Top 19 # Xem Nhiều Nhất Nghị Định 155 Của Chính Phủ Về Môi Trường / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Athena4me.com

Xử Lý Vi Phạm Về Môi Trường Theo Nghị Định 155 Của Chính Phủ: Còn Nhiều Khó Khăn / 2023

Nghị định 155 của Chính phủ được ban hành và có hiệu lực từ tháng 2/2017 với nhiều mức xử phạt nghiêm khắc trong lĩnh vực môi trường, góp phần tạo chuyển biến tích cực trong công tác bảo vệ môi trường của tỉnh. Tuy nhiên, việc xử lý hành vi vứt rác bừa bãi, hút thuốc nơi công cộng, xả thải không đúng quy định của người dân ở nhiều địa phương còn nhiều khó khăn.

Xử phạt cao, rác vẫn ngập đường

Sau hơn một năm Nghị định 155 có hiệu lực, ghi nhận của phóng viên, tại nhiều tuyến đường trên địa bàn tỉnh, những hành vi như xả rác ra đường phố, vỉa hè hay vô tư tiểu tiện ngoài đường vẫn còn khá phổ biến. Bất kể thời gian nào, chân cột điện, gốc cây, gầm cầu, thậm chí tại nới cắm biển cấm đổ rác, rác thải vẫn được chất thành đống. Điển hình như tuyến đường Mê Linh, Nguyễn Tất Thành, Hùng Vương, thành phố Vĩnh Yên; quốc lộ 2C cầu Bì La; đường liên thôn, liên xã trên địa bàn xã Kim Long, huyện Tam Dương; xã Đại Đình, Hợp Châu huyện Tao Đảo, rác thải sinh hoạt được chất đống ngay giữa lòng đường, vỉa hè gây mất mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường và cản trở giao thông.

Tại Điều 20, Nghị định 155/2016/ NĐ-CP, các hành vi như vứt đầu mẩu và tàn thuốc lá không đúng nơi quy định bị phạt từ 500.000 – 1.000.000 đồng; tiểu tiện, đại tiện bậy bạ bị phạt 1 – 3 triệu đồng; xả rác thải sinh hoạt không đúng nơi quy định tại khu chung cư, thương mại, dịch vụ hoặc nơi công cộng bị phạt 3 – 5 triệu đồng; xả rác sinh hoạt trên vỉa hè, đường phố hoặc vào hệ thống thoát nước thải đô thị hoặc hệ thống thoát nước mặt trong khu vực đô thị mức phạt từ 5 – 7 triệu đồng.

Chị Nguyễn Thị Lan, nhân viên công nhân Công ty cổ phần môi trường và dịch vụ đô thị Vĩnh Yên cho biết: Từ khi Nghị định 155 có hiệu lực đến nay, việc thu gom rác do người dân vứt bừa bãi tại mặt đường, ngõ phố, trong các khu dân cư không hề giảm. Thậm chí nạn đổ trộm rác vào ban đêm có phần nhiều hơn trước. Đặc biệt, nhiều người vẫn giữ thói quen vứt rác ra đường chờ công nhân vệ sinh đến dọn chứ chưa có biểu hiện của việc “sợ phạt”.

Đồng bộ nhiều giải pháp

Theo đánh giá của nhiều địa phương, mặc dù Nghị định 155 quy định khá chi tiết và rõ ràng song khó áp dụng vào thực tế. Ông Nguyễn Thế Hùng, Phó Chủ tịch UBND phường Liên Bảo, thành phố Vĩnh Yên cho biết: Hiện nay, việc xử phạt theo Nghị định 155 còn khó khăn vì hầu hết cán bộ, công an phường phải kiêm nhiều nhiệm vụ như quản lý an ninh trật tự, vỉa hè, địa chính trong khi lực lượng mỏng, địa bàn rộng, đông dân cư. Cùng với đó, để xử phạt vi phạm, ví dụ như vứt rác, vứt tàn thuốc bừa bãi, khạc nhổ hay tiểu tiện không đúng nơi quy định… thì phải có ảnh chụp, bằng chứng “bắt tận tay” nên cũng rất khó. Đến nay, phường thực hiện xử phạt những hộ kinh doanh lấn chiếm vỉa hè, còn trường hợp xử phạt như vứt rác bừa bãi, vệ sinh không đúng nơi quy định, vứt đầu thuốc nơi công cộng… thì chưa xử phạt được trường hợp nào.

