Thơ 8 Chữ Là Gì, Luật Thơ 8 Chữ, Cách Gieo Vần

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật
  • [Kỹ Năng Làm Thơ
  • Trường Cđsp Quảng Trị Mobile
  • Hướng Dẫn Cá Cược Bóng Chày Tại Các Nhà Cái
  • Luật Chơi Cá Cược Bóng Chày Chi Tiết
  • I)Luật Thanh trong thể thơ

    Đầu tiên mình sẽ nói về luật thanh trong làm thơ bát ngôn:

    Như ta đã biết thơ bát ngôn sẽ có 8 chữ mỗi câu thơ và cứ thế đến hết bài thơ nên luật bằng trắc đối với thể thơ này rất quan trọng nó sẽ làm bài thơ không bị nghe ngang tai mà sẽ nhấn nhá hợp lý để tạo cho âm điệu dương của bài thơ muốn vậy chúng ta chỉ cần theo quy luật chữ cuối có thanh trắc thì chữ thứ 3 trắc, chữ thứ 5 và 6 bằng; chữ cuối có thanh bằng thì chữ thứ 3 bằng, chữ thứ 5 và 6 trắc.

    Chữ cuối có thanh trắc thì chữ thứ ba là thanh trắc, thứ năm hoặc sáu là thanh bằng

    Ví dụ minh họa:

    Thanh bằng ở chữ thứ 5 : x x T (b) B x x T VD: Ta nghe rõ(T) con thuyền(B) trôi phấp phới(T)

    Thanh bằng ở chữ thứ 6: x x T x (b) B x T VD: Vòm nho nhỏ(T)còn ghi thương(B) nhớ cũ(T)

    Ở đây ta thấy được rằng Chữ cuối có thanh trắc thì chữ thứ ba là thanh trắc, thứ năm hoặc sáu là thanh bằng

    Giải thích ký hiệu :

    – B : phải là bằng

    – T : phải là trắc

    – b : nên là bằng, nhưng không bắt buộc

    – t : nên là trắc, nhưng không bắt buộc

    – x : bằng hoặc trắc đều được

    II) Cách gieo vần trong thơ

    Về cách gieo vần trong thơ bát ngôn cũng rất đơn giản và dễ hiểu có những cách gieo vần sau đây

    a)Vần liên tiếp:

    Sẽ là hai vần bằng tiếp theo là hai vần trắc,hoặc ngược lại

    Như vậy Câu 1 vần câu 2, câu 3 vần câu 4

    Ví dụ:

    Ta nghe rõ con thuyền trôi phấp phới

    Non động hoang mang, tình xưa bạn mới

    Hoa chờ, tươi: mây đợi, thắm lưng đèo

    Suối quanh co bờ đá dựng cheo leo

    Sườn bích lập nâng cao trần thạch nhũ

    Vòm nho nhỏ còn ghi thương nhớ cũ

    Lệ chia phôi ngàn thuở đọng lưng chừng

    Lối vào sâu mấy khoá nẻo sau lưng

    Khe nước hẹp khép dần sau bánh lái

    Đôi bờ gấm chập chờn xê xích lại

    Nóc rêu nhung buông rủ sát ngang đầu

    Hồn phiêu dao tưởng cõi chiếc thuyền câu

    Lách hang đá bay về non nước Tấn

    (Đào Nguyên lạc lối – Vũ Hoàng Chương)

    Hoặc là câu 2 vần câu 3, câu 4 vần câu 5.

    Ví dụ:

    Khách ngồi lại cùng em trong chốc nữa

    Vội vàng chi, trăng lạnh quá, khách ơi

    Đêm nay rằm: yến tiệc sáng trên trời

    Khách không ở, lòng em cô độc quá

    Khách ngồi lại cùng em! Đây gối lả

    Tay em đây mời khách ngả đầu say

    Đây rượu nồng. Và hồn của em đây

    Em cung kính đặt dưới chân hoàng tử

    (Lời kỹ nữ – Xuân Diệu)

    2. Vần chéo (Vần gián cách)

    Một vần bằng rồi tới một vần trắc. Như vậy, câu 1 vần với câu 3, câu 2 vần với câu 4.

    Ví dụ:

    Đuốc hoa toả, xiêm y càng rực rỡ

    Khói trầm dâng, son phấn ngát lây hương.

    Da thịt cháy, nhưng còn hơi bỡ ngỡ,

    Nấp sau rèm tơ lụa mỏng hơn sương.

    (Động phòng hoa chúc – Vũ Hoàng Chương)

    3. Vần ôm

    Câu 1 vần với câu 4, câu 2 vần câu 3.

    Ví dụ:

    Trời hôm nay mưa nhiều hay rất nắng?

    Mưa tôi chả về bong bóng vỡ đầy tay

    Trời nắng ngọt ngào… tôi ở lại đây

    Như một buổi hiên nhà nàng dịu sáng

    (Tuổi mười ba – Nguyên Sa)

    Đêm thân ái có muôn hoa hồng nở

    Em tới đây tình tự một đôi lời

    Hồn phong hương trầm tuổi mộng hai mươi

    Ta nói khẽ đủ hai lòng nghe rõ

    (Ân tình dạ khúc – Đinh Hùng)

    Thơ 8 chữ sưu tầm:Cách làm thơ tám chữ

    Có người hỏi cách làm thơ tám chữ

    Xin trả lời dễ lắm chứ ai ơi

    Nghĩ làm sao thì cứ viết nên lời

    Vì vần điệu không bó như thơ khác

    Cốt là nghe êm êm theo tiếng nhạc

    Mỗi một vần chỉ phải một lần thôi

    Hết hai câu lại được đổi âm rôì

    Bằng bằng hết lại đến phiên trắc trắc

    Cần âm điệu nghe sao đừng khúc mắc

    Đừng cho 5,6 chữ một âm đều

    Nên đổi thay bằng trắc thật là kêu

    Không nhất thiết câu đầu tiên phải trắc

    Vần thứ nhất câu 2 & 3 bắt cặp

    Rôì 4 & 5, 6 & 7 tiếp tục đi

    Câu cuôí cùng cũng chẳng bó buộc gì

    Vì chấm dứt mà không cần vần tiếp

    Thơ có hay còn nhờ ngôn ngữ đẹp

    Như bài này con cóc phải cười thôi

    Viết lông bông đùa một chút cho vui

    Để cho biết đó là thơ tám chữ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Thơ Đường Luật Thất Ngôn Bát Cú
  • Cách Làm Thơ Thất Ngôn Bát Cú. Các Lỗi Thông Thường Trong Thơ Đường Luật
  • Đặc Điểm Thơ Năm Chữ
  • Luật An Ninh Quốc Gia Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
  • Tăng Cường Phối Hợp Trong Bảo Đảm An Ninh Quốc Gia, Giữ Gìn Trật Tự, An Toàn Xã Hội
  • Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Thơ Lục Bát
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát
  • ✅ Làm Thơ Lục Bát
  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có đề cập đến luật thơ, sự hình thành luật thơ và một số thể thơ tiêu biểu. Trong đó có thể thơ lục bát. Vậy thể thơ lục bát là gì, cách gieo vần thế nào và cách làm một bài thơ lục bát ra sao? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết chúng tôi cung cấp bên dưới.

    Thơ lục bát là thể loại thơ nằm trong thể loại thơ dân tộc của Việt Nam.

    Thơ lục bát là thể loại thơ dân gian gồm các cặp câu thơ kết thành một bài. Thường thì câu đầu là 6 chữ, câu sau là 8 chữ, cứ nối tiếp cho tới hết bài.

    Thơ lục bát có nguồn gốc từ rất lâu. Cho tới ngày nay nó vẫn được kế thừa và phát huy, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nguồn văn học dân gian của dân tộc. Ở Việt Nam, thơ lục bát tồn tại dưới nhiều hình thức. Chúng ta thường được nghe những bài ca dao, dân ca, những bài đồng dao thấm đượm tình cảm và nồng nàn hồn quê con người. Thơ lục bát vì vậy mà trở thành thể loại đặc trưng trong những sáng tác của người dân quê.

    Người dân lao động làm việc vất vả, để quên đi mệt nhọc họ trở thành những nhà sáng tác thơ. Thể thơ trong các sáng tác của họ thường là lục bát. Vì vậy nó chân chất, giản dị, diễn tả đúng tâm trạng và các cung bậc cảm xúc trong tâm hồn người dân lao động. Thể loại thơ của dân tộc này còn có nguồn gốc từ những câu ru hời của bà, của mẹ nồng nàn tình cảm thương yêu; những bài đồng dao đi vào lòng người.

    – Số tiếng trong bài thơ lục bát: mỗi cặp lục bát gồm có 2 dòng (lục: 6; bát: 8). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp như thế. Số câu trong bài không giới hạn.

    – Nhịp: nhịp chẵn dựa vào tiếng có thanh không đổi (trừ 2,4,6), nhịp 2/2/2 tạo sự hài hòa, nhịp nhàng cho các cặp lục bát trong bài.

    – Hài thanh:

    + Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2,4,6 trong dòng thơ, đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và thứ 8 dòng bát.

