Top 14 # Xem Nhiều Nhất Luật Xử Lý Vphc Sửa Đổi Mới Nhất 6/2023 # Top Like | Athena4me.com

Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính Sửa Đổi 2022

Trangtinphapluat.com giới thiệu tới bạn đọc dự thảo Luật Xử lý vi phạm hành chính sửa đổi năm 2018

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Điều 1.

Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 5:Quy định cụ thể việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài.

Bổ sung điểm đ vào sau điểm d khoản 2 Điều 6: Quy định việc xác định thời hiệu đối với đối tượng cố tình trốn tránh, cản trở việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Sửa đổi, bổ sung Điều 8:Thống nhất cách tính thời gian, thời hạn, thời hiệu trong xử lý vi phạm hành chính.

Bổ sung Điều 18a vào sau Điều 18 như sau: Quy định cụ thể về sửa đổi, bổ sung, đính chính, hủy bỏ, ban hành mới quyết định về xử lý vi phạm hành chính.

Bổ sung Điều 19a vào sau Điều 19: Quy định cụ thể về kiểm tra công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.

Bổ sung khoản 4 vào sau khoản 3 Điều 25: Bổ sung quy định về cách thức xác định thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn đối với một hành vi vi phạm hành chính cụ thể tương tự như quy định tại khoản 4 Điều 23 Luật XLVPHC[1].

Sửa đổi, bổ sung Điều 40: Quy định bổ sung thẩm quyền áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hoá, vật phẩm, phương tiện cho Đồn trưởng Đồn biên phòng và Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng.

Sửa đổi, bổ sung Điều 60:

Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 Luật xử lý vi phạm hành chính số 1

Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 65:

5/2012/QH13.

– Bổ sung từ “phương tiện” vào sau từ “tang vật” tại tên Điều và nội dung Điều 60.

Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 71 như sau:

– Tăng thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện để xác định giá trị từ “không quá 24 giờ” lên “không quá 48 giờ”, trong trường hợp thật cần thiết thì thời hạn có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 48 giờ (so hvới hiện tại là 24 giờ”.

Sửa đổi, bổ sung điểm b khoản 1 Điều 82 như sau:

– Sửa đổi thời điểm xác định thời hạn bắt đầu tạm giữ, từ “thời điểm ra quyết định tạm giữ” thành “thời điểm tạm giữ thực tế ” cho thống nhất với quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật XLVPHC.

Quy định cụ thể các vấn đề sau đây:

– Đối với trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này, người có thẩm quyền không ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng phải (hiện tại là “có thể”) ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả để khắc phục hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra.

Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 Điều 87:

– Việc tịch thu được thực hiện đối với tất cả các loại tang vật và xử lý đối với tang vật vi phạm hành chính sau khi bị tịch thu sẽ do người có thẩm quyền xử phạt quyết định căn cứ vào tính chất của tang vật vi phạm hành chính bị tịch thu (sung vào ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy đối với tang vật vi phạm hành chính thuộc loại cấm lưu hành) theo quy định tại khoản 1 Điều 82 Luật XLVPHC.

– Việc ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả chỉ được thực hiện trong trường hợp pháp luật có quy định về việc áp dụng hình thức xử phạt tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả đối với hành vi vi phạm hành chính.

Trường hợp tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là ma túy, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, vật có giá trị lịch sử, giá trị văn hoá, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâm sản quý hiếm, vật thuộc loại cấm lưu hành và tài sản khác thì phải tịch thu.

Quy định cụ thể: cơ quan của người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 71 lập hồ sơ thành hai bản, bản gốc lưu tại cơ quan lập hồ sơ, bản sao hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính (nếu có) được chuyển cho cơ quan tiếp nhận quyết định xử phạt để thi hành theo quy định của Luật này. Cá nhân, tổ chức vi phạm có trách nhiệm trả chi phí vận chuyển hồ sơ, tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.

