Chùm Bài Giảng Về Luật Nhân Quả

--- Bài mới hơn ---

  • Đàn Bà Cướp Chồng Nghiệp Báo Trả 3 Đời Không Hết, Luật Nhân Quả Không Bỏ Sót Một Ai
  • Luật Nhân Quả Không Bỏ Sót Một Ai
  • Kiếp Trước Bạn Là Người Thế Nào, Vận Mệnh Kiếp Này Của Bạn Ra Sao?
  • Vợ Chồng Phải Chăng Là Duyên Nợ Từ Kiếp Trước?
  • Kiếp Trước Của 10 Loại Người Dưới Đây Theo Lời Đức Phật
  • Luật Nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh.

    Khi không hiểu luật nhân quả, con người sống trong sự sợ hãi mê tín mù mờ. Họ giải thích những hiện tượng thiên nhiên qua sự mê tín dị đoan. Thí dụ khi hạn hán mất mùa, họ nghĩ là vì ông thần đất đai giận nên phải hối lộ ông ta bằng cách cúng kiến mới có được trời mưa. Mới đầu thì tế lễ bằng con gà không có hiêäu quả, rồi đến con bo,ø đến khi sự cuồng tín lên cao có thể dẫn đến giết một em bé hay một trinh nữ để tế thần như dân tộc Incas đã từng làm. Ngoài ra trong cuộc sống hàng ngày đi đứng làm cái gì quan trọng thì phải coi ngày giờ tốt như vậy để tránh cái sợ hãi của những điều xấu xảy ra bất thần chớ không hẳn là tránh được những điều xấu. Nếu quả thật có như vậy thì thế giới này không có sự đau khổ vì mọi sự đều như ý con người muốn. Ông vua dù có mướn thầy địa lý giỏi nhất nước để xây cung điện nhưng nếu không thương dân, lấy thuế cắt cổ, lúc hết thời thì ngai vàng vẫn bị mất như thường. Nói về hành động cá nhân, nếu không nhận thức có luật nhân quả thì không có gì ngăn cản con người làm việc ác miễn sao trốn tránh được cặp mắt của luật pháp là được, cho nên xã hội rất bấp bênh. Nếu vua và dân hiểu được luật nhân quả thì đất nước dễ thanh bình và dân sẽ được hạnh phúc.

    Luật nhân quả rất đơn giản, nếu muốn có một kết quả tốt thì ta phải tạo nhân lành. Thí dụ như khi ta nuôi dưỡng một ý nghĩ hận thù thì ta không thể vui cười hồn nhiên được. Khi ta gạt gẫm người khác thì tối về ngủ không yên giấc vì sợ bị phát hiện. Khi ta gieo hạt lúa thì không bao giờ được cây cổ thụ. Khi con người bắt đầu hiểu được như vậy thì họ lấy về được một phần sức mạnh của những vị thần linh. Họ bắt đầu làm chủ được tương lai của họ và lấy lại định mệnh của họ từ tay các vị thần. Hiểu và tin được luật nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh (spiritual revolution) vì sự nhận thức đó sẽ phá tan gông cùm của sự mê tín và giúp con người làm chủ được cuộc sống của họ.

    Luật Nhân quả và khái niệm không gian thời gian

    Khi đi từ thế giới tâm linh qua thế giới vật chất thì sự thể hiện của luật nhân quả thay đổi từ rõ đến mờ. Sự thể nghiệm ở thế giới tâm linh rất nhanh và rõ nhưng khi qua cái màn nặng nề của thế giới vật chất thì luật nhân quả bị loãng ra vì phải trải qua nhiều thời gian mới hiện ra rõ được. Cũng vì thế mà khi con mắt bị vậït chất làm mờ rồi rất khó mà nhận thức luật nhân quả. Thí dụ như kẻ trộm thành công một vài lần rất khó nhận thức rằng mình sớm muộn gì sẽ vào tù. Nếu kẻ trộm đó nhận thức rằng mình cần phải thay đổi lòng tham của mình (thế giới tâm lý) thì trong tức khắc có khả năng thay đổi được chiều hướng cuộc sống mình bằng cách học nghề và làm ăn lương thiện. Ngược lại nếu anh ta cứ tiếp tục hành nghề bất lương, lòng tham càng lớn và ăn trộm càng táo bạo hơn, thì một thời gian sau đó anh bị bắt vào tù và sẽ hối hận (thế giới vật chất). Như vậy khi nhận thức ở tâm linh thì chuyển nghiệp (karma) rất nhanh, đợi khi nó thể hiện ở cõi vật chất rồi thì cái thời gian thay đổi rất chặm chạp, khó khăn, phức tạp và khổ sở. Với đời sống con người có giới hạn thời gian, sự nhận thức có được khi hoàn cảnh xấu xảy ra đôi lúc quá trễ. Con người có thể không còn đủ thời giờ để cải thiện. Ngoài ra khi họ tiến quá sâu trong hoàn cảnh xấu, trở lại điểm ban đầu rất là gian nan. Thí dụ như anh trộm khi ra tù muốn học lại thì tuổi cao, kiến thức đổi khác nhiều, bạn bè cùng lứa đã có sự nghiệp thành công hết. Anh ta phải khuất phục sự chậm chạp của tuổi cao và lòng mặc cảm để đi học lại. Mặc dù như thế, anh ta sẽ khó mà ngang hàng với các bạn được vì mất khoảng thời gian quá lâu trong tù.

    Khi hiểu được luật nhân quả thì câu hỏi có định mệnh (destiny) hay không là tùy nơi con người. Định mệnh có thật khi ta để lực (force) nhân quả lôi cuốn và thụ động để cái nhân ở tâm lý biến thành cái quả ở thế giới vật chất. Định mệnh không có khi ta chủ động biến chuyển những tư tưởng (nhân) xấu thành tốt và theo đó diễn biến (quả) tốt lành sẽ đến với ta. Đôi lúc cái nhận thức nhân quả ở thế giới vật chất rất khó khăn vì có người làm lành mà sao lại gặp ác, rồi họ đâm ra chán nản và cho rằng không có luật nhân quả. Sở dĩ như vậy vì con mắt phàm không thể nhìn thấu được quá khứ và không hiểu được những khúc mắc của nghiệp. Nhưng nếu có người nào đó giữ được tâm hồn tha thứ buông xả thì mặc dù biến cố xấu đến với họ đó, nhưng cái tác động trên tâm lý tạo sự đau khổ giảm đi rất nhiều. Thì đó chẳng qua là một điều lành trong một biến cố dữ. Hiểu được luật nhân quả ở tâm thì ta nhận thức rõ hơn và ta sẽ thấy sự thay đổi nhanh hơn.

    Nhân-duyên-quả

    Nghiệp (karma) là những biến cố vui buồn xảy ra trong đời người. Nghiệp, dòng sông nhân quả trong cuộc đời con người, rất là phức tạp. Nghiệp không phải đơn giản như một cái máy, ta bấm nút (nhân) thì máy hoạt động (quả). Nghiệp có thể ví như một dòng sông và nhân quả là những phân tử (molecule) nước lưu chuyển, tác động lẫn nhau trong dòng sông đó. Ngoài nhân-quả ra còn yếu tố duyên nửa. Duyên là những yếu tố ở không gian và thời gian giúp nhân trở thành quả hoặc ngược lại ngăn cảng hoặc đình trệ sự nối liền của nhân quả, làm giảm sức mạnh của quả. Sự sống đa dạng và sáng tạo là nhờ duyên. Như vậy duyên đóng vai trò điều chỉnh (modulation) nhân-quả. Thí dụ dễ hiểu là khi ta gieo hạt lúa (nhân) trong đồng ruộng ẩm ướt phì nhiêu (duyên) vài tháng ta sẽ có những cọng lúa xanh mượt (quả). Nếu có người lữ hành băng qua sa mạc và làm rơi một hạt lúa thì ngàn năm sau hạt lúa đó vẫn là hạt lúa (nghịch duyên). Nếu hạt lúa đó được gió thổi rơi vào một nơi ẩm ướt trên sa mạc thì hạt lúa sẽ mọc thành cọng lúa nhưng rất yếu ớt vì thiếu phân bón. Như thế ta thấy rằng cùng một nhân, qua nhiều duyên khác nhau sẽ cho ta kết quả khác nhau. Thực tế nhân quả không đơn giản như trên mà hoạt động như một mạng lưới nhện (web).

    Một nhân có thể là khởi đầu của một chuỗi phản ứng (chain of events). Những yếu tố duyên tác động lên chuổi phản ứng đó để cho ra nhiều kết quả ở nhiều từng lớp khác nhau. Thí dụ: Có một người vì lòng tham (nhân) phá rừng bán gỗ làm lợi nhuận cho riêng mình. Trời mưa, không có rễ cây hút nước (duyên) nên tạo thành lụt (quả), loài chim mất môi sinh (duyên) dời đi nơi khác (quả). Không có chim ăn (duyên) nên sâu bọ lan tràn đồng ruộng (quả). Không có cây hút thán khí (CO²) nên từ đó khí hậu bị ô nhiễm. Một nhân thiếu sáng suốt sẽ gây ra rất nhiều hậu quả tai hại về sau mà ta khó có thể lường trước được.

    Giới luật là nhằm biến đổi cái duyên để cho cái nhân tham, sân và si không có cơ hội để biến thành quả dữ (tham-ăn trộm, sân-giết chóc, si-đau khổ). Xuất gia là tránh xa những duyên có thể dẫn đếøn quả dữ và gần gũi với những duyên khuyến khích quả lành được biểu hiện. Tuy nhiên thay đổi duyên ở thế giới vật chất không bền vững lắm. Thí dụ lòng tham tiền có thể biến thành tham chùa mình được đẹp nhứt, sân (giận) có thể biến thành bực bội khi đệ tử quên chấp tay xá mình, và si là chấp vào thời gian tụng kinh mà không hiểu ý kinh tạo ra sự tranh chấp hơn thua. Cho nên vào cảnh tịnh mà còn giữ mầm mống tham, sân, si thì cảnh tịnh đó sẽ trở nện cảnh ưu phiền.

    Thiền tông chú trọng đến cái duyên ở tâm là tư tưởng. Tham, sân, si mà không có tư tưởng để nuôi dưỡng chúng thì dần dần sẽ tự tiêu mòn. Cho nên giữ giới nơi tâm thì hiệu nghiệm hơn là giữ ở thân hay cảnh. Nếu tâm ta nuôi dưởng sự bực dọc mà miệng thì tụng kinh thì khó có thể mà ta có được hạnh phúc vì càng tụng kinh, càng mệt mỏi thì sự bực dọc càng nhiều hơn nữa. Một trong những phương pháp thiền là ta nhận thức sự bực bội và từ bi hỷ xả phóng sanh nó ra theo từng hơi thở nhẹ nhàng rồi dần dần sự bực bội đó sẽ tan biến. Đó là một cách “tụng kinh sống” hữu hiệu nhứt. Tung kinh sống là tụng ý (thay vì chữ) kinh trong từng hơi thở, trong lúc đi, đứng, nằm và ngồi. Nói một cách khác, thiền hay tụng kinh sống làkhi ta ý thức không tạo cái duyên nuôi dưỡng tham, sân, si trong tâm ta. Nếu ta không nuôi chúng thì tự động chúng sẽ rời bỏ ta. Rồi ta sẽ trở về sống với con người hạnh phúc của ta.

    Nhân quả và Thiên Chúa giáo.

    Mặc dù Thiên Chúa giáo không đề cập nhân quả một cách trực tiếp nhưng tất cả những câu chuyện trong Thánh kinh đều khuyên răng con chiên hãy củng cố lòng tin Chúa, thương người, giúp đỡ xã hội thì sẽ được cuộc sống hạnh phúc trong vĩnh cửu. Nói một cách khác Chúa khuyên con chiên tạo nhân lành (lòng tin, thương người, tha thứ), tạo duyên lành (xây dựng một xã hội lấy nền tảng là sự yêu thương đùm bọc lẩn nhau, truyền đạo cho nhiều người được nhận thức) thì kết quả cuộc sống hạnh phúc sẽ dễ được thực hiện trên thế gian này và nếu tất cả mọi người làm được thì sẽ được hạnh phúc trong vĩnh cửu.

    Tuy nhiên có nhiều con chiên quá cuồng tín dùng sức mạnh áp đặt niềm tin lên kẻ khác và kết quả là hận thù và chiến tranh. Điều dễ hiểu là vì cái nhân là tham (muốn cá nhân mình được nhiều phước khi dẫn người khác vào đạo), sân (bực tức khi người ta không theo đạo mình) và si mê (ngạo mạn coi đạo mình trên tất cả các đạo khác) thì kết quả sẽ là chiến tranh và đau khổ. Vấn đề này không hẳn xảy ra ở đạo Chúa mà còn gặp ở nhiều tôn giáo khác hoặc ngay cả ở đạo Phật (phái này chê bai phái khác). Đó là vì con người mê lầm không chữa trị cái tham, sân si nơi chính mình mà muốn thay đổi thế gian. Muốn cái quả khác cái nhân thì không bao giờ có được. Nếu có kẻ nào nói làm được hẳn là họ tự gạt chính họ, sống trong ảo tưởng u mê. Tôn giáo cũng như thuốc, trị đúng bịnh thì thuốc hay, dù có thuốc quý mà dùng sai bịnh thì thuốc quý có thể thành độc dược. Vì thế không thể nói thuốc này hay hơn thuốc kia được. Đạo Phật có thí dụ ngón tay (phương tiện) chỉ mặt trăng, nếu ta ở nhiều nơi khác nhau thì ngón tay sẽ chỉ nhiều hướng khác nhau, nhưng khi nhìn thấy mặt trăng (cứu cánh) thì chỉ có một.

    Tác động trên tâm lý của Thiên Chúa giáo là dùng tình thương người và sự tha thứ tạo cái duyên lành làm giảm bớt ảnh hưởng của hoàn cảnh xấu (quả). Nếu ta tin vào một Thượng Đế công bằng bác ái ở bất cứ mọi nơi và mọi lúc, thì ta giao phó cho Ngài xử phạt những bất công trong cuộc đời ta. Như thế ta không mất ngủ bực tức tìm cách trả thù hay tìm những lời nói đâm thọc xỏ xiêng. Với lòng tin đó ta sẵn sàng tha thứ kẻ muốn ám hại ta, tâm ta được an ổn và ta gieo rắc sự an ổn đó cho những người chung quanh ta. Làm được như vậy, mặc dù ta không mở miệng truyền giáo nhưng sẽ có rất nhiều người theo vì họ mến ta. Như thế lời cầu nguyện hữu hiệu nhứt phát xuất từ tư tưởng tha thứ thương yêu chớ không phải từ miệng nói tiếng thương yêu trống rỗng. Giáo đường chân thật của một linh mục hay mục sư là sự an ổn của con chiên khi họ cảm nhận được tình thương và sự tha thứ chân tình qua hành động của vị mục sư đó, chớ không phải cái giáo đường bằng ngói, bằng gạch. Cái giáo đường vật chất không bao giờ làm ấm được lòng người. Ta không thể nào gieo rắc sự an lành chung quanh ta nếâu ta không có cái nhân của sự an lành đó trong tâm ta. Ta có thể dối chính ta chớ không thể dối với Thượng Đế và luật nhân quả được.

    Nhân quả và y khoa

    Tuy nhân quả xuất xứ từ Phật giáo nhưng không hạn chế ở phạm vi tôn giáo. Hiểu được nhân quả giúp ta rất nhiều trong việc phòng ngừa bịnh tật. Trong Đông Y có câu người y sĩ giỏi trị bịnh lúc mà bịnh chưa phát triển. Y khoa hiện đại cũng đồng ý với vấn đề ngưà bịnh hơn là chữa bịnh. Cách tốt nhứt cho con người về vấn đề sức khỏe và xã hội về vấn đề tài chánh là thay đổi cuộc sống để ngừa bịnh. Muốn ngừa bịnh (quả) ta phải hiểu cho ra lẽ những yếu tố gây ra bịnh (nhân), tìm cách làm suy giảm những nguyên nhân gây ra bịnh, tìm cách không tạo duyên xấu để cho hậu quả bịnh dễ xảy ra và củng cố những duyên lành để ngăn ngừa bịnh.

    Bây giờ ta hiểu nguyên nhân của nhiều chứng bịnh là do vi trùng (bacteria) và vi khuẩn (virus) có kích thươcù nhỏ hơn vi trùng gây ra. Để làm suy giảm những nguyên nhân tạo ra bịnh, những nhà thuốc sáng chế ra các loại thuốc trụ sinh. Sự ỷ y có thuốc trụ sinh để trị bịnh mà không cần phòng ngừa hoặc dùng thuốc trụ sinh một cách không phân biệt đưa đến sự ra đời của những siêu vi trùng (“super bugs”) có sức kháng trụ sinh. Về phần bịnh nhân phải ráng ăn ở vệ sinh để không tạo cái duyên cho những loại vi trùng xâm chiếm cơ thể họ. Vaccine (chích ngừa) là cách phòng ngừa bịnh bằng cách dùng bộ kháng nhiễm (immune system) để chống lại bịnh. Vaccine là một cách thay đổi duyên làm cơ thể không thuận cho sự phát triển của bịnh. Một cách ngừa bịnh khác nữa làta ăn ở vệ sinh, tìm cách tránh những nơi dễ gây ra bịnh tật là góp phần vào sự củng cố những duyên không thích hợp cho bịnh phát triển. Thực tế, ta không thể nào diệt trừ được tất cả những nhân tạo bịnh mà cách dễ dàng nhất là biến đổi cái duyên không thuận cho bịnh-quả phát triển. Con đường trị bịnh bằng cách diệt trừ nhân một cách hoàn toàn rất nguy hiểm vì có thể đưa đến sự mất cân bằng môi sinh và có thể tạo nhiều mối hiểm nguy khác. Thí dụ như khi ta đi du lịch ở những nước khác dễ bịnh tiêu chảy vì ở điều kiện ta sống không có loại vi trùng đó (nhân bị diệt) nên cơ thể ta không có chất miễn nhiễm, dễ sanh ra bịnh. Đứng trên phương diện năng lượng (sức lực, thời gian, tài chánh), dùng duyên để phòng ngừa quả là áp dụng năng lượng một cách hữu hiệu nhứt.

    Nhân quả và tâm lý học.

    Stress, sự căng thẳng tinh thần, là vấn đề lớn của thời đại. Stress có thể coi như cái cửa mở cho nhiều bịnh tật vào thân thể ta. Những triệu chứng khởi đầu của stress là lo âu, bực bội và mất ngủ . Ngoài ra nhức đầu, buồn nôn, mất ăn, cao máu với nhịp tim đập nhanh cũng có thể là một triệu chứng của stress nửûa. Thuở xưa, Đức Phật có cho một thí dụ rất thích hợp với stress ngày nay. Thí dụ rằng có một người bị mũi tên bắn bi thương. Người đó lo âu muốn biết mũi tên này từ đâu tới, ai bắn, lý do nào bắn, rồi lo sợ cho tính mạng, không biết vết thương như thế nào…người đó cứ mải lo mà quên tìm cách tháo gỡ mũi tên ra. Tính chất của lo âu là nó không bao giờ chịu dừng ở hiện tại mà lại có chiều hướng lẩn quẩn ở quá khứ hoặc tương lai. Chính vì vậy mà sự lo âu ngày càng tăng vì khi tư tưởng lẩn quẩn ở quá khứ và tương lai thì ta sẽ không giải quyết được vấn đề và tình trạng vô định đó tạo nên cái duyên làm cho lo âu càng lớn dần.

    Một khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy) trị stress là Cognitive behavioral psychotherapy, tạm dịch là tâm lý trị liệu qua nhận thức. Ta nhận thức ta có những tư tưởng sai lầm dẫn đến sự lo âu đau khổ (1), quán xét kỹ càng rằng những tư tưởng đó không có liên hệ ở thực tế (2), sau cùng thay thế vào đó những tư tưởng thích hợp với thực tại hơn (3). Khi nhận thức thích hợp với thực tại thì ta sẽ tìm được biêän pháp giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu và từ đó nhẹ gánh lo âu. Thí dụ anh A có triệu chứng hay lo (general anxiety disorder). Khi bị chủ sở phê bình, anh về ngủ không được, liên tưởng đến ngày mai mình sẽ mất việc, không có tiền trả tiền nhà, vợ anh sẽ bực bội bỏ anh (1)… Qua khâu tâm lý trị liệu, anh kiểm duyệt lại thực tế thì không thấy có dấu hiệu nào chủ sở sẽ đuổi anh, chủ anh chỉ muốn anh sửa khuyết điểm nhỏ mà thôi, vợ chồng lúc nào cũng hòa thuận(2)… Khi nhận thức như vậy, anh cảm thấy yên tâm và hiểu rằng mình có phản ứng quá đáng (3). Khi nhìn ở khía cạnh nhân duyên quả, thì khi anh nhận thức rằng cái nhân sai lầm không quan trọng lắm, không để những tư tưởng lo âu thổi phồng sự thật ( nghịch duyên), và anh tìm cách học hỏi trao giồi nghề nghiệp thì kết quả sẽ tốt đẹp. Như thế hiểu được nhân quả thì cuộc sống ta sẽ nhẹ gánh lo âu.

    Tóm lại

    Nhân quả không phải là một khái niệm tôn giáo (dogma) mà là một quy luật thiên nhiên (natural law) ảnh hưởng thế giới nội tâm và thế giới vật chất. Nhân quả còn là một lực (force) gắn liền hai biến cố với nhau qua không gian và thời gian.

    Ta khó có thể thay đổi nhân ở quá khứ, nhưng điều dễ làm là thay đổi duyên ở hiện tại để quả dử khó có thể biểu hiêän được. Ở thế giới vật chất, duyên lành là bạn tốt, nơi chốn yên tịnh (chùa, nhà thờ, hoc đường…). Ở thế giới tâm lý, duyên lành là ý muốn học hỏi, trao giồi trí tuệ, cố giữ lòng nhân từ, bác ái và tha thứ. Gần duyên lành thì quả xấu khó thể hiện hoặc thể hiện một cách yếu ớt hơn.

    Nếu ta còn giữ tâm tham, sân, si làm nhân và nuôi dươnõg những tư tưởng tham,sân, si (ác duyên) thì không bao giờ biến đổi được cuộc sống hay xã hội một cách tốt lành được (quả). Cảnh lúc nào cũng hiện theo tâm. Người mang tâm xấu lên thiên đàng sớm muộn gì cũng biến cảnh thiên đàng thành địa ngục.

    Hiểu được nhân quả thì ta nắm giữ được chìa khóa mở cửa tự do trong đời ta và giúp ta làm chủ lấy cuộc đời. Không hiểu nhân quả thì ta sẽ sống trong mê tín dị đoan hay trong sự lo âu của cuộc sống vô định, bắp bênh.

    Hiểu được nhân quả giúp ta định hướng dễ dàng và có một hướng đi và một quan niệm sống vững chắc trước mọi hoàn cảnh khó khăn.

    (sưu tầm tác giả Thái Minh Trung)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Nhân Quả Nên Hiểu Thế Nào Cho Đúng, Luật Nhân Quả Không Trừ Một Ai
  • Luật Nhân Quả Hãy Tự Mình Thay Đổi Số Phận Để Được Hạnh Phúc Viên Mãn
  • Giàu Nghèo Trên Đời Không Phải Ngẫu Nhiên Mà Đều Được Sắp Xếp Theo Quy Luật Nhân Quả
  • Kiếp Này Giàu Nghèo Có Phải Do Nhân Quả?
  • Bài Học Giàu Nghèo Của Ông Bà Xưa, Chớ Có Sai Nên Ai Cũng Phải Biết
  • Đội Mưa Nghe Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa Thuyết Giảng

    --- Bài mới hơn ---

  • 1.200 Học Sinh Trường Thpt Phạm Văn Nghị Lắng Nghe Thầy Thích Trúc Thái Minh Chia Sẻ Về Nhân Quả Và Hiếu Đạo Trong Cuộc Sống
  • Đừng Để Quá Khứ Làm Ta Khổ Đau (Hay Lắm)
  • Luật Nhân Quả: Cục Bướu Trên Mặt Nữ Cư Sĩ Singapore Biết Ăn Cơm Nói Chuyện
  • Lời Phật Dạy Về Luật Nhân Quả Vô Cùng Sâu Sắc
  • Nhân Quả Từ Lối Sống Hàng Ngày Mà Ra
  • Đây là lần thứ 5 Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa, người được dân chúng nhiều quốc gia kính ngưỡng là hiện thân của Đức Phật Quan âm, cùng tăng đoàn Phật giáo Ấn Độ truyền thừa đến thăm Việt Nam.

    Tại Văn Miếu, Đức Pháp vương đã cùng lãnh đạo Hội nhà văn Việt Nam, lãnh đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội cắt băng khai mạc triển lãm ảnh Yêu thương trong hành động. Triển lãm giới thiệu 137 tác phẩm ảnh và bộ tranh đá quý về cuộc đời tâm nguyện, các hoạt động thiện hạnh, những thời khắp đẹp và cảm động trên hành trình hoằng dương Phật pháp.

    Trong khuôn khổ triển lãm, Đức Pháp vương cũng đã có buổi tọa đàm với các nhà văn, các phật tử về tinh thần “yêu thương trong hành động”. Khi được hỏi liệu Pháp vương có phải là người không buồn hay không, Pháp vương cho hay, nếu nói ngài là người buồn nhất hay không bao giờ biết buồn đều đúng.

    “Nếu nói về cá nhân tôi, tôi không bao giờ buồn, tôi không quan tâm đến thực phẩm của tôi, tôi cũng không quan tâm đến tương lai của tôi, ngay cả ngày mai tôi cũng không nghĩ đến. Trong lòng tôi chỉ trăn trở nghĩ tới chúng sinh, những người không biết trân trọng giá trị của nhân quả” – Pháp vương chia sẻ. Ngài cũng kể lại câu chuyện ngày hôm qua mình đã khóc khi nhìn thấy người đánh cá chặt con cá đang quẫy thành mấy khúc.

    “Lúc đó nỗi buồn sâu thẳm trong tôi trào dậy, tôi đã không kìm được dòng nước mắt của mình. Người đánh cá không biết con cá kia đang đau khổ như thế nào nên họ thản nhiên chặt đầu nó. Họ không hiểu được quyền bình đẳng giữa họ và con cá nên họ đã tạo nên một việc làm mà trong đạo Phật gọi là ác nghiệp. Theo lời Phật dạy, ác nghiệp này sẽ phải trả giá gấp trăm lần so với cái nhân ông ta đã gieo” – người được coi hiện thân của Đức Phật Quan âm tâm sự.

    Ngài nói thêm: “Vì thế nói về nỗi buồn, tôi cũng là người buồn nhất, vì tôi thấy quá nhiều người sống toan tính với người khác, loài khác. Đó cũng là lý do tại sao tôi luôn trăn trở để giáo pháp của đức Phật có thể đến với tất cả mọi người để họ ứng dụng nhằm tạo nên một cuộc sống hạnh phúc hơn” – Đức Pháp vương chia sẻ.

    “Hãy sống một cách có hiểu biết, một cách cân bằng để mang tới sự bình an cho mình, cho xã hội, cho tất cả mọi người. Cân bằng chính là phương pháp tốt nhất để chúng ta giải quyết những nỗi khổ hiện tại của chúng ta”- Đức Pháp vương răn dạy.

    Một số hình ảnh về Đức Pháp vương Gyalwang Drukpa ngày 5-4 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội):

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Nghe Pháp, Thuyết Pháp, Giảng Kinh Cao Cấp Kèm Thẻ 32G Với 5005 Bài
  • Máy Giảng Pháp Đa Năng Gồm Nhiều Bài Giảng Phật Pháp Mp3 Hay
  • Luật Nhân Quả Trong Cuộc Sống Xã Hội Và Khoa Học
  • Lời Giảng Vi Diệu Của Đức Phật Về Thuật Lãnh Đạo
  • The Law Of Cause And Effect Is Not A Play Of Destiny (Luật Tắc Nhân Quả Không Phải Là Trò Chơi Của Số Phận)
  • Máy Nghe Pháp, Thuyết Pháp, Giảng Kinh Cao Cấp Kèm Thẻ 32G Với 5005 Bài

    --- Bài mới hơn ---

  • Đội Mưa Nghe Đức Pháp Vương Gyalwang Drukpa Thuyết Giảng
  • 1.200 Học Sinh Trường Thpt Phạm Văn Nghị Lắng Nghe Thầy Thích Trúc Thái Minh Chia Sẻ Về Nhân Quả Và Hiếu Đạo Trong Cuộc Sống
  • Đừng Để Quá Khứ Làm Ta Khổ Đau (Hay Lắm)
  • Luật Nhân Quả: Cục Bướu Trên Mặt Nữ Cư Sĩ Singapore Biết Ăn Cơm Nói Chuyện
  • Lời Phật Dạy Về Luật Nhân Quả Vô Cùng Sâu Sắc
    • Giá 480.000 VNĐ
    • Giá khuyến mại 399.000 VNĐ
    • Hãng sản xuất TRUNG TÂM PHÁT HÀNH DẦN NGUYỆT

    Trung tâm phát hành Dần Nguyệt xin giới thiệu chiếc máy Tuyệt Vời!

    được cấp phép Xuất Bản và được lưu hành rộng rãi.

    – Đặc biệt phiên bản mới với THẺ NHỚ 32g cho phép lưu với dung lượng lớn, âm thanh rõ nét , âm thanh CỰC TỐT !

    Máy Giảng Pháp DN14 nội dung 2021 này chắc chắn là món qùa vô giá tặng người thân : ông bà, bố mẹ, cô dì, chú bác, bạn bè gần xa, người cần gieo duyên Phật pháp…Đây là món quà tinh thần VÔ GIÁ không đo đong đếm được…

    – Máy thiết kế đơn giản, dễ dùng ( người lớn tuổi 70-90 tuổi vẫn sử dụng dễ dàng )

    – Máy có 2 pin cho thời lượng bền bỉ

    – Pin sử dụng sạc lại ( tương tự như pin sạc điện thoại, do vậy cực bền )

    – Máy có thêm chức năng đèn pin siêu sáng ( giúp chiếu sáng như 1 chiếc đèn pin thực thụ )

    – Máy có thể nghe FM radio cực tốt và rõ nét

    – Âm thanh máy thì rất lớn ( người lớn tuổi rất thích chiếc máy này )

    – Máy có 1 cổng Usb, 1 cổng thẻ nhớ, 1 lỗ cắm tai nghe

    Tất cả mọi số lượng đều được trung tâm phục vụ nhiệt tình giao hàng tại nhà trên toàn quốc !

    Quý vị muốn mua máy xin hoan hỷ nhắn tin vào hòm thư facebook, hoặc nhắn tin, gọi điện trực tiếp vào Zalo, Viber, Line = số điện thoại ☎ 0943.666.589 HOẶC Cần Tư Vấn gọi : 024.66.534.534

    Mua 2 máy trở lên / đơn MIỄN PHÍ cước giao hàng tận nơi toàn quốc

    Mua 1 máy cước giao hàng tận nơi 30 ngàn ( áp dụng toàn quốc )

    Nội dung đăng ký mua máy nhắn tin :

    Trung tâm sẽ có nhân viên bưu điện gửi máy tận nơi và thanh toán tại nhà sau khi nhận máy trên toàn quốc

    ( Lưu ý : quý vị muốn số lượng lớn từ 20 máy đến 300 máy đến 5000 ngàn, hoặc quý thầy nhà chùa, quý đạo tràng, quý Phật tử muốn mua số lượng máy để gieo duyên hoặc quý vị muốn mua về bán xin hoan hỷ gọi Hotline, Viber, Zalo = 0943.666.589. ĐỂ ĐƯỢC HỖ TRỢ GIÁ GIEO DUYÊN TỐT NHẤT )

    Giảng Đệ Tử Quy ( con đường đạt đến nhân sinh hạnh phúc )

    Trung tâm đã cài mặc định 5005 bài, mỗi bài có một mã số riêng ở trước tên bài. Qúy vị có thể chọn bài bất kỳ muốn nghe hoặc để tự động máy sẽ chạy lần lượt hết tất cả các bài.

    ➡ ☎ Chăm sóc khách hàng : 024.66.534.534

    ➡ ☎ Hotline, Zalo, Viber, Line : 0943.666.589

    Hoặc quý vị có rồi, nghe thấy lợi lạc và muốn mua số lượng nhiều để gieo duyên, hoặc quý vị muốn làm đại lý phân phối xin hoan hỷ liên hệ HOTLINE : 0943.666.589 để được hỗ trợ giá tốt nhất

    Trung tâm có dịch vụ giao hàng và thanh toán tại nhà trên toàn quốc. Nghĩa là quý vị ở bất kỳ tỉnh nào như : Hà Giang, Tuyên Quang, Nam Định hay Nghệ An, Đà Nẵng, hay Bình Định, Sài Gòn hay Trà Vinh, Tây Ninh hay Kiên Giang, Cà Màu…

    Các tỉnh đều có thể mua một cách dễ dàng. Chỉ cần quý vị liên hệ với trung tâm, quý vị sẽ được phục vụ tận nơi tại nhà trên 63 tỉnh thành cả nước

    ☀️ Chúng con là hàng Phật tử tại gia, phàm phu tục tử sát đất, trí huệ nông cạn. Do vậy có thể còn rất nhiều thiếu sót ngưỡng mong quý Thầy, quý Cô cùng chư vị đồng đạo, Phật tử gần xa nếu thấy những điều cần chỉnh sửa xin chỉ giáo giúp chúng con .Chúng con xin thành kính đảnh lễ, xin được tri ân công đức của quý Thầy, quý Cô cùng tất cả chư vị đồng đạo, Phật tử trên cả nước

    Xin cảm ơn quý anh chị đã đọc bài viết này. Kính chúc quý anh chị thân tâm thường an lạc, vô lượng cát tường.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Máy Giảng Pháp Đa Năng Gồm Nhiều Bài Giảng Phật Pháp Mp3 Hay
  • Luật Nhân Quả Trong Cuộc Sống Xã Hội Và Khoa Học
  • Lời Giảng Vi Diệu Của Đức Phật Về Thuật Lãnh Đạo
  • The Law Of Cause And Effect Is Not A Play Of Destiny (Luật Tắc Nhân Quả Không Phải Là Trò Chơi Của Số Phận)
  • Nhân Quả Quá Khứ Hiện Tại Kinh
  • Nhân Quả Báo Ứng Cùng Luật Nhân Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Nhân Quả Có Thật Hay Không?
  • Cuối Cùng Khoa Học Cũng Phải Thừa Nhận: Nhân Quả Báo Ứng Là Hoàn Toàn Có Thật
  • Luật Nhân Quả Có Công Bằng Không?
  • Kinh Doanh Với Luật Nhân Quả Của Nhà Phật
  • Luật Nhân Quả: Cả Đời “không Ngóc Đầu Lên Được” Vì Phạm Phải 5 Điều Này!
  • Nói một cách đơn giản, “nhân quả báo ứng” chính là làm thiện được quả báo thiện, còn làm các điều ác bị quả báo ác. “Luật nhân quả” chính là phương thức, qui tắc cùng định luật cố định của nhân quả báo ứng.

