Luật Thương Mại Ban Hành Ngày 14/06/2005

--- Bài mới hơn ---

  • Ts. Bùi Quang Xuân Bài Giảng Luật Thương Mại Việt Nam
  • Văn Bản Hợp Nhất Luật Thương Mại Số 03/vbhn
  • Phân Biệt Khái Niệm Kinh Doanh
  • Học Luật Thương Mại Quốc Tế Có Cơ Hội Việc Làm Cao?
  • Bài Tập Tình Huống Luật Thương Mại 1, 2 (Có Đáp Án)
  • Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

    Luật này quy định về hoạt động thương mại.

    NHỮNG QUYĐỊNH CHUNG

    PHẠM VI ĐIỀUCHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    1. Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thoả thuận chọn áp dụng Luậtnày hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là thành viên có quy định áp dụng Luật này.

    3. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giaodịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợiđó chọn áp dụng Luật này.

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

    1. Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 củaLuật này.

    3. Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụthể việc áp dụng Luật này đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độclập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.

    Điều 3. Giải thích từ ngữ

    1. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, baogồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạtđộng nhằm mục đích sinh lợi khác.

    2. Hàng hóa bao gồm:

    a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tươnglai;

    b) Những vật gắn liền với đất đai.

    3. Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nộidung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữacác bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của cácbên trong hợp đồng thương mại.

    4. Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi tronghoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nộidung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bêntrong hoạt động thương mại.

    5. Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận vàlưu giữ bằng phương tiện điện tử.

    6. Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nướcngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một sốhoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép.

    7. Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụthuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập và hoạt động thương mại tạiViệt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    8. Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán cónghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanhtoán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữuhàng hoá theo thỏa thuận.

    9. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sauđây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khácvà nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụthanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.

    11. Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thươngnhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân đượcxác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷthác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại.

    12. Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiệnkhông đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bênhoặc theo quy định của Luật này.

    13. Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệthại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giaokết hợp đồng.

    14. Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ratoàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối vớihàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quátrình sản xuất hàng hoá đó.

    15. Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo,telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của phápluật.

    2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thìáp dụng quy định của luật đó.

    3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật Thương mạivà trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.

    Điều 5. Áp dụng điều ước quốc tế, phápluật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế

    1. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mạiquốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy địnhcủa điều ước quốc tế đó.

    2. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài đượcthoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu phápluật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắccơ bản của pháp luật Việt Nam.

    Điều 6. Thương nhân

    1. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cánhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinhdoanh.

    2. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề,tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật khôngcấm.

    3. Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhànước bảo hộ.

    Điều 7. Nghĩa vụ đăng ký kinh doanh củathương nhân

    Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của phápluật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệmvề mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của phápluật.

    Điều 8. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạtđộng thương mại

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động thương mại.

    2. Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việcquản lý nhà nước về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại cụthể được quy định tại Luật này.

    3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mìnhcó trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về các hoạt động thương mạitrong lĩnh vực được phân công.

    4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về cáchoạt động thương mại tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.

    Điều 9. Hiệp hội thương mại

    1. Hiệp hội thương mại được thành lập để bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của thương nhân, động viên thương nhân tham gia phát triển thương mại,tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về thương mại.

    2. Hiệp hội thương mại được tổ chức và hoạt động theo quy định củapháp luật về hội.

    NHỮNG NGUYÊNTẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

    Điều 10. Nguyên tắc bình đẳng trước phápluật của thương nhân trong hoạt động thương mại

    Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luậttrong hoạt động thương mại.

    Điều 11. Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoảthuận trong hoạt động thương mại

    1. Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy địnhcủa pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền vànghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo hộcác quyền đó.

    2. Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, khôngbên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.

    Điều 12. Nguyên tắc áp dụng thói quentrong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiênáp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đómà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của phápluật.

    Điều 13. Nguyên tắc áp dụng tập quántrong hoạt động thương mại

    Trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thoảthuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quánthương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật nàyvà trong Bộ luật Dân sự.

    Điều 14. Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chínhđáng của người tiêu dùng

    1. Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thôngtin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinhdoanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó.

    2. Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu tráchnhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh.

    Điều 15. Nguyên tắc thừa nhận giá trịpháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại

    Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng cácđiều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhậncó giá trị pháp lý tương đương văn bản.

    THƯƠNG NHÂNNƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

    Điều 16. Thương nhân nước ngoài hoạt độngthương mại tại Việt Nam

    1. Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng kýkinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nướcngoài công nhận.

    2. Thương nhân nước ngoài được đặt Văn phòng đại diện, Chi nhánhtại Việt Nam; thành lập tạiViệt Nam doanh nghiệp có vốnđầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam quy định.

    3. Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tạiViệt Nam có các quyền vànghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thương nhân nước ngoài phảichịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Namvề toàn bộ hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của mình tại Việt Nam.

    4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thương nhân nướcngoài thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ướcquốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì được coi làthương nhân Việt Nam.

    Điều 17. Quyền của Văn phòng đại diện

    1. Hoạt động đúng mục đích, phạm vi và thời hạn được quy địnhtrong giấy phép thành lập Văn phòng đại diện.

    2. Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết chohoạt động của Văn phòng đại diện.

    3. Tuyển dụng lao động là người Việt Nam,người nước ngoài để làm việc tại Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luậtViệt Nam.

    4. Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạtđộng tại Việt Namvà chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của Văn phòng đại diện.

    5. Có con dấu mang tên Văn phòng đại diện theo quy định của phápluật Việt Nam.

    6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 18. Nghĩa vụ của Văn phòng đại diện

    1. Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam.

    2. Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạmvi mà Luật này cho phép.

    3. Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giaokết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng Văn phòng đại diện cógiấy uỷ quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc các trường hợp quy địnhtại các khoản 2, 3 và 4 Điều 17 của Luật này.

    4. Nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính kháctheo quy định của pháp luật Việt Nam.

    5. Báo cáo hoạt động của Văn phòng đại diện theo quy định của phápluật Việt Nam.

    6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 19. Quyền của Chi nhánh

    1. Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết chohoạt động của Chi nhánh.

    2. Tuyển dụng lao động là người Việt Nam,người nước ngoài để làm việc tại Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    3. Giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt độngđược quy định trong giấy phép thành lập Chi nhánh và theo quy định của Luậtnày.

    4. Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam,bằng ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam.

    5. Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo quy định của pháp luật ViệtNam.

    6. Có con dấu mang tên Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    7. Thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt độngthương mại khác phù hợp với giấy phép thành lập theo quy định của pháp luậtViệt Nam và điều ước quốc tếmà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    8. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 20. Nghĩa vụ của Chi nhánh

    1. Thực hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật Việt Nam; trường hợp cần áp dụng chế độ kế toán thôngdụng khác thì phải được Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namchấp thuận.

    2. Báo cáo hoạt động của Chi nhánh theo quy định của pháp luậtViệt Nam.

    3. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

    Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đượcxác định theo quy định của pháp luật Việt Namhoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Điều 22. Thẩm quyền cho phép thương nhânnước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam

    1. Chính phủ thống nhất quản lý việc cho phép thương nhân nướcngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam.

    2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lýviệc cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    4. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể về thẩmquyền của bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việccấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam thì thựchiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó.

    Điều 23. Chấm dứt hoạt động tại Việt Nam của thươngnhân nước ngoài

    1. Thương nhân nước ngoài chấm dứt hoạt động tại Việt Nam trong cáctrường hợp sau đây:

    a) Hết thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép;

    b) Theo đề nghị của thương nhân và được cơ quan quản lý nhà nướccó thẩm quyền chấp nhận;

    c) Theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền dovi phạm pháp luật và quy định của giấy phép;

    d) Do thương nhân bị tuyên bố phá sản;

    đ) Khi thương nhân nước ngoài chấm dứt hoạt động theo quy định củapháp luật nước ngoài đối với hình thức Văn phòng đại diện, Chi nhánh và thamgia hợp đồng hợp tác kinh doanh với bên Việt Nam;

    e) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    MUA BÁN HÀNGHÓA

    CÁC QUY ĐỊNHCHUNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA

    Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hànghoá

    1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng vănbản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

    2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quyđịnh phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

    Điều 25. Hàng hoá cấm kinh doanh, hànghoá hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh có điều kiện

    2. Đối với hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh cóđiều kiện, việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hoá và các bên mua bán hànghóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

    Điều 26. Áp dụng biện pháp khẩn cấp đốivới hàng hóa lưu thông trong nước

    1. Hàng hóa đang được lưu thông hợp pháp trong nước bị áp dụng mộthoặc các biện pháp buộc phải thu hồi, cấm lưu thông, tạm ngừng lưu thông, lưuthông có điều kiện hoặc phải có giấy phép đối với một trong các trường hợp sauđây:

    a) Hàng hóa đó là nguồn gốc hoặc phương tiện lây truyền các loạidịch bệnh;

    b) Khi xảy ra tình trạng khẩn cấp.

    2. Các điều kiện cụ thể, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công bố việcáp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng hóa lưu thông trong nước được thực hiệntheo quy định của pháp luật.

    Điều 27. Mua bán hàng hoá quốc tế

    1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuấtkhẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

    2. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợpđồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 28. Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

    1. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổViệt Nam hoặc đưa vào khuvực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quanriêng theo quy định của pháp luật.

    2. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằmtrên lãnh thổ Việt Namđược coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

    Điều 29. Tạm nhập, tái xuất, tạm xuất,tái nhập hàng hoá

    1. Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nướcngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khuvực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tụcnhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam.

    2. Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nướcngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi làkhu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu rakhỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam.

    3. Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động tạm nhập, tái xuất,tạm xuất, tái nhập hàng hóa.

    Điều 30. Chuyển khẩu hàng hoá

    1. Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnhthổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

    2. Chuyển khẩu hàng hóa được thực hiện theo các hình thức sau đây:

    a) Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhậpkhẩu không qua cửa khẩu Việt Nam;

    b) Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩucó qua cửa khẩu Việt Namnhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Namvà không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam;

    c) Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩucó qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hànghoá tại các cảng Việt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và khônglàm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

    3. Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động chuyển khẩu hàng hóa.

    Điều 31. Áp dụng các biện pháp khẩn cấpđối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

    Trong trường hợp cần thiết, để bảo vệ an ninh quốc gia và các lợiích quốc gia khác phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Thủ tướng Chính phủ quyết định ápdụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.

    Điều 32. Nhãn hàng hóa lưu thông trongnước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

    1. Nhãn hàng hoá là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ,hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá,bao bì thương phẩm của hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác được gắn lên hànghoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá.

    2. Hàng hóa lưu thông trong nước, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩuphải có nhãn hàng hóa, trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật.

    3. Các nội dung cần ghi trên nhãn hàng hóa và việc ghi nhãn hànghóa được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    Điều 33. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoávà quy tắc xuất xứ hàng hóa

    1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy chứng nhận xuất xứtrong các trường hợp sau đây:

    a) Hàng hóa được hưởng ưu đãi về thuế hoặc ưu đãi khác;

    b) Theo quy định của pháp luật Việt Namhoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thànhviên.

    2. Chính phủ quy định chi tiết về quy tắc xuất xứ hàng hoá xuấtkhẩu, nhập khẩu.

    QUYỀN VÀNGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

    1. Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồngvề số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định kháctrong hợp đồng.

    Điều 35. Địa điểm giao hàng

    1. Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận.

    2. Trường hợp không có thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địađiểm giao hàng được xác định như sau:

    a) Trường hợp hàng hoá là vật gắn liền với đất đai thì bên bánphải giao hàng tại nơi có hàng hoá đó;

    b) Trường hợp trong hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hoáthì bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên;

    c) Trường hợp trong hợp đồng không có quy định về vận chuyển hànghoá, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứahàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hoá thì bên bán phảigiao hàng tại địa điểm đó;

    d) Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểmkinh doanh của bên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tạinơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán.

    1. Trường hợp hàng hóa được giao cho người vận chuyển nhưng khôngđược xác định rõ bằng ký mã hiệu trên hàng hóa, chứng từ vận chuyển hoặc cáchthức khác thì bên bán phải thông báo cho bên mua về việc đã giao hàng cho ngườivận chuyển và phải xác định rõ tên và cách thức nhận biết hàng hoá được vậnchuyển.

    2. Trường hợp bên bán có nghĩa vụ thu xếp việc chuyên chở hàng hoáthì bên bán phải ký kết các hợp đồng cần thiết để việc chuyên chở được thựchiện tới đích bằng các phương tiện chuyên chở thích hợp với hoàn cảnh cụ thể vàtheo các điều kiện thông thường đối với phương thức chuyên chở đó.

    Điều 37. Thời hạn giao hàng

    1. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoảthuận trong hợp đồng.

    2. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xácđịnh thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thờiđiểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.

    3. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bênbán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

    Điều 38. Giao hàng trước thời hạn đã thỏathuận

    Trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bênmua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên không có thoả thuận khác.

    Điều 39. Hàng hoá không phù hợp với hợpđồng

    1. Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hoá đượccoi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong các trườnghợp sau đây:

    a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hànghoá cùng chủng loại;

    b) Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã chobên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;

    c) Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bênbán đã giao cho bên mua;

    d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đốivới loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoátrong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.

    2. Bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá không phù hợp vớihợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 40. Trách nhiệm đối với hàng hoákhông phù hợp với hợp đồng

    Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm đối vớihàng hóa không phù hợp với hợp đồng được quy định như sau:

    1. Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào củahàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết vềnhững khiếm khuyết đó;

    2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạnkhiếu nại theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳkhiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua,kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro;

    3. Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phátsinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợpđồng.

    Điều 41. Khắc phục trong trường hợp giaothiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng

    1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu hợp đồng chỉ quy địnhthời hạn giao hàng và không xác định thời điểm giao hàng cụ thể mà bên bán giaohàng trước khi hết thời hạn giao hàng và giao thiếu hàng hoặc giao hàng khôngphù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc thaythế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hànghoá trong thời hạn còn lại.

    2. Khi bên bán thực hiện việc khắc phục quy định tại khoản 1 Điềunày mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bênmua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.

    4. Khi bên bán thực hiện việc khắc phục những thiếu sót quy địnhtại khoản 3 Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý chobên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chiphí đó.

    Điều 43. Giao thừa hàng

    1. Trường hợp bên bán giao thừa hàng thì bên mua có quyền từ chốihoặc chấp nhận số hàng thừa đó.

    2. Trường hợp bên mua chấp nhận số hàng thừa thì phải thanh toántheo giá thoả thuận trong hợp đồng nếu các bên không có thoả thuận khác.

    Điều 44. Kiểm tra hàng hoá trước khi giaohàng

    1. Trường hợp các bên có thoả thuận để bên mua hoặc đại diện củabên mua tiến hành kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng thì bên bán phải bảođảm cho bên mua hoặc đại diện của bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra.

    2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên mua hoặc đại diện củabên mua trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải kiểm tra hàng hóatrong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép; trường hợp hợpđồng có quy định về việc vận chuyển hàng hóa thì việc kiểm tra hàng hoá có thểđược hoãn lại cho tới khi hàng hoá được chuyển tới địa điểm đến.

    3. Trường hợp bên mua hoặc đại diện của bên mua không thực hiệnviệc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyềngiao hàng theo hợp đồng.

    4. Bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết củahàng hoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã biết hoặc phải biết nhưngkhông thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp lý sau khi kiểm tra hàng hoá.

    5. Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hànghoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết củahàng hoá không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thôngthường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng khôngthông báo cho bên mua.

    Điều 45. Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữuđối với hàng hoá

    Bên bán phải bảo đảm:

    1. Quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranhchấp bởi bên thứ ba;

    2. Hàng hóa đó phải hợp pháp;

    3. Việc chuyển giao hàng hoá là hợp pháp.

    Điều 46. Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữutrí tuệ đối với hàng hoá

    Điều 47. Yêu cầu thông báo

    1. Bên bán mất quyền viện dẫn quy định tại khoản 2 Điều 46 củaLuật này nếu bên bán không thông báo ngay cho bên mua về khiếu nại của bên thứba đối với hàng hoá được giao sau khi bên bán đã biết hoặc phải biết về khiếunại đó, trừ trường hợp bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứba.

    2. Bên mua mất quyền viện dẫn quy định tại Điều 45 và khoản 1 Điều46 của Luật này nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại củabên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết vềkhiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết hoặc phải biết về khiếu nại của bênthứ ba.

    Điều 48. Nghĩa vụ của bên bán trongtrường hợp hàng hóa là đối tượng của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dânsự

    Trường hợp hàng hoá được bán là đối tượng của biện pháp bảo đảmthực hiện nghĩa vụ dân sự thì bên bán phải thông báo cho bên mua về biện phápbảo đảm và phải được sự đồng ý của bên nhận bảo đảm về việc bán hàng hóa đó.

    Điều 49. Nghĩa vụ bảo hành hàng hoá

    1. Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịutrách nhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận.

    2. Bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắnnhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép.

    3. Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợpcó thoả thuận khác.

    Điều 50. Thanh toán

    1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theothỏa thuận.

    2. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiệnviệc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của phápluật.

    3. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hànghoá mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua,trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.

    Điều 51. Việc ngừng thanh toán tiền muahàng

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc ngừng thanh toán tiền muahàng được quy định như sau:

    1. Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạmngừng việc thanh toán;

    2. Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bịtranh chấp thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đãđược giải quyết;

    3. Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phùhợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắcphục sự không phù hợp đó;

    4. Trường hợp tạm ngừng thanh toán theo quy định tại khoản 2 vàkhoản 3 Điều này mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hạicho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu các chế tài kháctheo quy định của Luật này.

    Điều 52. Xác định giá

    Trường hợp không có thoả thuận về giá hàng hoá, không có thoảthuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác vềgiá thì giá của hàng hoá được xác định theo giá của loại hàng hoá đó trong cácđiều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thịtrường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đếngiá.

    Điều 53. Xác định giá theo trọng lượng

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu giá được xác định theotrọng lượng của hàng hoá thì trọng lượng đó là trọng lượng tịnh.

    Điều 54. Địa điểm thanh toán

    Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm thanh toán cụ thể thìbên mua phải thanh toán cho bên bán tại một trong các địa điểm sau đây:

    1. Địa điểm kinh doanh của bên bán được xác định vào thời điểmgiao kết hợp đồng, nếu không có địa điểm kinh doanh thì tại nơi cư trú của bênbán;

    2. Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toán đượctiến hành đồng thời với việc giao hàng hoặc giao chứng từ.

    Điều 55. Thời hạn thanh toán

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn thanh toán được quyđịnh như sau:

    2. Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi có thể kiểmtra xong hàng hoá trong trường hợp có thỏa thuận theo quy định tại Điều 44 củaLuật này.

    Điều 56. Nhận hàng

    Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thoả thuận và thực hiện nhữngcông việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng.

    Điều 57. Chuyển rủi ro trong trường hợpcó địa điểm giao hàng xác định

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giaohàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏnghàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặcngười được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trườnghợp bên bán được uỷ quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối vớihàng hoá.

    Điều 58. Chuyển rủi ro trong trường hợpkhông có địa điểm giao hàng xác định

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định vềviệc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địađiểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bênmua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.

    Điều 59. Chuyển rủi ro trong trường hợpgiao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được ngườinhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mấtmát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua thuộc một trong các trườnghợp sau đây:

    1. Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá;

    2. Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoácủa bên mua.

    Điều 60. Chuyển rủi ro trong trường hợpmua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng làhàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoáđược chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.

    Điều 61. Chuyển rủi ro trong các trườnghợp khác

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc chuyển rủi ro trong cáctrường hợp khác được quy định như sau:

    1. Trong trường hợp không được quy định tại các điều 57, 58, 59 và60 của Luật này thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bênmua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua viphạm hợp đồng do không nhận hàng;

    2. Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển chobên mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vậntải, không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cáchthức nào khác.

    Điều 62. Thời điểm chuyển quyền sở hữuhàng hoá

    Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏathuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểmhàng hóa được chuyển giao.

    MUA BÁN HÀNGHÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA

    Điều 63. Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịchhàng hóa

    1. Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thươngmại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định củamột loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hoá theo những tiêu chuẩn củaSở giao dịch hàng hoá với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồngvà thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai.

    2. Chính phủ quy định chitiết về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

    Điều 64. Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sởgiao dịch hàng hoá

    1. Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hoá bao gồm hợpđồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn.

    2. Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao vàbên mua cam kết nhận hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng.

    3. Hợp đồng về quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận,theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định vớimức giá định trước (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền nhất địnhđể mua quyền này (gọi là tiền mua quyền). Bên mua quyền có quyền chọn thực hiệnhoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó.

    Điều 65. Quyền và nghĩa vụ của các bêntrong hợp đồng kỳ hạn

    1. Trường hợp người bán thực hiện việc giao hàng theo hợp đồng thìbên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán.

    2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên mua có thể thanhtoán bằng tiền và không nhận hàng thì bên mua phải thanh toán cho bên bán mộtkhoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thịtrường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện.

    3. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bán có thể thanhtoán bằng tiền và không giao hàng thì bên bán phải thanh toán cho bên mua mộtkhoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá côngbố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giá thoả thuận trong hợp đồng.

    Điều 66. Quyền và nghĩa vụ của các bêntrong hợp đồng quyền chọn

    1. Bên mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán phải trả tiền muaquyền chọn để được trở thành bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán. Sốtiền phải trả cho việc mua quyền chọn do các bên thoả thuận.

    2. Bên giữ quyền chọn muacó quyền mua nhưng không có nghĩa vụ phải mua hàng hoá đã giao kết trong hợpđồng. Trường hợp bên giữ quyền chọn mua quyết định thực hiện hợp đồng thì bênbán có nghĩa vụ phải bán hàng hoá cho bên giữ quyền chọn mua. Trường hợp bênbán không có hàng hoá để giao thì phải thanh toán cho bên giữ quyền chọn muamột khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giáthị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thựchiện.

    3. Bên giữ quyền chọn bán có quyền bán nhưng không có nghĩa vụphải bán hàng hoá đã giao kết trong hợp đồng. Trường hợp bên giữ quyền chọn bánquyết định thực hiện hợp đồng thì bên mua có nghĩa vụ phải mua hàng hoá của bêngiữ quyền chọn bán. Trường hợp bên mua không mua hàng thì phải thanh toán chobên giữ quyền chọn bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trườngdo Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giáthoả thuận trong hợp đồng.

    4. Trường hợp bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán quyếtđịnh không thực hiện hợp đồng trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồngđương nhiên hết hiệu lực.

    Điều 67. Sở giao dịch hàng hoá

    1. Sở giao dịch hàng hoá có các chức năng sau đây:

    a) Cung cấp các điều kiện vật chất – kỹ thuật cần thiết để giaodịch mua bán hàng hoá;

    b) Điều hành các hoạt động giao dịch;

    c) Niêm yết các mức giá cụ thể hình thành trên thị trường giaodịch tại từng thời điểm.

    2. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện thành lập Sở giao dịchhàng hóa, quyền hạn, trách nhiệm của Sở giao dịch hàng hóa và việc phê chuẩnĐiều lệ hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa.

    Điều 68. Hàng hoá giao dịch tại Sở giaodịch hàng hóa

    Điều 69. Thương nhân môi giới mua bánhàng hoá qua Sở Giao dịch hàng hoá

    1. Thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoáchỉ được phép hoạt động tại Sở Giao dịch hàng hoá khi đáp ứng đủ các điều kiệntheo quy định của pháp luật. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện hoạt độngcủa thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá.

    2. Thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoáchỉ được phép thực hiện các hoạt động môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giaodịch hàng hoá và không được phép là một bên của hợp đồng mua bán hàng hoá quaSở giao dịch hàng hoá.

    3. Thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoácó nghĩa vụ đóng tiền ký quỹ tại Sở giao dịch hàng hoá để bảo đảm thực hiện cácnghĩa vụ phát sinh trong quá trình hoạt động môi giới mua bán hàng hoá. Mứctiền ký quỹ do Sở giao dịch hàng hoá quy định.

    Điều 70. Các hành vi bị cấm đối vớithương nhân môi giới hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá

    1. Lôi kéo khách hàng ký kết hợp đồng bằng cách hứa bồi thườngtoàn bộ hoặc một phần thiệt hại phát sinh hoặc bảo đảm lợi nhuận cho kháchhàng.

    2. Chào hàng hoặc môi giới mà không có hợp đồng với khách hàng.

    3. Sử dụng giá giả tạo hoặc các biện pháp gian lận khác khi môigiới cho khách hàng.

    4. Từ chối hoặc tiến hành chậm trễ một cách bất hợp lý việc môigiới hợp đồng theo các nội dung đã thoả thuận với khách hàng.

    5. Các hành vi bị cấm khác quy định tại khoản 2 Điều 71 của Luật này.

    Điều 71. Các hành vi bị cấm trong hoạtđộng mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hóa

    1. Nhân viên của Sở giao dịch hàng hoá không được phép môi giới,mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá.

    a) Gian lận, lừa dối về khối lượng hàng hóa trong các hợp đồng kỳhạn hoặc hợp đồng quyền chọn được giao dịch hoặc có thể được giao dịch và gianlận, lừa dối về giá thực tế của loại hàng hoá trong các hợp đồng kỳ hạn hoặchợp đồng quyền chọn;

    b) Đưa tin sai lệch về các giao dịch, thị trường hoặc giá hàng hoámua bán qua Sở giao dịch hàng hóa;

    c) Dùng các biện pháp bất hợp pháp để gây rối loạn thị trường hànghóa tại Sở giao dịch hàng hoá;

    d) Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 72. Thực hiện biện pháp quản lýtrong trường hợp khẩn cấp

    1. Trường hợp khẩn cấp là trường hợp xảy ra hiện tượng rối loạnthị trường hàng hoá làm cho giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa không phản ánhđược chính xác quan hệ cung cầu.

    2. Trong trường hợp khẩn cấp, Bộ trưởng Bộ Thương mại có quyềnthực hiện các biện pháp sau đây:

    a) Tạm ngừng việc giao dịch qua Sở giao dịch hàng hoá;

    b) Hạn chế các giao dịch ở một khung giá hoặc một số lượng hànghóa nhất định;

    c) Thay đổi lịch giao dịch;

    d) Thay đổi Điều lệ hoạt động của Sở giao dịch hàng hoá;

    đ) Các biện pháp cần thiết khác theo quy định của Chính phủ.

    Điều 73. Quyền hoạt động mua bán hàng hóaqua Sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài

    Thương nhân Việt Namđược quyền hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoàitheo quy định của Chính phủ.

    CUNG ỨNGDỊCH VỤ

    CÁC QUY ĐỊNHCHUNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ

    Điều 74. Hình thức hợp đồng dịch vụ

    1. Hợp đồng dịch vụ được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặcđược xác lập bằng hành vi cụ thể.

    2. Đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phảiđược lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

    Điều 75. Quyền cung ứng và sử dụng dịchvụ của thương nhân

    1. Trừ trường hợp pháp luật hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Namlà thành viên có quy định khác, thương nhân có các quyền cung ứng dịch vụ sauđây:

    a) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam;

    b) Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam;

    c) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụngtrên lãnh thổ nước ngoài;

    d) Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụngtrên lãnh thổ nước ngoài.

    2. Trừ trường hợp pháp luật hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xãhội chủ nghĩa Việt Namlà thành viên có quy định khác, thương nhân có các quyền sử dụng dịch vụ sauđây:

    a) Sử dụng dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam;

    b) Sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam;

    c) Sử dụng dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứngtrên lãnh thổ nước ngoài;

    d) Sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứngtrên lãnh thổ nước ngoài.

    3. Chính phủ quy định cụ thể đối tượng người cư trú, người khôngcư trú để thực hiện các chính sách thuế, quản lý xuất khẩu, nhập khẩu đối vớicác loại hình dịch vụ.

    Điều 76. Dịch vụ cấm kinh doanh, dịch vụhạn chế kinh doanh và dịch vụ kinh doanh có điều kiện

    2. Đối với dịch vụ hạn chế kinh doanh, dịch vụ kinh doanh có điềukiện, việc cung ứng dịch vụ chỉ được thực hiện khi dịch vụ và các bên tham giahoạt động cung ứng dịch vụ đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của phápluật.

    Điều 77. Áp dụng các biện pháp khẩn cấpđối với hoạt động cung ứng hoặc sử dụng dịch vụ

    Trong trường hợp cần thiết, để bảo vệ an ninh quốc gia và các lợiích quốc gia khác phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Thủ tướng Chính phủ quyết định ápdụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động cung ứng hoặc sử dụng dịch vụ,bao gồm việc tạm thời cấm cung ứng hoặc sử dụng đối với một hoặc một số loạidịch vụ hoặc các biện pháp khẩn cấp khác đối với một hoặc một số thị trường cụthể trong một thời gian nhất định.

    QUYỀN VÀNGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

    Điều 78. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịchvụ

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên cung ứng dịch vụ có cácnghĩa vụ sau đây:

    2. Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiệnđược giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc;

    3. Thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tàiliệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành việc cung ứng dịchvụ;

    4. Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cungứng dịch vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

    Điều 79. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịchvụ theo kết quả công việc

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu tính chất của loại dịch vụđược cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất địnhthì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phùhợp với các điều khoản và mục đích của hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồngkhông có quy định cụ thể về tiêu chuẩn kết quả cần đạt được, bên cung ứng dịchvụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với tiêu chuẩnthông thường của loại dịch vụ đó.

    Điều 80. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịchvụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu tính chất của loại dịch vụđược cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kếtquả mong muốn thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ cung ứng dịch vụđó với nỗ lực và khả năng cao nhất.

    Điều 81. Hợp tác giữa các bên cung ứngdịch vụ

    Trường hợp theo thỏa thuận hoặc dựa vào tình hình cụ thể, một dịchvụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứngdịch vụ khác thì mỗi bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

    2. Tiến hành bất kỳ hoạt động hợp tác cần thiết nào với các bêncung ứng dịch vụ khác.

    Điều 82. Thời hạn hoàn thành dịch vụ

    1. Bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành dịch vụ đúng thời hạn đãthoả thuận trong hợp đồng.

    3. Trường hợp một dịch vụ chỉ có thể được hoàn thành khi kháchhàng hoặc bên cung ứng dịch vụ khác đáp ứng các điều kiện nhất định thì bêncung ứng dịch vụ đó không có nghĩa vụ hoàn thành dịch vụ của mình cho đến khicác điều kiện đó được đáp ứng.

    2. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng phải chịu nhữngchi phí hợp lý cho việc thực hiện những yêu cầu thay đổi của mình.

    Điều 84. Tiếp tục cung ứng dịch vụ saukhi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ

    Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụvẫn chưa hoàn thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụphải tiếp tục cung ứng theo nội dung đã thoả thuận và phải bồi thường thiệthại, nếu có.

    Điều 85. Nghĩa vụ của khách hàng

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng có các nghĩa vụ sauđây:

    1. Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợpđồng;

    2. Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khácđể việc cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn;

    3. Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cungứng có thể cung ứng dịch vụ một cách thích hợp;

    4. Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiếnhành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điềuphối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việccủa bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào.

    Điều 86. Giá dịch vụ

    Trường hợp không có thoả thuận về giá dịch vụ, không có thoả thuậnvề phương pháp xác định giá dịch vụ và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác vềgiá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trongcác điều kiện tương tự về phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trườngđịa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịchvụ.

    Điều 87. Thời hạn thanh toán

    Trường hợp không có thỏa thuận và giữa các bên không có bất kỳthói quen nào về việc thanh toán thì thời hạn thanh toán là thời điểm việc cungứng dịch vụ được hoàn thành.

    XÚC TIẾNTHƯƠNG MẠI

    Điều 88. Khuyến mại

    1. Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhânnhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho kháchhàng những lợi ích nhất định.

    2. Thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân thuộc một trongcác trường hợp sau đây:

    a) Thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinhdoanh;

    b) Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mạicho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó.

    Điều 89. Kinh doanh dịch vụ khuyến mại

    Kinh doanh dịch vụ khuyến mại là hoạt động thương mại, theo đó mộtthương nhân thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân kháctrên cơ sở hợp đồng.

    Điều 90. Hợp đồng dịch vụ khuyến mại

    Hợp đồng dịch vụ khuyến mại phải được lập thành văn bản hoặc bằnghình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 91. Quyền khuyến mại của thương nhân

    1. Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chinhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tự tổ chức khuyến mạihoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mạicho mình.

    2. Văn phòng đại diện của thương nhân không được khuyến mại hoặcthuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đạidiện.

    Điều 92. Các hình thức khuyến mại

    1. Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thửkhông phải trả tiền.

    2. Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền.

    3. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giácung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng kýhoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giáthì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chínhphủ.

    4. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sửdụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.

    5. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàngđể chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

    6. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chươngtrình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc muahàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham giatheo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

    7. Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặngthưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụmà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghinhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác.

    8. Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệthuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.

    9. Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nướcvề thương mại chấp thuận.

    Điều 93. Hàng hóa, dịch vụ được khuyếnmại

    1. Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ đượcthương nhân sử dụng các hình thức khuyến mại để xúc tiến việc bán, cung ứnghàng hóa, dịch vụ đó.

    2. Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại phải là hàng hóa, dịch vụđược kinh doanh hợp pháp.

    Điều 94. Hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyếnmại, mức giảm giá khuyến mại

    1. Hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hoá, dịch vụ đượcthương nhân dùng để tặng, thưởng, cung ứng không thu tiền cho khách hàng.

    2. Hàng hoá, dịch vụ được thương nhân dùng để khuyến mại có thể làhàng hoá, dịch vụ mà thương nhân đó đang kinh doanh hoặc hàng hoá, dịch vụkhác.

    3. Hàng hóa, dịch vụ được dùng để khuyến mại phải là hàng hóa,dịch vụ được kinh doanh hợp pháp.

    4. Chính phủ quy định cụ thể hạn mức tối đa về giá trị của hànghóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụđược khuyến mại mà thương nhân được thực hiện trong hoạt động khuyến mại.

    Điều 95. Quyền của thương nhân thực hiệnkhuyến mại

    1. Lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại, hàng hóa,dịch vụ dùng để khuyến mại.

    2. Quy định các lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng phù hợpvới khoản 4 Điều 94 của Luật này.

    3. Thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việckhuyến mại cho mình.

    4. Tổ chức thực hiện các hình thức khuyến mại quy định tại Điều 92của Luật này.

    Điều 96. Nghĩa vụ của thương nhân thựchiện khuyến mại

    1. Thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định của phápluật để thực hiện các hình thức khuyến mại.

    2. Thông báo công khai các nội dung thông tin về hoạt động khuyếnmại cho khách hàng theo quy định tại Điều 97 của Luật này.

    3. Thực hiện đúng chương trình khuyến mại đã thông báo và các camkết với khách hàng.

    4. Đối với một số hình thức khuyến mại quy định tại khoản 6 Điều92 của Luật này, thương nhân phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vàongân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng.

    Bộ trưởng Bộ Thương mại quy định các hình thức khuyến mại cụ thểthuộc các chương trình mang tính may rủi phải thực hiện quy định này.

    5. Tuân thủ các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ khuyến mại nếuthương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại.

    Điều 97. Thông tin phải thông báo côngkhai

    1. Đối với tất cả hình thức khuyến mại quy định tại Điều 92 củaLuật này, thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo công khai các thôngtin sau đây:

    a) Tên của hoạt động khuyến mại;

    c) Tên, địa chỉ, số điện thoại của thương nhân thực hiện khuyếnmại;

    d) Thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bànhoạt động khuyến mại;

    đ) Trường hợp lợi ích của việc tham gia khuyến mại gắn với cácđiều kiện cụ thể thì trong thông báo phải nêu rõ hoạt động khuyến mại đó có kèmtheo điều kiện và nội dung cụ thể của các điều kiện.

    a) Giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ được tặng cho khách hàngđối với hình thức khuyến mại quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật này;

    b) Trị giá tuyệt đối hoặc phần trăm thấp hơn giá bán hàng hóa, giácung ứng dịch vụ bình thường trước thời gian khuyến mại đối với hình thứckhuyến mại quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật này;

    c) Giá trị bằng tiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởngtừ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ; địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụvà các loại hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng có thể nhận được từ phiếu mua hàng,phiếu sử dụng dịch vụ đối với hình thức khuyến mại quy định tại khoản 4 Điều 92của Luật này;

    d) Loại giải thưởng và giá trị của từng loại giải thưởng; thể lệtham gia các chương trình khuyến mại, cách thức lựa chọn người trúng thưởng đốivới các hình thức khuyến mại quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 92 của Luậtnày;

    đ) Các chi phí mà khách hàng phải tự chịu đối với các hình thứckhuyến mại quy định tại khoản 7, khoản 8 Điều 92 của Luật này.

    Điều 98. Cách thức thông báo

    1. Việc thông báo khuyến mại hàng hoá theo quy định tại Điều 97của Luật này được thực hiện bằng một trong các cách thức sau đây:

    a) Tại địa điểm bán hàng hóa và nơi để hàng hoá bày bán;

    b) Trên hàng hoá hoặc bao bì hàng hóa;

    c) Dưới bất kỳ cách thức nào khác nhưng phải được đính kèm vớihàng hóa khi hàng hóa được bán.

    2. Việc thông báo khuyến mại dịch vụ theo quy định tại Điều 97 củaLuật này phải được thực hiện dưới một trong các cách thức sau đây:

    a) Tại địa điểm cung ứng dịch vụ;

    b) Cách thức khác nhưng phải được cung cấp kèm với dịch vụ khidịch vụ đó được cung ứng.

    Điều 99. Bảo đảm bí mật thông tin vềchương trình, nội dung khuyến mại

    Trường hợp chương trình khuyến mại phải được sự chấp thuận của cơquan nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan đó phải giữ bí mật chương trình, nộidung khuyến mại do thương nhân cung cấp cho đến khi chương trình được cơ quannhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

    Điều 100. Các hành vi bị cấm trong hoạtđộng khuyến mại

    1. Khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịchvụ hạn chế kinh doanh; hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa đượcphép cung ứng.

    2. Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịchvụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa đượcphép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.

    3. Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới18 tuổi.

    4. Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trởlên để khuyến mại dưới mọi hình thức.

    5. Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hoá, dịchvụ để lừa dối khách hàng.

    6. Khuyến mại để tiêu thụ hàng hoá kém chất lượng, làm phương hạiđến môi trường, sức khoẻ con người và lợi ích công cộng khác.

    7. Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhànước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân.

    8. Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện khôngđúng.

    9. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

    10. Thực hiện khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng đểkhuyến mại vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyếnmại quá mức tối đa theo quy định tại khoản 4 Điều 94 của Luật này.

    Điều 101. Đăng ký hoạt động khuyến mại,thông báo kết quả khuyến mại với cơ quan quản lý nhà nước về thương mại

    1. Trước khi thực hiện hoạt động khuyến mại, thương nhân phải đăngký và sau khi kết thúc hoạt động khuyến mại, thương nhân phải thông báo kết quảvới cơ quan quản lý nhà nước về thương mại.

    2. Chính phủ quy định cụ thể việc đăng ký hoạt động khuyến mại vàthông báo kết quả hoạt động khuyến mại của các thương nhân với cơ quan quản lýnhà nước về thương mại.

    QUẢNG CÁOTHƯƠNG MẠI

    a) Các phương tiện thông tin đại chúng;

    b) Các phương tiện truyền tin;

    c) Các loại xuất bản phẩm;

    d) Các loại bảng, biển, băng, pa-nô, áp-phích, vật thể cố định,các phương tiện giao thông hoặc các vật thể di động khác;

    a) Tuân thủ các quy định của pháp luật về báo chí, xuất bản, thôngtin, chương trình hoạt động văn hoá, thể thao, hội chợ, triển lãm;

    c) Đúng mức độ, thời lượng, thời điểm quy định đối với từng loạiphương tiện thông tin đại chúng.

    3. Thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    TRƯNG BÀY,GIỚI THIỆU HÀNG HÓA, DỊCH VỤ

    Điều 117. Trưng bày, giới thiệu hàng hoá,dịch vụ

    Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động xúc tiếnthương mại của thương nhân dùng hàng hoá, dịch vụ và tài liệu về hàng hoá, dịchvụ để giới thiệu với khách hàng về hàng hoá, dịch vụ đó.

    Điều 118. Quyền trưng bày, giới thiệu hànghoá, dịch vụ

    1. Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chinhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền trưng bày, giới thiệuhàng hoá, dịch vụ; lựa chọn các hình thức trưng bày, giới thiệu phù hợp; tựmình tổ chức hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệuhàng hoá, dịch vụ để trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của mình.

    2. Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp trưngbày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của thương nhân do mình đại diện, trừ việctrưng bày, giới thiệu tại trụ sở của Văn phòng đại diện đó. Trong trường hợpđược thương nhân ủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thươngnhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ để thực hiệntrưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân mà mình đại diện.

    3. Thương nhân nước ngoài chưa được phép hoạt động thương mại tạiViệt nam muốn trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ của mình tại Việt Namphải thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịchvụ Việt Nam thực hiện.

    Điều 119. Kinh doanh dịch vụ trưng bày,giới thiệu hàng hoá, dịch vụ

    Kinh doanh dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ là hoạtđộng thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện cung ứng dịch vụ trưng bày,giới thiệu hàng hoá, dịch vụ cho thương nhân khác.

    Điều 120. Các hình thức trưng bày, giớithiệu hàng hoá, dịch vụ

    1. Mở phòng trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ.

    2. Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ tại các trung tâmthương mại hoặc trong các hoạt động giải trí, thể thao, văn hoá, nghệ thuật.

    3. Tổ chức hội nghị, hội thảo có trưng bày, giới thiệu hàng hoá,dịch vụ.

    4. Trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ trên Internet và cáchình thức khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 121. Điều kiện đối với hàng hoá, dịchvụ trưng bày, giới thiệu

    1. Hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệu phải là những hàng hoá,dịch vụ kinh doanh hợp pháp trên thị trường.

    2. Hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệu phải tuân thủ các quyđịnh của pháp luật về chất lượng hàng hóa và ghi nhãn hàng hoá.

    Điều 122. Điều kiện đối với hàng hoá nhậpkhẩu vào Việt Namđể trưng bày, giới thiệu

    Hàng hoá nhập khẩu vào Việt Nam để trưng bày, giới thiệu tại ViệtNam, ngoài việc đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 121 của Luật này cònphải đáp ứng các điều kiện sau đây:

    1. Là hàng hoá được phép nhập khẩu vào Việt Nam;

    2. Hàng hoá tạm nhập khẩu để trưng bày, giới thiệu phải tái xuấtkhẩu sau khi kết thúc việc trưng bày, giới thiệu nhưng không quá sáu tháng, kểtừ ngày tạm nhập khẩu; nếu quá thời hạn trên thì phải làm thủ tục gia hạn tạihải quan nơi tạm nhập khẩu;

    3. Hàng hóa tạm nhập khẩu để trưng bày, giới thiệu nếu tiêu thụtại Việt Nam thì phải tuânthủ các quy định của pháp luật Việt Nam đối với hàng hóa nhập khẩu.

    Điều 123. Các trường hợp cấm trưng bày,giới thiệu hàng hoá, dịch vụ

    1. Tổ chức trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ hoặc sử dụnghình thức, phương tiện trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ làm phương hạiđến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, cảnh quan, môi trường, sức khoẻcon người.

    2. Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ hoặc sử dụng hình thức,phương tiện trưng bày, giới thiệu trái với truyền thống lịch sử, văn hoá, đạođức, thuần phong mỹ tục Việt Nam.

    3. Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ làm lộ bí mật nhà nước.

    4. Trưng bày, giới thiệu hàng hoá của thương nhân khác để so sánhvới hàng hoá của mình, trừ trường hợp hàng hoá đem so sánh là hàng giả, hàng viphạm quyền sở hữu trí tuệ theo quy định của pháp luật.

    5. Trưng bày, giới thiệu mẫu hàng hoá không đúng với hàng hoá đangkinh doanh về chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, chủng loại, bao bì, thờihạn bảo hành và các chỉ tiêu chất lượng khác nhằm lừa dối khách hàng.

    Điều 124. Hợp đồng dịch vụ trưng bày, giớithiệu hàng hoá, dịch vụ

    Hợp đồng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ phải đượclập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 125. Quyền của bên thuê dịch vụ trưngbày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên thuê dịch vụ trưng bày,giới thiệu hàng hoá, dịch vụ có các quyền sau đây:

    1. Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá,dịch vụ thực hiện thoả thuận trong hợp đồng;

    2. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng trưng bày, giớithiệu hàng hoá, dịch vụ.

    Điều 126. Nghĩa vụ của bên thuê dịch vụtrưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên thuê dịch vụ trưng bày,giới thiệu hàng hoá, dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

    1. Cung cấp đầy đủ hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệu hoặcphương tiện cho bên cung ứng dịch vụ theo thoả thuận trong hợp đồng;

    2. Cung cấp thông tin về hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệuvà chịu trách nhiệm về các thông tin này;

    3. Trả thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác.

    Điều 127. Quyền của bên cung ứng dịch vụtrưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên cung ứng dịch vụ trưng bày,giới thiệu hàng hoá, dịch vụ có các quyền sau đây:

    1. Yêu cầu bên thuê dịch vụ cung cấp hàng hoá, dịch vụ trưng bày,giới thiệu theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng;

    2. Yêu cầu bên thuê dịch vụ cung cấp thông tin về hàng hoá, dịchvụ trưng bày, giới thiệu và các phương tiện cần thiết khác theo thoả thuậntrong hợp đồng;

    3. Nhận thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác.

    Điều 128. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịchvụ trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên cung ứng dịch vụ trưng bày,giới thiệu hàng hoá, dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

    1. Thực hiện việc trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ theothoả thuận trong hợp đồng;

    2. Bảo quản hàng hoá trưng bày, giới thiệu, tài liệu, phương tiệnđược giao trong thời gian thực hiện hợp đồng; khi kết thúc việc trưng bày, giớithiệu hàng hoá, dịch vụ, phải giao lại đầy đủ hàng hoá, tài liệu, phương tiệntrưng bày, giới thiệu cho bên thuê dịch vụ;

    3. Thực hiện việc trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ theonhững nội dung đã được thoả thuận với bên thuê dịch vụ trưng bày, giới thiệuhàng hoá, dịch vụ.

    HỘI TRỢ,TRIỂN LÃM THƯƠNG MẠI

    Điều 129. Hội chợ, triển lãm thương mại

    Hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiến thương mạiđược thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định đểthương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ nhằm mục đích thúc đẩy, tìmkiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, hợp đồng dịch vụ.

    Điều 130. Kinh doanh dịch vụ hội chợ,triển lãm thương mại

    1. Kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt độngthương mại, theo đó thương nhân kinh doanh dịch vụ này cung ứng dịch vụ tổ chứchoặc tham gia hội chợ, triển lãm thương mại cho thương nhân khác để nhận thùlao dịch vụ tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại.

    2. Hợp đồng dịch vụ tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thươngmại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lýtương đương.

    Điều 131. Quyền tổ chức, tham gia hội chợ,triển lãm thương mại

    1. Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chinhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền trực tiếp tổ chức, thamgia hội chợ, triển lãm thương mại về hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh hoặcthuê thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại thực hiện.

    2. Văn phòng đại diện của thương nhân không được trực tiếp tổchức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại. Trong trường hợp được thương nhânủy quyền, Văn phòng đại diện có quyền ký hợp đồng với thương nhân kinh doanhdịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại để tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãmthương mại cho thương nhân mà mình đại diện.

    3. Thương nhân nước ngoài có quyền trực tiếp tham gia hoặc thuêthương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại Việt Nam thay mặt mình tham gia hội chợ, triển lãmthương mại tại Việt Nam.Trong trường hợp muốn tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam thì thương nhân nước ngoài phải thuê thươngnhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại Việt Nam thực hiện.

    Điều 132. Tổ chức hội chợ, triển lãmthương mại tại Việt Nam

    1. Hội chợ, triển lãm thương mại tổ chức tại Việt Nam phải đượcđăng ký và phải được xác nhận bằng văn bản của cơ quan quản lý nhà nước vềthương mại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi tổ chức hội chợ, triển lãmthương mại.

    2. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục, nội dung đăng kývà xác nhận việc tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam quy địnhtại khoản 1 Điều này.

    Điều 133. Tổ chức, tham gia hội chợ, triểnlãm thương mại ở nước ngoài

    1. Thương nhân không kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thươngmại khi trực tiếp tổ chức hoặc tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nướcngoài về hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh phải tuân theo các quy định vềxuất khẩu hàng hoá.

    2. Thương nhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mạikhi tổ chức cho thương nhân khác tham gia hội chợ, triển lãm thương mại phảiđăng ký với Bộ Thương mại.

    3. Thương nhân không đăng ký kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãmthương mại không được tổ chức cho thương nhân khác tham gia hội chợ, triển lãmthương mại ở nước ngoài.

    4. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục, nội dung đăng kýtổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài quy định tại khoản1 và khoản 2 Điều này.

    Điều 134. Hàng hoá, dịch vụ trưng bày,giới thiệu tại hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam

    1. Hàng hoá, dịch vụ không được phép tham gia hội chợ, triển lãmthương mại bao gồm:

    a) Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện cấm kinh doanh, hạn chế kinhdoanh, chưa được phép lưu thông theo quy định của pháp luật;

    b) Hàng hóa, dịch vụ do thương nhân ở nước ngoài cung ứng thuộcdiện cấm nhập khẩu theo quy định của pháp luật;

    c) Hàng giả, hàng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, trừ trường hợptrưng bày, giới thiệu để so sánh với hàng thật.

    2. Ngoài việc tuân thủ các quy định về hội chợ, triển lãm thươngmại của Luật này, hàng hóa, dịch vụ thuộc diện quản lý chuyên ngành phải tuânthủ các quy định về quản lý chuyên ngành đối với hàng hoá, dịch vụ đó.

    3. Hàng hóa tạm nhập khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm thươngmại tại Việt Nam phải được tái xuất khẩu trong thời hạn ba mươi ngày, kể từngày kết thúc hội chợ, triển lãm thương mại.

    Điều 135. Hàng hóa, dịch vụ tham gia hộichợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài

    1. Tất cả các loại hàng hóa, dịch vụ đều được tham gia hội chợ,triển lãm thương mại ở nước ngoài, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc diện cấm xuấtkhẩu theo quy định của pháp luật.

    2. Hàng hóa, dịch vụ thuộc diện cấm xuất khẩu chỉ được tham giahội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài khi được sự chấp thuận của Thủ tướngChính phủ.

    3. Thời hạn tạm xuất khẩu hàng hóa để tham gia hội chợ, triển lãmthương mại ở nước ngoài là một năm kể từ ngày hàng hóa được tạm xuất khẩu; nếuquá thời hạn nói trên mà chưa được tái nhập khẩu thì hàng hóa đó phải chịu thuếvà các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    Điều 136. Bán, tặng hàng hoá, cung ứngdịch vụ tại hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam

    1. Hàng hoá, dịch vụ trưng bày, giới thiệu tại hội chợ, triển lãmthương mại tại Việt Nam được phép bán, tặng, cung ứng tại hội chợ, triển lãmthương mại; đối với hàng hóa nhập khẩu phải đăng ký với hải quan, trừ trườnghợp quy định tại khoản 2 Điều này.

    2. Hàng hóa thuộc diện nhập khẩu phải có giấy phép của cơ quan nhànước có thẩm quyền chỉ được bán, tặng sau khi được cơ quan nhà nước có thẩmquyền chấp thuận bằng văn bản.

    3. Việc bán, tặng hàng hoá tại hội chợ, triển lãm thương mại quyđịnh tại khoản 2 Điều 134 của Luật này phải tuân thủ các quy định về quản lýchuyên ngành nhập khẩu đối với hàng hóa đó.

    4. Hàng hóa được bán, tặng, dịch vụ được cung ứng tại hội chợ,triển lãm thương mại tại Việt Namphải chịu thuế và các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 137. Bán, tặng hàng hóa, cung ứngdịch vụ của Việt Namtham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài

    1. Hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam tham gia hội chợ, triển lãmthương mại ở nước ngoài được phép bán, tặng, cung ứng tại hội chợ, triển lãm,trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

    2. Việc bán, tặng hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu nhưng đã đượctạm xuất khẩu để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài chỉ đượcthực hiện sau khi có sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ.

    3. Hàng hóa thuộc diện xuất khẩu phải có giấy phép của cơ quan nhànước có thẩm quyền chỉ được bán, tặng sau khi được cơ quan nhà nước có thẩmquyền chấp thuận bằng văn bản.

    4. Hàng hóa, dịch vụ của Việt Nam tham gia hội chợ, triển lãmthương mại ở nước ngoài được bán, tặng, cung ứng ở nước ngoài phải chịu thuế vàcác nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 138. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức,cá nhân tham gia hội chợ, triển lãm thương mại tại Việt Nam

    1. Thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận với thương nhântổ chức hội chợ, triển lãm thương mại.

    2. Bán, tặng hàng hoá, cung ứng dịch vụ được trưng bày, giới thiệutại hội chợ, triển lãm thương mại theo quy định của pháp luật.

    3. Được tạm nhập, tái xuất hàng hoá, tài liệu về hàng hoá, dịch vụđể trưng bày tại hội chợ, triển lãm thương mại.

    4. Tuân thủ các quy định về tổ chức hội chợ, triển lãm thương mạitại Việt Nam.

    Điều 139. Quyền và nghĩa vụ của thươngnhân tổ chức, tham gia hội chợ, triển lãm thương mại ở nước ngoài

    1. Được tạm xuất, tái nhập hàng hoá và tài liệu về hàng hoá, dịchvụ để trưng bày, giới thiệu tại hội chợ, triển lãm thương mại.

    2. Phải tuân thủ các quy định về việc tổ chức, tham gia hội chợ,triển lãm thương mại ở nước ngoài.

    3. Được bán, tặng hàng hoá trưng bày, giới thiệu tại hội chợ,triển lãm thương mại ở nước ngoài; phải nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tàichính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    Điều 140. Quyền và nghĩa vụ của thươngnhân kinh doanh dịch vụ hội chợ, triển lãm thương mại

    2. Yêu cầu bên thuê dịch vụ cung cấp hàng hoá để tham gia hội chợ,triển lãm thương mại theo thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.

    3. Yêu cầu bên thuê dịch vụ cung cấp thông tin về hàng hoá, dịchvụ để tham gia hội chợ, triển lãm thương mại và các phương tiện cần thiết kháctheo thoả thuận trong hợp đồng.

    4. Nhận thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác.

    5. Thực hiện việc tổ chức hội chợ, triển lãm thương mại theo thoảthuận trong hợp đồng.

    CÁC HOẠTĐỘNG TRUNG GIAN THƯƠNG MẠI

    ĐẠI DIỆN CHOTHƯƠNG NHÂN

    Điều 141. Đại diện cho thương nhân

    1. Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm(gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thựchiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhânđó và được hưởng thù lao về việc đại diện.

    2. Trong trường hợp thương nhân cử người của mình để làm đại diệncho mình thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự.

    Điều 142. Hợp đồng đại diện cho thươngnhân

    Hợp đồng đại diện cho thương nhân phải được lập thành văn bản hoặcbằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 143. Phạm vi đại diện

    Các bên có thể thoả thuận về việc bên đại diện được thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ hoạt động thương mại thuộc phạm vi hoạt động của bên giao đạidiện.

    Điều 144. Thời hạn đại diện cho thươngnhân

    1. Thời hạn đại diện do các bên thoả thuận.

    2. Trường hợp không có thoả thuận, thời hạn đại diện chấm dứt khibên giao đại diện thông báo cho bên đại diện về việc chấm dứt hợp đồng đại diệnhoặc bên đại diện thông báo cho bên giao đại diện về việc chấm dứt hợp đồng.

    3. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên giao đại diện đơnphương thông báo chấm dứt hợp đồng đại diện theo quy định tại khoản 2 Điều nàythì bên đại diện có quyền yêu cầu bên giao đại diện trả một khoản thù lao doviệc bên giao đại diện giao kết các hợp đồng với khách hàng mà bên đại diện đãgiao dịch và những khoản thù lao khác mà đáng lẽ mình được hưởng.

    4. Trường hợp thời hạn đại diện chấm dứt theo quy định tại khoản 2Điều này theo yêu cầu của bên đại diện thì bên đại diện bị mất quyền hưởng thùlao đối với các giao dịch mà đáng lẽ mình được hưởng nếu các bên không có thoảthuận khác.

    Điều 145. Nghĩa vụ của bên đại diện

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại diện có các nghĩa vụsau đây:

    1. Thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa và vì lợi íchcủa bên giao đại diện;

    2. Thông báo cho bên giao đại diện về cơ hội và kết quả thực hiệncác hoạt động thương mại đã được uỷ quyền;

    3. Tuân thủ chỉ dẫn của bên giao đại diện nếu chỉ dẫn đó không viphạm quy định của pháp luật;

    4. Không được thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩacủa mình hoặc của người thứ ba trong phạm vi đại diện;

    5. Không được tiết lộ hoặc cung cấp cho người khác các bí mật liênquan đến hoạt động thương mại của bên giao đại diện trong thời gian làm đạidiện và trong thời hạn hai năm, kể từ khi chấm dứt hợp đồng đại diện;

    6. Bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hoạt động đạidiện.

    Điều 146. Nghĩa vụ của bên giao đại diện

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên giao đại diện có các nghĩavụ sau đây:

    1. Thông báo ngay cho bên đại diện về việc giao kết hợp đồng màbên đại diện đã giao dịch, việc thực hiện hợp đồng mà bên đại diện đã giao kết,việc chấp nhận hay không chấp nhận các hoạt động ngoài phạm vi đại diện mà bênđại diện thực hiện;

    2. Cung cấp tài sản, tài liệu, thông tin cần thiết để bên đại diệnthực hiện hoạt động đại diện;

    3. Trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho bên đại diện;

    4. Thông báo kịp thời cho bên đại diện về khả năng không giao kếtđược, không thực hiện được hợp đồng trong phạm vi đại diện.

    Điều 147. Quyền hưởng thù lao đại diện

    1. Bên đại diện được hưởng thù lao đối với hợp đồng được giao kếttrong phạm vi đại diện. Quyền được hưởng thù lao phát sinh từ thời điểm do cácbên thoả thuận trong hợp đồng đại diện.

    2. Trường hợp không có thỏa thuận, mức thù lao cho bên đại diệnđược xác định theo quy định tại Điều 86 của Luật này.

    Điều 148. Thanh toán chi phí phát sinh

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên đại diện có quyền yêu cầuđược thanh toán các khoản chi phí phát sinh hợp lý để thực hiện hoạt động đạidiện.

    Điều 149. Quyền cầm giữ

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại diện có quyền cầm giữtài sản, tài liệu được giao để bảo đảm việc thanh toán các khoản thù lao và chiphí đã đến hạn.

    MÔI GIỚITHƯƠNG MẠI

    Điều 150. Môi giới thương mại

    Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thươngnhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cungứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồngmua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới.

    Điều 151. Nghĩa vụ của bên môi giới thươngmại

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên môi giới thương mại có cácnghĩa vụ sau đây:

    1. Bảo quản các mẫu hàng hoá, tài liệu được giao để thực hiện việcmôi giới và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành việc môigiới;

    2. Không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm phương hại đến lợiích của bên được môi giới;

    3. Chịu trách nhiệm về tư cách pháp lý của các bên được môi giới,nhưng không chịu trách nhiệm về khả năng thanh toán của họ;

    4. Không được tham gia thực hiện hợp đồng giữa các bên được môigiới, trừ trường hợp có uỷ quyền của bên được môi giới.

    Điều 152. Nghĩa vụ của bên được môi giới

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên được môi giới có các nghĩavụ sau đây:

    1. Cung cấp các thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết liênquan đến hàng hoá, dịch vụ;

    2. Trả thù lao môi giới và các chi phí hợp lý khác cho bên môigiới.

    Điều 153. Quyền hưởng thù lao môi giới

    1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, quyền hưởng thù lao môi giớiphát sinh từ thời điểm các bên được môi giới đã ký hợp đồng với nhau.

    2. Trường hợp không có thỏa thuận, mức thù lao môi giới được xácđịnh theo quy định tại Điều 86 của Luật này.

    ỦY THÁC MUABÁN HÀNG HÓA

    Điều 155. Uỷ thác mua bán hàng hóa

    Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhậnuỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điềukiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác.

    Điều 156. Bên nhận uỷ thác

    Bên nhận uỷ thác mua bán hàng hoá là thương nhân kinh doanh mặthàng phù hợp với hàng hoá được uỷ thác và thực hiện mua bán hàng hoá theo nhữngđiều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác.

    Điều 157. Bên uỷ thác

    Bên uỷ thác mua bán hàng hoá là thương nhân hoặc không phải là thươngnhân giao cho bên nhận uỷ thác thực hiện mua bán hàng hoá theo yêu cầu của mìnhvà phải trả thù lao uỷ thác.

    Điều 158. Hàng hoá uỷ thác

    Tất cả hàng hoá lưu thông hợp pháp đều có thể được uỷ thác muabán.

    Điều 159. Hợp đồng uỷ thác

    Hợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá phải được lập thành văn bản hoặcbằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 160. Uỷ thác lại cho bên thứ ba

    Bên nhận uỷ thác không được uỷ thác lại cho bên thứ ba thực hiệnhợp đồng uỷ thác mua bán hàng hoá đã ký, trừ trường hợp có sự chấp thuận bằngvăn bản của bên uỷ thác.

    Điều 161. Nhận uỷ thác của nhiều bên

    Bên nhận uỷ thác có thể nhận uỷ thác mua bán hàng hoá của nhiềubên uỷ thác khác nhau.

    Điều 162. Quyền của bên uỷ thác

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên uỷ thác có các quyền sauđây:

    1. Yêu cầu bên nhận uỷ thác thông báo đầy đủ về tình hình thựchiện hợp đồng uỷ thác;

    2. Không chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác viphạm pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 163 của Luật này.

    Điều 163. Nghĩa vụ của bên uỷ thác

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên uỷ thác có các nghĩa vụ sauđây:

    1. Cung cấp thông tin, tài liệu và phương tiện cần thiết cho việcthực hiện hợp đồng uỷ thác;

    2. Trả thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác cho bên nhận ủythác;

    3. Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;

    4. Liên đới chịu trách nhiệm trong trường hợp bên nhận uỷ thác viphạm pháp luật mà nguyên nhân do bên uỷ thác gây ra hoặc do các bên cố ý làmtrái pháp luật.

    Điều 164. Quyền của bên nhận uỷ thác

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên nhận uỷ thác có các quyềnsau đây:

    1. Yêu cầu bên uỷ thác cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết choviệc thực hiện hợp đồng uỷ thác;

    2. Nhận thù lao uỷ thác và các chi phí hợp lý khác;

    3. Không chịu trách nhiệm về hàng hoá đã bàn giao đúng thoả thuậncho bên uỷ thác.

    Điều 165. Nghĩa vụ của bên nhận uỷ thác

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên nhận uỷ thác có các nghĩavụ sau đây:

    1. Thực hiện mua bán hàng hoá theo thỏa thuận;

    3. Thực hiện các chỉ dẫn của bên uỷ thác phù hợp với thoả thuận;

    4. Bảo quản tài sản, tài liệu được giao để thực hiện hợp đồng uỷthác;

    6. Giao tiền, giao hàng theo đúng thoả thuận;

    7. Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bênủy thác, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗicủa mình gây ra.

    ĐẠI LÝTHƯƠNG MẠI

    Điều 166. Đại lý thương mại

    Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lývà bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoácho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng đểhưởng thù lao.

    Điều 167. Bên giao đại lý, bên đại lý

    1. Bên giao đại lý là thương nhân giao hàng hoá cho đại lý bánhoặc giao tiền mua hàng cho đại lý mua hoặc là thương nhân uỷ quyền thực hiệndịch vụ cho đại lý cung ứng dịch vụ.

    2. Bên đại lý là thương nhân nhận hàng hoá để làm đại lý bán, nhậntiền mua hàng để làm đại lý mua hoặc là bên nhận uỷ quyền cung ứng dịch vụ.

    Điều 168. Hợp đồng đại lý

    Hợp đồng đại lý phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thứckhác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 169. Các hình thức đại lý

    1. Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiệnviệc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụcho bên giao đại lý.

    2. Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lýnhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặthàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định.

    3. Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đạilý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bánhàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý.

    Tổng đại lý đại diện cho hệ thống đại lý trực thuộc. Các đại lýtrực thuộc hoạt động dưới sự quản lý của tổng đại lý và với danh nghĩa của tổngđại lý.

    4. Các hình thức đại lý khác mà các bên thỏa thuận.

    Điều 170. Quyền sở hữu trong đại lý thươngmại

    Bên giao đại lý là chủ sở hữu đối với hàng hoá hoặc tiền giao chobên đại lý.

    Điều 171. Thù lao đại lý

    1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thù lao đại lý được trả chobên đại lý dưới hình thức hoa hồng hoặc chênh lệch giá.

    2. Trường hợp bên giao đại lý ấn định giá mua, giá bán hàng hóahoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng thì bên đại lý được hưởng hoa hồngtính theo tỷ lệ phần trăm trên giá mua, giá bán hàng hóa hoặc giá cung ứng dịchvụ.

    3. Trường hợp bên giao đại lý không ấn định giá mua, giá bán hànghoá hoặc giá cung ứng dịch vụ cho khách hàng mà chỉ ấn định giá giao đại lý chobên đại lý thì bên đại lý được hưởng chênh lệch giá. Mức chênh lệch giá đượcxác định là mức chênh lệch giữa giá mua, giá bán, giá cung ứng dịch vụ chokhách hàng so với giá do bên giao đại lý ấn định cho bên đại lý.

    4. Trường hợp các bên không có thoả thuận về mức thù lao đại lýthì mức thù lao được tính như sau:

    a) Mức thù lao thực tế mà các bên đã được trả trước đó;

    b) Trường hợp không áp dụng được điểm a khoản này thì mức thù laođại lý là mức thù lao trung bình được áp dụng cho cùng loại hàng hoá, dịch vụmà bên giao đại lý đã trả cho các đại lý khác;

    c) Trường hợp không áp dụng được điểm a và điểm b khoản này thìmức thù lao đại lý là mức thù lao thông thường được áp dụng cho cùng loại hànghoá, dịch vụ trên thị trường.

    Điều 172. Quyền của bên giao đại lý

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên giao đại lý có các quyềnsau đây:

    1. ấn định giá mua, giá bán hàng hoá, giá cung ứng dịch vụ đại lýcho khách hàng;

    2. Ấn định giá giao đại lý;

    3. Yêu cầu bên đại lý thực hiện biện pháp bảo đảm theo quy địnhcủa pháp luật;

    4. Yêu cầu bên đại lý thanh toán tiền hoặc giao hàng theo hợp đồngđại lý;

    5. Kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng của bên đại lý.

    Điều 173. Nghĩa vụ của bên giao đại lý

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên giao đại lý có các nghĩa vụsau đây:

    1. Hướng dẫn, cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho bên đại lýthực hiện hợp đồng đại lý;

    2. Chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa của đại lý mua bán hànghóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụ;

    3. Trả thù lao và các chi phí hợp lý khác cho bên đại lý;

    4. Hoàn trả cho bên đại lý tài sản của bên đại lý dùng để bảo đảm(nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý;

    5. Liên đới chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của bênđại lý, nếu nguyên nhân của hành vi vi phạm pháp luật đó có một phần do lỗi củamình gây ra.

    Điều 174. Quyền của bên đại lý

    Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, bên đại lý có các quyềnsau đây:

    1. Giao kết hợp đồng đại lý với một hoặc nhiều bên giao đại lý,trừ trường hợp quy định tại khoản 7 Điều 175 của Luật này;

    2. Yêu cầu bên giao đại lý giao hàng hoặc tiền theo hợp đồng đạilý; nhận lại tài sản dùng để bảo đảm (nếu có) khi kết thúc hợp đồng đại lý;

    4. Quyết định giá bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàngđối với đại lý bao tiêu;

    5. Hưởng thù lao, các quyền và lợi ích hợp pháp khác do hoạt độngđại lý mang lại.

    Điều 175. Nghĩa vụ của bên đại lý

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên đại lý có các nghĩa vụ sauđây:

    1. Mua, bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ cho khách hàng theo giáhàng hóa, giá cung ứng dịch vụ do bên giao đại lý ấn định;

    2. Thực hiện đúng các thỏa thuận về giao nhận tiền, hàng với bêngiao đại lý;

    3. Thực hiện các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự theoquy định của pháp luật;

    4. Thanh toán cho bên giao đại lý tiền bán hàng đối với đại lýbán; giao hàng mua đối với đại lý mua; tiền cung ứng dịch vụ đối với đại lýcung ứng dịch vụ;

    5. Bảo quản hàng hoá sau khi nhận đối với đại lý bán hoặc trướckhi giao đối với đại lý mua; liên đới chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóacủa đại lý mua bán hàng hóa, chất lượng dịch vụ của đại lý cung ứng dịch vụtrong trường hợp có lỗi do mình gây ra;

    6. Chịu sự kiểm tra, giám sát của bên giao đại lý và báo cáo tìnhhình hoạt động đại lý với bên giao đại lý;

    7. Trường hợp pháp luật có quy định cụ thể về việc bên đại lý chỉđược giao kết hợp đồng đại lý với một bên giao đại lý đối với một loại hàng hóahoặc dịch vụ nhất định thì phải tuân thủ quy định của pháp luật đó.

    Điều 176. Thanh toán trong đại lý

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc thanh toán tiền hàng, tiềncung ứng dịch vụ và thù lao đại lý được thực hiện theo từng đợt sau khi bên đạilý hoàn thành việc mua, bán một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng một khốilượng dịch vụ nhất định.

    Điều 177. Thời hạn đại lý

    1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn đại lý chỉ chấm dứtsau một thời gian hợp lý nhưng không sớm hơn sáu mươi ngày, kể từ ngày mộttrong hai bên thông báo bằng văn bản cho bên kia về việc chấm dứt hợp đồng đạilý.

    2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu bên giao đại lý thôngbáo chấm dứt hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên đại lý cóquyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường một khoản tiền cho thời gian mà mìnhđã làm đại lý cho bên giao đại lý đó.

    Giá trị của khoản bồi thường là một tháng thù lao đại lý trungbình trong thời gian nhận đại lý cho mỗi năm mà bên đại lý làm đại lý cho bêngiao đại lý. Trong trường hợp thời gian đại lý dưới một năm thì khoản bồithường được tính là một tháng thù lao đại lý trung bình trong thời gian nhậnđại lý.

    3. Trường hợp hợp đồng đại lý được chấm dứt trên cơ sở yêu cầu củabên đại lý thì bên đại lý không có quyền yêu cầu bên giao đại lý bồi thường chothời gian mà mình đã làm đại lý cho bên giao đại lý.

    MỘT SỐ HOẠTĐỘNG THƯƠNG MẠI CỤ THỂ KHÁC

    GIA CÔNGTRONG THƯƠNG MẠI

    Điều 178. Gia công trong thương mại

    Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bênnhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặtgia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theoyêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao.

    Điều 179. Hợp đồng gia công

    Hợp đồng gia công phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thứckhác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 180. Hàng hóa gia công

    1. Tất cả các loại hàng hóa đều có thể được gia công, trừ trườnghợp hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh.

    2. Trường hợp gia công hàng hóa cho thương nhân nước ngoài để tiêuthụ ở nước ngoài thì hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấmnhập khẩu có thể được gia công nếu được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chophép.

    Điều 181. Quyền và nghĩa vụ của bên đặtgia công

    1. Giao một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu gia công theođúng hợp đồng gia công hoặc giao tiền để mua vật liệu theo số lượng, chất lượngvà mức giá thoả thuận.

    2. Nhận lại toàn bộ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuêhoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi thanh lý hợpđồng gia công, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

    3. Bán, tiêu huỷ, tặng biếu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc,thiết bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa, phếphẩm, phế liệu theo thoả thuận và phù hợp với quy định của pháp luật.

    4. Cử người đại diện để kiểm tra, giám sát việc gia công tại nơinhận gia công, cử chuyên gia để hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và kiểm tra chấtlượng sản phẩm gia công theo thoả thuận trong hợp đồng gia công.

    5. Chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở hữu trí tuệcủa hàng hoá gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị dùng để giacông chuyển cho bên nhận gia công.

    Điều 182. Quyền và nghĩa vụ của bên nhậngia công

    1. Cung ứng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu để giacông theo thỏa thuận với bên đặt gia công về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩnkỹ thuật và giá.

    2. Nhận thù lao gia công và các chi phí hợp lý khác.

    3. Trường hợp nhận gia công cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, bênnhận gia công được xuất khẩu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị thuêhoặc mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa, phế phẩm, phế liệu theo uỷquyền của bên đặt gia công.

    4. Trường hợp nhận gia công cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, bênnhận gia công được miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên liệu,phụ liệu, vật tư tạm nhập khẩu theo định mức để thực hiện hợp đồng gia côngtheo quy định của pháp luật về thuế.

    5. Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hoạt động gia công hànghoá trong trường hợp hàng hoá gia công thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuấtkhẩu, cấm nhập khẩu.

    Điều 183. Thù lao gia công

    1. Bên nhận gia công có thể nhận thù lao gia công bằng tiền hoặc bằngsản phẩm gia công, máy móc, thiết bị dùng để gia công.

    2. Trường hợp gia công hàng hóa cho tổ chức, cá nhân nước ngoài,nếu bên nhận gia công nhận thù lao gia công bằng sản phẩm gia công, máy móc,thiết bị dùng để gia công thì phải tuân thủ các quy định về nhập khẩu đối vớisản phẩm, máy móc, thiết bị đó.

    Điều 184. Chuyển giao công nghệ trong giacông với tổ chức, cá nhân nước ngoài

    Việc chuyển giao công nghệ trong gia công với tổ chức, cá nhânnước ngoài được thực hiện theo thoả thuận trong hợp đồng gia công và phải phùhợp với các quy định của pháp luật Việt Nam về chuyển giao công nghệ.

    ĐẤU GIÁ HÀNGHÓA

    Điều 185. Đấu giá hàng hoá

    1. Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bánhàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá côngkhai để chọn người mua trả giá cao nhất.

    2. Việc đấu giá hàng hoá được thực hiện theo một trong hai phươngthức sau đây:

    a) Phương thức trả giá lên là phương thức bán đấu giá, theo đóngười trả giá cao nhất so với giá khởi điểm là người có quyền mua hàng;

    b) Phương thức đặt giá xuống là phương thức bán đấu giá, theo đóngười đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp hơnmức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng.

    Điều 186. Người tổ chức đấu giá, người bánhàng

    1. Người tổ chức đấu giá là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịchvụ đấu giá hoặc là người bán hàng của mình trong trường hợp người bán hàng tựtổ chức đấu giá.

    2. Người bán hàng là chủ sở hữu hàng hoá, người được chủ sở hữuhàng hoá uỷ quyền bán hoặc người có quyền bán hàng hoá của người khác theo quyđịnh của pháp luật.

    Điều 187. Người tham gia đấu giá, ngườiđiều hành đấu giá

    1. Người tham gia đấu giá hàng hoá là tổ chức, cá nhân đăng kýtham gia cuộc đấu giá.

    2. Người điều hành đấu giá là người tổ chức đấu giá hoặc ngườiđược người tổ chức đấu giá uỷ quyền điều hành bán đấu giá.

    Điều 188. Nguyên tắc đấu giá

    Việc đấu giá hàng hoá trong thương mại phải được thực hiện theonguyên tắc công khai, trung thực, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bêntham gia.

    Điều 189. Quyền của người tổ chức đấu giá

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, người tổ chức đấu giá có cácquyền sau đây:

    2. Xác định giá khởi điểm trong trường hợp người tổ chức đấu giálà người bán hàng đấu giá hoặc được người bán hàng uỷ quyền;

    3. Tổ chức cuộc đấu giá;

    4. Yêu cầu người mua hàng thực hiện việc thanh toán;

    5. Nhận thù lao dịch vụ đấu giá do người bán hàng trả theo quyđịnh tại Điều 211 của Luật này.

    Điều 190. Nghĩa vụ của người tổ chức đấugiá

    1. Tổ chức đấu giá hàng hoá theo đúng nguyên tắc, thủ tục do phápluật quy định và theo phương thức đấu giá thoả thuận với người bán hàng.

    3. Bảo quản hàng hoá đấu giá khi được người bán hàng giao giữ.

    4. Trưng bày hàng hoá, mẫu hàng hóa hoặc tài liệu giới thiệu vềhàng hóa cho người tham gia đấu giá xem xét.

    6. Giao hàng hóa đấu giá cho người mua phù hợp với hợp đồng tổchức dịch vụ đấu giá hàng hoá.

    7. Làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá bán đấu giáphải đăng ký quyền sở hữu theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp có thỏathuận khác với người bán hàng.

    8. Thanh toán cho người bán hàng tiền hàng đã bán, kể cả khoảntiền chênh lệch thu được từ người rút lại giá đã trả quy định tại khoản 3 Điều204 của Luật này hoặc trả lại hàng hoá không bán được cho người bán hàng theothoả thuận. Trường hợp không có thoả thuận thì phải thanh toán tiền cho ngườibán hàng chậm nhất là ba ngày làm việc sau khi nhận được tiền của người muahàng hoặc phải trả lại ngay hàng hoá trong thời hạn hợp lý sau cuộc đấu giá.

    Điều 191. Quyền của người bán hàng khôngphải là người tổ chức đấu giá

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, người bán hàng có các quyền sauđây:

    1. Nhận tiền hàng đã bán đấu giá và khoản chênh lệch thu đượctrong trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 204 của Luật này hoặc nhận lại hànghoá trong trường hợp đấu giá không thành;

    2. Giám sát việc tổ chức bán đấu giá hàng hoá.

    Điều 192. Nghĩa vụ của người bán hàngkhông phải là người tổ chức đấu giá

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, người bán hàng có các nghĩa vụsau đây:

    2. Trả thù lao dịch vụ tổ chức đấu giá theo quy định tại Điều 211của Luật này.

    Điều 193. Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giáhàng hoá

    1. Hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá phải được lập thànhvăn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    2. Trường hợp hàng hoá được đấu giá là đối tượng cầm cố, thế chấpthì hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá phải được sự đồng ý của bên nhận cầm cố,thế chấp và bên bán phải thông báo cho các bên tham gia đấu giá về hàng hóa đangbị cầm cố, thế chấp.

    3. Trường hợp trong hợp đồng cầm cố, thế chấp có thoả thuận vềviệc bán đấu giá mà người cầm cố, thế chấp vắng mặt không có lý do chính đánghoặc từ chối giao kết hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá thì hợp đồngdịch vụ tổ chức đấu giá được giao kết giữa người nhận cầm cố, thế chấp vớingười tổ chức đấu giá.

    Điều 194. Xác định giá khởi điểm

    1. Người bán hàng phải xác định giá khởi điểm. Trong trường hợpngười tổ chức đấu giá được uỷ quyền xác định giá khởi điểm thì phải thông báocho người bán hàng trước khi niêm yết việc bán đấu giá.

    2. Trường hợp hàng hoá đấu giá là đối tượng cầm cố, thế chấp thìngười nhận cầm cố, thế chấp phải thoả thuận với người cầm cố, thế chấp xác địnhgiá khởi điểm.

    3. Trường hợp trong hợp đồng cầm cố, thế chấp có thoả thuận vềviệc bán đấu giá mà người cầm cố, thế chấp vắng mặt không có lý do chính đánghoặc từ chối giao kết hợp đồng dịch vụ tổ chức đấu giá hàng hoá thì giá khởiđiểm do người nhận cầm cố, thế chấp xác định.

    Điều 196. Thời hạn thông báo và niêm yếtđấu giá hàng hoá

    1. Chậm nhất là bảy ngày làm việc trước khi tiến hành bán đấu giáhàng hoá, người tổ chức đấu giá phải niêm yết việc bán đấu giá tại nơi tổ chứcđấu giá, nơi trưng bày hàng hoá và nơi đặt trụ sở của người tổ chức đấu giátheo quy định tại Điều 197 của Luật này.

    2. Trường hợp người tổ chức đấu giá hàng hóa là người bán hàng thìthời hạn niêm yết đấu giá hàng hóa do người bán hàng tự quyết định.

    Điều 197. Nội dung thông báo và niêm yếtđấu giá hàng hóa

    Thông báo và niêm yết đấu giá hàng hóa phải có đầy đủ các nội dungsau đây:

    1. Thời gian, địa điểm đấu giá;

    2. Tên, địa chỉ của người tổ chức đấu giá;

    3. Tên, địa chỉ của người bán hàng;

    5. Giá khởi điểm;

    7. Địa điểm, thời gian trưng bày hàng hoá;

    8. Địa điểm, thời gian tham khảo hồ sơ hàng hoá;

    9. Địa điểm, thời gian đăng ký mua hàng hoá.

    Điều 198. Những người không được tham giađấu giá

    1. Người không có năng lực hành vi dân sự, người mất năng lực hànhvi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dânsự hoặc người tại thời điểm đấu giá không nhận thức, làm chủ được hành vi củamình.

    2. Những người làm việc trong tổ chức bán đấu giá hàng hoá; cha,mẹ, vợ, chồng, con của những người đó.

    3. Người đã trực tiếp thực hiện việc giám định hàng hoá bán đấugiá; cha, mẹ, vợ, chồng, con của người đó.

    4. Những người không có quyền mua hàng hoá đấu giá theo quy địnhcủa pháp luật.

    Điều 199. Đăng ký tham gia đấu giá

    1. Người tổ chức đấu giá có thể yêu cầu người muốn tham gia đấugiá phải đăng ký tham gia trước khi bán đấu giá.

    2. Người tổ chức đấu giá có thể yêu cầu người tham gia đấu giá nộpmột khoản tiền đặt trước, nhưng không quá 2% giá khởi điểm của hàng hoá đượcđấu giá.

    3. Trường hợp người tham gia đấu giá mua được hàng hoá bán đấu giáthì khoản tiền đặt trước được trừ vào giá mua, nếu không mua được thì khoảntiền đặt trước được trả lại cho người đã nộp khoản tiền đặt trước đó ngay saukhi cuộc đấu giá kết thúc.

    4. Trường hợp người đăng ký tham gia đấu giá đã nộp một khoản tiềnđặt trước nhưng sau đó không dự cuộc đấu giá thì người tổ chức đấu giá có quyềnthu khoản tiền đặt trước đó.

    Điều 200. Trưng bày hàng hoá đấu giá

    Hàng hoá, mẫu hàng hoá, tài liệu giới thiệu về hàng hoá và cácthông tin cần thiết khác về hàng hoá đó phải được trưng bày tại địa điểm đượcthông báo từ khi niêm yết.

    Điều 201. Tiến hành cuộc đấu giá

    Cuộc đấu giá được tiến hành theo trình tự sau đây:

    1. Người điều hành đấu giá điểm danh người đã đăng ký tham gia đấugiá hàng hoá;

    2. Người điều hành đấu giá giới thiệu từng hàng hoá bán đấu giá,nhắc lại giá khởi điểm, trả lời các câu hỏi của người tham gia đấu giá và yêucầu người tham gia đấu giá trả giá;

    3. Đối với phương thức trả giá lên, người điều hành đấu giá phảinhắc lại một cách rõ ràng, chính xác giá đã trả sau cùng cao hơn giá ngườitrước đã trả ít nhất là ba lần, mỗi lần cách nhau ít nhất ba mươi giây. Ngườiđiều hành đấu giá chỉ được công bố người mua hàng hoá bán đấu giá, nếu sau balần nhắc lại giá người đó đã trả mà không có người nào trả giá cao hơn;

    4. Đối với phương thức đặt giá xuống, người điều hành đấu giá phảinhắc lại một cách rõ ràng, chính xác từng mức giá được hạ xuống thấp hơn giákhởi điểm ít nhất là ba lần, mỗi lần cách nhau ít nhất ba mươi giây. Người điềuhành đấu giá phải công bố ngay người đầu tiên chấp nhận mức giá khởi điểm hoặcmức giá hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng hóa đấu giá;

    5. Trường hợp có nhiều người đồng thời trả mức giá cuối cùng đốivới phương thức trả giá lên hoặc mức giá đầu tiên đối với phương thức đặt giáxuống, người điều hành đấu giá phải tổ chức rút thăm giữa những người đó vàcông bố người rút trúng thăm được mua là người mua hàng hoá bán đấu giá;

    6. Người điều hành đấu giá phải lập văn bản bán đấu giá hàng hoángay tại cuộc đấu giá, kể cả trong trường hợp đấu giá không thành. Văn bản bánđấu giá phải ghi rõ kết quả đấu giá, có chữ ký của người điều hành đấu giá,người mua hàng và hai người chứng kiến trong số những người tham gia đấu giá;đối với hàng hoá bán đấu giá phải có công chứng nhà nước theo quy định của phápluật thì văn bản bán đấu giá cũng phải được công chứng.

    Điều 202. Đấu giá không thành

    Cuộc đấu giá được coi là không thành trong các trường hợp sau đây:

    1. Không có người tham gia đấu giá, trả giá;

    2. Giá cao nhất đã trả thấp hơn mức giá khởi điểm đối với phươngthức trả giá lên.

    Điều 203. Văn bản bán đấu giá hàng hoá

    1. Văn bản bán đấu giá hàng hoá là văn bản xác nhận việc mua bán.Văn bản bán đấu giá hàng hoá phải có các nội dung sau đây:

    a) Tên, địa chỉ của người tổ chức đấu giá;

    b) Tên, địa chỉ của người điều hành đấu giá;

    c) Tên, địa chỉ của người bán hàng;

    d) Tên, địa chỉ của người mua hàng;

    đ) Thời gian, địa điểm đấu giá;

    e) Hàng hoá bán đấu giá;

    g) Giá đã bán;

    h) Tên, địa chỉ của hai người chứng kiến.

    3. Trường hợp đấu giá không thành, trong văn bản bán đấu giá hànghoá phải nêu rõ kết quả là đấu giá không thành và phải có các nội dung quy địnhtại các điểm a, b, c, đ, e và h khoản 1 Điều này.

    Điều 204. Rút lại giá đã trả

    1. Trường hợp đấu giá theo phương thức trả giá lên, nếu người trảgiá cao nhất rút ngay lại giá đã trả thì cuộc đấu giá vẫn được tiếp tục từ giácủa người trả giá liền kề trước đó. Trường hợp bán đấu giá theo phương thức đặtgiá xuống, nếu người đầu tiên chấp nhận mức giá rút ngay lại giá đã chấp nhậnthì cuộc đấu giá vẫn được tiếp tục từ giá đã đặt liền kề trước đó.

    2. Người rút lại giá đã trả hoặc người rút lại việc chấp nhận giákhông được tiếp tục tham gia đấu giá.

    3. Trường hợp giá bán hàng hoá thấp hơn giá mà người rút lại giáđã trả đối với phương thức trả giá lên hoặc giá mà người rút lại việc chấp nhậnđối với phương thức đặt giá xuống thì người đó phải trả khoản tiền chênh lệchcho người tổ chức đấu giá, nếu hàng hoá bán được giá cao hơn thì người rút lạikhông được hưởng khoản tiền chênh lệch đó.

    4. Trường hợp cuộc đấu giá không thành thì người rút lại giá đãtrả phải chịu chi phí cho việc bán đấu giá và không được hoàn trả khoản tiềnđặt trước.

    Điều 205. Từ chối mua

    2. Trong trường hợp người mua được hàng hoá đấu giá đã nộp mộtkhoản tiền đặt trước mà từ chối mua thì không được hoàn trả khoản tiền đặttrước đó. Khoản tiền đặt trước đó thuộc về người bán hàng.

    Điều 206. Đăng ký quyền sở hữu

    1. Văn bản bán đấu giá hàng hoá được dùng làm căn cứ để chuyểnquyền sở hữu đối với hàng hoá đấu giá mà theo quy định của pháp luật phải đăngký quyền sở hữu.

    2. Căn cứ vào văn bản bán đấu giá hàng hoá và các giấy tờ hợp lệkhác, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm đăng ký quyền sở hữu hànghoá cho người mua hàng theo quy định của pháp luật.

    3. Người bán hàng và người tổ chức đấu giá có nghĩa vụ làm thủ tụcchuyển quyền sở hữu hàng hoá cho người mua hàng. Chi phí làm thủ tục chuyểnquyền sở hữu được trừ vào tiền bán hàng hoá, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

    Điều 207. Thời điểm thanh toán tiền muahàng hoá

    Thời điểm thanh toán tiền mua hàng hoá do người tổ chức đấu giá vàngười mua hàng hoá đấu giá thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì thời điểmthanh toán tiền mua hàng hoá là thời điểm theo quy định tại Điều 55 của Luậtnày.

    Điều 208. Địa điểm thanh toán tiền muahàng hoá

    Địa điểm thanh toán tiền mua hàng hoá do người tổ chức đấu giá vàngười mua hàng thoả thuận; nếu không có thoả thuận thì địa điểm thanh toán làtrụ sở kinh doanh của người tổ chức đấu giá.

    Điều 209. Thời hạn giao hàng hoá bán đấugiá

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa người tổ chức đấu giá vàngười mua hàng, thời hạn giao hàng hoá bán đấu giá được quy định như sau:

    1. Đối với hàng hoá không phải đăng ký quyền sở hữu thì người tổchức đấu giá phải giao ngay hàng hoá cho người mua hàng sau khi lập văn bản bánđấu giá;

    2. Đối với hàng hoá có đăng ký quyền sở hữu thì người tổ chức đấugiá phải tiến hành ngay việc làm thủ tục chuyển quyền sở hữu và giao hàng chongười mua hàng ngay sau khi hoàn thành thủ tục chuyển quyền sở hữu.

    Điều 210. Địa điểm giao hàng hoá bán đấugiá

    1. Trường hợp hàng hoá là những vật gắn liền với đất đai thì địađiểm giao hàng là nơi có hàng hóa đó.

    2. Trường hợp hàng hoá là động sản thì địa điểm giao hàng là nơitổ chức đấu giá, trừ trường hợp người tổ chức đấu giá và người mua hàng có thoảthuận khác.

    Điều 211. Thù lao dịch vụ đấu giá hàng hoá

    Trường hợp không có thoả thuận về mức thù lao dịch vụ đấu giá hànghóa thì thù lao được xác định như sau:

    1. Trường hợp cuộc đấu giá thành công thì thù lao dịch vụ đấu giáđược xác định theo Điều 86 của Luật này;

    2. Trường hợp đấu giá không thành thì người bán hàng phải trả mứcthù lao bằng 50% của mức thù lao quy định tại khoản 1 Điều này.

    1. Người bán hàng phải chịu chi phí vận chuyển hàng hoá đến địađiểm đã thoả thuận và chi phí bảo quản hàng hoá trong trường hợp không giaohàng hoá cho người tổ chức đấu giá bảo quản;

    Điều 213. Trách nhiệm đối với hàng hóa bánđấu giá không phù hợp với thông báo, niêm yết

    1. Trong thời hạn quy định tại Điều 318 của Luật này, người muahàng có quyền trả lại hàng hóa cho người tổ chức đấu giá và yêu cầu bồi thườngthiệt hại nếu hàng hóa bán đấu giá không phù hợp với thông báo, niêm yết.

    2. Trường hợp người tổ chức đấu giá quy định tại khoản 1 Điều nàykhông phải là người bán hàng và nội dung thông báo, niêm yết không phù hợp làdo lỗi của người bán hàng thì người tổ chức đấu giá có quyền trả lại hàng hóavà yêu cầu người bán hàng bồi thường thiệt hại.

    ĐẤU THẦUHÀNG HÓA, DỊCH VỤ

    Điều 214. Đấu thầu hàng hoá, dịch vụ

    1. Đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó mộtbên mua hàng hoá, dịch vụ thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựachọn trong số các thương nhân tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thươngnhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để kýkết và thực hiện hợp đồng (gọi là bên trúng thầu).

    2. Các quy định về đấu thầu trong Luật này không áp dụng đối vớiđấu thầu mua sắm công theo quy định của pháp luật.

    Điều 215. Hình thức đấu thầu

    1. Việc đấu thầu hàng hoá, dịch vụ được thực hiện theo một tronghai hình thức sau đây:

    a) Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu khônghạn chế số lượng các bên dự thầu;

    b) Đấu thầu hạn chế là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mờimột số nhà thầu nhất định dự thầu.

    2. Việc chọn hình thức đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế dobên mời thầu quyết định.

    Điều 216. Phương thức đấu thầu

    1. Phương thức đấu thầu bao gồm đấu thầu một túi hồ sơ và đấu thầuhai túi hồ sơ. Bên mời thầu có quyền lựa chọn phương thức đấu thầu và phảithông báo trước cho các bên dự thầu.

    2. Trong trường hợp đấu thầu theo phương thức đấu thầu một túi hồsơ, bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chínhtrong một túi hồ sơ theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và việc mở thầu được tiếnhành một lần.

    3. Trong trường hợp đấu thầu theo phương thức đấu thầu hai túi hồsơ thì bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tàichính trong từng túi hồ sơ riêng biệt được nộp trong cùng một thời điểm và việcmở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước.

    Điều 217. Sơ tuyển các bên dự thầu

    Bên mời thầu có thể tổ chức sơ tuyển các bên dự thầu nhằm lựa chọnnhững bên dự thầu có khả năng đáp ứng các điều kiện mà bên mời thầu đưa ra.

    Điều 218. Hồ sơ mời thầu

    1. Hồ sơ mời thầu bao gồm:

    a) Thông báo mời thầu;

    c) Phương pháp đánh giá, so sánh, xếp hạng và lựa chọn nhà thầu;

    2. Chi phí về việc cung cấp hồ sơ cho bên dự thầu do bên mời thầuquy định.

    Điều 219. Thông báo mời thầu

    1. Thông báo mời thầu gồm các nội dung chủ yếu sau đây:

    a) Tên, địa chỉ của bên mời thầu;

    b) Tóm tắt nội dung đấu thầu;

    c) Thời hạn, địa điểm và thủ tục nhận hồ sơ mời thầu;

    d) Thời hạn, địa điểm, thủ tục nộp hồ sơ dự thầu;

    đ) Những chỉ dẫn để tìm hiểu hồ sơ mời thầu.

    2. Bên mời thầu có trách nhiệm thông báo rộng rãi trên các phươngtiện thông tin đại chúng đối với trường hợp đấu thầu rộng rãi hoặc gửi thôngbáo mời đăng ký dự thầu đến các nhà thầu đủ điều kiện trong trường hợp đấu thầuhạn chế.

    Điều 220. Chỉ dẫn cho bên dự thầu

    Bên mời thầu có trách nhiệm chỉ dẫn cho bên dự thầu về các điềukiện dự thầu, các thủ tục được áp dụng trong quá trình đấu thầu và giải đáp cáccâu hỏi của bên dự thầu.

    Điều 221. Quản lý hồ sơ dự thầu

    Bên mời thầu có trách nhiệm quản lý hồ sơ dự thầu.

    Điều 222. Bảo đảm dự thầu

    1. Bảo đảm dự thầu được thực hiện dưới hình thức đặt cọc, ký quỹhoặc bảo lãnh dự thầu.

    2. Bên mời thầu có thể yêu cầu bên dự thầu nộp tiền đặt cọc, kýquỹ hoặc bảo lãnh dự thầu khi nộp hồ sơ dự thầu. Tỷ lệ tiền đặt cọc, ký quỹ dựthầu do bên mời thầu quy định, nhưng không quá 3% tổng giá trị ước tính củahàng hoá, dịch vụ đấu thầu.

    3. Bên mời thầu quy định hình thức, điều kiện đặt cọc, ký quỹ hoặcbảo lãnh dự thầu. Trong trường hợp đặt cọc, ký quỹ thì tiền đặt cọc, ký quỹ dựthầu được trả lại cho bên dự thầu không trúng thầu trong thời hạn bảy ngày làmviệc, kể từ ngày công bố kết quả đấu thầu.

    4. Bên dự thầu không được nhận lại tiền đặt cọc, ký quỹ dự thầutrong trường hợp rút hồ sơ dự thầu sau thời điểm hết hạn nộp hồ sơ dự thầu (gọilà thời điểm đóng thầu), không ký hợp đồng hoặc từ chối thực hiện hợp đồngtrong trường hợp trúng thầu.

    5. Bên nhận bảo lãnh cho bên dự thầu có nghĩa vụ bảo đảm dự thầucho bên được bảo lãnh trong phạm vi giá trị tương đương với số tiền đặt cọc, kýquỹ.

    Điều 223. Bảo mật thông tin đấu thầu

    1. Bên mời thầu phải bảo mật hồ sơ dự thầu.

    Điều 224. Mở thầu

    1. Mở thầu là việc tổ chức mở hồ sơ dự thầu tại thời điểm đã đượcấn định hoặc trong trường hợp không có thời điểm được ấn định trước thì thờiđiểm mở thầu là ngay sau khi đóng thầu.

    2. Những hồ sơ dự thầu nộp đúng hạn phải được bên mời thầu mở côngkhai. Các bên dự thầu có quyền tham dự mở thầu.

    3. Những hồ sơ dự thầu nộp không đúng hạn không được chấp nhận vàđược trả lại cho bên dự thầu dưới dạng chưa mở.

    Điều 225. Xét hồ sơ dự thầu khi mở thầu

    1. Bên mời thầu xét tính hợp lệ của hồ sơ dự thầu.

    2. Bên mời thầu có thể yêu cầu các bên dự thầu giải thích nhữngnội dung chưa rõ trong hồ sơ dự thầu. Việc yêu cầu và giải thích hồ sơ dự thầuphải được lập thành văn bản.

    Điều 226. Biên bản mở thầu

    1. Khi mở thầu, bên mời thầu và các bên dự thầu có mặt phải ký vàobiên bản mở thầu.

    2. Biên bản mở thầu phải có các nội dung sau đây:

    a) Tên hàng hoá, dịch vụ đấu thầu;

    b) Ngày, giờ, địa điểm mở thầu;

    c) Tên, địa chỉ của bên mời thầu, các bên dự thầu;

    d) Giá bỏ thầu của các bên dự thầu;

    Điều 227. Đánh giá và so sánh hồ sơ dựthầu

    1. Hồ sơ dự thầu được đánh giá và so sánh theo từng tiêu chuẩn làmcăn cứ để đánh giá toàn diện.

    Các tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu do bên mời thầu quy định.

    2. Các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này được đánh giá bằngphương pháp cho điểm theo thang điểm hoặc phương pháp khác đã được ấn địnhtrước khi mở thầu.

    Điều 228. Sửa đổi hồ sơ dự thầu

    1. Các bên dự thầu không được sửa đổi hồ sơ dự thầu sau khi đã mởthầu.

    3. Trường hợp bên mời thầu sửa đổi một số nội dung trong hồ sơ mờithầu, bên mời thầu phải gửi nội dung đã sửa đổi bằng văn bản đến tất cả các bêndự thầu trước thời hạn cuối cùng nộp hồ sơ dự thầu ít nhất là mười ngày để cácbên dự thầu có điều kiện hoàn chỉnh thêm hồ sơ dự thầu của mình.

    Điều 229. Xếp hạng và lựa chọn nhà thầu

    1. Căn cứ vào kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu phảixếp hạng và lựa chọn các bên dự thầu theo phương pháp đã được ấn định.

    2. Trong trường hợp có nhiều bên tham gia dự thầu có số điểm, tiêuchuẩn trúng thầu ngang nhau thì bên mời thầu có quyền chọn nhà thầu.

    Điều 230. Thông báo kết quả đấu thầu và kýkết hợp đồng

    1. Ngay sau khi có kết quả đấu thầu, bên mời thầu có trách nhiệmthông báo kết quả đấu thầu cho bên dự thầu.

    2. Bên mời thầu tiến hành hoàn thiện và ký kết hợp đồng với bêntrúng thầu trên cơ sở sau đây:

    a) Kết quả đấu thầu;

    b) Các yêu cầu nêu trong hồ sơ mời thầu;

    c) Nội dung nêu trong hồ sơ dự thầu.

    Điều 231. Bảo đảm thực hiện hợp đồng

    1. Các bên có thể thỏa thuận bên trúng thầu phải đặt cọc, ký quỹhoặc được bảo lãnh để bảo đảm thực hiện hợp đồng. Số tiền đặt cọc, ký quỹ dobên mời thầu quy định, nhưng không quá 10% giá trị hợp đồng.

    2. Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng có hiệu lực cho đến thờiđiểm bên trúng thầu hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng.

    3. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên trúng thầu được nhận lạitiền đặt cọc, ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng khi thanh lý hợp đồng. Bêntrúng thầu không được nhận lại tiền đặt cọc, ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồngnếu từ chối thực hiện hợp đồng sau khi hợp đồng được giao kết.

    4. Sau khi nộp tiền đặt cọc, ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng,bên trúng thầu được hoàn trả tiền đặt cọc, ký quỹ dự thầu.

    Điều 232. Đấu thầu lại

    Việc đấu thầu lại được tổ chức khi có một trong các trường hợp sauđây:

    1. Có sự vi phạm các quy định về đấu thầu;

    2. Các bên dự thầu đều không đạt yêu cầu đấu thầu.

    DỊCH VỤLOGISTICS

    Điều 233. Dịch vụ logistics

    Điều 234. Điều kiện kinh doanh dịch vụlogistics

    1. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics là doanh nghiệp có đủđiều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo quy định của pháp luật.

    2. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụlogistics.

    Điều 235. Quyền và nghĩa vụ của thươngnhân kinh doanh dịch vụ logistics

    1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân kinh doanh dịchvụ logistics có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

    a) Được hưởng thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác;

    b) Trong quá trình thực hiện hợp đồng, nếu có lý do chính đáng vìlợi ích của khách hàng thì thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có thể thựchiện khác với chỉ dẫn của khách hàng, nhưng phải thông báo ngay cho khách hàng;

    c) Khi xảy ra trường hợp có thể dẫn đến việc không thực hiện đượcmột phần hoặc toàn bộ những chỉ dẫn của khách hàng thì phải thông báo ngay chokhách hàng để xin chỉ dẫn;

    d) Trường hợp không có thoả thuận về thời hạn cụ thể thực hiệnnghĩa vụ với khách hàng thì phải thực hiện các nghĩa vụ của mình trong thời hạnhợp lý.

    2. Khi thực hiện việc vận chuyển hàng hóa, thương nhân kinh doanhdịch vụ logistics phải tuân thủ các quy định của pháp luật và tập quán vận tải.

    Điều 236. Quyền và nghĩa vụ của khách hàng

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, khách hàng có các quyền vànghĩa vụ sau đây:

    1. Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện hợp đồng;

    2. Cung cấp đầy đủ chỉ dẫn cho thương nhân kinh doanh dịch vụlogistics;

    3. Thông tin chi tiết, đầy đủ, chính xác và kịp thời về hàng hoácho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics;

    4. Đóng gói, ghi ký mã hiệu hàng hoá theo hợp đồng mua bán hànghoá, trừ trường hợp có thỏa thuận để thương nhân kinh doanh dịch vụ logisticsđảm nhận công việc này;

    5. Bồi thường thiệt hại, trả các chi phí hợp lý phát sinh chothương nhân kinh doanh dịch vụ logistics nếu người đó đã thực hiện đúng chỉ dẫncủa mình hoặc trong trường hợp do lỗi của mình gây ra;

    6. Thanh toán cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics mọikhoản tiền đã đến hạn thanh toán.

    Điều 237. Các trường hợp miễn trách nhiệmđối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

    1. Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294của Luật này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu tráchnhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sauđây:

    a) Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được kháchhàng uỷ quyền;

    b) Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logisticslàm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷquyền;

    c) Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá;

    d) Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theoquy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụlogistics tổ chức vận tải;

    đ) Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thôngbáo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinhdoanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận;

    e) Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logisticskhông nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thờihạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.

    2. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu tráchnhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễhoặc thực hiện dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình.

    Điều 238. Giới hạn trách nhiệm

    1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, toàn bộ trách nhiệm củathương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệmđối với tổn thất toàn bộ hàng hoá.

    2. Chính phủ quy định chi tiết giới hạn trách nhiệm đối với thươngnhân kinh doanh dịch vụ logistics phù hợp với các quy định của pháp luật và tậpquán quốc tế.

    3. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không được hưởng quyềngiới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu người có quyền và lợi ích liênquan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm là do thươngnhân kinh doanh dịch vụ logistics cố ý hành động hoặc không hành động để gây ramất mát, hư hỏng, chậm trễ hoặc đã hành động hoặc không hành động một cách mạohiểm và biết rằng sự mất mát, hư hỏng, chậm trễ đó chắc chắn xảy ra.

    Điều 239. Quyền cầm giữ và định đoạt hànghoá

    3. Trước khi định đoạt hàng hoá, thương nhân kinh doanh dịch vụlogistics phải thông báo ngay cho khách hàng biết về việc định đoạt hàng hoáđó.

    4. Mọi chi phí cầm giữ, định đoạt hàng hoá do khách hàng chịu.

    Điều 240. Nghĩa vụ của thương nhân kinhdoanh dịch vụ logistics khi cầm giữ hàng hoá

    Khi chưa thực hiện quyền định đoạt hàng hoá theo quy định tại Điều239 của Luật này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics thực hiện quyền cầmgiữ hàng hoá có các nghĩa vụ sau đây:

    1. Bảo quản, giữ gìn hàng hoá;

    2. Không được sử dụng hàng hoá nếu không được bên có hàng hoá bịcầm giữ đồng ý;

    3. Trả lại hàng hoá khi các điều kiện cầm giữ, định đoạt hàng hoáquy định tại Điều 239 của Luật này không còn;

    4. Bồi thường thiệt hại cho bên có hàng hoá bị cầm giữ nếu làm mấtmát hoặc hư hỏng hàng hoá cầm giữ.

    QUÁ CẢNHHÀNG HÓA QUA LÃNH THỔ VIỆT NAMVÀ DỊCH VỤ QUÁ CẢNH HÀNG HÓA

    Điều 241. Quá cảnh hàng hóa

    Quá cảnh hàng hóa là việc vận chuyển hàng hóa thuộc sở hữu của tổchức, cá nhân nước ngoài qua lãnh thổ Việt Nam, kể cả việc trung chuyển, chuyểntải, lưu kho, chia tách lô hàng, thay đổi phương thức vận tải hoặc các côngviệc khác được thực hiện trong thời gian quá cảnh.

    Điều 242. Quyền quá cảnh hàng hóa

    1. Mọi hàng hóa thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhân nước ngoài đềuđược quá cảnh lãnh thổ Việt Namvà chỉ cần làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập và cửa khẩu xuất theo quyđịnh của pháp luật, trừ các trường hợp sau đây:

    a) Hàng hóa là các loại vũ khí, đạn dược, vật liệu nổ và các loạihàng hóa có độ nguy hiểm cao khác, trừ trường hợp được Thủ tướng Chính phủ chophép;

    b) Hàng hóa thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhậpkhẩu chỉ được quá cảnh lãnh thổ Việt Nam khi được Bộ trưởng Bộ Thươngmại cho phép.

    2. Hàng hóa quá cảnh khi xuất khẩu, phương tiện vận tải chở hàngquá cảnh khi xuất cảnh khỏi lãnh thổ Việt Nam phải đúng là toàn bộ hàng hóa đãnhập khẩu, phương tiện vận tải đã nhập cảnh vào lãnh thổ Việt Nam.

    3. Tổ chức, cá nhân nước ngoài muốn quá cảnh hàng hoá qua lãnh thổViệt Nam phải thuê thương nhân Việt Nam kinh doanh dịch vụ quá cảnh thực hiện,trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

    4. Việc tổ chức, cá nhân nước ngoài tự mình thực hiện quá cảnhhàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam, thuê thương nhân nước ngoài thực hiện quá cảnhhàng hoá qua lãnh thổ Việt Nam được thực hiện theo điều ước quốc tế mà Cộng hòaxã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và phải tuân thủ quy định của pháp luậtViệt Nam về xuất cảnh, nhập cảnh và giao thông vận tải.

    Điều 243. Tuyến đường quá cảnh

    1. Hàng hóa chỉ được quá cảnh qua các cửa khẩu quốc tế và theođúng những tuyến đường nhất định trên lãnh thổ Việt Nam.

    2. Căn cứ điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thànhviên, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quy định cụ thể tuyến đường được vậnchuyển hàng hoá quá cảnh.

    3. Trong thời gian quá cảnh, việc thay đổi tuyến đường được vậnchuyển hàng hoá quá cảnh phải được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Giao thông vậntải.

    Điều 244. Quá cảnh bằng đường hàng không

    Quá cảnh bằng đường hàng không được thực hiện theo quy định củađiều ước quốc tế về hàng không mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làthành viên.

    Điều 245. Giám sát hàng hóa quá cảnh

    Hàng hóa quá cảnh lãnh thổ Việt Nam phải chịu sự giám sát của cơquan Hải quan Việt Nam trong toàn bộ thời gian quá cảnh.

    Điều 246. Thời gian quá cảnh

    1. Thời gian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam tối đa là ba mươi ngày kểtừ ngày hoàn thành thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập, trừ trường hợp hàng hóađược lưu kho tại Việt Nam hoặc bị hư hỏng, tổn thất trong quá trình quá cảnh.

    2. Đối với trường hợp hàng hóa được lưu kho tại Việt Nam hoặc bịhư hỏng, tổn thất trong thời gian quá cảnh cần phải có thêm thời gian để lưukho, khắc phục hư hỏng, tổn thất thì thời gian quá cảnh được gia hạn tương ứngvới thời gian cần thiết để thực hiện các công việc đó và phải được cơ quan Hảiquan nơi làm thủ tục quá cảnh chấp thuận; trường hợp hàng hóa quá cảnh theogiấy phép của Bộ trưởng Bộ Thương mại thì phải được Bộ trưởng Bộ Thương mạichấp thuận.

    3. Trong thời gian lưu kho và khắc phục hư hỏng, tổn thất quy địnhtại khoản 2 Điều này, hàng hóa và phương tiện vận tải chở hàng quá cảnh vẫnphải chịu sự giám sát của cơ quan Hải quan Việt Nam.

    Điều 247. Hàng hoá quá cảnh tiêu thụ tạiViệt Nam

    1. Hàng hoá quá cảnh thuộc diện quy định tại điểm a và điểm bkhoản 1 Điều 242 của Luật này không được phép tiêu thụ tại Việt Nam.

    2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, hàng hoá quá cảnhđược phép tiêu thụ tại Việt Namnếu được sự chấp thuận bằng văn bản của Bộ trưởng Bộ Thương mại.

    3. Việc tiêu thụ hàng hoá quá cảnh tại Việt Nam phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam vềnhập khẩu hàng hoá, thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ tài chính khác.

    Điều 248. Những hành vi bị cấm trong quácảnh

    1. Thanh toán thù lao quá cảnh bằng hàng hóa quá cảnh.

    2. Tiêu thụ trái phép hàng hóa, phương tiện vận tải chở hàng quácảnh.

    Điều 249. Dịch vụ quá cảnh hàng hóa

    Dịch vụ quá cảnh hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó thươngnhân thực hiện việc quá cảnh cho hàng hóa thuộc sở hữu của tổ chức, cá nhânnước ngoài qua lãnh thổ Việt Namđể hưởng thù lao.

    Điều 250. Điều kiện kinh doanh dịch vụ quácảnh

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ quá cảnh phải là doanh nghiệp cóđăng ký kinh doanh dịch vụ vận tải, kinh doanh dịch vụ logistics theo quy địnhtại Điều 234 của Luật này.

    Điều 251. Hợp đồng dịch vụ quá cảnh

    Hợp đồng dịch vụ quá cảnh phải được lập thành văn bản hoặc bằnghình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 252. Quyền và nghĩa vụ của bên thuêdịch vụ quá cảnh

    1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên thuê dịch vụ quá cảnh cócác quyền sau đây:

    a) Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ quá cảnh tiếp nhận hàng hóa tạicửa khẩu nhập theo thời gian đã thỏa thuận;

    b) Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ quá cảnh thông báo kịp thời vềtình trạng của hàng hóa quá cảnh trong thời gian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam;

    c) Yêu cầu bên cung ứng dịch vụ quá cảnh thực hiện mọi thủ tục cầnthiết để hạn chế những tổn thất, hư hỏng đối với hàng hóa quá cảnh trong thờigian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam.

    2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên thuê dịch vụ quá cảnh cócác nghĩa vụ sau đây:

    a) Đưa hàng hóa đến cửa khẩu nhập của Việt Nam theo đúng thời gian đã thỏathuận;

    b) Cung cấp đầy đủ cho bên cung ứng dịch vụ quá cảnh các thông tincần thiết về hàng hóa;

    c) Cung cấp đầy đủ các chứng từ cần thiết để bên cung ứng dịch vụquá cảnh làm thủ tục nhập khẩu, vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam và làm thủtục xuất khẩu;

    d) Thanh toán thù lao quá cảnh và các chi phí hợp lý khác cho bêncung ứng dịch vụ quá cảnh.

    Điều 253. Quyền và nghĩa vụ của bên cungứng dịch vụ quá cảnh

    1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên cung ứng dịch vụ quácảnh có các quyền sau đây:

    a) Yêu cầu bên thuê dịch vụ quá cảnh đưa hàng hóa đến cửa khẩunhập của Việt Namtheo đúng thời gian đã thỏa thuận;

    b) Yêu cầu bên thuê dịch vụ quá cảnh cung cấp đầy đủ thông tin cầnthiết về hàng hóa;

    c) Yêu cầu bên thuê dịch vụ quá cảnh cung cấp đầy đủ chứng từ cầnthiết để làm thủ tục nhập khẩu, vận chuyển trong lãnh thổ Việt Nam và làm thủtục xuất khẩu;

    d) Được nhận thù lao quá cảnh và các chi phí hợp lý khác.

    2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên cung ứng dịch vụ quácảnh có các nghĩa vụ sau đây:

    a) Tiếp nhận hàng hóa tại cửa khẩu nhập theo thời gian đã thỏathuận;

    b) Làm thủ tục nhập khẩu và xuất khẩu hàng hóa quá cảnh ra khỏilãnh thổ Việt Nam;

    c) Chịu trách nhiệm đối với hàng hóa quá cảnh trong thời gian quácảnh lãnh thổ Việt Nam;

    d) Thực hiện các công việc cần thiết để hạn chế những tổn thất, hưhỏng đối với hàng hóa quá cảnh trong thời gian quá cảnh lãnh thổ Việt Nam;

    đ) Nộp phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác đốivới hàng hóa quá cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam;

    DỊCH VỤ GIÁMĐỊNH

    Điều 254. Dịch vụ giám định

    Dịch vụ giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhânthực hiện những công việc cần thiết để xác định tình trạng thực tế của hànghoá, kết quả cung ứng dịch vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của kháchhàng.

    Điều 255. Nội dung giám định

    Giám định bao gồm một hoặc một số nội dung về số lượng, chấtlượng, bao bì, giá trị hàng hoá, xuất xứ hàng hoá, tổn thất, độ an toàn, tiêuchuẩn vệ sinh, phòng dịch, kết quả thực hiện dịch vụ, phương pháp cung ứng dịchvụ và các nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng.

    Điều 256. Thương nhân kinh doanh dịch vụgiám định thương mại

    Chỉ các thương nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật vàđược cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định thương mại mớiđược phép thực hiện dịch vụ giám định và cấp chứng thư giám định.

    Điều 257. Điều kiện kinh doanh dịch vụ giámđịnh thương mại

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải có đủ cácđiều kiện sau đây:

    1. Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật;

    2. Có giám định viên đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 259 củaLuật này;

    3. Có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hànghoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được cácnước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hoá, dịch vụ đó.

    Điều 258. Phạm vi kinh doanh dịch vụ giámđịnh thương mại

    Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại chỉ được cungcấp dịch vụ giám định trong các lĩnh vực giám định khi có đủ các điều kiện quyđịnh tại khoản 2 và khoản 3 Điều 257 của Luật này.

    Điều 259. Tiêu chuẩn giám định viên

    1. Giám định viên phải có đủ các tiêu chuẩn sau đây:

    a) Có trình độ đại học hoặc cao đẳng phù hợp với yêu cầu của lĩnhvực giám định;

    b) Có chứng chỉ chuyên môn về lĩnh vực giám định trong trường hợppháp luật quy định phải có chứng chỉ chuyên môn;

    c) Có ít nhất ba năm công tác trong lĩnh vực giám định hàng hoá,dịch vụ.

    2. Căn cứ vào các tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, giámđốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định công nhận giám định viên và chịutrách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình.

    Điều 260. Chứng thư giám định

    1. Chứng thư giám định là văn bản xác định tình trạng thực tế củahàng hóa, dịch vụ theo các nội dung giám định được khách hàng yêu cầu.

    2. Chứng thư giám định phải có chữ ký của người đại diện có thẩmquyền của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định, chữ ký, họ tên của giámđịnh viên và phải được đóng dấu nghiệp vụ được đăng ký tại cơ quan có thẩmquyền.

    3. Chứng thư giám định chỉ có giá trị đối với những nội dung đượcgiám định.

    4. Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định chịu trách nhiệm vềtính chính xác của kết quả và kết luận trong Chứng thư giám định.

    Điều 261. Giá trị pháp lý của chứng thưgiám định đối với bên yêu cầu giám định

    Chứng thư giám định có giá trị pháp lý đối với bên yêu cầu giámđịnh nếu bên yêu cầu giám định không chứng minh được kết quả giám định khôngkhách quan, không trung thực hoặc sai về kỹ thuật, nghiệp vụ giám định.

    Điều 262. Giá trị pháp lý của chứng thưgiám định đối với các bên trong hợp đồng

    1. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc sử dụng chứngthư giám định của một thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cụ thể thì chứngthư giám định đó có giá trị pháp lý đối với tất cả các bên nếu không chứng minhđược kết quả giám định không khách quan, không trung thực hoặc sai về kỹ thuật,nghiệp vụ giám định.

    2. Trong trường hợp các bên không có thoả thuận về việc sử dụngchứng thư giám định của một thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cụ thể thìchứng thư giám định chỉ có giá trị pháp lý đối với bên yêu cầu giám định theoquy định tại Điều 261 của Luật này. Bên kia trong hợp đồng có quyền yêu cầugiám định lại.

    3. Khi chứng thư giám định lại có kết quả khác với chứng thư giámđịnh ban đầu thì xử lý như sau:

    a) Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứngthư giám định ban đầu thừa nhận kết quả của chứng thư giám định lại thì kết quảcủa chứng thư giám định lại có giá trị pháp lý với tất cả các bên;

    b) Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứngthư giám định ban đầu không thừa nhận kết quả của chứng thư giám định lại thìcác bên thoả thuận lựa chọn một thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định khácgiám định lại lần thứ hai. Kết quả giám định lại lần thứ hai có giá trị pháp lývới tất cả các bên.

    Điều 263. Quyền và nghĩa vụ của thươngnhân kinh doanh dịch vụ giám định

    1. Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có các quyền sau đây:

    a) Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các tàiliệu cần thiết để thực hiện dịch vụ giám định;

    b) Nhận thù lao dịch vụ giám định và các chi phí hợp lý khác.

    2. Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có các nghĩa vụ sauđây:

    b) Giám định trung thực, khách quan, độc lập, kịp thời, đúng quytrình, phương pháp giám định;

    c) Cấp chứng thư giám định;

    d) Trả tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại theo quy định tạiĐiều 266 của Luật này.

    Điều 264. Quyền của khách hàng

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng có các quyền sauđây:

    1. Yêu cầu thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thực hiện việcgiám định theo nội dung đã thoả thuận;

    2. Yêu cầu giám định lại nếu có lý do chính đáng để cho rằngthương nhân kinh doanh dịch vụ giám định không thực hiện đúng các yêu cầu củamình hoặc thực hiện giám định thiếu khách quan, trung thực hoặc sai về kỹthuật, nghiệp vụ giám định;

    3. Yêu cầu trả tiền phạtvi phạm, bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 266 của Luật này.

    Điều 265. Nghĩa vụ của khách hàng

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng có các nghĩa vụ sauđây:

    1. Cung cấp đầy đủ, chính xác, kịp thời các tài liệu cần thiết chothương nhân kinh doanh dịch vụ giám định khi có yêu cầu;

    2. Trả thù lao dịch vụ giám định và các chi phí hợp lý khác.

    Điều 266. Phạt vi phạm, bồi thường thiệthại trong trường hợp kết quả giám định sai

    1. Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứngthư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt chokhách hàng. Mức phạt do các bên thỏa thuận, nhưng không vượt quá mười lần thùlao dịch vụ giám định.

    2. Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứngthư giám định có kết quả sai do lỗi cố ý của mình thì phải bồi thường thiệt hạiphát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định.

    3. Khách hàng có nghĩa vụ chứng minh kết quả giám định sai và lỗicủa thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định.

    Điều 267. Uỷ quyền giám định

    Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định nước ngoàiđược thuê thực hiện giám định mà chưa được phép hoạt động tại Việt Nam thìthương nhân đó được ủy quyền cho thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định đãđược phép hoạt động tại Việt Nam thực hiện dịch vụ giám định nhưng vẫn phảichịu trách nhiệm về kết quả giám định.

    Điều 268. Giám định theo yêu cầu của cơquan nhà nước

    1. Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có đủ điều kiện, tiêuchuẩn phù hợp với yêu cầu giám định có trách nhiệm giám định theo yêu cầu củacơ quan nhà nước.

    2. Cơ quan nhà nước yêu cầu giám định có trách nhiệm trả thù laogiám định cho thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định theo thỏa thuận giữa haibên trên cơ sở giá thị trường.

    CHO THUÊHÀNG HÓA

    Điều 269. Cho thuê hàng hoá

    Cho thuê hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó một bên chuyểnquyền chiếm hữu và sử dụng hàng hoá (gọi là bên cho thuê) cho bên khác (gọi làbên thuê) trong một thời hạn nhất định để nhận tiền cho thuê.

    Điều 270. Quyền và nghĩa vụ của bên chothuê

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên cho thuê có các quyền vànghĩa vụ sau đây:

    1. Giao hàng hoá cho thuê theo đúng hợp đồng cho thuê với bênthuê;

    3. Bảo đảm hàng hoá cho thuê phù hợp với mục đích sử dụng của bênthuê theo thoả thuận của các bên;

    4. Bảo dưỡng và sửa chữa hàng hóa cho thuê trong thời hạn hợp lý.Trường hợp việc sửa chữa và bảo dưỡng hàng hóa cho thuê gây phương hại đến việcsử dụng hàng hóa đó của bên thuê thì phải có trách nhiệm giảm giá thuê hoặc kéodài thời hạn cho thuê tương ứng với thời gian bảo dưỡng, sửa chữa;

    5. Nhận tiền cho thuê theo thoả thuận hoặc theo quy định của phápluật;

    6. Nhận lại hàng hoá cho thuê khi kết thúc thời hạn cho thuê.

    Điều 271. Quyền và nghĩa vụ của bên thuê

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên thuê có các quyền và nghĩavụ sau đây:

    1. Chiếm hữu và sử dụng hàng hoá cho thuê theo hợp đồng cho thuêvà theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp không có thỏa thuận cụ thể vềcách thức sử dụng hàng hóa cho thuê thì hàng hóa cho thuê phải được sử dụngtheo cách thức phù hợp với tính chất của hàng hóa đó;

    2. Giữ gìn và bảo quản hàng hoá cho thuê trong thời hạn thuê vàtrả lại hàng hoá đó cho bên cho thuê khi hết thời hạn;

    3. Yêu cầu bên cho thuê thực hiện việc bảo dưỡng, sửa chữa hànghóa; nếu bên cho thuê không thực hiện nghĩa vụ này trong một thời hạn hợp lýthì bên thuê có thể tiến hành bảo dưỡng, sửa chữa hàng hóa cho thuê và bên chothuê phải chịu các chi phí hợp lý của việc bảo dưỡng, sửa chữa đó;

    4. Trả tiền thuê hàng hoá theo thoả thuận hoặc theo quy định củapháp luật;

    5. Không được bán, cho thuê lại hàng hoá đã thuê.

    Điều 272. Sửa chữa, thay đổi tình trạngban đầu của hàng hóa cho thuê

    1. Bên thuê không được sửa chữa, thay đổi tình trạng ban đầu củahàng hóa cho thuê nếu không được bên cho thuê chấp thuận.

    2. Trường hợp bên thuê thực hiện việc sửa chữa, thay đổi tìnhtrạng ban đầu của hàng hóa cho thuê mà không có sự chấp thuận của bên cho thuêthì bên cho thuê có quyền yêu cầu bên thuê khôi phục lại tình trạng ban đầu củahàng hóa cho thuê hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại.

    Điều 273. Trách nhiệm đối với tổn thấttrong thời hạn thuê

    1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên cho thuê phải chịu tổnthất đối với hàng hoá cho thuê trong thời hạn thuê nếu bên thuê không có lỗigây ra tổn thất đó.

    2. Trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, bên cho thuê cótrách nhiệm sửa chữa hàng hoá cho thuê trong thời hạn hợp lý để bảo đảm mụcđích sử dụng của bên thuê.

    Điều 274. Chuyển rủi ro đối với hàng hóacho thuê

    Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc chuyển rủi ro cho bênthuê nhưng không xác định thời điểm chuyển rủi ro thì thời điểm chuyển rủi rođược xác định như sau:

    a) Nếu hợp đồng không yêu cầu giao hàng hoá cho thuê tại một địađiểm cụ thể thì rủi ro sẽ chuyển cho bên thuê khi hàng hoá cho thuê được giaocho người vận chuyển đầu tiên;

    b) Nếu hợp đồng yêu cầu phải giao hàng hoá cho thuê tại một địađiểm cụ thể thì rủi ro chuyển cho bên thuê hoặc người được bên thuê ủy quyềnnhận hàng tại địa điểm đó;

    2. Trường hợp hàng hoá cho thuê được nhận bởi người nhận hàng đểgiao mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro chuyển cho bên thuê khi ngườinhận hàng xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá cho thuê của bên thuê;

    3. Trong các trường hợp khác không được quy định tại khoản 1 vàkhoản 2 Điều này thì rủi ro được chuyển cho bên thuê khi bên thuê nhận hàng hoácho thuê.

    Điều 275. Hàng hoá cho thuê không phù hợpvới hợp đồng

    Trường hợp không có thỏa thuận cụ thể, hàng hoá được coi là khôngphù hợp với hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hànghoá cùng chủng loại;

    2. Không phù hợp với mục đích cụ thể mà bên thuê đã cho bên chothuê biết hoặc bên cho thuê phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;

    3. Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng mà bên chothuê đã giao cho bên thuê.

    Điều 276. Từ chối nhận hàng

    1. Bên cho thuê phải dành cho bên thuê một thời gian hợp lý saukhi nhận được hàng hoá để kiểm tra.

    2. Bên thuê có quyền từ chối nhận hàng hoá trong các trường hợpsau đây:

    a) Bên cho thuê không dành cho bên thuê điều kiện, thời gian hợplý để kiểm tra hàng hoá;

    b) Khi kiểm tra hàng hóa, bên thuê phát hiện thấy hàng hoá khôngphù hợp với hợp đồng.

    Điều 277. Khắc phục, thay thế hàng hoá chothuê không phù hợp với hợp đồng

    1. Trong trường hợp bên thuê từ chối nhận hàng hoá cho thuê dokhông phù hợp với hợp đồng, nếu thời hạn thực hiện việc giao hàng vẫn còn thìbên cho thuê có thể thông báo ngay cho bên thuê về việc khắc phục hoặc thay thếhàng hoá và thực hiện việc khắc phục hoặc thay thế hàng hoá đó trong khoảngthời gian còn lại.

    2. Khi bên cho thuê thực hiện việc khắc phục quy định tại khoản 1Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên thuê thìbên thuê có quyền yêu cầu bên cho thuê khắc phục bất lợi hoặc trả chi phí phátsinh đó.

    Điều 278. Chấp nhận hàng hoá cho thuê

    1. Bên thuê được coi là đã chấp nhận hàng hoá cho thuê sau khi bênthuê có cơ hội hợp lý để kiểm tra hàng hoá cho thuê và thực hiện một trong cáchành vi sau đây:

    a) Không từ chối hàng hoá cho thuê;

    b) Xác nhận sự phù hợp của hàng hoá cho thuê với thoả thuận tronghợp đồng;

    c) Xác nhận việc sẽ nhận hàng hoá đó, dù không phù hợp với thoảthuận trong hợp đồng.

    2. Trường hợp bên thuê phát hiện ra sự không phù hợp với hợp đồngcủa hàng hóa sau khi đã chấp nhận hàng hóa mà sự không phù hợp đó có thể đượcxác định thông qua việc kiểm tra một cách hợp lý trước khi chấp nhận hàng hóathì bên thuê không được dựa vào sự không phù hợp đó để trả lại hàng.

    Điều 279. Rút lại chấp nhận

    1. Bên thuê có thể rút lại chấp nhận đối với một phần hoặc toàn bộhàng hoá cho thuê nếu sự không phù hợp của hàng hoá cho thuê làm cho bên thuêkhông đạt được mục đích giao kết hợp đồng và thuộc một trong các trường hợp sauđây:

    a) Bên cho thuê không khắc phục một cách hợp lý theo quy định tạiĐiều 277 của Luật này;

    b) Bên thuê không phát hiện được sự không phù hợp của hàng hoáxuất phát từ bảo đảm của bên cho thuê.

    2. Việc rút lại chấp nhận phải được thực hiện trong khoảng thờigian hợp lý, nhưng không quá ba tháng, kể từ thời điểm bên thuê chấp nhận hànghoá.

    Điều 280. Trách nhiệm đối với khiếm khuyếtcủa hàng hoá cho thuê

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, trách nhiệm đối với khiếmkhuyết của hàng hoá cho thuê được quy định như sau:

    1. Trong thời hạn thuê, bên cho thuê phải chịu trách nhiệm về bấtkỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá cho thuê đã có vào thời điểm hàng hóa đượcgiao cho bên thuê, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;

    2. Bên cho thuê không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nàocủa hàng hoá đã có trước thời điểm giao kết hợp đồng mà bên thuê đã biết hoặcphải biết về những khiếm khuyết đó;

    3. Bên cho thuê không chịu trách nhiệm đối với những khiếm khuyếtcủa hàng hoá được phát hiện sau khi bên thuê chấp nhận hàng hoá cho thuê màkhiếm khuyết đó có thể được bên thuê phát hiện nếu thực hiện việc kiểm tra mộtcách hợp lý trước khi chấp nhận hàng hóa;

    4. Bên cho thuê phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nàophát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó xuất phát từ việc bêncho thuê vi phạm nghĩa vụ đã cam kết của mình.

    Điều 281. Cho thuê lại

    1. Bên thuê chỉ được cho thuê lại hàng hoá khi có sự chấp thuậncủa bên cho thuê. Bên thuê phải chịu trách nhiệm về hàng hoá cho thuê lại trừtrường hợp có thoả thuận khác với bên cho thuê.

    2. Trong trường hợp bên thuê cho thuê lại hàng hóa cho thuê màkhông có sự chấp thuận của bên cho thuê thì bên cho thuê có quyền hủy hợp đồngcho thuê. Người thuê lại phải có trách nhiệm trả lại ngay hàng hóa cho bên chothuê.

    Điều 282. Lợi ích phát sinh trong thời hạnthuê

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, mọi lợi ích phát sinh từ hànghóa cho thuê trong thời hạn thuê thuộc về bên thuê.

    Điều 283. Thay đổi quyền sở hữu trong thờihạn thuê

    Mọi thay đổi về quyền sở hữu đối với hàng hóa cho thuê không ảnhhưởng đến hiệu lực của hợp đồng cho thuê.

    NHƯỢNG QUYỀNTHƯƠNG MẠI

    Điều 284. Nhượng quyền thương mại

    Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bênnhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bánhàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây:

    2. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhậnquyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.

    Điều 285. Hợp đồng nhượng quyền thương mại

    Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập thành văn bản hoặcbằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 286. Quyền của thương nhân nhượngquyền

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng quyền có cácquyền sau đây:

    1. Nhận tiền nhượng quyền;

    3. Kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất hoạt động của bên nhận quyềnnhằm bảo đảm sự thống nhất của hệ thống nhượng quyền thương mại và sự ổn địnhvề chất lượng hàng hoá, dịch vụ.

    Điều 287. Nghĩa vụ của thương nhân nhượngquyền

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhượng quyền có cácnghĩa vụ sau đây:

    1. Cung cấp tài liệu hướng dẫn về hệ thống nhượng quyền thương mạicho bên nhận quyền;

    2. Đào tạo ban đầu và cung cấp trợ giúp kỹ thuật thường xuyên chothương nhân nhận quyền để điều hành hoạt động theo đúng hệ thống nhượng quyềnthương mại;

    3. Thiết kế và sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ bằngchi phí của thương nhân nhận quyền;

    4. Bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với đối tượng được ghi tronghợp đồng nhượng quyền;

    5. Đối xử bình đẳng với các thương nhân nhận quyền trong hệ thốngnhượng quyền thương mại.

    Điều 288. Quyền của thương nhân nhận quyền

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhận quyền có cácquyền sau đây:

    2. Yêu cầu thương nhân nhượng quyền đối xử bình đẳng với cácthương nhân nhận quyền khác trong hệ thống nhượng quyền thương mại.

    Điều 289. Nghĩa vụ của thương nhân nhận quyền

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, thương nhân nhận quyền có cácnghĩa vụ sau đây:

    1. Trả tiền nhượng quyền và các khoản thanh toán khác theo hợpđồng nhượng quyền thương mại;

    2. Đầu tư đủ cơ sở vật chất, nguồn tài chính và nhân lực để tiếpnhận các quyền và bí quyết kinh doanh mà bên nhượng quyền chuyển giao;

    3. Chấp nhận sự kiểm soát, giám sát và hướng dẫn của bên nhượngquyền; tuân thủ các yêu cầu về thiết kế, sắp xếp địa điểm bán hàng, cung ứngdịch vụ của thương nhân nhượng quyền;

    4. Giữ bí mật về bí quyết kinh doanh đã được nhượng quyền, kể cảsau khi hợp đồng nhượng quyền thương mại kết thúc hoặc chấm dứt;

    5. Ngừng sử dụng nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, khẩu hiệukinh doanh, biểu tượng kinh doanh và các quyền sở hữu trí tuệ khác (nếu có)hoặc hệ thống của bên nhượng quyền khi kết thúc hoặc chấm dứt hợp đồng nhượngquyền thương mại;

    6. Điều hành hoạt động phù hợp với hệ thống nhượng quyền thươngmại;

    7. Không được nhượng quyền lại trong trường hợp không có sự chấpthuận của bên nhượng quyền.

    Điều 290. Nhượng quyền lại cho bên thứ ba

    1. Bên nhận quyền có quyền nhượng quyền lại cho bên thứ ba (gọi làbên nhận lại quyền) nếu được sự chấp thuận của bên nhượng quyền.

    2. Bên nhận lại quyền có các quyền và nghĩa vụ của bên nhận quyềnquy định tại Điều 288 và Điều 289 của Luật này.

    Điều 291. Đăng ký nhượng quyền thương mại

    1. Trước khi nhượng quyền thương mại, bên dự kiến nhượng quyềnphải đăng ký với Bộ Thương mại.

    2. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh theo phươngthức nhượng quyền thương mại và trình tự, thủ tục đăng ký nhượng quyền thươngmại.

    CHẾ TÀITRONG THƯƠNG MẠI VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI

    CHẾ TÀITRONG THƯƠNG MẠI

    Điều 292. Các loại chế tài trong thươngmại

    1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

    2. Phạt vi phạm.

    3. Buộc bồi thường thiệt hại.

    4. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

    5. Đình chỉ thực hiện hợp đồng.

    6. Huỷ bỏ hợp đồng.

    7. Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyêntắc cơ bản của pháp luật Việt Nam,điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quánthương mại quốc tế.

    Điều 293. Áp dụng chế tài trong thương mạiđối với vi phạm không cơ bản

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên bị vi phạm không được ápdụng chế tài tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷbỏ hợp đồng đối với vi phạm không cơ bản.

    Điều 294. Các trường hợp miễn trách nhiệmđối với hành vi vi phạm

    1. Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợpsau đây:

    a) Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;

    b) Xảy ra sự kiện bất khả kháng;

    c) Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;

    d) Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quanquản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểmgiao kết hợp đồng.

    2. Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễntrách nhiệm.

    Điều 295. Thông báo và xác nhận trường hợpmiễn trách nhiệm

    1. Bên vi phạm hợp đồng phải thông báo ngay bằng văn bản cho bênkia về trường hợp được miễn trách nhiệm và những hậu quả có thể xảy ra.

    2. Khi trường hợp miễn trách nhiệm chấm dứt, bên vi phạm hợp đồngphải thông báo ngay cho bên kia biết; nếu bên vi phạm không thông báo hoặcthông báo không kịp thời cho bên kia thì phải bồi thường thiệt hại.

    3. Bên vi phạm có nghĩa vụ chứng minh với bên bị vi phạm về trườnghợp miễn trách nhiệm của mình.

    Điều 296. Kéo dài thời hạn, từ chối thựchiện hợp đồng trong trường hợp bất khả kháng

    1. Trong trường hợp bất khả kháng, các bên có thể thoả thuận kéodài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; nếu các bên không có thoả thuận hoặckhông thỏa thuận được thì thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng được tính thêmmột thời gian bằng thời gian xảy ra trường hợp bất khả kháng cộng với thời gianhợp lý để khắc phục hậu quả, nhưng không được kéo dài quá các thời hạn sau đây:

    a) Năm tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cungứng dịch vụ được thoả thuận không quá mười hai tháng, kể từ khi giao kết hợpđồng;

    b) Tám tháng đối với hàng hoá, dịch vụ mà thời hạn giao hàng, cungứng dịch vụ được thoả thuận trên mười hai tháng, kể từ khi giao kết hợp đồng.

    2. Trường hợp kéo dài quá các thời hạn quy định tại khoản 1 Điềunày, các bên có quyền từ chối thực hiện hợp đồng và không bên nào có quyền yêucầu bên kia bồi thường thiệt hại.

    3. Trường hợp từ chối thực hiện hợp đồng thì trong thời hạn khôngquá mười ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này bêntừ chối phải thông báo cho bên kia biết trước khi bên kia bắt đầu thực hiện cácnghĩa vụ hợp đồng.

    4. Việc kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ hợp đồng quy định tạikhoản 1 Điều này không áp dụng đối với hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịchvụ có thời hạn cố định về giao hàng hoặc hoàn thành dịch vụ.

    Điều 297. Buộc thực hiện đúng hợp đồng

    1. Buộc thực hiện đúng hợp đồng là việc bên bị vi phạm yêu cầu bênvi phạm thực hiện đúng hợp đồng hoặc dùng các biện pháp khác để hợp đồng đượcthực hiện và bên vi phạm phải chịu chi phí phát sinh.

    2. Trường hợp bên vi phạm giao thiếu hàng hoặc cung ứng dịch vụ khôngđúng hợp đồng thì phải giao đủ hàng hoặc cung ứng dịch vụ theo đúng thoả thuậntrong hợp đồng. Trường hợp bên vi phạm giao hàng hoá, cung ứng dịch vụ kém chấtlượng thì phải loại trừ khuyết tật của hàng hoá, thiếu sót của dịch vụ hoặcgiao hàng khác thay thế, cung ứng dịch vụ theo đúng hợp đồng. Bên vi phạm khôngđược dùng tiền hoặc hàng khác chủng loại, loại dịch vụ khác để thay thế nếukhông được sự chấp thuận của bên bị vi phạm.

    4. Bên bị vi phạm phải nhận hàng, nhận dịch vụ và thanh toán tiềnhàng, thù lao dịch vụ, nếu bên vi phạm đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quyđịnh tại khoản 2 Điều này.

    5. Trường hợp bên vi phạm là bên mua thì bên bán có quyền yêu cầubên mua trả tiền, nhận hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác của bên mua đượcquy định trong hợp đồng và trong Luật này.

    Điều 298. Gia hạn thực hiện nghĩa vụ

    Trường hợp buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có thể giahạn một thời gian hợp lý để bên vi phạm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng.

    Điều 299. Quan hệ giữa chế tài buộc thựchiện đúng hợp đồng và các loại chế tài khác

    1. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, trong thời gian áp dụng chếtài buộc thực hiện đúng hợp đồng, bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thườngthiệt hại và phạt vi phạm nhưng không được áp dụng các chế tài khác.

    2. Trường hợp bên vi phạm không thực hiện chế tài buộc thực hiệnđúng hợp đồng trong thời hạn mà bên bị vi phạm ấn định, bên bị vi phạm được ápdụng các chế tài khác để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.

    Điều 300. Phạt vi phạm

    Phạt vi phạm là việc bên bị vi phạm yêu cầu bên vi phạm trả mộtkhoản tiền phạt do vi phạm hợp đồng nếu trong hợp đồng có thoả thuận, trừ cáctrường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này.

    Điều 301. Mức phạt vi phạm

    Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đốivới nhiều vi phạm do các bên thoả thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giátrị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp quy định tại Điều 266 củaLuật này.

    Điều 302. Bồi thường thiệt hại

    1. Bồi thường thiệt hại là việc bên vi phạm bồi thường những tổnthất do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra cho bên bị vi phạm.

    2. Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế,trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trựctiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

    Điều 303. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồithường thiệt hại

    Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luậtnày, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây:

    1. Có hành vi vi phạm hợp đồng;

    2. Có thiệt hại thực tế;

    3. Hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệthại.

    Điều 304. Nghĩa vụ chứng minh tổn thất

    Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải chứng minh tổn thất, mức độtổn thất do hành vi vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạmđáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

    Điều 305. Nghĩa vụ hạn chế tổn thất

    Bên yêu cầu bồi thường thiệt hại phải áp dụng các biện pháp hợp lýđể hạn chế tổn thất kể cả tổn thất đối với khoản lợi trực tiếp đáng lẽ đượchưởng do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra; nếu bên yêu cầu bồi thường thiệt hại khôngáp dụng các biện pháp đó, bên vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu giảm bớt giátrị bồi thường thiệt hại bằng mức tổn thất đáng lẽ có thể hạn chế được.

    Điều 306. Quyền yêu cầu tiền lãi do chậmthanh toán

    Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậmthanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợpđồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợquá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thờigian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy địnhkhác.

    Điều 307. Quan hệ giữa chế tài phạt viphạm và chế tài bồi thường thiệt hại

    1. Trường hợp các bên không có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bịvi phạm chỉ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp Luật này cóquy định khác.

    2. Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị viphạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, trừtrường hợp Luật này có quy định khác.

    Điều 308. Tạm ngừng thực hiện hợp đồng

    Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luậtnày, tạm ngừng thực hiện hợp đồng là việc một bên tạm thời không thực hiệnnghĩa vụ trong hợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện đểtạm ngừng thực hiện hợp đồng;

    2. Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.

    Điều 309. Hậu quả pháp lý của việc tạmngừng thực hiện hợp đồng

    1. Khi hợp đồng bị tạm ngừng thực hiện thì hợp đồng vẫn còn hiệulực.

    2. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quyđịnh của Luật này.

    Điều 310. Đình chỉ thực hiện hợp đồng

    Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luậtnày, đình chỉ thực hiện hợp đồng là việc một bên chấm dứt thực hiện nghĩa vụhợp đồng thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện đểđình chỉ hợp đồng;

    2. Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.

    Điều 311. Hậu quả pháp lý của việc đìnhchỉ thực hiện hợp đồng

    1. Khi hợp đồng bị đình chỉ thực hiện thì hợp đồng chấm dứt từthời điểm một bên nhận được thông báo đình chỉ. Các bên không phải tiếp tụcthực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kiathanh toán hoặc thực hiện nghĩa vụ đối ứng.

    2. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quyđịnh của Luật này.

    Điều 312. Huỷ bỏ hợp đồng

    1. Huỷ bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng và hủy bỏ mộtphần hợp đồng.

    2. Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiệntất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng.

    3. Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phầnnghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn còn hiệu lực.

    4. Trừ các trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 củaLuật này, chế tài hủy bỏ hợp đồng được áp dụng trong các trường hợp sau đây:

    a) Xảy ra hành vi vi phạm mà các bên đã thoả thuận là điều kiện đểhủy bỏ hợp đồng;

    b) Một bên vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng.

    Điều 313. Huỷ bỏ hợp đồng trong trường hợpgiao hàng, cung ứng dịch vụ từng phần

    1. Trường hợp có thoả thuận về giao hàng, cung ứng dịch vụ từngphần, nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình trong việc giao hàng, cungứng dịch vụ và việc này cấu thành một vi phạm cơ bản đối với lần giao hàng,cung ứng dịch vụ đó thì bên kia có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với lầngiao hàng, cung ứng dịch vụ.

    2. Trường hợp một bên không thực hiện nghĩa vụ đối với một lầngiao hàng, cung ứng dịch vụ là cơ sở để bên kia kết luận rằng vi phạm cơ bản sẽxảy ra đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ sau đó thì bên bị vi phạmcó quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụsau đó, với điều kiện là bên đó phải thực hiện quyền này trong thời gian hợplý.

    3. Trường hợp một bên đã tuyên bố huỷ bỏ hợp đồng đối với một lầngiao hàng, cung ứng dịch vụ thì bên đó vẫn có quyền tuyên bố huỷ bỏ hợp đồngđối với những lần giao hàng, cung ứng dịch vụ đã thực hiện hoặc sẽ thực hiệnsau đó nếu mối quan hệ qua lại giữa các lần giao hàng dẫn đến việc hàng hoá đãgiao, dịch vụ đã cung ứng không thể được sử dụng theo đúng mục đích mà các bênđã dự kiến vào thời điểm giao kết hợp đồng.

    Điều 314. Hậu quả pháp lý của việc huỷ bỏhợp đồng

    1. Trừ trường hợp quy định tại Điều 313 của Luật này, sau khi huỷbỏ hợp đồng, hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên khôngphải tiếp tục thực hiện các nghĩa vụ đã thoả thuận trong hợp đồng, trừ thỏathuận về các quyền và nghĩa vụ sau khi huỷ bỏ hợp đồng và về giải quyết tranhchấp.

    2. Các bên có quyền đòi lại lợi ích do việc đã thực hiện phầnnghĩa vụ của mình theo hợp đồng; nếu các bên đều có nghĩa vụ hoàn trả thì nghĩavụ của họ phải được thực hiện đồng thời; trường hợp không thể hoàn trả bằngchính lợi ích đã nhận thì bên có nghĩa vụ phải hoàn trả bằng tiền.

    3. Bên bị vi phạm có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quyđịnh của Luật này.

    Điều 315. Thông báo tạm ngừng thực hiệnhợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng

    Bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợp đồng hoặchuỷ bỏ hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc tạm ngừng, đìnhchỉ hoặc huỷ bỏ hợp đồng. Trong trường hợp không thông báo ngay mà gây thiệthại cho bên kia thì bên tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực hiện hợpđồng hoặc huỷ bỏ hợp đồng phải bồi thường thiệt hại.

    Điều 316. Quyền yêu cầu bồi thường thiệthại khi đã áp dụng các chế tài khác

    Một bên không bị mất quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đối vớitổn thất do vi phạm hợp đồng của bên kia khi đã áp dụng các chế tài khác.

    GIẢI QUYẾTTRANH CHẤP TRONG THƯƠNG MẠI

    Điều 317. Hình thức giải quyết tranh chấp

    1. Thương lượng giữa các bên.

    2. Hoà giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân đượccác bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải.

    3. Giải quyết tại Trọng tài hoặc Toà án.

    Thủ tục giải quyết tranh chấp trong thương mại tại Trọng tài, Toàán được tiến hành theo các thủ tục tố tụng của Trọng tài, Toà án do pháp luậtquy định.

    Điều 318. Thời hạn khiếu nại

    Trừ trường hợp quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 237 của Luật này,thời hạn khiếu nại do các bên thỏa thuận, nếu các bên không có thoả thuận thìthời hạn khiếu nại được quy định như sau:

    1. Ba tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về số lượnghàng hoá;

    2. Sáu tháng, kể từ ngày giao hàng đối với khiếu nại về chất lượnghàng hoá; trong trường hợp hàng hoá có bảo hành thì thời hạn khiếu nại là batháng, kể từ ngày hết thời hạn bảo hành;

    3. Chín tháng, kể từ ngày bên vi phạm phải hoàn thành nghĩa vụtheo hợp đồng hoặc trong trường hợp có bảo hành thì kể từ ngày hết thời hạn bảohành đối với khiếu nại về các vi phạm khác.

    Điều 319. Thời hiệu khởi kiện

    Thời hiệu khởi kiện áp dụng đối với các tranh chấp thương mại làhai năm, kể từ thời điểm quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, trừ trường hợpquy định tại điểm e khoản 1 Điều 237 của Luật này.

    Chương VIII

    XỬ LÝ VIPHẠM PHÁP LUẬT VỀ THƯƠNG MẠI

    Điều 320. Hành vi vi phạm pháp luật vềthương mại

    1. Các hành vi vi phạm pháp luật về thương mại bao gồm:

    a) Vi phạm quy định về đăng ký kinh doanh; giấy phép kinh doanhcủa thương nhân; thành lập và hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh củathương nhân Việt Namvà của thương nhân nước ngoài;

    b) Vi phạm quy định về hàng hóa, dịch vụ kinh doanh trong nước vàhàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập;chuyển khẩu; quá cảnh;

    c) Vi phạm chế độ thuế, hóa đơn, chứng từ, sổ và báo cáo kế toán;

    d) Vi phạm quy định về giá hàng hóa, dịch vụ;

    đ) Vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa lưu thông trong nước vàhàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu;

    e) Buôn lậu, kinh doanh hàng nhập lậu, buôn bán hàng giả hoặcnguyên liệu, vật liệu phục vụ cho sản xuất hàng giả, kinh doanh trái phép;

    h) Gian lận, lừa dối khách hàng khi mua bán hàng hóa, cung ứngdịch vụ;

    k) Vi phạm quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa, dịchvụ kinh doanh trong nước và xuất khẩu, nhập khẩu;

    l) Vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa;

    m) Các vi phạm khác trong hoạt động thương mại theo quy định củapháp luật.

    2. Chính phủ quy định cụ thể các hành vi vi phạm pháp luật vềthương mại được quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 321. Hình thức xử lý vi phạm phápluật về thương mại

    1. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả xảy ra, tổ chức,cá nhân bị xử lý theo một trong các hình thức sau đây:

    a) Xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hànhchính;

    b) Trường hợp hành vi vi phạm có đủ yếu tố cấu thành tội phạm thìngười vi phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

    2. Trường hợp hành vi vi phạm gây thiệt hại đến lợi ích của Nhànước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì phải bồi thường thiệthại theo quy định của pháp luật.

    Điều 322. Xử phạt vi phạm hành chính tronghoạt động thương mại

    Chính phủ quy định cụ thể về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạtđộng thương mại.

    ĐIỀU KHOẢNTHI HÀNH

    Điều 323. Hiệu lực thi hành

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2006.

    Luật này thay thế Luật Thương mại ngày 10 tháng 5 năm 1997.

    Điều 324. Quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành

    Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Hợp Đồng Qua Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thương Mại
  • Luật Trọng Tài Thương Mại 2010
  • Phân Biệt Hợp Đồng Dân Sự Và Hợp Đồng Kinh Doanh
  • Bộ Luật Dân Sự Và Thương Mại Thái Lan
  • Sự Không Thống Nhất Trong Quy Định Về Hợp Đồng Giữa Luật Thương Mại Và Bộ Luật Dân Sự
  • Luật Thương Mại 2022, Luật Thương Mại Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Tải Luật Thương Mại 2022 Và Hướng Dẫn Áp Dụng
  • Luật Thương Mại Đang Có Hiệu Lực Trong Năm 2022
  • Hướng Dẫn Cách Chơi Bài Uno Cơ Bản
  • Luật Chơi Uno Mở Rộng Và Các Chiến Thuật “sốt Xình Xịch”
  • Hướng Dẫn Luật Chơi Uno Mở Rộng Chi Tiết Dành Cho Lính Mới
  • Luật thương mại mới nhất số 36/2005/QH11

    Luật thương mại 2005 được áp dụng từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 và hiện vẫn còn hiệu lực.

    Hiện có Văn bản hợp nhất Luật thương mại số 03/VBHN-VPQH hay còn gọi Bộ luật thương mại 2022 là văn bản hợp nhất Luật thương mại mới nhất. Việc hợp nhất này sẽ giúp người dân thuận lợi trong việc tìm hiểu, nghiên cứu và áp dụng quy định mới về Luật thương mại 2005.

    Nội dung Luật thương mại mới nhất: Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về hoạt động thương mại.

    MỤC 1. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    1. Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thoả thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này.

    3. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

    1. Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật này.

    3. Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.

    Điều 3. Giải thích từ ngữ

    1. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

    2. Hàng hóa bao gồm:

    a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

    b) Những vật gắn liền với đất đai.

    3. Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại.

    4. Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.

    5. Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện điện tử.

    6. Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép.

    7. Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập và hoạt động thương mại tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    8. Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.

    9. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.

    11. Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại.

    12. Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này.

    13. Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.

    14. Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó.

    15. Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

    2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

    3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.

    Điều 5. Áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế

    1. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

    2. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    Điều 6. Thương nhân

    1. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.

    2. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.

    3. Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ.

    Điều 7. Nghĩa vụ đăng ký kinh doanh của thương nhân

    Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật.

    Điều 8. Cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động thương mại

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động thương mại.

    2. Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại cụ thể được quy định tại Luật này.

    3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại trong lĩnh vực được phân công.

    4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.

    Điều 9. Hiệp hội thương mại

    1. Hiệp hội thương mại được thành lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thương nhân, động viên thương nhân tham gia phát triển thương mại, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về thương mại.

    2. Hiệp hội thương mại được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về hội.

    MỤC 2. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

    Điều 10. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại

    Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại.

    Điều 11. Nguyên tắc tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại

    1. Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó.

    2. Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.

    Điều 12. Nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật.

    Điều 13. Nguyên tắc áp dụng tập quán trong hoạt động thương mại

    Trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thoả thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật này và trong Bộ luật dân sự.

    Điều 14. Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng

    1. Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó.

    2. Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh.

    Điều 15. Nguyên tắc thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại

    Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản.

    MỤC 3. THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

    Điều 16. Thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam

    1. Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận.

    2. Thương nhân nước ngoài được đặt Văn phòng đại diện, Chi nhánh tại Việt Nam; thành lập tại Việt Nam doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam quy định.

    3. Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về toàn bộ hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của mình tại Việt Nam.

    4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thương nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì được coi là thương nhân Việt Nam.

    Điều 17. Quyền của Văn phòng đại diện

    1. Hoạt động đúng mục đích, phạm vi và thời hạn được quy định trong giấy phép thành lập Văn phòng đại diện.

    2. Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Văn phòng đại diện.

    3. Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    4. Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của Văn phòng đại diện.

    5. Có con dấu mang tên Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 18. Nghĩa vụ của Văn phòng đại diện

    1. Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam.

    2. Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi mà Luật này cho phép.

    3. Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng Văn phòng đại diện có giấy uỷ quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 17 của Luật này.

    4. Nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    5. Báo cáo hoạt động của Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 19. Quyền của Chi nhánh

    1. Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Chi nhánh.

    2. Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    3. Giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động được quy định trong giấy phép thành lập Chi nhánh và theo quy định của Luật này.

    4. Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam.

    5. Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    6. Có con dấu mang tên Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    7. Thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại khác phù hợp với giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    8. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 20. Nghĩa vụ của Chi nhánh

    1. Thực hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật Việt Nam; trường hợp cần áp dụng chế độ kế toán thông dụng khác thì phải được Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chấp thuận.

    2. Báo cáo hoạt động của Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    3. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 21. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài

    Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Điều 22. Thẩm quyền cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam

    1. Chính phủ thống nhất quản lý việc cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam.

    2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    4. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể về thẩm quyền của bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó.

    Điều 23. Chấm dứt hoạt động tại Việt Nam của thương nhân nước ngoài

    1. Thương nhân nước ngoài chấm dứt hoạt động tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:

    a) Hết thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép;

    b) Theo đề nghị của thương nhân và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp nhận;

    c) Theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do vi phạm pháp luật và quy định của giấy phép;

    d) Do thương nhân bị tuyên bố phá sản;

    đ) Khi thương nhân nước ngoài chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật nước ngoài đối với hình thức Văn phòng đại diện, Chi nhánh và tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh với bên Việt Nam;

    e) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    MỤC 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA

    Điều 24. Hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá

    1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

    2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

    Điều 25. Hàng hoá cấm kinh doanh, hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hóa kinh doanh có điều kiện

    2. Đối với hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện, việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hoá và các bên mua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

    Điều 26. Áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng hóa lưu thông trong nước

    1. Hàng hóa đang được lưu thông hợp pháp trong nước bị áp dụng một hoặc các biện pháp buộc phải thu hồi, cấm lưu thông, tạm ngừng lưu thông, lưu thông có điều kiện hoặc phải có giấy phép đối với một trong các trường hợp sau đây:

    a) Hàng hóa đó là nguồn gốc hoặc phương tiện lây truyền các loại dịch bệnh;

    b) Khi xảy ra tình trạng khẩn cấp.

    2. Các điều kiện cụ thể, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công bố việc áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng hóa lưu thông trong nước được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    Điều 27. Mua bán hàng hoá quốc tế

    1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

    2. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 28. Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hoá

    1. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

    2. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

    Điều 29. Tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập hàng hoá

    1. Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam.

    2. Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam.

    3. Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập hàng hóa.

    Điều 30. Chuyển khẩu hàng hoá

    1. Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

    2. Chuyển khẩu hàng hóa được thực hiện theo các hình thức sau đây:

    a) Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam;

    b) Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam;

    c) Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hoá tại các cảng Việt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

    3. Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động chuyển khẩu hàng hóa.

    Điều 31. Áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế

    Trong trường hợp cần thiết, để bảo vệ an ninh quốc gia và các lợi ích quốc gia khác phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.

    Điều 32. Nhãn hàng hóa lưu thông trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

    1. Nhãn hàng hoá là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác được gắn lên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá.

    2. Hàng hóa lưu thông trong nước, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải có nhãn hàng hóa, trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật.

    3. Các nội dung cần ghi trên nhãn hàng hóa và việc ghi nhãn hàng hóa được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    Điều 33. Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hoá và quy tắc xuất xứ hàng hóa

    1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy chứng nhận xuất xứ trong các trường hợp sau đây:

    a) Hàng hóa được hưởng ưu đãi về thuế hoặc ưu đãi khác;

    b) Theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    2. Chính phủ quy định chi tiết về quy tắc xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

    MỤC 2. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

    1. Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng.

    Điều 35. Địa điểm giao hàng

    1. Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận.

    2. Trường hợp không có thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàng được xác định như sau:

    a) Trường hợp hàng hoá là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hoá đó;

    b) Trường hợp trong hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hoá thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên;

    c) Trường hợp trong hợp đồng không có quy định về vận chuyển hàng hoá, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hoá thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó;

    d) Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán.

    1. Trường hợp hàng hóa được giao cho người vận chuyển nhưng không được xác định rõ bằng ký mã hiệu trên hàng hóa, chứng từ vận chuyển hoặc cách thức khác thì bên bán phải thông báo cho bên mua về việc đã giao hàng cho người vận chuyển và phải xác định rõ tên và cách thức nhận biết hàng hoá được vận chuyển.

    2. Trường hợp bên bán có nghĩa vụ thu xếp việc chuyên chở hàng hoá thì bên bán phải ký kết các hợp đồng cần thiết để việc chuyên chở được thực hiện tới đích bằng các phương tiện chuyên chở thích hợp với hoàn cảnh cụ thể và theo các điều kiện thông thường đối với phương thức chuyên chở đó.

    Điều 37. Thời hạn giao hàng

    1. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng.

    2. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.

    3. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

    Điều 38. Giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận

    Trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên không có thoả thuận khác.

    Điều 39. Hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

    1. Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;

    b) Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;

    c) Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua;

    d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.

    2. Bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 40. Trách nhiệm đối với hàng hoá không phù hợp với hợp đồng

    Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được quy định như sau:

    1. Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó;

    2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn khiếu nại theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro;

    3. Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp đồng.

    Điều 41. Khắc phục trong trường hợp giao thiếu hàng, giao hàng không phù hợp với hợp đồng

    1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng và không xác định thời điểm giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giao hàng và giao thiếu hàng hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc thay thế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng hoá trong thời hạn còn lại.

    2. Khi bên bán thực hiện việc khắc phục quy định tại khoản 1 Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.

    4. Khi bên bán thực hiện việc khắc phục những thiếu sót quy định tại khoản 3 Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.

    Điều 43. Giao thừa hàng

    1. Trường hợp bên bán giao thừa hàng thì bên mua có quyền từ chối hoặc chấp nhận số hàng thừa đó.

    2. Trường hợp bên mua chấp nhận số hàng thừa thì phải thanh toán theo giá thoả thuận trong hợp đồng nếu các bên không có thoả thuận khác.

    Điều 44. Kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng

    1. Trường hợp các bên có thoả thuận để bên mua hoặc đại diện của bên mua tiến hành kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng thì bên bán phải bảo đảm cho bên mua hoặc đại diện của bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra.

    2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên mua hoặc đại diện của bên mua trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải kiểm tra hàng hóa trong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép; trường hợp hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hóa thì việc kiểm tra hàng hoá có thể được hoãn lại cho tới khi hàng hoá được chuyển tới địa điểm đến.

    3. Trường hợp bên mua hoặc đại diện của bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng.

    4. Bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã biết hoặc phải biết nhưng không thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp lý sau khi kiểm tra hàng hoá.

    5. Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hoá không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua.

    Điều 45. Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu đối với hàng hoá

    Bên bán phải bảo đảm:

    1. Quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ ba;

    2. Hàng hóa đó phải hợp pháp;

    3. Việc chuyển giao hàng hoá là hợp pháp.

    Điều 46. Nghĩa vụ bảo đảm quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hoá

    Điều 47. Yêu cầu thông báo

    1. Bên bán mất quyền viện dẫn quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật này nếu bên bán không thông báo ngay cho bên mua về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên bán đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba.

    2. Bên mua mất quyền viện dẫn quy định tại Điều 45 và khoản 1 Điều 46 của Luật này nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba.

    Điều 48. Nghĩa vụ của bên bán trong trường hợp hàng hóa là đối tượng của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

    Trường hợp hàng hoá được bán là đối tượng của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì bên bán phải thông báo cho bên mua về biện pháp bảo đảm và phải được sự đồng ý của bên nhận bảo đảm về việc bán hàng hóa đó.

    Điều 49. Nghĩa vụ bảo hành hàng hoá

    1. Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận.

    2. Bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép.

    3. Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

    Điều 50. Thanh toán

    1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận.

    2. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.

    3. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.

    Điều 51. Việc ngừng thanh toán tiền mua hàng

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc ngừng thanh toán tiền mua hàng được quy định như sau:

    1. Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán;

    2. Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;

    3. Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợp đó;

    4. Trường hợp tạm ngừng thanh toán theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu các chế tài khác theo quy định của Luật này.

    Điều 52. Xác định giá

    Trường hợp không có thoả thuận về giá hàng hoá, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hoá được xác định theo giá của loại hàng hoá đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá.

    Điều 53. Xác định giá theo trọng lượng

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu giá được xác định theo trọng lượng của hàng hoá thì trọng lượng đó là trọng lượng tịnh.

    Điều 54. Địa điểm thanh toán

    Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm thanh toán cụ thể thì bên mua phải thanh toán cho bên bán tại một trong các địa điểm sau đây:

    1. Địa điểm kinh doanh của bên bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không có địa điểm kinh doanh thì tại nơi cư trú của bên bán;

    2. Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toán được tiến hành đồng thời với việc giao hàng hoặc giao chứng từ.

    Điều 55. Thời hạn thanh toán

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn thanh toán được quy định như sau:

    2. Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi có thể kiểm tra xong hàng hoá trong trường hợp có thỏa thuận theo quy định tại Điều 44 của Luật này.

    Điều 56. Nhận hàng

    Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thoả thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng.

    Điều 57. Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá.

    Điều 58. Chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.

    Điều 59. Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá;

    2. Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua.

    Điều 60. Chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hoá đang trên đường vận chuyển

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.

    Điều 61. Chuyển rủi ro trong các trường hợp khác

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc chuyển rủi ro trong các trường hợp khác được quy định như sau:

    1. Trong trường hợp không được quy định tại các điều 57, 58, 59 và 60 của Luật này thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng;

    2. Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận tải, không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cách thức nào khác.

    Điều 62. Thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá

    Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao.

    MỤC 3. MUA BÁN HÀNG HÓA QUA SỞ GIAO DỊCH HÀNG HÓA

    Điều 63. Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa

    1. Mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hoá theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hoá với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai.

    2. Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa.

    Điều 64. Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hoá

    1. Hợp đồng mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hoá bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền chọn.

    2. Hợp đồng kỳ hạn là thỏa thuận, theo đó bên bán cam kết giao và bên mua cam kết nhận hàng hoá tại một thời điểm trong tương lai theo hợp đồng.

    3. Hợp đồng về quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán là thỏa thuận, theo đó bên mua quyền có quyền được mua hoặc được bán một hàng hóa xác định với mức giá định trước (gọi là giá giao kết) và phải trả một khoản tiền nhất định để mua quyền này (gọi là tiền mua quyền). Bên mua quyền có quyền chọn thực hiện hoặc không thực hiện việc mua hoặc bán hàng hóa đó.

    Điều 65. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng kỳ hạn

    1. Trường hợp người bán thực hiện việc giao hàng theo hợp đồng thì bên mua có nghĩa vụ nhận hàng và thanh toán.

    2. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên mua có thể thanh toán bằng tiền và không nhận hàng thì bên mua phải thanh toán cho bên bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện.

    3. Trường hợp các bên có thoả thuận về việc bên bán có thể thanh toán bằng tiền và không giao hàng thì bên bán phải thanh toán cho bên mua một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giá thoả thuận trong hợp đồng.

    Điều 66. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng quyền chọn

    1. Bên mua quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán phải trả tiền mua quyền chọn để được trở thành bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán. Số tiền phải trả cho việc mua quyền chọn do các bên thoả thuận.

    2. Bên giữ quyền chọn mua có quyền mua nhưng không có nghĩa vụ phải mua hàng hoá đã giao kết trong hợp đồng. Trường hợp bên giữ quyền chọn mua quyết định thực hiện hợp đồng thì bên bán có nghĩa vụ phải bán hàng hoá cho bên giữ quyền chọn mua. Trường hợp bên bán không có hàng hoá để giao thì phải thanh toán cho bên giữ quyền chọn mua một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thoả thuận trong hợp đồng và giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện.

    3. Bên giữ quyền chọn bán có quyền bán nhưng không có nghĩa vụ phải bán hàng hoá đã giao kết trong hợp đồng. Trường hợp bên giữ quyền chọn bán quyết định thực hiện hợp đồng thì bên mua có nghĩa vụ phải mua hàng hoá của bên giữ quyền chọn bán. Trường hợp bên mua không mua hàng thì phải thanh toán cho bên giữ quyền chọn bán một khoản tiền bằng mức chênh lệch giữa giá thị trường do Sở giao dịch hàng hoá công bố tại thời điểm hợp đồng được thực hiện và giá thoả thuận trong hợp đồng.

    4. Trường hợp bên giữ quyền chọn mua hoặc giữ quyền chọn bán quyết định không thực hiện hợp đồng trong thời hạn hợp đồng có hiệu lực thì hợp đồng đương nhiên hết hiệu lực.

    Điều 67. Sở giao dịch hàng hoá

    1. Sở giao dịch hàng hoá có các chức năng sau đây:

    a) Cung cấp các điều kiện vật chất – kỹ thuật cần thiết để giao dịch mua bán hàng hoá;

    b) Điều hành các hoạt động giao dịch;

    c) Niêm yết các mức giá cụ thể hình thành trên thị trường giao dịch tại từng thời điểm.

    2. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện thành lập Sở giao dịch hàng hóa, quyền hạn, trách nhiệm của Sở giao dịch hàng hóa và việc phê chuẩn Điều lệ hoạt động của Sở giao dịch hàng hóa.

    Điều 68. Hàng hoá giao dịch tại Sở giao dịch hàng hóa

    Điều 69. Thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở Giao dịch hàng hoá

    1. Thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá chỉ được phép hoạt động tại Sở Giao dịch hàng hoá khi đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật. Chính phủ quy định chi tiết điều kiện hoạt động của thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá.

    2. Thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá chỉ được phép thực hiện các hoạt động môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá và không được phép là một bên của hợp đồng mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá.

    3. Thương nhân môi giới mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá có nghĩa vụ đóng tiền ký quỹ tại Sở giao dịch hàng hoá để bảo đảm thực hiện các nghĩa vụ phát sinh trong quá trình hoạt động môi giới mua bán hàng hoá. Mức tiền ký quỹ do Sở giao dịch hàng hoá quy định.

    Điều 70. Các hành vi bị cấm đối với thương nhân môi giới hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá

    1. Lôi kéo khách hàng ký kết hợp đồng bằng cách hứa bồi thường toàn bộ hoặc một phần thiệt hại phát sinh hoặc bảo đảm lợi nhuận cho khách hàng.

    2. Chào hàng hoặc môi giới mà không có hợp đồng với khách hàng.

    3. Sử dụng giá giả tạo hoặc các biện pháp gian lận khác khi môi giới cho khách hàng.

    4. Từ chối hoặc tiến hành chậm trễ một cách bất hợp lý việc môi giới hợp đồng theo các nội dung đã thoả thuận với khách hàng.

    5. Các hành vi bị cấm khác quy định tại khoản 2 Điều 71 của Luật này.

    Điều 71. Các hành vi bị cấm trong hoạt động mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hóa

    1. Nhân viên của Sở giao dịch hàng hoá không được phép môi giới, mua bán hàng hoá qua Sở giao dịch hàng hoá.

    a) Gian lận, lừa dối về khối lượng hàng hóa trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn được giao dịch hoặc có thể được giao dịch và gian lận, lừa dối về giá thực tế của loại hàng hoá trong các hợp đồng kỳ hạn hoặc hợp đồng quyền chọn;

    b) Đưa tin sai lệch về các giao dịch, thị trường hoặc giá hàng hoá mua bán qua Sở giao dịch hàng hóa;

    c) Dùng các biện pháp bất hợp pháp để gây rối loạn thị trường hàng hóa tại Sở giao dịch hàng hoá;

    d) Các hành vi bị cấm khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 72. Thực hiện biện pháp quản lý trong trường hợp khẩn cấp

    1. Trường hợp khẩn cấp là trường hợp xảy ra hiện tượng rối loạn thị trường hàng hoá làm cho giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa không phản ánh được chính xác quan hệ cung cầu.

    2. Trong trường hợp khẩn cấp, Bộ trưởng Bộ Thương mại có quyền thực hiện các biện pháp sau đây:

    a) Tạm ngừng việc giao dịch qua Sở giao dịch hàng hoá;

    b) Hạn chế các giao dịch ở một khung giá hoặc một số lượng hàng hóa nhất định;

    c) Thay đổi lịch giao dịch;

    d) Thay đổi Điều lệ hoạt động của Sở giao dịch hàng hoá;

    đ) Các biện pháp cần thiết khác theo quy định của Chính phủ.

    Điều 73. Quyền hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài

    Thương nhân Việt Nam được quyền hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ.

    MỤC 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ

    Điều 74. Hình thức hợp đồng dịch vụ

    1. Hợp đồng dịch vụ được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

    2. Đối với các loại hợp đồng dịch vụ mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

    Điều 75. Quyền cung ứng và sử dụng dịch vụ của thương nhân

    1. Trừ trường hợp pháp luật hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác, thương nhân có các quyền cung ứng dịch vụ sau đây:

    a) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam;

    b) Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ Việt Nam;

    c) Cung ứng dịch vụ cho người cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài;

    d) Cung ứng dịch vụ cho người không cư trú tại Việt Nam sử dụng trên lãnh thổ nước ngoài.

    2. Trừ trường hợp pháp luật hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác, thương nhân có các quyền sử dụng dịch vụ sau đây:

    a) Sử dụng dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam;

    b) Sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ Việt Nam;

    c) Sử dụng dịch vụ do người cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài;

    d) Sử dụng dịch vụ do người không cư trú tại Việt Nam cung ứng trên lãnh thổ nước ngoài.

    3. Chính phủ quy định cụ thể đối tượng người cư trú, người không cư trú để thực hiện các chính sách thuế, quản lý xuất khẩu, nhập khẩu đối với các loại hình dịch vụ.

    Điều 76. Dịch vụ cấm kinh doanh, dịch vụ hạn chế kinh doanh và dịch vụ kinh doanh có điều kiện

    2. Đối với dịch vụ hạn chế kinh doanh, dịch vụ kinh doanh có điều kiện, việc cung ứng dịch vụ chỉ được thực hiện khi dịch vụ và các bên tham gia hoạt động cung ứng dịch vụ đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

    Điều 77. Áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động cung ứng hoặc sử dụng dịch vụ

    Trong trường hợp cần thiết, để bảo vệ an ninh quốc gia và các lợi ích quốc gia khác phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động cung ứng hoặc sử dụng dịch vụ, bao gồm việc tạm thời cấm cung ứng hoặc sử dụng đối với một hoặc một số loại dịch vụ hoặc các biện pháp khẩn cấp khác đối với một hoặc một số thị trường cụ thể trong một thời gian nhất định.

    MỤC 2. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ

    Điều 78. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

    2. Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc;

    3. Thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành việc cung ứng dịch vụ;

    4. Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng dịch vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định.

    Điều 79. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ theo kết quả công việc

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải đạt được một kết quả nhất định thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với các điều khoản và mục đích của hợp đồng. Trong trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể về tiêu chuẩn kết quả cần đạt được, bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện việc cung ứng dịch vụ với kết quả phù hợp với tiêu chuẩn thông thường của loại dịch vụ đó.

    Điều 80. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ theo nỗ lực và khả năng cao nhất

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu tính chất của loại dịch vụ được cung ứng yêu cầu bên cung ứng dịch vụ phải nỗ lực cao nhất để đạt được kết quả mong muốn thì bên cung ứng dịch vụ phải thực hiện nghĩa vụ cung ứng dịch vụ đó với nỗ lực và khả năng cao nhất.

    Điều 81. Hợp tác giữa các bên cung ứng dịch vụ

    Trường hợp theo thỏa thuận hoặc dựa vào tình hình cụ thể, một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác thì mỗi bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

    2. Tiến hành bất kỳ hoạt động hợp tác cần thiết nào với các bên cung ứng dịch vụ khác.

    Điều 82. Thời hạn hoàn thành dịch vụ

    1. Bên cung ứng dịch vụ phải hoàn thành dịch vụ đúng thời hạn đã thoả thuận trong hợp đồng.

    3. Trường hợp một dịch vụ chỉ có thể được hoàn thành khi khách hàng hoặc bên cung ứng dịch vụ khác đáp ứng các điều kiện nhất định thì bên cung ứng dịch vụ đó không có nghĩa vụ hoàn thành dịch vụ của mình cho đến khi các điều kiện đó được đáp ứng.

    2. Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng phải chịu những chi phí hợp lý cho việc thực hiện những yêu cầu thay đổi của mình.

    Điều 84. Tiếp tục cung ứng dịch vụ sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ

    Sau khi hết thời hạn hoàn thành việc cung ứng dịch vụ mà dịch vụ vẫn chưa hoàn thành, nếu khách hàng không phản đối thì bên cung ứng dịch vụ phải tiếp tục cung ứng theo nội dung đã thoả thuận và phải bồi thường thiệt hại, nếu có.

    Điều 85. Nghĩa vụ của khách hàng

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, khách hàng có các nghĩa vụ sau đây:

    1. Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng;

    2. Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác để việc cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn;

    3. Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng có thể cung ứng dịch vụ một cách thích hợp;

    4. Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào.

    Điều 86. Giá dịch vụ

    Trường hợp không có thoả thuận về giá dịch vụ, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá dịch vụ và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ.

    Điều 87. Thời hạn thanh toán

    Trường hợp không có thỏa thuận và giữa các bên không có bất kỳ thói quen nào về việc thanh toán thì thời hạn thanh toán là thời điểm việc cung ứng dịch vụ được hoàn thành.

    Chương IV. XÚC TIẾN THƯƠNG MẠI

    MỤC 1. KHUYẾN MẠI

    Điều 88. Khuyến mại

    1. Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định.

    2. Thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Thương nhân trực tiếp khuyến mại hàng hóa, dịch vụ mà mình kinh doanh;

    b) Thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó.

    Điều 89. Kinh doanh dịch vụ khuyến mại

    Kinh doanh dịch vụ khuyến mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác trên cơ sở hợp đồng.

    Điều 90. Hợp đồng dịch vụ khuyến mại

    Hợp đồng dịch vụ khuyến mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    Điều 91. Quyền khuyến mại của thương nhân

    1. Thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân Việt Nam, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có quyền tự tổ chức khuyến mại hoặc thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình.

    2. Văn phòng đại diện của thương nhân không được khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện.

    Điều 92. Các hình thức khuyến mại

    1. Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền.

    2. Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền.

    3. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    4. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.

    5. Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

    6. Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

    7. Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác.

    8. Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại.

    9. Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý nhà nước về thương mại chấp thuận.

    Điều 93. Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại

    1. Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ được thương nhân sử dụng các hình thức khuyến mại để xúc tiến việc bán, cung ứng hàng hóa, dịch vụ đó.

    2. Hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp.

    Điều 94. Hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại, mức giảm giá khuyến mại

    1. Hàng hoá, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hoá, dịch vụ được thương nhân dùng để tặng, thưởng, cung ứng không thu tiền cho khách hàng.

    2. Hàng hoá, dịch vụ được thương nhân dùng để khuyến mại có thể là hàng hoá, dịch vụ mà thương nhân đó đang kinh doanh hoặc hàng hoá, dịch vụ khác.

    3. Hàng hóa, dịch vụ được dùng để khuyến mại phải là hàng hóa, dịch vụ được kinh doanh hợp pháp.

    4. Chính phủ quy định cụ thể hạn mức tối đa về giá trị của hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại, mức giảm giá tối đa đối với hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại mà thương nhân được thực hiện trong hoạt động khuyến mại.

    Điều 95. Quyền của thương nhân thực hiện khuyến mại

    1. Lựa chọn hình thức, thời gian, địa điểm khuyến mại, hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại.

    2. Quy định các lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng phù hợp với khoản 4 Điều 94 của Luật này.

    3. Thuê thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại thực hiện việc khuyến mại cho mình.

    4. Tổ chức thực hiện các hình thức khuyến mại quy định tại Điều 92 của Luật này.

    Điều 96. Nghĩa vụ của thương nhân thực hiện khuyến mại

    1. Thực hiện đầy đủ các trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật để thực hiện các hình thức khuyến mại.

    2. Thông báo công khai các nội dung thông tin về hoạt động khuyến mại cho khách hàng theo quy định tại Điều 97 của Luật này.

    3. Thực hiện đúng chương trình khuyến mại đã thông báo và các cam kết với khách hàng.

    4. Đối với một số hình thức khuyến mại quy định tại khoản 6 Điều 92 của Luật này, thương nhân phải trích 50% giá trị giải thưởng đã công bố vào ngân sách nhà nước trong trường hợp không có người trúng thưởng.

    Bộ trưởng Bộ Thương mại quy định các hình thức khuyến mại cụ thể thuộc các chương trình mang tính may rủi phải thực hiện quy định này.

    5. Tuân thủ các thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ khuyến mại nếu thương nhân thực hiện khuyến mại là thương nhân kinh doanh dịch vụ khuyến mại.

    Điều 97. Thông tin phải thông báo công khai

    1. Đối với tất cả hình thức khuyến mại quy định tại Điều 92 của Luật này, thương nhân thực hiện khuyến mại phải thông báo công khai các thông tin sau đây:

    a) Tên của hoạt động khuyến mại;

    c) Tên, địa chỉ, số điện thoại của thương nhân thực hiện khuyến mại;

    d) Thời gian khuyến mại, ngày bắt đầu, ngày kết thúc và địa bàn hoạt động khuyến mại;

    đ) Trường hợp lợi ích của việc tham gia khuyến mại gắn với các điều kiện cụ thể thì trong thông báo phải nêu rõ hoạt động khuyến mại đó có kèm theo điều kiện và nội dung cụ thể của các điều kiện.

    a) Giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ được tặng cho khách hàng đối với hình thức khuyến mại quy định tại khoản 2 Điều 92 của Luật này;

    b) Trị giá tuyệt đối hoặc phần trăm thấp hơn giá bán hàng hóa, giá cung ứng dịch vụ bình thường trước thời gian khuyến mại đối với hình thức khuyến mại quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật này;

    c) Giá trị bằng tiền hoặc lợi ích cụ thể mà khách hàng được hưởng từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ; địa điểm bán hàng, cung ứng dịch vụ và các loại hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng có thể nhận được từ phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ đối với hình thức khuyến mại quy định tại khoản 4 Điều 92 của Luật này;

    d) Loại giải thưởng và giá trị của từng loại giải thưởng; thể lệ tham gia các chương trình khuyến mại, cách thức lựa chọn người trúng thưởng đối với các hình thức khuyến mại quy định tại khoản 5, khoản 6 Điều 92 của Luật này;

    đ) Các chi phí mà khách hàng phải tự chịu đối với các hình thức khuyến mại quy định tại khoản 7, khoản 8 Điều 92 của Luật này.

    Điều 98. Cách thức thông báo

    1. Việc thông báo khuyến mại hàng hoá theo quy định tại Điều 97 của Luật này được thực hiện bằng một trong các cách thức sau đây:

    a) Tại địa điểm bán hàng hóa và nơi để hàng hoá bày bán;

    b) Trên hàng hoá hoặc bao bì hàng hóa;

    c) Dưới bất kỳ cách thức nào khác nhưng phải được đính kèm với hàng hóa khi hàng hóa được bán.

    2. Việc thông báo khuyến mại dịch vụ theo quy định tại Điều 97 của Luật này phải được thực hiện dưới một trong các cách thức sau đây:

    a) Tại địa điểm cung ứng dịch vụ;

    b) Cách thức khác nhưng phải được cung cấp kèm với dịch vụ khi dịch vụ đó được cung ứng.

    Điều 99. Bảo đảm bí mật thông tin về chương trình, nội dung khuyến mại

    Trường hợp chương trình khuyến mại phải được sự chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì cơ quan đó phải giữ bí mật chương trình, nội dung khuyến mại do thương nhân cung cấp cho đến khi chương trình được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.

    Điều 100. Các hành vi bị cấm trong hoạt động khuyến mại

    1. Khuyến mại cho hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hoá chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.

    2. Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.

    3. Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi.

    4. Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức.

    5. Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng.

    6. Khuyến mại để tiêu thụ hàng hoá kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khoẻ con người và lợi ích công cộng khác.

    7. Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân.

    8. Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng.

    9. Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

    10. Thực hiện khuyến mại mà giá trị hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, dịch vụ được khuyến mại quá mức tối đa theo quy định tại khoản 4 Điều 94 của Luật này.

    Điều 101. Đăng ký hoạt động khuyến mại, thông báo kết quả khuyến mại với cơ quan quản lý nhà nước về thương mại

    1. Trước khi thực hiện hoạt động khuyến mại, thương nhân phải đăng ký và sau khi kết thúc hoạt động khuyến mại, thương nhân phải thông báo kết quả với cơ quan quản lý nhà nước về thương mại.

    2. Chính phủ quy định cụ thể việc đăng ký hoạt động khuyến mại và thông báo kết quả hoạt động khuyến mại của các thương nhân với cơ quan quản lý nhà nước về thương mại.

    MỤC 2. QUẢNG CÁO THƯƠNG MẠI

    Còn tiếp, mời các bạn tải về để xem đầy đủ Bộ Luật thương mại mới nhất

    Luật thương mại 2022 là văn bản luật thuộc lĩnh vực Thương mại đầu tư được chúng tôi cập nhật và đăng tải. Mời các bạn sử dụng file tải về để xem toàn văn Luật thương mại 2005 pdf và doc mới nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Thương Mại 2005 Số 36/2005/qh11 Năm 2022
  • Người Nước Ngoài Có Được Nhận Thừa Kế Đất Đai Tại Việt Nam?
  • “thuế Tử Thần” Và Cái Chết Đắt Đỏ Của Các Tỷ Phú Mỹ
  • Quyền Thừa Kế Johnny Hallyday: Luật Mỹ Hay Luật Pháp Sẽ Thắng Thế ?
  • Luật Thơ : Lục Bát & Song Thất Lục Bát
  • Luật Thương Mại Mới Nhất Số 36/2005/qh11 Do Quốc Hội Ban Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thương Mại Hiện Nay
  • Những Điểm Mới Của Luật Thương Mại Năm 2005
  • Sửa Đổi Luật Thương Mại Việt Nam 1997: Một Số Vấn Đề Lý Luận
  • Luật Trọng Tài Thương Mại Năm 2010
  • Tải Luật Trọng Tài Thương Mại Năm 2010 Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • THƯƠNG MẠI Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10; Luật này quy định về hoạt động thương mại. Chương I NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG MỤC 1. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

    1. Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thoả thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này.

    3. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.

    1. Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật này.

    3. Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.

    1. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

    2. Hàng hóa bao gồm:

    a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

    b) Những vật gắn liền với đất đai.

    3. Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại.

    4. Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại.

    5. Thông điệp dữ liệu là thông tin được tạo ra, gửi đi, nhận và lưu giữ bằng phương tiện điện tử.

    6. Văn phòng đại diện của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam để tìm hiểu thị trường và thực hiện một số hoạt động xúc tiến thương mại mà pháp luật Việt Nam cho phép.

    7. Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam là đơn vị phụ thuộc của thương nhân nước ngoài, được thành lập và hoạt động thương mại tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    8. Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.

    9. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.

    11. Các hoạt động trung gian thương mại là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho một hoặc một số thương nhân được xác định, bao gồm hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, uỷ thác mua bán hàng hoá và đại lý thương mại.

    12. Vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thoả thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này.

    13. Vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng.

    14. Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó.

    15. Các hình thức có giá trị tương đương văn bản bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu và các hình thức khác theo quy định của pháp luật.

    2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

    3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.

    1. Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó.

    2. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

    1. Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.

    2. Thương nhân có quyền hoạt động thương mại trong các ngành nghề, tại các địa bàn, dưới các hình thức và theo các phương thức mà pháp luật không cấm.

    3. Quyền hoạt động thương mại hợp pháp của thương nhân được Nhà nước bảo hộ.

    Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật. Trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật.

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động thương mại.

    2. Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện việc quản lý nhà nước về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại cụ thể được quy định tại Luật này.

    3. Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện việc quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại trong lĩnh vực được phân công.

    4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc quản lý nhà nước về các hoạt động thương mại tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ.

    1. Hiệp hội thương mại được thành lập để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thương nhân, động viên thương nhân tham gia phát triển thương mại, tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về thương mại.

    2. Hiệp hội thương mại được tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật về hội.

    MỤC 2. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI

    Thương nhân thuộc mọi thành phần kinh tế bình đẳng trước pháp luật trong hoạt động thương mại.

    1. Các bên có quyền tự do thoả thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó.

    2. Trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe doạ, ngăn cản bên nào.

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, các bên được coi là mặc nhiên áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà các bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái với quy định của pháp luật.

    Trường hợp pháp luật không có quy định, các bên không có thoả thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì áp dụng tập quán thương mại nhưng không được trái với những nguyên tắc quy định trong Luật này và trong Bộ luật dân sự.

    1. Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại có nghĩa vụ thông tin đầy đủ, trung thực cho người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mà mình kinh doanh và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các thông tin đó.

    2. Thương nhân thực hiện hoạt động thương mại phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính hợp pháp của hàng hoá, dịch vụ mà mình kinh doanh.

    Trong hoạt động thương mại, các thông điệp dữ liệu đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật thì được thừa nhận có giá trị pháp lý tương đương văn bản.

    MỤC 3. THƯƠNG NHÂN NƯỚC NGOÀI HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI TẠI VIỆT NAM

    1. Thương nhân nước ngoài là thương nhân được thành lập, đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nước ngoài hoặc được pháp luật nước ngoài công nhận.

    2. Thương nhân nước ngoài được đặt Văn phòng đại diện, Chi nhánh tại Việt Nam; thành lập tại Việt Nam doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài theo các hình thức do pháp luật Việt Nam quy định.

    3. Văn phòng đại diện, Chi nhánh của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thương nhân nước ngoài phải chịu trách nhiệm trước pháp luật Việt Nam về toàn bộ hoạt động của Văn phòng đại diện, Chi nhánh của mình tại Việt Nam.

    4. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được thương nhân nước ngoài thành lập tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên thì được coi là thương nhân Việt Nam.

    1. Hoạt động đúng mục đích, phạm vi và thời hạn được quy định trong giấy phép thành lập Văn phòng đại diện.

    2. Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Văn phòng đại diện.

    3. Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    4. Mở tài khoản bằng ngoại tệ, bằng đồng Việt Nam có gốc ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam và chỉ được sử dụng tài khoản này vào hoạt động của Văn phòng đại diện.

    5. Có con dấu mang tên Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    6. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    1. Không được thực hiện hoạt động sinh lợi trực tiếp tại Việt Nam.

    2. Chỉ được thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại trong phạm vi mà Luật này cho phép.

    3. Không được giao kết hợp đồng, sửa đổi, bổ sung hợp đồng đã giao kết của thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp Trưởng Văn phòng đại diện có giấy uỷ quyền hợp pháp của thương nhân nước ngoài hoặc các trường hợp quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 17 của Luật này.

    4. Nộp thuế, phí, lệ phí và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    5. Báo cáo hoạt động của Văn phòng đại diện theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    6. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    1. Thuê trụ sở, thuê, mua các phương tiện, vật dụng cần thiết cho hoạt động của Chi nhánh.

    2. Tuyển dụng lao động là người Việt Nam, người nước ngoài để làm việc tại Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    3. Giao kết hợp đồng tại Việt Nam phù hợp với nội dung hoạt động được quy định trong giấy phép thành lập Chi nhánh và theo quy định của Luật này.

    4. Mở tài khoản bằng đồng Việt Nam, bằng ngoại tệ tại ngân hàng được phép hoạt động tại Việt Nam.

    5. Chuyển lợi nhuận ra nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    6. Có con dấu mang tên Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    7. Thực hiện các hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động thương mại khác phù hợp với giấy phép thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    8. Các quyền khác theo quy định của pháp luật.

    1. Thực hiện chế độ kế toán theo quy định của pháp luật Việt Nam; trường hợp cần áp dụng chế độ kế toán thông dụng khác thì phải được Bộ Tài chính nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chấp thuận.

    2. Báo cáo hoạt động của Chi nhánh theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    3. Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

    Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    1. Chính phủ thống nhất quản lý việc cho phép thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam.

    2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài đầu tư vào Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.

    4. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định cụ thể về thẩm quyền của bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm trước Chính phủ quản lý việc cấp giấy phép cho thương nhân nước ngoài hoạt động thương mại tại Việt Nam thì thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó.

    1. Thương nhân nước ngoài chấm dứt hoạt động tại Việt Nam trong các trường hợp sau đây:

    a) Hết thời hạn hoạt động ghi trong giấy phép;

    b) Theo đề nghị của thương nhân và được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấp nhận;

    c) Theo quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền do vi phạm pháp luật và quy định của giấy phép;

    d) Do thương nhân bị tuyên bố phá sản;

    đ) Khi thương nhân nước ngoài chấm dứt hoạt động theo quy định của pháp luật nước ngoài đối với hình thức Văn phòng đại diện, Chi nhánh và tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh với bên Việt Nam;

    e) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

    Chương II MUA BÁN HÀNG HÓA MỤC 1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA

    1. Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể.

    2. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

    2. Đối với hàng hoá hạn chế kinh doanh, hàng hoá kinh doanh có điều kiện, việc mua bán chỉ được thực hiện khi hàng hoá và các bên mua bán hàng hóa đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật.

    1. Hàng hóa đang được lưu thông hợp pháp trong nước bị áp dụng một hoặc các biện pháp buộc phải thu hồi, cấm lưu thông, tạm ngừng lưu thông, lưu thông có điều kiện hoặc phải có giấy phép đối với một trong các trường hợp sau đây:

    a) Hàng hóa đó là nguồn gốc hoặc phương tiện lây truyền các loại dịch bệnh;

    b) Khi xảy ra tình trạng khẩn cấp.

    2. Các điều kiện cụ thể, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công bố việc áp dụng biện pháp khẩn cấp đối với hàng hóa lưu thông trong nước được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.

    2. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

    1. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

    2. Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.

    1. Tạm nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hoá được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẩu chính hàng hoá đó ra khỏi Việt Nam.

    2. Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam và làm thủ tục nhập khẩu lại chính hàng hoá đó vào Việt Nam.

    3. Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập hàng hóa .

    1. Chuyển khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

    2. Chuyển khẩu hàng hóa được thực hiện theo các hình thức sau đây:

    a) Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam;

    b) Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam;

    c) Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hoá tại các cảng Việt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.

    3. Chính phủ quy định chi tiết về hoạt động chuyển khẩu hàng hóa .

    Trong trường hợp cần thiết, để bảo vệ an ninh quốc gia và các lợi ích quốc gia khác phù hợp với pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, Thủ tướng Chính phủ quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp đối với hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế.

    1. Nhãn hàng hoá là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác được gắn lên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá.

    2. Hàng hóa lưu thông trong nước, hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phải có nhãn hàng hóa, trừ một số trường hợp theo quy định của pháp luật.

    3. Các nội dung cần ghi trên nhãn hàng hóa và việc ghi nhãn hàng hóa được thực hiện theo quy định của Chính phủ.

    1. Hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu phải có giấy chứng nhận xuất xứ trong các trường hợp sau đây:

    a) Hàng hóa được hưởng ưu đãi về thuế hoặc ưu đãi khác;

    b) Theo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    2. Chính phủ quy định chi tiết về quy tắc xuất xứ hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.

    MỤC 2. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CÁC BÊN TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

    1. Bên bán phải giao hàng, chứng từ theo thỏa thuận trong hợp đồng về số lượng, chất lượng, cách thức đóng gói, bảo quản và các quy định khác trong hợp đồng.

    1. Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng địa điểm đã thoả thuận.

    2. Trường hợp không có thoả thuận về địa điểm giao hàng thì địa điểm giao hàng được xác định như sau:

    a) Trường hợp hàng hoá là vật gắn liền với đất đai thì bên bán phải giao hàng tại nơi có hàng hoá đó;

    b) Trường hợp trong hợp đồng có quy định về vận chuyển hàng hoá thì bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho người vận chuyển đầu tiên;

    c) Trường hợp trong hợp đồng không có quy định về vận chuyển hàng hoá, nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng, các bên biết được địa điểm kho chứa hàng, địa điểm xếp hàng hoặc nơi sản xuất, chế tạo hàng hoá thì bên bán phải giao hàng tại địa điểm đó;

    d) Trong các trường hợp khác, bên bán phải giao hàng tại địa điểm kinh doanh của bên bán, nếu không có địa điểm kinh doanh thì phải giao hàng tại nơi cư trú của bên bán được xác định tại thời điểm giao kết hợp đồng mua bán.

    1. Trường hợp hàng hóa được giao cho người vận chuyển nhưng không được xác định rõ bằng ký mã hiệu trên hàng hóa, chứng từ vận chuyển hoặc cách thức khác thì bên bán phải thông báo cho bên mua về việc đã giao hàng cho người vận chuyển và phải xác định rõ tên và cách thức nhận biết hàng hoá được vận chuyển.

    2. Trường hợp bên bán có nghĩa vụ thu xếp việc chuyên chở hàng hoá thì bên bán phải ký kết các hợp đồng cần thiết để việc chuyên chở được thực hiện tới đích bằng các phương tiện chuyên chở thích hợp với hoàn cảnh cụ thể và theo các điều kiện thông thường đối với phương thức chuyên chở đó.

    1. Bên bán phải giao hàng vào đúng thời điểm giao hàng đã thoả thuận trong hợp đồng.

    2. Trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thời điểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua.

    3. Trường hợp không có thỏa thuận về thời hạn giao hàng thì bên bán phải giao hàng trong một thời hạn hợp lý sau khi giao kết hợp đồng.

    Trường hợp bên bán giao hàng trước thời hạn đã thỏa thuận thì bên mua có quyền nhận hoặc không nhận hàng nếu các bên không có thoả thuận khác.

    1. Trường hợp hợp đồng không có quy định cụ thể thì hàng hoá được coi là không phù hợp với hợp đồng khi hàng hoá đó thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Không phù hợp với mục đích sử dụng thông thường của các hàng hoá cùng chủng loại;

    b) Không phù hợp với bất kỳ mục đích cụ thể nào mà bên mua đã cho bên bán biết hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng;

    c) Không bảo đảm chất lượng như chất lượng của mẫu hàng hoá mà bên bán đã giao cho bên mua;

    d) Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường.

    2. Bên mua có quyền từ chối nhận hàng nếu hàng hoá không phù hợp với hợp đồng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

    Trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác, trách nhiệm đối với hàng hóa không phù hợp với hợp đồng được quy định như sau:

    1. Bên bán không chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá nếu vào thời điểm giao kết hợp đồng bên mua đã biết hoặc phải biết về những khiếm khuyết đó;

    2. Trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, trong thời hạn khiếu nại theo quy định của Luật này, bên bán phải chịu trách nhiệm về bất kỳ khiếm khuyết nào của hàng hoá đã có trước thời điểm chuyển rủi ro cho bên mua, kể cả trường hợp khiếm khuyết đó được phát hiện sau thời điểm chuyển rủi ro;

    3. Bên bán phải chịu trách nhiệm về khiếm khuyết của hàng hóa phát sinh sau thời điểm chuyển rủi ro nếu khiếm khuyết đó do bên bán vi phạm hợp đồng.

    1. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu hợp đồng chỉ quy định thời hạn giao hàng và không xác định thời điểm giao hàng cụ thể mà bên bán giao hàng trước khi hết thời hạn giao hàng và giao thiếu hàng hoặc giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì bên bán vẫn có thể giao phần hàng còn thiếu hoặc thay thế hàng hoá cho phù hợp với hợp đồng hoặc khắc phục sự không phù hợp của hàng hoá trong thời hạn còn lại.

    2. Khi bên bán thực hiện việc khắc phục quy định tại khoản 1 Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.

    4. Khi bên bán thực hiện việc khắc phục những thiếu sót quy định tại khoản 3 Điều này mà gây bất lợi hoặc làm phát sinh chi phí bất hợp lý cho bên mua thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán khắc phục bất lợi hoặc chịu chi phí đó.

    1. Trường hợp bên bán giao thừa hàng thì bên mua có quyền từ chối hoặc chấp nhận số hàng thừa đó.

    2. Trường hợp bên mua chấp nhận số hàng thừa thì phải thanh toán theo giá thoả thuận trong hợp đồng nếu các bên không có thoả thuận khác.

    1. Trường hợp các bên có thoả thuận để bên mua hoặc đại diện của bên mua tiến hành kiểm tra hàng hoá trước khi giao hàng thì bên bán phải bảo đảm cho bên mua hoặc đại diện của bên mua có điều kiện tiến hành việc kiểm tra.

    2. Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, bên mua hoặc đại diện của bên mua trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này phải kiểm tra hàng hóa trong một thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép; trường hợp hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hóa thì việc kiểm tra hàng hoá có thể được hoãn lại cho tới khi hàng hoá được chuyển tới địa điểm đến.

    3. Trường hợp bên mua hoặc đại diện của bên mua không thực hiện việc kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng theo thỏa thuận thì bên bán có quyền giao hàng theo hợp đồng.

    4. Bên bán không phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã biết hoặc phải biết nhưng không thông báo cho bên bán trong thời hạn hợp lý sau khi kiểm tra hàng hoá.

    5. Bên bán phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hoá mà bên mua hoặc đại diện của bên mua đã kiểm tra nếu các khiếm khuyết của hàng hoá không thể phát hiện được trong quá trình kiểm tra bằng biện pháp thông thường và bên bán đã biết hoặc phải biết về các khiếm khuyết đó nhưng không thông báo cho bên mua.

    Bên bán phải bảo đảm:

    1. Quyền sở hữu của bên mua đối với hàng hóa đã bán không bị tranh chấp bởi bên thứ ba;

    2. Hàng hóa đó phải hợp pháp;

    3. Việc chuyển giao hàng hoá là hợp pháp.

    1. Bên bán mất quyền viện dẫn quy định tại khoản 2 Điều 46 của Luật này nếu bên bán không thông báo ngay cho bên mua về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên bán đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba.

    2. Bên mua mất quyền viện dẫn quy định tại Điều 45 và khoản 1 Điều 46 của Luật này nếu bên mua không thông báo ngay cho bên bán về khiếu nại của bên thứ ba đối với hàng hoá được giao sau khi bên mua đã biết hoặc phải biết về khiếu nại đó, trừ trường hợp bên bán biết hoặc phải biết về khiếu nại của bên thứ ba.

    Trường hợp hàng hoá được bán là đối tượng của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự thì bên bán phải thông báo cho bên mua về biện pháp bảo đảm và phải được sự đồng ý của bên nhận bảo đảm về việc bán hàng hóa đó.

    1. Trường hợp hàng hoá mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hoá đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận.

    2. Bên bán phải thực hiện nghĩa vụ bảo hành trong thời gian ngắn nhất mà hoàn cảnh thực tế cho phép.

    3. Bên bán phải chịu các chi phí về việc bảo hành, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

    1. Bên mua có nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng và nhận hàng theo thỏa thuận.

    2. Bên mua phải tuân thủ các phương thức thanh toán, thực hiện việc thanh toán theo trình tự, thủ tục đã thỏa thuận và theo quy định của pháp luật.

    3. Bên mua vẫn phải thanh toán tiền mua hàng trong trường hợp hàng hoá mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua, trừ trường hợp mất mát, hư hỏng do lỗi của bên bán gây ra.

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc ngừng thanh toán tiền mua hàng được quy định như sau:

    1. Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng việc thanh toán;

    2. Bên mua có bằng chứng về việc hàng hóa đang là đối tượng bị tranh chấp thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi việc tranh chấp đã được giải quyết;

    3. Bên mua có bằng chứng về việc bên bán đã giao hàng không phù hợp với hợp đồng thì có quyền tạm ngừng thanh toán cho đến khi bên bán đã khắc phục sự không phù hợp đó;

    4. Trường hợp tạm ngừng thanh toán theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà bằng chứng do bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải bồi thường thiệt hại đó và chịu các chế tài khác theo quy định của Luật này.

    Trường hợp không có thoả thuận về giá hàng hoá, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá thì giá của hàng hoá được xác định theo giá của loại hàng hoá đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán hàng hoá, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá.

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu giá được xác định theo trọng lượng của hàng hoá thì trọng lượng đó là trọng lượng tịnh.

    Trường hợp không có thỏa thuận về địa điểm thanh toán cụ thể thì bên mua phải thanh toán cho bên bán tại một trong các địa điểm sau đây:

    1. Địa điểm kinh doanh của bên bán được xác định vào thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không có địa điểm kinh doanh thì tại nơi cư trú của bên bán;

    2. Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toán được tiến hành đồng thời với việc giao hàng hoặc giao chứng từ.

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn thanh toán được quy định như sau:

    2. Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán cho đến khi có thể kiểm tra xong hàng hoá trong trường hợp có thỏa thuận theo quy định tại Điều 44 của Luật này.

    Bên mua có nghĩa vụ nhận hàng theo thoả thuận và thực hiện những công việc hợp lý để giúp bên bán giao hàng.

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu bên bán có nghĩa vụ giao hàng cho bên mua tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho bên mua hoặc người được bên mua uỷ quyền đã nhận hàng tại địa điểm đó, kể cả trong trường hợp bên bán được uỷ quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hoá.

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hợp đồng có quy định về việc vận chuyển hàng hoá và bên bán không có nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua khi hàng hoá đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, nếu hàng hoá đang được người nhận hàng để giao nắm giữ mà không phải là người vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    1. Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hoá;

    2. Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hoá của bên mua.

    Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, nếu đối tượng của hợp đồng là hàng hoá đang trên đường vận chuyển thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng.

    Trừ trường hợp có thoả thuận khác, việc chuyển rủi ro trong các trường hợp khác được quy định như sau:

    1. Trong trường hợp không được quy định tại các điều 57, 58, 59 và 60 của Luật này thì rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá được chuyển cho bên mua, kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng;

    2. Rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên mua, nếu hàng hoá không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận tải, không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cách thức nào khác.

    Trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền sở hữu được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Thương Mại Hiện Nay 2022
  • Giới Thiệu Luật Thương Mại Năm 2005
  • Mẫu Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hóa 2022
  • Luật Thương Mại Số 36/2005/qh11
  • 4 Điều Quan Trọng Về Luật Trọng Tài Thương Mại 2022
  • Giám Định Thương Mại Trong Luật Thương Mại Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Giảng Luật Thương Mại 1
  • Bài Giảng Luật Thương Mại 2
  • Ngành Luật (Luật Thương Mại)
  • Quy Định Thế Nào Về Áp Dụng Pl Trong Hđ Có Yếu Tố Nước Ngoài
  • Hoàn Thiện Quy Định Về Quyền Thỏa Thuận Chọn Luật Áp Dụng Cho Hợp Đồng Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài
  • ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột

    1. Đặt vấn đề

    Điều 254 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Dịch vụ giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện những công việc cần thiết để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá, kết quả cung ứng dịch vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng”. Định nghĩa này cho thấy, giám định thương mại là hoạt động của bên thứ ba nhằm đánh giá tình trạng thực tế của đối tượng giám định theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nền tảng để thực hiện việc giám định là sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố con người, cơ sở vật chất, công nghệ, phương pháp tạo nên sự đánh giá chuyên nghiệp. Có thể nói, không chỉ góp phần hạn chế rủi ro trong kinh doanh, “giám định” còn góp phần giúp các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý nhằm bảo đảm một môi trường kinh doanh an toàn, hiệu quả cho các nhà đầu tư.

    Là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đang không ngừng phát huy nội lực và từng bước hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế quốc tế, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Theo đó, hoạt động giám định thương mại ngày càng phát triển. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi đề cập tới một số quy định pháp luật về giám định thương mại còn bất cập, trên cơ sở đó đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của hoạt động giám định thương mại, đồng thời hướng tới việc hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động này.

    2. Một số quy định về giám định thương mại

    2.1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

    Điều 256 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Chỉ các thương nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định thương mại mới được cấp phép thực hiện dịch vụ giám định và cấp chứng thư giám định”.

    Như vậy, chủ thể kinh doanh dịch vụ giám định thương mại là các thương nhân đáp ứng được các điều kiện nhất định. Cụ thể, theo quy định tại Điều 256 và Điều 257 Luật Thương mại năm 2005, để kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải đáp ứng các điều kiện sau: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật; có giám định viên đủ tiêu chuẩn theo quy định; có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hóa, dịch vụ đó.

    Một là, điều kiện về chủ thể: Theo quy định tại khoản 1 Điều 257 Luật Thương mại năm 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải “là các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật”.

    Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 không phân biệt thành phần kinh tế, không phụ thuộc vào tính chất sở hữu của doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (Điều 1 Luật Doanh nghiệp năm 2005).

    Hai là, điều kiện về đội ngũ nhân sự: Khoản 2 Điều 257 và Điều 259 Luật Thương mại năm 2005 quy định doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải có đội ngũ giám định viên đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, cấp bậc và điều kiện về thâm niên công tác. Căn cứ trên cơ sở đáp ứng các điều kiện này, giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định thương mại ra quyết định công nhận giám định viên và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình(1). Điều kiện về mặt trình độ chuyên môn, cấp bậc và thâm niên công tác của giám định viên được quy định cụ thể như sau:

    + Trình độ chuyên môn: Giám định viên phải có trình độ cao đẳng hoặc đại học phù hợp với lĩnh vực giám định. Chẳng hạn trên thực tế, giám định viên trong lĩnh vực xăng dầu thường tốt nghiệp chuyên ngành an toàn hàng hải, điều khiển tàu biển, khai thác máy tàu biển hoặc công nghệ lọc hóa dầu, công nghệ hóa học,…. Đối với lĩnh vực pháp luật quy định phải có chứng chỉ chuyên môn, giám định viên cần đáp ứng điều kiện này để được công nhận và tiến hành giám định.

    Với tính chất là hoạt động mang tính kỹ thuật cao, hoạt động xác định sự phù hợp để đưa ra chứng nhận, tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn của giám định viên như quy định tại Điều 257 Luật Thương mại năm 2005 khá thấp. Bên cạnh đó, tiêu chí này chưa được cụ thể hóa và có cơ chế kiểm tra, đánh giá do đó sẽ không đem lại hiệu quả cao trong hoạt động chuyên môn của đội ngũ giám định viên. Trên thực tế, các cá nhân tốt nghiệp từ bất cứ chuyên ngành nào cũng có thể tham gia công tác giám định. Năng lực của giám định viên phụ thuộc vào kết quả của quá trình “học nghề” từ những cá nhân có kinh nghiệm trong lĩnh vực giám định, phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và xử lý tình huống, số liệu của mỗi cá nhân. Như vậy, xét về mặt kỹ thuật lập pháp, quy định về điều kiện trình độ chuyên môn của giám định viên không đảm bảo được tính thực thi. Xét về mặt thực tiễn, trình độ chuyên môn của giám định viên với tiêu chuẩn quy định như trên không đủ đảm bảo chất lượng của công tác giám định.

    Mặc dù tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn giám định viên trong quy định của Luật Thương mại năm 2005 không cao, trên thực tế tiêu chuẩn này vẫn không được đảm bảo. Khảo sát tại một số công ty thì giám định viên được phân hạng gồm: Giám định viên tập sự, giám định viên, giám định viên chính, nhóm trưởng (thường gọi là Team Leader), giám định viên cao cấp (chuyên gia)(2).

    + Kinh nghiệm công việc: Giám định viên phải có tối thiểu 03 (ba) năm công tác trong lĩnh vực giám định. Như vậy, sau 03 (ba) năm tập sự, giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định đánh giá năng lực và quyết định công nhận hay không công nhận giám định viên đối với các giám định viên tập sự.

    Với khoảng thời gian 03 (ba) năm, mỗi giám định viên sẽ tích luỹ được kiến thức, kỹ năng giám định ở mức độ khác nhau phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và tần suất công việc mà giám định viên đó tham gia thực hiện. Tuy vậy, quy định về khoảng thời gian 03 (ba) năm có thể coi là đủ đáp ứng yêu cầu. Bởi lẽ, ngoài định lượng tối thiểu về mặt thời gian công tác của giám định viên theo quy định, Giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định tùy trường hợp có thể công nhận hoặc không công nhận giám định viên và chịu trách nhiệm về quyết định của mình (Điều 259 Luật Thương mại năm 2005).

    Tương tự điều kiện về chuyên môn, điều kiện về số năm kinh nghiệm làm căn cứ để công nhận giám định viên chưa được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định tuân thủ đúng quy định pháp luật. Số năm kinh nghiệm được xác định dựa trên bản khai về quá trình công tác của mỗi giám định viên (thường gọi là chuyên viên). Thông thường, số năm kinh nghiệm được kê khai cao hơn thực tế trong trường hợp giám đốc xét thấy có thể công nhận một đối tượng nào đó là giám định viên. Mặc dù vậy, những vi phạm về thâm niên công tác rất ít khi bị phát hiện và truy cứu. Ngoại trừ trường hợp tranh chấp được đưa ra trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sự vi phạm chỉ có thể bị phát hiện bởi những đoàn kiểm tra, đánh giá của khách hàng.

    Ba là, khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định: Khoản 3 Điều 257 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hoá, dịch vụ đó. Đây là điều kiện cần thiết vì dịch vụ giám định thương mại là hoạt động kỹ thuật cao, đòi hỏi đội ngũ giám định viên có chuyên môn vững, kỹ năng thành thạo và cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp. Quy định này góp phần tăng tính chính xác trong kết quả giám định, bảo vệ lợi ích cho khách hàng sử dụng dịch vụ này.

    + Việc xác định thế nào là “có khả năng” chưa được làm sáng tỏ. Trên thực tế, “có khả năng” được hiểu là có ban hành quy trình, phương pháp giám định dưới hình thức văn bản. Tuy nhiên, không có căn cứ nào để khẳng định việc có một hệ thống quy trình/phương pháp giám định đồng nghĩa với có khả năng thực hiện hoạt động giám định theo đúng phương pháp để mang lại hiệu quả cao.

    + Các quy trình, phương pháp giám định là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ được ban hành bởi mỗi tổ chức giám định. Các văn bản này không có tính pháp lý(4). Bên cạnh đó, chủ thể kiểm tra, thẩm định về nội dung quy trình, phương pháp giám định cũng như cách thức kiểm tra, thẩm định này vẫn chưa được làm rõ. Như vậy, nội dung các quy trình, phương pháp giám định không được thẩm định về tính chính xác và hiệu quả.

    + Giám định thương mại được thực hiện không giới hạn trên đối tượng là hàng hóa, dịch vụ. Trong khi đó, các quy trình, phương pháp giám định – văn bản hướng dẫn nghiệp vụ được ban hành bởi mỗi tổ chức giám định – không thể bao quát được tất cả các đối tượng.

    Từ các lý do trên cho thấy, quy định tại khoản 3 Điều 257 không bao quát mọi trường hợp và chỉ mang tính chung chung.

    Quy định về điều kiện để thương nhân được cấp giấy phép thông hành gia nhập thị trường cung ứng dịch vụ giám định thương mại tại Điều 257 Luật Thương mại năm 2005 là điểm mới so với Luật Thương mại năm 1997. Ngoài ra, phạm vi kinh doanh dịch vụ giám định trong Luật Thương mại năm 2005 mở rộng không chỉ thực hiện trên đối tượng là hàng hóa như quy định của Luật Thương mại năm 1997, mà còn bao gồm cung ứng dịch vụ(5). Sự thay đổi này nhằm tăng cường năng lực của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, qua đó nâng cao chất lượng của hoạt động này trên thị trường. Tuy nhiên, các quy định còn chung chung, chưa có hướng dẫn cụ thể, trong khi cơ chế quản lý việc tuân thủ pháp luật khá lỏng lẻo dẫn tới hiệu quả điều chỉnh không cao.

    2.2.  Giám định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước

    Cơ quan nhà nước là khách hàng đặc biệt trong quan hệ cung ứng dịch vụ giám định thương mại. Với vai trò là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước phải đảm bảo cân bằng lợi ích, đảm bảo công bằng giữa các chủ thể. Xuất phát từ nền tảng lý luận này, tiêu chuẩn để doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định thực hiện giám định phục vụ quản lý nhà nước cao hơn tiêu chuẩn để được cung cấp dịch vụ giám định thương mại nói chung.

    Thông tư số 16/2002/TT-BKHCN ngày 13/12/2002 hướng dẫn thực hiện khoản 3 Điều 16 Nghị định 20/1999/NĐ-CP ngày 12/4/1999 về kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa (Thông tư số 16/2002/TT-BKHCN) quy định điều kiện để doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định có thể thực hiện giám định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước như sau: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định ít nhất là 18 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép kinh doanh; có giám định viên đạt tiêu chuẩn theo quy định; có phương tiện kỹ thuật nghiệm được các chỉ tiêu quan trọng chủ yếu của loại hàng hoá đăng ký kiểm tra; có quy trình nghiệp vụ, kỹ thuật giám định phù hợp với hàng hoá cần được giám định theo trưng dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; có một trong ba chứng chỉ: Chứng chỉ chứng nhận hệ thống đảm bảo chất lượng đối với hoạt động giám định phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN-ISO 9000 (thường gọi là chứng chỉ về hệ thống quản lý chất lượng), chứng chỉ công nhận tổ chức giám định phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO/IEC 17020:2001 đối với lĩnh vực hàng hoá đăng ký được kiểm tra (thường gọi là chứng chỉ về hệ thống quản lý chất lượng áp dụng riêng đối với tổ chức giám định), chứng chỉ công nhận phòng thử nghiệm phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO/IEC 17025:2001 đối với phạm vi thử nghiệm các chỉ tiêu cơ bản của hàng hoá đăng ký được kiểm tra (thường gọi là chứng chỉ chứng nhận sự phù hợp của phòng thử nghiệm).

    Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định 20/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về kinh doanh dịch vụ giám định thương mại chưa đưa ra tiêu chí cụ thể về điều kiện này. Điều đó tạo ra sự lúng túng trong việc xác định tiêu chí chấp thuận một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định đủ điều kiện thực hiện dịch vụ giám định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước. Có hai quan điểm xử lý như sau: Thứ nhất, áp dụng quy định tại Thông tư số 16/2002/TT-BKHCH để có cơ sở giải quyết sự việc xảy ra trên thực tế trong thời gian chưa có hướng dẫn cụ thể; Thứ hai, không áp dụng quy định tại Thông tư số 16/2002/TT-BKHCN vì thông tư này đã hết hiệu lực.

    Về mặt lý luận, một văn bản hết hiệu lực thì văn bản hướng dẫn thi hành văn bản này cũng hết hiệu lực. Xử lý theo quan điểm thứ nhất sẽ trái với nguyên tắc này. Ngược lại, nếu xử lý theo quan điểm thứ hai thì không có tiêu chí để xem xét, chấp thuận một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định đáp ứng đủ điều kiện để được yêu cầu giám định bởi cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, Thông tư số 16/2002/TT-BKHCN cũng không thuộc trường hợp hết hiệu lực theo quy định tại Điều 81 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 về các trường hợp hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

    Thực tiễn hiện nay, Thông tư 16/2002/TT-BKHCN được coi là đã hết hiệu lực. Tuy nhiên, quy định về điều kiện, tiêu chuẩn để thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có thể được yêu cầu giám định bởi cơ quan nhà nước tại Thông tư này vẫn được các cơ quan nhà nước vận dụng một cách linh hoạt. Song song với thực tế này là tình trạng lúng túng của các cơ quan chức năng khi xem xét đơn đề nghị chấp thuận là tổ chức được quyền thực hiện giám định phục vụ quản lý nhà nước của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định.

    2.3. Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai

    Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai. Theo đó, yếu tố lỗi được xem xét để xác định chế tài áp dụng. Trách nhiệm vật chất của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định được phân biệt trong trường hợp lỗi vô ý và trường hợp lỗi cố ý cụ thể như sau(6):

    Trường hợp lỗi cố ý, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định.

    Trường hợp lỗi vô ý, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải trả tiền phạt cho khách hàng với mức phạt do các bên thỏa thuận nhưng không quá mười lần thù lao dịch vụ giám định.

    Phạt vi phạm do chứng thư giám định có kết quả sai:

    Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận về việc áp dụng hình thức chế tài này trừ một số trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 294 Luật Thương mại năm 2005. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng”. Như vậy, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm trong trường hợp lỗi vô ý được hiểu là cần hay không cần sự thỏa thuận trước của các bên trong hợp đồng.

    Trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định, điều kiện để áp dụng chế tài phạt vi phạm dù được giải thích là cần hay không cần yếu tố có thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài này đều không thỏa đáng. Nếu không cần sự thoả thuận trước (áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 thay vì Điều 300 Luật Thương mại năm 2005), nguyên tắc chung về điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 cần ghi nhận trường hợp ngoại lệ. Sự thừa nhận này tạo tính thống nhất, đồng bộ trong quy định của pháp luật. Ngược lại, nếu lý giải cần có sự thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 không đảm bảo được điều kiện này. Nội dung quy định thể hiện tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 sẽ khiến nhiều chủ thể cho rằng, việc thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm là không cần thiết. Khi vi phạm xảy ra, việc các bên thỏa thuận được vấn đề phạt vi phạm, thống nhất được mức phạt khi hợp đồng không quy định là rất khó khăn. Như vậy, nếu các bên không có thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, có khả năng thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định sẽ không phải chịu một trách nhiệm vật chất nào trong trường hợp vi phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ giám định do lỗi vô ý.

    Trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi cố ý, khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trường hợp này, chế tài phạt vi phạm có được áp dụng theo nguyên tắc chung được quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 không? Nếu vận dụng Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, chế tài phạt vi phạm vẫn được áp dụng đồng thời với chế tài bồi thường thiệt hại khi các bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm thì mức phạt vi phạm được giới hạn ở mức nào? Cụ thể, mức phạt vi phạm bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí dịch vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 266 hay không quá 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 trong khi khoản 1 Điều 266 quy định cho trường hợp vi phạm do lỗi vô ý. Ngược lại, nếu vận dụng Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 trong trường hợp lỗi cố ý thì Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 cũng cần được vận dụng trong trường hợp lỗi vô ý để tạo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật giám định thương mại.

    Trên thực tế, chế tài phạt vi phạm chỉ có thể được áp dụng khi các bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng. Mức phạt vi phạm trong trường hợp vi phạm do lỗi vô ý cũng như trường hợp vi phạm do lỗi cố ý đều bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí giám định.

    Luật Thương mại năm 1997 quy định chế tài phạt vi phạm với mức phạt bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí giám định trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai theo thỏa thuận của hai bên mà không phân biệt lỗi vô ý hay lỗi cố ý(7). Sự không phân biệt yếu tố lỗi tại Luật Thương mại năm 1997 xét ở góc độ nào đó là phù hợp với tư duy pháp lý thể hiện tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005. Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, yếu tố lỗi không là một trong những căn cứ để xác định phạt vi phạm. Tuy nhiên, Điều luật này đưa ra các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Như vậy, giống như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật thương mại Việt Nam tránh sử dụng khái niệm “lỗi” như một căn cứ để xác định trách nhiệm của bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng. Thay vì sử dụng khái niệm này, pháp luật thương mại đưa ra căn cứ miễn trừ trách nhiệm, theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bị coi là có lỗi và phải chịu phạt vi phạm nếu không chứng minh được việc vi phạm hợp đồng là do trường hợp bất khả kháng hay trường hợp được miễn trách nhiệm theo thỏa thuận của các bên hoặc theo luật quy định. Đây là một trong những dấu hiệu cho thấy rằng, sau một thời gian đổi mới, chế định hợp đồng nước ta đã và đang bắt đầu vượt qua các thói quen và cách tư duy truyền thống để nhanh chóng hòa nhập vào quá trình toàn cầu hóa hiện nay(8). Qua đây có thể rút ra nhận xét, đối với trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, xét dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 dường như đã đi ngược lại với tư duy pháp lý hiện nay.

    Bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai

    Khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ giám định do lỗi cố ý. Trong khi đó, nguyên tắc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 không xem lỗi là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm này(9). Như đã phân tích ở phần chế tài phạt vi phạm, vượt qua tư duy truyền thống, tư duy pháp lý ngày nay không coi yếu tố lỗi là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm của bên không thực hiện hay thực hiện không đúng hợp đồng. Trong khoa học pháp lý, vấn đề trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức chỉ được đặt ra đối với một con người cụ thể. Trong quan hệ hợp đồng kinh doanh – thương mại, chủ thể tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng chủ yếu là các tổ chức kinh doanh(10). Do vậy, việc xác định một cách chính xác trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của các tổ chức càng khó khăn hơn so với việc xác định yếu tố này ở cá nhân. Có thể nói, quy định tại Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 đã phù hợp với xu hướng pháp lý hiện nay. Tuy vậy, khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005, dù được giải thích là quy định áp dụng với trường hợp cụ thể, dường như đang trở lại với tư duy pháp lý truyền thống trước đây.

    Theo quy định của Luật Thương mại năm 1997, nếu các bên không thỏa thuận trước về chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp có vi phạm trong hoạt động giám định thì bên vi phạm chỉ phải chịu nộp tiền phạt, việc áp dụng đồng thời chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cần có sự thỏa thuận trước của các bên(11). Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 230 Luật Thương mại năm 1997 “phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại vật chất, có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất và có lỗi của vi phạm hợp đồng”(12). Như vậy, việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại theo Luật Thương mại năm 1997 cũng cần có yếu tố lỗi trong hành vi vi phạm, đồng thời còn phải có sự thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài này. Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 1997 không phân chia thành lỗi cố ý hay vô ý làm căn cứ xác định mức độ trách nhiệm khi có hành vi vi phạm hợp đồng(13). Không thể xác định một cách chính xác trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của các tổ chức nên lỗi khi vi phạm hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 là lỗi suy đoán.

    Từ các phân tích trên cho thấy, khác với Luật Thương mại năm 1997, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai trong Luật Thương mại năm 2005 có sự phân chia yếu tố lỗi thành lỗi cố ý hay vô ý. Mặc dù sự phân biệt này có ý nghĩa đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định hơn so với quy định tương ứng trong Luật Thương mại năm 1997. Tuy nhiên, yếu tố lỗi là một phạm trù tâm lý vì nó được biểu biện thông qua trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của con người đối với hành vi của họ và hậu quả của những hành vi ấy(14). Do vậy, việc chứng minh lỗi cố ý hay vô ý không mang tính tuyệt đối và khó thực hiện. Đặc biệt, đối với chủ thể là một tổ chức như tổ chức giám định, việc xác định yếu tố lỗi càng khó thực hiện một cách chính xác. Xét về mặt ý nghĩa thực tiễn, hiệu quả của việc phân định yếu tố lỗi trong căn cứ xác định trách nhiệm không cao. Về mặt kỹ thuật lập pháp, sự phân biệt yếu tố lỗi trong quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp kết quả giám định sai không rõ ràng, logic và đi ngược lại với xu hướng lập pháp được thể hiện tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005.

    Vấn đề đặt ra tiếp theo là trách nhiệm vật chất của cá nhân trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai. Hoạt động giám định được thực hiện khách quan, chính xác hay không phụ thuộc vào giám định viên, giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định. Yếu tố lỗi trong trường hợp kết quả giám định sai xét cho cùng thuộc về giám định viên hoặc/và giám đốc doanh nghiệp kinh doanh tổ chức giám định. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chỉ quy định trách nhiệm vật chất của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định trong trường hợp kết quả giám định sai. Việc không quy định cụ thể trách nhiệm vật chất của cá nhân trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm nguyên tắc độc lập, khách quan, khoa học, chính xác không được khắc phục.

    Tóm lại, về mặt lý luận, quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 đã gây ra những cách hiểu khác nhau khi áp dụng các chế tài trong kinh doanh – thương mại. Nếu xem quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 là trường hợp ngoại lệ của quy định tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005, thì cần có sự ghi nhận trường hợp ngoại lệ trong quy định chung về căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm/bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005.

    3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật giám định thương mại ở Việt Nam

    Thứ nhất, về chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai

    Việc xây dựng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai cần được thực hiện trên nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật giám định thương mại nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung. Theo đó, quy định này cần được sửa đổi theo hướng thống nhất với quy định chung về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 và tạo cơ chế răn đe hợp lý đối với hành vi cấp chứng thư giám định có kết quả sai của doanh nghiệp làm dịch vụ giám định. Nên sửa đổi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 để không còn sự nhầm lẫn như phân tích ở trên. Có thể sửa đổi hai khoản này thành một khoản chung như sau:

    “Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai thì phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng theo quy định của pháp luật. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định”.

    Thứ hai, quy định cụ thể, chi tiết các điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

    Các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định khá chung chung, chưa được hướng dẫn cụ thể làm cho việc hiểu và áp dụng trong thực tiễn chưa thống nhất. Cụ thể là quy định về điều kiện chuyên môn của giám định viên; điều kiện có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hóa, dịch vụ đó; điều kiện để thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có thể được yêu cầu giám định bởi cơ quan nhà nước. Sự thiếu hướng dẫn và quy định cụ thể dẫn đến nhiều lúng túng trong quá trình áp dụng cũng như hiệu quả điều chỉnh không cao.

    Thứ ba, bổ sung quy định về thẻ giám định viên

    Từ sự phân tích về điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, chúng tôi cho rằng, cần bổ sung quy định mỗi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định phải có mẫu thẻ giám định viên riêng biệt và cấp thẻ giám định viên cho các giám định viên được công nhận, khi các giám định viên thực hiện công tác tại hiện trường thì phải đeo thẻ do tổ chức giám định cấp. Quy định này có các ý nghĩa sau:

    + Đeo thẻ giám định viên khi thực hiện công tác giám định tại hiện trường, giám định viên sẽ ý thức hơn về trách nhiệm của mình, uy tín của tổ chức giám định. Từ đó, hoạt động của mỗi giám định viên sẽ được chú trọng hơn về tính đúng đắn. Chất lượng công tác giám định theo đó được nâng cao.

    + Quy định tổ chức giám định cấp thẻ giám định viên cho giám định viên của tổ chức mình sẽ tăng tính quy củ, chuyên nghiệp hơn trong hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định.

    Thứ tư, cần tổ chức định kỳ các kỳ thi giám định viên và cấp chứng chỉ công nhận

    Từ sự phân tích về điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, chúng tôi kiến nghị tổ chức định kỳ các kỳ thi giám định viên dựa trên sự hệ thống hóa các điều kiện về mặt chuyên môn, kiến thức, kỹ năng. Việc công nhận giám định viên sẽ được giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định căn cứ vào chứng chỉ được cấp khi vượt qua kỳ thi này và sự đánh giá khả năng thực hiện công việc trên thực tế của mỗi cá nhân

    (1). Khoản 2 Điều 259 Luật Thương mại năm 2005.

    (2). Kết quả khảo sát và phỏng vấn các chuyên gia trong lĩnh vực giám định trong 03 năm của tác giả.

    (3). Khoản II Phần II Thông tư 33/1999/TT-BTM ngày 18/11/1999 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 20/1999/NĐ-CP ngày 12/4/1999 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa.

    (4). Mai Tiến Dũng (2006), ” Vấn đề giám định – Vinacontrol”, http:// www.vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=762.