Sửa đổi, bổ sung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 82 Luật XLVPHC theo hướng như sau:

Trường hợp giấy tờ, tài liệu, chứng từ bị cố ý tẩy xóa, sửa chữa làm sai lệch nội dung hoặc không còn giá trị sử dụng thì phải tiến hành tiêu hủy “.

Bổ sung quy định cụ thể về người có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế trong trường hợp chuyển quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành:

– Trường hợp chuyển quyết định xử phạt để thi hành theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 71 của Luật, nếu cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt thì người đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính có trách nhiệm ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

– Trường hợp người đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính không có thẩm quyền ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì phải báo cáo thủ trưởng của mình là người có thẩm quyền quyết định cưỡng chế được quy định tại khoản 1 Điều 87 của Luật để xem xét ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Bỏ quy định về việc đối tượng phải vi phạm “02 lần trong 06 tháng” và quy định về việc đối tượng phải trải qua biện pháp tiền đề giáo dục tại xã phường thị trấn trước khi bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng.

Bỏ quy định về việc đối tượng phải vi phạm “02 lần trong 06 tháng” và quy định về việc đối tượng phải trải qua biện pháp tiền đề giáo dục tại xã phường thị trấn trước khi bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc.

Bỏ quy định về việc đối tượng phải trải qua biện pháp tiền đề giáo dục tại xã phường thị trấn trước khi bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Bổ sung điểm c và điểm d vào sau điểm b khoản 1 Điều 124:

– Khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay các hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác;

– Khi cần ngăn chặn, đình chỉ ngay hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;

– Để bảo đảm việc thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trưởng giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 2 Điều 110 của Luật này;

– Để xác định tình trạng nghiện ma túy;

– Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc theo quy định của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình.

Điều 2. Bổ sung, thay thế, bỏ một số từ, cụm từ, dấu chấm, dấu phẩy, dấu chấm phẩy tại một số điều, khoản, điểm của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13

Bổ sung một số từ, cụm từ, dấu phẩy, dấu chấm phẩy vào các điều, khoản, điểm sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13

a) Bổ sung từ “, tổ chức” vào sau từ “cá nhân” tại điểm c khoản 1 Điều 6;

b) Bổ sung cụm từ “; văn hóa; đất đai; xây dựng” vào sau cụm từ “an ninh trật tự, an toàn xã hội” tại khoản 1 Điều 23;

c) Bổ sung từ “tín ngưỡng;” vào trước từ “tôn giáo”, từ “; đối ngoại” vào sau từ “thống kê” tại điểm a khoản 1, cụm từ “; kiểm toán nhà nước” vào sau cụm từ “bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hải sản” tại điểm đ khoản 1 Điều 24.

d) Bổ sung từ “, tổ chức” vào sau từ “cá nhân” tại khoản 4 Điều 62.

Hướng sửa đổi, bổ sung: Người có thẩm quyền tạm giữ người quy định tại các điểm từ a đến i khoản 1 Điều này có thể giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền tạm giữ người theo thủ tục hành chính khi vắng mặt và được giao quyền cho cấp phó thực hiện thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính khác.

Thay thế cụm từ tại các điều, khoản sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13

a) Thay thế cụm từ “xử phạt một người thực hiện” bằng cụm từ “một vụ việc có” tại khoản 4 Điều 52;

b) Thay thế cụm từ “khoản 1 Điều này” bằng cụm từ “khoản 3 Điều này” tại khoản 4, thay thế cụm từ “làm chứng” bằng cụm từ “chứng kiến” tại khoản 9 Điều 125.

