Luật Sư X Là Ai

Tổng hợp các bài viết thuộc chủ đề Luật Sư X Là Ai xem nhiều nhất, được cập nhật mới nhất ngày 17/01/2021 trên website Athena4me.com. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung Luật Sư X Là Ai để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, chủ đề này đã đạt được 594 lượt xem.

Có 4880 tin bài trong chủ đề【Luật Sư X Là Ai】

【#1】Bán Đấu Giá Tài Sản Là Tang Vật, Phương Tiện Vi Phạm Hành Chính Bị Tịch Thu Sung Công Quỹ Theo Quy Định Của Pháp Luật

Thông tin thủ tục hành chính Bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ theo quy định của Pháp luật – Nghệ An

Cách thực hiện thủ tục hành chính Bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ theo quy định của Pháp luật – Nghệ An

Trình tự thực hiện

Bước 1:

Xác định giá khởi điểm: Các cá nhân tổ chức có tài sản có văn bản uỷ quyền xác định giá khởi điểm (Nếu cá nhân tổ chức có yêu cầu)

Bước 2:

Ký kết hợp đồng uỷ quyền bán đấu giá tài sản: Hợp đồng bán đấu giá được ký kết giữa Trung tâm bán đấu giá với cá nhân, tổ chức có tài sản hoặc đại diện của người đó. Người có tài sản cung cấp cho người bán đấu giá giấy chứng nhận hợp pháp, hoặc bằng chứng chứng minh quyền sở hữu tài sản và chịu trách nhiệm về các bằng chứng đó. Nếu của tổ chức thì có quyết định về việc bán đấu giá tài sản đó của cấp có thẩm quyền

Bước 3:

Thông báo bán đấu giá: Thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương

Bước 4:

Cá nhân tổ chức có nhu cầu mua tài sản: Xem tài sản ít nhất 2 ngày trước ngày mở cuộc bán đấu giá

Bước 5:

Đăng ký mua tài sản: Cá nhân tổ chức muốn mua tài sản nộp khoản tiền đặt trước tối da không quá 5% giá khởi điểm của tài sản, và khoản phí tham giá đấu giá không hoàn lại theo quy đinh

Bước 6:

Tiến hành cuộc bán đấu giá: Khách hàng tham gia đấu giá trả giá theo quy định tại quy chế đấu giá

Bước 7:

Ngưòi trúng đấu giá: Nộp tiền mua tài sản và nhận tài sản

Bước 8:

Thanh lý hợp đồng uỷ quyền: Thanh lý hợp đồng bán đấu giá được ký kết giữa Trung tâm bán đấu giá với tổ chức, cá nhân có tài sản hoặc đại diện của người đó

Thành phần hồ sơ của thủ tục hành chính Bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ theo quy định của Pháp luật – Nghệ An

Bên uỷ quyền: Có quyết định của cấp có thẩm quyền về việc xử lý tài sản, quyết định thành lập hội đồng định giá, biên bản định giá tài sản (nếu của tổ chức); Trong trường hợp uỷ quyền cho Trung tâm định giá thì phải có giấy uỷ quyền định giá tài sản bán đấu giá

Người tham gia đấu giá: Bản sao giấy chứng minh nhân dân đơn đăng ký đấu giá theo mẫu của Trung tâm. Đối với những tài sản mang tính đặc thù thì người tham gia đấu giá phải có giấy đăng ký kinh doanh phù hợp với tài sản mà đăng ký tham gia( Bẳn phô tô công chứng)

Các biểu mẫu của thủ tục hành chính Bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ theo quy định của Pháp luật – Nghệ An

Phí và lệ phí của thủ tục hành chính Bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ theo quy định của Pháp luật – Nghệ An

Phí tham gia đấu giá

– Từ 20.000.000 đồng trở xuống 20.000đ.- Từ trên 20.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng 50.000đ.- Từ trên 50.00.000 đồng đến 100.000.000 đồng 100.000 đồng.- Từ trên 100.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng 200.000 đồng.- Từ trên 500.000.000 đồng 500.000 đồng.2) Phí đấu giá đối với người có tài sản:- Từ 1.000.000 đồng trở xuống 50.000 đồng.- Từ trên 1.000.000 đồgn đến 100.000.000: 5% giá trị tài sản bán được.- Từ trên 100.000.000 đồng đến 1.000.000.000đồng: 5.000.000 + 1,5 % của phần giá trị tài sản bán được vượt quá 100.000.000 đồng.- Trên 1.000.000.000 đồng: 18.500.000 đồng + 0,2% của phần giá trị tài sản bán vượt quá 1.000.000.000 đồng

Cơ sở pháp lý của thủ tục hành chính Bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ theo quy định của Pháp luật – Nghệ An

Văn bản căn cứ pháp lý

1. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004

2. Nghị định 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản

3. Quyết định 116/2007/QĐ-UBND ban hành mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá trên địa bàn tỉnh Nghệ An do Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành

4. Nghị quyết số 183/2007/NQ-HĐND về đối tượng, mức thu, chế độ quản lý phí cảng cá, bến cá; lệ phí địa chính, phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất, phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai; phí hộ tịch; phí đấu giá; phí cầu treo, qua phà, qua đò, qua âu vòm Cóc trên địa bàn tỉnh Nghệ An do Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành

Văn bản công bố thủ tục

1. Pháp lệnh Thi hành án dân sự năm 2004

2. Nghị định 05/2005/NĐ-CP về bán đấu giá tài sản

3. Quyết định 116/2007/QĐ-UBND ban hành mức thu, chế độ thu nộp, quản lý và sử dụng phí đấu giá trên địa bàn tỉnh Nghệ An do Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành

4. Nghị quyết số 183/2007/NQ-HĐND về đối tượng, mức thu, chế độ quản lý phí cảng cá, bến cá; lệ phí địa chính, phí thẩm định cấp quyền sử dụng đất, phí khai thác và sử dụng tài liệu đất đai; phí hộ tịch; phí đấu giá; phí cầu treo, qua phà, qua đò, qua âu vòm Cóc trên địa bàn tỉnh Nghệ An do Hội đồng nhân dân tỉnh Nghệ An ban hành

Lược đồ Bán đấu giá tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung công quỹ theo quy định của Pháp luật – Nghệ An


【#2】Sách Bình Luận Các Tội Phạm Có Bị Hại Là Người Dưới 18 Tuổi Trong Bộ Luật Hình Sự Năm 2021 Và Sự Tham Gia Tố Tụng Hình Sự Của Họ

Người chưa thành niên (hay là người dưới 18 tuổi) là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương và khả năng tự bảo vệ mình trước sự xâm hại của tội phạm cũng như các hành vi trái pháp luật khác còn bị hạn chế. Mặt khác, người chưa thành niên mà nhất là trẻ em do chưa có phát triển đầy đủ về thể chất và tâm thần, đặc biệt là về tâm lý và nhận thức và sức khỏe, nên đối tượng này dễ trở thành nặn nhân của các hành vi phạm tội cũng như các hành vi bạo hành khác. Xuất phát từ yêu cầu tăng cường bảo vệ người chưa thành niên, về chính sách, Nhà nước ta đã đưa đối tượng người chưa thành niên vào diện được ưu tiên bảo vệ, đồng thời không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật với việc ban hành nhiều văn bản pháp luật mới và xây dựng những cơ chế đặc thù nhằm bảo vệ tốt nhất các quyền và lợi ích của người chưa thành niên. Về mặt hình sự, chính sách trên được cụ thể hóa trong Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự nhằm tăng cường tính răn đe và phòng ngừa, hạn chế các hành vi xâm hại đến người chưa thành niên, góp phần bảo vệ một cách hiệu quả quyền lợi chính đáng của người chưa thành niên, cũng như bảo đảm môi trường thân thiện khi họ tham gia tố tụng hình sự với tư cách là người bị hại.

Nhằm giúp bạn đọc nói chung, những người làm công tác pháp luật nói riêng, tìm hiểu và năm vững các quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự về người chưa thành niên là người bị hại, Nhà xuất bản Lao Động – Xã Hội cho xuất bản cuốn sách:

do Luật gia, chuyên gia pháp luật cao cấp Nguyễn Ngọc Điệp biên soạn.

Ngoài ra, phần phụ lục cuốn sách còn in các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự mới nhất để bạn đọc tiện tra cứu và áp dụng khi cần thiết.

Nội dung cuốn sách bao gồm:

– PHẦN THỨ II: Sự tham gia tố tụng hình sự của bị hại là người dưới 18 tuổi

-PHẦN THỨ III: Các văn bản hướng dẫn thi hành bộ luật hình sự

-PHẦN THỨ IV: Các quy định về thủ tục tố tụng hình sự đối với người dưới 18 tuổi

-PHẦN THỨ IV: Các quy định về phòng xử án và quy chế tổ chức phiên tòa

Hy vọng cuốn sách sẽ có giá trị hữu ích đối với bạn đọc.

Sách đẹp, khổ 20*28 cm, dày 400 trang, Giá: 395.000đ. Nộp lưu chiểu quý II / 2021.

Thông tin chi tiết


【#3】Bộ Luật Lao Động Sửa Đổi: Khắc Phục Tình Trạng Đã Có Hiệu Lực Nhưng Vẫn Phải Chờ Nghị Định, Thô

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội khẳng định, khi Bộ Luật Lao động sửa đổi (BLLĐ) có hiệu lực, các văn bản dưới luật do bộ chịu trách nhiệm cũng được ban hành, khắc phục tình trạng luật phải chờ nghị định, chờ văn bản dưới luật.

Điểm mới của BLLĐ sửa đổi

Bộ Luật Lao động sửa đổi (BLLĐ) được Quốc hội Khóa XIV thông qua đã có nhiều sửa đổi, bổ sung lớn, quan trọng và sẽ có 14 nghị định, 1 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 7 thông tư của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐTBXH) quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật.

Bên cạnh đó, BLLĐ sửa đổi nêu rõ: Tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035. Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của NLĐ trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 3 tháng đối với nam; đủ 55 tuổi 4 tháng đối với nữ. Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng với lao động nam; 4 tháng với lao động nữ.

Riêng người bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hay làm việc ở nơi có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn thì có thể nghỉ hưu trước nhưng không quá 5 tuổi.

Ngoài ra, BLLĐ sửa đổi còn có những điểm mới như bỏ nội dung về hợp đồng mùa vụ hoặc theo một công việc có thời hạn dưới 12 tháng. Thay vào đó, chỉ còn 2 loại hợp đồng là hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động xác định thời hạn. Khi trả lương, doanh nghiệp phải gửi bảng kê chi tiết cho NLĐ. NLĐ có thể được thưởng không chỉ bằng tiền. NLĐ được đơn phương chấm dứt hợp đồng không cần lý do…

Theo Bộ trưởng Đào Ngọc Dung, những văn bản được xây dựng có nội dung phức tạp như: Vấn đề tổ chức đại diện của NLĐ, thương lượng tập thể, tiền lương tối thiểu, tuổi nghỉ hưu, đảm bảo bình đẳng giới, vấn đề lao động trẻ em… cần được các đơn vị nghiên cứu thấu đáo để vừa phù hợp với thực tiễn nhưng vẫn giải quyết được khúc mắc và phù hợp với các cam kết quốc tế.