Các mức phạt cao tại Nghị định 155 đã đủ sức răn đe với các hành vi vi phạm. Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào việc xử phạt của chính quyền các cấp thì hiệu quả sẽ rất thấp. Bởi vậy, cần huy động sự vào cuộc, giám sát của chính người dân, đặc biệt là có cơ chế, chính sách đãi ngộ để thu hút nhiều người dân tham gia cung cấp thông tin, hình ảnh người vi phạm, từ đó có thể “phạt nguội”. Đối với cá nhân, hộ gia đình vi phạm nhiều lần thì có thể nêu tên, dán ảnh vi phạm lên bảng tin của khu dân cư.

Theo ông Bùi Văn Tạo, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã An Hòa, huyện Tam Dương, xã có 7 thôn dân cư, tại mỗi thôn đều có tổ môi trường thu gom rác thải và thời gian tiến hành thu gom rác 2 buổi/tuần. Ngay sau khi Nghị định 155 có hiệu lực, cấp ủy, chính quyền địa phương đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về Nghị định qua các buổi sinh hoạt chi bộ, họp thôn và tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh cơ sở để người dân hiểu, nâng cao ý thức bảo vệ môi trường; tích cực phối hợp, kiên quyết xử lý các vụ vi phạm về môi trường. Đặc biệt, trước tình trạng la liệt rác thải, thậm chí chất thành đống hai bên đường quốc lộ 2C đi cầu Bì La và mặt đê trung ương khu vực thôn Yên Thượng, Hương Đình, chính quyền địa phương đã giao khoán, gắn trách nhiệm cho từng trưởng thôn trong công tác bảo vệ môi trường. Qua thời gian theo dõi, giám sát, phục kích của cán bộ, người dân 2 thôn Hương Đình, Yên Thượng xã An Hòa đã bắt, lập biên bản xử phạt 3 vụ dùng xe lôi, xe kéo và ô tô từ địa phương khác chở rác đến đổ trộm.

Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh, từ tháng 2/2017 đến nay, trên địa bàn tỉnh có 20 tổ chức, cá nhân bị các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường với tổng số tiền hơn 2 tỷ đồng. Trong đó, Chánh thanh tra Sở ra quyết định xử phạt 9 đơn vị, Chủ tịch UBND tỉnh ra quyết định xử phạt 11 đơn vị.

Theo đánh giá của lãnh đạo Chi cục Bảo vệ môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường, hơn một năm trở lại đây, ý thức của các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường được nâng lên rõ rệt. Việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất trong và ngoài khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh được thực hiện khá tốt. Đa số các cơ sở sản xuất đã lập và qua cơ quan có thẩm quyền phê duyệt hồ sơ môi trường; chủ động xây dựng các công trình xử lý nước thải, khí thải trước khi đi vào vận hành chính thức. Chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại phát sinh được các cơ sở thu gom, lưu giữ và ký hợp đồng với các đơn vị có chức năng vận chuyển, xử lý theo quy định. Các cơ sở chăn nuôi có quy mô trung bình trở lên đều nằm xa khu dân cư, có hệ thống xử lý nước thải hoặc hệ thống biogas để xử lý nước thải…

Để môi trường xanh – sạch – đẹp, rất cần sự vào cuộc hơn nữa của cả hệ thống chính trị, đặc biệt là ý thức tự giác của các cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện nghiêm những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

Lê Vân

Nghị Định Của Chính Phủ Về Xử Phạt Vi Phạm Hành Chính Trong Lĩnh Vực Bảo Vệ Môi Trường / 2023

GIỚI THIỆUNGHỊ ĐỊNH CỦA CHÍNH PHỦ VỀXỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNHTRONG LĨNH VỰC BẢO VỆ MÔITRƯỜNG

Hà Nội, 09-11/10/2006

Số, ký hiệu văn bản: 81/2006/NĐ-CP ngày09/8/2006Cơ quan ban hành: Chính phủHiệu lực thi hành:Văn bản bị thay thế: Nghị định số 121/2004/NĐCP ngày 12/5/2004

I. Sự cần thiết ban hành

Để hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trườngnăm 2005.Sửa đổi những nội dung trong Nghị định số121/204/NĐ-CP mà qua quá trình tổ chức thựchiện còn bất cập