    Ví dụ:

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    Trong cặp lục bát trên có sự đối xứng nhau trong các thanh ở các tiếng 2,4,6. Câu lục là B – T – B “năm – cõi – ta”; câu bát là B – T – B – B “tài – mệnh – là – nhau”

    + Thơ lục bát có sự chặt chẽ về cách phối thanh: tiếng thứ 4 bắt buộc là trắc, các tiếng 2,6,8 phải là bằng. Trong đó trong câu bát tiếng thứ 6 và 8 cùng là bằng nhưng phải khác dấu, nghĩa là tiếng thứ 6 là dấu huyền thì tiếng thứ 8 phải không có dấu hoặc ngược lại.

    Ví dụ:

    (Trích Kiều thăm mộ Đạm Tiên – Nguyễn Du)

    Các từ “qua – cuộc – dâu/ điều – thấy – đau – lòng” tuân thủ luật B – T – B

    Ta thấy câu bát tiếng 6 và 8 đều là vần bằng nhưng có sự ngược nhau: tiếng 6 thanh bằng, tiếng 8 thanh huyền.

    Cách gieo vần thơ lục bát

    Thơ 6 – 8 cũng có quy định nghiêm ngặt về cách gieo vần: hiệp vần ở tiếng thứ 6 của 2 dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục.

    + Vần bằng: là các vần có thanh huyền và thanh ngang (không dấu)

    Ví dụ: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.

    “Trang – da” là vần bằng các tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

    + Vần trắc: là các vần có các dấu còn lại: sắc, hỏi, nặng, ngã

    Ví dụ: “Tò vò mà nuôi con nhện

    Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi”

    “Nhện – quện” là vần trắc.

    + Vần chân: hiệp vần ở tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

    Ví dụ: “Nao nao dòng nước uốn quanh

    Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

    (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    “Quanh – ngang” là vần chân cuối các câu lục và bát.

    + Vần yêu: là vần ở cuối câu lục hiệp với tiếng thứ 6 câu lục.

    Ví dụ: “Thanh minh trong tiết tháng Ba

    Lễ là tảo mộ, hội đạp thanh”

    “Ba – là” gọi là vần yêu hiệp ở tiếng thứ 6 của 2 dòng.

    Thơ lục bát là loại thơ đơn giản, dễ làm. Người làm thơ cần tuân thủ đúng luật thơ về hài thanh và cách gieo vần là đã hoàn thành một bài thơ lục bát. Câu đầu 6 tiếng, câu sau 8 tiếng tạo thành một cặp lục – bát.

    + Làm câu lục trước tuân thủ luật thơ ở các tiếng 2,4,6 là B – T -B, các tiếng còn lại tự do

    + Tiếp đến câu bát: cân chỉnh cho có sự đối xứng ở các tiếng 2,4,6 là B – T – B – B, các tiếng còn lại tự do

    + Cách gieo vần: sau khi hoàn chỉnh 2 câu thơ thì xem lại cách hiệp vần trong cặp câu. Để ý tiếng thứ 6 của 2 dòng xem đã hiệp vần chưa nếu chưa thì đổi lại đảm bảo cùng là vần bằng. Hoặc cách hiệp vần ở cuối mỗi câu.

    + Đọc lại hai câu thơ đảm bảo nhịp 2/2/2 hoặc 3/3 cho cân đối và nhịp nhàng.

    + Nếu thấy chưa hài hòa về mặt từ ngữ lúc này mới tìm các từ tương ứng có thể thay thế được để câu thơ được tự nhiên, tránh gò ép về cách hiệp vần.

    Thể song thất lục bát (gián thể, song thất)

    – Số tiếng: cặp song thất và cặp lục bát luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.

    – Vần: hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền.

    – Nhịp: 3/4 ở hai câu thất và 2/2/2 ở cặp lục bát.

    – Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc trắc nhưng không bắt buộc; cặp lục bát sự đối xứng B – T chặt chẽ hơn.

    Các thể ngũ ngôn đường luật

    – Gồm: ngũ ngôn tứ tuyệt (5 tiếng, 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng, 8 dòng)

    – Bố cục: 4 phần đề, thực, luận, kết

    – Số tiếng: 5 tiếng, số dòng: 8 dòng (4 dòng)

    – Vần: 1 vần, gieo vần cách

    – Nhịp lẻ: 2/3

    – Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ hai và thứ tư

    Các thể thất ngôn đường luật

    Gồm:

    Thất ngôn tứ tuyệt

    – Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 4 dòng

    – Vần: vần chân, độc vận, gieo vần cách

    – Nhịp: 4/3

    Thất ngôn bát cú

    – Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 8 dòng ( chia 4 phần: đề, thực, luận, kết)

    – Vần: vần chân, độc vận

    – Nhịp: 4/3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bổ Sung Quy Hoạch Vùng Trời Vào Dự Án Luật Quy Hoạch
  • Giới Hạn Vùng Trời Của Một Quốc Gia
  • Vùng Trời Cho Hoạt Động Hàng Không Chung
  • Các Vùng Trời: Vùng Trời Quốc Gia, Không Phận Quốc Tế, Vùng Thông Báo Bay (Fir) Và Vùng Nhận Dạng Phòng Không (Adiz)
  • ‘luật Trời’: Ngọc Lan Sợ Bị Ông Chủ Đuổi Khỏi Nhà Vì Âm Mưu Chiếm Đoạt Gia Sản
  • Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật
  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ
  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ
  • Người làm thơ Đường Luật phải biết và chấp nhận bó mình trong niêm luật vần đối của nó. Thơ lục bát chỉ có luật, vần nên thi sĩ không bị niêm, đối “kềm kẹp”. Trong bài viết ngắn này tôi chỉ bàn về luật.

    Đọc xong chắc có người thắc mắc ” Sao tui đọc sách và những bài viết trên mạng thấy luật bằng trắc trong thơ lục bát cũng rườm rà, rắc rối lắm mà sao ông viết lại đơn giản quá vậy? Có ‘ăn bớt’ không đó cha nội?”

    Sau một thời gian dài làm thơ lục bát nhiều thi sĩ đã “vượt rào”, phớt lờ luật tắc. Độc giả mới đầu còn thấy lạ lạ, kỳ kỳ. Đọc riết rồi thấy cũng “ổn” nên bảo nhau ” Không có gì mà ầm ĩ“. Dần dà một vài luật tắc rườm rà đó ” tuân theo cũng được mà phớt lờ cũng không sao “. Đó là quy luật tiến hóa của thi ca.

    Vì thế ở đây tôi chỉ nói đến những điểm luật cốt yếu – ở thời điểm này mà không tuân thủ thì bài thơ sẽ bị chê là “mất tính lục bát”.

    Chữ thứ 6 câu lục, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát phải là thanh bằng.

    Chữ thứ 4 câu bát phải là thanh trắc.

    Mười chữ còn lại thì tự do – bằng cũng được mà trắc cũng không sao.

    Nếu chữ thứ 6 của câu bát thanh huyền (dấu huyền) (thí dụ 1) thì chữ thứ 8 phải thanh ngang (không dấu) và ngược lại (thí dụ 2).

    Kêu con lên giúp đem về Hà Nam

    Trong thí dụ này tôi “chơi nổi”, chọn 10 chữ còn lại toàn là thanh bằng. Nếu bạn không thích thì tự do thay đổi.

    Để lại một mẫu chú Hương cất nhà

    Ở đây tôi chọn 10 chữ còn lại là thanh trắc. Dĩ nhiên, bạn cũng có toàn quyền thay đổi.

    Luật bằng trắc của lục bát chỉ có thế. Bạn chỉ cần để ý 4 chữ (in đậm) – 3 bằng một trắc – thì thơ lục bát của bạn luật sẽ vững như bàn thạch.

    1/ Trong trang Lục Bát Việt Nam trên Facebook có bài thơ Nước Mắt Ngày Gặp Lại của Thanh Tu có 2 câu:

    Hôm nay mình gặp lại nhau

    Ôm chặt bạn mà nỗi đau nhói lòng

    Với luật thơ lục bát hiện hành thì nó phạm luật (chữ “mà” phải chuyển thành chữ khác có thanh trắc mới đúng). Với con mắt người bình thơ như tôi thì bài thơ thất bại một cách oan uổng; ý tứ có hay tôi cũng ngoảnh mặt làm ngơ. Nhưng biết đâu mấy chục năm nữa cách nhìn nhận luật thơ phóng khoáng hơn, bài Nước Mắt Ngày Gặp Lại (hay những bài phạm lỗi tương tự) sẽ được bình phẩm một cách cởi mở hơn.

    – Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi qua email ngày 14.08.2020.

    – Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.

    – Vui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi khi trích đăng lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Sản Xuất Thực Phẩm
  • Chi Phí Làm Giấy Chứng Nhận An Toàn Thực Phẩm Là Bao Nhiêu?
  • Không Có Giấy Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thì Bị Phạt Bao Nhiêu Tiền?
  • Luật Trẻ Em Có Bao Nhiêu Chương Và Luật Quy Định Trẻ Em Có Bao Nhiêu Quyền?
  • Đất Bcs Là Gì? Quy Định, Đặc Điểm Của Đất Bằng Chưa Sử Dụng Bcs Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đức Phanxicô Đã Đúng Về Bao Cao Su Và Hiv
  • Tham Vọng ‘bao Cao Su’ Của Tq Ở Biển Đông Vô Lý Và Trái Luật
  • Những Chuyện Hài Hước Về Bao Cao Su
  • Nhà Nghỉ Được Phép Có Bao Cao Su
  • Kỹ Thuật Nhảy Cao Kiểu Bước Qua Dành Cho Những Người Mới Tập
  • Đất BCS là gì? Tiêu chuẩn để xác định loại đất đất bằng chưa sử dụng BCS là gì? Chia sẻ đặc điểm pháp lý và quy định sử dụng đất BCS theo luạt hiện hành.