Bộ trưởng yêu cầu trước hết phải thực hiện đúng cam kết trước Quốc hội, Chính phủ khi Bộ Luật Lao động có hiệu lực vào ngày 1.1.2021. Các văn bản dưới luật, các thông tư do bộ chịu trách nhiệm cũng đồng thời được ban hành, khắc phục tình trạng luật phải chờ nghị định, thông tư. Các nghị định, thông tư hướng dẫn đều về những vấn đề còn nhiều ý kiến góp ý khác nhau. Vì vậy, cần nghiên cứu kỹ, đặc biệt đánh giá tác động thật sâu sắc, phải lấy ý kiến rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, nhất là với những đối tượng chịu tác động nhiều nhất như NLĐ, tổ chức đại diện NLĐ, cơ quan quản lý NLĐ.

Trong bối cảnh tình hình dịch COVID-19, bộ trưởng yêu cầu các đơn vị vẫn phải đảm bảo đúng quy trình, lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân. Quá trình lấy ý kiến này cần tăng cường các giải pháp về công nghệ thông tin.


【#4】Khiếu Nại Về Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Của Người Sử Dụng Lao Động

Khiếu nại về quyết định xử lý kỷ luật của người sử dụng lao động. Trình tự, thủ tục kỷ luật lao động.

Khiếu nại về quyết định xử lý kỷ luật của người sử dụng lao động. Trình tự, thủ tục kỷ luật lao động.

Sau khi em nghỉ phép quay lại nơi làm việc thì nhận được quyết định kỉ luật kéo dài thời hạn nâng lương là 3 tháng với lý do là em làm mất chai rượu trong ca làm việc của mình. Cho em hỏi hình thức kỉ luật như vậy có đúng quy định pháp luật không? Em cảm ơn và mong nhận được hồi âm.

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

“Bộ luật lao động 2021” quy định: khi người lao động có hành vi vi pham nội quy lao động; tùy theo tính chất, mức độ của hành vi vi phạm mà có thể bị áp dụng 1 trong 3 hình thức xử lý kỷ luật lao động như sau:

+ Kéo dài thời hạn nâng lương không quá 06 tháng; cách chức.

Khi tiến hành xử lý kỷ luật lao động thì người sử dụng lao động phải tuân thủ theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động theo quy định của “Bộ luật lao động 2021” và quy định của Nghị định 05/2015/NĐ-CP.

Trình tự xử lý kỷ luật lao động tại Điều 123 của Bộ luật Lao động được quy định như sau:

1. Người sử dụng lao động gửi thông báo bằng văn bản về việc tham dự cuộc họp xử lý kỷ luật lao động cho Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên cơ sở nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở, người lao động, cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật của người lao động dưới 18 tuổi ít nhất 5 ngày làm việc trước khi tiến hành cuộc họp.

2. Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động được tiến hành khi có mặt đầy đủ các thành phần tham dự được thông báo theo quy định tại Khoản 1 Điều này. Trường hợp người sử dụng lao động đã 03 lần thông báo bằng văn bản, mà một trong các thành phần tham dự không có mặt thì người sử dụng lao động tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, trừ trường hợp người lao động đang trong thời gian không được xử lý kỷ luật quy định tại Khoản 4 Điều 123 của Bộ luật Lao động.

4. Người giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại các Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 3 Nghị định này là người có thẩm quyền ra quyết định xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động. Người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động chỉ có thẩm quyền xử lý kỷ luật lao động theo hình thức khiển trách.

5. Quyết định xử lý kỷ luật lao động phải được ban hành trong thời hạn của thời hiệu xử lý kỷ luật lao động hoặc thời hạn kéo dài thời hiệu xử lý kỷ luật lao động theo Điều 124 của Bộ luật Lao động, Quyết định xử lý kỷ luật lao động phải được gửi đến các thành phần tham dự phiên họp xử lý kỷ luật lao động.”

Như vậy, theo quy định, để có thể tiến hành xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động thì người sử dụng lao động phải tiến hành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động, trước cuộc họp ít nhất

5 ngày phải báo cho người lao động và những thành phần bắt buộc khác; đồng thời, cuộc họp xử lý kỷ luật phải được thành lập biên bản.

Đối chiếu theo quy định trên vào trường hợp của bạn, bạn có làm mất chai rượu trong ca làm việc cho bạn; sau khi bạn nghỉ phep quay lại nơi làm việc thì nhận được quyết định kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương là 3 tháng; tuy nhiên, công ty khi tiến hành xử lý lỷ luật lại không tiến hành cuộc họp gửi thông báo cho bạn mà tự đưa ra quyết định kỷ luật; như vậy là vi phạm về trình tự, thủ tục và nguyên tắc xử lý kỷ luật lao động. Trong trường hợp này, bạn có thể làm đơn khiếu nại đến ban lãnh đạo công ty.

Còn về hình thức xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương 3 tháng của bạn, để xem xét việc đưa ra hình thức kỷ luật như vậy là có hợp lý hay không thì cần căn cứ vào nội quy lao động cụ thể của đơn vị bạn.


【#5】Khiếu Nại Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Của Người Sử Dụng Lao Động

Xử lý kỷ luật lao động là một trong những cách thức để duy trì nề nếp, trật tự doanh nghiệp. Tuy nhiên, không ít doanh nghiệp đã lạm dụng việc này. Vậy khi bị kỷ luật không thỏa đáng, người lao động muốn khiếu nại quyết định xử lý kỷ luật của người sử dụng lao động thì cần phải làm gì?

Điều 132 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định về quyền của người lao động khi bị xử lý kỷ luật không thỏa đáng, xâm phạm quyền và lợi ích của mình. Theo đó, người lao động được yêu cầu giải quyết theo 2 cơ chế: khiếu nại (theo thủ tục hành chính) và khởi kiện (theo thủ tục tư pháp).

Khiếu nại quyết định xử lý kỷ luật

Theo quy định tại Điều 15 Nghị định 24/2018/NĐ-CP, trước hết, người lao động yêu cầu người sử dụng lao động có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu đối với quyết định của mình. Thời hiệu khiếu nại là 180 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định (khoản 1 Điều 7 Nghị định 24/2018/NĐ-CP).

Trường hợp không đồng ý hoặc quá 30 ngày mà người sử dụng lao động không giải quyết thì người lao động được quyền khiếu nại tới Chánh Thanh tra Sở Lao động Thương binh và Xã hội, nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.

Chánh thanh tra Bộ Lao động Thương binh và xã hội là chủ thể cuối cùng về giải quyết khiếu nại của người lao động theo thủ tục hành chính.

Khởi kiện quyết định xử lý kỷ luật

Trước khi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết, người lao động phải thực hiện hòa giải tại hòa giải viên lao động, trừ trường hợp bị kỷ luật theo hình thức sa thải.

Trường hợp hoà giải không thành hoặc người sử dụng lao động không thực hiện phương án hòa giải hoặc hết 05 ngày làm việc mà hoà giải viên lao động không hoà giải thì người lao động khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết.

Thời hiệu yêu cầu hòa giải viên lao động thực hiện hòa giải là 06 tháng, và thời hiệu yêu cầu Toà án giải quyết là 01 năm, kể từ ngày nhận ra quyết định xử lý kỷ luật là không thỏa đáng.

Trong khi chờ cơ quan có thẩm quyền giải quyết, người lao động bị xử lý kỷ luật vẫn phải chấp hành quyết định kỷ luật lao động. Tuy nhiên, thực tế, khi kỷ luật lao động bằng hình thức sa thải không đúng, việc người lao động được trở lại làm việc là rất khó khăn.

Khuyến nghị của công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật lao động được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.


【#6】Luật Sư Tư Vấn: Phải Làm Sao Để Lấy Lại Quyết Định Ly Hôn Của Tòa Án?

Công ty Luật TNHH EVerest tư vấn lấy lại quyết định ly hôn của Tòa án.

Hỏi: Tôi hiện nay 38 tuổi, đã có gia đình và 2 con nhưng do cuộc sống vợ chồng không hạp nhau nữa, chúng tôi đã li thân 2 năm rồi.Và chúng tôi đã thống nhất với nhau ra toà làm thủ tục , ra toà án đã hoà giải lần 1 không thành, đến hẹn ra toà lần thứ 2 thì toà đồng ý cho vợ chồng tôi lyhôn và hẹn đúng 8 ngày sau đến lấy quyết định ly hôn. Tôi không bắt chồng tôi phải chu cấp gì hết, và chồng tôi được quyền thăm con bình thường (vì 2 con tôi ở với tôi), nhưng đến ngày tôi đi lấy quyết định thì cha ruột của tôi xuống toà lấy trước tôi rồi (vì có sự quen biết và thân thiết nên toà đã đưa quyết định cho cha tôi), trong hoàn cảnh này tôi phải làm sao và bằng cách nào để xin quý toà cho tôi nhận được quyết định từ toà án? thủ tục pháp lý ra sao? (Ngọc Hạnh – Bình Phước)

Luật gia Nguyễn Thành Đạt – Tổ tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình – Công ty Luật TNHH – trả lời:

Trường hợp của bạn là ly hôn nên sẽ ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn và đây là quyết định việc .

Cách đơn giản nhất là bạn lấy quyết định ly hôntừ cha ruột của bạn.

Nếu không, căn cứ vào điều 315, Bộ luật tố tụng dân sự 2005 quy định:

Như vây, theo khoản 2 điều 315 nêu trên thì tòa án sẽ phải tống đạt quyết định giải quyết việc dân sự cho bạn chứ không phải cha bạn. Do đó, bạn có thể đến tòa án yêu cầu đươc tiếp nhận quyết định giải quyết ly hôn với lý do bạn chưa được tống đạt khi đó tòa án sẽ có trách nhiệm giải quyết cho bạn.

  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.


【#7】Luật Sư Tư Vấn: Xin Cấp Lại Quyết Định Ly Hôn Như Thế Nào ?

Công ty Luật TNHH Everest tư vấn xin cấp lại quyết định ly hôn…

Hỏi: Sắp tới tôi có dự định kết . Chồng tôi là người nước ngoài sinh sống tại Sài Gòn. Trước đây chồng sắp cưới của tôi đã từng kết hôn với người Việt Nam và đã được 2 năm. Nhưng hiện nay bị mất giấy chứng nhận ly hôn. Chúng tôi đang muốn xin cấp lại giấy chứng nhận ly hôn, không biết có gặp khó khăn gì trong việc này hay không? (Thiếu Hương – Hà Giang)

Luật gia Nguyễn Thành Đạt – Tổ tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình – Công ty Luật TNHH – trả lời:

Bạnphải xuất trình Quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật của Tòa án về việc ly hôn.Tuy nhiên, bạn bị mấtgiấy xác nhận ly hôn nên bạn phải đến Tòa án để xin trích lụcQuyết định ly hôn.

Việc cấp trích lục , quyết định của tòa là quyền của đương sự mà Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 được sửa đổi, bổ sung năm 2011 đã quy định (Điểm p, Khoản 2 Điều 58).

Khi có nhu cầu trích lục bản án, quyết định của tòa án thì đương sự phải gửi đơn đến tòa án nơi đã ra bản án, quyết định đó để được cấp bản trích lục. Trong đơn cần nêu rõ tên vụ án/việc, số và ngày bản án hoặc quyết định. Tòa án nơi đã ra bản án, quyết định đó sẽ cấp trích lục bản án/ quyết định đó.

  1. Để có tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198.
  2. Nội dung tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Các điều luật chúng tôi viện dẫn trong bài viết có thể đã hết hiệu lực hoặc đã được sửa đổi, bổ sung. Các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, Chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.


【#8】Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất Có Phải Là Quyết Định Hành Chính Thuộc Đối Tượng Khởi Kiện Của Luật Tố Tụng Hành Chính Năm 2021 Hay Không?

Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có phải là Quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính năm 2021 hay không?

Ý kiến thứ nhất cho rằng : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính năm 2021.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Tố tụng hành chính năm 2021 thì: “1. Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Đồng thời, theo quy định tại khoản 16 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất”.

Như vậy, “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” là văn bản do cơ quan hành chính Nhà nước cấp cho tổ chức, cá nhân để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp. Vì vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có đầy đủ những thuộc tính của một quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính năm 2021.

Ý kiến thứ hai cho rằng: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là quyết định hành chính nên không thuộc đối tượng khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính năm 2021 vì Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là loại giấy tờ pháp lý do cơ quan hành chính Nhà nước cấp nhằm xác nhận tính hợp pháp quyền sử dụng đất của cá nhân, tổ chức, mà hoàn toàn không có sự thể hiện ý chí quyền lực của Nhà nước trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tôi đồng tình với quan điểm thứ hai cho rằng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là quyết định hành chính nên không thuộc đối tượng khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính năm 2021.

Theo Từ điển Luật học: “Quyết định hành chính là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực đơn phương của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, những người có chức vụ, các tổ chức và cá nhân nhà nước được Nhà nước trao quyền thực hiện trên cơ sở luật và để thi hành pháp luật, theo trình tự và hình thức do pháp luật quy định hướng tới việc thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính trong lĩnh vực hoặc vấn đề được phân công phụ trách”.

Quyết định hành chính là biện pháp giải quyết công việc của chủ thể quản lý hành chính trước một tình huống đang đặt ra, là sự phản ứng của chủ thể quản lý hành chính Nhà nước trước một tình huống đòi hỏi phải có sự giải quyết của Nhà nước theo thẩm quyền do luật định. Việc ban hành quyết định hành chính là nhiệm vụ của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhằm định ra chính sách, quy định, sửa đổi hoặc của những người có chức vụ, người đại diện cho quyền lực hành chính nhất định. Như vậy, quyết định hành chính là kết quả của sự thể hiện ý chí quyền lực nhà nước của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc của những người có chức vụ, người đại diện cho quyền lực hành chính nhất định.

Đặc điểm của quyết định hành chính

Quyết định hành chính là một dạng quyết định pháp luật nên ngoài những đặc điểm quyết định hành chính còn mang đặc điểm chung của một quyết định pháp luật.

+ Quyết định hành chính mang tính quyền lực Nhà nước

+ Quyết định hành chính mang tính chất pháp lý

Ngoài những đặc điểm chung của quyết định pháp luật, quyết định hành chính còn mang những đặc điểm riêng:

+ Quyết định hành chính mang tính dưới luật

+ Quyết định hành chính đa dạng về chủ thể có thẩm quyền ban hành

+ Quyết định hành chính có những mục đích và nội dung hết sức phong phú

+ Ngoài ra, quyết định hành chính có những tên gọi khác nhau theo quy định của pháp luật như nghị quyết, nghị định, quyết định, chỉ thị, thông tư…

Tổ chức và cá nhân muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải đáp ứng những điều kiện nhất định theo quy định tại Điều 99 Luật Đất đai 2013. Nhà nước đặt ra điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân và tổ chức mà không hoàn toàn áp đặt ý chí quyền lực của Nhà nước, đây là điểm khác biệt đối với Quyết định hành chính. Hoạt động cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chính là sự thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân hoặc tổ chức được quy định trong Hiến pháp năm 2013 đã xác định đầy đủ, rõ ràng các nguyên tắc nền tảng của mối quan hệ giữa Nhà nước và cá nhân trong Nhà nước pháp quyền, bao gồm: quyền con người, quyền công dân được công nhận, tôn trọng, Nhà nước có trách nhiệm trong việc công nhận, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; mối quan hệ bình đẳng, tương hỗ, đồng trách nhiệm giữa Nhà nước và cá nhân; xác định giới hạn quyền con người, quyền công dân trên cơ sở luật định; nghĩa vụ pháp lý; cơ chế bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân.

Như vậy, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý mà Nhà nước công nhận tính hợp pháp về đất đai cho cá nhân tổ chức sử dụng để nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp mà hoàn toàn không có sự áp đặt ý chí trong quyền lực Nhà nước như hoạt động ban hành Quyết định hành chính, nên GCNQSĐ không phải là một quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện của Luật Tố tụng hành chính năm 2021.