II. Bố cụcNghị định gồm 5 Chương 44 Điều Chương I. Những quy định chung Chương II. Các hành vi vi phạm hànhchính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường,hình thức xử phạt và mức phạt Chương III. Thẩm quyền, thủ tục xử phạt Chương IV. Khiếu nại, tố cáo, xử lý viphạm Chương V. Điều khoản thi hành

Các nội dung cơ bản của Nghịđịnh số 81/2006/NĐ-CP

Chương I. Quy định chungTương tự như các quy định của Pháp lệnh xử lý viphạm hành chính và Nghị định số 121/2004/NĐCP, Chương này quy định những vấn đề chung,xuyên suốt Nghị định, xác định rõ phạm vi điềuchỉnh, đối tượng áp dụng của Nghị định

Chương IICác hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vựcbảo vệ môi trường, hình thức xử phạt và

mức xử phạtCác nội dung sửa đổi, bổ sung tập chung chủ yếuvào Chương II, gồm 25 điều – NĐ 121 là 17 điều

Các điều giữ nguyên như NĐ 121Có 5 điều được giữ nguyên, gồm: Điều 14: Vi phạm các quy định về thải chấtthải rắn Điều 18: Vi phạm các quy định về bảo tồnthiên nhiên Điều 21: Vi phạm quy định về ô nhiễm đất Điều 22: Vi phạm quy định về ô nhiễm môitrường nước Điều 23: Vi phạm quy định về ô nhiễmkhông khí

Các điều được sửa đổi, bổ sungCó 13 điều được sửa đổi, bổ sung, gồm các điều 8,9, 10, 11, 12, 13, 15, 16, 17, 19, 20, 25 và Điều32

Các điều được sửa đổi, bổ sung

Điều 8 và Điều 9: Trên cơ sở các nội dungđã được quy định cụ thể tại Nghị định số121/2004/NĐ-CP, Nghị định 81/2006/NĐ-CPcụ thể hóa các nội dung để dễ thực hiện,đồng thời tách hai vi phạm thành 2 điềuriêng là: Vi phạm các quy định về cam kếtbảo vệ môi trường và vi phạm các quy địnhvề đánh giá tác động môi trường và đánhgiá môi trường chiến lược. Tăng mức phạtlên cho phù hợp với tình hình thực tế

Các điều được sửa đổi, bổ sung

Điều 10: Vi phạm các quy định về xả nước thải:so với Điều 10 Nghị định số 121 thì đã chia nhỏhành vi để khi áp dụng mức phạt sẽ dễ thực hiệntheo hướng tách theo thải lượng và áp dụngkhung hình phạt tối đa để xử phạtĐiều 11: Vi phạm các quy định về thải khí, bụi:Cũng sửa đổi theo hướng tách theo lượng khí thải

Các điều được sửa đổi, bổ sung

Điều 12, 13: Vi phạm các quy định về tiếng ồn,độ rung: Trên cơ sở Điều 13 của Nghị định 121,sau thời gian triển khai thực hiện Nghị định 121,Nghị định 81 tách thành 2 hành vi riêng biệt đểdễ thực hiện

Các điều được sửa đổi, bổ sung

Điều 15: Vi phạm các quy định về quản lý,vận chuyển và xử lý chất thải: Tương tự nhưĐiều 14 Nghị định số 121 và bổ sung khoản4 để hướng dẫn thi hành Khoản 1 Điều 70Luật Bảo vệ môi trường đối với hành vikhông lập hồ sơ, đăng ký có phát sinh chấtthải nguy hại đối với trường hợp phải lập hồsơ, đăng ký với cơ quan chuyên môn về bảovệ môi trường cấp tỉnh với mức phạt tiền từ10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng

Các điều được sửa đổi, bổ sung

Điều 16: Vi phạm các quy định về nhập khẩumáy móc, thiết bị, phương tiện vận tải, nguyênliệu, vật liệu, phế liệu: Sửa đổi, bổ sung cho phùhợp với các quy định tại Điều 42 và 43 của Luậtbảo vệ môi trường năm 2005

Các điều được sửa đổi, bổ sung

Điều 17: Vi phạm các quy định về an toànsinh học: Sửa đổi, bổ sung cho phù hợp vớicác quy định mới của Luật bảo vệ môi trườngĐiều 19: Vi phạm các quy định về phòng,chống sự cố môi trường trong tìm kiếm, thămdò, khai thác, vận chuyển dầu khí và các sựcố rò rỉ, tràn dầu khác: Về cơ bản các hành vitương tự như Điều 18 Nghị định số 121, tuynhiên sửa đổi khung hình phạt cho phù hợpvới tình hình thực tiễn theo hướng tăng lên

Các điều được sửa đổi, bổ sung

Điều 20: Vi phạm các quy định về sản xuất,vận chuyển, kinh doanh, nhập khẩu, tàng trữ,sử dụng các chất dễ gây cháy nổ: Về cơ bảngiống Điều 19 Nghị định số 121. Tuy nhiên,qua quá trình thực hiện thì thấy rằng còn cósự bất cập trong khung phạt tiền đối với hànhvi sử dụng pháo nổ, vì thế đã sửa đổi theohướng hành vi sử dụng pháo nổ thì áp dụngmức phạt khác với các hành vi sản xuất, vậnchuyển, kinh doanh, nhập khẩu, tàng trữpháo nổ.

Các điều được sửa đổi, bổ sung

Điều 25: Vi phạm các quy định về ứng cứu vàkhắc phục hậu quả sự cố môi trường: Các hành vitương tự như Điều 23 Nghị định số 121, tuy nhiêncó tăng mức phạt lên để bảo đảm tính khả thiĐiều 32: Hành vi cản trở hoạt động quản lý nhànước về bảo vệ môi trường. Tương tự như Điều 24Nghị định số 121/2004/NĐ-CP. Tuy nhiên có bỏhành vi không báo cáo trung thực về hiện trạngmôi trường cho cơ quan quản lý nhà nước về bảovệ môi trường vì đã được quy định tại Điều 29Nghị định này

Các điều bổ sung mớiCó 7 Điều được bổ sung mới hoàn toàn để hướngdẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2005,gồm điều 24, 26, 27, 28, 30 và Điều 31, cụ thểnhư sau: Điều 24: Vi phạm về khoảng cách an toàn về môitrường đối với khu dân cư, khu bảo tồn thiênnhiên, hướng dẫn thi hành các điều 36, 37, 74 vàĐiều 75 của Luật bảo vệ môi trường năm 2005

Điều 26: Vi phạm quy định bắt buộc thu hồi sảnphẩm, bao bì đã qua sử dụng, hướng dẫn thi hànhĐiều 67 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005Điều 27: Vi phạm các quy định về thu thập, quảnlý, khai khác, sử dụng dữ liệu, thông tin về môitrường, hướng dẫn thi hành các điều 102, 103,104 và 105 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2005

Điều 28: Vi phạm các quy định về hành nghề tưvấn, dịch vụ thẩm định đánh giá tác động môitrường, hướng dẫn thi hành Điều 21 Luật Bảo vệmôi trườngĐiều 29: Vi phạm các quy định về đánh giá hiệntrạng môi trường, hướng dẫn thi hành Điều 99Luật Bảo vệ môi trường

Điều 30: Vi phạm các quy định về ký quỹ cải tạo,phục hồi môi trường, hướng dẫn thi hành Điều114 Luật Bảo vệ môi trườngĐiều 31: Vi phạm về việc mua bảo hiểm tráchnhiệm bồi thường thiệt hại về môi trường, hướngdẫn thi hành Điều 134 Luật Bảo vệ môi trường

Chương III. Thẩm quyền, thủ tục xử phạtChương này tương tự như các quy định của Pháplệnh xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số121/2004/NĐ-CP, tập trung quy định thẩm quyềnvà thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnhvực bảo vệ môi trường, cụ thể như sau: Chủ tịch UBND cấp tỉnh và Chánh Thanh tra BộTài nguyên và Môi trường để có quyền cảnh cáohoặc phạt tiền đến 70.000.000 đồng. Chủ tịch UBND cấp huyện và Chánh Thanh tra SởTài nguyên và Môi trường để có quyền cảnh cáohoặc phạt tiền đến 20.000.000 đồng. Chủ tịch UBND cấp xã có quyền cảnh cáo hoặcphạt tiền đến 500.000 đồng.

Chương III. Thẩm quyền, thủ tục xử phạt

Thanh tra viên chuyên ngành về tài nguyên vàmôi trường của Sở Tài nguyên và Môi trường, củaBộ Tài nguyên và Môi trường đang thi hành côngvụ của quyền phạt cảnh cảo hoặc phạt tiền đến200.000 đồng.Ngoài những người có thẩm quyền xử phạt nhưtrên, những người có thẩm quyền xử phạt theoquy định của Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chínhnếu phát hiện thấy các hành vi vi phạm hànhchính quy định trong Nghị định này mà thuộc lĩnhvực và địa bàn quản lý của mình thì có quyền xửphạt nhưng phải thực hiện theo đúng quy địnhcủa pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Chương IV. Khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm

Tương tự Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính vàNghị định số 121/2004/NĐ-CP

Chương V. Điều khoản thi hành

Nghị định quy định về việc xử lý tồn tại nhưsau: Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ hoạtđộng trước ngày Luật bảo vệ môi trường năm2005 có hiệu lực thi hành đã lập Bản đăng kýđạt tiêu chuẩn môi trường được cơ quan nhànước có thẩm quyền xác nhận mà có hành vivi phạm các quy định của Luật Bảo vệ môitrường và Nghị định này thì bị xử phạt nhưđối với cơ sở sản xuất, dịch vụ thuộc đốitượng phải đăng ký Bản cam kết bảo vệ môitrường.

Bộ Tài Nguyên Và Môi Trường Triển Khai Thực Hiện 2 Nghị Quyết Của Chính Phủ / 2023

Ngày 13/1, Bộ trưởng Trần Hồng Hà đã ký Quyết định số 91/QĐ-BTNMT ban hành Chương trình hành động của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và Dự toán ngân sách Nhà nước năm 2020; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 01/01/2020 của Chính phủ về tiếp tục thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2020.

Theo đó, để thực hiện Chương trình hành động của ngành TN&MT thực hiện 2 Nghị quyết nêu, toàn ngành quyết tâm tạo đột phá, phát huy nguồn lực tài nguyên, bảo vệ môi trường (BVMT), chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) cho phát triển kinh tế – xã hội bền vững, Ngành đã quyết liệt triển khai thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp đã đặt ra, dự báo sát các xu thế, nhận diện, xử lý kịp thời các khó khăn phát sinh từ thực tiễn, đổi mới cách nghĩ, cách làm, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương.

Ngành TN&MT đặt quyết tâm cao để đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra; tiếp tục đổi mới tư duy hành động; chủ động, sáng tạo trong công tác điều hành; dự báo, phản ứng chính sách kịp thời để vượt qua khó khăn, thách thức tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, thực chất trong công tác quản lý sử dụng tài nguyên, chủ động trong công tác BVMT và ứng phó với BĐKH, đóng góp trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội.

Tiếp tục thực hiện phương châm “hướng về địa phương cơ sở, người dân, doanh nghiệp” để nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật, huy động được sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong công tác quản lý tài nguyên, BVMT và ứng phó với biển đổi khí hậu. Giải quyết kịp thời các điểm nghẽn, các vấn đề phức tạp phát sinh để thúc đẩy phát triển và đảm bảo ổn định trật tự an toàn xã hội.

Trên tinh thần đó, Bộ trưởng Bộ TN&MT yêu cầu các đơn vị trực thuộc Bộ, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nâng cao tinh thần trách nhiệm, tập trung thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ chủ yếu sau:

Tập trung hoàn thiện thể chế tạo đột phá giải phóng nguồn lực tài nguyên, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh, giải quyết các vấn đề xã hội, BVMT cho phát triển bền vững (PTBV). Sửa đổi, bổ sung Luật BVMT phù hợp với yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng, đưa môi trường cùng với kinh tế, xã hội là ba trụ cột trung tâm của phát triển. Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật đất đai nhằm quản lý chặt chẽ, nâng cao hiệu quả sử dụng, phát huy nguồn lực kinh tế, tài chính từ đất đai cho phát triển. Xây dựng chiến lược phát triển ngành Tài nguyên và Môi trường và chiến lược phát triển của các lĩnh vực.