Bỏ cụm từ, dấu phẩy, dấu chấm phẩy tại các điều, khoản, điểm sau đây của Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13

a) Bỏ cụm từ “Vi phạm hành chính nhiều lần;” tại điểm b khoản 1 Điều 10;

b) Bỏ cụm từ “06 tháng,” tại khoản 3, khoản 4, điểm c khoản 5 Điều 17.

c) Bỏ cụm từ “có giá trị không vượt quá mức tiền phạt được quy định tại điểm b khoản này” tại điểm c khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 38; điểm c khoản 3, điểm d khoản 4, điểm d khoản 5 Điều 39; điểm c khoản 3 Điều 40; điểm c khoản 4, điểm c khoản 5 điểm c khoản 6 Điều 41; điểm c khoản 3, điểm d khoản 4 Điều 42; điểm c khoản 2, điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 43; điểm c khoản 3, điểm c khoản 4 Điều 44; điểm c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 45; điểm c khoản 1, điểm d khoản 2, điểm d khoản 3 Điều 46; điểm c khoản 1, điểm d khoản 2 Điều 47; điểm c khoản 1, điểm c khoản 2, điểm c khoản 3 Điều 48; điểm c khoản 2, điểm c khoản 4 Điều 49;

d) Bỏ cụm từ “tình trạng tang vật, phương tiện bị tạm giữ;” tại khoản 2 Điều 58;

Quy định bổ sung thêm một số trường hợp được áp giải người vi phạm nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn:

e) Bỏ cụm từ “và 3” tại khoản 6 Điều 90;

g) Bỏ cụm từ “người ra quyết định tạm giữ,” tại khoản 9 Điều 125.

Điều 3. Điều khoản thi hành

– Đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc khi hết thời hạn được hoãn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà không tự giác chấp hành quyết định theo quy định tại khoản 1 Điều 111 của Luật XLVPHC.

Đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc khi hết thời hạn được tạm đình chỉ chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc mà không tự giác đến trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc để tiếp tục chấp hành quyết định theo quy định tại khoản 2 Điều 112 của Luật XLVPHC.

Luật này được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ thông qua ngày tháng năm 2019.

Sửa đổi, bổ sung quy định tại Đoạn 2 khoản 1 Điều 126 Luật XLVPHC theo hướng cụ thể về trình tự, thủ tục áp dụng, bảo đảm tính khả thi hơn.

– Bãi bỏ khoản 3 Điều 49, vì theo Điểm b khoản 1 Điều 163 Luật thi hành án dân sự năm 2008 đã bị bãi bỏ bởi khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014 thì chức danh Tổ trưởng tổ quản lý, thanh lý tài sản của vụ việc phá sản không được xử phạt vi phạm hành chính.

– Bãi bỏ khoản 3, khoản 4, khoản 5 Điều 90: Vì các Điều 92, 94, 96 Luật XLVPHC được sửa đổi theo hướng không áp dụng biện pháp tiền đề giáo dục tại xã phường thị trấn trước khi áp dụng các biện pháp: Đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

đ) Bổ sung cụm từ ” phương tiện vi phạm hành chính, ” vào sau cụm từ “tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật,” tại khoản 8 Điều 125.

đ) Bỏ cụm từ ” người tiến hành tịch thu, ” tại khoản 1 Điều 81;

Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày tháng năm 2020.

Chính phủ quy định chi tiết các điều, khoản được giao trong Luật.

[1] Khoản 4 Điều 23 Luật XLVPHC quy định: ” Mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính là mức trung bình của khung tiền phạt được quy định đối với hành vi đó; nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên nhưng không được vượt quá mức tiền phạt tối đa của khung tiền phạt “.

Đề Nghị Sửa Đổi Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, sau 5 năm thi hành, Luật XLVPHC đã khẳng định vai trò trong đời sống kinh tế, chính trị, pháp lý của đất nước; là một trong những đạo luật được áp dụng nhiều nhất trong thực tiễn đời sống thông qua số lượng việc XLVPHC rất lớn. Ngoài Luật XLVPHC, đã có cả hệ thống pháp luật đồ sộ về XLVPHC được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực này.

Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết luật được chú trọng. Sau khi Luật được ban hành và có hiệu lực, hầu hết việc kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ được tổ chức thực hiện dưới hình thức lồng ghép với các chuyên đề theo dõi thi hành pháp luật về XLVPHC trong từng lĩnh vực cụ thể hoặc các cuộc thanh tra hành chính. Một số Bộ đã xây dựng kế hoạch kiểm tra riêng về việc thi hành pháp luật về XLVPHC. Thông qua hoạt động kiểm tra, các Bộ đã nắm bắt, đánh giá thực trạng về tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực mình quản lý cũng như những khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành pháp luật về XLVPHC để kịp thời xử lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý nhằm khắc phục hạn chế của công tác XLVPHC, góp phần xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về XLVPHC…

Phó Thủ tướng cơ bản đồng ý với Bộ Tư pháp về đánh giá tình hình và kết quả thi hành pháp luật về XLVPHC; về những bất cập, hạn chế và các giải pháp trước mắt nhằm khắc phục, nâng cao hiệu quả thi hành Luật XLVPHC.

Phó Thủ tướng giao Bộ Tư pháp khẩn trương lập đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC, trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến và đề nghị bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Tính từ năm 2014 tới giữa năm 2017, số vụ vi phạm hành chính đã phát hiện là 36.789.227 vụ việc, tổng số vụ đã xử phạt là 28.493.927 vụ việc. Nhìn chung, các vụ việc vi phạm xảy ra cơ bản đã được phát hiện và xử lý kịp thời, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định, đáp ứng yêu cầu công tác quản lý của nhà nước, góp phần bảo đảm an ninh trật tự ở địa phương. Tỷ lệ số vụ việc đã bị xử phạt so với số vụ việc đã bị phát hiện ngày càng tăng từ 66% vào năm 2014 lên 95% vào năm 2017. Đa số những đối tượng có hành vi vi phạm đều nhận thức được hành vi vi phạm của mình, có ý thức chấp hành nghiêm các quyết định xử phạt VPHC. Về tình hình áp dụng biện pháp XLHC, tổng số đối tượng bị lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính là 57.311 đối tượng, tổng số đối tượng bị áp dụng các biện pháp XLHC là 53.164 đối tượng

Minh Hiển/Chinhphu.vn

Khẩn Trương Sửa Đổi, Bổ Sung Luật Xử Lý Vi Phạm Hành Chính

Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, sau 5 năm thi hành, Luật XLVPHC đã khẳng định vai trò trong đời sống kinh tế, chính trị, pháp lý của đất nước; là một trong những đạo luật được áp dụng nhiều nhất trong thực tiễn đời sống thông qua số lượng việc XLVPHC rất lớn. Ngoài Luật XLVPHC, đã có cả hệ thống pháp luật đồ sộ về XLVPHC được ban hành nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật trong lĩnh vực này.

Công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản quy định chi tiết luật được chú trọng. Sau khi Luật được ban hành và có hiệu lực, hầu hết việc kiểm tra việc thi hành pháp luật về XLVPHC ở các bộ, cơ quan ngang bộ được tổ chức thực hiện dưới hình thức lồng ghép với các chuyên đề theo dõi thi hành pháp luật về XLVPHC trong từng lĩnh vực cụ thể hoặc các cuộc thanh tra hành chính. Một số bộ đã xây dựng kế hoạch kiểm tra riêng về việc thi hành pháp luật về XLVPHC. Thông qua hoạt động kiểm tra, các bộ đã nắm bắt, đánh giá thực trạng về tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC trong lĩnh vực mình quản lý cũng như những khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành pháp luật về XLVPHC để kịp thời xử lý hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý nhằm khắc phục hạn chế của công tác XLVPHC, góp phần xây dựng và hoàn thiện văn bản pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về XLVPHC…

Phó Thủ tướng cơ bản đồng ý với Bộ Tư pháp về đánh giá tình hình và kết quả thi hành pháp luật về XLVPHC; về những bất cập, hạn chế và các giải pháp trước mắt nhằm khắc phục, nâng cao hiệu quả thi hành Luật XLVPHC.

