc chu đáo và lo ma chay cho mẹ chồng như mẹ ruột. Trương Sinh về, nghe con nhỏ nói không rõ ràng, lại có tính hay ghen từ trước, chàng hiểu lầm vợ phản bội, liền không nghe giải thích mà đánh đuổi nàng đi. Vũ Nương oan không thể giải, liền trẫm mình xuống bến Hoàng Giang, may được Linh Phi cứu giúp làm tiên nữ dưới thủy cung. Sau khi Vũ Nương qua đời, Trương Sinh mới biết, người cha hàng đêm vẫn đến mà con nói là chiếc bóng trên tường nhưng đã quá muộn để nhận ra nỗi oan của vợ, nàng đã không còn nữa. Phan Lang- một người cùng làng, là ân nhân của Linh Phi, một hôm, chàng được Linh Phi tiếp đón ở thủy cung, Vũ Nương đã gặp nhờ chàng gửi cho chồng tín vật. Trương Sinh biết chuyện liền lập đàn trên bến Hoàng Giang cho vợ, Vũ Nương hiện về trong ngày lập đàn nhưng mãi mãi không thể quay trở về.

Văn Bản: Chuyện Người Con Gái Nam Xương

– Quê ở huyện Trường Tân , nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

– Nguyễn Dữ là học trò xuất sắc nhất của Tuyết Giang Phu Tử Nguyễn Bỉnh Khiêm.

Ông sống ở thế kỉ XVI, khi triều đình nhà Lê bắt đầu rơi vào khủng hoảng, các tập đoàn phong kiến tranh giành quyền binh và gây ra những cuộc nội chiến kéo dài.

+ Là một ” kẻ sĩ” có nhân cách cao thượng, nên trước những mục nát của chế độ đương triều, bất mãn với thời cuộc, ông chỉ làm quan có một năm rồi xin lui về sống ẩn dật, viết sách và phụng dưỡng mẹ già.

+ Dù vậy, qua các sáng tác, ông vẫn tỏ ra là một người luôn đau đáu đến vận mệnh của xã tắc, sơn hà.

+ Truyện truyền kì thường mô phỏng những cốt truyện từ dân gian hoặc dã sử. Sau đó được tác giả sắp xếp lại tình tiết, bồi đắp thêm cho đời sống các nhân vật, đặc biệt là xen kẽ các yếu tố kì ảo,

+ Truyện ra đời vào khoảng đầu thế kỉ XVI, thời kì xã hội phong kiến Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn suy vong: những mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ.

+ ” Truyền kì mạn lục ” gồm 20 truyện, ghi chép lại những câu chuyện được lưu truyền tản mạn trong dân gian và thường có yếu tố kì ảo; đề tài phong phú.

+ Truyện mang đậm giá trị nhân văn và được đánh giá là áng ” thiên cổ tùy bút ” (tức áng văn hay ngàn đời).

b. Phương thức biểu đạt: Tự sự có kết hợp yếu tố biểu cảm.

Nàng Vũ Nương, người phụ nữ đẹp người, đẹp nết được Trương Sinh – một người ít học lại có tính đa nghi, cưới về làm vợ. Gia đình đang yên ấm, hạnh phúc thì chàng Trương phải rời nhà đi lính. Ở nhà, Vũ Nương sinh con trai, đặt tên là Đản. Nàng hay đùa với con bằng cách chỉ cái bóng của mình lên vách và nói là cha Đản. Mẹ Trương Sinh vì thương nhớ con mà sinh bệnh, nàng hết lòng chăm sóc, phụng dưỡng, song ít lâu sau bà qua đời.

Khi Trương Sinh trở về, nghe theo lời con trẻ nghi ngờ vợ thất tiết. Vũ Nương một mực kêu oan, song Trương Sinh không nghe mà đánh mắng, đuổi vợ đi. Vũ Nương không tự minh oan được bèn trẫm mình xuống sông tự vẫn. Một đêm thấy bóng cha trên tường, bé Đản gọi cha. Bấy giờ Trương Sinh mới tỉnh ngộ nhưng đã muộn.

Vũ Nương không chết, nàng được Linh Phi cứu giúp. Ít lâu sau, Vũ Nương gặp Phan Lang dưới thủy cung – người cùng làng bị chết đuối, cũng được Linh Phi cứu. Khi Phan Lang trở về, Vũ Nương nhờ gửi chiếc thoa và nhắn chàng Trương lập đàn giải oan cho nàng. Trương Sinh nghe theo, lập đàn giải oan cho nàng ở bên sông ấy. Vũ Nương trở về ẩn hiện giữa dòng, nói vọng vào bờ vài lời tạ từ rồi biến mất.

– Ngay từ đầu thiên truyện, Vũ Nương được giới thiệu là người phụ nữ đẹp người, đẹp nết, ” tính tình thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp “.

– Trong xã hội phong kiến, một người phụ nữ đẹp phải hội tụ đủ các yếu tố: ” tam tòng, tứ đức”; “công, dung, ngôn, hạnh“. Trong đó, dung chính là vẻ đẹp bên ngoài của người phụ nữ. Và vì cảm kích trước ” tư dung” – vẻ đẹp bên ngoài của nàng mà Trương Sinh đã xin mẹ ” đem 100 lạng vàng cưới về “. Chi tiết này đã tô đậm vẻ đẹp nhan sắc và phẩm chất của nàng.

* Trong cuộc sống vợ chồng bình thường

* Khi tiễn chồng đi lính

– Nàng dặn dò chồng với những lời thiết tha, tình nghĩa:

+ Nàng đặt hạnh phúc gia đình lên trên tất cả mà xem thường những thứ vinh hoa phù phiếm: ” Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên “.

* Khi xa chồng

– Vũ Nương chứng minh được, nàng là thủy chung, yêu thương chồng hết mực. Nỗi nhớ chồng cứ đi cùng năm tháng: ” mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi“, nàng lại ” thổn thức tâm tình, buồn thương da diết “.

– Nàng mơ về một tương lai gần sẽ lại bên chồng như hình với bóng: Dỗ con, nàng chỉ cái bóng của mình trên vách mà rằng đó là cha Đản.

– Tiết hạnh ấy được khẳng định trong câu nói thanh minh, phân trần sau này của nàng với chồng: ” Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót”.

* Khi bị chồng nghi oan

+ Hạnh phúc gia đình, ” thú vui nghi gia, nghi thất” là niềm khao khát và tôn thờ cả đời giờ đã tan vỡ.