Tăng cường thanh tra đột xuất để giải quyết tình trạng nhũng nhiễu, hành dân gây bức xúc trong dư luận. Tập trung thanh tra đối với các dự án đầu tư để lãng phí, hoang hóa đất đai, quản lý, sử dụng đất có nguồn gốc từ nông, lâm trường, việc thực hiện các quy định về điều kiện khi thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng từ đất trồng lúa sang mục đích khác; việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với các tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, các cơ sở xử lý chất thải nguy hại. Thanh tra chuyên đề xác định sản lượng khai thác thực tế tại một số mỏ đá vôi, đá sét làm xi măng; đá ốp lát; mỏ cao lanh; việc chấp hành các quy định của pháp luật về tài nguyên nước trong hoạt động thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; xả nước thải vào nguồn nước của một số đơn vị khai thác, sử dụng nước đa mục tiêu, có quy mô lớn và phục vụ cấp nước cho đô thị. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo ở từng cấp; tập trung giải quyết dứt điểm các vụ việc Thủ tướng Chính phủ giao và các vụ việc thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Bộ; chủ động phối hợp với Thanh tra Chính phủ, các Bộ ngành khác và các địa phương trong giải quyết các vụ việc khiếu kiện tồn đọng, kéo dài.

Chủ động nghiên cứu, tham gia tích cực, sâu rộng vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chiến lược chuyển đổi số quốc gia tạo bứt phá phát triển Ngành theo tinh thần Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Ứng dụng công nghệ thông tin, internet kết nối vạn vật trong quản lý tài nguyên và môi trường; giám sát thông minh, tự động hóa trong quan trắc mức độ ô nhiễm, các yếu tố môi trường như nước thải, không khí, áp dụng trong dự báo cảnh báo khí tượng thủy văn kết nối mặt đất với vệ tinh. Ứng dụng rộng rãi công nghệ xử lý chất thải rắn theo hình thức đốt rác phát điện, kết hợp thu hồi năng lượng, xây dựng nền kinh tế tuần hoàn. Đẩy mạnh phát triển công nghệ sinh học trong khôi phục, bảo tồn và phát triển hệ sinh thái tự nhiên.

Toàn ngành cũng quyết tâm triển khai xây dựng đề án tổng thể cơ sở dữ liệu tài nguyên và môi trường kết nối liên thông với các hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của các địa phương, các bộ, ngành phục vụ Chính phủ điện tử; triển khai cơ sở dữ liệu về đất đai, cơ sở dữ liệu quan trắc tài nguyên và môi trường, hệ thống cơ sở dữ liệu liên ngành về đồng bằng sông Cửu Long, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành. Đẩy mạnh thực hiện Quy hoạch mạng lưới quan trắc tài nguyên và môi trường quốc gia giai đoạn 2016 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng công tác dự báo, cảnh báo…/.

Chính Phủ Ban Hành Nghị Quyết 19 Cải Thiện Môi Trường Kinh Doanh Năm 2022 / 2023

Mục tiêu của Nghị quyết là tập trung cải thiện các chỉ số môi trường kinh doanh để năm 2018 tăng thêm từ 8-18 bậc trên bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới; trong đó cải thiện mạnh mẽ các chỉ số hiện đang bị xếp hạng thấp. Cụ thể, khởi sự kinh doanh tăng thêm ít nhất 40 bậc; giải quyết tranh chấp hợp đồng tăng thêm 10 bậc; giải quyết phá sản doanh nghiệp tăng thêm 10 bậc.

Xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết 19 trước 31/5

Chính phủ yêu cầu các Bộ trưởng, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải trực tiếp chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh thuộc thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ về kết quả đạt được trong phạm vi ngành, địa phương.

Cụ thể, các bộ, ngành xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP, hoàn thành trước 31/5/2018, trong đó xác định cụ thể mục tiêu, các nhiệm vụ phải thực hiện, các văn bản pháp luật phải bổ sung, sửa đổi, thời hạn hoàn thành và đơn vị, cá nhân chịu trách nhiệm, cách thức giám sát, đánh giá.

Ứng dụng CNTT trong cung cấp dịch vụ công; đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công (như thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội); nâng cao chất lượng hạ tầng du lịch, y tế, chăm sóc sức khỏe, an ninh, an toàn, vệ sinh môi trường các khu, điểm du lịch.

Thực hiện các giải pháp thiết thực giảm chi phí logistics như: Giảm ách tắc ở các cảng biển, cảng hàng không. Chỉ đạo áp dụng giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý, hiệu quả kinh doanh đối với các đơn vị quản lý cảng biển, qua đó giảm chi phí logistics cho các chủ hàng; phối hợp hoạt động thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, giảm tối đa số lần thanh tra, kiểm tra doanh nghiệp, kể cả thanh tra, kiểm tra chuyên ngành; thực hiện đánh giá tính sáng tạo và kết quả điều hành của các sở, ban ngành và Ủy ban nhân dân cấp huyện theo chỉ số cạnh tranh cấp sở, cấp huyện; kết hợp thực hiện Nghị quyết số 19-2018/NQ-CP của Chính phủ với cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh.

Thắt chặt kỷ luật, kỷ cương, tăng cường liêm chính, sáng tạo, nâng cao hiệu quả công vụ; chỉ đạo cán bộ, công chức, đặc biệt là người đứng đầu các đơn vị trực thuộc thay đổi thái độ làm việc phục vụ lợi ích của người dân và doanh nghiệp; kịp thời phát hiện và thay thế cán bộ, công chức chần chừ trong công cải cách thủ tục hành chính, tháo bỏ rào cản, tạo thuận lợi cho đầu tư kinh doanh, hoặc có hành vi lạm dụng thẩm quyền, vị trí việc làm để tư lợi riêng.

Thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán đồng bộ, tránh chồng chéo, gây ảnh hưởng tới hoạt động doanh nghiệp, thực hiện đúng tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về công tác thanh tra doanh nghiệp; đảm bảo quyền bình đẳng của doanh nghiệp trước pháp luật.

Tạo môi trường cạnh tranh, minh bạch khuyến khích phát triển thị trường các dịch vụ thử nghiệm, giám định, kiểm định, chứng nhận; xóa bỏ độc quyền của một số tổ chức được các bộ quản lý chuyên ngành chỉ định như hiện nay.

Bộ Tài chính tiếp tục thực hiện các giải pháp cải thiện chỉ số Nộp thuế theo mục tiêu đề ra tại các Nghị quyết số 19; phấn đấu giảm thời gian nộp thuế (không bao gồm thời gian nộp bảo hiểm xã hội) xuống còn 119 giờ. Công khai cơ sở dữ liệu về hoàn thuế, bảo đảm kiểm tra 100% hồ sơ hoàn thuế thuộc diện phải kiểm tra và phấn đấu đến năm 2020 bảo đảm 100% hồ sơ khiếu nại của người nộp thuế được giải quyết đúng thời gian quy định của pháp luật. Công khai, minh bạch các quy định của Luật Quản lý thuế, các quy trình thanh tra, giải quyết khiếu nại và hoàn thuế giá trị gia tăng.

Bên cạnh đó, giải quyết căn bản các vướng mắc về xác định, tham vấn xác định trị giá tính thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu theo đúng quy định của pháp luật và phù hợp với Hiệp định xác định trị giá tính thuế hải quan; giải quyết vướng mắc của doanh nghiệp về thời gian làm việc của Chi cục Hải quan chuyển phát nhanh theo hướng đơn vị này phải bố trí nhân lực để làm thủ tục hải quan 24/7 cho hàng hóa xuất nhập khẩu vận chuyển theo đường chuyển phát nhanh; giải quyết vướng mắc về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, trong đó có vấn đề miễn thuế đối với phế liệu, phế phẩm và nguyên liệu, vật tư dư thừa đã nhập khẩu để gia công theo quy định tại khoản 4 Điều 10 Nghị định 134/2016/NĐ-CP ngày 1/9/2016.

Kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử

Bộ Thông tin và Truyền thông nghiên cứu, rà soát, kiến nghị sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 về Chính phủ điện tử để phù hợp với môi trường kinh tế số và xây dựng Chính phủ điện tử. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện trục tích hợp dữ liệu quốc gia để thực hiện liên thông dữ liệu giữa các bộ, ngành phục vụ cho công tác quản lý và thực hiện giao dịch điện tử.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương nghiên cứu, phát triển sản phẩm du lịch chủ đạo như du lịch biển, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái; định vị điểm đến nghỉ dưỡng biển có sức hấp dẫn cao. Mở rộng phát triển các sản phẩm du lịch mới, có tiềm năng như du lịch công vụ, du lịch cộng đồng, du lịch mạo hiểm, du lịch chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe; du lịch golf; du lịch vui chơi giải trí, công viên chuyên đề, tham dự sự kiện, trình diễn nghệ thuật. Đồng thời, cần tăng cường đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch; phát triển hạ tầng du lịch, cơ sở lưu trú có chất lượng cao và nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch.

Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các Bộ nghiên cứu, đề xuất cải thiện quy định về thị thực. Cụ thể, nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện chính sách thị thực hiện hành, bao gồm việc miễn thị thực, cấp thị thực du lịch, cấp thị thực điện tử như: Mở rộng diện miễn visa du lịch, cấp visa qua mạng, đơn giản hóa thủ tục xin và duyệt cấp visa tại cửa khẩu.Nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi, bổ sung một số quy định hiện hành theo hướng: Tăng số ngày miễn visa từ 15 ngày lên 30 ngày cho công dân 12 nước đã được miễn visa phù hợp với độ dài các tour xuyên Việt và số ngày nghỉ phép của du khách; bổ sung thêm một số nước vào diện miễn visa du lịch…

Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương theo dõi, giám sát đảm bảo thực thi đầy đủ, nhất quán việc cắt giảm các quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Tiếp tục rà soát, kiến nghị bãi bỏ, đơn giản hóa các quy định về điều kiện đầu tư, kinh doanh; đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước.

Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với các bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện giải pháp cần thiết giảm thời gian Đăng ký sở hữu và sử dụng tài sản xuống còn 20 ngày; bãi bỏ hồ sơ không cần thiết, đơn giản hóa nội dung hồ sơ, đơn giản hóa thủ tục, thực hiện kết nối điện tử liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giao đất, cho thuê đất, đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận sở hữu công trình xây dựng với các thủ tục xác định nghĩa vụ tài chính về đất đai.

Kết nối cơ sở dữ liệu về khám bệnh, chữa bệnh

Bộ Y tế chỉ đạo cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, Hội đồng Giám định y khoa kết nối cơ sở dữ liệu về khám bệnh, chữa bệnh; dữ liệu về cấp hồ sơ, giấy tờ làm căn cứ thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội với Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam để thực hiện giao dịch điện tử phục vụ quản lý nhà nước về bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế; giải quyết, chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội.

Bộ Xây dựng tiếp tục đẩy mạnh cải cách quy trình, thủ tục hành chính về cấp phép xây dựng; ứng dụng công nghệ thông tin, thực hiện trực tuyến các thủ tục cấp phép xây dựng để giảm chi phí, nhất là chi phí không chính thức.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện hiệu quả các giải pháp cải thiện và minh bạch hóa thông tin tín dụng, tạo điều kiện cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế được bình đẳng và thuận lợi trong việc tiếp cận vốn tín dụng theo cơ chế thị trường.

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi chính sách và khuyến khích doanh nghiệp phát triển.

Bộ Giáo dục và Đào tạo hoàn thiện chính sách nâng cao chất lượng của các cơ sở giáo dục đào tạo; xây dựng cơ chế và thúc đẩy hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục.

Văn phòng Chính phủ triển khai thực hiện và tổ chức kiểm tra, giám sát việc cải cách thủ tục hành chính, triển khai cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính. Theo dõi, đôn đốc, tham mưu việc triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3,4 ở các bộ, ngành, địa phương. Đồng thời, tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác tiếp nhận, phân loại và phối hợp giải quyết phản ánh, kiến nghị, phản biện chính sách của doanh nghiệp và người dân tại Cổng Thông tin điện tử Chính phủ.

* Sau 4 năm thực hiện Nghị quyết số 19 của Chính phủ, môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của nước ta liên tục được cải thiện. Năm 2017, nhìn chung, các bộ, ngành và địa phương đã tích cực và quyết liệt hơn trong thực hiện các giải pháp cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và đã đạt được những kết quả tích cực; năng lực cạnh tranh quốc gia tăng 5 bậc so với năm 2016 (từ vị trí 60/138 lên vị trí 55/137 nền kinh tế); môi trường kinh doanh tăng 14 bậc (từ vị trí 82 lên vị trí 68/190 nền kinh tế); đổi mới sáng tạo cải thiện 12 bậc, đạt thứ hạng 47/127 nền kinh tế. Đó là những thứ hạng cao nhất mà Việt Nam đã đạt được cho đến nay.