Phó Thủ tướng giao Bộ Tư pháp khẩn trương lập đề nghị xây dựng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật XLVPHC, trình Chính phủ xem xét, cho ý kiến và đề nghị bổ sung vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Luật Quản Lý Thuế Sửa Đổi 2012

Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11,

Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế:

“4. Áp dụng cơ chế quản lý rủi ro trong quản lý thuế:

5. Áp dụng biện pháp ưu tiên khi thực hiện các thủ tục về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu nếu người nộp thuế đáp ứng đủ các tiêu chí sau:

a) Không vi phạm pháp luật về thuế, về hải quan trong hai năm liên tục;

b) Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật;

d) Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê;

“10. Quản l là việc áp dụng có hệ thống các quy định pháp luật, các quy trình nghiệp vụ để xác định, đánh giá và phân loại các rủi ro có thể tác động tiêu cực đến hiệu quả, hiệu lực quản lý thuế, làm cơ sở để cơ quan quản lý thuế phân bổ nguồn lực hợp lý, áp dụng các biện pháp quản lý hiệu quả.

1.1. thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế là thỏa thuận bằng văn bản giữa cơ quan thuế với người nộp thuế hoặc giữa cơ quan thuế với người nộp thuế và cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế thu nhập cho một thời hạn nhất định, trong đó xác định cụ thể các căn cứ tính thuế, phương pháp xác định giá tính thuế hoặc giá tính thuế theo giá thị trường. Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế được xác lập trước khi người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế.

12. Xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là việc cơ quan hải quan ban hành văn bản xác định mã số, trị giá hải quan, xác nhận xuất xứ của hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan.”

2. Yêu cầu cơ quan quản lý thuế giải thích về việc tính thuế, ấn định thuế; yêu cầu cơ quan hải quan t xứ hàng hóa xác định trước mã số, trị giá hải quan, xác nhận trước xuấxuất khẩu, nhập khẩu trước khi làm thủ tục hải quan theo quy định của Chính phủ; yêu cầu cơ quan, tổ chức giám định số lượng, chất lượng, chủng loại hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu.”

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.”

“9. Cơ quan thuế áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế với người nộp thuế, với cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ mà Việt Nam đã ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với thuế thu nhập.”

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.”

8. Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 Điều 31; sửa đổi, bổ sung khoản 6 Điều 31 như sau:

“1a. Hồ sơ khai thuế đối với thuế khai và nộp theo quý bao gồm:

a) Tờ khai thuế quý;

“1. Đối với loại thuế khai theo tháng, theo quý:

a) Chậm nhất là ngày thứ hai mươi của tháng tiếp theo tháng phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp khai và nộp theo tháng;

b) Chậm nhất là ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế đối với trường hợp khai và nộp theo quý.

2. Đối với loại thuế có kỳ tính thuế theo năm:

a) Chậm nhất là ngày thứ ba mươi của tháng đầu tiên của năm dương lịch hoặc năm tài chính đối với hồ sơ khai thuế năm.

b) Chậm nhất là ngày thứ ba mươi của quý tiếp theo quý phát sinh nghĩa vụ thuế đối với hồ sơ khai thuế tạm tính theo quý;

3. Chậm nhất là ngày thứ mười, kể từ ngày phát sinh nghĩa vụ thuế đối với loại thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh nghĩa vụ thuế.

a) Người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế tại cơ quan thuế quản lý trực tiếp;

b) Trường hợp nộp hồ sơ khai thuế theo cơ chế một cửa liên thông thì địa điểm nộp hồ sơ khai thuế thực hiện theo quy định của cơ chế đó;

d) Chính phủ quy định địa đểm nộp hồ sơ khai thuế đối với các trường hợp: người nộp thuế có nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh; người nộp thuế thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh ở nhiều địa bàn; người nộp thuế có phát sinh nghĩa vụ thuế đối với các loại thuế khai và nộp theo từng lần phát sinh; người nộp thuế có phát sinh nghĩa vụ thuế đối với các khoản thu từ đất đai; người nộp thuế thực hiện khai thuế thông qua giao dịch điện tử và các trường hợp cần thiết khác.”