    Đất BCS là gì? Hay đất bằng chưa sử dụng là gì? Có các loại đất BCS nào? Quy định pháp luật về đất BCS ra sao?… Đây chắc hẳn là thắc mắc của nhiều người đọc bản đồ địa chính khi thấy ký hiệu đất này.

    Nhiều người thường đặt câu hỏi ” Đất BCS là gì?”, “Đất BCS là đất gì?”, hay “Đất bằng chưa sử dụng là gì?”,…

    Thực tế, đất BCS hay đất bằng chưa sử dụng là một. Và chúng thuộc nhóm đất chưa sử dụng.

    Đất chưa sử dụng là loại đất chưa được xác định hoặc chưa đủ điều kiện để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất nông nghiệp hay lâm nghiệp; chưa xác định đây là đất khu dân cư thành thị hay nông thôn; nên giao cho đối tượng nào (cá nhân, tổ chức, hộ gia đình) để sử dụng lâu dài.

    Đất bằng chưa sử dụng có các loại đất BCS như:

    • Vùng bằng phẳng ở đồng bằng
    • Thung lũng
    • Cao nguyên

    II. Quy định pháp luật về đất BCS

    Theo Điều 164 Luật đất đai 2013 quy định:

    • Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý, bảo vệ đất chưa sử dụng tại địa phương và đăng ký vào hồ sơ địa chính
    • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý đất chưa sử dụng tại các đảo chưa có người ở
    • Việc quản lý đất chưa sử dụng được thực hiện theo quy định của Chính phủ

    Theo Điều 165 Luật đất đai 2013 quy định:

    • Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, ủy ban nhân dân các cấp có kế hoạch đầu tư, khai hoang, phục hóa, cải tạo đất để đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng
    • Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư để đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
    • Đối với diện tích đất được quy hoạch sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì ưu tiên giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất

    2.2. Biện pháp đưa đất bằng chưa sử dụng vào sử dụng theo kế hoạch sử dụng đất

    Biện pháp đưa đất bằng chưa sử dụng vào sử dụng

    Theo Điều 59 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định:

    • Nhà nước có chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng đối với vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng nhiều đất nhưng ít dân, vùng có điều kiện tự nhiên khó khăn để thực hiện kế hoạch đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng; có chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất chưa sử dụng để đưa vào sử dụng
    • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sử dụng nguồn kinh phí thu được từ nguồn thu khi cho phép chuyển mục đích đất chuyên trồng lúa nước sử dụng vào mục đích khác và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để phục vụ việc khai hoang, cải tạo, đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng

    Theo khoản 3 Điều 132 Luật đất đai, đất BCS sẽ được Ủy ban nhân dân cấp xã giao cho cá nhân, hộ gia đình thuê đất để nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất nông nghiệp trong thời hạn không quá 5 năm dưới hình thức đấu giá đất.

    Tiền thu được từ việc cho thuê đất sẽ được nộp vào ngân sách nhà nước và chỉ được sử dụng cho nhu cầu công ích của xã, phường nơi có đất.

    Thời hạn sử dụng đất BCS tối đa là 5 năm

    Theo Điều 76 Luật đất đai 2013, các trường hợp không được bồi thường đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất bao gồm:

    • Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất
    • Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất
    • Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng
    • Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn
    • Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối

    Do đó, đất BCS sẽ không được bồi thường nhưng sẽ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất.

    Ngoài chia sẻ những kiến thức hữu ích về đất đai, nếu bạn có nhu cầu mua đất nền đầu tư, đừng quên Tìm tin rao trên chúng tôi Đặc biệt, nếu bạn muốn rút ngắn thời gian tìm bất động sản phù hợp nhưng vẫn cho kết quả chuẩn xác, có thể trải nghiệm miễn phí ngay tính năng “Đăng ký nhận tin” của chúng tôi.

    Ann Tran – Ban biên tập Nhà Đất Mới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 20 Cầu Thủ Thuận 2 Chân Trong Bóng Đá Hiện Tại
  • Format Text As Superscript Or Subscript
  • Cách Tì Đè Trong Bóng Đá Đúng Luật Và Hiệu Quả Cao
  • Vì Sao Người Mỹ Không Thích Bóng Đá?
  • Kỹ Thuật Đảo Chân Trong Bóng Đá
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Gieo Vần Và Cac Loại Thể Thơ
  • Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học
  • Tiết 60: Làm Thơ Lục Bát A. Mục Tiêu Cần Đạt: Giúp Hs Kiến Thức
  • Thuyết Mình Về Thể Thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Của Nguyễn Khuyến: Bài Thơ Này Viết Theo Thể Thất Ngôn Bát Cú
  • Luật bẳng trắc của thơ 8 chữ hơi khác thơ 7 chữ và là thể thơ tương đối tự do, không hoàn toàn gò bó vào luật bằng trắc như thơ bảy chữ. Luật bằng trắc chỉ áp dụng cho những câu liền mạch thông thường. Những câu ngắt thành nhiều cụm từ thì chỉ theo luật đôi chút hoặc đôi khi không theo luật bằng trắc gì cả.

    Việc áp dụng luật bằng trắc nhiều hay ít còn tùy theo nội dung bài thơ, nghệ thuật biểu cảm của câu thơ, và tùy tài năng của nhà thơ. Những câu thơ không theo luật đôi khi là những câu thơ hay, có giá trị nghệ thuật cao, tạo nên những điểm nhấn thú vị, mang lại nét riêng cho bài thơ.

    Là người học làm thơ, tôi nghĩ mình nên nên bắt đầu tìm hiểu về luật thơ 8 chữ, giống như học nhày, đầu tiên, ta phải đi những bước cơ bản, sau đó rồi mới học bước “făng” và “făng” nhiều hay ít là chuyện về sau, khi đã nhảy thành thạo.

    Luật bằng trắc của một câu thơ 8 chữ tùy theo vần của chữ thứ 8. Nếu chữ thứ 8 vần trắc thì chữ thứ 3 trắc, chữ thứ 5 và 6 bằng. Ví dụ:

    Em cứ HẸN nhưng EM ĐỪNG đến NHÉ (xxTxBBxT)

    Nếu chữ thứ 8 vần bằng thì chữ thứ 3 bằng, chữ thứ 5 và 6 trắc. Ví dụ:

    Để lòng BUỒN tôi DẠO KHẮP trong SÂN, (xxBxTTxB)

    Thử ghi luật bằng trắc một số bài thơ của vài nhà thơ nổi tiếng để xem họ áp dụng luật bằng trắc như thế nào.

    Trong bài Ân Tình Dạ Khúc của Đinh Hùng, đa phần (29/31 = 93,5%) câu áp dụng chính xác luật bằng trức của thơ 8 chữ.

    Đa phần các câu trog bài NGẬP NGỪNG của Hồ Zếnh đều áp dụng nghiêm ngặt luật bằng trắc của thơ 8 chữ (15/18= 83%). Ba câu không áp dụng luật là những câu được ngắt thành 2 nhịp, có lẻ tác gỉa muốn diễn tả sự ngập ngừng, lững lơ, dang dở của một mối tình không biết rồi sẽ ra sao. (Có thể tác gỉa biết thế nào rồi cuộc tình của mình cũng đến hồi kết thúc nên muốn kéo dài càng lâu càng tốt? Hoặc những mối tình êm xuôi có thể sẽ không có được những bài thơ hay?)

    Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân, (xxBxTTxB)

    Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần… (xxBxTTxB)

    Tôi nói khẽ: Gớm, làm sao nhớ thế? (xxTxBBxT)

    Em tôi ơi! tình có nghĩa gì đâu ? (xxBxTTxB)

    Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu ? (xxBxTTxB)

    Thuở ân ái mong manh như nắng lụa. (xxTxBBxT)

    Hoa bướm ngập ngừng cỏ cây lần lữa,

    Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi, (xxBxTTxB)

    Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi!

    Tôi sẽ trách – cố nhiên! – nhưng rất nhẹ (xxTxBBxT)

    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về, (xxBxTTxB)

    Tình mất vui khi đã vẹn câu thề, (xxBxTTxB)

    Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở. (xxTxBBxT)

    Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,

    Cho nghìn sau … lơ lửng… với nghìn xưa … (xxBxTTxB)

    Bài NHỚ RỪNG của Thế Lữ là bài thơ có nhiều câu ngắt thành từng cụm từ để tạo nhịp điệu riêng, manh mẽ hơn, để thể hiện một tâm sự u uất, chán nản và khát vọng tự do. Tuy nhiên, đa phần các câu còn lại (33/47 = 70%) vẫn theo luật bằng trắc nghiêm ngặt.