【#9】Hội Đồng Thẩm Phán Tandtc Hướng Dẫn Áp Dụng Pháp Luật Về Lãi, Lãi Suất, Phạt Vi Phạm Trong Hợp Đồng Vay Tài Sản.

Ngày 11 tháng 01 năm 2021, Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao (HĐTP TANDTC) đã ban hành Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm (“Nghị quyết 01/2019”).

Theo đó, Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong hợp đồng vay tài sản, lãi suất trung bình trên thị trường; quyết định lãi, lãi suất trong bản án, quyết định của Tòa án. Các Hợp đồng vay tài sản được áp dụng theo Nghị quyết này bao gồm:

– Hợp đồng cho vay tài sản là tiền giữa tổ chức tín dụng với khách hàng (được gọi chung là “Hợp đồng tín dụng”)

– Hợp đồng vay tài sản là tiền giữa cá nhân, pháp nhân không phải là tổ chức tín dụng với nhau (được gọi là chung là “Hợp đồng vay tài sản”).

Nghị quyết 01/2019 có một số điểm đáng chú ý như sau:

Thứ nhất, về lãi, lãi suất và phạt vi phạm hợp đồng trong hợp đồng vay tài sản thông thường (không phải hợp đồng tín dụng).

Nghị quyết 01/2019 quy định cụ thể đối với việc áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải hợp đồng tín dụng căn cứ vào thời điểm xác lập hợp đồng, từ đó có thể xác định khi có tranh chấp sẽ áp dụng Bộ luật dân sự 1995, 2005 hoặc 2021. Nghị quyết 01/2019 cũng nêu rõ cách xác định lãi, lãi suất trong hợp đồng vay tài sản không phải là hợp đồng tín dụng thuộc trường hợp áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995, BLDS 2005 và BLDS 2021. Nghị quyết 01/2019 đã làm rõ về việc xác định thời điểm xét xử sơ thẩm và thời gian chậm trả, theo đó Thời điểm xét xử sơ thẩm là ngày Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự hoặc ngày Tòa án tuyên án khi xét xử sơ thẩm hoặc xét xử sơ thẩm lại. Thời điểm trả nợ và thời gian chậm trả cũng được Nghị quyết quy định rõ.

Thứ hai, đối với việc áp dụng pháp luật về lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng, Nghị quyết 01/2019 ghi nhận lãi, lãi suất trong hợp đồng tín dụng do các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng tại thời điểm xác lập hợp đồng, thời điểm tính lãi suất. Đồng thời khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật các tổ chức tín dụng để giải quyết mà không áp dụng quy định về giới hạn lãi suất của BLDS năm 2005, BLDS năm 2021 để xác định lãi, lãi suất. Tại thời điểm xét xử sơ thẩm, lãi suất trong hợp đồng tín dụng được xác định theo 2 mốc thời gian là trước và sau ngày 01/01/2017.

Thứ ba, trong trường hợp hợp đồng vay tài sản có thỏa thuận về lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn cao hơn mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn được pháp luật quy định thì mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn vượt quá không có hiệu lực; số tiền đã trả vượt quá mức lãi suất, lãi trên nợ gốc quá hạn, lãi trên nợ lãi quá hạn quy định được trừ vào số tiền nợ gốc tại thời điểm trả lãi; số tiền lãi đã trả vượt quá còn lại sau khi đã trừ hết nợ gốc thì được trả lại cho bên vay.

Thứ tư, trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả. Việc xác định lãi suất chậm trả đối với số tiền chậm trả, Tòa án căn cứ vào mức lãi suất nơ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 ngân hàng thương mại có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm) để quyết định mức lãi suất chậm trả, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/3/2019. Đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực nhưng kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Nghị quyết này để giải quyết.

Đối với những vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động đã được Tòa án thụ lý giải quyết và bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành thì không áp dụng hướng dẫn tại Nghị quyết này để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm trừ trường hợp bản án, quyết định của Tòa án bị kháng nghị theo căn cứ khác.


【#10】Vcci Góp Ý Dự Thảo Nghị Quyết Hướng Dẫn Áp Dụng Pháp Luật Tính Lãi Suất, Lãi Nợ Quá Hạn Và Phạt Vi Phạm

Kính gửi: Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học – Tòa án nhân dân tối cao

Trả lời Công văn số 301/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao về đề nghị góp ý Dự thảo Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi suất, phạt vi phạm, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, trên cơ sở ý kiến của doanh nghiệp, hiệp hội, có một số ý kiến như sau:

1. Về các khoảng thời gian tương ứng với cách thức áp dụng pháp luật về lãi suất trong giao dịch dân sự (Điều 2)

Điều 2 Dự thảo hướng dẫn chi tiết áp dụng pháp luật trong hợp đồng vay tài sản là tiền và trong giao dịch dân sự khác không phải là hợp đồng tín dụng dựa vào các mốc thời gian phát sinh hiệu lực của Bộ luật dân sự 2005, 2021, theo đó:

  • Khoản 1 hướng dẫn cho các giao dịch dân sự xác lập từ ngày 01/01/2006 đến trước ngày 01/01/2017;
  • Khoản 2 hướng dẫn cho các giao dịch dân sự xác lập từ ngày 01/01/2017 trở đi (chú ý: Dự thảo hiện dùng chữ “giao kết”, đề nghị sử dụng chữ “xác lập” cho thống nhất với các trường hợp còn lại);
  • Khoản 3 hướng dẫn áp dụng cho các giao dịch dân sự được xác lập trước ngày 01/01/2017

Như vậy, có thể thấy khoản 1 và khoản 3 đều hướng dẫn việc áp dụng pháp luật cho các giao dịch xác lập trong khoảng từ 01/01/2016 đến trước 01/01/2017. Điều này sẽ tạo ra sự chồng lấn trong áp dụng (vì sẽ cùng lúc áp dụng hai quy định khác nhau) vừa chưa phù hợp (những giao dịch xác lập trước ngày 01/01/2006, phải áp dụng Bộ luật dân sự năm 1995).