+ Đến nỗi đau chờ chồng đến hóa đá của ” cổ nhân” nàng cũng không có được: ” đâu còn có thể lại lên núi Vọng Phu kia nữa “.

* Những năm tháng sống dưới thủy cung

Nàng khao khát được trả lại phẩm giá, danh dự: Gửi chiếc thoa vàng, nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho mình.

– Vũ Nương đã thay Trương Sinh làm tròn bổn phận người con, người trụ cột đối với gia đình nhà chồng:

+ Lời trăng trối của bà mẹ chồng trước khi mất đã khẳng định tấm lòng hiếu thảo, tình cảm chân thành và công lao to lớn của Vũ Nương: ” Xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ “.

– Do cuộc hôn nhân không bình đẳng và do tính hay ghen, gia trưởng của Trương Sinh: Vũ Nương là ” con kẻ khó” được Trương Sinh đem trăm lạng vàng để cưới về. Sự đối lập giàu nghèo cộng với tính cách ” đa nghi ” của Trương Sinh đã sản sinh ra sự hồ đồ, độc đoán, gia trưởng để thô bạo với Vũ Nương. Rõ ràng, đối với vợ Trương Sinh đã thiếu cả lòng tin và tình thương.

a. Giá trị hiện thực Chuyện người con gái Nam Xương

Chuyện người con gái Nam Xương xây dựng tình huống truyện độc đáo, xoay quanh sự ngộ nhận, hiểu lầm lời nói của bé Đản. Chi tiết cái bóng trở thành điểm mấu chốt của tình huống khiến cốt truyện được thắt nút, mở nút, thay đổi sau khi nó xuất hiện.

– Nghệ thuật kể chuyện đặc sắc: Dẫn dắt tình huống hợp lí; xây dựng lời thoại của nhân vật đan xen với lời kể của tác giả. Đặc biệt là sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố hiện thực và kì ảo.

– Có sự kết hợp hài hòa các phương thức biểu đạt: Tự sự, biểu cảm.

IV. Một số dạng đề tham khảo

Câu 1. Nguyên nhân nào dẫn tới cái chết của nhân vật Vũ Nương.

Câu 2. Ý nghĩa của các chi tiết kì ảo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

Câu 3. Phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương – Nguyễn Dữ.

Câu 4. Cảm nhận của em về nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

Theo anh (chị), ý kiến trên thể hiện như thế nào qua nhân vật Vũ Nương?

Văn Bản Pháp Luật Ninh Bình

Văn Bản Pháp Luật Ninh Bình, Văn Bản Pháp Luật Quảng Ninh, Nguyên Tắc Bảo Đảm Quyền Bình Đẳng Trước Pháp Luật, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Tuân Thủ Quy Định Của Pháp Luật Về An Ninh Mạng; Kịp Thời Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Đến Bảo Vệ An, Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Tuân Thủ Quy Định Của Pháp Luật Về An Ninh Mạng; Kịp Thời Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Đến Bảo Vệ An, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Quan Điểm Của Đảng Về Đường Loói Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Noi Dung Duong Loi, Quan Diem, Chinh Sach Cua Dang, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Thủ Tục Làm Hộ Chiếu Ninh Bình, Danh Sách 9 Cầu Thủ Ninh Bình Bán Độ, Giá Đất Tỉnh Ninh Bình Năm 2021, Danh Bạ Giáo Dục Ninh Bình, Văn Bản Ubnd Tỉnh Ninh Bình, Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Và Giải Pháp Cơ Bản Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Đề Thi Học Sinh Giỏi Lớp 9 Tỉnh Ninh Bình, Danh Sách Khách Sạn Ninh Bình, Phân Bón Hóa Học Và Hóa Chất Bảo Vệ Thực Vật Tỉnh Ninh Bình, Giay Moi Tham Quan Du Lich Ninh Binh -nam Dinh, Báo Cáo Hiện Trang Môi Trường Nước Tỉnh Ninh Bình, Quyết Định 2604/qĐ-sxd Đơn Giá Nhân Công Ninh Bình, Văn Bản Số 538/sxd-kt&vlxd Đơn Giá Nhân Công Xây Dựng Tỉnh Ninh Bình, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Binh Pháp, Binh Pháp Tôn Tử, Binh Pháp Tôn Tử Pdf, Cac Giai Phap An Ninh Quoc Gia, Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Giấy Xuất Xưởng Xi Măng Tháng 10 Năm 2021 Xi Măng Bỉm Sơn Ninh Bình, Binh Pháp Tôn Tử Dành Cho Phái Đẹp, Binh Pháp Tôn Tử Và Hơn 200 Trận Đánh, Văn Bản Pháp Luật Môn Học Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật, Những Giải Pháp Cơ Bản Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hóa, Tư Tưởng, Tham Luận Vê Công Tac An Ninh Quoc Phong Tư Phap, Cac Bien Phap Nen Quoc Phong Toan Dan Va An Ninh Nhan Dan, Hướng Dẫn Thi Hành Pháp Lệnh Cựu Chiến Binh, Luận Văn Thực Hiện Chính Sách Giảm Nghèo Bền Vững Trên Địa Bàn Huyện Quảng Ninh, Tỉnh Quảng Bình, Báo Cáo Kết Quả Qua Giám Sát Việc Tuân Thủ Hiến Pháp Và Pháp Luật Của Hội Đồng Nhân Dân Xã, Một Số Giải Pháp Phòng Chống Diễn Biến Hoà Bình, Quy Định Pháp Luật Về Khiếu Nại Là Cơ Sở Pháp Lý Để Công Dân Thực Hiện Qu, Nhiệm Vụ Giải Pháp Tăng Cường Quốc Phòng An Ninh Đối Ngoại, Tinh Bay Nhiem Vu Giai Phap Chu Yeu Trong Linh Vuc Quoc Phong An Ninh, Nội Dung, Giải Pháp Của Đảng Và Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh Và Đối Ngoại, Pháp Luật Về Tuyển Dụng Viên Chức ở Vn Hiện Nay Trạg Và Giải Pháp, Giải Thích Câu Tục Ngiải Pháp Chủ Yêu Đường Lối, Chính Sách, Pháp Luật Của Đẩng, Nhà Nươc…, Sống Và Làm Việc Theo Hiến Pháp Và Pháp Luật, Câu Thơ Bác Nằm Trong Giấc Ngủ Bình Yên Sử Dụng Biện Pháp Nghệ Thuật Gì, Giải Pháp Cơ Bản Đam Bảo An Ninh Quốc Gia Trong Tình Hình Mới, Mot So Giai Phap Ket Hop Phat Trien Kinh Te-xa Hoi Voi Tang Cuong An Ninh Quoc Phong, Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh Của Đảng Ta 2021, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Một Số Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Thu Thập Chứng Cứ Của Người Bào Chữa Trong Tố Tụn, Thực Trạng Và Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Về Chính Quyền Địa Phương Việt Nam Hiện Nay., Phương Pháp Nghiên Cứu Khoa Học Pháp Luật, Biện Pháp Xử Lý Văn Bản Pháp Luật Khiếm Khuyết, Văn Bản Pháp Luật Nào Dưới Đây Có Hiệu Lực Pháp Lý Cao Nhất, Bài Thu Hoach Thưc Trạng Và Giải Pháp Phát Triển Kinh Tế Gắn Với An Ninh Quốc Phòng, Trinh Bày Nhiệm Vụ Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực An Ninh Quốc Phòng? Liên Hệ Thực Tế, Trình Bày Nhiệm Vụ, Giải Pháp Chủ Yếu Trong Lĩnh Vực Quốc Phòng An Ninh ? Liên Hệ Thực Tế?, Mot So Giai Phap Phong Chong Chien Luoc Dien Bien Hoa Binh, Luật An Ninh Quốc Gia, Luật An Ninh Mạng Pdf, Dự Luật An Ninh Mạng, Luật An Ninh Mạng, Báo Cáo Sơ Kết Luật An Ninh Quốc Gia, Bộ Luật An Ninh Hàng Hải, Phương Hướng, Giải Pháp Cơ Bản Phòng, Chống ‘diễn Biến Hòa Bình’, Bạo Loạn Lật Đổ?, Khái Niệm Chính Sách Pháp Luật Và Hệ Thống Chính Sách Pháp Luật, Xây Dựng Phương Pháp Định Lượng Rotundin Trong Củ Bình Vôi Tươi Bằng Sắc Ký Lớp Mỏng Kết Hợp Đo Mật, Xây Dựng Phương Pháp Định Lượng Rotundin Trong Củ Bình Vôi Tươi Bằng Sắc Ký Lớp Mỏng Kết Hợp Đo Mật , Luật An Ninh Quốc Phòng, Gợi ý Đáp án Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng, Bộ Luật Quốc Tế Về An Ninh Tàu Và Bến Cảng, Dự Thảo Luật An Ninh Mạng, Báo Cáo Tổng Kết Luật An Ninh Quốc Gia, Dự Luật An Ninh Mạng Thuvienphapluat, Quy Định Luật An Ninh Mạng, Dự Luật An Ninh Mạng Của Việt Nam, Văn Bản Pháp Luật Là Gì Có Mấy Loại Văn Bản Pháp Luật,