    Thử ghi lại luật bằng trắc của bài thơ Nhớ Rừng. Câu nào không ghi cũng theo luật nhưng mềm hơn. Đa phần chữ không theo luật nằm vào chữ thứ 5 hoặc thứ 6. Ví dụ:

    Ta nằm dài theo NGÀY tháng dần qua (xxBxBTxB). (Chữ NGÀY không theo luật)

    Than ôi! Thời oanh liệt NAY còn đâu. (xxBxTBxB) (Chữ NAY không theo luật)

    Đôi khi chữ thứ 3 cũng không theo luật. Ví dụ:

    Ta đương THEO giấc MỘNG ngàn to lớn. (xxBxTBxT) , (THEO và MỘNG không theo luật)

    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm, (xxTxBBxT)

    Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, (xxTxBBxT)

    Với khi thét khúc trường ca dữ dội, (xxTxBBxT)

    Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc, (xxTxBBxT)

    Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, (xxTxBBxT)

    – Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

    Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu, (xxBxTTxB)

    Ghét những cảnh không đời nào thay đổi, (xxTxBBxT)

    Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối: (xxTxBBxT)

    Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm, (xxTxBBxT)

    – Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi! (47)

    Tóm lại, thơ 8 chữ cũng có luật bằng trắc của nó. Là người tập làm thơ, tôi tự rút ra bài học, hy vọng có ngày cũng làm được mấy câu để đọc cho cháu nội nghe.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ
  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật
  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật
  • Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ
  • Cách Gieo Vần Và Cac Loại Thể Thơ
  • Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học
  • Tiết 60: Làm Thơ Lục Bát A. Mục Tiêu Cần Đạt: Giúp Hs Kiến Thức
  • Trong chương trình phổ thông ngày xưa, ta học thơ lục bát trong Lục Vân Tiên và Kiều, thơ đường của Bà Huyên Thanh Quan và Nguyễn Khuyến, hát nói của Nguyễn Công Trứ nhưng tôi không nhớ đã học tác giả thơ mới nào, và cũng chưa nghe thầy nào dạy cách làm một bài thơ, cho dù là thơ lục bát.

    Có một thời từ cô thôn nữ đến cậu sinh viên đều thuộc nhiều bài thơ của những tác gỉa nổi tiếng trong phong trào thơ mới như Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên… vì thơ họ hay. Vậy thơ họ hay ở chỗ nào? Thơ họ hay trước hết vì họ diễn tả tình cảm cá nhân, đăc biệt là tình yêu đôi lứa, do đó, ai cũng cảm thấy nhà thơ đã nói hộ tâm trạng mình. Trong thơ họ, thí tứ phong phú, cảm xúc dạt dào, tình cảm nồng nàn, tha thiết, mãnh liệt, được diễn tả bằng từ ngữ bay bướm, sáng tạo, giàu nhạc tính, có vần điệu, nghe êm tai. Nói chung, thơ họ hay bởi họ có tài làm thơ, cái mà nhiều người khác không có được. Không chỉ có vậy, thơ họ hay còn nhờ họ hiểu cặn kẽ luật thơ và biết phá luật để tạo những câu thơ đẹp.

    Dù không làm được thơ hay vì không có tài nhưng không ai cấm chúng ta viết đôi câu để chúc mừng lễ vu quy của cháu gái hay giải sầu khi vợ ốm phải nằm viện. Những lúc như thế, nếu viết được một vài câu dù chưa phải là thơ nhưng cũng đủ làm cuộc sống trở nên vui hơn, có ý nghĩa hơn, đỡ buồn, đỡ stressed, dễ thở hơn đôi chút. Nếu đọc cho bạn bè nghe thì cũng xuôi tai. Muốn vậy thì phải học làm thơ, đặc biệt là học các nhà thơ lớn, xem thử cái kỹ thuật tối thiểu trong thơ họ là gì.

    Một bài được gọi là thơ theo dạng thơ mới (không nói đến thơ tự do) thì ai cũng biết là phải có vần, nhưng theo tôi, thứ quan trọng không kém là luật bằng trắc trong câu, mà rất nhiều người làm thơ nghiệp dư không chú ý đến lại là thứ mà những nhà thơ nổi tiếng ít ai không tuân thủ.

    Trong nhạc có nhịp và phách, trong thơ (có vần) có câu và luật bằng trắc của mỗi từ trong mỗi câu. Trong nhạc, các nốt nhạc ở phách mạnh đầu nhịp là quan trọng, thì trong thơ 7 chữ, các từ thứ 2, 4 và 6 là những từ quan trọng.

    Hãy nghiên cứu luật bằng trắc trong một vài bài thơ 7 chữ của các nhà thơ nổi tiếng.

    Thử ghi luật bằng trắc của các từ thứ 2, 4 và 6 trong bài thơ Đậm Nhạt của Vũ Hoàng Chương.

    Trong bài thơ này, tác giả hoàn toàn tuân thủ luật bẳng trắc của thơ Đường: Trong mỗi câu, từ thứ 2 luôn giống vần từ thứ 6: ví dụ từ thứ 2 vần bằng thì từ thứ 6 cũng vần bằng, từ thứ 4 vần trắc, chẳng khác gì thơ Đường. Về niêm cũng tương tự thơ Đường: Câu đầu và câu cuối giống nhau, các câu còn lại giống nhau từng cặp. Vần thì mỗi đọan thơ 4 câu giống với 4 câu đầu trong thơ Đường: Các từ cuối của các câu 1, 2 và 3 vần với nhau. Như vậy, bài Đậm Nhạt còn ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường về luật bằng trắc và niêm, chỉ không có đối và số câu nhiều hơn mà thôi.

    Đậm Nhạt – Vũ Hoàng Chương

    Da thịt đìu hiu rợp bóng mây (TBT)

    Sương lam mờ cỏ gió vàng cây (BTB)

    Song sa nắng xế dần ân ái (BTB)

    Lạnh cả mùa xưa nguyệt Mái Tây (TBT)

    Nẻo ngắt chiêm bao nhịp rụng đều (TBT)

    Tâm tư ngờ chạm bước hài thêu (BTB)

    Tiền thân nửa gối vườn mưa lá (BTB)

    Vết cũ phong sầu đậm nhạt rêu (TBT)

    Tình chủng bơ vơ độc viễn hành (TBT)

    Nàng Thôi thôi đã hết Oanh Oanh (BTB)

    Gót sen chùa cổ đêm trăng ấy (BTB)

    Vọng thấu luân hồi nhạc mỏng manh (TBT)

    Mùa nhớ thương sang mộng nõn nà (TBT)

    Tinh anh nghìn kiếp thoáng dư ba (BTB)

    Hồn ai xác mới nghe thoi thóp (BTB)

    Vang bóng hài xiêm chuyển thớ da (TBT)

    Bài Hạnh Ngộ của Đinh Hùng đổi mới không nhiều. Luật bằng trắc trong mỗi câu vẫn giữ nguyên, chỉ có niêm là đôi chút thay đổi: Câu đầu và câu cuối không giống nhau, Câu 4 và câu 5 không giống nhau. Tất cả nhưng câu còn lại đều theo luật niêm của thơ Đường.

    Bài Ca Hạnh Ngộ – Đinh Hùng

    Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay, (BTB)

    Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?(TBT)

    Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ, (TBT)

    Nửa như hoài vọng, nửa như say. (BTB) (4)

    Em đến như mây, chẳng đợi kỳ, (TBT) (5)

    Hương ngàn gió núi động hàng mi. (BTB)

    Tâm tư khép mở đôi tà áo, (BTB)

    Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi. (TBT)

    Em muốn đôi ta mộng chốn nào? (TBT)

    Ước nguyền đã có gác trăng sao. (BTB)

    Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý, (BTB)

    Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào. (TBT)

    Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ. (TBT)

    Nắng trong hoa, với gió bên hồ, (BTB)

    Dành riêng em đấy. Khi tình tự, (BTB)

    Ta sẽ đi về những cảnh xưa. (TBT)

    Rồi buổi ưu sầu em với tôi (TBT)

    Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời. (BTB)

    Vai kề một mái thơ phong nguyệt, (BTB)

    Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười. (TBT)

    Bài Mưa Xuân của Nguyễn Bính vẫn giữ nguyên luật bằng trắc nhưng niêm đã thay đổi khá nhiều. Một phần tư các cặp câu không theo luật niêm, nằm vào câu cuối đoạn thơ trước và câu đầu đoạn thơ sau, đó là các cặp câu 4-5, 12-13, 24-25, 28-29, 32-33,

    Em là con gái trong khung cửi (BTB)

    Dệt lụa quanh năm với mẹ già (TBT)

    Lòng trẻ còn như cây lụa trắng (TBT)

    Mẹ già chưa bán chợ làng xa. (BTB) (4)

    Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay (TBT) (5)

    Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy (BTB)

    Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ (BTB)

    Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”. (TBT)

    Lòng thấy giăng tơ một mối tình (TBT)

    Em ngừng thoi lại giữa tay xinh (BTB)

    Hình như hai má em bừng đỏ (BTB)

    Có lẽ là em nghĩ đến anh. (TBT) (12)

    Bốn bên hàng xóm đã lên đèn (BTB) (13)

    Em ngửa bàn tay trước mái hiên (TBT)

    Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh (TBT)

    Thế nào anh ấy chả sang xem! (BTB)

    Em xin phép mẹ, vội vàng đi (BTB)

    Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe. (TBT)

    Mưa bụi nên em không ướt áo (TBT)

    Thôn Đoài cách có một thôi đê. (BTB)

    Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm (BTB)

    Em mải tìm anh chả thiết xem (TBT)

    Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh (TBT)

    Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em. (BTB) (24)

    Chờ mãi anh sang anh chẳng sang (TBT) (25)

    Thế mà hôm nọ hát bên làng (BTB)

    Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn (BTB)

    Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng! (TBT) (28)

    Mình em lầm lũi trên đường về (BTB) (29)

    Có ngắn gì đâu một dải đê! (TBT)

    áo mỏng che đầu mưa nặng hạt (TBT)

    Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya (BTB) (32)

    Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay (TBT) (33)

    Hoa xoan đã nát dưới chân giày (BTB)

    Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ (BTB)

    Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”. (TBT)

    Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày (TBT)

    Bao giờ em mới gặp anh đây? (BTB)

    Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ (BTB)

    Để mẹ em rằng hát tối nay? (TBT)

    Trong bài Xuân của Chế Lan Viên, luật bằng trắc trong mỗi câu vẫn giữ nguyên, nhưng luật niêm đã nhạt. Chỉ có 2 cặp câu giống nhau về luật bằng trắc, những câu còn lại trong bài không có cặp nào giống nhau. Đoạn 1 và đoạn 4 giống khau về luật niêm, chẳng khác gì đoạn đầu và đoạn cuối của một ca khúc, có thể dụng ý nghệ thuật của tác giả muốn diễn tả hoàn cảnh không thay đổi của mình mặc dù mùa xuân có đến rồi đi.