    (5). Điều 172 Luật Thương mại năm 1997 và Điều 254 Luật Thương mại năm 2005.

    (6). Điều 266 Luật Thương mại năm 2005.

    (7). Khoản 4 Điều 178 Luật Thương mại năm 1997.

    (8). Lê Thị Diễm Phương (2009), Hoàn thiện chế định phạt vi phạm trong pháp luật hợp đồng thương mại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 52-53.

    (9). Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đầy đủ các căn cứ sau: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

    (10). Nguyễn Phú Cường (2009), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh – thương mại, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 31.

    (11). Khoản 3 Điều 379 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Khoản 4 Điều 178 Luật Thương mại năm 1997.

    (12). Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 48-51.

    (13). Nguyễn Phú Cường (2009), tlđd, tr. 31.

    (14). Lê Thị Diễm Phương (2009), tlđd, tr. 50.

    Nguồn: http://www.moj.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Hợp Đồng Thương Mại Là Gì?
  • Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thương Mại Trong Hợp Đồng Quốc Tế (Phần 1)
  • Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thương Mại Tiếng Anh Là Gì ? Luật Thương Mại (Tiếng Anh
  • Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thương Mại Thường Sử Dụng Trong Doanh Nghiệp
  • Pháp Luật Thương Mại Điện Tử Và Thực Trạng Thực Thi Ở Việt Nam
  • Mua Bán Hàng Hóa Trong Thương Mại Được Quy Định Thế Nào Trong Pháp Luật Hiện Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thương Mại Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam 2005 – Wikisource Tiếng Việt
  • Điều Kiện Thiết Lập Website Thương Mại Điện Tử Bán Hàng
  • Cùng Iicci Tìm Hiểu Rõ Hơn Về Khái Niệm Xúc Tiến Thương Mại Là Gì?
  • #1 : Luật Chơi Uno Mở Rộng Và Bật Mí Các Chiến Thuật “Sốt Xình Xịch”
  • Hướng Dẫn Cách Chơi Bài Uno Cơ Bản Cho Người Mới Chơi
  • Hoạt động mua bán hàng hóa được diễn ra rất phổ biến trong thời gian hiện nay. Việc nắm rõ những đặc điểm cũng như hình thức của hoạt động này khiến cho chúng ta không bị nhầm lẫn với các hoạt động tương tự trong lĩnh vực dân sự.

    Để có đáp án nhanh nhất trong lĩnh vực pháp luật Thương mại gọi tổng đài tư vấn pháp luật (24/7): 1900 6198

    Theo khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 thì hàng hóa bao gồm:

    Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

    Những vật gắn liền với đất đai”.

    Trong đó:

    Động sản là những tài sản không phải là bất động sản;

    Bất động sản bao gồm: (i)

    Đất đai; (ii)

    Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai; (iii)

    Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng; (iv)

    Tài sản khác theo quy định của pháp luật.

    Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận.

    Chủ thể : thương nhân hoặc thương nhân và các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa.

    Đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là hàng hóa theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương maị năm 2005.

    Hình thức : Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.

    Quá trình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.

    Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Xuất Xứ Hàng Hóa Xuất Khẩu Theo Quy Định Của Luật Thương Mại
  • Từ Vựng Tiếng Trung Chủ Đề Luật Pháp Và Tòa Án
  • Chuyển Rủi Ro Trong Hợp Đồng Thương Mại
  • 4 Thời Điểm Chuyển Rủi Ro Trong Hợp Đồng Mua Bán Hàng Hoá
  • Đề Thi Môn Luật Thương Mại Quốc Tế Lớp Thương Mại 36B
  • Ngành Luật Kinh Tế, Luật Thương Mại Và Luật Thương Mại Quốc Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Giới Thiệu Chuyên Ngành Luật Kinh Tế
  • Mối Quan Hệ Giữa Pháp Luật Với Kinh Tế
  • Hoàn Thiện Xây Dựng Pháp Luật Kinh Tế Trong Bối Cảnh Việt Nam Tăng Cường Hội Nhập Quốc Tế
  • Ngành Luật Kinh Tế Lấy Bao Nhiêu Điểm?
  • Ngành Luật Kinh Tế Là Gì ? Ngành Luật Kinh Tế Học Những Gì ?
  • (hieuhoc_hieuhoc.com) Ngành Luật Thương Mại (ĐH Luật TPHCM) và Luật thương mại quốc tế (Khoa Kinh Tế – ĐHQG TPHCM) có gì khác nhau ? Đào tạo trong bao nhiêu năm ? Để có chứng chỉ hành nghề Luật sư thì phải học tiếp những gì ? Ở đâu ? Ngành Luật có trường nào đào tạo văn bằng 2 hay không ? Đứa em vẫn đang học khối Kỹ Thuật, tính thi Luật dạng Văn Bằng 2, hay vừa học vừa làm hoặc từ xa để có bằng Cử Nhân Luật có được không? – (Hoa Quynh/Diễn đàn hieuhoc_hieuhoc.com)

    Hơn 15 năm hình thành phát triển, trường ĐH Luật chúng tôi đã từng bước khẳng định được là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học pháp lý, truyền bá pháp luật lớn nhất ở khu vực phía Nam…

    Chương trình đào tạo Cử nhân của Trường ĐH Luật chúng tôi kéo dài trong thời gian 4 năm (8 học kỳ) với tổng số đơn vị học trình là 190 (mỗi đơn vị học trình bằng 15 tiết học), trong đó có 60 đơn vị học trình thuộc các môn cơ bản và 130 đơn vị học trình thuộc các môn học chuyên ngành, thực tập cuối khóa và thi tốt nghiệp

    Chương trình cung cấp sinh viên kiến thức lý luận chuyên sâu về pháp luật nói chung và lĩnh vực luật thương mại nói riêng. Sinh viên tốt nghiệp Khoa Luật thương mại có thể làm cán bộ tư vấn pháp luật, cán bộ kinh doanh trong các cơ quan kinh tế, các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Sở Thương mại, Cục hải quan, Sở kế hoạch – Đầu tư…Hoặc làm chuyên viên ở các cơ quan cấp huyện như Ủy ban Nhân dân, Phòng Kinh tế, Phòng thuế. Hoặc cũng có thể công tác ở các Toà án kinh tế, Viên Kiểm sát hoặc trở thành luật sư chuyên về lĩnh vực kinh tế thương mại.

    Trường ĐH Kinh tế-Luật (ĐH Quốc gia TP.HCM): Ngành Luật kinh tế (Quản trị – luật)

    Kể từ năm 2011, trường Trường ĐH Kinh tế-Luật (ĐH Quốc gia chúng tôi đã thay đổi tên gọi ngành đào tạo và thông báo tuyển sinh theo đúng tên ngành quy định là Luật kinh tế. Sinh viên ra trường được cấp bằng tốt nghiệp ngành chính là Luật kinh tế, những chuyên ngành Tài chính-ngân hàng-chứng khoán, hoặc Kinh doanh, Thương mại quốc tế… chỉ được ghi vào bảng điểm học tập của sinh viên. Trước đây ngành học Quản trị luật tại Trường ĐH Luật chúng tôi được thiết kế đào tạo trong năm năm với hai khối lượng kiến thức song hành, vừa quản trị kinh doanh vừa luật. Đến nay, theo quy định mới của Bộ GD&ĐT thì ngành học này bị buộc vào khung chương trình đào tạo gói gọn trong bốn năm và chương trình đào tạo sẽ được thiết kế lại theo ngành Quản trị kinh doanh nhưng chuyên ngành Quản trị-luật.

    Trong thiết kế chương trình đào tạo của Trường ĐH kinh tế – Luật chúng tôi khi học xong chương trình này sẽ hoàn tất được 18 tín chỉ về chương trình luật. Nếu học văn bằng hai chính quy của trường về ngành luật sẽ được miễn những môn đã học, tốt nghiệp sẽ được cấp hai bằng cử nhân chính quy là Quản trị kinh doanh và Luật.

    Đào tạo cử nhân luật có phẩm chất chính trị, đạo đức và sức khoẻ tốt; có kiến thức cơ bản về pháp luật, thực tiễn pháp lý; có kỹ năng chuyên sâu về pháp luật trong kinh doanh, đồng thời có kiến thức cơ bản về kinh tế, quản trị kinh doanh, đủ khả năng nghiên cứu và xử lý những vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn hoạt động kinh doanh và quản lý nhà nước đối với nền kinh tế của Việt Nam. Sinh viên được trang bị các kỹ năng nghề nghiệp như: tư vấn, phát triển doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp, đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng, thực hiện chức năng của chuyên viên pháp lý tại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; có thể độc lập đưa ra các đề xuất giải quyết các tình huống pháp lý trong kinh doanh, nắm vững các thao tác nghiệp vụ khi doanh nghiệp tham gia vào các vụ tố tụng phát sinh từ hoạt động kinh doanh.

    Sau khi tốt nghiệp, cử nhân ngành Luật kinh doanh có thể trở thành chuyên viên làm việc tại các cơ quan lập pháp, trong bộ máy quản lý nhà nước ; có thể làm tại các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh doanh; họ cũng có thể trở thành các chuyên gia tư vấn pháp lý, luật sư,…. Một bộ phận sinh viên tốt nghiệp có thể làm công tác giảng dạy & nghiên cứu về các lĩnh vực chuyên sâu thuộc lĩnh vực Luật học tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp.

    Sinh viên tốt nghiệp có thể làm việc ở các cơ quan nhà nước như Bộ, Sở Tư Pháp, cơ quan ngoại giao, các sứ quán Việt Nam tại nước ngoài; hoặc có thể làm việc cho các công ty nước ngoài tại Việt nam, các cơ quan quốc tế, các công ty tư vấn pháp luật. Ngành Thương mại quốc tế (Ngoại thương) từ truớc đến nay vẫn là ngành có nhu cầu lớn ở tất cả các doanh nghiệp, nhưng điểm chuẩn vào các trường ĐH rất cao.

    Điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư:

    -Có bằng tốt nghiệp đại học Luật

    -Là thành viên của đoàn luật sư

    -Đã hoàn thành các kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư

    -Hoặc là người có nhiều kinh nghiệm trong hành nghề luật (đã làm thẩm phán được 10 năm; đã có ít nhất 15 năm hoạt động với tư cách chuyên gia pháp lý, nhà nghiên cứu pháp lý; giảng viên luật; điều tra viên, công chứng viên; thanh tra,… );

    -Được Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.

    Học Luật ra trường không phải chỉ làm việc trong các cơ quan nhà nước mà có thể làm việc ở rất nhiều ngành nghề và đơn vị khác nhau. Nhiều bạn nghĩ học Luật chỉ ra làm luật sư là không đúng. Không phải học Luật ra là làm tòa án, viện kiểm sát mà chúng ta có thể công tác trong ngành công an (hiện nay rất nhiều cựu sinh viên luật đang công tác ở các vị trí quan trọng trong ngành công an). Nếu không thích làm việc trong các cơ quan nhà nước, sinh viên luật cũng có thể làm việc trong các doanh nghiệp, làm tư vấn luật, làm nhà báo… Nhu cầu về ngành luật hiện nay là rất lớn. Khi học ngành luật, thí sinh có thể lựa chọn những ngành học phù hợp: Luật kinh tế, Luật thương mại, Luật thương mại quốc tế, Luật dân sự, Luật hình sự… Nhiều trường đào tạo cử nhân Luật có đào tạo văn bằng 2 (học văn bằng 1 khối nào thì cũng có thể dự thi văn bằng 2), hoặc học theo hệ vừa học vừa làm như: ĐH Luật Hà nội; Đại học Ngoại Thương TP.Hồ Chí Minh; Viện đại học Mở Hà Nội …

    Gia kỳ (hieuhoc_hieuhoc.com)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bạn Có Biết Các Trường Đại Học Kinh Tế Tiếng Anh Là Gì Không?
  • Đôi Nét Về Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Kinh Tế Đáng Quan Tâm
  • Từ Điển Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Đầy Đủ Nhất 2022
  • Đại Học Đà Nẵng Tại Kon Tum Tuyển Sinh Năm 2022
  • Khối A09 Có Những Ngành Nào Và Trường Nào Tuyển Sinh Khối A09
  • Đặc Điểm Khuyến Mại Trong Luật Thương Mại

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Hình Thức Khuyến Mại Phổ Biến, Độc Đáo Trong Thương Mại
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Khuyến Mại Rượu
  • Hợp Đồng Dịch Vụ Logistics Theo Luật Thương Mại 2005
  • Qui Định Hiện Hành Về Dịch Vụ Logistics
  • Pháp Luật Việt Nam Về Dịch Vụ Logistics Trong Hoạt Động Thương Mại Điện Tử
    1. Định nghĩa : khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định

    Chủ thể được thực hiện hành vi khuyến mại:

    – thương nhân trực tiếp tổ chức thực hiện KM hàng hóa mà mình kinh doanh

    – thương nhân kinh doanh dịch vụ KM, thực hiện KM cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó.

    – Chi nhánh của Thương nhân có các quyền như thương nhân

    – Văn phòng đại diện của thuơng nhân Việt Nam, của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện hoạt động khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện. (khoản 2 Điều 91 Luật Thương mại 2005)

    Hàng hóa dịch vụ được khuyến mại (điều 93- LTM 2005) là hàng hóa dịch vụ được thương nhân sử dụng các hình thức KM để xúc tiến việc bán hàng hóa/ cung ứng dịch vụ đó.

    – Hàng hóa được khuyến mại phải là hàng hóa dịch vụ được kinh doanh hợp pháp

    hàng hóa dịch vụ phải thuộc phạm vi đăng ký kinh doanh

    Hàng hóa dịch vụ dùng để KM: là hàng hóa dịch vụ thương nhân dùng để tặng thưởng cung ứng không thu tiền cho khách hàng

    Hàng hóa này có thể là hàng hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc hàng hóa dịch vụ khác nhưng phải là hàng hóa được kinh doanh hợp pháp

    3. Các hình thức KM (điều 92 – LTM 2005)

    v Đưa hàng mẫu cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền

    Hàng hóa đưa cho khách hàng dùng thử là hàng hóa đang bán hoặc sẽ bán trên thị trường hình thức này không nhất thiết gắn liền với hành vi mua hay sử dụng dịch vụ của khách hàng và không bị hạn chế về số lượng, giá trị hàng mẫu, thời gian phát tặng hàng mẫu cho khách hàng

    v Tặng hàng hóa cho khách hàng cung ứng dịch vụ ko thu tiền: là hình thức thương nhân dùng hàng hóa dịch vụ làm quà tặng cho khách hàng không thu tiền

    – hàng hóa dịch vụ là quà tặng có thể là hàng hóa dịch vụ thương nhân đang kinh doanh hoặc hàng hóa dịch vụ của thương nhân khác

    – hạn mức tối đa về giá trị quà tặng , giá trị dịch vụ tặng cho khách hàng không bị hạn chế theo đơn giá hàng hóa dịch vụ (có thể mua 1 tặng 2 hoặc mua 2 tặng 1)

    – tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ dùng để KM trong 1 chương trình KM không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa dịch vụ được KM

    v Bán hàng cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng hóa giá cung ứng dịch vụ trước đó

    – hình thức này được áp dụng trong thời gian KM đã đăng ký hoặc thông báo.

    – Nếu hàng hóa dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc KM theo hình thức này được thực hiện theo quy định của chính phủ

    – mức giảm tối đa đối với hàng hóa dịch vụ được KM không được vượt quá 50% giá của hàng hóa dịch vụ đó ngay trước thời gian KM

    – tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ dùng để KM trong 1 chương trình KM không được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ được KM

    – thời gian thực hiện giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa dịch vụ không được vượt quá 90 ngày/ năm. Một chương trình KM không được vượt quá 45 ngày (NĐ 37)

    v Bán hàng cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng 1 số lợi ích nhất định

    Đây là hình thức KM theo đó khách hàng được sử dụng phiếu mua hàng có mệnh giá cụ thể để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thống bán hàng của thương nhân. Hoặc phiếu sử dụng dịch vụ miễn phí hay với giá rẻ theo điều kiện do nhà cung ứng dịch vụ đưa ra

    : dịch vụ Karaoke đưa cho khách phiếu sử dụng dịch vụ với nội dung là: cầm phiếu này đến cơ sở để hát karaoke từ 23h den 05h se được tính giá rẻ hơn giá bình thường 10%

    Hoặc Khách hàng mua sản phẩm của Việt tiến trên 1.000.000 sẽ được phiếu mua hàng trị giá 200.000 ở 1 lần mua hàng tiếp theo trong 1 khoảng thời gian nhất định

    – Giá trị vật chất dùng để KM không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa dịch vụ được KM trước thời gian KM

    – Tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ dùng để KM không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa dịch vụ được KM

    v Bán hàng cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng

    – với hình thức nàykhách hàng mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ sẽ có cơ hội tham gia 1 cuộc thi và có thể được giả thưởng hoặc không (phụ thuộc kết quả dự thi)

    – tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ dùng để KM trong 1 chương trình KM không được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ được KM

    – thương nhân thực hiện KM phải tổ chức thi và công bố giải thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố

    v Bán hàng cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham gia các chương trình mang tính may rủi (bốc thăm, cào số…)

    – thương nhân thực hiện KM sẽ chủ động trong việc cơ cấu giải thưởng, số lượng giá trị giải thưởng, địa điểm trao giải thưởng…

    – Trong trường hợp giá trị giải thưởng từ 100 triệu đồng trở lên, thương nhân phải thông báo cho Sở Thương mại nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất 7 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại

    v Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên : việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc giá trị mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức như thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ hoặc các hình thức khác

    VD : thẻ thành thành viên của siêu thị coopmark dành cho khách hàng thân thiết

    v Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa văn nghệ giải trí và các sự kiện khác vì mục đích KM

    VD: đoàn diễu hành mang sản phẩm đi quanh các phố chính, hay tổ chức người thuyết minh về sản phẩm tại các điểm công cộng mà khách hàng tiềm năng thường lui tới như các siêu thị, khu mua sắm

    v Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại chấp nhận

    VD : có một số sản phẩm bột giặt có trọng lượng từ 500gr tăng lê 550gr giá không đổi…

    4. Các hình thức KM bị cấm

    • Khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng
    • Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.
    • Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi. Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức.
    • Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng; Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng.
    • Khuyến mại để tiêu thụ hàng hóa kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khỏe con người và lợi ích công cộng khác
    • Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân.
    • Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

    5. Kinh doanh dịch vụ KM a. Khái niệm Kinh doanh dịch vụ khuyến mại là hoạt động thương mại theo đó một thương nhân thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác trên cơ sở hợp đồng” (Điều 89 LTM 2005) b. Hợp đồng dịch vụ KM

    Chủ thể : cả 2 bên chủ thể trong Hợp đồng dịch vụ KM đều là thương nhân

    Đối tượng HĐ : thực hiện KM theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ

    Hình thức HĐ : Hợp đồng dịch vụ khuyến mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương.” Điều 90 Luật Thương mại 2005.

    : có những điều khoản như một HĐ dịch vụ và những điều khoản khác do 2 bên thỏa thuận phù hợp với nội dung công việc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Sư Gia Đình Trả Lời Phỏng Vấn Báo Chí
  • Luật Sư Gia Đình Trả Lời Báo Chí Vụ Viettel Ngang Nhiên Trừ Tiền Khuyến Mãi Khách Hàng
  • Trường Đại Học Thương Mại Chỉ Tuyển Các Khối Thi Truyền Thống
  • Điểm Sàn Xét Tuyển Khối Ngành Luật Năm 2022 Nằm Ở Mức Nào?
  • Các Khóa Học Trực Tuyến Về Thương Mại Quốc Tế Tốt Nhất
  • Ngành Luật (Luật Thương Mại)

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định Thế Nào Về Áp Dụng Pl Trong Hđ Có Yếu Tố Nước Ngoài
  • Hoàn Thiện Quy Định Về Quyền Thỏa Thuận Chọn Luật Áp Dụng Cho Hợp Đồng Dân Sự Có Yếu Tố Nước Ngoài
  • Thủ Tục Giải Quyết Tranh Chấp Hợp Đồng Thương Mại Có Yếu Tố Nước Ngoài
  • Tư Vấn Luật Thương Mại Việt Nam
  • Đơn Phương Chấm Dứt Hợp Đồng Đại Lý
  • Hoàn thành chương trình đào tạo, sinh viên có kiến thức, kỹ năng và thái độ như sau:

    * Kiến thức

    Khối kiến thức giáo dục đại cương

    -   Có kiến thức cơ bản về chủ nghĩa Mác – Lênin; đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam; tư tưởng Hồ Chí Minh, có sức khỏe, có kiến thức về giáo dục quốc phòng đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    -   Có kiến thức cơ bản về pháp luật đại cương, về  khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên để đáp ứng yêu cầu tiếp thu kiến thức giáo dục chuyên nghiệp.

    -   Có kiến thức cơ bản về tiếng Anh/tiếng Pháp tương đương trình độ A Quốc gia.

    -   Có kiến thức cơ bản về máy tính, các phần mềm văn phòng và các phần mềm cơ bản khác.

    Khối kiến thức cơ sở ngành

    -   Có kiến thức đủ rộng về Nhà nước, về pháp luật gồm: Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Lịch sử Nhà nước và pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật so sánh…

    -   Có kiến thức căn bản, được cập nhật về các lĩnh vực pháp luật bao gồm: Luật hành chính, Luật Hình sự, Luật Dân sự, Luât Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hình sự, Luật Hôn nhân và gia đình…

    -   Có kiến thức cơ bản về phương pháp nghiên cứu khoa học luật từ đó làm nền tảng để có thể tự nghiên cứu khoa học và làm việc với tư duy độc lập.

    Khối kiến thức chuyên ngành

    -   Có kiến thức pháp lý chuyên ngành chuyên sâu: hiểu biết cơ bản về các lĩnh vực khoa học pháp lý, hiểu biết chuyên sâu về pháp luật kinh doanh – thương mại. Có phương pháp tiếp cận và xử lý tình huống trong các sự kiện pháp lý nói chung và các quan hệ pháp luật kinh doanh – thương mại nói riêng.

    -   Có kiến thức bổ trợ và phát triển sang một số ngành đào tạo khác của trường Đại học Cần Thơ và các trường thuộc khối ngành Luật – Hành chính – Chính trị.

    * Kỹ năng

    Kỹ năng cứng

    -   Làm việc khoa học, phân tích và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn ngành Luật, đúc kết kinh nghiệm để hình thành kỹ năng tư duy, lập luận.

    -   Soạn thảo các loại đơn khiếu nại, khiếu kiện; soạn thảo các loại văn bản Nhà nước và văn bản hành chính.

    -   Soạn thảo hợp đồng kinh doanh – thương mại.

    -   Phân tích tình huống kinh doanh – thương mại và vận dụng pháp luật.

    Kỹ năng mềm

    -   Ngoại ngữ: Giao tiếp thông dụng bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Đọc và hiểu các tài liệu chuyên ngành bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp.

    -   Tin học: Sử dụng các phần mềm văn phòng cơ bản như Word, Excel, Power-point, khai thác và sử dụng Internet.

    -   Làm việc theo nhóm, tự học và làm việc độc lập.

    -   Giao tiếp tốt.

    * Thái độ

    -   Có ý thức trách nhiệm công dân; có thái độ và đạo đức nghề nghiệp đúng đắn; có ý thức kỷ luật và tác phong làm việc nghiêm túc.

    -   Có kế hoạch chủ động phát triển nghề nghiệp cho bản thân. 

    -   Có khả năng tự cập nhật kiến thức, thông tin trong lĩnh vực chuyên ngành của mình và chủ động xử lý những thay đổi đó một cách có hiệu quả.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Giảng Luật Thương Mại 2
  • Bài Giảng Luật Thương Mại 1
  • Giám Định Thương Mại Trong Luật Thương Mại Việt Nam
  • Khái Niệm Hợp Đồng Thương Mại Là Gì?
  • Từ Vựng Tiếng Anh Chuyên Ngành Luật Thương Mại Trong Hợp Đồng Quốc Tế (Phần 1)
  • Học Ngành Luật Thương Mại Và Luật Kinh Doanh Khác Nhau Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thương Mại Áp Dụng Cho Hoạt Động Thương Mại 2022
  • Hoạt Động Thương Mại Là Gì? Đặc Điểm Của Hoạt Động Thương Mại?
  • Nghị Định Hướng Dẫn Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2022
  • Luật Kinh Doanh Bất Động Sản 2022
  • Luật Kinh Doanh Bất Động Sản Năm 2022 Bổ Sung Đổi Mới
  • Mình hiểu theo nghĩa câu hỏi của bạn là muốn tìm hiểu về Ngành Luật Thương mại và Ngành luật Kinh doanh trong chương trình đào tạo cử nhân Luật. Và có những chia sẻ như sau:

    + Cơ hội nghề nghiệp: Có thể giảng dạy luật thương mại ở các trường đại học, cao đẳng,… Toà án nhân dân các cấp, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp; Hội đồng nhân dân; Công an, Thanh tra, Thi hành án; Sở Tư pháp, Sở Ngoại vụ, Sở Công thương, Sở Tài nguyên – Môi trường, Cục Thuế, Hải quan .v.v…; Bộ phận pháp chế hoặc nhân sự trong các Doanh nghiệp trong và ngoài nước; làm Luật sư tư vấn cho các Công ty Luật, Văn phòng luật sư; hoặc làm công tác nghiên cứu trong các Viện Nghiên cứu Nhà nước và pháp luật, Viện Kinh tế .v.v…

    Ngành Luật Kinh doanh: đào tạo cử nhân Luật có kiến thức cơ bản và kỹ năng chuyên sâu về pháp luật trong kinh doanh, trên cơ sở kiến thức về kinh tế, quản trị kinh doanh; đủ khả năng tiếp cận và xử lý những vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tiễn. Sau khi tốt nghiệp bạn cần đạt được những kỹ năng nghề nghệp về tư vấn, phát triển doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp, đàm phán, soạn thảo, ký kết hợp đồng, thực hiện chức năng của chuyên viên pháp lý tại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế; có thể độc lập đưa ra các đề xuất giải quyết các tình huống pháp lý trong kinh doanh, nắm vững các thao tác nghiệp vụ khi doanh nghiệp tham gia vào các vụ tố tụng phát sinh từ hoạt động kinh doanh.

    + Cơ hội nghề nghiệp: Cử nhân tốt nghiệp có thể công tác tại các doanh nghiệp, các tòa kinh tế thuộc hệ thống Tòa án nhân dân, các Trung tâm trọng tài thương mại và các đơn vị cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý.

    Dù là lựa chọn ngành nào, bạn cần chuẩn bị cho bản thân những kỹ năng cần thiết về giao tiếp, kỹ năng nói chuyện trước đám đông, phản biện, thuyết trình, đọc, hiểu, viết phân tích vấn đề và đặc biệt hơn nữa là vốn ngoại ngữ bạn cần trang bị ngay bây giờ là những điều cần thiết để bạn bước chân vào ngành này.

    Dựa vào những nội dung mình vừa cung cấp, bạn xét thấy bản thân có những điều kiện nào phù hợp cũng như những điểm mạnh của bản thân với đặc thù từng ngành thì sẽ lựa chọn chuyên ngành phù hợp.

    Cập nhật bởi TuyenBig ngày 16/04/2018 04:26:23 CH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Cá Nhân Kinh Doanh Theo Pháp Luật Thuế
  • Nhân Viên Kinh Doanh Tiếng Anh Là Gì? Đâu Là Những Điều Cần Biết
  • Ngành Nghề Kinh Doanh Tiếng Anh Là Gì? Ví Dụ Ngành Nghề Kinh Doanh
  • Giám Đốc Kinh Doanh Tiếng Anh Là Gì?
  • Giấy Phép Kinh Doanh Tiếng Anh Là Gì?
  • Luật Thương Mại Là Gì? Luật 2005 – 2022 Hiện Hành Mới Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Pháp Luật Và Nghề Luật Là Gì?
  • Luật Im Lặng Của Mafia
  • Chuyên Đề Vật Lý 11
  • Định Luật Okun – Du Học Trung Quốc 2022
  • Đầu Tư Theo Hình Thức Đối Tác Công Tư (Ppp) Là Gì?
  • Luật thương mại là tổng thể các quy phạm do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động thương mại giữa các thương nhân với nhau và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

    Luật xử lý vi phạm hành chính

    Luật thương mại 2022

    Luật thương mại là văn bản quy phạm pháp luật tương đối ổn định. Bước sang năm 2022, Sau hơn 14 năm được ban hành và thực hiện, luật thương mại 2005 vẫn có hiệu lực thi hành và có một số nội dung nổi bật sau:

    – Quy định về mức phạt hợp đồng: Luật cho phép các bên được tự thỏa thuận mức phạt vi phạm hợp đồng. Tuy nhiên, Luật khống chế mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm không vượt quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm.

    – Thêm 2 trường hợp miễn trách nhiệm khi vi phạm hợp đồng:

    + Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;

    + Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

    – Nhà đầu tư nước ngoài được mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch

    – Mở rộng các hình thức khuyến mại: Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi; Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí,….

    – Quy định về Ủy thác mua bán hàng hóa trong thương mại

    – Giới hạn trách nhiệm tối đa của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic: Nếu các bên không có thoả thuận thì nếu khách hàng không có thông báo trước về trị giá của hàng hóa thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường…..

    QUỐC HỘI

    ——–

    CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

    —————

    Số: 36/2005/QH11

    Hà Nội, ngày 14 tháng 06 năm 2005

     

    LUẬT

    THƯƠNG MẠI

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

    Luật này quy định về hoạt động thương mại.

    Chương I

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    MỤC 1. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH VÀ ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    1. Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    2. Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thoả thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này.

    3. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này.

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

    1. Thương nhân hoạt động thương mại theo quy định tại Điều 1 của Luật này.

    3. Căn cứ vào những nguyên tắc của Luật này, Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng Luật này đối với cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh.

    Điều 3. Giải thích từ ngữ

    1. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.

    2. Hàng hóa bao gồm:

    a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

    b) Những vật gắn liền với đất đai.

    (……………………………………………….)

    Phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại

    Từ khái niệm trên, có thể nhận thấy Luật thương mại có phạm vi điều chỉnh, chính là:

    • Các hoạt động của thương nhân như: đầu tư, mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động khác nhằm mục đích sinh lợi.

    Chủ thể của Luật thương mại

    Chủ thể của Luật thương mại là những tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện để tham gia vào các quan hệ do Luật thương mại điều chỉnh.

    Chủ thể của Luật thương mại phải đảm bảo các điều kiện sau đây:

    • Thứ nhất, phải được thành lập hợp pháp. Được thành lập một cách hợp pháp nghĩa là các chủ thể của Luật thương mại được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập, hoặc đăng ký kinh doanh; có chức năng, nhiệm vụ, phạm vi hoạt động rõ ràng; được tổ chức dưới một hình thức nhất định do pháp luật quy định (doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty,…)
    • Thứ hai, phải có tài sản. Tài sản là cơ sở vật chất không thể thiếu được để cho các chủ thể của Luật thương mại, đặc biệt là các doanh nghiệp tiến hành các hoạt động kinh doanh. Trên thực tế, tài sản đó tồn tại dưới dạng vốn kinh doanh (vốn điều lệ, vốn pháp định). Khối lượng và cơ cấu tài sản cũng như khối lượng quyền năng của các doanh nghiệp có được đối với từng loại tài sản phụ thuộc và tính chất sở hữu, quy mô hoạt động từng chủ thể.
    • Thứ ba, có thẩm quyền trong lĩnh vực kinh doanh thương mại. Đây là cơ sở pháp lý để các chủ thể Luật thương mại thực hiện các hành vi pháp lý nhằm tạo cho mình những quyền và nghĩa vụ cụ thể, đồng thời nó cũng quy định rõ giới hạn mà trong đó các chủ thể được hành động trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại.

    Điều 156 – Bộ luật lao động 

    Các loại chủ thể của Luật thương mại: Căn cứ chức năng hoạt động, vai trò, vị trí và mức độ tham gia các quan hệ thương mại của chủ thể mà chủ thể của Luật thương mại được phân thành hai loại như sau:

    Chủ thể cơ bản, thường xuyên của Luật thương mại là các thương nhân. Đây là loại chủ thể thường xuyên tham gia các mối quan hệ thương mại thuộc đối tượng của Luật thương mại.

    Chủ thể không thường xuyên của Luật thương mại là cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế: Đó là cơ quan thay mặt nhà nước, nhân danh nhà nước thực hiện tổ chức quản lý, chỉ đạo các thương nhân tiến hành hoạt động kinh doanh thương mại như: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND, các sở, phòng, ban…

    Tải luật thương mại mới nhất

    Download Luật thương mại mới nhất

    --- Bài cũ hơn ---

  • Murphy: Định Luật Bánh Bơ
  • Khám Sức Khỏe Và Tape Measure Thử Nghiệm Tại Nhật Bản
  • Giáo Lý Thánh Kinh: Bài 25
  • Thứ 4 Tuần 3 Mc Luật Môsê Và Các Ngôn Sứ Còn Nguyên Giá Trị
  • Quan Hệ Vật Chất Trong Luật Mô
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100