Văn Bản Pháp Luật Ninh Bình, Văn Bản Pháp Luật Quảng Ninh, Nguyên Tắc Bảo Đảm Quyền Bình Đẳng Trước Pháp Luật, Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Tuân Thủ Quy Định Của Pháp Luật Về An Ninh Mạng; Kịp Thời Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Đến Bảo Vệ An, Dương Lói, Quan Diểm, Chính Sách, Pháp Luạt Của Nha Nươc Ve Quoc Phong An Ninh, Tuân Thủ Quy Định Của Pháp Luật Về An Ninh Mạng; Kịp Thời Cung Cấp Thông Tin Liên Quan Đến Bảo Vệ An, Nội Dung Cơ Bản Của Đường Lối Của Đảng, Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Luận Văn Thạc Sĩ Pháp Luật Của Việt Nam Về ưu Đãi Đầu Tư Với Thực Tiễn ở Tỉnh Quảng Bình, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang Chinh Sach Luat Phap Cua Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Nội Dung Cơ Bản Trong Đường Lối Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Bai Thu Hoach Ve Quan Diem, Dương Lio, Chinh Sach, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vẹ An Ninh, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách, Pháp Luật Của Nhà Nước Việt Nam Về Bảo Vệ An Ninh , Quan Điểm Của Đảng Về Đường Loói Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Duong Loi Quan Diem Cua Dang, Chinh Sach, Phap Luat Cua Nha Nuoc Viet Nam Ve Quoc Phong An Ninh., Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về Quốc Phòng An Ninh, Noi Dung Duong Loi, Quan Diem, Chinh Sach Cua Dang, Phap Luat Nha Nuoc Ve Quoc Phong An Ninh, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Hiểu Biết Của Đồng Chí Về Vi Phạm Pháp Luật, Kỷ Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lý? Các Giải Pháp Phòng, Ch, Đường Lối, Quan Điểm Của Đảng Cộng Sản, Chính Sách Pháp Luật Nhà Nước Về Bảo Vệ An Ninh Chính Trị, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Đường Lối Quan Điểm Của Đảng Chính Sách Pháp Luật Của Nhà Nước Về An Ninh Chính Trị, Kinh Tế, Văn Hó, Thủ Tục Làm Hộ Chiếu Ninh Bình, Danh Sách 9 Cầu Thủ Ninh Bình Bán Độ, Giá Đất Tỉnh Ninh Bình Năm 2021, Danh Bạ Giáo Dục Ninh Bình, Văn Bản Ubnd Tỉnh Ninh Bình, Những Yếu Tố Tác Động Đến An Ninh Quốc Gia Và Giải Pháp Cơ Bản Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Đề Thi Học Sinh Giỏi Lớp 9 Tỉnh Ninh Bình, Danh Sách Khách Sạn Ninh Bình, Phân Bón Hóa Học Và Hóa Chất Bảo Vệ Thực Vật Tỉnh Ninh Bình, Giay Moi Tham Quan Du Lich Ninh Binh -nam Dinh, Báo Cáo Hiện Trang Môi Trường Nước Tỉnh Ninh Bình, Quyết Định 2604/qĐ-sxd Đơn Giá Nhân Công Ninh Bình, Văn Bản Số 538/sxd-kt&vlxd Đơn Giá Nhân Công Xây Dựng Tỉnh Ninh Bình, Pháp Luật Và Thực Hiện Pháp Luật Trong Nhà Nước Xhcnvn, Tiểu Luận Pháp Luật Và Hệ Thống Pháp Luật Xhcn Việt Nam, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Pháp Luật Quốc Tế, Pháp Luật Nước Ngoài Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em, Binh Pháp, Binh Pháp Tôn Tử, Binh Pháp Tôn Tử Pdf, Cac Giai Phap An Ninh Quoc Gia, Nhiệm Vụ Giải Pháp Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Giấy Xuất Xưởng Xi Măng Tháng 10 Năm 2021 Xi Măng Bỉm Sơn Ninh Bình,

Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Bánh Trôi Nước Của Hồ Xuân Hương

Đề bài: Phát biểu cảm nghĩ về bài “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương.

Bài làm

Hồ Xuân Hương là một trong những nữ thi sĩ xuất sắc nhất trong nền văn học Việt Nam bởi phong cách sáng tác độc đáo cũng như hồn thơ “thanh thanh tục tục” và Xuân Diệu tôn xưng “bà chúa thơ Nôm”. Bài thơ “Bánh trôi nước” là một minh chứng cụ thể:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Bài thơ “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương bắt đầu từ chuyện chiếc bánh trôi nước nhưng kết thúc thì không dừng lại ở chuyện một món ăn dân tộc mà thông qua hình tượng bánh trôi nước, nữ thi sĩ ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ và phê phán xã hội lễ giáo phong kiến khắt khe, cổ hủ.

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn”

Câu thơ đầu tiên bắt đầu từ âm hưởng đậm chất ca dao dân ca với từ “thân em”

“Thân em như dải lụa đào,

Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.”

“Thân em như giếng giữa đình

Người ngoan rửa mặt, người phàm rửa chân”

“Thân em như hạt mưa sa

Hạt rơi giếng ngọc, hạt ra ngoài đồng”

Từ “thân em” gợi nên thân phận người phụ nữ bèo bọt, truân chuyên, phụ thuộc, rẻ rúng. Còn trong thơ Hồ Xuân Hương, tác giả cảm nhận vẻ đẹp của người phụ nữ rất con gái Việt “trắng” và “tròn” nói lên vẻ đẹp trong sáng, tinh khiết, đậm đà, đằm thắm, phúc hậu. Vẻ đẹp này toát lên từ việc tác giả sử dụng hình ảnh chiếc bánh trôi nước có dạng hình tròn mà màu trắng trong.

Tuy đẹp, nhưng số phận lại hoàn toàn trái ngược với lẽ thông thường:

“Bảy nổi ba chìm với nước non”

Từ “bảy nổi ba chìm” rất giàu chất văn học dân gian. Trong văn học dân gian, từ “ba chìm bảy nổi” thường ám chỉ thân phận long đong, lận đận của tương lai con người, nhất là người phụ nữ. Trong nghĩa thực, tác giả nói đến trạng thái chìm nổi của bánh trôi nước khi luộc chín. Còn với nghĩa biểu tượng, tác giả muốn nhấn mạnh đến số phận của người phụ nữ xưa.

Sang câu thơ thứ ba, Hồ Xuân Hương thể hiện sự phụ thuộc của số phận người phụ nữ:

“Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”

Trong thực tế, khi luộc bánh trôi nước rất dễ bị nát nếu luộc quá kĩ còn nếu luộc chưa đủ sẽ bị rắn do vậy bánh luộc ngon hay không là phụ thuộc vào trình độ cảm tính của người nấu. Tương tự như vậy, thân phận người phụ nữ cũng chẳng khác nào chiếc bánh trôi phụ thuộc. Người phụ nữ trong xã hội cũ chịu ảnh hưởng từ tư tưởng trọng nam khinh nữ và lễ giáo “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, “xuất gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, tử tử tòng tôn”… do vậy họ gần như không có quyền tự quyết định cuộc đời mình.

Tuy nhiên, cụm từ quan hệ “mặc dầu… mà…” đã khẳng định rằng dù có ra sao thì người phụ nữ cũng luôn giữ trọn tấm lòng đẹp đẽ của mình giống như chiếc bánh trôi nước dù rắn hay nát thì nhân mật ngọt ngào bên trong vẫn không hề hấn gì:

“Mà em vẫn giữ tấm lòng son”

Câu thơ giống như chân lí sống của Hồ Xuân Hương. Người phụ nữ có chịu bao sóng gió, cực nhọc, đau thương, dày vò nhưng đến cuối cùng vẫn nhất định giữ nguyên tấm lòng son sắt, thủy chung, đậm đà, thơm thảo. Hồ Xuân Hương đã mượn hình ảnh chiếc bánh trôi nước để ca ngợi vẻ đẹp hình thể và vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ đồng thời qua đó vạch mặt chế độ xã hội phong kiến lắm lễ giáo khắt khe luôn chèn ép lên thân phận người phụ nữ.

Bài thơ “Bánh trôi nước” hấp dẫn từ trẻ nhỏ đến những con người tóc bạc quá nửa đầu. Bởi, bài thơ vừa thể hiện một món ăn dân tộc từ hình dáng, màu sắc tới cấu tạo, công đoạn luộc… và thông qua đó triết lí về cuộc đời con người. Bài thơ thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt song gần như phá cách trong quy luật gieo vần cũng như sử dụng hình ảnh gần gũi, đậm chất dân gian đã chứng tỏ hồn thơ phóng khoáng và cá tính độc đáo của Hồ Xuân Hương.

Bài thơ ” Bánh trôi nước ” giống như bản tự thuật của Hồ Xuân Hương về chính cuộc đời đa đoan, truân chuyên của mình. Bài thơ thay người phụ nữ nói lên tiếng lòng thiết tha mà họ không thể trực tiếp bộc lộ thời bấy giờ.

Hoài Lê

Giáo Án Tin Học 6 Tiết 41: Bài Thực Hành 5. Văn Bản Đầu Tiên Của Em (Tt)

Tiết 41: BÀI THỰC HÀNH 5. VĂN BẢN ĐẦU TIÊN CỦA EM (TT).

– Học sinh hiểu những quy tắc trong việc soạn thảo văn bản và vận dụng trực tiếp thông qua bài thực hành trên máy.

II. CHUẨN BỊ:

– Gíáo viên: Giáo án và SGK và phòng máy.

– Học sinh: SGK, dụng cụ học tập.

Tuần: 22 GIÁO ÁN TIN HỌC LỚP 6 Tiết 41: BÀI THỰC HÀNH 5. VĂN BẢN ĐẦU TIÊN CỦA EM (TT). I. MỤC TIÊU: – Học sinh hiểu những quy tắc trong việc soạn thảo văn bản và vận dụng trực tiếp thông qua bài thực hành trên máy. II. CHUẨN BỊ: – Gíáo viên: Giáo án và SGK và phòng máy. – Học sinh: SGK, dụng cụ học tập. III. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: Hoạt động của Giáo viên Hoạt động của Học sinh Nội dung bài học Hoạt động: Tìm hiểu cách di chuyển con trỏ và các thao tác hiển thị văn bản. – Giáo viên yêu cầu học sinh thực hiện các thao tác trên các nút lệnh và tìm hiểu xem công dụng, ý nghĩa của từng nút lệnh. – Giáo viên cho học sinh có cái nhìn tổng quát về giao diện của phần mềm Word để học sinh nắm vững kiến thức và dễ hình dung. – Giáo viên kiểm tra học sinh thực hành trên máy. – Học sinh thực hiện theo yêu cầu của giáo viên và rút ra kết luận cho bản thân qua bài thực hành. – Học sinh cảm nhận bài học được rõ ràng và nắm vững kiến thức. – Học sinh đưa kết quả trên máy tính cho giáo viên đáng giá. III.Tìm hiểu cách di chuyển con trỏ soạn thảo và các cách hiển thị văn bản: 1) Tập di chuyển con trỏ soạn thảo trong văn bản bằng chuột và các mũi tên nêu trong bài. 2) Sử dụng các thanh cuốn để xem các phần khác nhau của văn bản khi được phóng to. 3) Chọn các lệnh View Normal, View Outline để hiển thị văn bản trong các chế độ khác nhau. Quan sát sự thay đổi màn hình. Nháy lần lượt vào các nút , và ở góc dưới, bên trái thanh cuốn dọc để thay đổi hiển thị văn bản và rút kết luận. 4) Thu nhỏ kích thước của màn hình soạn thảo. 5) Nháy chuột ở các nút và ở góc bên phải cửa sổ để phóng to thu nhỏ màn hình. 6) Đóng cửa sổ thoát khỏi Word. V. DẶN DÒ: -Tiết sau chúng ta sẽ làm quen với việc chỉnh sửa văn bản, các em xem trước bài.

Giáo Án Tin Lớp 6 Tiết 40+ 41: Thực Hành 5 Văn Bản Đầu Tiên Của Em

GV:Cho HS khởi động Word

GV:Giới thiệu các bảng chọn trên thanh bảng chọn. Mở một vài bảng chọn

GV:Giới thiệu các thanh công cụ. Tìm hiểu các nút lệnh trên các thanh công cụ đó.

GV:Cho HS tìm hiểu một số chức năng trong bảng chọn File.

GV:Cho HS nháy nút lệnh Open để thấy cách sử dụng các lệnh trong bảng chọn cũng giống như sử dụng các nút lệnh.

GV:Cho HS gõ đoạn văn Biển Đẹp trang 77 SGK. Lưu ý HS nếu gõ sai không cần sửa

GV:Cho HS lưu văn bản với tên Bien dep

GV:Cho HS di chuyển con trỏ soạn thảo bằng cách nháy chuột hoặc dùng mũi tên 4 chiều.

GV:Cho HS sử dụng thanh cuốn để xem nội dung văn bản

GV:Hướng dẫn cách thể hiện văn ở các dạng khác nhau

GV:Hướng dẫn thu nhỏ phóng to cửa sổ

GV:Cho HS đóng cửa sổ

Tiết 40,41 Thực hành 5 VĂN BẢN ĐẦU TIÊN CỦA EM Ngày soạn:26/01/2015 I. MỤC TIÊU: 1. Kiến thức: - Làm quen và tìm hiểu cửa sổ làm việc của Word, các bảng chọn. một số nút lệnh. - Làm quen với vị trí các phím trên bàn phím và gõ chữ Việt bằng một trong hai cách gõ Telex hay Vni. - Bước đầu tạo và lưu một văn bản chữ Việt đơn giản. .2. Kỹ năng: - Rèn luyện các kĩ năng, gõ, tạo và lưu văn bản. 3. Thái độ: - Thói quen : HS có thái độ nghiêm túc. II. PHƯƠNG PHÁP & KỸ THUẬT DẠY HỌC - Tích cực. III. CHUẨN BỊ CỦA GV&HS 1. Giáo viên: Giáo án. Phòng máy. 2. Học sinh: xem bài trước ở nhà, SGK. IV. TIẾN TRÌNH LÊN LỚP: 1. Kiểm tra bài cũ: - Em hãy cho biết qui tắc gõ văn bản trong word? - Em hãy cho biết 2 kiểu gõ chữ việt? 2. Bài mới : Hoạt động 1: Hệ thống lại phần lý thuyết HOẠT ĐỘNG CỦA GV&HS NỘI DUNG KIẾN THỨC GV:Cho HS khởi động Word GV:Giới thiệu các bảng chọn trên thanh bảng chọn. Mở một vài bảng chọn GV:Giới thiệu các thanh công cụ. Tìm hiểu các nút lệnh trên các thanh công cụ đó. GV:Cho HS tìm hiểu một số chức năng trong bảng chọn File. GV:Cho HS nháy nút lệnh Open để thấy cách sử dụng các lệnh trong bảng chọn cũng giống như sử dụng các nút lệnh. GV:Cho HS gõ đoạn văn Biển Đẹp trang 77 SGK. Lưu ý HS nếu gõ sai không cần sửa GV:Cho HS lưu văn bản với tên Bien dep GV:Cho HS di chuyển con trỏ soạn thảo bằng cách nháy chuột hoặc dùng mũi tên 4 chiều. GV:Cho HS sử dụng thanh cuốn để xem nội dung văn bản GV:Hướng dẫn cách thể hiện văn ở các dạng khác nhau GV:Hướng dẫn thu nhỏ phóng to cửa sổ GV:Cho HS đóng cửa sổ 1.Khởi động và tìm hiểu các 2.Soạn thảo văn bản đơn giản. 3.Tìm hiểu cách di chuyển con trỏ soạn thảo và các cách thị 3. Củng cố: - GV:Nhắc lại các thao như mở Word, mở tệp tin mới, lưu tệp tin, mở tệp tin có trên máy tính, thoát khỏi Word và làm lại một lần nữa cho HS xem. 4. Hướng dẫn HS học bài ở nhà - GV:Về học lại cho thật là kỹ phần lý thuyết, em nào có điều kiện thì nên thục hành trên máy thường xuyên V. RÚT KINH NGHIỆM - BỔ SUNG:

Tin Học 6 Bài Thực Hành 5: Văn Bản Đầu Tiên Của Em

Tóm tắt lý thuyết

a. Khởi động word

Có 2 cách khởi động Word:

  • Cách 1: Nháy đúp lên biểu tượng trên màn hình nền
  • Cách 2: Nháy vào nút Start, trỏ chuột vào All Programs và chọn Microsoft Word

b. Nhận biết các bảng chọn trên thanh bảng chọn

b.1. Bảng chọn File

Bảng chọn File gồm các chức năng:

b.2. Bảng chọn Edit

Bảng chọn Edit gồm các chức năng:

b.3. Bảng chọn View

Bảng chọn View gồm các chức năng:

  • Print Layout (hiển thị dạng trang in khi soạn thảo);
  • Toolbars (hiển thị lại các thanh bảng chọn).

b.4. Bảng chọn Insert

Bảng chọn Insert gồm các chức năng:

b.5. Bảng chọn Format

Bảng chọn Format gồm các chức năng:

  • Font… (định dạng phông chữ)
  • Paragraph… (định dạng đoạn văn bản)
  • Bullets and Numbering… (tạo danh sách liệt kê)
  • Border and Shading… (kẻ hay xóa đường viền)

c. Thanh công cụ

Hình 6. Các nút lệnh trên thanh công cụ Hình 7. Tóm tắt quy tắc gõ văn bản trong Word

a. Lưu văn bản

  • Ta cần phải lưu lại văn bản trước khi kết thúc (hay trong khi) soạn thảo văn bản, như sau:
    • Cách 1: chọn File (rightarrow) Save;
    • Cách 2: Nháy chuột vào nút lệnh Save trên thanh công cụ chuẩn;
    • Cách 3: Nhấn tổ hợp phím Ctrl + S.
  • Khi thực hiện lưu văn bản sẽ xảy ra 1 trong 2 trường hợp sau:
    • Trường hợp 1: Khi thực hiện lưu lần đầu với 1 văn bản mới tạo

      • Bước 1: Chọn File (rightarrow) Save;
      • Bước 2: Chọn thư mục chứa tệp văn bản cần lưu trong ô Save in;
      • Bước 3: Đặt tên cho văn bản trong ô File name;
      • Bước 4: Nhấn nút Save.
    • Trường hợp 2: Khi thực hiện lưu ở những lần sau cho văn bản đã có tên truy cập, thì chỉ thực hiện 1 thao tác File (rightarrow) Save mà không thực hiện thêm thao tác nào khác.

b. Kết thúc phiên làm việc với văn bản

Thực hiện một trong hai cách sau đây:

c. Kết thúc phiên làm việc với Word

Có 2 cách thực hiện:

  • Cách 2: Nháy vào nút ở bên phải thanh bảng chọn

Bài Thơ Tôi Yêu Em

Bài thơ: Tôi yêu em (A.X.Pu-Skin)

Bài giảng: Tôi yêu em – Cô Thúy Nhàn (Giáo viên VietJack)

Nội dung bài thơ Tôi yêu em

I. Đôi nét về tác giả (A.X.Pu-Skin)

– A-lếch-xan-đrơ Xéc-ghê-ê-vích Pu-skin (1799-1837) là Mặt trời của thi ca Nga

– Xuất thân trong một gia đình đại quý tộc lâu đời ít nhiều đã sa sút ở Mát-xcơ-va

– Sớm có khát vọng tự do vì say mê cái đẹp. từ nhỏ đã làm thơ, năm 14,15 tuổi được đánh giá là thiên tài thi ca

– Là người căm ghét bạo lực, cường quyền, trung thành với lí tưởng tự do, bác ái

– Các tác phẩm chính:

+ tiểu thuyết bằng thơ: Ép-ghê-nhi Ô-nhê-ghin

+ trường ca: Ru-xlan và Li-út-mi-la, Người tù Cáp-ca-dơ

+ truyện ngắn: Cô tiểu thư nông dân, Con đầm pích

– Đặc điểm sáng tác:

+ thể hiện tuyệt đẹp tâm hồn nhân dân Nga khao khát tự do và tình yêu

+ là tiếng nói Nga trong sáng, thuần khiết, thể hiện cuộc sống một cách giản dị, chân thực

II. Đôi nét về tác phẩm Tôi yêu em (A.X.Pu-Skin)

1. Hoàn cảnh sáng tác

– Bài thơ sáng tác năm 1829, sau một lần nhà thơ tỏ tình và bị khước từ

2. Bố cục

– Phần 1 (4 dòng thơ đầu): những mâu thuẫn giằng xé trong tâm hồn nhà thơ

– Phần 2 (2 dòng thơ tiếp): khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình

– Phần 3 (còn lại): sự cao thượng, chân thành trong tình yêu của thi sĩ

3. Giá trị nội dung

– Bài thơ thấm đượm nỗi buồn của mối tình vô vọng, nhưng là nỗi buồn trong sáng của một tâm hồn yêu đương chân thành, mãnh liệt, nhân hậu, vị tha

4. Giá trị nghệ thuật

– Lời giãi bày thể hiện qua ngôn từ giản dị mà tinh tế

III. Dàn ý phân tích Tôi yêu em (A.X.Pu-Skin)

1. Những mâu thuẫn giằng xé trong tâm trạng nhà thơ

– Điệp khúc tôi yêu em xuất hiện ở bên câu thơ đầu thể hiện cảm xúc bị kìm nén, dè dặt, bị lí trí chi phối.

– Cụm từ tôi yêu em bộc lộ trực tiếp một tình yêu chân thành

– Sự bày tỏ dè dặt qua cách dùng từ có lẽ, chưa tắt hẳn nhưng bên trong vẫn thể hiện một tình yêu âm ỉ, dai dẳng: Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai

– Vẫn mãi yêu em nhưng dường như nhà thơ đã nhận thức được tình yêu đơn phương của mình sẽ làm cho người mình yêu băn khoăn, u hoài. Vì vậy trong lí trí, tác giả muốn dập tắt ngọn lửa tình yêu để trả lại sự yên tĩnh, thanh thản trong tâm hồn người mình yêu

Nhưng không để em bận lòng thêm nữa

Hay hồn em phải gợn bóng u hoài

2. Khổ đau và tuyệt vọng của nhân vật trữ tình

– Điệp khúc tôi yêu em lại lần nữa xuất hiện thể hiện sự chuyển đổi đột ngột, tuôn trào của cảm xúc không còn nghe theo sự điều kiển của lí trí nữa

– Những từ lúc, khi diễn tả những trạng thái tình yêu biến đổi đa dạng nhưng rất đỗi bình thường. Mặc dù tình yêu của tôi là không hi vọng không âm thầm đơn phương nhưng nó vẫn mang đầy đủ sắc thái tâm trạng của một người đang yêu: muốn bày tỏ nhưng lại rụt rè, e ngại bị khước từ; thấy người mình yêu ở bên ai đó cũng ghen tuông, đau khổ

⇒ Bề ngoài lí trí thì cứng cỏi nhưng trong chiều sâu tâm trạng vẫn rất yêu em

3. Sự cao thượng, chân thành trong tình yêu của nhân vật trữ tình

– Điệp khúc tôi yêu em, yêu lặp lại lần thứ ba thể hiện sự tuôn trào của cảm xúc muốn bộc bạch cho hết sự chân thành, đằm thắm của tình yêu tôi dành cho em, tình yêu ấy không bao giờ lụi tắt mặc dù vì người yêu tác giả sẵn sàng rút lui

– Rút lui khi ngọn lửa tình vẫn âm ỉ nhưng vẫn cầu mong người mình yêu gặp được người khác yêu thương em như tôi đã từng yêu em vậy⇒ quả là nhân hậu, cao thượng

– Hai câu kết hàm chứa thật nhiều ý vị:

+ khi yêu người ta thường ích kỉ, yêu càng sâu đậm thì khi chia tay càng hậm hực, nhỏ nhen, hận thù

+ Pu-skin đã vượt qua thói ích kỉ tầm thường ấy bằng một cách ứng xử rất đẹp: yêu là trân trọng người mình yêu, mong muốn người mình yêu được hạnh phúc

⇒ Lời giã biệt cho mối tình không thành nhưng vẫn tràn ngập yêu thương, không một chút hận thù mà chứa chan lời cầu mong đầy tính nhân văn

4. Nghệ thuật

– Nghệ thuật điệp từ tôi yêu em, yêu được sử dụng vô cùng thành công

– Nhịp thơ khi ngập ngừng sâu lắng diễn tả đau đớn thổn thức trong trái tim thi sĩ, khi mãnh liệt trào dâng trong cảm xúc yêu đương nồng cháy

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k4: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

tac-gia-tac-pham-lop-11.jsp

Thế Nào Là Văn Thuyết Minh? Văn Bản Thuyết Minh Cần Được Trình Bảy Chính Xác, Rõ Ràng, Chặt Chẽ Và

I. Thế nào là văn thuyết minh?

Đọc các văn bản sau:

Văn bản 1:

CÂY DỪ A BÌNH ĐỊNH

Cây dừa gẳn bó với người dân Bình Định chặt chẽ như cây tre đời với người dân miền Bắc. Cây dừa cống hiến tất cả của cải của mình cho con người: thân cây làm máng, lá làm tranh, cọng lá chẻ nhỏ làm vách, gốc dừa già làm chõ đồ xôi, nước dừa để uống, để kho cá, kho thịt, nấu canh, làm nước rnắm.. Cùi dừa ăn sống với bánh đa, làm mứt, làm bánh kẹo, ép lấy dầu dùng để thắp, để ăn, để chải đầu, nấu xà phòng. Sọ dừa làm khuy áo, làm gáo, làm muôi. Vỏ dừa bện dây rất tốt đối với người đánh cá vì nó mềm, dẻo, dai, chịu mưa, chịu nắng. Cây dừa gắn bó với đời sổng hằng ngày là như thế đấy.

Dân Bình Định có câu ca dao:

Dừa xanh sừng sững giữa trời

Đem thân mình hiến cho đời thủy chung.

Ỏ Bình Định, dừa là chủ yếu, dừa là tất cả. Dừa ở đây như rừng, dừa mọc ven sông, men bờ ruộng, leo sườn đồi, rải theo bờ biển. Trên những chặng đường dài suốt 50, 60 km chúng ta chỉ gặp cây dừa: dừa xiêm thấp lè tè, quả tròn, nước ngọt, dừa nếp lơ lửng giữa trời, quả vàng xanh mơn mởn, dừa lửa lá đỏ, vỏ hồng..-

(Theo Hoàng Văn Huyền, Những mâu chuyện địa lí)

Văn bản 2:

TẠI SAO LÁ CÂY CÓ MÀU XANH LỤC?

Lá cây có màu xanh lục vì các tế bào của lá chứa nhiều lục lạp. Một mi-li-mét lá chứa bốn mươi vạn lục lạp. Trong các lục lạp này có chứa một chất gọi là diệp lục, tức là chất xanh của lá. Ánh sáng trắng của mặt trời gồm bảy màu: tím, chàm, lam, lục, vàng, cam, đỏ. Sở dĩ chất diệp lục có màu xanh lục vì nó hút các tia sáng có màu khác, nhất là màu đỏ và màu lam, nhưng không thu nhận màu xanh lục, mà lại phản chiếu màu này, do đó mắt ta mới nhìn thấy màu xanh lục. Nếu ta chiếu chất diệp lục cùa lá cây bằng một nguồn sáng màu đỏ, chất này sè thu nhận tất cả các tia màu đỏ, nhưng vì không có tia sáng màu xanh lục để phán chiếu lại, nên kết quả ta nhìn vào lá cây chỉ thấy một màu đen sì… Như vậy lá cây có màu xanh là do chất diệp lục trong lá cây.

(Theo Vũ Văn Chuyên, Hòi đáp về thực vật)

Phát triển kỹ năng làm bài văn chọn lọc 8 – Nguyễn Phước Lợi

Văn bản 3:

HUẾ

Huế là một trong những trung tâm văn hoá, nghệ thuật lớn của Việt Nam. Huế là một thành phố đẹp. Huế đẹp của thiên nhiên Việt Nam Huế đẹp cùa thơ. Huế đẹp của những con người sáng tạo, anh dũng.

Huế là sự kết hợp hài hòa của núi, sông và biển. Chúng ta có thể lên núi Bạch Mã để đón gió biển. Từ đèo Hải Vân mây phủ, chúng ta nghe tiếng sóng biển rì rào. Từ đây buổi sáng chúng ta có thể lên Trường Sơn, buổi chiều tắm biểnThuận An và ban đêm ngủ thuyền trên sông Hương.

Huế đẹp với cảnh sắc sông núi. Sông Hương đẹp như một dai lụa xanh bay lượn trong tay nghệ sĩ múa. Núi Ngự Bình như cái yên ngựa nối bật trên nền trời trong xanh của Huế. Chiều đến, những chiếc thuyền nhỏ nhẹ nhàng lướt trên dòng nước hiền dịu của sông Hương. Những mái chèo thong thả buông, những giọng hò Huê ngọt ngào bay lượn trên mặt sóng, trên những ngọn cây thanh trà, phượng vĩ.

Huế có những công trình kiến trúc nối tiếng được Liên hợp quốc xếp vào hàng di sàn văn hoá thế giới. Huế nổi tiếng với các lăng tẩm của các vua Nguyễn, với chùa Thiên Mụ, chùa Trúc Lâm, với đài Vọng Cảnh, điện Hòn Chén, chợ Đông Ba..

Huế được yêu vì những sản phẩm đặc biệt của mình. Huế là thành phố của những mảnh vườn xinh đẹp. Những vườn hoa, cây cảnh, những vườn chè, vườn cây ăn quả của Huế xanh mướt như những viên ngọc. Những chiếc nón Huế càng làm cho các cô gái Huế đẹp hơn, duyên dáng hơn.

Huế còn nổi tiếng với những món ăn mà chỉ riêng Huế mới có.

Huế còn là thành phố đấu tranh kiên cường. Tháng tám năm 1945, Huế đã đứng lên cùng cả nước, chế độ phong kiến ngàn năm sụp đổ dưới chân thành Huế.

Huế đẹp và thơ đã đi vào lịch sứ của những thành phố anh hùng

(Dẫn theo Tiếng Việt thực hành}

Mỗi văn bản trên, em nhận ra được các văn bản trình bày, giới thiệu, giải thích những điều gì? Cụ thể:

Trong văn bản 1: Văn bàn Cây dừa Bình Định trình bày ích lợi của cây dừa. Lợi ích này gắn với dặc điểm của cây dừa mà cây khác không có ế Tất nhiên cây dừa Bến Tre hay nơi khác cũng ích lợi như thế. Nhưng đây giới thiệu riêng về cây dừa Bình Định, gắn bó với dân Bình Định.

Trong văn bản 2: Văn bản Tại sao lả cây có màu xanh lục? giải thích về tác dụng của chất diệp lục làm cho người ta thấy lá cây có màu xanh.

Trong văn bản 3: Văn bản Huế giới thiệu Huế như là một trung tâm văn hóa nghệ thuật lớn của Việt Nam với những đặc điểm tiêu biểu riêng của Huế.

khangvietbook. com. v/7 – ĐT: (08)39103821

Văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sống nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) về đặc điểm, tính chất, nguyên nhân… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích.

– Tri thức trong văn bản thuyết minh đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho con người.

– Văn bản thuyết minh cần được trình bày chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dần.

Trong khái niệm trên, chúng ta nhận ra được ba ý chính khi đề cập đến văn thuyết minh. Đó là:

– Văn bán thuyết mình là kiểu văn bản thông dụng trong mọi lĩnh vực đời sổng nhằm cung cấp tri thức (kiến tlỉức) vè đặc điểm, tỉnh chất, nguyên nhân… của các hiện tượng và sự vật trong tự nhiên, xã hội bằng phương thức trình bày, giới thiệu, giải thích: Trong ba văn bản mà em vừa phân tích ở trên, chúng ta thấy rằng người viết đã cung cấp cho người đọc một lượng kiến thức đáng kể vê những đặc điếm, tính chất, ích lợi của cây dừa trong cuộc sống của con người Bình Định (Văn ban 1), hay như kiến thức sinh học về chất diệp lục trong lá cây (Văn bản 2), cũng như em có được cái nhìn tổng quát nhất khi được đọc qua phần giới thiệu về Huế với các đặc điểm, tính chất, những nét đặc trưng của xứ Huế (Văn bản 3). Nói tóm lại là, thông qua các phương thức diễn đạt trình bày, giới thiệu. Giải thích người đọc có thể tiếp nhận nội dung một văn bản thuyết minh một cách dễ dàng.

Tri thức trong vãn bán í huyết minh đòi hỏi khách quan, xác thực, hữu ích cho con người: Khác với văn bán nghị luận, tự sự, miêu tả, biếu cảm, hành chính – công vụ, văn bản thuyết minh chủ yếu trình bày tri thức một cách khách quan, chính xác nghĩa là tri thức được cung cấp trong văn bản không được sai sự thật, không được tưởng tượng, hư cấu ra. Nguồn tri thức khách quan ấy giúp cho con người có hiểu biết về những đặc trưng, tính chất cùa sự vật, hiện tượng, và biết cách sử dụng chúng vào mục đích có lợi cho con người. Văn bản thuyết minh gắn liền với tư duy khoa học, đòi hỏi độ chính xác cao. Muốn làm được văn bản thuyết minh, phải tiến hành điều tra, nghiên cứu, học hỏi tri thức thì mới làm tốt được. Ta hiểu rằng văn bản thuyết minh là loại văn bản trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng.. nhằm cung cấp tri thức, hướng dẫn cách sử dụng cho con người. Lấy ví dụ như: mua một cái máy như ti vi, máy bơm, máy cày… đều phải kèm theo bản thuyết minh để ta hiểu tính năng, cấu tạo, cách sứ dụng, cách bao quản. Mua một hộp bánh, trên đó cũng có ghi xuất xứ, thành phần các chất làm nên bánh, ngày sản xuất, hạn sử dụng, trọng lượng tịnh… Hay đến tham quan một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử, trước cổng vào đa phần đều có bang ghi lời giới thiệu lai lịch, lịch sử ra đời của nó.

– Văn bản thuyết minh cần được trình bảy chính xác, rõ ràng, chặt chẽ và hấp dẫn: Chính vì là loại văn bán cung cấp tri thức khách quan, chính xác. không có sự tưởng tượng cho nên lời văn trình bày thuyết minh cần phái chính xác. rồ ràng, và chặt chẽ. Bên cạnh đó, cùng rất cần đến sự hấp dần cho văn bản. Đê tạo được sự hấp dẫn cho văn bản thuyết minh của mình, ta còn nhận thấy đôi khi người viết cũng đưa vào kể chuyện hoặc miêu tả. Đi vào các bao tàng lịch sử, bảo tàng chứng tích chiến tranh… người thuyết minh ngoài mặt thuyết minh về lịch sử. các cuộc kháng chiến của dân tộc ta, người thuyết minh còn hay đem vào lời thuyết minh của mình những câu chuyện lịch sử đầy sổng động với lòi vân miêu tả cực kì hấp dẫn làm say mê những người đang tham quan… hay như trước cổng vào cùa các di tích lịch sử hoặc danh lam thăng cảnh… cliúng ta cũng thường hay thây những tấm bảng giới thiệu lai lịch cùng với những câu chuyện, sự tích gắn liền với di tích hoặc danh lam thắng cảnh ấy làm cho người tham quan bị cuốn hút theo câu chuyện được kể trên tấm bảng.