    Tôi có chờ đâu, có đợi đâu (TBT)

    Đem chi xuân lại gợi thêm sầu? (BTB)

    Với tôi, tất cả như vô nghĩa (BTB)

    Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau! (TBT)

    Ai đâu trở lại mùa thu trước (BTB)

    Nhặt lấy cho tôi những lá vàng? (TBT)

    Với của hoa tươi, muôn cánh rã, (TBT)

    Về đây đem chắn nẻo xuân sang! (BTB)

    Ai biết hồn tôi say mộng ảo (TBT)

    Ý thu góp lại cản tình xuân? (BTB)

    Có một người nghèo không biết tết (TBT)

    Mang lì chiếc áo độ thu tàn! (BTB)

    Có đứa trẻ thơ không biết khóc (TBT)

    Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran! (BTB)

    Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ! (BTB)

    Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.(TBT)

    Đến bài Đây Thôn Vỹ Dạ, chỉ có câu đầu không theo luật bẳng trắc (BBB), các câu còn lại vẫn giữ luật bằng trắc, nhưng niêm đã thay đổi đến 4/5. Chỉ có 1 cập câu giống nhau về luật bằng trắc (câu 10 và 11). Mỗi đoạn có một mẫu “niêm” khác nhau. Có thể đây là dụng ý nghệ thuật của tác giả muốn nói dù cảnh vật không thay đổi nhưng tình người có lẻ đã nhạt phai.

    Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ? (BBB)

    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, (TBT)

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc (BTB)

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền (TBT)

    Gió theo lối gió, mây đường mây (BTB)

    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…(TBT)

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, (BTB)

    Có chở trăng về kịp tối nay? (TBT)

    Mơ khách đường xa, khách đường xa, (TBT)

    Áo em trắng quá nhìn không ra… (BTB) (10)

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh (BTB) (11)

    Ai biết tình ai có đậm đà? (TBT)

    Tóm lại, nếu có lúc nào đó ta hứng chí muốn viết một bài thơ 7 chữ để đọc vào tiệc rượu nào đó thì hãy nhớ kiểm tra xem các từ 2, 4 và 6 trong câu đã đúng luật bằng trắc hay chưa. Đừng xuê xoa luật này vỉ ngay cả Vũ Hoàng Chương cũng còn phải tuân thủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật
  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật
  • Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Sản Xuất Thực Phẩm
  • Vần Điệu Trong Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thơ : Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Ngắn Hay Nhất
  • Bài Văn Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Lớp 8, 2Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Của Thể Thơ Lục Bát
  • Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát Của Dân Tộc
  • Ở các thể loại thơ văn xuôi, thơ tự do, người viết có thể bỏ vần để lấy ý, bỏ âm điệu trắc, bằng để tạo ra những âm điệu mới mẻ khác cho phù hợp với bài thơ. Còn ở thơ lục bát người viết phải tôn trọng những niêm luật riêng. Vần điệu trong thơ tự do, người viết thường chủ động buông bắt biến hoá, dài ngắn tuỳ theo cách diễn đạt của riêng mình , vần điệu trong thơ lục bát nếu khác sẽ trở nên thô kệch, vụng về.

    Nhắc vần điệu trong thơ lục bát, xin được dẫn chứng một bài thơ của cố thi sĩ Nguyễn Bính:

    Rừng chiều

    Lữ hành bắt gặp quán cơm

    Bày ong bắt gặp mùi thơm hoa rừng

    Đèo cao cho suối ngập ngừng

    Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều…

    Trăng non như một cánh diều

    Trẻ con phất dối thả liều lên mây

    Chim nào kêu mỏi ngàn cây

    Ngẩn ngơ đôi chiếc ngựa gầy dong xe

    Đồi sim dan díu nương chè

    Trắng phau khói núi, xanh lè áo ai…

    Bài thơ trên Nguyễn Bính viết năm 1938 ở Thái Nguyên. Một bài thơ toàn bích trong cấu trúc và cách diễn đạt. Đặc biệt vần điệu trong thơ vừa tự nhiên vừa điêu luyện. Đọc đôi lần đã nhớ đã thuộc. Thuộc rồi, nhiều lúc nhớ đến, nhắc đến vẫn thấy ngân nga, rung động:

    Đèo cao cho suối ngập ngừng

    Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều…

    răng non như một cánh diều

    Trẻ con phất dối thả liều lên mây

    Những chữ ngừng, lưng hoặc chiều, diều, liều gieo vần thật chuẩn mực mà không hề gò bó khiên cưỡng. Câu thơ:Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều cách diễn đạt sáng tạo, tài tình và rất Nguyễn Bính. Bài thơ hay một cách giản dị, xuất thần. Hay đến nỗi không thể gọt giũa, thêm bớt. Hãy thử tưởng tượng xem, nếu câu thơ trên mà viết khác hoặc dịch ra tiếng nước ngoài, cái hay cái đẹp sẽ giảm đi đến mức nào.

    Trải qua thời gian thơ lục bát có thể biến ảo trong phạm vi nhất định. Người làm thơ có thể ngắt nhịp, xuống dòng để diễn tả điều mình muốn nói một cách tự nhiên. Người làm thơ có thể gieo liền những âm bằng trong cả câu sáu hoặc câu tám… Nhưng đã viết lục bát thì dù phóng túng, ngang tàng đến mấy câu thơ cũng phải có… vần. Đọc một vài thơ lục bát, cứ nhìn vào cung cách gieo vần cũng đủ biết tay nghề cao hay thấp của tác giả. Thể loại thơ lục bát rất cũ càng, giống như một lối đi có sẵn, dễ mà hoá khó, khó mà hoá dễ – nó là nơi thử sức và thách thức cả những cây bút mới vào nghề và cả những cây bút cao niên, già dặn.

    Nguyễn Đức Mậu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đôi Điều Về Thơ Lục Bát
  • Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật
  • Cách Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Hướng Dẫn Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát Hay Dành Cho Mọi Lứa Tuổi
  • Lập Dàn Ý Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát
  • Luật Pháp Là Gì? Tìm Hiểu Về Luật Pháp Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Áp Dụng Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật
  • #1 Vai Trò Của Pháp Luật Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Ở Việt Nam
  • 【Havip】Bản Chất Của Pháp Luật Là Gì?
  • 1 – Luật Pháp là gì?

    “Luật pháp” “những quy chuẩn giúp con người sống chuẩn mực”, có nguyên tắc và tuân theo để tạo nên một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

    2 – Pháp Luật được xây dựng và thực thi như thế nào?

    • Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý.
    • Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia.Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp.
    • Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.
    • Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.
    • Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan thực thi, bao gồm các cơ quan như Công an (cảnh sát), tòa án, Việc kiểm sát, thi hành án. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội và đến một mức độ cần thiết mới có thể bị đưa ra Toà án.

    Hình 2: Pháp Luật được xây dựng và thực thi như thế nào?

      Về cơ bản, luật pháp được thực thi thông qua các biện pháp hành chính là nhiều hơn cả, ví dụ như: cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm, thanh tra xây dựng thanh tra và xử phạt vi phạm.

    Trong xã hội dân dự, mặc dù Toà án vừa đóng vai trò là cơ quan thực thi nhưng cũng vừa là một người trọng tài để đưa ra các phán xét của mình về tính hợp pháp của hành vi.

      Tuy vậy, ở Việt Nam và đại đa số các nước Châu Á nói chung, việc đưa vụ việc đến Toà án chưa trở thành một thói quan và văn hoá pháp luật. Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp.

    Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.

      Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án, dự thảo các văn bản pháp lý hay đưa ra các tư vấn pháp lý.

    3 – Bản chất của Luật Pháp là gì?

      Nếu không luật pháp sẽ bi chống đối. Luật pháp có tính dân tộc, nghĩa là phù hợp với truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong đất nước.

    Hình 3: Bản chất của Luật Pháp là gì?

    4 – Thuộc tính của Luật Pháp là gì?

    Về mặt nội dung, luật pháp có tính quy phạm phổ biến. Luật pháp là do Nhà nước đặt ra, nên đối tượng điều chỉnh của nó phổ biến hơn (rộng rãi hơn) các quy phạm xã hội khác. Về mặt hình thức, luật pháp có tính chặt chẽ. Để dân chúng biết được và phải biết ý chí của Nhà nước, thì ý chí này phải được thể hiện dưới các hình thức chặt chẽ.

    Có 3 hình thức luật pháp cơ bản, đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm pháp luật. Luật pháp được đảm bảo bằng Nhà nước. Sau khi đặt ra luật pháp, Nhà nước đưa luật pháp vào đời sống thông qua các cơ quan Nhà nước, các thiết chế chính trị, các cán bộ, nguồn lực tài chính, các phương pháp quản lý đặc biệt là phương pháp cưỡng chế.