    1. Sát sinh: Sẽ bị quả báo như: nhiều bệnh, tàn tật, chết yểu, nhiều tai họa, cốt nhục chia lìa… (Trực tiếp hoặc gián tiếp sát hại, đánh đập, ngược đãi, tổn hại người, động vật, đều thuộc hành vi sát sinh, đều bị những quả báo như trên).

    2. Trộm cắp: Sẽ bị quả báo nghèo khổ, tài sản bị người khác chiếm đoạt… (Hễ tài vật hoặc đồ dùng của người khác,chưa được sự đồng ý của họ mà ta tự lấy dùng hoặc chiếm đoạt, đều thuộc trộm cắp).

    4. Nói dối: Quả báo bị người phỉ báng, khinh khi. (Nói không đúng sự thật, làm chứng bậy, không giữ chữ tín, đều phạm vào tội nói dối).

    5. Nói lời trau chuốt: Bị quả báo nói ra lời nào mọi người đều không tin, không tiếp thu, lời nói không rõ ràng, diễn đạt người ta không hiểu. (Nói những lời tà dâm, những lời khiến cho mọi người nghĩ chuyện ái ân, đều gọi là nói lời trau chuốt).

    6. Nói lưỡi đôi chiều: Bị quả báo quyến thuộc chia lìa, thân tộc xấu ác. (Đâm bị thóc, thọc bị gạo, gây chia rẽ, đều phạm tội nói lưỡi đôi chiều).

    7. Nói lời hung ác: Quả báo thường bị người mắng chửi, gặp nhiều chuyện kiện cáo tranh chấp. (Dùng lời tàn bạo, độc ác mắng người, đều thuộc nói lời ác).

    8. Tham dục: Bị quả báo tâm không biết đủ, tham dục không chán. (Tham cầu hưởng thụ các loại như tiền tài, sắc đẹp, danh lợi… say mê không có ý niệm xa rời, tất cả những thứ này đều thuộc tham).

    9. Sân nhuế: Bị quả báo thường bị người dị nghị, nhiễu loạn khiến cho phiền não, hoặc bị hãm hại. (Gặp chuyện không vừa lòng liền sinh tức tối oán hận, đây tức là sân nhuế).

    10. Nghi: Bị quả báo sinh vào gia đình tà kiến, sinh ra nơi xa xôi hẻo lánh thiếu Phật pháp và văn minh, tâm nịnh nọt, không ngay thẳng, nhiều mưu mô quỉ kế, thích những người có tâm nịnh hót. (Nghi chỉ cho những người có cái nhìn tà, không tin nhân quả).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xem Luật Nhân Quả Báo Ứng
  • Phật Bàn Về Luật Nhân Quả Và Đạo Hiếu Giữa Con Cái Với Cha Mẹ
  • Tội Bất Hiếu Với Cha Mẹ: Ác Nghiệp Phải Chịu Quả Báo Lớn Nhất Và Cách Sám Hối Giải Nghiệp.
  • 5 Quả Báo Của Tội Bất Hiếu Với Cha Mẹ
  • Luật Nhân Quả Oan Nghiệt Đời Trước, Kiếp Này Phải Trả
  • Brvt: Tt Thích Chân Quang Thuyết Giảng Về Nhân Quả Của Sự Chân Thật

    --- Bài mới hơn ---

  • Cà Mau: Tt Thích Chân Quang Thuyết Giảng Về Chuyện Luân Hồi Hiện Đại
  • 1001 Stt Hay Về Cuộc Sống Giúp Bạn Nhận Ra Chân Lý Cuộc Đời
  • Những Câu Nói Hay Về Cuộc Sống Qua Triết Lý Phật Giáo
  • Thẩm Tra Hồ Sơ, Trình Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Quyết Định Thủ Tục Thành Lập Đoàn Luật Sư
  • Đoàn Luật Sư Tỉnh An Giang Tổ Chức Thành Công Đại Hội Lần Thứ Ix
  • Chúng ta nói dối nhằm biện minh cho những hành động không đúng của mình để tránh bị phê phán, khiển trách. Dù cha mẹ, thầy cô luôn dạy ta không được nói dối nhưng họ lại không thể quản lý việc nói dối của ta. Chúng ta tưởng chừng nói dối là vô hại, nhưng thực ra nó có nhân quả rất khủng khiếp. Có những điều nói dối cực kỳ nghiêm trọng, khiến chúng ta bị đọa địa ngục. Vậy nên, nếu không tự nghiêm khắc với bản thân, ta rất dễ phá hoại nhân cách của mình. Thậm chí, chúng ta còn phá hoại kỷ cương, đạo đức của xã hội.

    Nên nhớ, cái vĩ đại không thể tưởng tượng của Phật pháp đó, không thể nào mà ta đạt được trong một vài kiếp hay một vài năm, mà đó là con đường của một ngàn kiếp. Cho nên, ta bình tĩnh mà đi, dù tu có một số điều gì đó đặc biệt cũng đừng vội cho rằng mình đã quá cao siêu. Và đây là cái giới đầu tiên về sự chân thật, là ta đừng cố ý nói dối mình chứng Thánh và cũng đừng hiểu nhầm mình đã chứng Thánh thì ta đỡ được bao nhiêu phần quả báo khốc liệt về sau.

    Lại nữa, còn một loại nói dối tầm thường hơn là để lừa gạt, để trục lợi hoặc làm chứng gian, tức cố ý, biết mình nói dối nhưng mà phải nói dối để dành được phần lợi nhiều hơn, thì cái người này mang tội và cái tội này rất gần với súc sinh, địa ngục khi chết. Có thể nói, việc làm chứng dối, hay nói dối là khuyết điểm mà con người dễ phạm nhất. Vậy để có thể không nói dối thì ta đừng làm gì sai lầm, phải giữ gìn cả một cuộc đời của mình trong cái chân chính, trong sạch. Cho nên, Đức Phật có nói: “Khi một người mà sống đạo hạnh, trì giới, nếu cao hơn là chứng đạo thì người này bước vào một Hội chúng không có gì phải lo sợ”, bởi vì cuộc đời vị đó không phạm gì sai lầm. Giá trị ở chỗ là ta không làm gì sai lầm và ta không có gì phải nói dối. Người nào mà có thể tự nói rằng mình không nói dối thì thật sự cuộc đời của người đó đã đứng tới vị trí gần với bậc Thánh, mà không cần xem xét bao nhiêu tâm hạnh, bao nhiêu đạo đức hay giới luật khác, vì không nói dối thì cuộc sống phải cực kỳ chân chính.

    Thường, nói dối rất vất vả vì ta phải che đậy, giấu diếm, lén lút. Tất cả chúng ta đều nói dối dù chúng ta rất đạo đức, kể cả thầy tu. Chúng ta luôn có động cơ chứng tỏ mình là người tốt trước mặt người khác. Đây chính là một sự giả dối trong mỗi con người chúng ta. Theo con số Thượng tọa đưa ra thì với người xấu – sự giả dối có thể lên tới 70 đến 80%, riêng người dù rất tốt nhưng sự giả dối vẫn còn từ 30 đến 40%.

    Chúng ta chưa phải Thánh, bên trong ta bí mật còn nhiều lỗi lầm, nhưng khi xuất hiện trước mọi người thì ta phải ăn mặc tươm tất, cười nói vui vẻ, đi đứng nghiêm trang, lúc nào ta cũng muốn chứng tỏ mình là người tốt. Đó là ta đã đóng kịch hết 30 – 40%. Sự giả dối này chỉ mất đi khi nào ta tu tới là một bậc Thánh, vì lúc này, ta sống trong sạch tự tận đáy lòng mình mà không cần diễn kịch. Nguyên nhân khiến chúng ta trở nên giả dối, diễn kịch giữa cuộc đời, chủ yếu là vì tiền và tình. Và Thượng toạ đã phân tích, mô tả cho chúng ta biết rõ về sự giả dối, diễn kịch do yếu tố tiền và tình mang lại là thế nào.

    Do đó, không phải chuyện gì cũng nói thật, cũng có trường hợp ta buộc phải nói dối vì đó là cách ứng xử duy nhất, tốt nhất lúc đó. Bởi vì suy cho cùng thì những điều ta làm là mong đem lại cho họ sự bình an, lòng tin để họ vượt qua những khó khăn, đau buồn mà họ đang gặp phải. Ví dụ nói dối để cứu người, cứu vật; những bí mật an ninh quốc gia không được phép nói thật; giữ bí mật cho cá nhân người khác để danh dự, nhân phẩm, hạnh phúc của họ không bị ảnh hưởng; không nói thật về tài sản để tránh cướp bóc và giữ cho mình sự khiêm tốn; đừng nói thật về tâm linh để giữ cái phước cho mình được tu lâu dài; những bản lĩnh, những kỹ năng mình cũng phải giấu lại; đừng nói thật về tài chính, tài sản của gia đình để tránh cho con đua đòi, ỷ lại; cũng không được nói thật về bí mật của cơ quan, công ty để tránh việc ăn cắp bản quyền sáng chế.

    Nói về nhân quả của sự chân thật, Thượng toạ chỉ dạy rằng: Người nói thật sẽ được quả báo học giỏi, hiểu được đạo lý; hiểu được sự thật. Còn người nói dối sẽ chịu cái nghiệp học không thông, không hiểu đạo lý. Khi ta hiểu được đạo lý thì trí tuệ ta sẽ biến thành sức mạnh của cuộc sống, giúp ta tránh được những hành động sai lầm, thoát được những cái nghiệp xấu về sau. Sức mạnh của cuộc sống chính là động thái “Dứt khoát”, vì khi ta biết quá rõ cái nào sai; cái nào đúng trong đường tơ kẽ tóc, và thấy tới cái nhân quả nên dứt khoát không làm.

    Do vậy, một vị Thánh sống chân thật, không nói dối ở nhiều kiếp, nên quả báo là vị đó thông minh, trí tuệ, đạo đức và tỏ ngộ chánh Pháp. Khi ta nhìn vào cuộc đời, nhìn vào tâm của một bậc Thánh, sẽ thấy họ đẹp như một viên ngọc sáng. Nếu may mắn được gặp và quỳ lạy bậc Thánh đó thì là cả một niềm hạnh phúc lớn trong đời ta.

    Trước khi kết thúc bài Pháp thoại, trong không gian ấm áp, tĩnh mịch, Thượng tọa và các phật tử đã dâng lên lòng kính ngưỡng đối với Đức Phật, lòng yêu kính đến Chánh pháp và nguyện yêu thương khắp đất trời, khắp chúng sinh, cùng hy vọng một năm mới sẽ mang đến nhiều điều may mắn, hạnh phúc, tốt đẹp cho tất cả. Phải chăng, chỉ cần chúng ta sống đời sống chân thật thì chư Phật, chư Bồ tát sẽ giúp chúng ta toại nguyện.

    Tóm lại, bằng trí tuệ, kinh nghiệm hoằng Pháp và những ví dụ thực tế, Thượng tọa đã đưa ra những khái niệm, những vấn đề và diễn giải một cách rõ ràng, dễ hiểu. Nhờ vậy, các phật tử hiểu sâu được nội dung bài Pháp, việc tu học cũng bớt khó khăn hơn. Việc áp dụng những kiến thức đó cũng thuận lợi, linh hoạt.

    Thiết nghĩ, “Chân thật” là đức tính quan trọng cần có của một con người. Xã hội càng phát triển, con người càng dễ đánh mất đức tính tốt đẹp đó của mình, vì mãi chạy theo những lợi ích cá nhân. Khi yếu tố đạo đức con người không được quan tâm, phát triển toàn diện thì sự phát triển của xã hội khó mà bền vững, lâu dài. Vì vậy, bài Pháp thoại này có vai trò rất lớn trong việc giáo dục nhân cách, đạo đức con người, đặc biệt hơn là Thượng toạ giữ lại cái hiểu đúng cho người tu, nhằm chấn phát lại sự tinh tấn tu hành, giữ lại chánh pháp cho ngàn sau.

    Mỗi người tốt lên sẽ khiến những người xung quanh mình tốt lên. Thượng tọa gọi đây là sự lây lan. Sự lây lan này càng rộng thì càng tạo nền móng vững chắc cho xã hội, cho đất nước ta đi lên. Đạo Phật cũng vậy. Những người con Phật càng có đạo đức, càng có nhân cách, có công phu tu tập thiền định càng dầy thì đạo Phật càng phát triển. Do đó, bài Pháp này càng cho thấy sự thấu đáo, biết nhìn xa trông rộng của Thượng tọa, là vậy.

    Ngoài ra, sau buổi thuyết giảng, các phật tử được dịp thưởng thức buffet chay với hơn 30 món ăn tự chọn đa dạng, bắt mắt, ngon miệng, do quý sư cô của Bổn tự chế biến tỉ mỉ từ những loại rau củ xanh tươi, có nguồn gốc sạch. Từng dãy món ăn được quý sư cô, quý thầy và phật tử trưng bày trong khuôn viên chùa, tạo nên một khung cảnh gần gũi, giàu ý nghĩa nhân văn và văn hoá trong đạo Phật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Người Trong Giang Hồ Phần 5
  • Người Đang Làm Trời Đang Xem (Ost Cái Chết Của Trần Hạo Nam)
  • Quy Luật Nhân Quả: Thiện Ác Tất Hữu Báo, Dù Sớm Hay Muộn Đều Vốn Công Bằng
  • Luật Nhân Quả Khi Nào Linh Ứng?
  • Cho Dù Vô Tình, Luật Nhân Quả Ghi Nhớ Đừng Phạm Điều Này!
  • Bài Giảng Xã Hội Học Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Khái Niệm Trách Nhiệm Hình Sự
  • Chủ Thể Của Tội Phạm
  • Các Dấu Hiệu Cấu Thành Tội Phạm
  • Các Dấu Hiệu Của Tội Phạm Theo Quy Định Của Blhs
  • Cải Cách Tư Pháp Và Việc Hoàn Thiện Các Nguyên Tắc Cơ Bản Của Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
  • (bài giảng Xã hội học pháp luật – VB 2, ĐH Luật Hà Nội, 2021)

    Đại học Luật Hà Nội

    Lớp: K14CCQ (2015 – 2021)

     

    BÀI GIẢNG XÃ HỘI HỌC PHÁP LUẬT

    Thời lượng: 45 tiết

    MỤC LỤC

    Vấn đề 1: Nhập môn xã hội học pháp luật 1

    III. Các chức năng cơ bản của xã hội học pháp luật 2

    Vấn đề 2: Phương pháp nghiên cứu của xã hội học pháp luật 2

    III. Các phương pháp thu thập thông tin điều tra xã hội học. 11

    Vấn đề 3: Pháp luật trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội 16

    III. Các phân hệ cơ cấu xã hội và mối liên hệ với pháp luật 19

    Vấn đề 4: Pháp luật trong mối liên hệ với chuẩn mực xã hội 21

    Vấn đề 5: Các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật 26

    Vấn đề 6: Các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật 30

    III. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện PL, áp dụng PL ở nước ta hiện nay. 36

    Vấn đề 7: Sai lệch chuẩn mực pháp luật và hiện tượng tội phạm.. 36

    III. Các yếu tố tác động tới sai lệch chuẩn mực pháp luật 39

    VII. Các biện pháp phòng, chống sai lệch chuẩn mực pháp luật 44

     

     

    Ngày 15/01/2017

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    Tài liệu:

    • Xã hội học pháp luật – Ngọ Văn Nhân
    • Tập bài giảng xã hội học

    Vấn đề 1: Nhập môn xã hội học pháp luật

    I. Khái quát về lịch sử hình thành và phát triển của xã hội học pháp luật

    1. Nguyên nhân xuất hiện xã hội học pháp luật

    – Mặc dù phải đến những năm 30 của thế kỷ 19 mới xuất hiện ngành xã hội học, nhưng những quan điểm, quan niệm, tư tưởng của xã hội học đã xuất hiện từ thời cổ đại trong hành trình đi tìm tri thức của nhân loại:

    + thời cổ đại:

    • Phương đông: các tư tưởng của những triết gia Trung Quốc như Khổng Tử (đức trị), Tuân Tử, Hàn Phi Tử (pháp trị)
    • Phương tây: trong triết học Hy Lạp cổ đại, điển hình là Platon, Aristot, Heraclite

    2. Một số trào lưu xã hội học pháp luật tiêu biểu

    a. Xã hội học pháp luật thực dụng Mỹ

    – Xuất hiện vào những năm 20s của thế kỷ 20

    – Đại diện tiêu biểu: R. Pound, chia PL thành 2 loại:

    + pháp luật trong hành động: pháp luật gắn với thực tiễn xã hội

    – Khẩu hiệu của trào lưu: hãy chuyển từ PL trên giấy tờ thành PL trong hành động, chuyển từ đời sống ảo sang đời sống thực của PL

    b. Trào lưu hiện thực trong luật học Mỹ

    – Hoài nghi vào PL do NN làm ra, vì cho rằng trong đó có lợi ích của NN (lợi ích nhóm hiện nay), lợi ích của nhà cầm quyền

    c. Trào lưu PL tự do châu Âu

    – Hướng tới PL tự nhiên và PL thực định:

    + PL thực định: là PL do NN làm ra

    – Trào lưu PL tự do đề cao quyền tự do của con người, xuất phát từ Đức, lan rộng ra khắp châu Âu

     

    II. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật

    1. Tranh luận: xã hội học PL là ngành khoa học pháp lý hay khoa học xã hội

    – Có 3 quan điểm:

    + xã hội học PL là khoa học pháp lý: vì được khởi xướng, ra đời từ các nhà luật học (Montesquire)

    + xã hội học PL là ngành khoa học nằm giữa hoa học xã hội và khoa học pháp lý: là quan điểm của các nhà khoa học nhị nguyên, nhằm dung hòa 2 trường phái trên

    2. Đối tượng nghiên cứu của xã hội học pháp luật

    – Khái niệm xã hội học PL: là 1 ngành xã hội học chuyên biệt, nghiên cứu:

    + những quy luật và tính quy luật của quá trình phát sinh, tồn tại, hoạt động của PL trong xã hội, trong mối liên hệ với các chuẩn mực xã hội khác

    + nguồn gốc, bản chất xã hội, các chức năng xã hội của PL

    + các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng PL

    III. Các chức năng cơ bản của xã hội học pháp luật

    1. Chức năng nhận thức
    2. Chức năng thực tiễn
    3. Chức năng dự báo

    IV. Ý nghĩa của việc nghiên cứu xã hội học pháp luật

    1. Về tri thức khoa học
    2. Về phương pháp nghiên cứu

     

    ———————

    Ngày 22/01/2017

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    Vấn đề 2: Phương pháp nghiên cứu của xã hội học pháp luật

    I. Khái quát về phương pháp

    1. Phương pháp chung

    – Khái niệm: Phương pháp là cách thức tiếp cận đối tượng nghiên cứu 1 cách có tổ chức, có hệ thống, được sắp xếp theo 1 trật tự nhất định nhằm đạt tới mục đích nào đó.

    – Các phương pháp nghiên cứu:

    a. Phương pháp phân tích và tổng hợp

    – Phân tích: là chia cái toàn bộ ra thành những bộ phận để đi sâu nhận thức, nghiên cứu các bộ phận

    – Tổng hợp: là liên kết, thống nhất các bộ phận đã được phân tích lại nhằm nghiên cứu cái toàn bộ

    – Phân tích và tổng hợp là 2 phương pháp thống nhất với nhau, không tách rời nhau

    b. Phương pháp quy nạp và diễn dịch

    – Quy nạp: đi từ cái riêng đến cái chung

    – Diễn dịch: đi từ cái chung đến cái riêng

    – Hai phương pháp này có mối liên hệ hữu cơ với nhau, làm tiền đề cho nhau, cái này đòi hỏi cái kia và bổ sung cho cái kia

    c. Phương pháp lịch sử và logic

    – Phương pháp lịch sử: phải nghiên cứu trong quá trình lịch sử của sự vật hiện tượng, nắm được toàn bộ tính phong phú của nó

    – Phương pháp lo-gic: vạch ra bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của sự vật hiện tượng

    – Hai phương pháp này thống nhất hữu cơ, gắn bó chặt chẽ với nhau

    Ngoài ra còn có các phương pháp khác như phương pháp tiếp cận hệ thống-cấu trúc, phương pháp mô hình hóa, phương pháp so sánh, …

    2. Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành xã hội học

    – Các nguyên tắc, quy trình nghiên cứu: là hệ thống các nguyên tắc, cách thức là công cụ cho sự khảo sát và nghiên cứ các vấn đề xã hội học, gồm:

    + các nguyên tắc tổ chức triển khai đề tài nghiên cứu: diễn ra như thế nào, tuân thủ các yêu cầu gì, làm thế nào để thu thập được thông tin điều tra 1 cách chính xác

    + cách thức tiến hành 1 cuộc điều tra xã hội học: các công cụ để thu thập thông tin trong các cuộc khảo sát, điều tra xã hội học

    + các phương pháp chọn mẫu điều tra: nhằm đảm bảo thông tin thu được là trung thực, khách quan, có tính đại diện cao

    – Kỹ thuật nghiên cứu: gồm

    + kỹ thuật xây dựng bảng câu hỏi

    + kỹ thuật phân loại và xử lý số liệu

    + kỹ thuật xử lý số liệu bằng máy vi tính: sử dụng phần mềm máy tính

    – Các phương pháp thu thập thông tin thông dụng:

    + phương pháp phân tích tài liệu

    + phương pháp quan sát

    + phương pháp phỏng vấn

    + phương pháp an-két

    + phương pháp thực nghiệm

     

    II. Các bước tiến hành một cuộc điều tra XHH về các vấn đề, sự kiện, hiện tượng pháp luật

    – Thông thường có 3 giai đoạn:

    + chuẩn bị

    + tiến hành thu thập thông tin

    + xử lý và phân tích thông tin

    – Cả 3 giai đoạn trên phải được thực hiện theo nguyên tắc trình tự thuận, tức là phải thực hiện tuần tự, lần lượt từng giai đoạn, có thực hiện giai đoạn trước thì mới được thực hiện giai đoạn sau, việc thực hiện giai đoạn trước là tiền đề, cơ sở cho việc thực hiện giai đoạn sau. Ngoài ra, trong 1 giai đoạn lại có nhiều khâu, nhiều bước cụ thể khác nhau, cũng phải được thực hiện theo nguyên tắc trình tự thuận.

    1. Giai đoạn chuẩn bị

    – Là giai đoạn đầu tiên, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với bất kỳ cuộc điều tra XHH nào

    – Cần đặt ra và trả lời các câu hỏi:

    – 9 bước của giải đoạn chuẩn bị:

    Bước 1: Xác định vấn đề pháp luật cần nghiên cứu và đặt tên đề tài nghiên cứu

    – Bước này nhằm trả lời cho câu hỏi: Nghiên cứu cái gì ?

    – Vấn đề PL cần nghiên cứu là bất kỳ vấn đề PL nào đang diễn ra trong thực tiễn cuộc sống, thường xuất phát từ đơn đặt hàng của NN, tổ chức xã hội, hoặc từ chính nhu cầu khảo sát thực tiễn của các nhà khoa học trên cả 2 phương diện là lý luận và ứng dụng. Đó thường là các vấn đề PL có tính thời sự cấp thiết, đang thu hút sự quan tâm của NN, nhân dân, dư luận xã hội, VD thẩm định các dự án luật, tìm hiểu thực trạng các quan hệ xã hội, …

    – Vấn đề nghiên cứu thường được xác định là sự sai lệch trong thực tế so với các tài liệu lý luận hoặc các tiêu chí tiêu chuẩn trong xã hội

    – Do đó, bất kỳ vấn đề PL cần nghiên cứu nào cũng phải được nghiên cứu trên 2 phương diện: mặt tích cực và mặt tiêu cực của vấn đề

    VD: nghiên cứu vấn đề ly hôn: hiện tượng số lượng vụ ly hôn ngày càng nhiều, độ tuổi lý hôn ngày càng trẻ hóa, tuy nhiên không được chỉ nhìn nhận vấn đề ly hon dưới góc độ tiêu cực, mà phải xem xét nó trên 2 phương diện:

    + mặt tích cực: ly hôn là thành quả của cuộc đấu tranh rất dài của việc nữ quyền trên thế giới, cho phép người phụ nữ đứng tên trên đơn ly hôn, nhằm chấm dứt 1 cuộc hôn nhân đã không còn phù hợp. Ly hôn cho phép giải phóng 2 con người không còn yêu thương nhau, không còn chung sống được với nhau.

    + mặt tiêu cực: tổn thương tinh thần, nhất là với phụ nữ và trẻ em, gây ra các tiêu cực với xã hội như trẻ em không được chăm sóc đầy đủ, dễ lâm vào tệ nạn xã hội

    – Đặt tên đề tài nghiên cứu: phải thể hiện được 2 yếu tố:

    + đối tượng nghiên cứu

    + khách thể của cuộc điều tra

    Tránh việc đặt tên 1 cách chung chung, mập mờ dẫn đến khó xác định đâu là đối tượng nghiên cứu, đâu là khách thể của cuộc điều tra.

    VD: Đề tài “Quan niệm về hôn nhân gia đình của sinh viên K14CCQVB2 đại học Luật Hà Nội”, thì:

    + đối tượng nghiên cứu là “Quan niệm về hôn nhân gia đình”

    + khách thể điều tra là “sinh viên K14CCQVB2 đại học Luật Hà Nội”

    Bước 2: Xác định mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của cuộc điều tra

    – Mục đích nghiên cứu là những tìm kiếm cơ bản, xuyên suốt của đề tài nghiên cứu, giúp trả lời câu hỏi: Nghiên cứu để làm gì ?

    – Mục đích nghiên cứu: là những thông tin, kiến thức, hiểu biết khoa học về vấn đề PL, sự hiện hiện tượng PL mà ta sẽ thu được qua thực tế điều tra, là kết quả cuối cùng mà cuộc điều tra phải đạt được.

    – Việc xác định mục đích nghiên cứu có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì 3 lý do:

    + mục đích nghiên cứu là yếu tố xuyên suốt toàn bộ tiến trình thực hiện cuộc điều tra

    +  mục đích nghiên cứu quy định nhiệm vụ và sự lựa chọn phương pháp thu thập thông tin, cách thức tiến hành và xử lý thông tin sau này

    + cùng 1 đề tài nghiên cứu nhưng nếu xác định mục đích nghiên cứu khác nhau thì kết quả sẽ khác nhau

    – Nhiệm vụ nghiên cứu là sự cụ thể hóa mục đích nghiên cứu. Tức là để đạt được mục đích nghiên cứu thì cần phải thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng.

    – Các nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra phải phục vụ cho mục đích nghiên cứu.

    – Giữa mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu phải có sự phù hợp và tương quan hài hòa:

    + nếu xác định quá nhiều nhiệm vụ thì đề tài sẽ bị phân tán, khó hướng theo mục đích đã chọn

    + nếu xác định quá ít nhiệm vụ khó đánh giá mục đích của cuộc điều tra đã được hoàn thành đến mức nào

    Bước 3: Xây dựng giả thiết nghiên cứu

    – Giả thiết nghiên cứu là những giả định mang tính khoa học về cơ cấu, thực trạng của đối tượng nghiên cứu, là những nhận định ban đầu về thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu.

    – Nói cách khác, giả thiết nghiên cứu là 1 câu hỏi về thực trạng của vấn đề được nghiên cứu, mang giá trị lo-gic khẳng định hoặc phủ định nhưng chưa biết có được thừa nhận hay bác bỏ đòi hỏi phải được kiểm nhiệm thông qua cuộc điều tra.

    – Thông thường giả thuyết nghiên cứu được biểu hiện dưới dạng mệnh đề lo-gic như: nếu thế này thì thế kia; trong điều kiện thế này thì thế kia, …

    VD: nếu tất cả các sinh viên văn bằng 2 đại học luật thực sự nghiêm túc học tập thì sự nghiệp xây dựng xã hội pháp quyền của nhà nước ta sẽ thành công

    – Lập giả thuyết nghiên cứu là đưa ra 1 nhận thức sơ bộ về vấn đề, sự kiện pháp lý được nghiên cứu

    – Lưu ý khi đưa ra giả thiết nghiên cứu:

    + giả thuyết nghiên cứu không được trái với các nguyên tắc, quy định của Hiếp pháp, PL hiện hành

    + giả thuyết nghiên cứu phải dựa trên các luận cứ khoa học chặt chẽ và phải phù hợp tương đối so với tình hình thực tế của vấn đề PL cần nghiên cứu

    + giả thuyết nghiên cứu phải dễ kiểm tra trong quá trình triển khai, nghiên cứu, và trong thực tiễn đời sống PL

    Bước 4: Xây dựng mô hình lý luận, thao tác hóa các khái niệm và xác định các chỉ báo nghiên cứu

    – Mô hình lý luận: là hệ thống các phạm trù, khái niệm của xã hội học PL được sắp xếp theo 1 kết cấu lo-gic nội tại chặt chẽ, giúp nhà nghiên cứu đánh giá, khái quát bản chất của vấn đề PL được nghiên cứu. Một mô hình lý luận phải được thể hiện ra bằng ngôn từ, thuật ngữ, khái niệm khoa học và những khái niệm khoa học này phải được mọi người cùng hiểu theo cùng 1 nghĩa để tránh những sự nhầm lẫn có thể xảy ra.

    – Thao tác hóa khái niệm trong điều tra xã hội học về 1 vấn đề PL là những thao tác lo-gic nhằm chuyển từ những khái niệm xã hội học, luật học có tính phức tạp, trừu tượng, khó hiểu thành những khái niệm trung gian, cụ thể, đơn giản và dễ hiểu hơn, có thể đo lường được, nhằm giúp mọi người cùng hiểu những khái niệm đó theo cùng 1 nghĩa, tránh những nhầm lẫn không đáng có.

    – Xác định các chỉ báo nghiên cứu là quá trình cụ thể hóa các khái niệm thực nghiệm thành các đơn vị (tiêu chí) có thể đo lường và quan sát được. Mỗi phương án trả lời được nêu trong các câu hỏi chính là những tiêu chí phản ánh các chỉ báo nghiên cứu.

    Bước 5: Lựa chọn phương pháp thu thập thông tin

    – Gồm 5 phương pháp:

    + phương pháp phân tích tài liệu có sẵn

    + phương pháp quan sát

    + phương pháp phỏng vấn

    + phương pháp an-két

    + phương pháp thực nghiệm

    – Nhà nghiên cứu phải lựa chọn và quyết định sử dụng phương pháp nào là phương pháp chủ đạo trong cuộc điều tra của mình.

    – Nguyên tắc lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào 2 yếu tố:

    + căn cứ vào mục đích của cuộc điều tra

    + căn cứ vào khả năng tài chính, các trang thiết bị kỹ thuật và các thông tin sẵn có

    – Chú ý: không có 1 phương pháp nào là chìa khóa vạn năng, mỗi phương pháp đều có ưu và nhược điểm riêng. Do đó thông thường, 1 cuộc điều tra xã hội học sẽ sử dụng phối hợp 1 nhóm các phương pháp có thể bổ sung cho nhau để phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi phương pháp.

    Bước 6: Soạn thảo bảng câu hỏi

    – Trong 5 phương pháp thu thập thông tin, có 2 phương pháp được sử dụng rộng rãi nhất và đều sử dụng bảng câu hỏi là phương pháp phỏng vấn và phương pháp an-két.

    Một bảng hỏi được xây dựng tốt sẽ cho phép thu thập được lượng thông tin đa dạng, phong phú và đầy đủ. Ngược lại, nếu bảng hỏi được xây dựng không tốt sẽ làm giảm khả năng thu thập thông tin, thậm chí xuyên tạc phản ánh sai thực tế.

    Các loại câu hỏi thông dụng:

    + câu hỏi đóng dạng đơn giản: là loại câu hỏi chỉ gồm 2 phương án trả lời là Có hoặc Không

    VD:  Anh / Chị có thích đọc báo Pháp luật Việt Nam không ?

    1. Có *
    2. Không *

    Loại câu hỏi đóng đơn giản này có nhược điểm là dễ hướng người trả lời lựa chọn phương án tích cực (hiện tượng tâm lý tôn vinh hình ảnh cá nhân). Như ở ví dụ trên thì hầu như mọi người sẽ trả lời Có mặc dù có những người chưa từng đọc báo Pháp luật VN.

    + câu hỏi đóng dạng phức tạp (còn gọi là câu hỏi lựa chọn): là loại câu hỏi có nhiều phương án trả lời theo các mức độ khác nhau để người trả lời lựa chọn, các phương án trả lời phải loại trừ nhau (tức là chỉ được chọn 1 phương án trả lời).

    VD:  Anh / Chị có thích ăn thịt chó không ?

    1. Rất thích *
    2. Thích *
    3. Bình thường *
    4. Không thích *
    5. Rất không thích *

    Loại câu hỏi đóng phức tạp này thường dùng để đo lường các mức độ đánh giá như thái độ (rất thích-thích-bình thường-không thích), niềm tin (tin tưởng tuyệt đối – rất tin tưởng – bình thường – không tin tưởng), tình cảm (yêu – bình thường – ghét), … trước các vấn đề, sự kiện hiện tượng PL đang nghiên cứu.

    + câu hỏi mở: là câu hỏi chưa có phương án trả lời, người trả lời phải tự suy nghĩ, tự ghi phương án trả lời của mình vào ô trả lời. Về kỹ thuật trình bày, sau khi nêu câu hỏi cần phải dành ra 1 số dòng trống để người trả lời ghi câu trả lời.

    VD: Anh / Chị thích làm gì vào thời gian rỗi ?

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –  – – – – – – – –

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –  – – – – – – – –

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –  – – – – – – – –

    Nhược điểm: trả lời dễ lan man, lệch khỏi trọng tâm nghiên cứu của nhà nghiên cứu, khó phân chia câu trả lời theo các phương án đã định, và khó xử lý thông tin ở giai đoạn sau.

    + câu hỏi kết hợp: là loại câu hỏi mở có liệt kê sẵn một số phương án trả lời mang tính định hướng của nhà nghiên cứu, và ở phần cuối dành 1 phương án mở, được trình bày dưới dạng “ý kiến khác”.

    VD: Anh / Chị thích làm gì vào thời gian rỗi ?

    1. Đọc sách *
    2. Xem tivi *
    3. Chơi thể thao *
    4. Đi du lịch *
    5. Thăm bạn bè *
    6. Ý kiến khác:

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –  – – – – – – – –

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –  – – – – – – – –

    – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – – –  – – – – – – – –

    Các yêu cầu đối với việc xây dựng câu hỏi, bảng hỏi:

    + trong câu hỏi, cần hạn chế sử dụng những thuật ngữ có tính chất chung chung, mơ hồ, không xác định như: thường xuyên, thỉnh thoảng, đôi khi, …

    + không nên sử dụng những khái niệm không phổ thông, quá khoa học, ít người biết, không sử dụng từ viết tắt, từ địa phương, dân tộc, vùng miền

    + câu hỏi đặt ra phải phù hợp với trình độ học vấn của người trả lời

    + không nên sử dụng câu hỏi hàm ý, biểu thị cách trả lời thế này là đúng, trả lời thế kia là sai

    VD: hỏi đảng viên

    Bạn có tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng không ?