2. Trường hợp cơ quan thuế tính thuế hoặc ấn định thuế, thời hạn nộp thuế là thời hạn ghi trên thông báo của cơ quan thuế.

3. Thời hạn nộp thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu được quy định như sau:

– Có cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu trên lãnh thổ Việt Nam;

– Tuân thủ pháp luật về kế toán, thống kê;

– Thực hiện thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật.

“Điều 45. Thứ tự thanh toán tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt

c) Hàng hóa không thuộc điểm a và điểm b khoản này thì phải nộp thuế trước khi thông quan hoặc giải phóng hàng hóa.

1. Đối với các loại thuế do cơ quan thuế quản lý:

a) Tiền thuế nợ;

b) Tiền thuế truy thu;

c) Tiền chậm nộp;

a) Tiền thuế nợ quá hạn thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp cưỡng chế;

b) Tiền chậm nộp thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp cưỡng chế;

c) Tiền thuế nợ quá hạn chưa thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp cưỡng chế;

d) Tiền chậm nộp chưa thuộc đối tượng áp dụng các biện pháp cưỡng chế;

đ) Tiền thuế phát sinh;

“Điều 47. Xử lý số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa

e) Tiền phạt.”

1. Người nộp thuế có số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt đã nộp lớn hơn số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp đối với từng loại thuế trong thời hạn mười năm, kể từ ngày nộp tiền vào ngân sách nhà nước thì được bù trừ số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa với số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt còn nợ, kể cả việc bù trừ giữa các loại thuế với nhau; hoặc trừ vào số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt phải nộp của lần nộp thuế tiếp theo; hoặc hoàn trả số tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nộp thừa khi người nộp thuế không còn nợ tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt.

b) Phải ngừng hoạt động do di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm ảnh hưởng đến kết quả sản xuất, kinh doanh;

c) Chưa được thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản đã được ghi trong dự toán ngân sách nhà nước;

“Điều 50. Thẩm quyền gia hạn nộp thuế ”Điều 58. Hồ sơ hoàn thuế

d) Không có khả năng nộp thuế đúng hạn do gặp khó khăn đặc biệt khác theo quy định của Chính phủ.”

a) Văn bản yêu cầu hoàn thuế;

1. Việc phân loại hồ sơ hoàn thuế được quy định như sau:

b) Các trường hợp thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau:

– Người nộp thuế đề nghị hoàn thuế lần đầu, trừ trường hợp đề nghị hoàn thuế thu nhập cá nhân;

– Hàng hóa, dịch vụ không thực hiện giao dịch thanh toán qua ngân hàng theo quy định của pháp luật;

– Hàng hóa nhập khẩu thuộc diện phải kiểm tra trước, hoàn thuế sau theo quy định của Chính phủ.

– Cơ sở kinh doanh được hoàn thuế từ hoạt động kinh doanh bất động sản; kinh doanh thương mại, dịch vụ;

b) Đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này, việc kiểm tra sau hoàn thuế được thực hiện theo nguyên tắc quản lý rủi ro trong thời hạn mười năm, kể từ ngày có quyết định hoàn thuế.

4. Đối với hồ sơ thuộc diện kiểm tra trước, hoàn thuế sau thì chậm nhất là bốn mươi ngày, kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ hoàn thuế, cơ quan quản lý thuế phải quyết định hoàn thuế hoặc thông báo bằng văn bản cho người nộp thuế lý do không hoàn thuế.