    5 – Các hệ thống Pháp Luật là gì?

    6 – Các bộ phận của Luật Pháp là gì?

    7 – Kết luận

    “Luật pháp” “những quy chuẩn giúp con người sống chuẩn mực”, có nguyên tắc và tuân theo để tạo nên một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Biết Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Quy Phạm Pháp Luật Và Văn Bản Qppl Là Gì?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì ? Quy Định Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Có Mấy Loại?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì?
  • Lệnh Giới Nghiêm Là Gì? Thiết Quân Luật Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lệnh Giới Nghiêm Và Thiết Quân Luật
  • Học Luật Quốc Tế Ra Làm Gì? Ngành Luật Quốc Tế Có Phù Hợp Với Bạn?
  • Pháp Luật Trong Quản Lý Nội Bộ Doanh Nghiệp Theo Quy Định Mới
  • Bản Quyền Tác Giả (Copyright) Là Gì ? Lịch Sử Phát Triển Của Bản Quyền Như Thế Nào ?
  • Đăng Ký Bản Quyền Tác Giả
  • Lệnh giới nghiêm là việc thi hành những phương pháp nghiêm cấm đặc biệt để duy trì an ninh trật tự tại một khu vực nào đó trong trường hợp xảy ra những tình huống khẩn cấp.

    Thiết quân luật là việc áp đặt sức mạnh quân sự tại những vùng được chỉ định dựa trên tình huống khẩn cấp. Theo đó, một hệ thống các quy định sẽ có hiệu lực khi quân đội nắm quyền kiểm soát quyền quản lý tư pháp bình thường.

    Lệnh giới nghiêm và Thiết quân luật theo Sắc lệnh số 77 ngày 29 tháng 5 năm 1945:

    Sắc lệnh số 77 ngày 29 tháng 5 năm 1945 nói về việc thiết quân luật và lệnh giới nghiêm: hai phương pháp này có nhiều tính cách khác nhau, nên cần phải giải thích cho rõ ràng để việc áp dụng đạo sắc lệnh kể trên khỏi sai lạc.

    – Thiết quân luật và lệnh giới nghiêm đều là những phương pháp bất thường chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt.

    Nhưng thiết quân luật có tính cách quan hệ hơn lệnh giới nghiêm.

    Phương pháp này chỉ mang dùng khi nào sự an toàn của quốc gia có thể bị đe dọa vì một cuộc ngoại xâm hay một cuộc nổi loạn to.

    – Lệnh giới nghiêm là một phương pháp để duy trì trật tự, ở các phố xá trong một địa phương khi nào những việc trộm cướp, thủy tặc, hỏa tai xảy ra.

    Vì mục đích khác nhau, nên thủ tục thi hành và hiệu lực của hai phương pháp đó khác nhau.

    A) Thiết quân luật

    I.

    – Chỉ riêng có Chủ tịch Chính phủ Dân chủ Cộng hòa mới có quyền ký sắc lệnh thiết quân luật. Sắc lệnh này phải kể rõ ràng:

    1. – những nơi (tỉnh, phủ, huyện, châu, thành phố, thị xã) thiết quân luật;

    2. – thời hạn thiết quân luật là bao nhiêu.

    II.

    – Ở những nơi nào thiết quân luật thì cơ quan hành chánh phải lập tức giao hết quyền hành cho cơ quan quân sự. Tất cả những việc phạm pháp về khinh tội hay trọng tội sẽ giao tòa án quân sự xử. Tòa án chuyên môn có quyền xử những việc hộ và những việc phạm pháp về vi cảnh. Còn đối với việc phạm pháp về khinh tội hay trọng tội mà tòa án quân sự không đòi truy tố và xử lý thì tòa án chuyên môn cứ việc điều tra và xử như thường. Nói tóm lại, tóa án quân sự bất cứ lúc nào muốn xét xử và xử một việc phạm pháp nào thì toàn án chuyên môn phải giao hồ sơ ngay. Nếu tòa án quân sự không đòi hỏi gì thì ông Biện lý cứ theo lệ thường cho điều tra và truy tố tất cả các việc phạm pháp.

    Sở dĩ có sự giao phó quyền cai trị và quyền xử án khinh tội và trọng tội cho các nhà chức trách về quân đội này là vì muốn trừ khử ngoại xâm hay tiêu diệt nội loạn cho dễ dàng. Những nhà chức trách quân sự nào có quyền điều khiển bộ máy cai trị sẽ do bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng ra nghị định chung để định rõ ràng sự cộng tác giữa hai cơ quan trong thời kỳ thiết quân luật.

    III.

    – Cũng vì lẽ vừa kể trên, các nhà nhà chức trách về quân đội còn được quyền hạn chế quyền công dân như:

    a) Bất cứ nhật dạ khám xét nhà công chúng. Những cấp chỉ huy nào có quyền ra lệnh khám xét sẽ do ông Bộ trưởng bộ Quốc phòng quy định.

    b) Trục xuất những thành tích bất hảo.

    c) Bắt các tư gia phải nộp súng đạn tịch thu những súng đạn của tư gia không tuân lệnh nộp.

    d) Ngăn cấm các cuộc hội họp biểu tình, báo chí có tính cách nguy hiểm cho sự an toàn chung.

    B) Lệnh giới nghiêm

    I.

    – Vì chỉ có tính cách địa phương nên Chủ tịch Ủy ban hành chánh phủ huyện, châu, thành phố, thị xã hoặc xã được quyền ra lệnh giới nghiêm. Lệnh ấy phải viết vào giấy, chỉ rõ lệnh giới nghiêm sẽ thi hành ở những nơi nào, thời hạn là bao nhiêu giờ vì thời hạn lệnh giới nghiêm dài nhất là 24 giờ. Giấy ấy phải mang yết thị ở các công sở và Ủy ban hành chánh phải dùng đủ cách để báo cáo cho dân chúng biết.

    II.

    – Lệnh giới nghiêm chỉ có hiệu lực ở ngoài đường phố thôi. Sự đi lại ở ngoài phố và ở các nơi công cộng (rạp hát, chớp bóng, cao lâu), có thể bị hạn chế, còn trong nhà các tư gia không hạn chế một tí nào cả.

    Hết thời hạn định trong giấy yết thị, thì lệnh giới nghiêm sẽ hết hiệu lực. Nếu Ủy ban hành chánh xét cần phải gia thêm hạn thì mỗi lần gia thêm một hạn là 24 giờ phải ký một lệnh khác và phải cho yết thị cùng loan báo cho công chúng biết lại.

    III.

    – Quyền công dân không bị hạn chế: thí dụ muốn khám nhà bắt người phải có lệnh viết của thẩm phán viên.

    IV.

    – Cơ quan hành chánh cao nhất và tòa án chuyên môn không có sự thay đổi gì.

    Thông tin chi tiết:

    Thiết quân luật

    Thiết quân luật là việc áp đặt sức mạnh quân sự tại những vùng được chỉ định dựa trên tình huống khẩn cấp. Theo đó, một hệ thống các quy định sẽ có hiệu lực khi quân đội nắm quyền kiểm soát quyền quản lý tư pháp bình thường.

    Thiết quân luật thường được áp dụng tạm thời khi chính quyền dân sự không hoạt động hiệu quả (ví dụ trong việc duy trì trật tự và an ninh hoặc cung cấp các dịch vụ thiết yếu). Trong trường hợp thiết quân luật ở mức độ cao nhất, sĩ quan quân đội cấp cao nhất sẽ tiếp quản hoặc nhậm chức, hoặc ở vai trò như thống đốc quân đội hoặc ở vai trò là người đứng đầu chính phủ, theo đó tước hết mọi quyền lực từ nhà điều hành, lập pháp và tư pháp của chính phủ trước đó.

    Thiết quân luật có thể được chính quyền sử dụng để áp đặt người dân thực thi theo luật lệ của họ. Tình huống như vậy có thể xảy ra sau một cuộc đảo chính (như đảo chính tại Thái Lan năm 2006); hoặc xảy ra khi bị đe dọa bởi cuộc biểu tình của nhân dân (như cuộc biểu tình Thiên An Môn năm 1989 tại Trung Quốc); hoặc để đàn áp phe đối lập chính trị (như tại Ba Lan vào năm 1981); hoặc để ổn định những cuộc nổi dậy (như cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1970 tại Canada). Tuyên bố thiết quân luật cũng có thể được đưa ra trong trường hợp thiên tai lớn. Tuy nhiên, hầu hết các nước sử dụng một hình thức pháp lý khác gọi là “Tình trạng Khẩn cấp“.

    Thiết quân luật cũng đã được áp đặt trong khi diễn ra các cuộc xung đột, chiến tranh và tại các khu vực bị chiếm đóng, nơi việc không có chính quyền dân sự là tiền đề cho tình trạng người dân bất ổn định. Điển hình của hình thức cai trị quân sự này là ở khoảng thời gian tái thiết sau Thế chiến thứ II tại Đức và Nhật Bản, cũng như việc tái thiết miền Nam sau cuộc Nội chiến Hoa Kỳ.