2. Về các cách thức áp dụng pháp luật được hướng dẫn (Điều 2 Dự thảo) i) Đối với trường hợp giao dịch xác lập trong khoảng 1/1/2006-trước 1/1/2017 (khoản 1 Điều 2)

Dự thảo đưa ra ví dụ cho việc xác định lãi suất phù hợp cho giao dịch xác lập từ ngày 01/01/2006 đến trước ngày 01/01/2017. Tuy nhiên, phần phân tích trong ví dụ lại chưa chính xác: ” mức lãi suất cơ bản là 9%/năm tương ứng với 0,75%/tháng , tương ứng với 13,5%/năm )”. Nội dung này sẽ dẫn tới cách hiểu không chính xác là mức lãi suất cơ bản 9%/năm tương ứng với 13,5%/năm. Trong khi nội dung chính xác phải là: “… quy định mức lãi suất cơ bản là 9%/năm, mức tương ứng của 150% lãi suất cơ bản sẽ là 13,5%/năm “. Đề nghị Ban soạn thảo hoặc bỏ cụm từ “tương ứng với 13,5%/năm” hoặc sửa đổi cách diễn giải nói trên để đảm bảo nội dung chính xác.

Điểm b khoản 1 Điều 2 Dự thảo quy định “trường hợp thỏa thuận về lãi suất cao hơn 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố, thì tiền lãi được xác định theo mức lãi suất bằng 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng nhà nước công bố …”. Quy định này là chưa rõ về có hiệu lực của quyết định công bố lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Để đảm bảo tính rõ ràng, đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh lại quy định này theo hướng “… thì tiền lãi được xác định theo mức lãi suất bằng 150% mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố có hiệu lực tại thời điểm xác lập giao dịch “.

Tương tự, trong ví dụ 1 khi nói về mức lãi suất do Ngân hàng Nhà nước công bố thì cần nêu rõ là tại thời điểm 20/2/2013 (thời điểm xác lập giao dịch) thì Quyết định 2868/QĐ-NHNN ngày 29/11/2010 của Ngân hàng Nhà nước đang có hiệu lực.

(ii)Đối với trường hợp giao dịch xác lập trước 1/1/2017 (khoản 3 Điều 2)

Do trường hợp này đang có phần chồng lấn với trường hợp giao dịch xác lập trong khoảng 1/1/2006-1/12017 (như phân tích trong mục 1 Công văn góp ý này) nên phần hướng dẫn ở đây mâu thuẫn một phần với hướng dẫn tại khoản 1 Điều 2 Dự thảo. Vì vậy, đề nghị Ban soạn thảo:

  • Cân nhắc điều chỉnh lại nội dung hướng dẫn cho phù hợp và
  • Bổ sung thêm quy định hướng dẫn cho trường hợp giao dịch giao kết trước 1/1/2006

Ngoài ra, cần lưu ý là cách hướng dẫn ở khoản 3 hiện đang không thống nhất với cách hướng dẫn ở các khoản khác của Điều này, theo đó:

  • Khoản 3 phân biệt các trường hợp dựa trên tiêu chí giao dịch đã thực hiện hoặc chưa thực hiện
  • Các khoản khác phân biệt giao dịch chỉ căn cứ vào thời điểm xác lập giao dịch, không quan tâm đến việc giao dịch đã/đang/chưa thực hiện

Trên thực tế, việc xem xét giao dịch đã/đang/chưa thực hiện là rất khó khăn. Trong khi đó, về mặt pháp lý thì giao dịch có hiệu lực từ thời điểm giao dịch được xác lập (trừ khi có thỏa thuận khác về thời điểm có hiệu lực), việc thực hiện chậm/nhanh các công việc trong giao dịch thực chất cũng lấy hiệu lực của giao dịch làm tiêu chuẩn. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo thống nhất hướng dẫn theo thời điểm xác lập giao dịch (thời điểm có hiệu lực của cam kết trong giao dịch)

(iii) Đối với trường hợp giao dịch có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất (áp dụng cho tất cả các khoảng thời gian).

Khoản 4 Điều 2 quy định “Giao dịch dân sự có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất thì lãi suất được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi suất có hiệu lực tại thời điểm tính lãi suất “.

“Thời điểm tính lãi suất” là thời điểm nào?

Đề nghị Ban soạn thảo sửa đổi thành thời điểm điều chỉnh lãi suất.

3. Về áp dụng pháp luật về lãi suất trong hợp đồng tín dụng (Điều 3)

    Khoản 2 Điều 3 Dự thảo hướng dẫn chi tiết về các văn bản pháp luật áp dụng đối với các hợp đồng tín dụng xác lập trước/sau thời điểm Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực.

Đối với trường hợp hợp đồng tín dụng xác lập trong khoảng thời gian cụ thể trong quá khứ (từ 1/1/2006-1/1/2011 – điểm b khoản 2 Điều 3) thì việc liệt kê các văn bản pháp luật cụ thể có thể là hợp lý, thuận tiện khi áp dụng. Lý do là trong khoảng thời gian cụ thể đã được xác định này thì hiệu lực của các văn bản có thể được xác định cụ thể.