    1. Có 
    2. Không 

    + kết cấu của bảng câu hỏi không quá phức tạp, rườm rà, dễ gây chán nản cho người được hỏi

    Kết cấu của bảng câu hỏi: 1 bảng câu hỏi thông thường có kết cấu 3 phần:

    + phần kết thúc: để trình bày 1 số câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu của người trả lời (hay thông tin cá nhân người trả lời) như câu hỏi về giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ học vấn, địa bàn cư trú. Những thông tin cá nhân này chỉ nhằm mục tiêu thống kê khoa học.

    Nguyên tắc ẩn danh: tuyệt đối không yêu cầu ghi tên, tuổi, địa chỉ của người trả lời, vì có thể dẫn tới người trả lời ngần ngại khi đưa ra quan điểm, ý kiến, thái độ.

    Bày tỏ lời cảm ơn đối với người trả lời, VD “Một lần nữa xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Ông / Bà, xin gửi đến quý Ông / Bà lời chào trân trọng !”

    Bước 7: Chọn mẫu điều tra    

    Mẫu là 1 bộ phận có thể đại diện được cho toàn bộ khách thể nghiên cứu. Khi chọn mẫu cần chú ý đến tính đại diện và tính thuần nhất của mẫu, vì đây là 2 yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin thu được:

    + tính đại diện: bao quát được toàn bộ khách thể. VD khảo sát trong 1 tỉnh có 10 đơn vị hành chính, thì mẫu phải có đủ đại diện của 10 đơn vị hành chính đó, hoặc trong tỉnh có vùng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng ven biển thì mẫu phải có đủ đại diện cho mỗi vùng đó

    + tính thuần nhất: những người trong cuộc khảo sát càng gần gũi nhau về địa bàn sinh sống, thuần phong mỹ tục, mặt bằng nhận thức, trình độ học vấn thì câu trả lời của họ có sự gần gũi nhau

    Điều tra mẫu: là tiến hành thu thập thông tin trên 1 bộ phận mẫu đã lựa chọn, rồi suy rộng kết quả cho tổng thể với 1 độ chính xác nào đó.

    Dung lượng mẫu: là số người cần thiết tham gia vào cuộc điều tra để cung cấp thông tin cho nhà nghiên cứu đủ để đạt được độ chính xác đã xác định.

    Các phương pháp chọn mẫu: có nhiều phương pháp, nhưng có thể quy về 2 phương pháp:

    + phương pháp ngẫu nhiên đơn giản: chọn ngẫu nhiên, bất kỳ các thành viên trong 1 nhóm xã hội

    + phương pháp ngẫu nhiên cơ học: nhà nhiên cứu phải có danh sách tổng thể các thành viên của nhóm xã hội, sau đó xác định số K = N/n , trong đó N là số lượng người theo danh sách tổng thể các thành viên của nhóm xã hội, n là dung lượng mẫu cần lựa chọn., sau đó trong danh sách thành viên đã được đánh số thứ tự, cứ cách k người lại lấy  người.

    VD: 1 lớp học có 100 sinh viên, cần chọn mẫu 20 người để khảo sát, thì K = 100 / 20 = 5 , như vậy mẫu sẽ gồm những sinh viên có số thứ tự 5, 10, 15, …

    Bước 8: Dự kiến phương án xử lý thông tin

    – Nhà nghiên cứu dự kiến trước sẽ sử dụng bộ máy công thức toán học nào, chương trình phần mềm máy vi tính nào để áp dụng xử lý thông tin thu thập được.

    – Chú ý: Phương án xử lý thông tin có ảnh hưởng đến việc xây dựng bảng câu hỏi, đặc biệt khi ứng dụng phần mềm máy vi tính để xử lý thông tin, thông thường việc xây dựng (hình thức) câu hỏi phải phù hợp với khả năng xử lý của chuyên gia phần mềm máy tính.

    Bước 9: Điều tra thử, hoàn chỉnh lại toàn bộ bảng câu hỏi và các chỉ báo nghiên cứu

    – Điều tra thử là nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá sự hoạt động, khả năng thu nhận thông tin của từng câu hỏi cũng như toàn bộ bảng câu hỏi để xem chúng đạt kết quả tới đâu, có gì khiếm khuyết cần khắc phục hay bổ sung, để mục đích cuối cùng là xây dựng được bảng câu hỏi tối ưu, phù hợp với thực tế của vấn đề.

    Ngoài ra, qua điều tra thử, chúng ta có căn cứ để hoàn chỉnh văn phong của bảng câu hỏi, phù hợp với môi trường của địa phương, của vùng miền.

    – Khi tiến hành điều tra thử, cần chú ý 2 yêu cầu sau:

    + điều tra thử phải được tiến hành trên đúng bộ phận mẫu đã chọn

    + khoảng cách giữa điều tra thử và điều tra thật chỉ nên là 1 khoảng thời gian ngắn, để tránh những biến động có thể xảy ra ở khách thể của cuộc điều tra

     

    2. Giai đoạn tiến hành thu thập thông tin

    – Gồm 6 bước công việc:

    Bước 1: Lựa chọn thời điểm tiến hành điều tra

    – Lưu ý rằng mọi sự kiện chính trị, xã hội quan trọng, hoặc những sinh hoạt cộng đồng đều có tác động nhất định đến trạng thái tư tưởng, tâm lý của đối tượng điều tra, qua đó có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin mà họ cung cấp cho nhà nghiên cứu.

    – Nhìn chung, điều tra XHH nói chung, và điều tra XHH PL nói riêng, không nên diễn ra vào:

    + thời điểm có những hoạt động quan trọng của quốc gia, địa phương: VD ngày quốc khánh, ngày bầu cử, ngày kỷ niệm thành lập tỉnh, …

    + không nên diễn ra vào ngày nghỉ, ngày lễ, ngày tết cổ truyền của dân tộc: VD với người làm văn phòng không nên điều tra vào thời điểm cuối năm và giữa năm (cuối năm có nghỉ tết, giữa năm có nghỉ hè), với người nông dân không nên khảo sát vào thời điểm mùa màng, …

    Bước 2: Chuẩn bị kinh phí cho cuộc điều tra

    – Một cuộc điều tra xã hội học thường rất tốn kém về kinh phí. Thông thường chi cho các khoản sau:

    + xây dựng chương trình, đề cương nghiên cứu soạn thảo bảng câu hỏi

    + chi cho công tác đánh máy, in ấn tài liệu, giấy tờ, phiếu điều tra

    + chi mua văn phòng phẩm, dịch thuật (tài liệu tiếng nước ngoài)

    + chi công tác phí của điều tra viên, cộng tác viên trong những ngày thu thập thông tin tại địa bàn

    + thù lao cho điều tra viên, cộng tác viên, báo cáo viên, …

    + chi tổ chức các cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học, nghiệm thu đề tài, …

    – Kinh phí có ảnh hưởng lớn đến những người tiến hành điều tra:

    + kinh phí ít có thể làm giảm hứng thú, giảm sự hăng hái, nhiệt tình đối với điều tra viên

    + ngược lại, kinh phí nhiều có thể làm tăng sự hứng thú, sự hăng hái, nhiệt tình của điều tra viên

    – Kinh phí ít có thể làm chậm tiến độ điều tra, ngược lại kinh phí nhiều quá gây ra sự lãng phí

    Bước 3: Công tác tiền trạm

    – Là việc đoàn điều tra cử đại diện của mình đi trước tiếp xúc, liên hệ với cơ quan đoàn thể, chính quyền địa phương nơi sẽ diễn ra cuộc điều tra

    – Mục đích của công tác tiền trạm: là tạo ra bầu không khí thân thiện, cởi mở, tin cậy với các cơ quan đoàn thể và nhân dân địa phương.

    – Công tác tiền trạm có ý nghĩa quan trọng đối với cuộc điều tra:

    + ngược lại, nếu công tác tiền trạm không tốt, cuộc điều tra sẽ gặp khó khăn, chi phí có thể tăng lên mà hiệu quả có thể thấp đi

    Bước 4: Lập biểu đồ tiến độ cuộc điều tra

    – Căn cứ vào nhận lực của cuộc điều tra, chỉ đạo viên cùng với các điều tra viên xây dựng biểu đồ trong đó xác lập toàn bộ tiến độ thực hiện các công việc cần thiết của cuộc điều tra: nêu rõ ai, làm gì, lúc nào, khi nào phải hoàn thành, kết quả cần đạt được như thế nào

    – Việc xây dựng biểu đồ cuộc điều tra một cách khoa học sẽ giúp cho từng thành viên chủ động công việc của mình, đồng thời giúp cho chỉ đạo viên có thể theo dõi, điều phối công việc hiệu quả.

    Bước 5: Lựa chọn và tập huấn điều tra viên

    – Tiêu chuẩn của điều tra viên đối với cuộc điều tra XHH PL:

    + học vấn: phải là người có trình độ học vấn nhất định, có kiến thức và hiểu biết nhất định về PL. Đề tài PL càng phức tạp thì đòi hỏi trình độ, hiểu biết chuyên sâu về PL càng cao.

    + hiểu biết xã hội: phải là người có trình độ hiểu biết xã hội nhất định, am hiểu nhất định về truyền thống, văn hóa, tập quán, lối sống, ngôn ngữ của địa phương đang diễn ra cuộc điều tra

    + công tác quần chúng (dân vận): phải có khả năng làm tốt công tác vận động quần chúng, có khả năng tiếp cận các loại đối tượng xã hội khác nhau, có khả năng ứng xử linh hoạt các tình huống phức tạp có thể xảy ra.

    – Tập huấn điều tra viên với các nội dung:

    + giới thiệu mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra: để giải thích cho các đối tượng cung cấp thông tin

    + hiểu 1 cách thống nhất các khái niệm, thuật ngữ PL được sử dụng trong bảng câu hỏi

    + biết cách ghi nhận thông tin theo các dạng câu hỏi khác nhau. Đối với phương pháp phỏng vấn, cần trang bị kỹ năng đặt câu hỏi, cách lắng nghe, ghi chép thông tin và kiểm tra tính trung thực, khách quan trong các câu trả lời

    + giới thiệu trước các đặc điểm xã hội của đối tượng trả lời: hiểu về phong tục tập quán, đặc điểm văn hóa, lối sống, ngôn ngữ địa phương

    + giao công việc cụ thể cho từng điều tra viên với tiến độ triển khai thực hiện 1 cách chi tiết

    Bước 6: Tiến hành thu thập thông tin

    – Là việc phát ra – thu về các phiếu điều tra, hoặc thực hiện phỏng vấn với đối tượng nghiên cứu

    – Kết quả của bước này chính là lượng thông tin thu nhận được

     

    3. Giai đoạn xử lý và phân tích thông tin

    – Giai đoạn này do chính các nhà nghiên cứu đảm nhiệm cùng các chuyên gia lập trình máy tính.

    – Kết quả của giai đoạn này chính là sản phẩm cuối cùng của cuộc điều tra: báo cáo khoa học chuyên đề, các giải pháp, kiến nghị về vấn đề PL đang nghiên cứu.

    – Gồm 4 bước:

    + tập hợp tài liệu

    + phân tích thông tin thu được

    + kiểm tra các giả thiết đã đặt ra tước đó

    + trình bày báo cáo và xã hội hóa kết quả nghiên cứu

     

    ——————–

    Ngày 19/02/2017

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    (tiếp bài trước)

    III. Các phương pháp thu thập thông tin điều tra xã hội học

    1. Phương pháp phân tích tài liệu

    a. Nguồn tài liệu

    – Nguồn tài liệu được cất giữ bằng những hình thức đa dạng, phong phú. Trong đó phổ biến nhất là hình thức xuất bản phẩm, tức là thể hiện dưới hình thức sách, VD bộ luật, giáo trình, báo, tạp chí. Ngoài ra còn có phim, đĩa, hoặc trên Internet

    – Nguồn tài liệu có thể thuộc sở hữu nhà nước hoặc sở hữu tư nhân:

    + nếu nguồn tài liệu thuộc sở hữu NN: khi sử dụng cần trích dẫn nguồn 1 cách tường minh

    + nếu nguồn tài liệu thuộc sở hữu tư nhân: khi sử dụng phải xin phép và phải được sự đồng ý của các giả, và khi tác giả đồng ý cho sử dụng thì phải nêu rõ dẫn nguồn 1 cách tường minh

    Chú ý: việc sử dụng tài liệu mà không nêu trích dẫn nguồn, không xin phép tác giả có thể dẫn đến những vấn đề pháp lý về bản quyền tác giả.

    b. Đánh giá giá trị nguồn tài liệu

    – Đánh giá xem nguồn đó có giá trị khoa học không, có ý nghĩa thực tiễn không, có giá trị đối với hiện tại không hay đã lạc hậu.

    – Để có thể đánh giá được tài liệu, cần xem xét các yếu tố:

    + văn cảnh, xuất xứ của tài liệu

    + tác giả tài liệu

    + tên tài liệu, mục đích tài liệu

    + do nhà xuất bản nào phát hành, vào năm nào, tại địa phương nào

    + ảnh hưởng xã hội của tài liệu

    + độ tin cậy của tài liệu

    + …

    Trong đó, quan trọng nhất là phân biệt tính xác thực của bản thân tài liệu với độ tin cậy của các thông tin trong tài liệu.

    c. Thực chất của phương pháp phân tích tài liệu

    d. Các hình thức phân tích tài liệu

    – Có 2 phương pháp chính:

    + Phương pháp phân tích định tính (còn gọi là phương pháp phân tích cổ điển): đọc tài liệu, tìm ra các ý tưởng hay của tài liệu đó

    + Phương pháp phân tích định lượng: thường được sử dụng khi nhà nghiên cứu cần xử lý 1 số lượng thông tin lớn, thường gắn với các bảng biểu, đồ thị, con số, và hiện nay thường sẽ sử dụng máy vi tính với phương pháp này.

    e. Đánh giá về phương pháp phân tích tài liệu

    – Ưu điểm:

    + ít tốn nhân công, thời gian, chi phí, mà vẫn cho kết quả có giá trị, có chất lượng

    + ưu thế vượt trội khi nghiên cứu các vấn đề nhạy cảm, tế nhị, phức tạp mà nếu dùng các phương pháp khác sẽ gặp nhiều khó khăn. VD nghiên cứu tệ nạn xã hội như ma túy, mại dâm, cờ bạc, bệnh xã hội

    – Nhược điểm:

     

    2. Phương pháp quan sát

    a. Khái niệm

    – Thực chất của phương pháp quan sát là sự tri giác trực tiếp của nhà nghiên cứu đối với những đặc điểm, dấu hiệu, biểu hiện bên ngoài trong hành vi, hoạt động ở 1 trạng thái nhất định của đối tượng cần quan sát nhằm tìm kiếm, thu thập các thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu.

    – Cần phân biệt giữa quan sát khoa học và quan sát thông thường:

    Quan sát khoa học

    Quan sát thông thường

    Sự quan sát luôn tuân theo 1 mục đích nhất định

    Quan sát không có mục đích rõ ràng

    Cần thực hiện theo kế hoạch tương ứng với mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trước đó

    Không tuân theo kế hoạch, mục tiêu

    Phải có sự ghi chép, nhật ký, biên bản quan sát

    Không có ghi chép

    Kết quả đòi hỏi phải kiểm tra lại về tính trung thực, độ tin cậy

    Kết quả thu nhận được không cần kiểm chứng, không cần kiểm tra tính trung thực

    b. Phân loại quan sát

    – Có nhiều tiêu chí để phân loại

    – Phân loại theo vị trí của người quan sát:

    + quan sát tham dự: người quan sát thâm nhập, tham gia, tham dự cùng với nhóm xã hội cần quan sát để thu thập thông tin. Để có thể quan sát khách quan thì người quan sát phải âm thầm, bí mật thâm nhập vào nhóm xã hội, cố ý thu mình lại, không để những người xung quanh chú ý đến sự hiện diện của mình. Đây là sự quan sát “từ bên trong” nên thông tin thu được có sự tin cậy khá cao.

    – Phân loại theo địa điểm:

    c. Đánh giá

    – Ưu điểm:

    + ít tốn nhân công, thời gian, chi phí

    + cho phép nắm bắt, ước lượng 1 cách trực tiếp, đầy đủ những đặc điểm, những mối liên hệ có thực đang diễn ra tự nhiên, bình thường trong cuộc sống

    + cho phép đánh giá nhanh chóng các giả thiết nghiên cứu, nhất là các giả thiết có tính chất mô tả

    – Nhược điểm:

    + chỉ bằng quan sát, khó xác định được mục đích, nguyên nhân của hành động, khó nắm bắt thế giới nội tâm, tâm lý của đối tượng quan sát

    + khó tránh khỏi sự áp đặt ý chí chủ quan của người quan sát lên đối tượng

     

    3. Phương pháp phỏng vấn

    a. Khái niệm

    – Phỏng vấn là cuộc nói chuyện được tiến hành theo 1 kế hoạch nhất định thông qua cách thức hỏi – đáp trực tiếp giữa người phỏng vấn và người cung cấp thông tin theo 1 bảng câu hỏi (phiếu điều tra) được chuẩn bị trước, trong đó, người phỏng vấn nên lên các câu hỏi cho đối tượng cần khảo sát, lắng nghe ý kiến trả lời, và ghi nhận kết quả vào phiếu điều tra.

    Chú ý: việc vừa lắng nghe, vừa ghi chép là rất khó thực hiện, vì tốc độ ghi chép chậm hơn nhiều so với tốc độ nói. Giải pháp có thêm người ghi tốc ký, tuy nhiên khi có người thứ 3 thì cuộc phỏng vấn có thể không thoải mái, người được phỏng vấn có thể trả lời không trung thực. Giải pháp khác là ghi âm, tuy nhiên phải xin phép trước khi ghi âm, và thực tế rất ít người đồng ý cho ghi âm Giải pháp cuối cùng là “ghi âm trộm”, tuy nhiên chỉ được dùng tệp ghi âm cho mục đích nghe lại và ghi chép lại cuộc phỏng vấn, không được dùng vào việc khác, đặc biệt là việc gây bất lợi cho người được phỏng vấn.

    b. Phân loại phương pháp phỏng vấn

    – Căn cứ vào diễn biến trình tự thực hiện cuộc phỏng vấn:

    + phỏng vấn tiêu chuẩn hóa: được diễn ra theo đúng trình tự nhất định với 1 nội dung đã vạch sẵn như nhau cho mọi người, người phỏng vấn tiến hành thu thập thông tin theo đúng bảng câu hỏi đã chuẩn bị trước, người phỏng vấn không được tùy tiện thay đổi nội dung hay trình tự câu hỏi, không được bổ sung câu hỏi và không được gợi ý phương án trả lời. Đặc điểm của phỏng vấn tiêu chuẩn là mang tính gò bó, khô khan, cứng nhắc. Phỏng vấn tiêu chuẩn phù hợp với đối tượng trả lời là chính khách, cán bộ lãnh đạo cấp cao (vì mỗi lời nói của những người này đều có sức ảnh hưởng rất lớn).

    – Căn cứ vào tính chất nông sâu của cuộc phỏng vấn:

    + phỏng vấn thường: về những vấn đề thông thường của đời sống PL, xã hội

    – Căn cứ vào số lượng người tham gia:

    + phỏng vấn cá nhân: 1 người hỏi và 1 người trả lời

    + phỏng vấn xã hội: 1 người hỏi và nhiều người trả lời.

    – Phỏng vấn qua điện thoại: thường được áp dụng khi muốn điều tra nhanh 1 vấn đề nóng bỏng trong xã hội mà dư luận đang quan tâm

    c. Trình tự dẫn dắt 1 cuộc phỏng vấn

    – Thông thưởng 1 cuộc phỏng vấn trải qua 5 bước:

    + B1: Thiết lập sự tiếp xúc bước đầu, mục đích là tạo không khí thân thiện, cởi mở cho cuộc phỏng vấn, chưa đi vào nội dung chính của cuộc phỏng vấn

    + B2: Củng cố cuộc tiếp xúc bằng các câu hỏi đầu tiên theo kế hoạch, thường là những câu hỏi dễ dàng mang tính khởi động như câu hỏi thông thường về cuộc sống, sinh hoạt, mối quan tâm, … của người được phỏng vấn

    + B3: Chuyển tới nội dung chính của cuộc phỏng vấn, nêu các câu hỏi chính đã chuẩn bị sẵn theo đúng thứ tự, không dẫn dắt trả lời. Người hỏi cần thể hiện thái độ cầu thị, chăm chú lắng nghe, khích lệ người trả lời, nếu người trả lời tỏ thái độ lúng túng, còn e ngại chưa cởi mở thì điều tra viên không nên cố ép phải trả lời mà có thể chuyển qua câu hỏi tiếp theo, để sau đó chờ lúc thích hợp quay trở lại câu hỏi đó.

    + B4: Nhanh chóng thiết lập lại cuộc phỏng vấn khi bị ngắt quãng vì lý do nào đó. Người trả lời vì lý do nào đó có thể từ chối việc trả lời câu hỏi, hoặc trả lời lan man, lệch trọng tâm, hoặc cuộc phỏng vấn bị ngắt quãng vì lý do khách quan (có điện thoại, có người khác vào, …). Khi đó điều tra viên phải biết dừng lại đúng lúc, biết gợi ý, khích lệ hoặc chuyển qua câu hỏi khác.

    + B5: Kết thúc cuộc phỏng vấn: điều tra viên đề nghị người trả lời cung cấp 1 số thông tin cá nhân (cần nhấn mạnh với người trả lời là những thông tin cá nhân chỉ nhằm mục đích thống kê hoa học), cảm ơn người trả lời và nhấn mạnh tầm quan trọng của những thông tin họ đã cung cấp.

    d. Đánh giá

    – Ưu điểm:

    + phỏng vấn là phương pháp nghiên cứu định tính cơ bản, cho phép thu thập được thông tin về thực tại cũng như quan điểm cá nhân, suy nghĩ, tình cảm của đối tượng điều tra

    + thông tin thu được có chất lượng cao vì tính chân thực và độ tin cậy của thông tin có thể được kiểm nhiệm ngay trong quá trình phỏng vấn

    – Nhược điểm:

    + việc tiếp xúc đối tượng phỏng vấn tương đối khó, lý do thường là không muốn bày tỏ quan điểm cá nhân, ngại tiếp xúc, ngại va chạm

     

    4. Phương pháp an-két

    a. Khái niệm

    – Phương pháp an-két là hình thức hỏi – đáp gián tiếp dựa trên bảng câu hỏi (phiếu trưng cầu ý kiến) được soạn thảo trước, theo đó điều tra viên tiến hành phát bảng câu hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời, người được hỏi tự đọc các câu hỏi, ghi trả lời vào phiếu hỏi, sau đó gửi lại điều tra viên.

    – Đặc trưng của phương pháp an-két là chỉ sử dụng 1 bảng câu hỏi đã được quy chuẩn, dùng để hỏi chung cho mọi người. Và thông thường nhà nghiên cứu không tiếp xúc trực tiếp với người trả lời, mà thông qua cộng tác viên phát câu hỏi, thu thập câu trả lời, và nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu trên thông tin trả lời đó.

    Câu hỏi: Về bản chất phương pháp phỏng vấn và phương pháp an-két là 1 vì đều sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông tin.

    Trả lời: Sai. Vì phương pháp phỏng vấn là hỏi –đáp trực tiếp giữa nhà nghiên cứu và người trả lời, còn phương pháp an-két là hỏi – đáp gián tiếp, tức là nhà nghiên cứu không tiếp xúc trực tiếp với người trả lời, mà thông qua cộng tác viên phát câu hỏi, thu thập câu trả lời, và nhà nghiên cứu thực hiện nghiên cứu trên thông tin trả lời đó.

    b. Phân loại

    – Căn cứ vào kết cấu câu hỏi:

    + phương pháp an-két đóng: sử dụng câu hỏi đóng (đã có sẵn các phướng án trả lời)

    + phương pháp an-két mở: sử dụng câu hỏi mở (chưa có phương án trả lời)

    – Căn cứ vào phương thức phát – thu phiếu an-két:

    + gửi phiếu qua đường bưu điện đến người trả lời và đợi phiếu quay trở về địa chỉ của nhà nghiên cứu: trường hợp này thì dịch vụ bưu điện thay cho vai trò cộng tác viên, đóng vai trò kết nối giữa nhà nghiên cứu với người cung cấp thông tin. Ưu điểm là tiết kiệm chi phí, nhưng cần chú ý cần phát dư số phiếu an-két vì khả năng thư đi không có thư về là khá cao.

    + phát phiếu an-két tại chỗ qua đội ngũ cộng tác viên: cộng tác viên trực tiếp phát ra và thu về phiếu an-két

    c. Kết cấu của phiếu an-két

    – Thông thường phiếu an-két có kết cấu 3 phần:

    + phần mở đầu: trình bày mục tiêu, ý nghĩa của cuộc điều tra, tên cơ quan nghiên cứu, hướng dẫn cách trả lời, kêu gọi sự hợp tác, giúp đỡ của người trả lời phiếu

    + phần nội dung: các câu hỏi về nội dung của đề tài nghiên cứu

    + phần kết thúc: các câu hỏi về đặc điểm nhân khẩu – xã hội của người trả lời, cảm ơn người trả lời, đánh giá cao thông tin mà người trả lời đã cung cấp.

    d. Đánh giá

    – Ưu điểm:

    + an-két là phương pháp nghiên cứu định lượng, có thể triển khai trên quy mô rộng, thu thập ý kiến của nhiều người cùng lúc

    – Nhược điểm:

    + việc soạn thảo bảng câu hỏi đòi hỏi chuyên gia có kinh nghiệm, trình độ cao cả về lý luận và thực tiễn

     

    5. Phương pháp thực nghiệm

    a. Khái niệm

    – Trong phương pháp thực nghiệm, nhà nghiên cứu tạo ra 1 sự kiện, tình huống pháp lý gần giống với sự kiện, tình huống thực tế đã xảy ra trong thực tiễn đời sống PL, qua đó quan sát các hoạt động, cách ứng xử của những người tham gia vào sự kiện, tình huống đó nhằm thu thập những thông tin cần thiết cho vấn đề, sự kiện PL cần nghiên cứu, kiểm tra những giả thuyết đang nghiên cứu.

    VD: khi nghiên cứu vụ án hình sự, nhà nghiên cứu áp dụng phương pháp thực nghiệm để “dựng lại hiện trường” vụ án để kiểm tra tính xác thực của các tình tiết trong vụ án.

    b. Phân biệt phương pháp thực nghiệm với phương pháp quan sát

    Phương pháp thực nghiệm

    Phương pháp quan sát

    Giống nhau:

    + đều là hoạt động thực tiễn, có định hướng nhất định nhằm vào 1 hiện tượng xã hội để thu nhận thông tin

    + đều sử dụng tri giác trực tiếp để nhìn, nhận xét tình huống đang diễn ra

    Quan sát sự kiện do chính các nhà nghiên cứu tạo dựng nội dung: đã có sự chi phối, can thiệp của người nghiên cứu

    Là sự quan sát hiện tượng đang diễn ra tự nhiên trong cuộc sống, không có sự can thiệp của ý chí chủ quan của người thực hiện

    Tình huống nhân tạo

    Tình huống tự nhiên

    c. Đánh giá

    – Ưu điểm:

    + ít tốn kém về thời gian, kinh phí, nhân lực mà vẫn có thể thu được thông tin có chất lượng và độ tin cậy cao

    + nhanh chóng kiểm tra, đánh giá được tính đúng – sai, phù hợp – không phù hợp của giả thuyết nghiên cứu

    – Nhược điểm:

    + rất khó tạo ra được sự kiện, tình huống PL giống với thực tế

    + đòi hỏi phải có chuyên gia trình độ cao, nhiều kinh nghiệm thực tiễn

     

    Vấn đề 3: Pháp luật trong mối liên hệ với cơ cấu xã hội

    I. Nguồn gốc, bản chất xã hội, các chức năng xã hội của PL

    (Tài liệu: Giáo trình xã hội học PL, chương 3)

    1. Nguồn gốc xã hội của pháp luật

    – Pháp luật luôn gắn liền với nhà nước, nhà nước ra đời thì ngay lập tức tạo ra pháp luật.

    – Theo lý thuyết thần học: nhà nước và PL do “thượng đế” sáng tạo ra để bảo vệ trật tự chung của xã hội

    – Theo lý thuyết nguồn gốc tự nhiên: NN và PL hình thành theo nhu cầu của con người, đây là tư tưởng của những thiết gia nổi tiếng thời cổ đại như Platon, Aristot

    – Theo lý thuyết về khế ước xã hội: để tránh những cuộc chiến nguy hiểm của con người chống lại con người, thì con người tập hợp lại với nhau và cùng thỏa thuận nhượng 1 số quyền cho quyền lực chung là NN và PL, đây được gọi là khế ước xã hội, các học giả nổi tiếng của thuyết này là T. Hobben, J. Locke, Montesqieur, J. Rouseau

    – Học thuyết bạo lực: NN và PL ra đời do các cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc, sự chinh phục của bộ lạc này với bộ lạc khác, đại diện của học thuyết này là E. Đuy-ring, L. Gumplovich

    – Theo quan điểm mac-xit:

    + xã hội cộng sản nguyên thủy đã trải qua 3 lần phân công lao động xã hội:

    + NN cần có công cụ để điều hòa xã hội, đó chính là PL, PL thể hiện ý chí của giai cấp thống trị về duy trì trật tự xã hội.

    2. Bản chất xã hội của pháp luật

    – Hai quan điểm về PL:

    + pháp luật thực định: (còn gọi là pháp luật trên giấy tờ) gắn với ý chí của NN, do NN ban hành.

    Khái niệm PL: PL là hệ thống các quy tắc xử sự do NN ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

    + pháp luật tự nhiên: là 1 loại chuẩn mực xã hội bên cạnh những chuẩn mực xã hội khác, gắn với lợi ích con người, xuất phát từ nhu cầu của con người

    – Quan điểm pháp luật tự nhiên chính là cơ sở lý luận, là nền tảng của xã hội học pháp luật. Theo đó nhận thức về pháp luật phải dựa trên 2 yếu tố:

    + bình đẳng: nhận thức về pháp luật như là mức độ ngang nhau của tự do trong các quan hệ xã hội

    + lợi ích: để điều chỉnh hành vi luôn xuất phát từ phạm trù lợi ích, đây là phạm trù then chốt của xã hội học

    – Trong xã hội học pháp luật, pháp luật được hiểu là hình thức thực hiện các lợi ích xã hội theo nguyên tắc bình đẳng. Các lợi ích xã hội được thực hiện dưới hình thức pháp luật khi và chỉ khi nó không làm tổn hại đến lợi ích của chủ thể khác (tức là không được tạo ra đặc quyền, đặc lợi cho lợi ích này mà gây tổn hại đến lợi ích khác)

    – Các đặc trưng cơ bản của pháp luật:

    + tính chuẩn mực của pháp luật: PL là hệ thống các quy tắc xử sự, là những “khuôn mẫu” được xác định 1 cách cụ thể, rõ ràng. Thường biểu hiện dưới dạng “cái có thể”, “cái được phép”, “cái không được phép”, “cái bắt buộc thực hiện”, … và nếu vượt ra khỏi phạm vi đó thì bị coi là vi phạm PL.

    Chuẩn mực pháp luật khác với các chuẩn mực xã hội khác là nó mang tính cưỡng bức của NN.

    + tính ý chí của pháp luật: PL là ý chí của NN, của giai cấp thống trị

    + tính cưỡng chế của pháp luật: NN thông qua các công cụ quyền lực của mình như quân đội, cảnh sát, nhà tù, … để đảm bảo PL do NN ban hành được thực thi trong thực tế

    – Vai trò của pháp luật:

    + PL là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền lực NN

    + PL là phương tiện để NN quản lý kinh tế, xã hội

    + PL góp phần tạo dựng những quan hệ xã hội mới

    + PL tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia

    3. Các chức năng xã hội của pháp luật

    Chức năng điều hòa, giải quyết các xung đột: đây là chức năng cơ bản, quan trọng nhất của PL. Xung đột ở đây được hiểu là xung đột giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân với tổ chức, và giữa các tổ chức với nhau. Các chế định PL cho chức năng này là các tòa án (tòa hình sự, tòa dân sự, tòa lao động, tòa hôn nhân gia đình, tòa kinh tế, …).

    Chức năng bảo vệ:

    + PL là công cụ để duy trì, bảo vệ trật tự xã hội, bảo vệ lợi ích NN và nhân dân

    + PL bảo vệ, củng cố và điều chỉnh những quan hệ xã hội phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị

    + PL bảo vệ quan hệ sở hữu, điều chỉnh các phương pháp và hình thức phân công lao động, phân phối sản phẩm giữa các thành viên của xã hội

    Chức năng giáo dục: các thành viên của xã hội (cá nhân, tổ chức) đều phải tuân thủ PL, qua đó PL tác động vào ý thức con người, chi phối ý thức và điều chỉnh hành vi của cá nhân sao cho phù hợp với ý chí chung của xã hội.

     

    (Tập bài giảng XHH, chương II)

    1. Khái niệm cơ cấu xã hội

    – Cơ cấu xã hội là kết cấu và hình thức tổ chức xã hội bên trong của hệ thống xã hội nhất định, biểu hiện như là sự thống nhất tương đối bền vững của các nhân tố, các mối liên hệ, các thành phần cơ bản nhất của hệ thống xã hội đó. Những thành tố này tạo ra bộ khung cho tất cả xã hội loài người. Những thành tố cơ bản nhất của cơ cấu xã hội là nhóm xã hội với vai trò, vị thế của nó và các thiết chế.

    – Các đặc trưng của cơ cấu xã hội:

    + cơ cấu xã hội không những được xem như là tổng thể, tập hợp các bộ phận cấu thành xã hội, mà còn được xem xét về mặt kết cấu và hình thức tổ chức bên trong của hệ thống xã hội. Tức là cơ cấu xã hội giải thích được: xã hội được cấu thành từ những thành tố nào, theo kiểu gì, cách thức sắp xếp và liên kết giữa các bộ phận, các thành tố như thế nào.

    + cơ cấu xã hội là sự thống nhất của 2 mặt: các thành phần xã hội và các mối liên hệ xã hội

    a. Nhóm xã hội

    – Đây là khái niệm được dùng phổ biến và rộng rãi trong các nghiên cứu xã hội học nói chung và xã hội học PL nói riêng.

    – Nhóm xã hội là 1 khái niệm “linh hoạt”:

    + theo nghĩa rộng: dùng để chỉ 1 giai cấp, 1 tầng lớp xã hội (gồm hàng triệu người). VD tầng lớp công nhân, tầng lớp trí thức

    + theo nghĩa hẹp: dùng để 1 tập thể gồm từ 2 người trở lên mà giữa họ có mối liên hệ nhất định với nhau. VD nhóm xã hội nhỏ nhất là 2 vợ chồng

    – Chú ý: nhóm xã hội khác với đám đông người: đám đông người chỉ là tập hợp người ngẫu nhiên đơn thuần, không có mối liên hệ nội tại nào bên trong; còn nhóm xã hội có mối liên hệ với nhau.