    Thông thường, việc áp dụng thiết quân luật đi kèm với lệnh giới nghiêm, đình chỉ pháp luật dân sự, giảm các quyền dân sự thông thường của công dân, giới hạn độ dài thời gian quá trình xét xử (còn gọi là quyền bảo hộ nhân thân) và quy định nhiều hình phạt nghiêm khắc hơn luật bình thường, đồng thời áp dụng luật quân sự mở rộng hoặc tư pháp quân sự đối với dân thường. Công dân bất tuân thiết quân luật có thể bị đưa ra tòa án quân sự. Tại nhiều quốc gia, thiết quân luật quy định hình phạt tử hình đối với một số tội phạm nhất định, dù cho luật bình thường không quy định tội phạm hay hình phạt đó trong hệ thống của pháp luật.

    Phân biệt giữa Thiết quân luật và Tình trạng khẩn cấp

    – Trong trường hợp Thiết quân luật quân đội điều hành chính quyền, trong khi trong tình trạng khẩn cấp chính quyền dân sự vẫn nắm quyền. Trình trạng khẩn cấp thường có những giới hạn được ghi trong hiến pháp, hoặc có những quy định những quyền công dân nào có thể được đình chỉ và khi nào tài sản có thể bị tịch thu. Thiết quân luật cho phép quân đội trên căn bản làm những gì họ muốn và đình chỉ hầu hết các luật dân sự và cả hiến pháp.

    – Tình trạng khẩn cấp thường được ban hành trong những thiên tai lớn như bão lụt, mặc dù dân chúng ổn định. Thiết quân luật, ngược lại, thường được tuyên bố khi một người trung bình có thể vi phạm luật vì thiếu một chính phủ dân sự làm chủ tình hình.

    – Thường thì Thiết quân luật được ban hành không giới hạn thời gian và được hủy bỏ rất chậm, những người có rất ít quyền lực chính trị, bất thình lình lên điều hành cả một vùng hay cả một nước. Tình trạng khẩn cấp thường có tính cách địa phương, và những người điều hành là những người đang nắm quyền như thống đốc hay lực lượng cảnh sát địa phương. Thêm nữa, Tình trạng khẩn cấp thường được hoạch định để chấm dứt nhanh chóng, trở về tình trạng nguyên thủy trước thảm họa.

    Theo quốc gia

    Ai Cập

    Tại Ai Cập, Tình trạng Khẩn cấp đã có hiệu lực gần như liên tục từ năm 1967. Sau vụ ám sát Tổng thống Anwar el-Sadat vào năm 1981, Tình trạng Khẩn cấp đã được tuyên bố suốt đến nay. Kể từ khi được áp dụng, Quốc hội Ai Cập mỗi ba năm lại gia hạn thiết quân luật. Năm 2003, tình trạng này gia hạn kéo dài đến năm 2006. Nhiều kế hoạch cũng được đặt ra để thay thế Tình trạng Khẩn cấp bằng các bộ luật chống khủng bố mới. Nhưng sau các vụ đánh bom Dahab vào tháng 4 năm đó, Tình trạng Khẩn cấp lại được gia hạn thêm hai năm nữa. Năm 2008, tình trạng này được cho phép kéo dài đến năm 2010. Năm 2010, Tình trạng Khẩn cấp lại tiếp tục được gia hạn, mặc dù theo lời hứa từ chính phủ là nó chỉ được áp dụng duy nhất đối với các nghi phạm ‘khủng bố và ma túy’.

    Thiết quân luật tại Ai Cập: một chốt chặn ra vào bằng xe tăng của quân đội trong cuộc Cách mạng Ai Cập 2011.

    Dưới chế độ thiết quân luật, nguồn gốc của quyền lực không phải là ở người dân, không phải là ở quốc hội hay hiến pháp, mà nằm trong tay hội đồng tối cao của quân đội. Quân đội đã tuyên bố trong thông cáo thứ ba rằng sẽ “kết thúc Tình trạng Khẩn cấp ngay sau khi trật tự được khôi phục ở Ai Cập”. Trước khi áp đặt thiết quân luật, dựa trên hiến pháp, Quốc hội Ai Cập có thẩm quyền dân sự để tuyên bố Tình trạng Khẩn cấp. Khi thiết quân luật được tuyên bố, quân đội được nắm mọi quyền hạn của nhà nước, bao gồm cả giải tán quốc hội và đình chỉ hiến pháp như quân đội đã làm trong thông cáo thứ năm. Dưới chế độ thiết quân luật, khuôn khổ pháp lý duy nhất trong lãnh thổ Ai Cập là những thông cáo được đánh số mà quân đội đưa ra. Những thông cáo này có thể lập tức đưa bất kỳ luật dân sự nào trở lại có hiệu lực. Các thông cáo quân sự là hiến pháp và khuôn khổ pháp lý thực quyền hiện hành trên lãnh thổ Ai Cập. Điều này có nghĩa là mọi sự vụ của nhà nước đều bị ràng buộc bởi Công ước Geneva.

    Canada

    Tại Canada, thiết quân luật đã được áp dụng ba lần: trong Thế chiến thứ I, Thế chiến thứ II và trong cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1970. Năm 1988, thiết quân luật (hay Đạo luật Biện pháp Chiến tranh) được thay thế bởi Đạo luật Tình trạng Khẩn cấp.

    Trước năm 1837, thiết quân luật được công bố và áp đặt trên lãnh thổ của tỉnh Quebec trong cuộc xâm lược của quân đội của Quốc hội Lục địa Hoa Kỳ vào Canada từ 1775-1776. Nó cũng đã được áp dụng hai lần trên lãnh thổ của Hạ Canada trong cuộc nổi dậy 1837-1838.

    Đài Loan

    Sau Thế chiến thứ II, Đài Loan trở thành Trung Hoa Dân Quốc, sau đó mở đầu giai đoạn thiết quân luật dài nhất trong lịch sử hiện đại vào thời điểm đó. Nối tiếp những hậu quả của vụ thảm sát 28 tháng 2 năm 1947, thiết quân luật được ban bố vào năm 1948 bất chấp nền dân chủ đã hứa hẹn trong Hiến pháp của Trung Hoa Dân Quốc. Sau khi chính quyền theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc của Trung Hoa Dân Quốc đánh mất quyền kiểm soát lãnh thổ của mình ở Trung Quốc đại lục vào tay Đảng Cộng sản Trung Quốc, rút về Đài Loan vào năm 1949, do nhận thức về nhu cầu cần ngăn chặn cộng sản và Phong trào độc lập Đài Loan, thiết quân luật đã không được dỡ bỏ cho đến 1987.

    Ngày nay, vẫn có hai hệ thống thiết quân luật với độ dài tồn tại vượt qua Đài Loan như tại Syria (kể từ cuộc đảo chính Syria 1963) hoặc ở Bờ Tây (từ Chiến tranh Sáu ngày với Israel năm 1967).

    Iran

    Một trường hợp điển hình của hình thức thiết quân luật toàn diện trong lịch sử cận đại diễn ra tại Iran vào năm 1978. Vào ngày 7 tháng 9, vua Iran là Mohammad Reza Pahlavi bổ nhiệm tham mưu trưởng quân đội làm thống đốc quân sự của thủ đô Tehran. Các sư đoàn quân đội chiếm giữ vị trí tại các trọng điểm trong thành phố. (Thiết quân luật cũng được tuyên bố tại một số thành phố khác). Ngày 8 tháng 9, quân đội nổ súng vào người biểu tình, giết chết từ 300 đến 4000 người (số liệu ước tính theo các nguồn khác nhau). Ngày diễn ra sự kiện đó gọi là Ngày thứ Sáu Đen tối. Không thể kiểm soát tình trạng bất ổn, ngày 6 thágn 11, vua Iran giải tán chính quyền dân sự của Thủ tướng Jafar Sharif-Emami, và bổ nhiệm tướng Gholam Reza Azhari làm thủ tướng. Chính quyền quân sự của Azhari cũng thất bại trong việc mang lại trật tự cho đất nước. Trong nỗ lực cuối cùng khi chuẩn bị rời khỏi đất nước, vua Iran giải thể chính quyền quân sự và bổ nhiệm Shapour Bakhtiar, một người phê phán sự cai trị của ông, thành thủ tướng mới vào ngày 4 tháng 1 năm 1979. Chính quyền Bakhtiar bị lật đổ vào ngày 11 tháng 2, và cùng với nó, lịch sử hơn hai ngàn năm chế độ quân chủ ở Iran đã chấm dứt.

    Israel

    Chính quyền hành chính quân đội có hiệu lực từ 1949-1966 tại một số khu vực có nhiều người Ả Rập của Israel, chủ yếu là ở Negev, Galilee và khu tam giác. Cư dân của các khu vực này là đối tượng của một số biện pháp kiểm soát đưa tới việc áp dụng thiết quân luật. Quân đội Israel thực thi các quy tắc cư trú nghiêm ngặt. Bất kỳ người Ả Rập nào không được đăng ký trong cuộc điều tra dân số tháng 11 năm 1948 đều bị trục xuất. Một người muốn di chuyển xa hơn khoảng cách cho phép từ nơi đăng kí cư trú của người đó cần có sự cho phép của thống đốc quân đội. Lệnh giới nghiêm, giam giữ hành chính và trục xuất diễn ra thường xuyên. Mặc dù chính quyền quân đội có quyền hạn lên toàn khu vực địa lý và quyền lực này không phân biệt dân tộc nào, nhưng những hạn chế rất ít khi được thực thi đối với cư dân Do Thái tại những khu vực này. Trong những năm 1950, thiết quân luật không còn có hiệu lực đối với những công dân Ả Rập sống ở các thành phố chủ yếu là người Do Thái, nhưng vẫn tồn tại hiệu lực ở tất cả địa phương Ả Rập tại Israel cho đến năm 1966.