    Khoản 3 Điều 3 Dự thảo quy định “Hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay thì lãi suất được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật về lãi suất có hiệu lực tại thời điểm tính lãi suất “. Quy định này chưa chính xác, bởi ở đây thời điểm tính lãi suất không có ý nghĩa, quan trọng là thời điểm điều chỉnh lãi suất.. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh lại quy định trên theo hướng, xác định lãi suất tại thời điểm điều chỉnh lãi suất.

5. Về tính lãi đối với nợ gốc quá hạn trong giao dịch dân sự (Điều 5)(i) (i) Tính lãi đối với nợ gốc quá hạn:

Điểm a1.a khoản 1 quy định “trường hợp vay không có lãi, mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì khi giải quyết tranh chấp Tòa án xác định bên vay phải trả lãi trên nợ gốc chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điềm chậm trả nợ , ….” Đối với các giao dịch xác lập từ 01/01/2006 đến trước ngày 01/01/2017. Quy định này chưa phù hợp với khoản 2 Điều 305 Bộ luật dân sự 2005 về thời điểm xác định lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố là ” thời điểm thanh toán ” chứ không phải là ” thời hạn chậm trả nợ “. Đề nghị Ban soạn thảo điều chỉnh lại quy định này để đảm bảo tính thống nhất.

(ii)Thời gian tính lãi nợ đối với nợ gốc quá hạn

Theo quy định tại điểm b1 khoản 1 thì “trường hợp vay không có thời hạn thì thời gian tính lãi quá hạn kể từ khi đòi nợ (phát sinh tranh chấp) đến thời điểm xét xử sơ thẩm “.

Quy định về thời gian tính lãi nợ đối với nợ gốc quá hạn đến “thời điểm xét xử sơ thẩm” là chưa hợp lý và chưa bảo đảm quyền lợi cho bên cho vay. Bởi bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ngay, có thể bị kháng cáo và xét xử phúc thẩm, thời gian xét xử bị kéo dài, đồng nghĩa thời gian chậm trả nợ gốc của bên vay sẽ kéo dài tương ứng.

– Khoản 5 quy định “Các bên có thể thỏa thuận về việc nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi của thời gian vay tiếp theo. Tuy nhiên, Tòa án chỉ chấp nhận việc nhập lãi vào nợ gốc tại thời điểm đến hạn trả nợ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình. Các trường hợp khác đều phải tính nợ gốc theo lãi suất nợ quá hạn theo quy định của pháp luật”. Quy định này cần được xem xét ở các điểm sau:

  • Tính hợp lý: Bản chất khoản tiền gốc là khoản tiền bên cho vay đã giao cho bên vay. Tiền lãi là tiền bên vay phải trả bên cho vay khi đã sử dụng tiền vay. Trường hợp đến hạn trả lãi bên vay không trả được thì phải chịu lãi trên số tiền lãi chậm trả này và Bộ luật dân sự đã có quy định cho phép tính lãi trên số tiền lãi chậm trả này (khoản 1 Điều 357). Cho phép lãi nhập gốc là đã biến khoản tiền bên vay phải trả thành khoản tiền bên vay đã nhận của bên cho vay, làm sai lệch bản chất của quan hệ vay tiền.
  • Tính minh bạch: Không rõ tại sao Tòa án lại chỉ chấp nhận việc nhập lãi vào nợ gốc một lần tại thời điểm đến hạn trả nợ mà bên có nghĩa vụ không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình? Trong trường hợp đã cho phép các bên thỏa thuận nhập lãi vào nợ gốc để tính lãi, thì tại sao lại không tiếp tục cho phép các bên thỏa thuận cho các lần sau?

6. Về tính lãi đối với nợ gốc quá hạn trong hợp đồng tín dụng (Điều 6)

Điều 6 Dự thảo hướng dẫn việc tính lãi đối với các hợp đồng tín dụng xác lập dựa vào thời điểm có hiệu lực pháp luật của Bộ luật dân sự 2005, 2021. Điều này là chưa thống nhất với chính quy định tại Điều 3 Dự thảo (theo đó đối với hợp đồng tín dụng thì không áp dụng Bộ luật dân sự mà là pháp luật ngân hàng – cụ thể là dựa vào thời điểm trước hoặc sau khi Luật các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực).

  • Tính lãi đối với nợ gốc quá hạn trong hợp đồng tín dụng dựa vào thời điểm xác lập hợp đồng là trước hoặc sau thời điểm 01/01/2011 (Luật các tổ chức tín dụng 2010 có hiệu lực) và
  • Hướng dẫn cách thức thực hiện phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn.

7. Về phạt vi phạm trong hợp đồng (Điều 7)

Khoản 3 quy định về phạt vi phạm trong hợp đồng tín dụng dựa trên thời điểm xác lập trước hay từ ngày 01/01/2017 (Bộ luật dân sự 2021 có hiệu lực).

Quy định này dường như chưa phù hợp với các quy định trong lĩnh vực ngân hàng. Bởi Điều 25 Thông tư 39/2016/TT-NHNN quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng với khách hàng không cho phép tổ chức tín dụng phạt vi phạm đối với khách hàng vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Nghĩa là không cho phép cùng lúc áp dụng phạt vi phạm và áp dụng lãi suất quá hạn đối với cùng một vi phạm. Trước Thông tư 39, chưa có quy định nào hạn chế việc này.

Trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý Cơ quan.


Bạn đang xem chủ đề Luật Sư X Là Ai trên website Athena4me.com. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!