    – Định nghĩa: Nhóm xã hội là khái niệm dùng để chỉ tập hợp những cá nhân con người có chung quan điểm, sở thích, định hướng, giá trị, chuẩn mực xã hội. Nói cách khác, nhóm xã hội là sự liên kết giữa những con người dựa trên những tiêu chí, tiêu chuẩn liên kết nhất định.

    VD: tập thể lớp K14CCQ là 1 nhóm xã hội

    – Phân loại nhóm xã hội theo số lượng thành viên:

    + nhóm xã hội lớn

    + nhóm xã hội nhỏ

    Chú ý: tính “lớn” hay “nhỏ” chỉ mang tính tương đối.

    – Căn cứ vào tính chất của mối liên kết giữa các thành viên:

    + nhóm xã hội chính thức: là nhóm xã hội trong đó mối liên hệ giữa các thành viên mang tính bền vững, ổn định, dài lâu. VD tập thể lớp K14CCQ là 1 nhóm xã hội chính thức

    + nhóm xã hội không chính thức: là nhóm xã hội trong đó mối liên hệ giữa các thành viên chỉ mang tính nhất thời, lỏng lẻo, trong khoảng thời gian nhất định. VD cổ động viên trong 1 trận đấu bóng đá là 1 nhóm xã hội, nhưng chỉ hình thành trong 90 phút của trận đấu, kết thúc trận đấu thì nhóm xã hội đó cũng không còn nữa

     

    ——————-

    Ngày 26/02/2017

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    (tiếp bài trước)

    b. Vị thế xã hội

    – Khái niệm: Vị thế xã hội là vị trí (chỗ đứng) của 1 cá nhân trong xã hội và mối quan hệ giữa cá nhân đó với những người xung quanh.

    – Thông thường, mỗi cá nhân có nhiều vị thế trong xã hội, nhưng trong số đó, vị thế xã hội quan trọng nhất, giữ vai trò chủ đạo trong việc xem xét đánh giá các đặc điểm xã hội của cá nhân là vị thế do nghề nghiệp của cá nhân đó tạo nên (gọi là vị thế nghề nghiệp)

    – Vị thế gồm 2 loại:

    + vị thế tự nhiên: là vị thế gắn với những thiên chức, nhưng đặc điểm cơ bản mà cá nhân không thể tự kiểm soát được. VD giới tính, lứa tuổi, chủng tộc, …

    + vị thế xã hội: là vị thế phụ thuộc vào những đặc điểm mà trong chừng mực nhất định cá nhân có thể kiểm soát được. Vị thế xã hội phụ thuộc vào sự nỗ lực phấn đấu và nghị lực vươn lên của cá nhân.

    Trong quá trình cá nhân phấn đấu cho 1 vị thế xã hội nhất định, có các yếu tố ảnh hưởng:

    + địa vị kinh tế: được tạo nên từ tài sản, tiền tài cá nhân (thường được gọi “triệu phú”, “tỷ phú”)

    + địa vị chính trị: quyền lực chính trị mà NN trao cho 1 người (chính trị gia, chính khách, quan chức)

    + địa vị xã hội: năng lực chuyên môn, phẩm chất nghề nghiệp, uy tín của cá nhân đối với tập thể

    Chỉ có địa vị xã hội mới là địa vị đích thực mà 1 cá nhân tạo dựng nên cho mình.

    c. Vai trò

    – Khái niệm: Vai trò là tập hợp các chuẩn mực, hành vi, nghĩa vụ và quyền lợi gắn liền với vị thế xã hội nhất định.

    VD: Giảng viên là 1 vị thế xã hội, vai trò của giảng viên thực hiện công việc giảng dạy cho sinh viên, phải tuân thủ các chuẩn mực của 1 giảng viên mà PL và XH đã quy định

    d. Thiết chế xã hội

    – Khái niệm: Thiết chế xã hội là tập hợp bền vững các giá trị, chuẩn mực, vị thế, vai trò và nhóm vận động xung quanh nhu cầu cơ bản của xã hội.

    VD:

    + thiết chế chính trị: đảm bảo việc thiết lập và giữ vững quyền lực chính trị

    + thiết chế pháp luật: đảm bảo trật tự, công bằng xã hội và kiểm soát xã hội

    + thiết chế kinh tế: đảm bảo quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối lợi ích của hàng hóa, dịch vụ

    + thiết chế gia đình: điều hòa hành vi tình cảm, tình dục, nuôi dạy con cái

    + thiết chế giáo dục: truyền thụ những tri thức văn hóa cho thế hệ trẻ, kế thừa và phát triển các tri thức khoa học

    + …

     

    III. Các phân hệ cơ cấu xã hội và mối liên hệ với pháp luật

    1. Cơ cấu xã hội – nhân khẩu và mối liên hệ với pháp luật

    – Cơ cấu xã hội – nhân khẩu là 1 phân hệ của xã hội theo 1 cơ cấu bộ phận được xem xét, đánh giá dựa vào 3 dấu hiệu quan trọng về mặt sinh học – xã hội của con người: giới tính, lứa tuổi, và tình trạng hôn nhân.

    a. Cơ cấu giới tính

    – Cơ cấu giới tính là sự phân chia tổng số thành viên trong xã hội thành số người nam và số người nữ.

    – Xét theo cơ cấu xã hội học giới tính, thì toàn bộ số thành viên trong xã hội chia vùng về cơ bản chỉ gồm 2 bộ phận là nam và nữ.

    – Nam và nữ tồn tại nhiều sự khác biệt về mặt xã hội, như thể chất, năng lực chuyên môn, trình độ học vấn, tâm lý giới tính, vị thế xã hội, vai trò chức năng trong gia đình và ngoài xã hội, … Do đó cần điều chỉnh tỷ lệ cơ cấu giới tính sao cho phù hợp với yêu cầu thực tế của xã hội, và sao cho để cho mỗi nhóm cơ cấu (nam và nữ) có sự đóng góp lớn nhất cho sự phát triển của xã hội.

    – Nam, nữ bình quyền được luật hóa: trong Hiến pháp, Luật bình đẳng giới

    – Quan hệ nam, nữ được điều chỉnh trong Luật hôn nhân và gia đình

    – Giải quyết mâu thuẫn nam, nữ: Luật phòng chống bạo lực gia đình

    – Luật lao động: quy định những ưu tiên khi phụ nữ sinh đẻ, về những công việc (nặng nhọc, độc hại) mà phụ nữ không được làm (để bảo vệ sức khỏe nữ giới)

    b. Cơ cấu lứa tuổi

    – Phân chia các thành viên trong xã hội thành những nhóm tuổi, độ tuổi nhất định tùy theo mục đích của cuộc khảo sát, nghiên cứu.

    VD: nghiên cứu về nguồn nhân lực lao động sẽ gồm các nhóm:

    + nhóm chưa đến tuổi lao động: dưới 15 tuổi

    + nhóm trong độ tuổi lao động: nam từ 15 đến 60, nữ từ 15 đến 55

    + nhóm hết độ tuổi lao động: nam trên 60, nữ trên 55

    VD: có thể chia thành:

    + nhóm trẻ em: quy định trong Hiến pháp, Luật lao động, Luật bảo vệ trẻ em, Luật giáo dục, Luật hình sự

    Tuy nhiên: quy định về độ tuổi được coi là trẻ em hiện đang có sự mâu thuẫn trong các văn bản Luật

    + nhóm thanh niên: quy định trong Hiến pháp, Luật thanh niên, Luật hôn nhân gia đình, Luật nghĩa vụ quân sự, Luật dạy nghề, Luật đại học, Luật lao động, Luật cán bộ công chức, Luật viên chức, …

    + nhóm người cao tuổi: quy định trong Luật người cao tuổi, Luật về hội

    – Thông thường nghiên cứu cơ cấu xã hội – nhân khẩu theo đồng thời cả 2 tiêu chí giới tính và lứa tuổi

    c. Cơ cấu tình trạng hôn nhân

    – Cơ cấu nhân khẩu theo tình trạng hôn nhân là sự phân chia dân số trên 15 tuổi thành các nhóm:

    + Nhóm chưa bao giờ kết hôn

    + Nhóm đang trong hôn nhân: quy định trong Luật Hôn nhân gia đình

    + Nhóm góa: chồng chết hoặc vợ chết

    + Nhóm ly thân: PL VN hiện chưa thừa nhận tình trạng hôn nhân này

    + Nhóm ly hôn: là 1 chế định trong luật hôn nhân gia đình

    + Nhóm liên minh tự do: (thuật ngữ dùng ở phương Tây) nam, nữ chưa vợ chưa chồng sống chung như vợ chồng với nhau, không đăng ký kết hôn, vẫn có con chung (ở VN có 1 thời gian dùng thuật ngữ “hôn nhân thực tế” để chỉ nhóm này)

    2. Cơ cấu xã hội – lãnh thổ

    – Được phân chia dựa trên hình thức tổ chức cư trú, lao động, sinh hoạt của cộng đồng dân cư. Theo đó về cơ bản có 2 cộng đồng:

    + cộng đồng đô thị

    + cộng đồng nông thôn

    – Hai cộng đồng xã hội đô thị và nông thôn có sự khác biệt về điều kiện sống, điều kiện sinh hoạt, trình độ sản xuất, cơ sở hạ tầng, lối sống, các đặc trưng văn hóa, thiết chế xã hội, …

    + Vấn đề được lãnh thổ được quy định ngay trong Hiến pháp: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời.”

    + với cộng đồng đô thị: Luật quy hoạch đô thị 2009,

    + với cộng đồng nông thôn: chưa có Luật nông thôn, chỉ có các văn bản dưới luật

    + ngoài ra còn có Luật tổ chức chính quyền địa phương

    3. Cơ cấu xã hội – dân tộc

    – Được phân chia dựa trên tiêu chí dân tộc, theo đó VN có cơ cấu 54 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 87%

    – Với các dân tộc thiểu số, ngoài các chính sách hỗ trợ, phát triển dân tộc, cần chú ý vấn đề luật tục của từng dân tộc

    4. Cơ cấu xã hội – nghề nghiệp

    – Là sự phân chia tổng số thành viên xã hội theo nghề nghiệp mà họ đang thực hiện

    – Cơ cấu nghề nghiệp ở đô thị phong phú hơn so với cơ cấu nghề nghiệp ở nông thôn.

    – PL điều chỉnh gồm có: Luật lao động, Luật giáo dục đại học, Luật dạy nghề, Luật cán bộ công chức, Luật viên chức, …

    5. Cơ cấu xã hội – giai cấp

    – Là sự phân chia tổng số thành viên xã hội thành những giai cấp, tầng lớp xã hội tùy theo tính chất, địa vị giai cấp của họ

    – Sự xuất hiện của giai cấp, tầng lớp xã hội chính là nguyên nhân dẫn tới sự ra đời của NN, và từ đó dẫn tới sự ra đời của PL

    – Sự xuất hiện của giai cấp, tầng lớp xã hội chính là nguyên nhân dẫn tới sự hình thành hệ thống chính trị, mô hình tổ chức khác nhau của từng quốc gia cụ thể. Có 3 thành phần chủ yếu:

    + đảng chính trị: ở NN tư bản là hình thức đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập; còn ở VN là nhất nguyên chính trị, 1 đảng

    + Nhà nước: là thành tố trung tâm của bất cứ chế độ chính trị nào. NN là hiện thân của đảng chính trị, mà đảng chính trị là đại diện cho giai cấp cầm quyền trong xã hội

    + các tổ chức chính trị xã hội hợp pháp: là các tổ chức chính trị được PL thừa nhận, ở VN quan trọng nhất là Mặt trận tổ quốc

     

    IV. Phân tầng xã hội và mối liên hệ với pháp luật

    – Khái niệm: là sự phân chia tầng lớp trong xã hội.

     

    ——————–

    Ngày 05/03/2017

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    Vấn đề 4: Pháp luật trong mối liên hệ với chuẩn mực xã hội

    I. Khái quát về chuẩn mực xã hội

    1. Khái niệm chuẩn mực xã hội

    – Khái niệm: Là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội đối với mỗi cá nhân, nhóm xã hội, trong đó xác định ít hay nhiều sự chính xác về tính chất, mức độ, phạm vi, giới hạn của cái có thể, cái được phép, cái không được phép, hay cái bắt buộc phải thực hiện trong hành vi xã hội của mỗi người nhằm củng cố, đảm bảo sự ổn định xã hội, giữ gìn trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội.

    – Đặc điểm:

    + chuẩn mực xã hội là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của xã hội, do chính các thành viên của xã hội đặt ra nhằm áp đặt cho mỗi hành vi xã hội của mỗi người. Đặc điểm này cho thấy chuẩn mực xã hội là do con người làm ra chứ không phải là do “thánh thần” áp đặt cho con người (loại bỏ nguồn gốc thần học).

    • Cái có thể: khả năng thực hiện hay không thực hiện 1 hành vi xã hội của con người khi tham gia vào quan hệ xã hội cụ thể. VD thấy 1 người ngã xuống sông có nguy cơ chết đuối thì người phát hiện có nhảy xuống cứu hay không phụ thuộc vào việc người đó có biết bơi hay không, và việc có sẵn lòng cứu người hay không.
    • Cái được phép: những hành vi, hoạt động của con người đã và đang được phép thực hiện trong cuộc sống hàng ngày, phù hợp với các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của chuẩn mực xã hội nói chung và của PL nói riêng khi họ tham gia vào quan hệ xã hội. VD đi bộ trên vỉa hè, công dân được phép kinh doanh tất cả những gì PL không cấm
    • Cái không được phép: những hành vi, hoạt động mà chuẩn mực xã hội cấm cá nhân thực hiện vì chúng gây ra hoặc có thể gây ra sự nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quan hệ xã hội. Thông thường cái không được phép được quy định trong chuẩn mực PL (các quy phạm cấm trong luật Hành chính, luật Hình sự). VD không được vượt đèn đỏ, trông được trộm cắp tài sản của người khác
    • Cái bắt buộc phải thực hiện: những hành vi, hoạt động mà chuẩn mực xã hội buộc cá nhân phải thực hiện, dù muốn hay không muốn, khi tham gia 1 quan hệ xã hội nhất định (thường được quy định trong PL hình sự). VD thấy người khác trong hoàn cảnh nguy hiểm đến tính mạng mà mình có điều kiện cứu giúp thì bắt buộc phải cứu giúp người bị nạn, nếu không thực hiện sẽ phải chịu trách nhiệm theo Điều 102: Tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng. VD biết người phạm tội đang ẩn nấp mà không tố cáo thì sẽ bị khép tội Không tố giác tội phạm

    + hướng tới thực hiện các chức năng xã hội: góp phần tạo ra sự ổn định xã hội giữ gìn và bảo vệ trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội.

    2. Phân loại chuẩn mực xã hội

    a. Theo tính chất phổ biến

    – Chuẩn mực xã hội công khai: được phổ biến công khai, rộng rãi trong xã hội để mọi người cùng biết và tuân thủ, qua đó đảm bảo kỷ cương, an toàn xã hội. VD hiến pháp, các bộ luật sau khi được thông qua thì sẽ được phổ biến, tuyên truyền, giáo dục đến mọi tầng lớp nhân dân

    – Chuẩn mực xã hội ngầm ẩn: chỉ được công bố và áp dụng trong phạm vi nhóm xã hội nhất định, để cho các thành viên của nhóm đó thực hiện. VD luật omerta (im lặng hay là chết) của giới maphia ở Ý, theo đó thành viên của maphia Ý khi bị bắt thì phải tuyệt đối im lặng không được khai báo với cảnh sát, nếu không sẽ bị thủ tiêu

    b. Theo đặc điểm ghi chép lại hay không ghi chép lại

    – Chuẩn mực xã hội thành văn: là loại chuẩn mực xã hội mà các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi được ghi chép lại thành văn bản, gồm 3 loại

    + chuẩn mực pháp luật: các quy phạm PL đều được thể hiện trong các bộ luật và các văn bản PL khác

    + chuẩn mực chính trị

    + chuẩn mực tôn giáo

    – Chuẩn mực xã hội bất thành văn: là chuẩn mực xã hội có các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi của chúng không được ghi chép thành văn bản, mà được lưu truyền thông qua truyền miệng từ thế hệ này sang thế hệ khác, gồm 3 loại:

    + chuẩn mực đạo đức

    + chuẩn mực phong tục tập quán

    + chuẩn mực thẩm mỹ

    3. Các đặc trưng cơ bản của chuẩn mực xã hội

    – Chuẩn mực xã hội dùng là công khai hay ngầm ẩn, thành văn hay bất thành văn đều có 3 đặc điểm sau:

    + Tính tất yếu xã hội: các chuẩn mực xã hội đều được hình thành từ chính các thành viên của xã hội nhằm củng cố, bảo vệ, phục vụ nhu cầu, lợi ích của họ. Ngoài ra, chuẩn mực xã hội còn mang tính lợi ích và tính bắt buộc thực hiện, tức là mọi thành viên của xã hội, dù muốn hay không muốn, đều phải tuân thủ theo, nếu không tuân theo sẽ bị phê phán, lên án, hoặc trừng phạt. VD: Hiến pháp là tất yếu xã hội vì xã hội cần có 1 đạo luật gốc, đạo luật cơ bản để trên cơ sở đó xây dựng các đạo luật cụ thể. VD luật hình sự, luật dân sự là tất yếu xã hội vì xã hội cần có chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tế cuộc sống hàng ngày.

    + Tính định hướng của chuẩn mực xã hội theo không gian, thời gian và đối tượng: Ví dụ với các đạo luật luôn có quy định về hiệu lực theo không gian (thường có phạm vi trên toàn lãnh thổ, hoặc 1 bộ phận của lãnh thổ như Luật thủ đô, Luật quy hoặc đô thị, Luật biển), theo thời gian (có hiệu lực kể từ ngày), và theo đối tượng (như Thanh niên, Luật người cao tuổi)

    + Tính vận động, biến đổi của chuẩn mực xã hội theo không gian, thời gian, giai cấp, dân tộc:

    • Chuẩn mực xã hội không mang tính bất biến hay tồn tại vĩnh hằng, mà chúng luôn được đặt trong sự vận động, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội, của cộng đồng, và của các nhóm xã hội. Trong quá trình vận động, biến đổi đó, có những chuẩn mực xã hội sau khi hình thành đã phát huy được vai trò, tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội; tuy nhiên cùng với thời gian chúng có thể trở nên lạc hậu, lỗi thời không phù hợp với xã hội hiện tại. Khi đó chúng sẽ tự mất đi hoặc bị thay thế bằng chuẩn mực xã hội mới phù hợp hơn, tiến bộ hơn. VD trước kia có truyền thống đốt pháo nổ ngày tết, sau đó tục lệ này đã bị loại bỏ do sự nguy hiểm của nó
    • Đối với mỗi chế độ xã hội, mỗi nhà nước đều có hệ thống các chuẩn mực xã hội riêng của mình tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội có tính phổ biến, điển hình trong xã hội ở từng giai đoạn cụ thể. VD trong xã hội chiếm hữu nô lệ thì quan hệ xã hội phổ biến, điển hình là quan hệ chủ nô và nô lệ
    • Có những chuẩn mực xã hội được phổ biến, tuân thủ ở 1 giai cấp, dân tộc này, nhưng lại không được phổ biến, không được tuân thủ ở 1 giai cấp, dân tộc khác. VD một số phong tục, tập quán của dân tộc Thái (như phong tục “chọc sàn”) không được phổ biến, áp dụng với người Kinh. VD trong triều đại nhà Trần có quy định hoàng tộc không được lấy người ngoài mà chỉ được lấy người trong họ.

     

    II. Các loại chuẩn mực xã hội và mối quan hệ của chúng với pháp luật

    1. Chuẩn mực chính trị

    a. Khái niệm chuẩn mực chính trị

    – Chuẩn mực chính trị là hệ thống những quy tắc, yêu cầu được xác lập nhằm điều tiết, điều hòa mối quan hệ chính trị – quyền lực giữa các giai cấp, đảng phái chính trị, các tập hợp chính trị khác nhau trong 1 xã hội nhất định hoặc xác lập mối quan hệ chính trị giữa các NN với nhau.

    – Hai phương diện của chuẩn mực chính trị:

    + chuẩn mực chính trị đối nội: là các quy tắc, yêu cầu được xác lập nhằm điều tiết, điều hòa mối quan hệ chính trị – quyền lực giữa các giai cấp, đảng phái chính trị, các tập hợp chính trị khác nhau trong phạm vi nội bộ 1 quốc gia

    + chuẩn mực chính trị đối ngoại: các nguyên tắc ngoại giao, các quy tắc ứng xử quốc tế, điều ước quốc tế nhằm điều tiết quan hệ giữa các NN với nhau. Có 2 loại:

    • Quan hệ chính trị song phương: quan hệ chính trị giữa NN này với NN khác
    • Quan hệ chính trị đa phương: quan hệ chính trị giữa 1 NN với 1 nhóm NN khác (VD quan hệ giữa VN với EU), hoặc giữa 1 nhóm NN này với 1 nhóm NN khác, VD quan hệ giữa ASEAN với EU

    b. Đặc điểm của chuẩn mực chính trị

    – Là loại chuẩn mực xã hội thành văn, nhưng phần lớn các quy tắc, yêu cầu của nó được ghi chép trong các chuẩn mực xã hội thành văn khác, như được ghi chép trong chuẩn mực pháp luật (gồm chủ trương, đường lối, cương lĩnh chính trị của đảng cầm quyền), chuẩn mực tôn giáo (trong các quốc gia Hồi giáo, Thiên chúa giáo), …

    Câu hỏi: Tại sao chuẩn mực chính trị lại được thể hiện trong chuẩn mực pháp luật ?

    Câu hỏi: Tại sao lại không ban hành luật về đảng tại VN ?

    Trả lời: Vì nếu có luật về đảng thì tức là đã luật hóa Điều lệ đảng, mà điều lệ đảng chỉ có hiệu lực trong phạm vi đảng viên, với người không phải là đảng viên thì không có bổn phận phải tuân theo điều lệ đảng

    – Ý nghĩa và việc áp dụng các chuẩn mực chính trị chỉ mang tính tương đối: cùng với sự vận động phát triển của xã hội qua các thời kỳ khác nhau mà giá trị, ý nghĩa của các chuẩn mực chính trị chỉ phát huy ở những giai đoạn, thời kỳ lịch sử nhất định. Điều này đúng với cả chuẩn mực đối nội và chuẩn mực chính trị đối ngoại. VD ở nước Mỹ, khi 1 đảng trúng cử và cầm quyền thì sẽ thi hành các chuẩn mực chính trị của mình (tức là thực hiện cương lĩnh, chính sách, đường lối), đến kết nhiệm kỳ nếu không tiếp tục trúng cử thì đảng khác lên cầm quyền, và chuẩn mực chính trị của đảng thất cử sẽ bị mất đi ý nghĩa (được thay thế bằng chuẩn mực chính trị của đảng cẩm quyền mới đắc cử).

    c. Mối quan hệ giữa chuẩn mực chính trị và pháp luật

    – Chuẩn mực chính trị và PL có mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ, gắn bó với nhau, song hành với nhau “như hình với bóng”, trong đó:

    + chính trị là nền tảng, định hướng để hình thành nên bộ máy NN và xây dựng PL

    + ngược lại, PL là công cụ để giai cấp cầm quyền có thể thực hiện quyền lực chính trị của mình

    – Chuẩn mực chính trị là định hướng để hình thành, phát triển hệ thống PL của quốc gia.

    – Chuẩn mực chính trị trong mối quan hệ giữa các NN với nhau là cơ sở góp phần hình thành nên hệ thống PL quốc tế.

    – Ngược lại, PL là công cụ, phương tiện để định hướng, điều chỉnh hoạt động của các giai cấp, đảng phái, nhằm đảm bảo sự ổn định, phát triển của xã hội.

    2. Chuẩn mực tôn giáo

    a. Khái niệm

    – Chuẩn mực tôn giáo là hệ thống các quy tắc, yêu cầu được xác lập dựa trên những tín điều, giáo lý tôn giáo, những quy ước về lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo cùng với các thiết chế tôn giáo (nhà thờ, chùa, thánh đường), được ghi chép và thể hiện trong các bộ kinh của các dòng tôn giáo.

    – Một tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố:

    + giáo chủ: là lực lượng siêu tự nhiên, được cộng đồng tôn giáo đó tôn thờ, “thần thánh hóa”, trở thành linh thiêng và tác động ngược trở lại tới niềm tin của con người. VD giáo chủ của Phật giáo là Phật tổ Thích ca mâu ni, giáo chủ của Thiên chúa giáo là Chúa Jesus, giáo chủ của Hồi giáo là Thánh Allah.

    Chú ý: người đứng đầu giáo hội không phải là giáo chủ: giáo chủ là người sáng lập ra tôn giáo, chỉ có duy nhất, còn người đứng đầu giáo hội là người được các tông đồ bầu lên đứng đầu cộng đồng tôn giáo đó

    + giáo hội: là cơ quan trị sự điều hành hoạt động của cộng đồng tôn giáo trên phạm vi quốc tế và quốc gia

    + giáo dân: là cộng đồng những người có cùng niềm tin vào giáo chủ, giáo lý. VD giáo dân của Thiên chúa giáo được gọi là con chiên, giáo dân của Phật giáo là tăng ni, phật tử, giáo dân của Hồi giáo là tín đồ

    + giáo lý: là những quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi mà tất cả giáo dân phải tuân theo. Giáo lý thường được ghi chép trong các bộ kinh của tôn giáo

    Chú ý: phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng:

    + cả tôn giáo và tín ngưỡng đều dựa trên cơ sở niềm tin của con người vào các lực lượng siêu tự nhiên (Chúa, Thượng đế, Ngọc hoàng, Phật, …) và đều dựa trên tâm lý sợ hãi để tuyên truyền

    + tôn giáo khác với tín ngưỡng ở chỗ để được coi là tôn giáo phải có đủ 4 yếu tố: giáo chủ, giáo hội, giáo dân, giáo lý

    b. Đặc điểm của chuẩn mực tôn giáo

    – Chuẩn mực tôn giáo là chuẩn mực xã hội thành văn, được thể hiện trong các giáo điều, giáo lý được ghi chép trong các bộ kinh (như Kinh Thánh, Kinh Phật, Kinh Coran).

    – Chuẩn mực tôn giáo được hình thành xuất phát từ niềm tin thiêng liêng, sâu sắc của con người vào sức mạnh thần bí của các lực lượng siêu nhiên như Thượng Đế, Đức Phật, Chúa Trời. Chừng nào trong tự nhiên, trong xã hội vẫn còn những sự kiện, hiện tượng thần kỳ, bí ẩn mà khoa học hiện đại chưa thể giải thích, chưa thể làm rõ nguyên nhân thì chừng đó niềm tin tôn giáo vẫn tiếp tục được củng cố, duy trì, lan tỏa và ảnh hưởng đến đời sống tâm linh của giáo dân trong cộng đồng.

    – Chuẩn mực tôn giáo được đảm bảo tôn trọng và thực hiện nhờ 2 yếu tố:

    + niềm tin tôn giáo: là yếu tố đảm bảo cho chuẩn mực tôn giáo được tôn trọng và thực hiện trong các tầng lớp xã hội

    Như vậy, khác với chuẩn mực PL, thì chuẩn mực tôn giáo dù không có bất ký sức mạnh cưỡng chế nào thì cũng được con người tuân thủ 1 cách tự nguyện, vô điều kiện.

    – Chuẩn mực tôn giáo có những tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực đến nhận thức, hành vi của con người:

    + tác động tích cực: đề cao cái thiện, phê phán cái ác, mang tính nhân văn sâu sắc

    c. Mối quan hệ giữa chuẩn mực tôn giáo và pháp luật

    – Về nguyên tắc, tôn giáo và pháp luật độc lập với nhau.

    – Một số chuẩn mực tôn giáo phù hợp với thuần phong, mỹ tục, với các giá trị đạo đức, pháp luật hiện hành sẽ có tác dụng tích cực đối với việc thực hiện PL của cá nhân

    – Ở VN, ngay trong Hiến pháp đã xác định mọi người được tự do tín ngưỡng và tôn giáo, và đã ban hành Luật tín ngưỡng tôn giáo 2021.

    3. Chuẩn mực đạo đức

    a. Khái niệm

    – Là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan niệm chung về công bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, trách nhiệm và những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinh thần của xã hội.

    b. Đặc điểm

    – Chuẩn mực đạo đức là chuẩn mực xã hội bất thành văn, tức là các quy tắc, yêu cầu của nó không được ghi chép thành văn bản dưới bất kỳ hình thức nào (không tồn tại cái gọi là “bộ luật đạo đức”), mà tồn tại dưới hình thức những giá trị trị đạo đức, những bài học về luân thường đạo lý, phép đối nhân xử thế giữa con người với nhau trong xã hội.

    – Chuẩn mực đạo đức mang tính giai cấp, nhưng tính giai cấp của chuẩn mực đạo đức không “mạnh mẽ” như đối với chuẩn mực PL. Tính giai cấp thể hiện ở chỗ, chuẩn mực đạo đức được sinh ra cũng là nhằm củng cố, bảo vệ hay phục vụ cho nhu cầu, lợi ích vật chất, tinh thần của giai cấp nhất định trong xã hội.

    – Chuẩn mực đạo đức được tôn trọng và đảm bảo thực hiện bởi 02 nhóm yếu tố:

    + các yếu tố chủ quan: là các yếu tố tồn tại, thường trực trong ý thức của mỗi cá nhân, gồm:

    • thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi người
    • sự tự nguyện, tự giác trong thực hiện hành vi
    • sức mạnh nội tâm, chịu sự chi phối bởi lương tâm của mỗi người

    + các yếu tố khách quan:

    • sự ảnh hưởng của các thuần phong mỹ tục
    • sức mạnh phê phán, lên án của dư luận xã hội

    c. Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và pháp luật

    – Có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:

    + chuẩn mực đạo đức là 1 trong những nguồn cơ bản để hình thành nên hệ thống PL: vì chuẩn mực đạo đức đã có từ trước khi NN hình thành, nên khi NN hình thành và xây dựng PL thì NN lựa chọn những chuẩn mực đạo đức phù hợp và biến chúng thành các quy phạm PL

    + chuẩn mực đạo đức tham gia vào việc đảm bảo cho PL được thực thi trong đời sống xã hội, bởi vì trong nhiều trường hợp rất khó phân biệt đâu là đạo đức, đâu là PL

    + ngược lại, PL vừa là sự ghi nhận các chuẩn mực đạo đức, vừa là công cụ, phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức bằng các biện pháp, chế tài cụ thể. PL có vai trò to lớn trong việc duy trì, bảo vệ và phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội; đồng thời PL có vai trò loại bỏ những chuẩn mực đạo đức đã lạc hậu, lỗi thời.

     

    ——————–

    Ngày 12/03/2017

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    Vấn đề 5: Các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật

    I. Khái quát về hoạt động xây dựng pháp luật

    1. Khái niệm hoạt động xây dựng pháp luật

    – Xây dựng PL là 1 trong những hoạt động đầu tiên của bất kỳ NN nào kể từ khi được ra đời. Nó tạo ra công cụ pháp lý, phương tiện để NN thể hiện ý chí của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ XH, bảo vệ lợi ích của giai cấp cầm quyền và của XH nói chung.

    – Hoạt động xây dựng PL là toàn bộ quá trình:

    + đề xuất, nêu sáng kiến PL

    + xây dựng

    + phê chuẩn

    + công bố luật

    2. Chủ thể của hoạt động xây dựng pháp luật

    – Chủ thể của hoạt động xây dựng PL gồm:

    + cơ quan NN có thẩm quyền,

    + tổ chức cá nhân được NN giao quyền

    Chú ý: kể cả việc đóng góp ý kiến vào các dự thảo luật cũng được coi là 1 hoạt động xây dựng PL

    – Tất cả các chủ thể của hoạt động xây dựng PL đều phải tuân thủ Hiến pháp là Luật ban hành VBPL 2021

    – Mỗi chủ thể có thẩm quyền ban hành 1 số loại văn bản PL:

    + Quốc hội: Hiến pháp, Luật

    + UBTV Quốc hội: Pháp lệnh, Nghị quyết

    + Chủ tịch nước: Lệnh (lệnh công bố luật, lệnh tổng động viên), Quyết định (thi đua khen thưởng, phong cấp phong hàm, cử đại sứ đi nước ngoài)

    + Chính phủ: Nghị định (có “đầu” và không “đầu”)

    + Thủ tướng Chính phủ: Quyết định

    + Bộ và cơ quan ngang bộ: Thông tư

    + HĐND: Nghị quyết

    + UBND: Quyết định

    3. Quy trình hoạt động xây dựng pháp luật

    – Thông thường quy trình gồm 4 bước:

    + đề xuất, nêu sáng kiến PL

    + xây dựng dự thảo luật

    + phê chuẩn luật

    + công bố luật (Chủ tịch nước)

     

    II. Nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt động xây dựng pháp luật

    1. Các khía cạnh của hoạt động trước và trong khi xây dựng PL

    Gồm 8 nội dung:

    a. Mối liên hệ giữa PL với hiện thực xã hội với các nhân tố, yếu tố có ảnh hưởng tới lĩnh vực PL đó

    – Nghiên cứu, quan sát nhằm đánh giá những quan hệ đang cần có PL điều chỉnh

    – Đây là mối liên hệ giữa PL với thực tiễn đời sống xã hội: 1 đạo luật có được ban hành hay không không phải do NN quyết định mà do yêu cầu, đòi hỏi từ xã hội

    – Nghiên cứu mối quan hệ này chính là phần “Tính cấp thiết / Sự cần thiết …” của đạo luật đó. Đây là bước khởi đầu, tạo nền tảng, luận cứ khoa học cho việc xây dựng PL

    b. Nghiên cứu, khảo sát, điều tra XHH nhằm đánh giá tình hình, thực trạng, nguyên nhân của quan hệ xã hội đang cần PL điều chỉnh

    – Hoạt động này nhằm đảm bảo đạo luật đưa ra là dựa trên nhu cầu xã hội chứ không phải là sản phẩm của sự “võ đoán”, của “trí tưởng tượng”, của sự “thiên kiến chủ quan duy ý chí”.

    Thực tế xây dựng PL ở nước ta, có nhiều văn bản PL vừa ra đời đã “chết yểu”, hoặc thậm chí còn chưa có hiệu lực đã bị “chết yểu”. Nguyên nhân chính là thiếu luận cứ thực tiễn để xây dựng pháp luật.

    – Khía cạnh này hiện nay đã được luật hóa trong Luật ban hành VBPL 2021, có hiệu lực từ 01/07/2016, trong đó yêu cầu bất kỳ dự luật nào khi trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phải có 3 báo cáo:

    + Báo cáo khảo sát điều tra xã hội học: đánh giá tổng thể toàn bộ thực trạng tình hình quan hệ xã hội mà dự luật sẽ điều chỉnh

    + Báo cáo tổng kết đánh giá công tác thi hành luật: với trường hợp là luật bổ sung vào 1 đạo luật hiện hành

    + Báo cáo đánh giá tác động dự kiến của văn bản pháp luật với đối tượng điều chỉnh trực tiếp khi đạo luật được ban hành và có hiệu lực thực thi.

    c. Tiến hành các hoạt động thu thập thông tin, luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ cho việc xây dựng dự thảo luật

    – Thực hiện qua các hình thức:

    + tổ chức hội nghị, hội thảo, tọa đàm

    + phỏng vấn chuyên gia

    – Mục đích là để tham khảo, tiếp thu ý kiến, học hỏi trong quá trình xây dựng dự thảo luật.

    – Chú ý: tránh việc “bê nguyên” luật nước ngoài vào VN, vì xã hội nào cũng có đặc thù riêng về trình độ phát triển kinh tế xã hội, về văn hóa, tập quán, lịch sử

    d. Vấn đề thực nghiệm xã hội học pháp luật

    – Đối với những vấn đề, quy phạm PL còn có ý kiến khác nhau, còn gây tranh luận thì trước khi đệ trình cơ quan chức năng biểu quyết thông qua, các nhà xã hội học PL sẽ tiến hành thực nghiệm XHH PL: đưa dự thảo luật đó vào thực tế để xem nó bộc lộ như thế nào, những điểm hay / dở, để từ đó có sự điều chỉnh để dự thảo luật phù hợp hơn

    e. Vai trò của nhân dân

    – Đảm bảo sự tham gia của các tầng lớp nhân dân vào hoạt động xây dựng PL. Mục đích để phát huy được cao nhất trí tuệ tập thể đóng góp vào quá trình xây dựng dự án luật.

    f. Mối liên hệ giữa cương lĩnh chính trị, đường lối của đảng cầm quyền với VBPL dự kiến ban hành

    – Nội dung của VBPL dự kiến ban hành với cương lĩnh chính trị, đường lối, lợi ích của chính đảng cầm quyền càng gần thì càng dễ được thông qua

    g. Tiến hành thăm dò phản ứng của dư luận xã hội đối với dự luật sắp ban hành

    – Dư luận xã hội + thông tin đại chúng = công luận

    Công luận là cơ quan quyền lực thứ 4, sau lập pháp, hành pháp, tư pháp

    – Nếu dự luật bị công luận phản đối thì gần như không thể trở thành hiện thực. VD dự luật “cộng 2 điểm thi đại học cho bà mẹ VN anh hùng”, dự luật bắt buộc trang bị bình cứu hỏa trên xe ô tô

    h. Mối liên hệ giữa cử tri địa phương với đại biểu quốc hội

    2. Các khía cạnh của hoạt động xây dựng PL sau khi PL được ban hành và có hiệu lực thực thi

    a. Các biện pháp bảo đảm tính hiệu lực của văn bản PL sau khi được ban hành

    – Ngoài chế tài, cần chú ý có các biện pháp xã hội khác: đảm bảo các điều kiện về kinh tế, chính trị, tạo dựng môi trường văn hóa xã hội, đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật, .. để văn bản PL thực sự đi vào cuộc sống

    b. Các giải pháp để bảo đảm phát huy được hiệu quả của PL trong điều chỉnh các quan hệ xã hội

    – Đánh giá tính hiệu quả của VBPL trong thực tiễn bằng các phương pháp thu thập thông tin xã hội học, như:

    + phân tích tài liệu: các báo cáo, thống kê, các bài báo khoa học, các đề tài nghiên cứu, …

    + phương pháp quan sát: quan sát hành vi PL của các chủ thể PL

    + phương pháp an-kết: thu thập ý kiến, nhận xét, đánh giá về VBPL

    + …

    c. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình triển khai, đưa PL vào cuộc sống, bao gồm: kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống, phong tục tập quán, …

    d. Vấn đề thăm dò dư luận xã hội, thông tin đại chúng

    – Mục đích để có cái nhìn toàn cảnh về các mặt được và chưa được của VBPL vì về nguyên tắc chỉ khi đưa vào thực tiễn chúng mới bộc lộ hết.

    – Nghiên cứu khía cạnh này là cơ sở để đề xuất các sáng kiến, yêu cầu về sửa đổi, bổ sung VBPL

    e. Vấn đề biến đối của NN trong xu thế hội nhập, toàn cầu hóa

    – PL của VN phải tương thích với PL quốc tế, tuy nhiên vẫn phải đảm bảo giữ được bản sắc của VN

    3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng pháp luật

    a. Kỹ năng soạn thảo các dự án luật

    – Một hệ thống PL được coi là “hoàn thiện”, một VBPL được coi là “hoàn thiện” khi nó đảm bảo tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp, tính kịp thời và dựa trên nền tảng lập pháp trình độ cao.

    Trình độ lập pháp của VN hiện nay nói chung là “kém”, khả năng dự báo PL rất thấp, không có các VBPL đi trước, nhìn xa trông rộng, mà hoạt động xây dựng PL mới chỉ dừng lại ở việc “chờ” cho thực tiễn bộc lộ những yêu cầu cần điều chỉnh thì mới bắt đầu xây dựng VBPL để giải quyết những yêu cầu đó, nếu đã ban hành mà “sai” thì lại sửa đổi, bổ sung.

    – Kỹ năng soạn thảo VBPL là yếu tố có ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động xây dựng PL, bao gồm các khía cạnh sau:

    + nhận thức của các chủ thể xây dựng PL về tầm quan trọng, sự cần thiết của VBPL cần xây dựng

    + trình độ hiểu biết xã hội, sự am hiểu của chủ thể tham gia xây dựng PL về lĩnh vực mà VBPL sẽ điều chỉnh

    + tri thức, hiểu biết PL và ý thức PL của các chủ thể tham gia xây dựng PL: VD các quy định trong VBPL có hợp hiến không, có trùng lặp với VBPL khác không

    + hoạt động của cơ quan soạn thảo và các cơ quan phối hợp: về nguyên tắc phải tránh “vừa đá bóng vừa thổi còi”, cần độc lập, khách quan trong hoạt động xây dựng VBPL

    b. Dư luận xã hội

    – Dư luận xã hội là nguồn thông tin phản hồi có ý nghĩa rất quan trọng và thiết thực đối với quá trình xây dựng VBPL, là 1 trong những cơ sở để NN ban hành các VBPL hợp lòng dân

    – Dư luận xã hội có tác dụng phát hiện những thiếu hụt, những khe hở trong các VBPL, giúp NN có biện pháp sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh 1 cách kịp thời.

    c. Thông tin đại chúng

    – Các phương tiện thông tin đại chúng gồm: báo chí, phát thanh, truyền hình, báo mạng, mạng xã hội, … có tác động rất mạnh mẽ đến hoạt động xây dựng PL, thể hiện ở các khía cạnh:

    + cung cấp thông tin để định hướng dư luận xã hội: luật đã quy định tất cả các dự thảo VBPL đều phải đăng dự thảo toàn văn lên các phương tiện thông tin đại chúng để lấy ý kiến các tầng lớp xã hội

    + là hình thức phản hồi từ dư luận xã hội để phản ánh tới các cơ quan chức năng theo chiều “từ dưới lên”

    + có vai trò định hướng dư luận xã hội, hướng đến các vấn đề về lợi ích quốc gia, dân tộc, cộng cồng

    – Hiện nay thông tin đại chúng là là cơ quan quyền lực thứ 4

    4. Các biện pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta

    Tăng cường thẩm định các dự án luật bằng công cụ xã hội học: đây là yêu cầu bắt buộc đối với mọi VBPL trước khi đệ trình lên cơ quan có thẩm quyền phê duyệt (Luật ban hành VBQPPL 2021); thậm chí ngay ở giai đoạn khởi thảo dự án luật cũng đã cần phải có công tác điều tra bằng xã hội học

    Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong tham gia xây dựng PL: quốc hội, chính phủ, cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, các tổ chức chính trị, xã hội, các tầng lớp nhân dân cần chủ động phát huy vai trò của mình trong tham gia xây dựng PL để đảm bảo cho luật được ban hành phù hợp với yêu cầu và thực tiễn cuộc sống

    Hoàn thiện các quy định của PL về hoạt động xây dựng PL, đáp ứng yêu cầu mở rộng nền dân chủ xã hội và phát triển bền vững: trong Luật ban hành VBQPPL 2021 đã thể hiện được khía cạnh mở rộng nền dân chủ trong cây dựng PL, tuy nhiên có sự thiếu sót lớn là chưa đưa khía cạnh phát triển bền vững theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế vào, như chưa hề có các quy định về thích ứng với biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường

     

    ——————

    Ngày 19/03/2017

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    Vấn đề 6: Các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật

    I. Khái quát về hoạt động thực hiện PL và áp dụng PL

    1. Khái niệm hoạt động thực hiện PL

    – Kết thúc quá trình hoạt động xây dựng PL, sản phẩm là hệ thống PL (luật, pháp lệnh, nghị định, thông tư, …), khi này PL mới là “pháp luật trên giấy tờ”, hay còn gọi là “đời sống thứ nhất” của PL

    Việc đưa PL vào thực tiễn cuộc sống để chúng phát huy được vai trò, hiệu lực của mình trong điều chỉnh các quan hệ xã hội, trong định hướng hành vi xã hội của mỗi con người, thì khi đó PL mới là “pháp luật trong hành động”, hay còn gọi là “đời sống thứ hai” của PL.

    Như vậy, hoạt động thực hiện PL chính là việc chuyển “PL trên giấy tờ” thành “PL trong hành động”, hay chuyển PL từ “đời sống thứ nhất” sang “đời sống thứ hai”.

    – Khái niệm: Hoạt động thực hiện PL là 1 quá trình hoạt động PL có mục đích nhằm đưa các quy phạm PL đi vào thực tiễn đời sống xã hội, trở thành các hành vi PL thực tế hợp pháp của các chủ thể PL

    2. Các hình thức thực hiện PL

    Tuân thủ PL (tránh quy phạm cấm): là hình thức thực hiện PL trong đó các chủ thể PL tự kiềm chế, kiểm soát bản thân để không thực hiện những hành vi, hoạt động mà PL cấm.

    Những điều PL cấm được quy định chủ yếu trong luật hình sự, luật hành chính, và trong Điều “Những hành vi bị cấm” của các đạo luật khác.

    Chú ý: tuân thủ PL chưa làm phát sinh quan hệ PL. Ví dụ: buôn bán ma túy trái phép là tội hình sự, vậy 1 người không buôn bán ma túy (tức là tuân thủ PL) thì sẽ không phát sinh quan hệ với cơ quan NN về việc buôn bán ma túy.

    Sử dụng PL (các quy phạm về quyền của công dân):là hình thức thực hiện PL trong đó chủ thể sử dụng những quyền mà PL trao cho. VD quyền ứng cử, quyền bầu cử, quyền bỏ phiếu khi NN trưng cầu dân ý, các quyền về học tập, lao động, nghỉ ngơi, …

    Chú ý: việc chủ thể được trao quyền và việc chủ thể đó có sử dụng quyền đó hay không là 2 việc hoàn toàn khác nhau:

    + Có những quyền mà chủ thể được trao quyền có thể không sử dụng, VD như công dân có quyền bầu cử, nhưng nếu không đi bầu cử thì chỉ mất quyền của mình chứ không vi phạm PL.

    + Tuy nhiên, có những quyền mà khi chủ thể được trao quyền không thực hiện thì sẽ vi phạm PL, ví dụ như Tố cáo là quyền của công dân, nhưng nếu thấy người khác phạm tội mà không tố cáo thì sẽ bị khép vào Tội không tố giác tội phạm được quy định trong Luật hình sự.

    Áp dụng PL (phải có sự tham gia của cơ quan NN có thẩm quyền): là hình thức thực hiện PL đặc biệt, đòi hỏi phải có sự tham gia của cơ quan NN có thẩm quyền thì PL mới được thực hiện. VD hai bên tranh chấp hợp đồng phải đưa nhau ra Tòa án, lúc này cần có cơ quan NN là Tòa án tham gia thì mới giải quyết được; VD công dân cần công chứng, chứng thực thì cần có sự tham gia của Phòng công chứng (là cơ quan NN có thẩm quyền)

     

    II. Nội dung nghiên cứu các khía cạnh xã hội của hoạt động thực hiện PL và áp dụng PL

    1. Sự phù hợp giữa các quy tắc của chuẩn mực PL với lợi ích của chủ thể thực hiện PL

    – Về nguyên tắc, khi NN ban hành PL thì đều mong muốn thể hiện tính nghiêm minh của PL, đều muốn hướng tới lẽ công bằng, công lý, và rất mong muốn PL do mình ban hành sẽ được “thương tôn”, được đề cao, được thực thi nghiêm túc trong xã hội.

    Để đảm bảo PL được thực hiện, NN xây dựng các thiết chế như quân đội, công án, viện kiểm sát, tòa án, nhà tù, trại giam, … Tuy nhiên, bất chấp mong muốn của NN và hệ thống các thiết chế để đảm bảo PL, sự vi phạm PL vẫn xảy ra trong xã hội. Vì sao ?

    Vì nếu các quy định của PL càng đáp ứng, thỏa mãn tối đa nhu cầu, lợi ích của các chủ thể chịu tác động thì quy định đó càng được tuân thủ, tôn trọng, và thực hiện nghiêm túc, đầy đủ. Ngược lại, nếu các quy định của PL “đụng chạm” đến lợi ích, nhu cầu của các chủ thể chịu tác động thì rất dễ nảy sinh tư tưởng, tâm lý thờ ơ, bàng quang, chống đối, bất tuân, và sẵn sàng vi phạm PL.

    – Vì vậy, hoạt động thực hiện PL diễn ra như thế nào phụ thuộc vào sự phù hợp, tương thích của PL với vợi ích của chủ thể thực hiện PL.

    – Ở nước ta hiện nay, để hoạt động thực hiện PL thực sự đạt hiệu quả, mang tính tự giác, trở thành thói quen, nếp sống trong hành vi của các chủ thể thực hiện PL thì hoạt động xây dựng PL phải được đặt trong lăng kính của lợi ích xã hội và nhu cầu điều chỉnh xã hội.

     

    2. Cơ chế thực hiện pháp luật

    – Dưới góc độ luật học: cơ chế thực hiện PL được vận hành thông qua các hình thức thực hiện PL:

    + sau khi luật được ban hành, cơ quan chức năng ban hành các văn bản pháp quy để hướng dẫn (nghị định, thông tư, công văn, …)

    + phổ biến, tuyên truyền, giáo dục PL, nâng cao nhận thức PL

    – Dưới góc độ xã hội học PL: là những cách thức tác động, những yếu tố ảnh hưởng tới việc cá nhân, nhóm xã hội lựa chọn hành vi thực hiện PL hay không thực hiện PL. Gồm các cơ chế sau:

    a. Hiểu biết PL nên thực hiện PL và không hiểu biết PL nên không thực hiện PL

    – Cơ chế này chủ yếu đề cao vị trí, vai trò, tầm quan trọng của tri thức, hiểu biết PL trong hoạt động thực hiện PL: tri thức, hiểu biết PL là phương thức tồn tại của ý thức PL, và ý thức PL đến lượt mình lại thường trực trong mỗi người, và sẽ định hướng, điều khiển hành vi PL của mỗi người.

    – Như vậy, để thực hiện PL 1 cách nghiêm túc theo tinh thần thượng tôn PL, đòi hỏi phải có vai trò của tri thức, hiểu biết PL.

    VD: ở miền núi, những người dân tộc thiểu số thường có thói quen đốt rừng làm nương rẫy, có thể dẫn đến cháy rừng, họ không biết họ đã vi phạm PL

    VD: người dân khu vực hẻo lánh không biết trồng cây cần sa là vi phạm PL

    – Tuy nhiên thực tế thì ngay cả những người rất am hiểu về PL (cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ luật) cũng vẫn có nhiều trường hợp vi phạm PL. Ví dụ: có luật sư, tiến sỹ luật nhận tiền để lo lót chạy án, ngụy tạo chứng cứ để giúp tội phạm thoát khỏi sự trừng trị của PL

    Ngược lại, với đa số người dân, dù họ có hiểu biết, ít hiểu biết, hay không hiểu biết về PL nhưng vẫn thực hiện PL một cách nghiêm túc và đầy đủ. VD mọi người đều biết ăn trộm, cướp tài sản của người khác là phạm tội nên không thực hiện.

    b. Cơ chế tâm lý bắt chước trong thực hiện PL

    – Bắt chước là sự mô phỏng, tái tạo, lặp lại các hành vi, tâm trạng, cách suy nghĩ hay ứng xử của người khác hay của 1 nhóm người khác, thông thường đó là (những) người được coi là “thần tượng”, “ngôi sao”. Theo đó cơ chế này thường tạo ra và định hình các “khuôn mẫu hành vi” cho các thành viên trong xã hội noi theo.

    – Vì vậy, nếu ta phát huy được cơ chế này để phổ biến, tuyên truyền PL, để lan tỏa những hành vi tuân theo PL thì sẽ có tác dụng rất lớn trong thực hiện PL.

    VD: khi vận động quần chúng các dân tộc thiểu số tuân theo PL, cần tác động vào những người có uy tín như già làng, trưởng bản, thầy, … để họ trở thành tấm gương cho quần chúng noi theo

    – Tuy nhiên, nếu có những “phần tử” lợi dụng sự ảnh hưởng của mình để lôi kéo quần chúng tham gia các hoạt động “chống phá” PL, chống phá NN thì lại có ảnh hưởng tiêu cực. VD một số linh mục lợi dụng tự do tôn giáo tuyên truyền lôi kéo người dân tham gia phản đối các chính sách của NN

    – Nói chung đây là cơ chế tích cực trong hoạt động thực hiện PL

    c. Cơ chế lây lan tâm lý trong thực hiện PL

    – Nói chung đây là cơ chế tiêu cực trong hoạt động thực hiện PL.

    – Lây lan tâm lý là sự bột phát, lan truyền tâm lý hứng khởi, kích động từ người này sang người khác một cách tức thời, nằm ngoài sự kiểm soát về ý thức của cá nhân, và do đó thường gây ra các hiện tượng như manh động, quá khích.

    VD: việc đua xe trái phép trên đường phố thường bắt đầu từ vài cá nhân, nhưng sau đám đông bị kích động và hình thành cả đoàn đua

    VD: những kẻ trộm chó bị dân trong làng, thôn xóm đánh chết, lúc đầu chỉ có 1 vài người bắt được kẻ trộm và đấm đá kẻ trộm, sau đó thường sẽ có vài chục người bị kích động xông vào đánh kẻ trộm, và có thể gây ra cái chết cho kẻ trộm

    d. Các cơ quan NN có thẩm quyền triển khai áp dụng PL trong thực hiện PL

    – Là việc các cơ quan NN có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cưỡng bức đối với các chủ thể không muốn thực hiện PL, hoặc trường hợp chủ thể không thể thực hiện PL nếu thiếu sự tham gia của các cơ quan NN có thẩm quyền.

    VD: cơ quan chức năng truy bắt tội phạm (là trường hợp chủ thể không muốn thực hiện PL)

    VD: hai bên tranh chấp hợp đồng, cần đến cơ quan chức năng (tòa án) để giải quyết (là trường hợp chủ thể không thể thực hiện PL nếu thiếu sự tham gia của các cơ quan NN có thẩm quyền)

    e. Tâm lý e ngại, lo sợ bị áp dụng PL nên thực hiện PL

    – Đây là cơ chế thường xảy ra trong lĩnh vực hình sự, hành chính. Theo đó các chủ thể có thể do hiểu biết đầy đủ về các quy định của PL, hoặc đã từng nghe thấy, chứng kiến người khác bị áp dụng PL (như phạt tù, phạt tiền) nên tuân thủ, chấp hành PL, không dám vi phạm PL

    VD: hiểu rõ buôn bán ma túy là vi phạm PL nên không thực hiện buôn bán ma túy

    VD: đã từng chứng kiến kẻ trộm cướp tài sản bị phạt tù nên không dám trôm cướp

     

    3. Các yếu tố xã hội ảnh hưởng đến hoạt động thực hiện PL  

    a. Yếu tố kinh tế

    – Nhìn chung, nếu nền kinh tế – xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ là điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện PL, tác động tích cực tới việc nâng cao hiểu biết PL, ý thức PL của các tầng lớp xã hội. Ngược lại, nếu nền kinh tế – xã hội chậm phát triển, kém năng động có thể ảnh hưởng tiêu cực tới việc PL.

    + cơ chế kinh tế hiện nay là cơ chế thị trường định hướng XHCN:

    b. Yếu tố chính trị

    – Yếu tố chính trị là toàn bộ các yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội, có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện PL, đặc biệt là các cá nhân, cơ quan NN có thẩm quyền áp dụng PL (nói chung là các cơ quan công quyền):

    + môi trường chính trị – xã hội ổn định là điều kiện vô cùng thuận lợi cho hoạt động thực hiện PL, vì nó củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên và quần chúng với sự lãnh đạo của Đảng, mà Đảng chủ trương xây dựng NN pháp quyền

    + cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng có ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt động thực hiện PL, vì ở nước ta, sự vận hành của hệ thống PL luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng muốn xây dựng thành công NN pháp quyền thì vấn đề thực hiện PL một cách nhất quán, nghiêm minh từ phía cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân phải luôn đặt lên vị trí hàng đầu

    + tính chất, mức độ của nền dân chủ xã hội:

    • Nếu xã hội thiếu dân chủ, thông tin bị bưng bít, công dân không dám nói thật suy nghĩ của mình thì việc thực hiện PL sẽ chỉ là sự miễn cưỡng, đối phó, không hiệu quả

    c. Yếu tố văn hóa – lối sống

    – Các yếu tố văn hóa, lối sống luôn gắn liền với 1 môi trường văn hóa – xã hội nhất định, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thực hiện PL qua các khía cạnh sau:

    + các phong tục, tập quán trong cộng đồng xã hội có ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện PL của các tầng lớp nhân dân, thể hiện rõ nét ở khu vực nông thôn: bên cạnh những phong tục tập quán tích cực như tôn sư trọng đạo, kính trọng người già, … thì cũng có những phong tục tập quán lạc hậu như hội hè, gỗ chạp, cưới hỏi, may chay … tốn kém, lãng phí, những thói hư tật xấu ghanh ghét người thành đạt, tư duy “cục bộ” (như “trai làng ta quyết giữ gái làng ta”), mê cơ bạc, rượu chè, mê tín dị đoan, trọng nam khinh nữ, bạo lực gia đình … Những phong tục, tập quán tiêu cực gây ra khó khăn cho việc thực hiện PL, đồng thời là 1 trong những nguyên nhân dẫn đến những hành vi trái PL

    + lối sống đô thị và lối sống nông thôn có ảnh hưởng khác nhau đến hoạt động thực hiện PL:

    • Lối sống nông thôn có tính cộng đồng rất cao và chặt chẽ. Điểm tích cực là nhờ sự gắn bó của làng xã mà việc tuyên truyền, phổ biến PL khá thuận lợi. Tuy nhiên điểm tiêu cực lại chính là do tính cộng động bị “biến tướng” quá mức, trở thành “chủ nghĩa tập thể”, làm mất đi trách nhiệm của cá nhân, hiện nay đang là điểm gây khó khăn lớn cho việc thực hiện PL (với tâm lý “hòa cả làng”, “trách nhiệm thuộc về tập thể”, “đúng quy trình”)

    + quan hệ dòng họ, thân tộc: tính tích cực là với niềm tự hào về truyền thống của dòng họ sẽ là nhân tố tích cực thúc đẩy việc thực hiện PL một cách tự giác, nhiệt tình, hiệu quả. Điểm tiêu cực là quan hệ thân tộc dễ nảy sinh tính cục bộ, hẹp hòi, ganh đua, ganh ghét nhau giữa các dòng họ, là 1 trong những nguyên nhân gây mất đoàn kết, gây bất ổn trong xã hội, và do đó gây cản trở cho việc thực hiện PL

    + các phương tiện thông tin đại chúng: như báo chí, truyền hình, báo điện tử, mạng xã hội là công cụ để tuyên truyền, phổ biến PL, nêu lên những tấm gương “người tốt việc tốt”, các vụ vi phạm PL bị xử lý nghiêm khắc, … có tác động đến suy nghĩ, nhận thức và hành vi của mỗi người, khiến cho họ thực hiện PL tốt hơn

    + dư luận xã hội: có sự tác động mạnh mẽ tới hoạt động thực hiện PL. Trong thực tế có những cá nhân coi thường sự trừng phạt của PL, nhưng lại vô cùng sợ hãi trước sự lên án, tẩy chay của dư luận xã hội. Vì vậy dư luận xã hội khiến cho mỗi người luôn phải xem xét, suy nghĩ trước khi thực hiện hành vi PL, và nhờ đó ý thức tôn trọng PL, tuân thủ PL của mỗi chủ thể được nâng cao.

    d. Yếu tố pháp luật

    – Bản thân PL được sinh ra là để điều chỉnh các quan hệ xã hội, là cơ sở để các chủ thể thực hiện PL. Tuy nhiên chính các mặt, các khía cạnh của PL cũng ảnh hưởng nhất định tới hoạt động thực hiện PL:

    + văn hóa PL: là hệ thống các giá trị, chuẩn mực PL được kết tinh từ tri thức PL, tình cảm, niềm tin đối với PL và hành vi PL. Văn hóa PL được biểu hiện trực tiếp thông qua hành vi PL. Văn hóa PL là cơ sở, nền tảng, là “khuôn mẫu tư duy”, là “chuẩn mực hành vi” của hoạt động thực hiện PL

    + các yếu tố truyền thống: nét đặc trưng trong các cộng đồng dân cư nước ta, nhất là ở khu vực nông thôn và miền núi, là tính tự quản, thể hiện qua “lệ làng”, “hương ước”. Trong “lệ làng”, dù có nhiều hủ tục, nhiều quan niệm lạc hậu, không phù hợp với hiện tại, nhưng cũng có nhiều quy định có giá trị rất tích cực. Vì vậy việc xây dựng và thực hiện PL cần có sự hài hòa giữa lệ làng và pháp luật, đảm bảo dân chủ tại cơ sở, nhằm giảm thiểu những tiêu cực, thúc đẩy những mặt tích cực của các yếu tố truyền thống, qua đó tạo sự thuận lợi cho hoạt động thực hiện PL.

    + tình trạng thờ ơ với PL hoặc coi thường PL ở một bộ phận nhân dân có tác động tiêu cực tới việc thực hiện PL ở những người khác: VD một bộ phận không nhỏ cán bộ, lãnh đạo có sự dung túng, bao che lẫn nhau, hoặc bao che cho người thân vi phạm PL; hoặc trù dập những người tố cáo tội phạm,… dẫn đến tâm lý “người ngay sợ kẻ gian”, phát sinh tâm lý nghi ngờ hiệu quả của việc thực hiện PL.

    + ý thức, niềm tin đối với PL của con người có ảnh hưởng rất quan trọng tới việc thực hiện PL: nếu tin tưởng vào PL công bằng, nghiêm minh thì sẽ tự giác thực hiện PL, ngược lại sẽ thờ ơ, chống đối việc thực hiện PL. VD việc xử án gây oan sai hiện nay, việc các vụ án xử không đúng người đúng tội, việc các bản án, quyết định thiếu khách quan, không thấu tính đạt lý hiện nay đang làm xói mòn niềm tin của người dân vào PL, dẫn tới hiệu quả của việc thực hiện PL bị giảm sút (câu nói “quan xử theo lễ, dân xử theo luật”)

    + sự hoạt động của các cơ quan chức năng trong việc thực hiện PL: khi các chủ thể có hành vi vi phạm PL hoặc không thể tự mình giải quyết được các tranh chấp phát sinh trong quan hệ xã hội, thì rất cần thiết có sự vào cuộc, sự can thiệp kịp thời của cơ quan chức năng để đảm bảo PL được tôn trọng và thực hiện. VD một vụ án xảy ra thì cơ quan điều tra phải nhanh chóng “phá án”, đưa kẻ thủ ác ra trừng trị. VD khi có tranh chấp giữa các chủ thể dân sự, đưa lên tòa án, các chủ thể đều mong muốn cơ quan xét xử đưa ra quyết định công bằng, thấu tình đạt lý để các bên tuân theo

     

    4. Vai trò của nhân tố chủ quan trong áp dụng pháp luật

    (chương III, trang 369)

    – Về nguyên tắc, khi đưa ra quyết định áp dụng PL, các cá nhân (nhà chức trách: thẩm phán, kiểm sát viên, chủ tịch UBND, công tố viên, cán bộ công chức hành chính …) có thẩm quyền phải công bằng, vô tư, khách quan, không xuất phát từ động cơ cá nhân. Tuy nhiên vì đều là con người nên đều không tránh khỏi các nhân tố chủ quan.

    – Có 2 nhân tố chủ quan chủ yếu trong áp dụng PL:

    + yếu tố tâm lý: như tâm trạng, niềm tin, quan điểm, cảm xúc, … của cá nhân có thẩm quyền áp dụng PL có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động xét xử tại phiên tòa hay ban hành các quyết định hành chính. VD các mức hình phạt đều có khung, việc quyết định mức hình phạt cao hay thấp trong khung phụ thuộc rất nhiều vào bản thân của thẩm phán

    + năng lực chuyên môn: là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức, hiểu biết PL, kinh nghiệm nghề nghiệp, kinh nghiệm sống, các quan hệ riêng tư, … của những người có thẩm quyền áp dụng PL đều có tác động nhất định đến phán quyết của thẩm phán, đến quyết định của cơ quan hành chính. VD thường thấy là ở những vùng sâu vùng xa, trình độ của lãnh đạo các cơ quan hành chính còn hạn chế nên thường hay mắc lỗi ban hành nhưng văn bản hành chính không đúng quy định của PL hoặc không hợp tình hợp lý

    5. Vai trò của các nhân tố khách quan trong hoạt động áp dụng pháp luật

    (chương III, trang 371)

    Có 2 yếu tố khách quan ảnh hưởng đến hoạt động áp dụng PL:

    – Những hạn chế, bất cập của hệ thống PL hiện hành: nguyên nhân là do PL không theo kịp với sự vận động phát triển liên tục của xã hội. Việc chưa có quy phạm PL điều chỉnh, hoặc quy phạm PL đã lạc hậu, bất cập sẽ gây khó khăn cho cá nhân, cơ quan có thẩm quyền áp dụng PL, dẫn đến hiệu quả áp dụng PL không như mong muốn. VD quy định về tội gây ô nhiễm môi trường chưa rõ ràng, chưa nghiêm khắc dẫn tới việc xử lý không triệt để và hậu quả là tội phạm về môi trường ngày một gia tăng.

    – Áp lực từ dư luận xã hội: chức năng cơ bản của dư luận xã hội là chức năng giám sát, tư vấn, thể hiện rõ nét nhất khi đối tượng phán xét là hoạt động của cơ quan NN, chính quyền các cấp, trong đó có cơ quan thực thi và bảo vệ PL. Dư luận xã hội thường lên tiếng tố cáo, tố giác những hành vi phạm tội, giúp cơ quan chức năng 1 cách tích cực trong công tác điều tra, phá án. Dư luận xã hội bày tỏ sự đồng tình với những bản án, quyết định đúng người đúng tội, có tình có lý; đồng thời phản đối những bản án, quyết định chưa phù hợp. Áp lực từ dư luận xã hội sẽ khiến cho bản thân cán bộ, công chức tham gia hoạt động áp dụng PL phải luôn có ý thức điều chỉnh hành vi của mình tuân theo PL. VD vụ xe ô tô của hiệu trưởng trường trung học Nam Trung Yên đâm gãy chân học sinh đang chơi trong trường, sau đó đổ tội cho học sinh đó chạy nhảy bị gãy chân đã khiến dư luận lên tiếng và thủ phạm đã phải chịu sự trừng phạt mặc dù được bao che.

     

    III. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện PL, áp dụng PL ở nước ta hiện nay

    1. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện PL ở nước ta hiện nay

    (chương VII, trang 341)

    Gồm 03 biện pháp:

    – Nâng cao ý thức PL, hình thành thói quen “sống và làm việc theo PL” trong các chủ thể PL

    – Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng đối với công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục PL cho các tầng lớp nhân dân: đặc biệt là ứng dụng mạng Internet

    – Tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong hoạt động thực hiện PL: chủ yếu gồm các cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, cơ quan tư pháp, cơ quan hành chính

    2. Các biện pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động áp dụng PL ở nước ta hiện nay

    (chương VIII, trang 379)

    – Tăng cường giáo dục PL, bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức NN có thẩm quyền áp dụng PL: nguyên nhân chính trong hạn chế, khiếm khuyết của hoạt động áp dụng PL là sự thiếu tri thức PL và yếu về kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức NN có thẩm quyền áp dụng PL. Việc tăng cường giáo dục PL cho đội ngũ cán bộ, công chức NN cần chú ý đến các khía cạnh: mục đích, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp, hình thức

    – Nâng cao ý thức PL nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ, công chức NN có thẩm quyền áp dụng PL

    – Thông báo công khai kết quả áp dụng PL trên các phương tiện thông tin đại chúng: tạo ra sức mạnh lan tỏa, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự công bằng, nghiêm minh của PL. VD khi đưa tin về 1 vụ án, cần đưa đầy đủ thông tin, nhất là kết quả xét xử, bản án, kết quả thi hành án (kể cả việc thi hành án tử hình ở đâu, khi nào, bằng phương tiện gì)

     

    ——————-

    Ngày 02/04/2017

    Giảng viên: thầy Ngọ Văn Nhân (TS)

    Vấn đề 7: Sai lệch chuẩn mực pháp luật và hiện tượng tội phạm

    I. Lý thuyết sai lệch trong xã hội học pháp luật

    1. Bản chất xã hội học của sự sai lệch

    – Hành vi không đáp ứng sự mong đợi của cộng đồng người thì bị coi là “hành vi sai lệch”, hay hành vi bất bình thường.

    – Tuy nhiên, không có khái niệm “hành vi bình thường” hay “hành vi sai lệch”, mà việc coi 1 hành vi là bình thường hay sai lệch hoàn toàn phụ thuộc vào lăng kính và lòng tin của cộng đồng người.

    – Một hành vi là “sai lệch” hay “không sai lệch” mang tính xác định về không gian và môi trường. Cùng 1 hành vi nhưng trong cộng đồng này bị coi là sai lệch, nhưng trong cộng đồng khác lại không bị coi là sai lệch, và ngược lại. VD việc quan hệ tình dục trước hôn nhân được coi là bình thường ở rất nhiều nước, nhưng trong các nước Hồi giáo lại bị coi là “tội ác” và bị trừng phạt nghiêm khắc. VD đa thê là hành vi vi phạm PL ở hầu hết các nước trên thế giới, nhưng lại được coi là bình thường ở các nước Hồi giáo

    – Hành vi là “sai lệch” hay “không sai lệch” ngay trong 1 cộng đồng người cũng có thể thay đổi theo thời gian. VD ngày trước phụ nữ ăn mặc “hở, khoe cơ thể” thì bị xã hội lên án là không đoan trang, nhưng hiện nay phụ nữ có thể ăn mặc thoải mái và được coi là khoe nét đẹp cơ thể.

    – Tóm lại: Về mặt xã hội, hành vi sai lệch không thể được quan niệm như 1 cái gì tuyệt đối hay phổ biến, mà phải được coi như sự biến đổi về mặt xã hội tùy thuộc vào những gì mà 1 xã hội đặc thù hay 1 nhóm xã hội ở 1 thời điểm đặc thù, xác định là lệch lạc.

    2. Thuyết dãn nhãn: sai lệch và tội phạm như là một sự dán nhãn

    – Thuyết dãn nhãn: từ 1 hiện tượng suy ra bản chất, hành vi trong quá khứ của 1 người bị coi là đã chứa đựng trong đó “động cơ nham hiểm và lệch lạc”, còn hành vi trong tương lai được dự báo “không thay đổi, không bao giờ thay đổi”. VD 1 người bị kết án vì tội trộm cắp, trong tù anh ta cải tạo rất tốt và được giảm án ra tù sớm, khi ra tù trở về cộng đồng, anh ta cố gắng thể hiện mình là người thành thật, lương thiện nhưng vẫn bị gán nhãn “kẻ trộm cắp” và bị cộng đồng xa lánh, cảnh giác. Tuy nhiên chính sự xa lánh của cộng đồng lại nhanh chóng đẩy anh ta trở lại con đường trộm cắp, gây mất trật tự xã hội.

    – Như vậy, việc dán nhãn hành vi là sai lệch, hay dán nhãn 1 người là tội phạm không những không có vai trò giảm bớt sự lệch lạc mà thực tế lại có thể sản sinh ra nhiều sự lệch lạc hơn

    II. Khái niệm về sai lệch chuẩn mực pháp luật

    1. Định nghĩa về hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội

    – Hành vi sai lệch chuẩn mực PL là hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm các nguyên tắc, quy định của chuẩn mực PL.

    Hành vi sai lệch chuẩn mực PL rất đa dạng, phong phú vì trong bất kỳ lĩnh vực PL nào cũng có những hành vi xâm phạm đến những nguyên tắc, quy định của nó. Trong đó hành vi vi phạm PL hình sự được coi là nghiêm trọng nhất, bị coi là hành vi phạm tội và phải chịu chế tài mạnh nhất là các hình phạt.

    – Theo luật học, hành vi sai lệch chuẩn mực PL là hành vi vi phạm PL, và có 4 yếu tố cấu thành:

    + tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi

    + trái pháp luật

    + có lỗi của chủ thể

    + chủ thể có năng lực pháp lý

    – Dưới góc nhìn của luật pháp thì mọi hành vi sai lệch chuẩn mực PL đều là tiêu cực, đây là góc nhìn xơ cứng, giáo điều. Tuy nhiên dưới góc nhìn của xã hội học PL thì không phải hành vi sai lệch chuẩn mực PL nào cũng chỉ có mặt tiêu cực, mà có những hành vi dù sai lệch chuẩn mực PL nhưng lại có mặt tích cực, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

    2. Phân loại hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    a. Căn cứ và nội dung, tính chất của các chuẩn mực PL bị xâm hại

    Hành vi sai lệch chuẩn mực PL tích cực: là những hành vi (cố ý hoặc vô ý) vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với thực tế xã hội hiện tại, gây cản trở sự phát triển tiến bộ của cộng đồng. Có 2 khả năng xảy ra hành vi sai lệch chuẩn mực PL tích cực:

    + sự thay thế của 1 NN mới cho 1 NN cũ, khi đó hệ thống PL cũ sẽ bị thay thế bằng hệ thống PL mới. Trong quá trình thay đổi đó thì hành vi sai lệch chuẩn mực PL cũ đã không còn phù hợp sẽ mang ý nghĩa tích cực, tiến bộ

    Hành vi sai lệch chuẩn mực PL tiêu cực: là những hành vi (cố ý hoặc vô ý) vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL hiện hành, có nội dung, tính chất phù hợp, tiến bộ, đang phổ biến, thịnh hành và được NN và cộng đồng xã hội thừa nhận. Đây chính là các hành vi vi phạm PL, như trộm cắp, hiếp dâm, vượt đèn đỏ, …

    b. Căn cứ vào thái độ tâm lý chủ quan của người thực hiện

    – Hành vi sai lệch chuẩn mực PL chủ động: là hành vi có ý thức, có tính toán, cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp) vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL, dù chuẩn mực PL đó đã lạc hậu, lỗi thời, hay còn đang tiến bộ, phù hợp. VD hành vi giết người luôn bị coi là lỗi cố ý (theo quy định của Bộ luật hình sự)

    – Hành vi sai lệch chuẩn mực PL thụ động: là hành vi vô ý, không mong muốn vi phạm, phá vỡ tính ổn định, sự tác động của các chuẩn mực PL. VD tội vô ý làm chết người (trong Bộ luật hình sự)

    c. Căn cứ đồng thời vào nội dung, tính chất của chuẩn mực PL và tâm lý chủ quan của người thực hiện

    – Hành vi sai lệch chủ động – tích cực: là hành vi cố ý vi phạm, phá vỡ sự tác động của các chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của  xã hội hiện tại. VD vụ việc ông Kim Ngọc (đã nêu trên), ông Đoàn Văn Vươn ở Hải Phòng

    Câu hỏi trắc nghiệm: Hành vi sai lệch chuẩn mực PL chủ động – tích cực có tác động thúc đẩy sự phát triển tiến bộ, hoàn thiện PL. Đúng hay Sai ?

    – Hành vi sai lệch chủ động – tiêu cực: là hành vi cố ý vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL hiện hành mang tính tiến bộ, phù hợp, đang phổ biến, thịnh hành và được NN, xã hội thừa nhận rộng rãi. VD hành vi giết người

    – Hành vi sai lệch thụ động – tích cực: là hành vi vô ý vi phạm, phá vỡ sự tác động của chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với yêu cầu của đời sống xã hội. VD trong vụ ông Kim Ngọc, với những người nông dân nghe theo ông Kim Ngọc ở tỉnh Vĩnh Phúc, họ đã không tuân theo PL, đây được coi là hành vi sai lệch thụ động – tích cực

    – Hành vi sai lệch thụ động – tiêu cực: là hành vi vô ý vi phạm, phá vỡ hiệu lực của các chuẩn mực PL tiến bộ, phù hợp, đang phổ biến, thịnh hành và được thừa nhận rộng rãi trong xã hội. VD tội vô ý giết người

    3. Hậu quả của sai lệch chuẩn mực pháp luật

    – Khi xem xét, đánh giá hậu quả của 1 hành vi sai lệch chuẩn mực PL nào đó, cần căn cứ vào các yếu tố:

    + căn cứ vào tính chất, khuynh hướng và sự phổ biến tương đối của hành vi sai lệch chuẩn mực PL đó

    + căn cứ vào các điều kiện lịch sử, địa lý, hoàn cảnh xã hội cụ thể

    + căn cứ vào địa điểm, thời gian xảy ra hành vi sai lệch chuẩn mực PL đó

    – Theo những căn cứ trên, hậu quả của hành vi sai lệch chuẩn mực PL có thể được đánh giá trên 2 phương diện:

     

    III. Các yếu tố tác động tới sai lệch chuẩn mực pháp luật

    1. Hệ thống các giá trị
    2. Sự rối loạn các thiết chế xã hội
    3. Sự biến đổi của các chuẩn mực xã hội
    4. Sự thay đổi của các quan hệ xã hội

    IV. Các cơ chế của hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật

    1. Sự không hiểu biết, hiểu biết không đúng, không chính xác các quy tắc, yêu cầu của chuẩn mực PL

    – Trong trường hợp này, đa số các hành vi sai lệch chuẩn mực PL là do cá nhân, nhóm xã hội thiếu thông tin, kiến thức, hiểu biết về chuẩn mực PL, hoặc hiểu không đúng, không chính xác các quy tắc yêu cầu của chuẩn mực PL dẫn đến thực hiện những hành vi sai lệch chuẩn mực PL. VD hành vi tháo bu lông, đường ray của tàu hỏa để bán là hành vi phá hoại công trình quốc gia thì hầu hết là do thiếu hiểu biết PL

    – Giải pháp phắc phục: các cơ quan chức năng cần phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng để tuyên truyền, phỏ biến, giáo dục PL một cách sâu rộng tới các tầng lớp nhân dân

    2. Tư duy diễn dịch không đúng, sự suy diễn các chuẩn mực PL thiếu căn cứ logic và sử dụng các phán đoán phi logic

    – Khi tham gia vào lĩnh vực cụ thể, do thói quen suy diễn sai, sử dụng các phán đoán phi logic nên một số cá nhân nhầm lẫn; hoặc cố ý áp dụng chuẩn mực lĩnh vực PL này vào chuẩn mực PL lĩnh vực khác, do đó đã vi phạm các chuẩn mực PL đó.

    VD pháp lệnh dân số 2003 quy định “vợ chồng có quyền quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp …”, và vì lý do nào đó mãi đến 9 tháng sau Chính phủ mới ban hành Nghị định hướng dẫn thi hành, vì Nghị định ra muộn nên trong 9 tháng đó quy định của Pháp lệnh bị hiểu nhầm, suy diễn thành NN không hạn chế số con, và hệ quả là số người sinh con thứ 3 thứ 4 tăng vọt, vi phạm chính sách dân số kế hoạch hóa gia đình.

    – Giải pháp khắc phục: khi xây dựng PL, các nhà làm luật cần cân nhắc sử dụng ngôn từ, thuật ngữ pháp lý, các quy phạm PL phải có bố cục chặt chẽ, rõ ràng và chính xác để tránh bị suy diễn sai và áp dụng sai.

    3. Việc củng cố, tiếp thu các quy tắc, yêu cầu của những chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, không còn phù hợp với PL hiện hành

    – Là việc cá nhân, nhóm xã hội do không biết, hoặc biết những vẫn cố tình thực hiện, áp dụng các chuẩn mực PL đã lạc hậu, lỗi thời, dẫn đến vi phạm chuẩn mực PL hiện hành.

    VD mặc dù đã có Nghị định hướng dẫn chi tiết Pháp lệnh dân số 2003, nhưng nhiều người vẫn cố tình viện dẫn Pháp lệnh dân số 2003 để sinh vượt số con cho phép (lý do của việc ra đời Pháp lệnh dân số 2003 là khi VN hội nhập quốc tế, không thể áp đặt việc sinh nở vì đó là vi phạm quyền con người, nên VN đã phải “hạ cấp” quy định về dân số kế hoạch hóa gia đình xuống cấp Nghị định)

    – Giải pháp khắc phục: với những quy phạm PL tỏ ra lỗi thời lạc hậu, hoặc đã hết hiệu lực thì NN cần sớm thay đổi, bổ sung, hoặc tuyên bố chấm dứt hiệu lực của chúng 1 cách kịp thời, nhằm ngăn chặn, không tạo ra khe hở để kẻ xấu lợi dụng.

    4. Cơ chế đi từ quan niệm sai lệch tới việc thực hiện hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    – Là việc những quan niệm từ thời phong kiến, thực dân vẫn được một số cá nhân, nhóm xã hội áp dụng dẫn tới vi phạm chuẩn mực PL hiện hành. VD như quan niệm “phép vua thua lệ làng” trong thời phong kiến, nếu áp dụng vào thời nay rất có thể sẽ dẫn tới hành vi vi phạm chuẩn mực PL, như việc lệ làng quy định “phụ nữ không chồng mà chửa” bị trừng phạt rất nghiêm khắc, bị sỉ nhục, nhưng trong thời hiện nay nếu áp dụng như vậy sẽ bị coi là xúc phạm nhân phẩm người khác, thậm chí bị khép tội Làm nhục người khác, vì luật pháp hiện nay cho phép phụ nữ sinh con không cần kết hôn, khai sinh cho con chỉ cần người mẹ.

    – Giải pháp khắc phục: NN cần có biện pháp định hướng, giải thích, điều chỉnh những quan niệm sai lệch để kịp thời ngăn chặn những hành vi phạm pháp

    5. Các khuyết tật về tâm sinh lý dẫn tới hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    – Có những cá nhân do dị tật bẩm sinh hoặc tai nạn mắc phải khiến họ mang trên mình những khuyết tật nhất định về tâm sinh lý (có thể khuyết tật về thể chất như mù, câm, điếc, què, cụt tay ; hoặc khuyết tật về trí lực như tâm thần, rối loạn, hoang tưởng, …) làm cá nhân đó bị mất đi 1 phần hoặc toàn bộ khả năng nhận biết về các yêu cầu của chuẩn mực PL, dẫn đến vi phạm chuẩn mực PL mà không biết hoặc không thể kiềm chế, kiểm sát bản thân.

    VD: người mắc bệnh hoang tưởng lên máy bay, hét lên rằng “máy bay có bom” gây ảnh hưởng đến an toàn bay

    6. Cơ chế về mối liên hệ nhân quả giữa các hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    – Là trường hợp cá nhân đi từ việc thực hiện 1 hành vi sai lệch chuẩn mực PL này tới việc thực hiện 1 hành vi sai lệch chuẩn mực PL khác theo mối liên hệ nhân – quả mà không biết, hoặc biết mà vẫn cố tình thực hiện. Trong đó hành vi sai lệch thứ nhất được coi là nguyên nhân dẫn tới hành vi sai lệch thứ hai, và từ hành vi sai lệc thứ hai lại có thể là nguyên nhân dẫn đến hành vi sai lệch thứ ba, …

    VD: một thanh niên vượt đèn đỏ (hành vi sai lệch thứ nhất) bị cảnh sát giao thông giữ lại, vì không muốn nộp phạt nên đã đưa tiền hối lộ chiến sỹ cảnh sát giao thông (hành vi sai lệch thứ hai), bị chiến sỹ cảnh sát giao thông từ chối nên đã quay sang xúc phạm, lăng mạ, hành hung chiến sỹ cảnh sát giao thông (hành vi sai lệch thứ ba)

     

    V. Hiện tượng tội phạm

    (tập Bài giảng xã hội học, trang 153)

    1. Khái niệm hiện tượng tội phạm

    – Hiện tượng tội phạm là khái niệm không dùng để chỉ tội phạm nói chung hay hành vi phạm tội cụ thể, mà phản ánh ở mức độ nhận thức cao hơn, khái quát hơn xung quanh vấn đề tội phạm.

    – Khái niệm: Hiện tượng tội phạm là 1 hiện tượng xã hội – pháp lý luôn ở trạng thái động, xuất hiện trong xã hội có giai cấp, là thể thống nhất các tội phạm xảy ra trong xã hội nhất định và ở thời kỳ nhất định, có các nguyên nhân, các đặc điểm định lượng (thực trạng) và định tính (tính chất, cơ cấu) của nó, đồng thời có tính độc lập tương đối.

    2. Các đặc trưng cơ bản của hiện tượng tội phạm

    a. Tính quyết định xã hội của hiện tượng tội phạm

    – Hiện tượng tội phạm trước hết là hiện tượng xã hội, có quá trình hình thành, phát sinh và phát triển cùng với sự vận động của xã hội.

    – Hiện tượng tội phạm chỉ có thể xuất hiện, tồn tại trong xã hội, có nguồn gốc từ thực tiễn đời sống xã hội, mang nội dung xã hội, có nguyên nhân từ xã hội và chịu sự quyết định bởi thực tế xã hội.

    – Mặt khác, hiện tượng tội phạm mang tính quyết định xã hội vì nó được hình thành và xuất phát từ những hành vi phạm tội được thực hiện bởi những cá nhân – là thành viên của xã hội

    b. Tính pháp lý hình sự của hiện tượng tội phạm

    – Hiện tượng tội phạm còn là hiện tượng pháp lý và mang tính pháp lý hình sự: Chúng ta không thể phán xét, đánh giá về hành vi phạm tội một cách cảm tính mà cần phải căn cứ vào những nguyên tắc, quy định của PL hình sự. Trong hệ thống PL chỉ có duy nhất Luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt, đưa ra khái niệm tội phạm, theo đó tội phạm không chỉ là hành vi nguy hiểm cho xã hội mà còn là hành vi trái với PL hình sự

    c. Tính biến đổi về mặt lịch sử của hiện tượng tội phạm

    – Hiện tượng tội phạm luôn ở trạng thái động, tức là thường xuyên biến đổi qua các giai đoạn, thời kỳ lịch sử nhất định. Nguyên nhân là do các quan điểm, quan niệm về tội phạm có sự thay đổi theo lịch sử.

    VD trong Luật hình sự 1985 có chia tội phạm làm 2 loại là tội phạm ít nguy hiểm (phạt tù đến 5 năm) và tội phạm nguy hiểm (phạt tù từ 3 năm trở lên tới chung thân, tử hình), việc để khung hình phạt quá rộng dẫn tới nhiều hiện tượng tiêu cực trong việc áp dụng PL, và đến khi ban hành Luật hình sự 1999 thì tội phạm được chia làm 4 loại là ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, và đặc biệt nghiêm trọng.

    d. Tính giai cấp của hiện tượng tội phạm

    – Hiện tượng tội phạm chỉ xuất hiện trong xã hội có giai cấp, gắn liền với sự ra đời của NN và quá trình phân tầng xã hội.

    e. Tính xác định theo không gian và thời gian của hiện tượng tội phạm

    – Theo không gian: thông thường hiện tượng tội phạm xác định theo lãnh thổ quốc gia. Chú ý rằng cùng 1 hành vi có thể ở quốc gia này bị coi là tội phạm, nhưng ở quốc gia khác lại không bị coi là tội phạm; hoặc cùng 1 tội ở quốc gia này coi là ít nghiêm trọng, nhưng ở quốc gia khác lại coi là đặc biệt nghiêm trọng.

    VD tội đánh bạc ở VN bị coi là tội phạm, nhưng ở Macau lại coi là hợp pháp; môi giới mại dâm là tội phạm ở VN, nhưng lại hợp pháp ở Thái Lan

    – Theo thời gian: hiện tượng tội phạm có sự theo đổi theo thời gian trong cùng 1 quốc gia.

    3. Các mô hình nghiên cứu xã hội học về hiện tượng tội phạm

    a. Mô hình nghiên cứu theo phân loại các nhóm tội phạm

    – Căn cứ vào quan hệ xã hội được PL hình sự bảo vệ bị xâm hại bởi tội phạm, gồm:

    + nhóm tội phạm quốc sự: xâm phạm an ninh quốc gia, có tính chất đặc biệt nguy hiểm. VD tội phản bội tổ quốc, tội hoạt động lật đổ chính quyền nhân dân, tội bạo loạn

    + nhóm tội phạm kinh tế: xâm phạm chế độ kinh tế, sở hữu NN, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế. VD tội buôn lậu, tội sản xuất, buôn bán hàng giả, tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, các tội tham nhũng

    + nhóm tội hình sự: xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm sở hữu, các quyền tự do dân chủ của công dân; xâm phạm an toàn công cộng, … VD tội giết người, tội bức tử, tội cướp tài sản, tội hiếp dâm

    + nhóm tội phạm thuộc tệ nạn xã hội: xâm hại truyền thống văn hóa, đạo lý dân tộc, thuần phong mỹ tục, xâm phạm niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng. VD tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, các tội phạm về môi trường, các tội phạm về ma túy, mại dâm

    + nhóm tội phạm vi phạm Hiến pháp: xâm phạm đến các nguyên tắc và quy định của Hiến pháp. VD tội ban hành văn bản PL trái với Hiến pháp

    + nhóm tội phạm có tổ chức (mafia): đây là nhóm tội phạm đặc biệt nguy hiểm, có tính liên kết và tổ chức rất cao, có 3 đặc điểm sau:

    • Xâm hại tới tính mạng với tính chất đặc biệt nghiêm trọng và tài sản với khối lượng lớn
    • Có sự cấu kết, liên hệ chặt chẽ với những người có chức vụ, quyền lực cao trong bộ máy NN
    • Sử dụng các đối tượng phạm pháp hình sự chuyên nghiệp làm công cụ để gây án

    b. Mô hình nghiên cứu định lượng về hiện tượng tội phạm

    –  Là mô hình cho phép chia ra mức độ, tình trạng thực tế của hiện tượng tội phạm, nghiên cứu thông qua các chỉ báo sau:

    + chỉ báo về mối tương quan giữa số lượng các tội phạm đã được khai báo bởi người bị hại với cơ quan chức năng và số lượng các tội phạm được cơ quan chức năng phát hiện (tội phạm rõ)

    + chỉ báo về số lượng các tội phạm đã xảy ra trong thực tế nhưng không được người bị hại khai báo với các cơ quan chức năng, hoặc không được cơ quan chức năng phát hiện (gọi là tội phạm ẩn giấu)

    – Nghiên cứu về định lượng cho ta bức tranh tổng thể về hiện tượng tội phạm. Thực tế cho thấy, không chỉ ở VN mà ở tất cả các quốc gia trên thế giới, tỷ lệ tội phạm ẩn giấu luôn cao hơn nhiều so tội phạm rõ (như phần chìm so với phần nổi của tảng băng trôi). Tỷ lệ giữa tội phạm ẩn giấu so với tội phạm rõ ở các tội phạm khác nhau thì khác nhau: có những tội phạm có tỷ lệ ẩn giấu rất thấp như tội giết người, cướp giật; có những tội phạm có tỷ lệ ẩn giấu cao như tội phạm về ma túy, tham nhũng, hiếp dâm

    c. Mô hình nghiên cứu định tính

    – Cho phép xem xét tính chất, cơ cấu, quá trình vận động và biến đổi của hiện tượng tội phạm trong không gian và thời gian nhất định:

    + tính chất của hiện tượng tội phạm: là tính nguy hiểm cho xã hội, tức là nó gây ra hoặc đe dọa gây ra những thiệt hại trực tiếp hay gián tiếp rất lớn, rất đáng kể cho xã hội. Tính chất của hiện tượng tội phạm còn thể hiện ở các đặc điểm phức tạp của nhân thân người phạm tội.

    + cơ cấu của hiện tượng tội phạm: được phản ánh qua các chỉ số về mối tương quan của các loại tội phạm khác nhau (như giữa các tội phạm cố ý / vô ý, tội phạm tái phạm, tội phạm chuyên nghiệp, tội phạm có tổ chức)

    + sự vận động và biến đổi của hiện tượng tội phạm: hiện tượng tội phạm không bất biến mà có quá trình diễn biến, có sự vận động, biến đổi khác nhau

    – Nghiên cứu các đặc điểm, dấu hiệu định tính của hiện tượng tội phạm có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ các nguyên nhân của hiện tượng tội phạm

    c. Mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý, theo lứa tuổi và giới tính, theo sự phân tầng xã hội

    – Nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý: là sự phân tích theo cơ cấu-lãnh thổ, theo đó thường chia thành khu vực đô thị và khu vực nông thôn. Tại phần lớn các xã hội thì tỷ lệ tội phạm ở khu vực đô thị thường cao hơn nhiều so với khu vực nông thôn. Có nhiều nguyên nhân:

    + kiến trúc không gian đô thị vô tình tạo môi trường thuận lợi cho tội phạm hoạt động (vì tập trung nhiều đường phố, cửa hàng, siêu thị, nhà kho, bến bãi, phương tiện giao thông, …), còn kiến trúc không gian sống nông thôn không thuận lợi cho tội phạm hoạt động

    + do lối sống đô thị thiếu tình người so với lối sống cộng đồng ở nông thôn. Thành phần dân cư đô thị hỗn tạp, mật độ cao nên tạo điều kiện thuận lợi cho tội phạm hoạt động; trong khi ở nông thôn thành phần dân cư tương đối thuần nhất, mật độ thấp nên gây khó khăn cho hoạt động tội phạm

    + do cơ cấu kinh tế ở đô thị đa dạng, phong phú, nhưng sự kiểm soát xã hội nhìn chung là lỏng lẻo; ngược lại ở nông thôn cơ cấu kinh tế rất ít đa dạng và sự kiểm soát xã hội (của chính quyền) chặt chẽ hơn nhiều

    – Nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo lứa tuổi và giới tính: nhìn chung tội phạm ở nam giới luôn cao hơn ở nữ giới và cao hơn cả ở trong tương quan của mỗi loại tội phạm cụ thể. Có những tội phạm gần như chỉ có ở nam giới như tội hiếp dâm, tội quấy rối tình dục. Có những tội phạm mà nữ giới hầu như không phạm phải, như tội hiếp dâm trẻ em.

    Xét theo cơ cấu lứa tuổi, tỷ lệ tội phạm ở lứa tuổi thanh thiếu niên có xu hướng gia tăng, trong khi ở độ tuổi trung niên và tuổi già thì tỷ lệ tội phạm lại giảm rõ rệt.

    – Nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo sự phân tầng xã hội: là sự phân tích theo cơ cấu – giai cấp, theo đó ở tầng lớp bình dân, người nghèo thường có tỷ lệ phạm tội cao hơn. Ngoài ra con em của người nghèo còn có nguy cơ vi phạm PL cao hơn do phải thường xuyên tiếp xúc với môi trường tội phạm

     

    VI. Một số hiện tượng hành vi sai lệch có tính nguy hiểm cao cho xã hội

    1. Nghiện ma túy

    – Nghiện ma túy là căn bệnh xã hội nguy hiểm, gây ra tác hại khon lường cho xã hội, là biểu hiện của hành vi sai lệch nghiêm trọng. Tác hại của nghiện ma túy thể hiện ở việc phá hủy sức khỏe người nghiện, hủy hoại nhân cách người nghiện (thường thấy cuộc đời bế tắc, cư xử tiêu cực, bi quan, sống gấp, …), gây khánh kiệt kinh tế, phá vỡ hạnh phúc gia đình, ảnh hưởng xấu đến an tinh trật tự, tạo gánh nặng cho xã hội.

    – Mặc dù nghiện hút ma túy đã không còn bị coi là tội phạm nhưng nghiện hút ma túy thường là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác, như cướp giật, trộm, …

    2. Say rượu

    – Là một trạng thái tinh thần bệnh hoạn, hình thành do kết quả của việc sử dụng quá nhiều rượu. Hậu quả là người nghiện rượu tạo hình ảnh bê tha, nhếch nhác, tự hạ thấp nhân cách của mình, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động lao động, gây tốn kém về tiền bạc. Mặt khác, nghiên rượu còn làm cho người say mất đi năng lực kiềm chế, năng lực điều chỉnh, kiểm soát hành vi, dẫn tới dễ bị kích động và dẫn tới phạm tội.

    – Say rượu thường là nguyên nhân gây ra các vụ tai nạn giao thông, bạo lực gia đình, ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Luật hình sự quy định Người phạm tội do say rượu thì không được miễn trách nhiệm hình sự

    3. Côn đồ, càn quấy (Hooligan)

    – Là những hành vi sai lệch có tính chất hung hãn, côn đồ, quậy phá, ẩu đả, chống đối xã hội, thường do những kẻ lưu manh, quá khích thực hiện.

    – Thường xảy ra trong lĩnh vực thể thao, kinh doanh, xây dựng, … Trong Luật hình sự có quy định các tội như Tội tổ chức đua xe trái phép, Tội đua xe trái phép, Tội gây rối trật tự công cộng, Tội chống người thi hành công vụ

    4. Tự tử

    – Là hành vi sai lệch bộc lộ rõ nét nhất thái độ tiêu cực của cá nhân bằng việc tự loại bỏ cuộc sống của chính mình.

    – Nguyên nhân của tự tử có thể do chủ quan (chán sống), nhưng đa phần là do các nguyên nhân xã hội như thất tình, thất nghiệp, nghèo khổ, khủng hoảng tinh thần, đánh mất niềm tin vào cuộc sống, mê tín dị đoan, …

    – Tự tử có thể gây ra những hậu quả xã hội to lớn, VD để lại món nợ, gây tâm lý tiêu cực cho người thân

    – Có 3 loại tự tử:

    + tự tử vì ích kỷ: là loại phổ biến nhất, là kết quả của “chủ nghĩa cá nhân thái quá”

    + tự tử vị tha: xảy ra khi cá nhân hoàn toàn bị ngập vào trong nhóm xã hội. VD người vợ tự tử khi chồng chết trong một số xã hội

    + tự tử vô tổ chức: xảy ra khi diễn ra một tình thế “vô tổ chức” khiến các thành viên xã hội mất đi cái trật tự tiêu chuẩn. VD khủng hoảng kinh tế khiến nhiều người tự tử (thường là doanh nhân, nhà đầu tư thua lỗ)

    5. Sự tha hóa về đạo đức

    – Là sự thoái hóa về nhân cách, phẩm chất và đạo đức con người. Thường xảy ra ở những người có quan niệm sai lệch, thái độ lệch lạc, hành vi coi thường các giá trị truyền thống, thuần phong mỹ tục, và do đó tự đánh mất lương tâm, danh dự, nhân phẩm của chính mình; buông thả mình theo lối sóng phóng túng, trụy lạc và thực dụng

     

    VII. Các biện pháp phòng, chống sai lệch chuẩn mực pháp luật

    1. Biện pháp tiếp cận thông tin

    – Có tác dụng nâng cao nhận thức, hiểu biết PL của con người

    – Gồm các khía cạnh:

    + cung cấp thông tin cần đầy đủ, chính xác

    + chú trọng nâng cao uy tín của hệ thống PL: PL cần công bằng và nghiêm minh để mọi tầng lớp nhân dân tin tưởng thực hiện. Cần đặc biệt chú ý tính công bằng và nghiêm minh trong quá trình thực hiện và áp dụng PL của các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền

    + cần cảnh giác, tích cực đấu tranh với những thông tin sai trái, những luận điệu xuyên tạc, bịa đặt của những thế lực thù địch

    2. Biện pháp phòng ngừa xã hội

    – Đây là biện pháp phòng chống sai lệch chuẩn mực xã hội có hiệu quả cao nhất. Theo đó sẽ tìm hiểu, phát hiện, làm sáng tỏ những nguyên nhân, điều kiện dẫn tới hành vi sai lệch chuẩn mực để từ đó đề xuất phương hướng, biện pháp phòng ngừa cụ thể

    – Phòng ngừa xã hội là tổng thể các biện pháp tác động về mặt xã hội (tác động về kinh tế, chính trị, giáo dục, văn hóa, pháp luật, đạo đức, …) mà NN và xã hội áp dụng nhằm loại trừ các nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh hành vi sai lệch chuẩn mực PL

    – Hai cấp độ phòng ngừa:

    + phòng ngừa chung: nhằm loại trừ sai lệch chuẩn mực PL nói chung

    + phòng ngừa chuyên ngành: đi sâu vào ngăn ngừa những loại hành vi sai lệch PL cụ thể, nhất là phòng ngừa hình sự

    3. Biện pháp áp dụng hình phạt

    – Là việc truy tố, xét xử và buộc kẻ phạm tội phải chịu 1 hình phạt nhất định. Có 2 ý nghĩa:

    + trừng trị kẻ phạm tội, cải tạo, cảm hóa họ để họ trở lại con đường hướng thiện

    + giáo dục, răn đe, ngăn ngừa người khác có ý định phạm tội

    – Trong Luật hình sự, có 2 nhóm hình phạt:

    + hình phạt chính: phạt tù, tử hình, …

    + hình phạt bổ sung: phạt tiền, cấm giữ chức vụ, …

    4. Biện pháp tiếp cận y – sinh học

    – Nhằm tìm hiểu người phạm tội có bị khuyết tật về thể chất hay tâm lý không, nhằm làm sáng tỏ nguyên nhân, điều kiện của hành vi sai lệch

    5. Biện pháp tiếp cận tổng hợp

    – Là biện pháp gồm các nội dung cụ thể sau:

    + cần nhận thức rõ công tác phòng chống sai lệch chuẩn mực không phải là nhiệm vụ của riêng cơ quan nào, mà là của toàn xã hội

    + củng cố các nguyên tắc đạo đức gắn liền với sự tôn trọng người có thẩm quyền khi họ thực hiện công việc, đồng thời cơ quan chức năng cũng cần có thái độ trân trọng đúng mức đối với các nhu cầu, đòi hỏi chính đáng của người dân

    + giáo dục các giá trị văn hóa PL, giá trị đạo đức truyền thống, xây dựng và phổ biến lối sống lành mạnh, tiến bộ, đề cao nguyên tắc pháp chế trên cơ sở công bằng, dân chủ, văn minh

    + mở rộng các loại hình vui chơi, giải trí lành mạnh, tiến bộ cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh niên

    + cải tiến, đổi mới công tác giáo dục PL trong hệ thống nhà trường từ phổ thông đến đại học. Mở rộng hoạt động phổ biến, tuyên truyền, giải thích PL trong các tầng lớp nhân dân

    + thông tin đầy đủ, chi tiết trên các phương tiện thông tin đại chúng những vụ việc xử lý tội phạm để nhân dân tin tưởng và sự nghiêm minh và công bằng của PL. Đồng thời thường xuyên tổ chức thăm dò dư luận xã hội đối với những vấn đề cụ thể của cuộc sống để có phương hướng điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung PL

    + dựa trên cơ sở các dự báo và diễn biến của tình hình tội phạm để xây dựng các kế hoạch đấu tranh có hiệu quả đối với từng loại tội phạm

    + trong bối cảnh hội nhập ngày nay, việc phòng chống tội phạm cần được mở rộng sự hợp tác quốc tế, như tham gia Interpol, AseanPol

     

    Một số câu hỏi thi (thầy Nhân đã nhắc trên lớp):

    – Trình bày các hình thức thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xây dựng PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày các cơ chế thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày yếu tố kinh tế có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày yếu tố chính trị có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày yếu tố văn hóa, lối sống có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày yếu tố pháp luật có ảnh hưởng đến việc thực hiện PL, cho ví dụ cụ thể ?

    – Trình bày nội dung cơ bản của hiện tượng tội phạm, cho ví dụ ?

    – Trình bày mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo phân loại nhóm tội phạm, cho ví dụ ?

    – Trình bày mô hình nghiên cứu định lượng và mô hình nghiên cứu định tính về hiện tượng tội phạm.

    – Trình bày mô hình nghiên cứu hiện tượng tội phạm theo khu vực địa lý, theo lứa tuổi và giới tính, theo sự phân tầng xã hội

    – Trình bày các hiện tượng sai lệch có tính nguy hiểm cao cho xã hội

    – Trình bày các biện pháp phòng chống sai lệch chuẩn mực PL

    Chia sẻ:

    Like this:

    Số lượt thích

    Đang tải…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xã Hội Học Pháp Luật (Hợp Pháp)
  • Cơ Chế “Xuyên Qua Màn Che Công Ty” Trong Pháp Luật Một Số Nước Và Ở Việt Nam
  • Kỹ Năng Tham Mưu Xây Dựng Chính Sách Pháp Luật Của Đội Ngũ Cán Bộ Cấp Chiến Lược Qua Thực Tiễn Xây Dựng Pháp Luật Của Chính Phủ
  • Nguyên Tắc Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Giữa Cơ Quan Lập Pháp Và Cơ Quan Hành Pháp Qua Các Bản Hiến Pháp Việt Nam
  • Bàn Về Quyền Lập Pháp Và Mô Hình Lập Pháp
  • Quy Luật Nhân Quả Là Gì? Ý Nghĩa Của Luật Nhân Quả

    --- Bài mới hơn ---

  • Sẽ Thế Nào Khi Con Người Không Còn Tin Vào Quy Luật Nhân Quả?
  • Những Câu Nói Hay Về Luật Nhân Quả Đáng Suy Ngẫm
  • 99+ Những Câu Nói Hay Của Phật Về Đời, Nhân Quả & Tình Yêu
  • Những Câu Chuyện Nhân Quả Do Nghiệp Sát Sinh
  • Sát Sinh Và Hậu Quả Dưới Góc Nhìn Của Phật Giáo
  • Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh, từng cá thể sống trên đời đều không khỏi tránh khỏi hỉ nộ ái ố. Nhiều người bất lực trước cuộc sống của mình. Họ muốn thay đổi số phận bằng cách tin vào yếu tố tâm linh như việc thờ cúng, cầu may…Thực chất mọi buồn vui sướng khổ của loài người đều có lý do. Có người nào làm điều xấu mà đêm về được an giấc ? Có ai làm điều thiện mà không hồ hởi trong lòng ? Nhưng tất cả kết quả đều được định sẵn trong quy luật nhân quả con người.

    Khái niệm quy luật nhân quả là gì ?

    Định nghĩa luật nhân quả là gì ? Trong tiếng Hán, nhân nghĩa là hạt giống, quả là trái ngọt. Trong đời sống, khái niệm này được hiểu ở nghĩa cách sống và kết quả của lối sống đó. Nếu con người làm điều xấu, bạn không chỉ gây khổ đau cho người khác mà còn nhận quả báo về sau.

    Tìm hiểu thêm tác dụng của niệm Phật để tâm thanh tịnh

    Ý nghĩa của quy luật nhân quả trong cuộc sống hiện đại

    Quy luật nhân quả giúp con người tránh xa những bói toán mê tín dị đoan

    Thật vậy, trong luật nhân quả không có gì là bí ẩn, huyền diệu. Nó là ánh mặt trời tươi sáng rọi những tia nắng xua tan màn đêm của sự mê tín, vô căn cứ. Hiểu rõ quy luật nhân quả để mỗi người tự ý thức sống đúng với giá trị bản thân mình. Việc cần làm thì cố gắng hết sức, việc sai trái thì tránh xa. Không ỷ lại, cầu xin vào các lực lượng siêu nhiên để rồi lãng phí thời gian và sức lực. Cách tốt nhất là tự đứng lên bằng đôi bàn chân của mình, dù đau đớn, dù vất vả xong trái ngọt sẽ ngập tràn.

    Mang lại cho con người sức mạnh của sự tin tưởng để chiến đấu và chiến thắng

    Bạn giống như một người thợ xây tự xây nên cuộc đời của riêng mình. Vì vậy, sự tự tin là yếu tố quan trọng nhất để gắn kết lý tưởng ước mơ vực dậy hoài bão về sự nghiệp. Có nhân thì mới có quả, có tự tin thì mới thành công. Những cố gắng bền bỉ và cả thất bại hôm nay sẽ khiến bạn trưởng thành hơn trên những bước đường sau này.

    Tạo tâm thế tích cực, thái độ lạc quan sống cho con người

    Nhiều người khi gặp thất bại thường đổ lỗi cho hoàn cảnh, trách móc người khác. Nhưng hãy thật bình tĩnh nhìn lại bản thân mà xem, chẳng phải chính bạn là người đã đưa ra những quyết định đấy ư? Bạn là người duy nhất nắm giữ và quyết định cho tương lai của mình. Vì vậy, hãy xem lại cách cư xử của bản thân và thay đổi ngay thôi, làm điều thiện để tâm hồn luôn thư thái, vui vẻ.

    Liệu rằng có luật nhân quả 3 đời ?

    Chúng ta đều biết rằng, quy luật nhân quả là một vòng tuần hoàn. Thông thường, người ta căn cứ nhân – quả ở ngay tại thời điểm đang sống – hiện tại. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng có luật nhân quả 3 đời. Không chỉ có hiện tại bây giờ mà còn ở quá khứ và những gì sắp sửa diễn ra trong tương lai. Với vấn đề này, thực chất có thể thấy quy luật nhân quả ở thì hiện tại là có thật và có thể kiểm chứng.

    Còn đối với quãng thời gian ở quá khứ hay tương lai, rất khó để xác nhận là có thật hay giả. Chỉ khi nào tai nghe, mắt thấy người ta mới tin là đúng. Bởi vậy, con người không phải là thần thánh mà có thể nhìn thấu ba cõi, nhân quả ba đời khó có thể tồn tại.

    Luật nhân quả có thật không ?

    Chắc chắn có rất nhiều người không tin vào hiện tượng này. Tuy nhiên, nó luôn tồn tại vô hình bạn không thể nhận ra. Dễ thấy rằng, khi bạn làm điều không lương thiện, luật nhân quả không thể xảy ra ngay lúc đó. Nhưng, đến khi qua một thời gian dài có thể vài tháng, vài năm hoặc vài chục năm, bạn sẽ bị nhân quả báo ứng về những việc mình làm.

    Lấy ví dụ điển hình như việc bạn ăn cắp, ăn trộm tùy theo mức độ nặng nhẹ thì sau này bạn sẽ bị mất mát nhiều hơn, làm ăn không được phát triển. Chính vì vậy, việc mình làm trời sẽ nhìn, chỉ là bạn không biết trước được những gì mình sẽ gánh chịu trong tương lại mà thôi.

    Lời kết

    Tất cả những gì chúng ta làm và đối xử với thế giới này đều dựa trên quy luật nhân quả. Hiểu rõ quy luật hiển nhiên này để có cách sống và hành động tích cực, giúp ích cho cuộc đời. Nhân duyên đời trước, kết quả đời sau, thành công hay thất bại hiện tại, tất cả do chính bạn mà thôi.

    THAM KHẢO: Cách đọc chú đại bi tiếng Phạn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đức Phật Đã Giác Ngộ Có Còn Bị Chi Phối Bởi Quy Luật Nhân Quả Không?
  • Đức Phật Có Chịu Chi Phối Của Quy Luật Nhân Quả Không?
  • Luật Nhân Quả: Tội Tà Dâm Mang Lại Quả Báo Kinh Hoàng
  • Quy Luật Nhân Quả Trong Cuộc Sống Xã Hội Và Khoa Học
  • Quan Điểm Của Phật Giáo Về Quy Luật Nhân Quả
  • Bài Giảng Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Hết Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Lớp Quốc Tế 39
  • Pháp Luật Đầu Tư Xây Dựng Ở Nước Ta: Thực Trạng Và Giải Pháp
  • Định Mức Chi Soạn Thảo Đề Cương Chi Tiết Dự Thảo Văn Bản Pháp Luật
  • Mức Chi Cụ Thể Xây Dựng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Thông Tư 01 Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật
  • (bài giảng Xây dựng văn bản pháp luật – VB 2, ĐH Luật Hà Nội, 2021)

    Đại học Luật Hà Nội

    Lớp: K14CCQ

    BÀI GIẢNG XÂY DỰNG VĂN BẢN PHÁP LUẬT

    Thời lượng: 45 tiết

    Ngày 10/01/2016

    Giảng viên: cô Đoàn Thị Tố Uyên (tiến sỹ, Phó Trưởng khoa Hành chính nhà nước, Trưởng bộ môn Xây dựng Văn bản pháp luật)

    Tài liệu:

    Chương 1: Khái quát về văn bản pháp luật I. Khái niệm văn bản pháp luật 1. Định nghĩa và đặc điểm a. Định nghĩa

    – Văn bản PL là hình thức thể hiện ý chí của NN, được ban hành theo hình thức, thủ tục PL quy định, luôn mang tính bắt buộc và được bảo đảm thực hiện bởi NN.

    b. Các đặc điểm

    Gồm 04 đặc điểm:

    Do chủ thể có thẩm quyền ban hành: nhân danh NN để ban hành, gồm:

    + các cơ quan NN từ TW đến cấp xã: Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ (nghị định, nghị quyết), UBND các cấp (quyết định, chỉ thị), tòa án các cấp (bản án, quyết định), viện kiểm sát các cấp (cáo trạng, kháng nghị, quyết định)…

    + những cá nhân có thẩm quyền ban hành:

      Thủ trưởng một số cơ quan NN (tự mình ban hành, không thay mặt cơ quan NN): Thủ tướng Chính phủ (quyết định, chỉ thị), Chánh án TANDTC (quyết định, chỉ thị, thông tư), Viện trưởng VKSNDTC (quyết định, chỉ thị, thông tư), Chủ tịch UBND các cấp (quyết định, chỉ thị)

    Chú ý: + Chủ tịch nước là chế định 1 người, nên thuộc nhóm Cơ quan NN chứ không phải nhóm Thủ trưởng cơ quan NN

    + quyết định, chỉ thị là văn bản PL cá biệt; thông tư, nghị định là văn bản PL quy phạm

    VD khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người dân, cần áp dụng luật Đất đai, cấp sổ đỏ lần đầu thì thẩm quyền thuộc UBND cấp huyện chứ không thuộc về cá nhân Chủ tịch UBND cấp huyện, nhưng cấp sổ đỏ lần 2 lại thuộc về cấp tỉnh

    VD xử phạt vi phạm hành chính thì sẽ áp dụng luật Xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền ra quyết định xử lý vi phạm thuộc về Chủ tịch UBND chứ không thuộc UBND

    • Công chức khi thi hành công vụ: chiến sỹ công an, bộ đội biên phòng, nhân viên hải quan, nhân viên kiểm lâm, nhân viên thuế, nhân viên quản lý thị trường, thanh tra viên chuyên ngành, …
    • Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, tàu hỏa khi các phương tiện này rời khỏi sân bay, bến cảng, nhà ga (chỉ được quyền tạm giữ người vi phạm theo thủ tục hành chính, lập biên bản, và giao cho cơ quan chức năng có thẩm quyền ở điểm đến kế tiếp)

    + cơ quan TW của các tổ chức chính trị-XH (6 tổ chức: Mặt trận Tổ quốc, Hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội nông dân, Tổng Liên đoàn lao động) phối hợp với UBTV Quốc hội hoặc Chính phủ để ban hành nghị quyết liên tịch (theo luật Ban hành VBQPPL 2008, đến luật Ban hành VBQPPL 2021 thì chỉ còn duy nhất Đoàn Chủ tịch UB TW Mặt trận tổ quốc VN mới được quyền phối hợp với UBTV Quốc hội hoặc Chính phủ để ban hành nghị quyết liên tịch)

    Có nội dung là ý chí của NN: (đây là đặc điểm quan trọng nhất) hình thức biểu hiện của ý chí:

    + thông qua các quy phạm PL:

    • Chủ trương, chính sách, biện pháp của NN: VD Nghị định số 99 về chính sách chi trả dịch vụ môi trường; Nghị quyết của Quốc hội về chủ trương cho người nước ngoài mua nhà; Nghị quyết của UBND thành phố Hà Nội về nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội năm 2021
    • Đặt ra các nguyên tắc: luật của luật, VD nguyên tắc mỗi hành vi vi phạm hành chính chỉ được xử phạt 1 lần
    • Quy tắc xử sự chung: VD Bộ giáo dục đào tạo ban hành Quy chế chung về đào tạo hệ đại học
      • Quy phạm cấm: không được, không cho phép, cấm, nghiêm cấm, VD Nghiêm cấm người chưa đủ 18 tuổi sử dụng, mua, bán thuốc lá
      • Quy phạm bắt buộc thực hiện hành vi (VD bắt buộc đội mũ bảo hiểm),
      • Quy phạm tùy nghi: là quy phạm trao quyền cho công dân, tức là không cấm, cũng không bắt buộc phải thực hiện

    + thông qua mệnh lệnh áp dụng PL: những mệnh lệnh áp dụng PL mang tính bắt buộc, VD Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với ông A

    Có tính bắt buộc và được bảo đảm thực hiện bởi NN: đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp:

    + tuyên truyền, phổ biến đến người dân

    + biện pháp tổ chức hành chính nội bộ trong NN: chỉ đạo, đôn đốc, công văn hướng dẫn, thông báo,… việc thực hiện luật, nghị định, thông tư tại địa phương, cơ quan mình

    + biện pháp kinh tế: VD áp thuế để hạn chế (thuốc lá, rượu, hàng xa xỉ), chính sách ưu đãi thuế (với các sản phẩm công nghệ cao, nông nghiệp), phạt tiền

    + cưỡng chế: truy cứu hành chính, truy cứu hình sự

    Thủ tục ban hành và hình thức phải tuân theo quy định của PL

    Tình huống: 1 vụ tai nạn giao thông, chiến sỹ cảnh sát giao thông đến và lập các văn bản:

    + Biên bản ghi lại vụ tai nạn

    + Biên bản bàn giao vụ việc cho cơ quan hình sự điều tra

    + Quyết định xử phạt hành chính (nếu chưa đến mức hình sự)

    + Bản án của tòa

    Hỏi: văn bản nào trong các văn bản trên có đầy đủ các đặc điểm của văn bản PL.

    Trả lời: Quyết định xử phạt hành chính, và Bản án của tòa là các văn bản PL. Còn các biên bản là các văn bản hỗ trợ cho văn bản PL.

    2. Phân loại văn bản pháp luật

    – Dựa vào hiệu lực pháp lý, chia thành:

    + văn bản luật

    + văn bản dưới luật

    – Dựa vào chủ thể ban hành, chia thành:

    + văn bản PL của cơ quan lập pháp

    + văn bản PL của cơ quan hành pháp

    + văn bản PL của cơ quan tư pháp

    – Dựa vào phạm vi lãnh thổ tác động, có:

    + văn bản cấp trung ương

    + văn bản cấp địa phương

    – Dựa vào tính chất pháp lý (nội dung), văn bản PL chia làm 2 loại:

    + văn bản quy phạm PL

    + văn bản áp dụng PL

    Đều là văn bản PL, tức là có đầy đủ 4 đặc điểm của văn bản PL

    Nội dung

    Chứa quy phạm PL

    VD:

    + bộ luật hình sự

    + luật cán bộ, công chức

    + luật đất đai

    + nghị định của chính phủ về xử phạt hành chính trong giao thông đường bộ

    Chứa mệnh lệnh áp dụng

    VD:

    + bản án của tòa án

    + quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm

    + quyết định giao đất, thu hồi đất

    + quyết định xử phạt vi phạm hành chính

    Đối tượng áp dụng

    Là tổ chức, cá nhân trừu tượng

    VD: mọi công dân, doanh nghiệp, trẻ em, nhà đầu tư, …

    Là người, tổ chức cụ thể

    VD: ông Nguyễn Văn A, công ty X, …

    Số lần thực hiện

    Nhiều lần, lặp đi lặp lại

    1 lần duy nhất

    Tính chất bắt buộc

    Có tính bắt buộc chung

    Bắt buộc với đối tượng cụ thể

    II. Tiêu chí đánh giá chất lượng VBPL

    Văn bản quy phạm PL có chất lượng khi đáp ứng đồng thời những tiêu chí sau:

    1. Tiêu chí về chính trị

    – Có nội dung phù hợp với chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng: cơ sở là Điều 4 Hiến pháp, nguyên tắc Đảng lãnh đạo Nhà nước, NN thể chế hóa chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng thành PL

    – Phù hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng của người dân: nhằm đảm bảo tính khả thi của văn bản, thể hiện tính dân chủ

    2. Tiêu chí về tính hợp hiến, hợp pháp a. Tính hợp hiến của văn bản

    – Phải có nội dung phù hợp với quy định cụ thể của Hiến pháp.

    – Phải có nội dung phù hợp với nguyên tắc cơ bản của Hiến pháp

    – Phải phù hợp với tinh thần của Hiến pháp

    b. Tính hợp pháp

    VBPL phải phù hợp với các quy định của PL, tức là:

    – Phải đúng thẩm quyền:

    + đúng thẩm quyền về hình thức: sử dụng đúng tên gọi do luật quy định. VD chính phủ ban hành Nghị định, Chính phủ không được ban hành Luật

    + đúng thẩm quyền về nội dung: là ban hành văn bản PL để giải quyết công việc hay điều chỉnh 1 lĩnh vực thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình

    – Phải có nội dung hợp pháp:

    + VBQPPL của cấp dưới phải phải có nội dung phù hợp với VBQPPL của cấp trên

    + nội dung VBADPL phải phù hợp với VBQPPL: ví dụ, khung hình phạt tù đối với tội A là từ 3 đến 10 năm, thì tòa không thể ban hành bản án phạt tù 11 năm, hay cho hưởng án treo

    – Phải đúng căn cứ pháp lý:

    + văn bản được dùng làm căn cứ phải đang có hiệu lực pháp lý

    – Phải đúng thể thức và kỹ thuật trình bày theo quy định của PL

    – Được ban hành đúng thủ tục và trình tự

    3. Tiêu chuẩn về tính hợp lý

    Hợp lý có nghĩa và ban hành 1 VBPL để giải quyết 1 lĩnh vực, 1 công việc một cách tối ưu nhất và đem lại hiệu quả tốt nhất.

    Biểu hiện của tính hợp lý:

    – Phù hợp với đạo đức, tôn giáo, thuần phong mỹ tục: VD quy định mỗi đám tang chỉ được có tối đa 5 vòng hoa, tuy mục đích để tiết kiệm, nhưng không phù hợp với phong tục về tang lễ các vùng miền

    – Phải ban hành kịp thời

    – Sử dụng ngôn ngữ diễn tả đúng quy tắc:

    + ngôn ngữ phải đảm bảo tính trang trọng, nghiêm túc

    + đảm bảo tính chính xác, 1 nghĩa

    + đảm bảo tính phổ thông, dễ hiểu

    – Tính thống nhất

    – Đảm bảo kết cấu văn bản lo-gic, chặt chẽ:

    + nội dung khái quát trình bày trước nội dung cụ thể

    + nội dung quan trọng trước, ít quan trọng sau

    + quy định về quyền và nghĩa vụ trước quy định về trình tự thực hiện

    + theo trình tự diễn biến của công việc (theo bộ luật Tố tụng hình sự / bộ luật Tố tụng dân sự, luật khiếu nại tố cáo, …)

    Ngày 17/01/2016

    Giảng viên: cô Cao Kim Oanh

    Chương 2: Quy trình xây dựng văn bản pháp luật

    Ví dụ về quy trình xây dựng, ban hành VBPL:

    – Phạm luật giao thông, bị phạt vi phạm hành chính 300.000, khi đó chiến sỹ cảnh sát giao thông sẽ:

    + Lập biên bản vi phạm (vì quy định mức phạt từ 250.000 trở lên phải lập biên bản): đây là thủ tục bắt buộc chứ không phải là VBPL

    + Quyết định xử phạt hành chính: đây là VBPL (chính xác hơn là VBADPL), thể hiện ý chí của chiến sỹ cảnh sát là người đang thực hiện nhiệm vụ được NN giao

    – Trường đại học Luật Hà Nội cần tuyển dụng giảng viên, quy trình sẽ như sau:

    + phòng Tổ chức chủ trì soạn thảo Quyết định tuyển dụng giảng viên

    + phòng Hành chính sẽ thẩm định hình thức Quyết định của phòng Tổ chức: đây là thủ tục không bắt buộc

    + dự thảo văn bản được chuyển lại cho phòng Tổ chức để xác nhận lại, sau đó được chuyển lên Hiệu trưởng để ký ban hành

    + sau khi Hiệu trưởng ký, văn bản sẽ được chuyển đến văn thư để vào số và ban hành.

    – Thành phố Hà Nội ban hành quyết định để thu hút đầu tư:

    + UBND thành phố Hà Nội giao cho Sở Kế hoạch đầu tư chủ trì soạn thảo

    + Sở Kế hoạch đầu tư soạn thảo

    + Đưa ra lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân (đưa lên web chúng tôi tổ chức hội thảo lấy ý kiến, đưa lên các phương tiện thông tin đại chúng)

    + Sở Kế hoạch đầu tư tiếp nhận các ý kiến, hoàn thiện dự thảo

    + Chuyển sang Sở Tư pháp để thẩm định về tính chính trị, hợp hiến, hợp pháp, hợp lý của văn bản. Kết quả là Báo cáo thẩm định

    + Chuyển lên cho UBND để trong kỳ họp HĐND sẽ xem xét, đánh giá văn bản, sửa chữa, bổ sung nếu cần thiết

    + Sau khi hoàn thiện, trả về cho UBND thành phố Hà Nội

    + Văn phòng UBND sẽ vào số, ban hành văn bản rộng rãi đến các đối tượng của văn bản

    – Quy trình ban hành luật Dân sự:

    + Chính phủ giao Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo Bộ luật Dân sự sửa đổi

    + Bộ Tư pháp giao cho Vụ Dân sự kinh tế soạn thảo: thành lập Ban soạn thảo (Trưởng ban soạn thảo thường là Bộ trưởng, Thường trực ban soạn thảo là Vụ trưởng), Tổ biên tập (có thể mời các nhà khoa học, những người có uy tín, nhân dân tham gia)

    + Sau khi soạn thảo, đưa lên web chúng tôi để lấy ý kiến nhân dân trong 60 ngày, tổ chức các hội thảo để tham vấn, phỏng vấn người dân để lấy ý kiến, …

    + Tổ biên tập và Ban soạn thảo sẽ tiếp thu các ý kiến, hoàn thiện dự thảo

    + Chỉnh phủ thành lập Hội đồng thẩm định (vì Bộ Tư pháp chủ trì nên không thể tự thẩm định được) gồm các Bộ, ngành khác, văn phòng chính phủ, và một số cơ quan, cá nhân, … để đánh giá, thẩm định văn bản. Kết quả là Báo cáo thẩm định của hội đồng

    + Báo cáo thẩm định và Báo cáo thẩm tra được gửi lại cho Chính phủ, chuyển lại cho Sở tư pháp để hoàn thiện

    + Dự thảo hoàn thiện được chuyển đến UBTV Quốc hội, UBTV Quốc hội sẽ đưa ra tại 1 kỳ họp Quốc hội để các đại biểu QH bàn luận, thông qua

    + Sau khi được đa số đại biểu QH thông qua, sẽ chuyển về Văn phòng Quốc hội để vào số, chủ tịch QH ký chứng thực

    + Chờ Lệnh của Chủ tịch nước để công bố chính thức và sẽ có hiệu lực tại thời điểm quy định trong Luật

    Câu hỏi: Thẩm định là hoạt động bắt buộc đối với mọi dự thảo VBPL.

    Sai. Vì quy trình ban hành VBPL cấp xã không tiến hành thẩm định

    Câu hỏi: Mọi VBPL sau khi được chủ thể có thẩm quyền thông qua phải đăng công báo.

    Sai. Vì với VBPL thuộc loại Bí mật NN thì sẽ không đăng công báo

    Câu hỏi: Chính phủ là chủ thể duy nhất được đề xuất xây dựng PL

    Sai. Vì các đại biểu quốc hội, các tổ chức chính trị, XH đều được đề xuất xây dựng PL

    Câu hỏi: Thẩm định thủ tục hành chính và giới là 1 trong những nội dung bắt buộc của quy trình phân tích chính sach

    Đúng theo luật Ban hành VBPL 2021 (có hiệu lực từ 1/7/2016)

    – Theo luật ban hành VBPL 2008, trình tự xây dựng VBQPPL gồm các bước:

    + B1: Đề xuất / Lập chương trình xây dựng VBQPPL

    + B2: Soạn thảo VBQPPL

    + B3: Thẩm định, thẩm tra dự thảo VBQPPL

    + B4: Trình để xem xét dự thảo

    + B5: Thông qua và công bố VBQPPL

    – Theo luật ban hành VBPL 2021, sẽ gồm 2 quy trình riêng biệt:

    + Quy trình xây dựng chính sách

    + Quy trình xây dựng VBQPPL

    – Chủ thể đề xuất xây dựng VBQPPL, gồm 3 chủ thể:

    + chính phủ: cụ thể là các bộ, ngành đề xuất (chiếm đến trên 90% số VBQPPL)

    + các tổ chức chính trị-XH

    + đại biểu quốc hội: đến nay chưa có đại biểu quốc hội nào đề xuất dự án luật thành công (có 2 người đề nghị nhưng đều không được thông qua)

    Câu hỏi: Phân biệt Thẩm định và Thẩm tra

    Chương 3: Hình thức của văn bản pháp luật

    – Hình thức của VBPL: do PL quy định

    – Bố cục của VBPL luôn gồm 2 phần: hình thức và nội dung

    – Hình thức: gồm các yếu tố:

    + quốc hiệu

    + tên cơ quan ban hành

    + số, ký hiệu

    + địa danh, thời gian

    + tên văn bản

    + trích yếu nội dung

    + chữ ký

    + nơi nhận

    Ngày 24/01/2016

    Giảng viên: cô Cao Kim Oanh

    Chương 4: Nội dung của văn bản pháp luật I. Nội dung của văn bản quy phạm pháp luật

    Bố cục của nội dung: luôn gồm 3 phần

    + phần mở đầu (cơ sở ban hành): gồm cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn

    + nội dung chính: các quy phạm PL

    + phần kết thúc: hiệu lực về thời gian, đối tượng

    1. Cơ sở ban hành (Phần mở đầu) a. Cơ sở pháp lý

    – Là phần chủ thể ban hành dựa vào quy định của PL

    – Yêu cầu của cơ sở pháp lý:

    + luôn là VBQPPL

    + phải là VBQPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, hoặc bằng dự thảo

    + phải là VBQPPL đang có hiệu lực. Chú ý: có thể lấy VBQPPL chưa có hiệu lực làm cơ sở trong trường hợp văn bản này cụ thể hóa văn bản chờ hiệu lực đó, VD khi ban hành Luật, sẽ có khoảng thời gian từ khi ban hành đến khi có hiệu lực, trong thời gian đó có thể ban hành Nghị định, thông tư để cụ thể hóa luật đó.

    – Sắp xếp căn cứ:

    + Nhóm 1: văn bản QPPL quy định thẩm quyền của chủ thể

    b. Cơ sở thực tiễn

    – Mục đích sự ra đời của văn bản: để giải quyết vấn đề bức thiết nào

    2. Nội dung chính

    – Quy phạm không chứa đựng quy tắc xử sự:

    + nhóm quy phạm chủ trương

    + nhóm quy phạm nguyên tắc

    + nhóm quy phạm giải thích từ ngữ

    – Quy phạm quy định nguyên tắc xử sự:

    + quy phạm cấm thực hiện hành vi:

    + quy phạm bắt buộc thực hiện hành vi: + +

    3. Hiệu lực pháp lý (kết thúc)

    – Quy định hiệu lực của VBPL về:

    + không gian

    + thời gian

    + đối tượng

    + khả năng làm mất hiệu lực của VBPL khác

    Ngày 31/01/2016

    Giảng viên: cô Cao Kim Oanh

    Chương 4: Nội dung của văn bản pháp luật (tiếp)

    II. Nội dung văn bản áp dụng pháp luật

    Giống như với VBQPPL

    Khác ở các điểm:

    – Nội dung của VBADPL chỉ có các mệnh lệnh (ở Quyết định, Chỉ thị)

    – VBADPL không có hiệu lực về không gian như VBQPPL vì VBADPL là VB cá biệt cho đối tượng áp dụng

    1. Cơ sở ban hành của VBADPL a. Cơ sở pháp lý

    – Là phần chủ thể ban hành dựa vào quy định của PL

    – Điều kiện văn bản làm của cơ sở pháp lý cho VBADPL:

    + là VBQPPL, hoặc VBADPL, hoặc cả hai

    + phải là VBPL có hiệu lực pháp lý cao hơn, hoặc bằng dự thảo

    + phải là VBPL đang có hiệu lực, không được lấy VBPL đang chờ hiệu lực

    – Sắp xếp căn cứ: (gồm 3 nhóm):

    + nhóm 1: văn bản quy định thẩm quyền của chủ thể ban hành

    – Cách thức soạn thảo:

    Căn cứ + + ;

    + nếu viện dẫn văn bản dưới luật mà là văn bản áp dụng:

    Căn cứ + + + + ;

    Chú ý: căn cứ về thẩm quyền của chủ thể ban hành VBADPL luôn được xếp đầu tiên, trước cả luật / pháp lệnh

    b. Cơ sở thực tiễn

    – Xét … / Theo …

    2. Nội dung chính của VBADPL a. Soạn thảo Quyết định

    – Không có Chương, Mục, mà chỉ có Điều, có thể có Khoản, nhưng không đặt tên Khoản

    – Thường có 3 điều:

    + Điều 1. Giải quyết công việc phát sinh mà VB hướng đến

    +

    VD: Bổ nhiệm bà Cao Kim Oanh, sinh ngày 20/7/1977, hiện là Phó trưởng bộ môn Xây dựng VBPL, giữ chức vụ Trưởng bộ môn Xây dựng VBPL kể từ ngày 01/05/2016.

      Về xử phạt vi phạm hành chính:

    + + + + + +

    VD: HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

    UBND TỈNH BẮC NINH

    VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT TỈNH HẢI DƯƠNG

    Căn cứ ;

    Sắp xếp các VBPL trong phần này:

    + hiệu lực cao hơn xếp trước (luật, nghị định, thông tư)

    + nếu cùng hiệu lực thì xếp theo thời gian ban hành trước, sau

    + nếu cùng hiệu lực, cùng thời gian thì lấy số văn bản trước, sau

    + nếu cùng hiệu lực, cùng thời gian, cùng số văn bản (vd thông tư của 2 bộ có thể có cùng số, cùng ngày), thì xếp theo văn bản trực tiếp quy định nội dung công việc đang áp dụng trước, gián tiếp sau

    Chú ý: trường hợp viện dẫn quy chế hoạt động có 1 quyết định ban hành quy chế đó, thì sẽ ghi là

    Căn cứ Quyết định số … ban hành kèm theo Quy chế …

    (không được ghi Căn cứ Quy chế … ban hành kèm theo QĐ số …, vì QĐ mới là VBPL, còn Quy chế chỉ là văn bản hành chính)

    Xét … / Theo …

    Xét: do cấp dưới đề nghị, báo cáo. Có các trường hợp:

    + đề nghị của Trưởng đơn vị soạn thảo Quyết định.

    + công văn / tờ trình của đơn vị soạn thảo Quyết định.

    VD: ghi Xét công văn của Sở nội vụ về việc bổ nhiệm Giám đốc Sở nội vụ (Phó Giám đốc Sở ký)

    VD: ghi Xét tờ trình của phòng Kế hoạch Đầu tư

    + biên bản: vi phạm, khen thưởng, kỷ luật, nâng lương, nghiệm thu đề tài, …

    VD: ghi Xét biên bản vi phạm hành chính

    ghi Xét biên bản của Hội đồng thi đua khen thưởng

    Theo: do cấp trên chỉ thị, chỉ đạo

    + văn bản chỉ đạo của đảng: nếu có chỉ thị trực tiếp vào việc cụ thể để ra quyết định

    VD: ghi Theo chỉ thị số 15 của Tỉnh ủy về việc thành lập Ban phòng chống tham nhũng

    + công văn chỉ đạo của lãnh đạo cấp trên trực tiếp

    VD: ghi Theo công văn chỉ đạo của UBND tỉnh về …

    Chú ý: nếu phần cơ sở ban hành có cả Căn cứ, Theo, Xét thì sắp xếp theo đúng thứ tự này.

    QUYẾT ĐỊNH :

    (có tối đa 5 điều, tối thiểu 2 điều)

    Điều 1. Giải quyết công việc phát sinh (bắt buộc phải có)

    Mệnh lệnh áp dụng + đối tượng áp dụng + lý do / thời gian thực hiện

    VD: Bổ nhiệm Thứ trưởng Bộ Quốc phòng đối với ông Nguyễn Văn A sinh ngày 1/1/1900 trong thời hạn 5 năm kể từ ngày 1/1/2000

    VD: Nâng bậc lương trước thời hạn cho ông Nguyễn Văn A sinh ngày 1/1/1900 từ bậc 4/8 đên bậc 5/8 kể từ ngày 1/1/2000

    VD: Tặng danh hiệu Chiến sỹ thi đua cấp cơ sở cho các ông bà trong danh sách kèm theo vì đã có thành tích xuất sắc trong năm 2021

    VD: Xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Nguyễn Văn A sinh ngày 1/1/1900, đang cư trú tại … vì đã có hành vi vi phạm Khoản … Điều … của Nghị định …

    Điều 2. Nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức (nếu có)

    có quyền được hưởng … theo quy định của …

    VD: Ông Nguyễn Văn A có quyền được hưởng phụ cấp chức vụ theo hệ số 0,6 theo quy định của pháp luật hiện hành.

    Điều 4. Trách nhiệm thi hành quyết định (bắt buộc phải có)

    a. Cơ sở ban hành

    Có 3 cách viết cơ sở ban hành

    Cách 1:

    + viện dẫn 1 VBPL làm cơ sở pháp lý: dẫn VBPL trực tiếp điều chỉnh về nội dung công việc cần chỉ thị

    Lưu ý: nên viện dẫn bằng những từ sau:

    VD: Sau khi có Luật An toàn vệ sinh thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010 đến nay, …

    Kể từ khi có Luật An toàn vệ sinh thực phẩm số 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010 đến nay, … Sau khi Quốc hội ban hành Luật An toàn vệ sinh thực phẩm 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010, … Sau nhiều năm thực hiện Luật An toàn vệ sinh thực phẩm 55/2010/QH12 ngày 17/6/2010, …

    + nêu thực trạng của công việc: thành tựu (có thể có hoặc không), hạn chế, bất cập (bắt buộc phải có)

    + nguyên nhân có hạn chế đó: nguyên nhân từ phía người dân (thường là thiếu hiểu biết PL, ý thức kém) và nguyên nhân từ phía cơ quan NN

    + mệnh lệnh của chủ thể ban hành: làm gì

    Cách 2: (đảo vị trí so với Cách 1)

    + nêu thực trạng của công việc: thành tựu (có thể có hoặc không), hạn chế (bắt buộc phải có)

    Lưu ý: nên mở đầu bằng

    VD: Thời gian gần đây, tình trạng mất vệ sinh an toàn thực phẩm diễn ra phổ biến và ngày càng có tính chất nghiêm trọng.

    VD: Trong thời gian qua, vấn đề an toàn giao thông đường bộ đã được các cấp các ngành quan tâm và bước đầu đã đạt được những thành tựu đáng kể, …

    + nguyên nhân dẫn đến hạn chế: nguyên nhân từ phía người dân (thường là thiếu hiểu biết PL, ý thức kém) và nguyên nhân từ phía cơ quan NN

    + viện dẫn VBPL làm cơ sở pháp lý: nên dùng các trạng ngữ:

    • Nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả hơn nữa yêu cầu , làm gì

    + mệnh lệnh của chủ thể ban hành: làm gì

    Cách 3:

    + thực trạng công việc

    + nguyên nhân dẫn đến hạn chế

    + mệnh lệnh của chủ thể ban hành

    VD: Chỉ thị của Chủ tịch UBND tỉnh chỉ đạo về thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn tỉnh:

    – Thông thường nội dung chính của Chỉ thị xoay quanh 6 giải pháp sau:

    Nêu ra các nguyên nhân gây ra thiếu kinh phí; đồng thời nêu ra giải pháp đối với từng nguyên nhân

    (2) Giải pháp về trang bị phương tiện vật chất

    Nêu giải pháp về trang bị phương tiện vật chất phục vụ chuyên môn.

    VD: Yêu cầu phải có giải pháp kiểm dịch thực phẩm trên thị trường, thì cần có phương tiện kiểm dịch chuyên dụng như thiết bị lấy mẫu, thiết bị xét nghiệm nhanh, …

    VD: Yêu cầu về phòng cháy chữa cháy, thì cần có xe chữa cháy chuyên dụng hiện đại, mặt nạ phòng độc, …

    (3) Giải pháp về nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của cơ quan chức năng

    Chú ý xác định đúng cơ quan chức năng chính quản lý công việc của Chỉ thị

    VD: chỉ thị về vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm thì cơ quan quản lý chính là bộ Y tế (trong khi có 4 bộ cùng quản lý là bộ Y tế, Nông nghiệp, Công thương, Công an)

    VD: chỉ thị về tăng cường an toàn giao thông đường bộ, thì cơ quan quản lý chính là bộ Công an và bộ Giao thông cùng quản lý (nếu vi phạm giao thông trên đường sẽ do bộ Công an (cảnh sát giao thông) xử lý; nếu vi phạm cơ sở hạ tầng như lấn chiếm lòng đường vỉa hè sẽ do bộ Giao thông (thanh tra giao thông) xử lý)

    (a) Tăng cường số lượng công chức đáp ứng yêu cầu công việc được giao

    (b) Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho công chức (bằng cách cử đi đào tạo bồi dưỡng và tập huấn chuyên môn)

    (c) Nâng cao tinh thần trách nhiệm và ý thức kỷ luật trong công việc (d) Yêu cầu các cơ quan trực thuộc thường xuyên báo cáo về kết quả thực hiện công việc (4) Giải pháp về phối hợp đồng bộ kịp thời giữa các cơ quan hữu quan

    Đặt câu hỏi: mình cần ai phối hợp cùng để giải quyết công việc

    VD: để chữa cháy, cảnh sát phòng cháy chữa cháy sẽ cần:

    1. Hệ thống điện

    VD: chỉ thị về phòng chống buôn lậu, bộ công thương sẽ cần các chủ thể sau phối hợp :

    1. Hải quan, biên phòng: ở cửa khẩu
    2. Quản lý thị trường: khi hàng lậu đã vào trong nội địa
    3. Công an: xử lý vi phạm

    (5) Giải pháp về nâng cao ý thức và sự hiểu hiểu biết cho người dân

    Đặt câu hỏi: làm thế nào để nâng cao ý thức và hiểu biết của người dân ? Các biện pháp thông thường:

    1. Tăng cường công tác phổ biến, tuyên truyền PL
    2. Xử lý nghiêm minh với những hành vi vi phạm

    (6) Giải pháp về thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện

    Chú ý: 6 giải pháp trên là gợi ý cần phải có, ngoài ra còn có thể có nhiều giải pháp khác tùy vào từng trường hợp cụ thể.

    – Cách sắp xếp 6 giải pháp trên:

    + 5 giải pháp đầu tiên được xếp theo tiêu chí: quan trọng xếp trước, ít quan trọng xếp sau; giải pháp trước mắt xếp trước, giải pháp lâu dài xếp sau, tùy theo lĩnh vực và thời điểm giải quyết công việc

    + giải pháp (6) luôn ở vị trí cuối cùng

    – Các giải pháp trên được diễn đạt theo công thức:

    Ai

    VD: Sở Tài chính có trách nhiệm bảo đảm nguồn tài chính cho công tác xóa đói giảm nghèo.

    c. Kết thúc

    – Gồm các ý:

    + khẳng định lại nội dung của Chỉ thị

    + yêu cầu cấp dưới thực hiện tốt Chỉ thị

    + cách thức giải quyết vướng mắc

    + thời điểm có hiệu lực pháp lý

    – Nên theo mẫu thông dụng:

    Ngày 27/03/2016

    Giảng viên: cô Ngô Linh Ngọc

    Thực hành soạn thảo Quyết định và Chỉ thị:

    1. Soạn thảo VBPL để chủ thể có thẩm quyền bổ nhiệm ông Nguyễn Văn A, sinh ngày …, hiện là Phó phòng Quản lý thương mại, giữ chức vụ Trưởng phòng Quản lý công nghiệp thuộc Sở Công thương tỉnh H
    2. Soạn thảo VBPL để chủ thể có thẩm quyền chỉ đạo công tác bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trên địa bàn thành phố Hà Nội

    1. Hình thức của VBPL sẽ là Quyết định

    Chủ thể ban hành: Giám đốc Sở Công thương

    2. Hình thức của VBPL sẽ là Chỉ thị

    Chủ thể ban hành: UBND thành phố Hà Nội, hoặc Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Bất Cập, Hạn Chế Trong Việc Thực Hiện Các Quy Định Pháp Luật Về Hoạt Động Thanh Tra. Một Số Kiến Nghị, Đề Xuất
  • Bài 2: Những Bất Cập Trong Quy Trình Xây Dựng Pháp Luật
  • Cần Sửa Đổi Những Bất Cập Của Luật Xây Dựng
  • Bất Cập Trong Xây Dựng Và Ban Hành Luật: Chỉ Dấu Của Hiện Trạng Gì?
  • Đề Thi Môn Xây Dựng Văn Bản Pháp Luật Lớp Hình Sự 39
  • Luật Nhân Quả Hay Nghiệp Quả Báo Ứng

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Nhân Quả Ở Đời: Gây Ác Nghiệp, Chịu Ác Báo!
  • Quy Luật Nhân Quả Là Gì? Luật Nhân Quả Ở Đời, Trong Tình Yêu Và Vợ Chồng
  • Luật Nhân Quả Khi Nào Linh Ứng Trong Đời Ta?
  • Trên Đời, Công Bằng Nhất Không Gì Qua Được Luật Nhân Quả
  • Luật Nhà Ở Số 65/2014/qh13 Ngày 25 Tháng 11 Năm 2014
  • Là người sống ở thế gian, có ai tránh khỏi một đôi lần gặp bất trắc, tai ương lớn hay nhỏ. Nhỏ như chuyện bất hoà khó chịu xảy ra liên tục với người xung quanh. Nhỏ như yêu thương người này ghét bỏ người kia một cách tự nhiên, hay người này cực khổ chăm sóc nuôi dưỡng người kia mà bị người kia càm ràm nặng nhẹ gây khó dễ hết chuyện này sang chuyện khác, hoặc chính bản thân mình đau ốm bệnh hoạn triền miên chạy chữa khắp nơi mà không dứt bệnh. Lớn như chuyện con cái trong nhà không nghe lời dạy dỗ của cha mẹ, ra ngoài xã hội quậy phá phạm luật chịu cảnh tù tội khiến kẻ làm cha làm mẹ chịu nhiều lo âu và đau khổ. Lớn như công ăn việc làm thất bại đưa đến trắng tay, mất nhà mất cửa, hay tình cảm gia đình rạn nứt đưa đến tình trạng ly thân ly dị, hoặc hai người đang thương yêu nhau thắm thiết đột nhiên một người ra đi vĩnh viễn bỏ lại một người bơ vơ lạnh lẽo trên cõi đời… Quá lớn như mới đây ở Las Vegas, Hoa Kỳ, một người đàn ông Mỹ đã dùng súng liên thanh bắn chết mấy chục người khi họ đang xem ca nhạc ngoài trời và khiến cho gần năm trăm người vô tội khác bị thương chỉ trong vòng mươi phút đồng hồ, rồi sau đó tự kết liễu cuộc đời của mình.

    Những sự buồn bực, phiền não khi nhiều, khi ít đó, có khi vừa giải quyết xong thì chuyện khác lại đổ ập tới khiến cho người trong cuộc đã khổ ngày lại càng khổ thêm. Đa phần khi gặp những trường hợp này người ta thường ôm đầu bứt tóc than rằng đang ” Trả Nghiệp”, nhưng thực sự Trả Nghiệp là gì, xuất xứ của Nghiệp từ đâu đến, và làm sao để thoát ra khỏi vòng “Nghiệp” oan trái này?

    Nghiệp là thuật ngữ được dịch ý từ tiếng Phạn là Karma, tiếng Pàli là Kamma. Nghiệp, nghĩa đen là làm một cái gì đó, tác động một cái gì đó. Trong nhà Phật thì Nghiệp là những ý nghĩ, lời nói, hành động tốt hay xấu, huân tập lâu ngày thành thói quen tạo nên sức mạnh chi phối tất cả mọi sinh hoạt trong cuộc sống con người từ khi cất tiếng khóc chào đời cho đến lúc xuôi tay nhắm mắt. Nghiệp không biến mất khi người ta chết mà nó còn theo chúng ta qua đời sống kế tiếp.

    Nghiệp là Nhân, báo là Quả. Nghiệp và Quả Báo tạo thành Luật Nhân Quả. Ngắn gọn là “Nghiệp Quả” hay “Nghiệp Báo”. Nếu chúng ta tạo Nhân (Nghiệp) tốt thì sẽ trổ Quả tốt, còn ngược lại nếu ta gieo Nhân xấu thì sớm hay muộn gì chúng ta cũng nhận Quả xấu. Chuyện Nhân Quả cứ thế mà xoay dần thành một vòng tròn không bao giờ chấm dứt vì con người cứ tạo Nhân rồi trả Quả. Trong việc trả Quả lại tiếp tục tạo Nhân mới và Nhân Quả cứ như thế mà luân hồi.

    Như vậy mỗi tác động (Nhân hay Nghiệp) dưới một điều kiện nhất định sẽ sinh ra một Quả Báo. Một khi Quả đó chín, nó sẽ “hồi đáp” trở lại người đã tạo ra nó. Thời gian để một Quả chín muồi có thể kéo dài rất lâu cũng có khi rất mau. Nghiệp đã gieo thì trăm, ngàn kiếp vẫn không mất. Khi đủ nhân duyên nó sẽ xuất hiện. Ai gây Quả ác thì sẽ nhận Quả ác, ai tạo Quả lành sẽ nhận Quả lành một cách công bằng, không thiên vị. Tạo Nghiệp tốt có thể mang lại kết quả tốt trong đời hiện tại hay trong đời tái sinh. Nhưng chúng ta cần nhớ là dù tạo Nghiệp tốt hay xấu đều phải chịu luân hồi sinh tử. Trong minh thứ ba là Lậu Tận Minh, Đức Phật đã xác nhận nguyên nhân của luân hồi sinh tử là Lậu hoặc. Ở đây, Nghiệp chính là Lậu hoặc. Bên trong Lậu hoặc chứa sẵn mầm tham sân si. Chính tham sân si thúc đẩy người ta có hành vi tạo Nghiệp nên Lậu hoặc hay Nghiệp là nguyên tố của luân hồi sinh tử. Nó theo chúng ta nhiều đời từ quá khứ, hiện tại và tương lai.

    Mỗi ngày chúng ta gây không biết bao nhiêu là Nghiệp. Mỗi Nghiệp gây ra do tác động của Thân, Ý hay Ngôn ngữ tức lời nói.

    – Khi chúng ta đánh đập người hay ra tay giết hại bất cứ loài vật nào thì chúng ta đã tạo nghiệp Thân, mà đó là nghiệp ác. Khi chúng ta vuốt ve vỗ về người khác giúp người đó vượt qua sự buồn đau, hay giúp đỡ dẫn dắt người bệnh, người già hay người mù, hoặc bảo vệ môi trường sống như lượm rác, lượm đinh ngoài đường xá, hay vét mương, thông cống, trồng cây thì đó là chúng ta đã tạo Thân nghiệp, nghiệp này được coi như nghiệp lành, nghiệp tốt.

    Trong tam nghiệp, nghiệp Ý là hệ trọng hơn hết. Chính Ý là chủ chốt nghĩ ra việc phải làm, Thân và Khẩu chỉ là tòng phạm làm theo mà thôi. Trong Kinh Pháp Cú, phẩm Song Yếu. Đức Phật đã dạy rằng: “1) Ý dẫn đầu các pháp. Ý làm chủ, ý tạo. Nếu với Ý ô nhiễm. Nói lên hay hành động. Khổ não bước theo sau. Như xe, chân vật kéo. 2) Ý dẫn đầu các pháp. Ý làm chủ, ý tạo. Nếu với Ý thanh tịnh. Nói lên hay hành động. An lạc bước theo sau. Như bóng, không rời hình.” Khi trong đầu đã tác ý suy nghĩ muốn làm một cái gì tốt hay xấu là chúng ta đã tạo Nghiệp Ý. Tiếp theo chúng ta sẽ hành động và phát ngôn theo chiều hướng của Ý tạo thêm Thân nghiệp và Khẩu nghiệp.

    Tuy Nghiệp không hình tướng cụ thể nhưng nó có khả năng chi phối, sai sử làm cho người ta khốn khổ và si dại vì nó. Nhìn chung thì Nghiệp do chúng ta tạo ra và cũng chính chúng ta bị Nghiệp trói buộc trở lại.

    Nếu hành động thiện hay ác mà có chủ ý của ý thức quyết định, đó là “định nghiệp”, còn như hành động thiện hay ác mà không có chủ ý của tâm thức thì cũng tạo nghiệp nhưng đó là “bất định nghiệp”. Chẳng hạn như hành động của người mắc bệnh tâm thần. Thực chất người bệnh này không biết hành động của họ đúng hay sai, thiện hay ác. Họ không phân biệt thế nào là khổ là hạnh phúc, cho nên hành động vô ý thức của họ cũng tạo nghiệp nhưng gọi là “bất định nghiệp” nghĩa là họ không cố ý hành động nhằm mang niềm vui hay nỗi khổ đến cho người chung quanh.

    Nghiệp cũng có nghiệp chung và nghiệp riêng. Nghiệp riêng là nghiệp ân oán của từng cá nhân không ai giống ai trên thế gian này. Vì nghiệp riêng mà mỗi người có một hình hài sắc vóc đẹp xấu khác nhau, không người nào giống người nào, ngay cả anh chị em sanh đôi cũng không hoàn toàn giống nhau 100%. Đời sống của mỗi người buồn khổ hay hạnh phúc cũng hoàn toàn khác nhau do nghiệp tạo ra trước kia của mỗi người có khác biệt, cho nên Quả báo hay Phước báo cũng khác biệt.

    Một thí dụ khác, khi một vùng nào đó bị thiên tai lũ lụt hay hoả hoạn thì người dân ở vùng đó cùng chịu chung một hoàn cảnh. Đó là nghiệp chung. Còn nghiệp riêng là có người được cứu sống có người lại bị tử nạn vì hoả hoạn hay nước cuốn trôi.

    Nghiệp chung cũng thể hiện trong đời sống hằng ngày, chúng ta thấy rõ rằng người ham cờ bạc thì thích giao du với người chơi cờ bạc. Kẻ thích rượu chè thì kết bạn với người ham nhậu nhẹt. Người mê văn chương thơ phú thì liên kết với bạn bè văn thi. Đây là nghiệp riêng mỗi người, họ cuốn hút lẫn nhau để sau đó lại tạo thành nghiệp chung.

    “Quả Báo” là đền trả lại những gì chúng ta đã tạo ra ảnh hưởng đến người khác. Những gì chúng ta đã làm dù tốt hay xấu, dù vô tình hay cố ý đều sẽ hoàn trả lại cho chúng ta một cách sòng phẳng không thiếu sót khi hội đủ nhân duyên. Có ba loại “báo”:

    Quả báo phải chịu trong đời hiện tại đối với những hành vi mà chúng ta đã gây từ nhiều đời trước hay đời này.

    Quả báo phải chịu trong đời sau do hành động của chúng ta làm trong đời này.

    Qua nhiều đời nhiều kiếp sau khi đủ duyên mới trả quả báo.

    Các loại quả báo trên có thể giải thích cho chúng ta biết tại sao trong đời sống hiện tiền có người rất hiền lành tốt bụng mà cứ gặp những điều không may khiến cho họ chịu đau khổ triền miên, đó là do những kiếp trước họ đã gây nghiệp xấu đến đời này đủ duyên họ phải trả gọi là “hiện báo”, còn những nhân lành họ làm đời này có thể họ sẽ được hưởng phước báo ở đời sau gọi là “sinh báo”. Những người sống ở đời này có những hành động ác, hại người đau khổ mà vẫn sống trong sung sướng gặp nhiều may mắn, đó là có thể trong nhiều đời nhiều kiếp trước họ tạo nhiều nghiệp lành nên đời này họ được hưởng phước, riêng những điều họ làm ác ở đời này thì họ sẽ phải trả ở những đời, những kiếp sau gọi là “hậu báo” vậy!

    Theo Luật Nhân Quả, khi chúng ta tạo Nhân nào thì sẽ nhận Quả (báo) tương ứng, nghĩa là “Nhân nào quả nấy” như trồng cây chanh thì được quả chanh, trồng cây quýt thì được quả quýt, trồng dây khổ qua thì cho trái khổ qua. Chứ không thể trồng cây chanh chua mà ra trái quýt ngọt hay trồng cây quýt ngọt mà ra quả khổ qua đắng.

    Trong nhà Phật gây Nhân nào chịu Quả nấy… là đối với những người không biết hối cải và tu tập sửa đổi. Nhưng nếu đã lỡ gây ra lỗi lầm mà biết ăn năn hối cãi lo tu tập và làm những việc thiện lành lợi ích cho chúng sanh để bù đắp lại thì quả báo cũng sẽ xoay chuyển, giảm nhẹ.

    Như vậy nhờ vào việc tu tập giữ gìn giới đức và hành thiện mà chúng ta có thể hoá giải bớt những nghiệp xấu mà chúng ta đã lỡ gây ra. Trong kinh A-Hàm Đức Phật dạy: “Người gây nhân bất thiện, biết tu thân, tu giới, tu tâm thì quả sẽ đổi thay. Nếu người gây nhân bất thiện mà không biết tu thân, tu giới, tu tâm thì gây nhân nào sẽ thọ quả nấy”. Như vậy chúng ta thấy rõ muốn thoát Nghiệp phải tu tập tích lũy công đức, càng nhiều công đức thì chúng ta mới có thể hoà tan dần dần để đi đến xoá bớt Nghiệp mà chúng ta đã tạo, nên mới nói “Tu là chuyển Nghiệp” hay “Tu là giải Nghiệp”.

    Tu là sửa đổi, trước kia hay làm những việc xấu bây giờ sửa đổi không làm việc xấu ác nữa mà thực hành những điều thiện lành. Chuyển Nghiệp là chuyển hoá khổ đau thành an vui hạnh phúc. Tuỳ theo khả năng tu nhiều hay ít mà quả khổ sẽ thay đổi chứ không cố định “nhân nào quả đó” như khi chưa biết tu, tức chưa biết sửa đổi.

    Đức Phật dạy muốn chuyển Nghiệp chúng ta cần phải “tịnh hoá tam nghiệp” nghĩa là tu sửa, thanh lọc Thân, Khẩu, Ý từ những lầm lỗi bất thiện dần dần trở nên thiện lành.

    – Về Thân:

    1) Không sát sanh, hãm hại, giết người, cũng không xúi giục người khác giết người hại vật.

    2) Không trộm cắp của không cho, dù chỉ là một cây kim cuộn chỉ.

    3) Vợ hoặc chồng phải thuỷ chung, không gian dâm tà hạnh với người khác.

    – Về Khẩu:

    2) Không nói lời hung dữ, độc ác.

    3) Không dùng lời thêu dệt đặt điều nói xấu kẻ khác.

    4) Không nói lời đâm thọc, hai chiều khiến cho người này hận ghét người kia.

    – Về Ý: Không uống rượu say. Không xử dụng ma tuý cần sa, những thứ này là nguyên nhân của bệnh thân và tâm. Nó khiến cho tâm trí ngày càng mê mờ si muội.

    Ngoài ra, Đức Phật cũng khuyên chúng ta nên hành thiện không bỏ qua bất cứ việc thiện nhỏ nhặt nào và xa lìa những hành động xấu ác làm tổn thương người khác đồng thời hãy tu tập giữ tâm thanh tịnh không gợn ý xấu tốt về bất cứ chuyện gì qua bài kệ: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật Giáo”, đại ý là: “Những việc ác không nên làm, Vâng làm những việc lành. Khéo giữ tâm thanh tịnh. Đó là lời Phật dạy”

    Nhìn chung, ngoài Đức Phật và các vị A-La-Hán đã hoàn toàn sạch Nghiệp, các Ngài “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời khác nữa“, còn bất cứ một chúng sanh nào còn luân hồi trong sáu cõi (Trời, Người, A-tu-La, Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục) đều mang Nghiệp. Vì có Nghiệp mới có tái sinh để trả nghiệp. Tuỳ Nghiệp nặng hay nhẹ mà khổ nhiều hay khổ ít. Đức Phật dạy chúng ta phải tu để chuyển đổi quả báo do Nghiệp gây ra bằng cách giữ giới tức tu Giới, tu Thân và tu Ý. Mà tu Ý tức tu Tâm là quan trọng hơn hết.

    Vậy thế nào là Tu Tâm?

    Tâm ở đây gồm Vọng Tâm và Chân Tâm.

    Học thuyết “Luật Nhân Quả hay Nghiệp Quả Báo Ứng” rất cần thiết cho chúng ta là những con người đang sống trên thế gian này, đang chịu sự vay trả, trả vay của Nghiệp do chúng ta gây ra từ bao đời bao kiếp trước. Hiểu biết Luật Nhân Quả giúp cho chúng ta tự nhận biết được Quả tốt hay xấu chúng ta đang lãnh chịu ở đời này, là do Nghiệp chúng ta đã tạo trước kia.

    Tóm lại, Chúng ta tu tập để làm chủ Nghiệp, không cho phép Nghiệp làm chủ dẫn dắt chúng ta vào con đường xấu. Đó là giá trị của bài pháp về Nhân Quả Nghiệp Báo mà Đức Phật đã từ bi truyền lại cho chúng ta từ mấy ngàn năm qua.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Nhân Quả Là Gì? Những Quy Luật Nhân Quả Cơ Bản Của Con Người
  • Luật Nhân Quả Là Luật Của Vũ Trụ, Không Phải Của Thần Hay Phật
  • Luật Nhân Quả Không Đơn Thuần Chỉ Là Luật Thưởng Phạt
  • Quy Định Của Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Về Độ Tuổi Nhập Ngũ, Hoãn Nhập Ngũ, Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Quy Định Mới Năm 2021 Về Tạm Hoãn, Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Luật Nhân Quả Là Gì? Những Quy Luật Nhân Quả Cơ Bản Của Con Người

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Nhân Quả Hay Nghiệp Quả Báo Ứng
  • Luật Nhân Quả Ở Đời: Gây Ác Nghiệp, Chịu Ác Báo!
  • Quy Luật Nhân Quả Là Gì? Luật Nhân Quả Ở Đời, Trong Tình Yêu Và Vợ Chồng
  • Luật Nhân Quả Khi Nào Linh Ứng Trong Đời Ta?
  • Trên Đời, Công Bằng Nhất Không Gì Qua Được Luật Nhân Quả
  • “Gieo nhân nào gặt quả nấy” là một câu nói từ ông bà ta khi xưa để lại nhằm răn dạy đời sau. Đây cũng là câu nói để minh chứng cho luật nhân quả mà bao đời nay ta hay nói đến. Như một luật bất hành văn, con người ta vẫn sống và tuân theo những quy đó mà không cần ai phải nhắc nhở ai.

    Bài viết sau sẽ giải thích chi tiết về luật nhân quả là gì, những quy luật nhân quả quan trọng. Qua đó, các bạn sẽ có thể hiểu hơn về những luật này, và sống tuân theo nó để cuộc sống trở nên dễ dàng hơn.

    Luật nhân quả là gì?

    Luật nhân quả không phải những điều luật trong các sách, tài liệu hay văn bản pháp luật hiện hành. Đó là một chuỗi các quy luật khách quan, nói về sự vận hành luân hồi của con người. Đây là những quy luật dù không được ghi chép lại, không mang tính bắt buộc nhưng bất kể là ai thì cũng đều biết đến.

    Mặc dù không phải ai lúc nào cũng nghĩ đến luật nhân quả, nhưng nó luôn tồn tại ở thế giới này. Theo như giáo lý Phật pháp thì những luật đó diễn ra trong các sự vật, hiện tượng quanh ta. Bất kỳ một sự kiện nào đó diễn ra trên thế giới thì đều do luật nhân quả.

    Phân tích một cách để các bạn dễ hiểu hơn, thì nhân quả là được gọi chung cho ” Nghiệp, nhân, duyên, quả, báo”. Theo đó, nghiệp có ba loại là “thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp”. Tượng trưng cho hành vi, lời nói, suy nghĩ. Đó là nguyên nhân dẫn đến “Quả” và “Báo”. Nếu các bạn tạo nghiệp xấu thì sẽ nhận phải quả báo xấu.

    Bên cạnh đó, ta còn có “nhân duyên”, vạn vật trong cuộc sống diễn ra đều tuân theo lẽ tự nhiên. Tuy nhiên, với luật nhân quả thì phải có nhân duyên mới gặp được. Nói cụ thể hơn thì “nhân duyên” dùng để ám chỉ điều kiện để bạn có thể gặp được các sự kiện, sự vật, hiện tượng.

    Sống trong đời, dù là con nhà Phật, hay là người thường thì đều trải qua “Nghiệp, nhân, duyên, quả báo”. Đó là quy luật không thể nhìn thấy, không chạm vào được, nhưng nó luôn tồn tại với sự sống còn của con người.

    Những quy luật nhân quả ai cũng phải biết

    Mỗi con người khi sinh ra đều có vai trò, nhiệm vụ riêng trong đời sống xã hội của chính họ. Điểm chung của tất cả mọi người đó là đều phải thấu hiểu và tuân theo những luật nhân quả. Để dễ dàng thành hơn trong công việc, tìm được hạnh phúc trong cuộc sống thì các bạn cần hiểu được một số luật về nhân quả sau đây.

    Gieo nhân nào gặt quả nấy

    Trong cả một quãng đời dài, có thể bạn sẽ làm các việc tốt, hoặc việc xấu. Dù là việc như thế nào đi chăng nữa, đối với ai đi chăng nữa, thì bạn sẽ nhận lại kết quả tương ứng. Tuy vậy, ở đời sống hiện đại, có quá nhiều vấn đề xảy ra khiến người ta không còn tin vào luật này nữa.

    Khi mà xã hội phát triển, con người ta có nhiều mục đích sống hơn là niềm hạnh phúc, an yên. Người tốt thì đôi khi lại chịu thiệt thòi, kẻ xấu thì được tha thứ, không phải trả giá.

    Nhưng thực tế, chỉ cần bạn làm việc tốt, lan tỏa yêu thương thì những điều tích cực đó sẽ quay trở lại với bạn. Không nhất thiết phải bằng vật chất, mà đó là giúp cho thân tâm bạn trở nên nhẹ nhõm hơn. Còn với kẻ xấu, dù đã được tha thứ, thì ít nhiều trong lòng họ cũng luôn bị dày xéo, bứt rứt. Đó chính là dấu hiệu của “gieo nhân nào gặt quả nấy.

    Dù có chối bỏ thực tại thì thực tại vẫn là thực tại

    Đây không phải là một câu danh ngôn, không phải ca dao hay tục ngữ. Nó chỉ là một câu nói, mang ý nghĩa là lời khuyên cho những ai thường hay phủ nhận những khó khăn đang gặp phải. Dù là với hệ tư tưởng nào, giáo lý nào, có phải Phật giáo hay không thì đều như vậy. Một vấn đề khó khăn xảy ra, nếu các bạn không biết chấp nhận và vượt qua thì nó sẽ quay trở lại tìm bạn.

    Câu nói này muốn khuyên nhủ con người hãy biết chấp nhận cuộc sống, thực tế và những gì mình đang có. Lấy đó làm động lực để vượt qua những khó khăn mà chính mình đang gặp phải. Cuộc sống chưa bao giờ là dễ dàng, nếu bạn trốn tránh, che giấu thì không thể cải thiện được tình hình.

    Theo luật nhân quả, thì cuộc sống nó vẫn xoay theo vòng luân hồi tương ứng với những hành động, ý nghĩ của con người. Ngày hôm nay bạn thất bại, nếu bạn không cố gắng thay đổi thì ngày mai thất bại đó vẫn sẽ lặp lại.

    Mọi việc làm, hành động và ý định của bạn đều là một phần tạo nên sự luân chuyển của cả vũ trụ. Nếu con người sống mà chỉ dậm chân tại chỗ, thì dù cho 10 năm, 20 năm nữa thì vẫn không có gì thay đổi. Điều này sẽ dễ hiểu hơn nếu các bạn nhìn vào cuộc sống hiện đại ở thực tế. Nếu con người không học hỏi, không phát minh ra những nghiên cứu, thành phẩm tiên tiến. Thì ngày nay, ở năm 2021 con người có thể vẫn chỉ còn tivi màn hình đen trắng, không có mạng internet và điện thoại.

    Không ai được chú ý chỉ bằng một động tác

    Có rất nhiều người đang mắc phải trạng thái là bị bối rối trong việc suy nghĩ các vấn đề. Thực tế thì không ai có thể nghĩ cùng lúc nhiều việc, họ chỉ có thể tập trung suy nghĩ một vấn đề duy nhất trong một thời điểm. Vậy nên với một người am hiểu về luật nhân quả thì các bạn hãy nên chắt lọc và lựa chọn vấn đề cần suy nghĩ.

    Một vài ý nghĩ tiêu cực sẽ dẫn đến hành động không đúng, sau đó là hậu quả khó lường. Vậy nên, thay vì các bạn mãi đắm chìm trong các suy nghĩ đau buồn, khốn khổ thì hãy thay đổi nó. Hãy sử dụng những chuyện vui, suy nghĩ tích cực để thay đổi cả hành động của mình. Điều này giúp bạn hoàn thành được các mong muốn, sở thích của bản thân.

    Con người ta khi thất bại thường hay đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho điều kiện xung quanh hay các vấn đề khác. Tuy nhiên, họ không biết được rằng, thứ duy nhất mà con người có thể thay đổi và điều khiển chỉ có chính bản thân mình. Thứ duy nhất để giúp các bạn vượt qua khó khăn cũng là chính mình. Sự may mắn, không phải lúc nào cũng có và nếu có thì cũng là yếu tố ngẫu nhiên.

    Nếu các bạn muốn thành công, thì dù cho có nghịch cảnh cũng phải biết cách để vượt qua. Viên kim cương đẹp nhất là viên kim cương đã trải qua sức ép để trở thành. Xương rồng vẫn sống kiên cường trên sa mạc khô hạn, chúng tự cấu tạo cho mình thân trữ nước, nuôi sống bản thân. Loài lạc đà hình thành những khối bướu trên lưng để trữ nước, giúp chúng tồn tại giữa sa mạc khô nóng.

    Con người cũng chính là như vậy, những người thành công luôn là người vượt lên nghịch cảnh. Nghèo khó, thiếu thốn không phải cái tội để bạn bám víu vào đó, biện minh cho sự nhục chí của mình. Chính bạn mới là người quyết định bản thân sẽ tốt hay xấu, sẽ đi được đến đâu, làm được những gì.

    Vì sao phải sống theo luật nhân quả?

    Những quy luật nhân quả mà chúng tôi vừa nói đến, có thể đó chỉ là những điều rất bình thường. Tuy nhiên, đây là các quy tắc bất di bất dịch trong đời sống con người. Không chỉ là lời răn đe, khuyên dạy một cách vô nghĩa. Chỉ khi các bạn tuân thủ theo đúng các quy luật thì mới nhận được lợi ích từ nó.

    Hình thành thái độ sống tích cực

    Luôn lạc quan, yêu đời, tự tin với chính mình, với những gì mà mình đang có. Thì dĩ nhiên, những điều tốt nhất cũng sẽ đến với bạn trong công việc và cuộc sống.

    Sự tự do và bình đẳng

    Quy luật về nhân quả có rất nhiều bài học tốt cho con người, nhất là thời buổi phát triển thế này. Với những quy luật này, con người sẽ sống theo đúng với bổn phận, nghĩa vụ của chính mình. Làm ăn trung thực, không gian dối, lừa đảo, không nịnh bợ, không có những điều tiêu cực.

    Con người sẽ có thể yên vui sống tự do, bình đẳng với những gì mà bản thân đang có. Tự do làm những gì mình thích, tự do xây dựng một cuộc sống của chính mình. Tự quyết định đến cuộc sống sẽ là thứ giúp các bạn có được một cuộc sống tốt hơn.

    Xây dựng tấm lòng từ bi

    Bản tính con người là hướng thiện, nhưng trước xã hội có khá nhiều điều tiêu cực thì lòng từ bi cũng bị nghi ngờ. Tuy nhiên, khi các bạn sống tuân thủ theo luật nhân quả thì sẽ thấu cảm được cho mọi hành động sai trái. Có tấm lòng trắc ẩn trước các hoàn cảnh khó khăn, nhìn những điều tiêu cực một cách tích cực.

    Đây cũng là một điều rất cần thiết trong các tập thể, hội nhóm hiện nay. Khi các bạn nhìn thấy kết quả hoạt động của hội, nhóm, tập thể đó thì sẽ bắt đầu tìm hiểu về nguyên nhân của nó. Như vậy, đưa đến cho bạn một suy nghĩ sâu sắc hơn, hiểu rõ được vấn đề hơn, thấu hiểu cho mọi người hơn.

    Quy luật nhân quả như đã nói, mặc dù không thể nhìn thấy, không thể chạm vào, không phải văn bản hành văn. Nhưng đó lại là những quy luật quan trọng trong cuộc sống của mọi con người. Nó vẫn tồn tại trong đời sống tinh thần con người, không chỉ mang tính răn đe, dạy bảo.

    Các luật nhân quả còn là thứ giúp làm giàu thêm đời sống tinh thần của con người. Giúp cho bất kỳ ai đang lâm vào khốn khổ cũng có thể lạc quan, vui tươi và vượt qua những khó khăn đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Nhân Quả Là Luật Của Vũ Trụ, Không Phải Của Thần Hay Phật
  • Luật Nhân Quả Không Đơn Thuần Chỉ Là Luật Thưởng Phạt
  • Quy Định Của Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Về Độ Tuổi Nhập Ngũ, Hoãn Nhập Ngũ, Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Quy Định Mới Năm 2021 Về Tạm Hoãn, Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự: 10 Cần Biết Năm 2021
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100