    Trong cuộc chiến Lebanon năm 2006, Bộ trưởng Quốc phòng Amir Peretz tuyên bố thiết quân luật tại phía bắc Israel. Lực lượng Quốc phòng Israel đã được cấp thẩm quyền ban hành các chỉ thị cho dân thường, đóng cửa văn phòng, trường học, trại và các nhà máy ở các thành phố được xem là có nguy cơ bị đe dọa tấn công, đồng thời áp đặt lệnh giới nghiêm vào các thành phố ở phía bắc.

    Chỉ thị của Bộ Tư lệnh Hậu phương Israel là bắt buộc dưới chế độ thiết quân luật, chứ không phải chỉ đơn thuần là đề nghị.

    Philippines

    Trong Thế chiến thứ II, Tổng thống Philippines Jose P. Laurel của nền Cộng hòa Philippines thứ hai (một nhà nước phục vụ cho đế quốc Nhật Bản) đặt Philippines trong tình trạng thiết quân luật thông qua Công bố số 29, có hiệu lực từ ngày 22 tháng 9 năm 1944. Công bố số 30 được ban hành ngày 23 tháng 9, tuyên bố tình trạng chiến tranh giữa Philippines với Hoa Kỳ và Vương quốc Anh.

    Đất nước được đặt dưới thiết quân luật một lần nữa từ 1972 đến 1981 dưới sự cai trị độc tài của Ferdinand Marcos. Công bố số 1081 (công bố tình trạng thiết quân luật tại Philippines) có hiệu lực vào ngày 21 tháng 9 năm 1972 – tròn 28 năm sau công bố tương tự của Tổng thống Laurel. Lý do chính thức đằng sau việc thiết quân luật được tuyên bố là để ngăn chặn những xung đột dân sự tăng dần và các mối đe dọa về nguy cơ cộng sản chiếm quyền sau một loạt các vụ đánh bom (bao gồm cả sự cố Plaza Miranda) và nỗ lực ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Juan Ponce Enrile, mà sau này công khai tiết lộ là do chính phủ dàn dựng.

    Đài tưởng niệm nạn nhân thiết quân luật tại thủ đô Manila.

    Có lời đồn rằng Tổng thống Gloria Macapagal-Arroyo đã lên kế hoạch áp đặt thiết quân luật để chấm dứt âm mưu đảo chính quân sự, sự bất mãn dâng cao của lòng dân và những lời chỉ trích về tính hợp pháp của ông dựa trên kết quả bầu cử không rõ ràng. Thay vào đó, Tình trạng Khẩn cấp quốc gia được áp đặt vào năm 2006 từ ngày 24 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 để đè bẹp một âm mưu đảo chính và giải quyết những người chống đối.

    Thái Lan

    Tại Thái Lan, nhiều cuộc đảo chính đã diễn ra từ những năm 1930, nhưng nhiều trong số đó đã thất bại. Trong năm 2004, Thủ tướng Chính phủ Thái Lan, Thaksin Shinawatra, tuyên bố tình trạng thiết quân luật ở các tỉnh Pattani, Yala và Narathiwat nhằm đối phó với cuộc nổi dậy đang leo thang ở miền Nam Thái Lan. Ngày 19 tháng 9 năm 2006, quân đội Thái Lan tuyên bố thiết quân luật sau một cuộc đảo chính quân sự không đổ máu ở thủ đô Bangkok, tuyên bố được đưa ra trong khi Thủ tướng Shinawatra đang tham gia cuộc họp với Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York. Tướng Sonthi Boonyaratglin tước quyền kiểm soát của chính phủ và nhanh chóng bàn giao chức Thủ tướng cho cựu tổng tư lệnh lục quân Thái Lan, Surayud, còn Sonthi giữ chức chủ tịch Hội đồng Cải cách Hành chính.

    Tháng 1 năm 2007, tình trạng thiết quân luật được bãi bỏ, nhưng chính quyền vẫn tiếp tục kiểm duyệt báo chí và bị cáo buộc vi phạm nhân quyền. Họ cũng cấm các hoạt động và hội họp chính trị cho tới tháng 5 năm 2007.

    Thổ Nhĩ Kỳ

    Từ khi nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ thành lập vào năm 1923, quân đội tiến hành ba cuộc đảo chính và công bố thiết quân luật. Thiết quân luật từ năm 1978 đến năm 1983 đã được thay thế bằng Tình trạng Khẩn cấp ở một số địa phương giới hạn, kéo dài cho đến tháng 11 năm 2002.

    Triều Tiên

    Tháng 10 năm 1946, Chính phủ Quân đội Hoa Kỳ tại Triều Tiên đã tuyên bố thiết quân luật đối với cuộc nổi dậy mùa thu tại Daegu. Ngày 17 tháng 11 năm 1948, chế độ Tổng thống Lý Thừa Vãn tuyên bố thiết quân luật để dập tắt cuộc khởi nghĩa Jeju. Ngày 19 tháng 4 năm 1960, chính phủ Lý Thừa Vãn tuyên bố thiết quân luật để đàn áp cuộc cách mạng tháng Tư.

    Tháng 3 năm 1993, vài ngày sau khi rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, Triều Tiên tuyên bố thiết quân luật và yêu cầu quân đội sẵn sàng chiến tranh. Từ ngày 29 tháng 1 năm 2013, Triều Tiên lại được đặt dưới thiết quân luật, Kim Jong-un kêu gọi “tất cả mọi đơn vị ở mặt trận và trung ương cần sẵn sàng chiến tranh”.

    Cuộc nổi dậy ở Dushanbe, tháng 2 năm 1990 tại Liên bang Xô Viết. Thiết quân luật được áp dụng trong thành phố.

    Quân đội Nga đóng trên đường phố Warsaw trong thời thiết quân luật năm 1861.

    Thiết quân luật được áp dụng tại Tokyo sau Sự cố 26 tháng 2 năm 1936.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dự Án Ppp Là Gì?
  • Xây Dựng Luật Ppp Chặt Chẽ, Đồng Bộ Với Hệ Thống Pháp Luật
  • Tìm Hiểu Về Phương Thức Đầu Tư Ppp Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Hình Thức Đầu Tư Ppp Là Gì
  • Định Luật Okun Công Thức
  • Ngành Luật Thương Mại Là Gì? Ngành Luật Dân Sự Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Luật Dân Sự 1995 44
  • Bộ Luật Dân Sự Năm 1995, Luật Dân Sự Số 44
  • Phân Loại Hợp Đồng Dân Sự Theo Bộ Luật Dân Sự 2022
  • Mức Bồi Thường Thiệt Hại Năm 2022 Sẽ Thay Đổi Thế Nào?
  • Hợp Đồng Dân Sự? Mẫu Hợp Đồng Dân Sự Năm 2022
  • Sinh viên tốt nghiệp ngành luật thương mại có thể làm cán bộ tư vấn pháp luật, cán bộ kinh doanh trong các cơ quan kinh tế, các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Sở Thương mại, Cục hải quan, Sở kế hoạch – Đầu tư…Hoặc làm chuyên viên ơ các cơ quan cấp huyện như Ủy ban Nhân dân, Phòng Kinh tế, Phòng thuế. Hoặc cũng có thể công tác ở các Toà án kinh tế, Viên Kiểm sát hoặc trở thành luật sư chuyên về lĩnh vực kinh tế thương mại…

    Ngành luật dân sự trang bị cho sinh viên những kiến thức về chuyên ngành luật dân sự như: Hợp đồng Dân sự, Hợp đồng lao động, Thừa kế, thủ tục tố tụng dân sự, luật hôn nhân gia đình, các vấn đề về sở hữu công nghiệp . . .

    Tốt nghiệp, sinh viên có thể làm việc ở các công ty tư vấn pháp luật, Toà dân sự, Viện kiểm sát nhân dân, hoặc trở thành luật sư chuyên về dân sự như trang chấp nợ, đất đai, tranh chấp tài sản, hôn nhân gia đình…; làm ở các Phòng, Sở tư Pháp, cơ quan Công an, các Trung tâm tư vấn hôn nhân gia đình, các đơn vị kinh doanh bất động sản, bộ phận pháp luật ở ngân hàng.

    Ngành luật hành chính là gì?

    Ngành luật hành chính cung cấp cho sinh viên những kiến thức chuyên sâu về lý luận Nhà nước và pháp luật, kiến thức về cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về khoa học quản lý nhà nước và điều hành công sở, về công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo …

    Sinh viên tốt nghiệp có thể làm chuyên viên ở các Ủy ban nhân dân phường xã, các Ủy ban nhân dân quận, huyện hoặc cấp tỉnh, hoặc cơ quan khác như: Hải quan, cơ quan thuế, các cửa khẩu, sân bay. Bạn cũng có thể làm ở các Toà hành chính, Viện kiểm sát nhân dân, trở thành luật sư chuyên về lĩnh vực hành chính hoặc làm việc ở các công ty tư vấn pháp luật

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự Là Gì? Phân Loại Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Thành Phần Của Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự
  • Pháp Luật Dân Sự Là Gì? Vị Trí Công Việc Liên Quan Đến Luật Dân Sự
  • Bộ Luật Dân Sự, Tố Tụng Dân Sự 2022 Tiếng Anh: Code Of Civil Procedure
  • The Civil Code Law No. 91/2015/qh13
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100