5. Quá thời hạn quy định tại khoản 2 và khoản 4 Điều này, nếu việc chậm ra quyết định hoàn thuế do lỗi của cơ quan quản lý thuế thì ngoài số tiền thuế phải hoàn, cơ quan quản lý thuế còn phải trả tiền lãi theo quy định của Chính phủ.”

“Điều 78. Kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế

4. Chính phủ quy định việc tổ chức thực hiện xóa nợ.”

a) Các trường hợp quy định tại điểm c khoản 3 Điều 77 của Luật này;

b) Các trường hợp kiểm tra sau thông quan, bao gồm kiểm tra theo kế hoạch, kiểm tra chọn mẫu để đánh giá việc tuân thủ pháp luật về thuế và kiểm tra đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan có dấu hiệu vi phạm pháp luật về thuế.

Khi kiểm tra sau thông quan nếu phát hiện có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế thì Cục trưởng Cục kiểm tra sau thông quan, Cục trưởng Cục hải quan, Chi cục trưởng Chi cục kiểm tra sau thông quan có thẩm quyền quyết định áp dụng các biện pháp quy định tại Mục 4 Chương X của Luật này;

c) Các trường hợp xác định đối tượng kiểm tra theo tiêu chí đánh giá rủi ro về thuế qua phân tích, đánh giá việc chấp hành pháp luật của người nộp thuế; kiểm tra đối với trường hợp có phát sinh dấu hiệu vi phạm pháp luật và các trường hợp được lựa chọn theo kế hoạch, chuyên đề kiểm tra do thủ trưởng cơ quan quản lý thuế cấp trên quyết định. Đối với các trường hợp nêu tại điểm này, cơ quan quản lý thuế thực hiện kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế không quá một lần trong một năm.

2. Quyết định kiểm tra thuế phải được gửi cho người nộp thuế trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày ký. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định kiểm tra thuế mà người nộp thuế chứng minh được số thuế đã khai là đúng hoặc nộp đủ số tiền thuế phải nộp thì cơ quan quản lý thuế bãi bỏ quyết định kiểm tra thuế.

3. Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế được quy định như sau:

a) Công bố quyết định kiểm tra thuế khi bắt đầu tiến hành kiểm tra thuế;

đ) Lập biên bản kiểm tra thuế trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày hết thời hạn kiểm tra;

“4. Chưa thực hiện biện pháp cưỡng chế thuế đối với trường hợp người nộp thuế được cơ quan quản lý thuế cho phép nộp dần tiền nợ thuế trong thời hạn không quá mười hai tháng, kể từ ngày bắt đầu của thời hạn cưỡng chế thuế. Việc nộp dần tiền nợ thuế được xem xét trên cơ sở đề nghị của người nộp thuế và phải có bảo lãnh của tổ chức tín dụng. Người nộp thuế phải nộp tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp.

Chính phủ quy định chi tiết khoản này.”

26. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 93; bổ sung khoản 3 vàoĐiều 93 như sau:

“1. Các biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế bao gồm:

b) Khấu trừ một phần tiền lương hoặc thu nhập;

c) Dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

d) Thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng;

“Điều 98a. Cưỡng chế bằng biện pháp thông báo hóa đơn không còn giá trị sử dụng

đ) Kê biên tài sản, bán đấu giá tài sản kê biên theo quy định của pháp luật;

g) Thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.”

Không áp dụng biện pháp kê biên tài sản trong trường hợp người nộp thuế là cá nhân đang trong thời gian chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam.”

chế bằng biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấn đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề

29. Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 Điều 100; bổ sung khoản 4 vào Điều 100 như sau:

“a) Cơ quan quản lý thuế không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản 1 Điều 93 của Luật này nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt;”

“3. Không áp dụng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với các trường hợp sau đây:

a) Hàng hóa xuất khẩu không phải nộp thuế xuất khẩu;

1. Biện pháp thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề được thực hiện khi cơ quan quản lý thuế không áp dụng được hoặc đã áp dụng các biện pháp cưỡng chế quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e khoản 1 Điều 93 của Luật này nhưng vẫn chưa thu đủ số tiền thuế nợ, tiền chậm nộp, tiền phạt.

2. Thủ trưởng cơ quan quản lý thuế có trách nhiệm gửi văn bản yêu cầu cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hành nghề.

1. Người nộp thuế chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong thông báo của cơ quan quản lý thuế, thời hạn trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và tiền chậm nộp theo mức lũy tiến 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp không quá chín mươi ngày; 0,07%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp đối với số ngày chậm nộp vượt quá thời hạn chín mươi ngày.

Đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, nếu người nộp thuế khai bổ sung trong thời hạn sáu mươi ngày, kể từ ngày đăng ký tờ khai hải quan theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 34 của Luật này và chủ động nộp số tiền thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước thì phải nộp tiền chậm nộp tính trên số tiền thuế thiếu theo quy định tại Điều này, nhưng không bị xử phạt vi phạm thủ tục hành chính thuế, thiếu thuế, trốn thuế.

3. Người nộp thuế tự xác định số tiền chậm nộp căn cứ vào số tiền thuế chậm nộp, số ngày chậm nộp và mức tiền chậm nộp theo quy định tại khoản 1 Điều này.

4. Trường hợp sau ba mươi ngày, kể từ ngày hết thời hạn nộp thuế, người nộp thuế chưa nộp tiền thuế và tiền chậm nộp thì cơ quan quản lý thuế thông báo cho người nộp thuế biết số tiền thuế nợ và tiền chậm nộp.

“Điều 107. Xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn

a) Phạt 10% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơn đối với trường hợp người nộp thuế tự phát hiện và khai bổ sung quá thời hạn sáu mươi ngày, nhưng trước khi cơ quan hải quan kiểm tra, thanh tra thuế

b) Phạt 20% số tiền thuế khai thiếu, số tiền thuế được miễn, giảm, hoàn cao hơn đối với trường hợp không thuộc quy định tại điểm a khoản này.”

“Điều 110. Thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế

2. Đối với hành vi trốn thuế, gian lận thuế chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, hành vi khai thiếu số thuế phải nộp hoặc tăng số thuế được hoàn, thời hiệu xử phạt là năm năm, kể từ ngày thực hiện hành vi vi phạm.

3. Quá thời hiệu xử phạt vi phạm pháp luật về thuế thì người nộp thuế không bị xử phạt nhưng vẫn phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp vào ngân sách nhà nước trong thời hạn mười năm trở về trước; kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm. Trường hợp người nộp thuế không đăng ký thuế thì phải nộp đủ số tiền thuế thiếu, số tiền thuế trốn, số tiền thuế gian lận, tiền chậm nộp cho toàn bộ thời gian trở về trước, kể từ ngày phát hiện hành vi vi phạm.”

36. Bổ sung cụm từ “tiền chậm nộp,” vào trước cụm từ “tiền phạt” tại các điều 3, 5, 8, 65, 66, 68, 90, 92, 93, 98, 99, 100, 113, 114 và 118; bổ sung cụm từ “và không phải nộp tiền” vào sau cụm từ “không bị phạt” tại khoản 4 Điều 49; bỏ từ “phạt” trong cụm từ “tiền phạt chậm nộp” tại khoản 3 Điều 56 của Luật này.

1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

2. Các nội dung về thanh tra thuế quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11 khác với quy định tại Luật thanh tra thì thực hiện theo quy định tại Luật thanh tra.

3. Đối với các khoản tiền thuế nợ, tiền phạt còn nợ không có khả năng thu hồi phát sinh trước ngày 01 tháng 7 năm 2007, Chính phủ tổ chức thực hiện xóa nợ và báo cáo Quốc hội kết quả đối với các trường hợp sau đây:

4. Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật.