Đạo Đức (Morality) Là Gì? Phân Biệt Đạo Đức Và Pháp Luật

--- Bài mới hơn ---

  • Cuộc Trò Chuyện Giữa “pháp Luật” Với “đạo Đức”
  • ‘báo Kinh Doanh Và Pháp Luật Là Tờ Báo Có Nhiều Bổ Ích…’
  • Xúc Tiến Thương Mại Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Luận Văn: Thực Hiện Chính Sách Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Hot
  • Elsi: Vấn Đề Đạo Đức, Luật Pháp Và Xã Hội
  • Định nghĩa

    Đạo đức trong tiếng Anh là Morality. Đạo đức là tập hợp các nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi của con người đối với bản thân và trong quan hệ với người khác, với xã hội.

    Từ giác độ khoa học, “đạo đức là một bộ môn khoa học nghiên cứu về bản chất tự nhiên của cái đúng – cái sai và phân biệt khi lựa chọn giữa cái đúng – cái sai, triết lí về cái đúng – cái sai, qui tắc hay chuẩn mực chi phối hành vi của các thành viên cùng một nghề nghiệp. (Từ điển Điện tử American Heritage Dictionary).

    Chức năng cơ bản của đạo đức

    Chức năng cơ bản của đạo đức là điều chỉnh hành vi của con người theo các chuẩn mực và qui tắc đạo đức đã được xã hội thừa nhận bằng sức mạnh của sự thôi thúc lương tâm cá nhân, của dư luận xã hội, của tập quán truyền thống và của giáo dục.

    Đạo đức qui định thái độ, nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người đối với bản thân cũng như đối với người khác và xã hội. Vì thế đạo đức là khuôn mẫu, tiêu chuẩn để xây dựng lối sống, lí tưởng mỗi người.

    Những chuẩn mực và qui tắc đạo đức gồm: độ lượng, khoan dung, chính trực, khiêm tốn, dũng cảm, trung thực, tín, thiện, tàn bạo, tham lam, kiêu ngạo, hèn nhát, phản bội, bất tín…

    Phân biệt đạo đức và pháp luật

    Đạo đức và pháp luật đều là hệ thống các qui tắc xử sự chung, chuẩn mực xã hội; giúp con người tự giác điều chỉnh hành vi sao cho phù hợp với lợi ích cộng đồng, xã hội.

    Tuy nhiên, đạo đức khác với pháp luật ở chỗ:

    – Sự điều chỉnh hành vi của đạo đức không có tính cưỡng bức, cưỡng chế mà mang tính tự nguyện, các chuẩn mực đạo đức không được ghi thành văn bản pháp qui.

    – Pháp luật chỉ làm rõ những mẫu số chung nhỏ nhất của các hành vi hợp lẽ phải, hành vi đạo lí đúng đắn tồn tại bên trên luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mối Quan Hệ Giữa Chuẩn Mực Pháp Luật Và Chuẩn Mực Đạo Đức
  • Văn Minh Ai Cập Cổ Đại
  • Khái Quát Về Hệ Thống Pháp Luật Common Law
  • Hai Hệ Thống Pháp Luật Common Law Và Civil Law
  • Án Lệ Ở Anh Quốc: Lịch Sử, Khái Niệm, Nguyên Tắc Và Cơ Chế Thực Hiện
  • Elsi: Vấn Đề Đạo Đức, Luật Pháp Và Xã Hội

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngày Pháp Luật Việt Nam Bắt Nguồn Từ Đâu?
  • Khái Niệm, Nguồn Gốc, Bản Chất, Đặc Điểm Và Vai Trò Của Pháp Luật
  • Nguồn Gốc Và Bản Chất Của Pháp Luật
  • Thực Hiện Trợ Giúp Pháp Lý Bằng Hình Thức Tư Vấn Pháp Luật
  • Thay Đổi Nội Dung Đăng Ký Hoạt Động Trung Tâm Tư Vấn Pháp Luật
  • ELSI có nghĩa là gì? ELSI là viết tắt của Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của ELSI được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài ELSI, Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    ELSI = Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội

    Tìm kiếm định nghĩa chung của ELSI? ELSI có nghĩa là Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của ELSI trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của ELSI bằng tiếng Anh: Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, ELSI được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội. Trang này là tất cả về từ viết tắt của ELSI và ý nghĩa của nó là Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội. Xin lưu ý rằng Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội không phải là ý nghĩa duy chỉ của ELSI. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của ELSI, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của ELSI từng cái một.

    Ý nghĩa khác của ELSI

    Bên cạnh Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội, ELSI có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của ELSI, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Vấn đề đạo Đức, luật pháp và xã hội bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luận Văn: Thực Hiện Chính Sách Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Hot
  • Xúc Tiến Thương Mại Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • ‘báo Kinh Doanh Và Pháp Luật Là Tờ Báo Có Nhiều Bổ Ích…’
  • Cuộc Trò Chuyện Giữa “pháp Luật” Với “đạo Đức”
  • Đạo Đức (Morality) Là Gì? Phân Biệt Đạo Đức Và Pháp Luật
  • Tình Nghĩa Ở Việt Nam Và Pháp Luật Ở Nhật

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Ở Nhật Có Thể Bị Bắt Giữ Và Phạt Tiền Mà Có Thể Người Nước Ngoài Không Biết Đến
  • Các Chương Trình Thạc Sĩ Luật Về Nghiên Cứu Pháp Luật Tốt Nhất Ở Singapore 2022
  • Pháp Luật Về Bảo Vệ Môi Trường Ở Singapore
  • Những Luật Pháp Ở Đức Bạn Cần Nắm Rõ
  • Quy Trình Lập Pháp Của Chlb Đức Và Một Số Kinh Nghiệm Đối Với Việt Nam
  • Mấy hôm nay khi lên mạng để xem cập nhật tin tức ở nhà thì mình có đọc được nhiều bài báo về vụ án Vinalines đang xôn xao dư luận trong thời gian gần đây, có thể tóm gọn một là đại án tham nhũng và một là đại án nhân tâm…

    Có nhiều nguồn ý kiến trái chiều về hành động của ông Dương Tư Trọng.. Người thì cho rằng ông đã quá nặng tình ruột thịt máu mủ nên vì một phút dại dột đã đưa ra quyết định sai lầm cho cả cuộc đời mình. Nhưng cũng phần đông người đều thương và tiếc nuối cho một con người vẹn tài vẹn tâm cũng như ngưỡng mộ và tôn trọng nhân cách nặng nghĩa nặng tình của ông …

    Có người còn cho rằng nếu họ là Dương Tự Trọng thì họ cũng sẽ hành xử không cần suy nghĩ như vậy để cứu anh, thế mới xứng đáng là con người sống có tình có nghĩa ..

    Và câu chuyện pháp luật ở Nhật …

    Đọc tin tức về đại tá Dương Tự Trọng thì mình bất chợt nhớ đến cuộc nói chuyện của một cô bạn người Úc và vợ chồng mình hồi lâu… Cô bạn người Úc này đã sống ở Nhật hơn 20 năm rồi nên rất am hiểu văn hóa và con người ở xứ anh đào, vì thế mỗi cuộc nói chuyện với Cô lại giúp cho mình hiểu thêm được nhiều điều về đất nước phù tang…

    Lúc ấy, cả 3 người bàn về một vấn đề đang nổi cộm trong dư luận bấy giờ, đó là vụ án sử dụng và tàng trữ ma túy của nữ diễn viên ca sĩ nổi tiếng ờ Nhật Noriko Sakai. Cô này cũng rất nổi tiếng ở Việt Nam trong tập phim Ngôi sao may mắn chiếu trên truyền hình hồi lâu.

    Noriko Sakai được người dân Nhật Bản rất yêu mến với hình tượng đẹp đẽ, gương mẫu. Nhưng thật chất Cô lại có cuộc sống riêng tư hoàn toàn trái ngược với hình mẫu xây dựng trước công chúng. Vợ chồng của Cô tàng trữ và sử dụng ma túy, sau đó bị cảnh sát phát hiện và phải hầu tòa.

    Chuyện đáng nói là chính người chồng của Cô là người đã dẫn dắt Cô vào con đường nghiện ngập, và sau khi vào tù cai nghiện xong và được trở lại xã hội thì anh này lại tiếp tục sử dụng ma túy . Nhưng đợt này người đứng ra tố cáo hành vi phạm pháp của anh , đó chính là cha mẹ của anh ta !

    Qua câu chuyện trên, cô bạn người Úc mới thắc mắc hỏi chồng mình là ở Nhật gia đình đứng ra tố cáo hành vi phạm pháp của người thân thì có bình thường hay không ? Chứ đối với Cô thì điều ấy thật không dễ dàng để đưa người thân của mình vào chốn lao tù như vậy….

    Nghe vậy, chồng của mình trả lời rằng nếu là anh thì anh cũng sẽ hành động như thế, sẽ tố cáo con mình trước pháp luật và anh biết chắc hầu như những người Nhật khác cũng sẽ hành động như anh.

    Bởi vì người Nhật vốn được dạy dỗ từ nhỏ là phải sống có kỉ luật và tôn trọng luật pháp., vì thế nếu người nào làm trái với pháp luật thì phải bị xử lý nghiêm minh, cho dù đó là con cái trong nhà … Một xã hội nếu luật pháp không được tôn trọng mà vì tình nghĩa máu mủ ruột thịt bao che cho nhau thì xã hội đó sẽ không còn kỉ cương và không công bằng, mà sẽ loạn lên cũng như sẽ nảy sinh nhiều tệ nạn như tham ô, hối lộ ..

    Nghe anh chồng mình nói lại làm mình nhớ đến vụ án khác khi một thanh niên Nhật hãm hiếp và giết chết một thiếu nữ người Anh rồi sau đó lẩn trốn trong gần 1 năm trời mới bị cảnh sát tìm thấy và bắt giữ. Lúc thủ phạm bị bắt giữ thì cha mẹ của anh (vốn là bác sĩ) đã xuất hiện trên truyền hình trong một phỏng vấn nhỏ. Họ nói rằng họ cảm thấy thoải mái và nhẹ lòng khi con của mình đã bị bắt, nó đã gây ra tội ác thì cần phải chịu hình phạt xứng đáng từ pháp luật …

    Sao người Nhật lại có thể có được những suy nghĩ và quyết định lạnh lùng vậy ta ?

    Uhm …mà nghĩ lại thấy cũng có lý vì từ cổ chí kim đến giờ, ta được nghe nhiều câu chuyện anh hùng vì một chữ tình hay vì mỹ nhân mà phải tiêu tan cả sự nghiệp, nhưng những anh hùng đó thường sẽ có xuất xứ từ Trung Hoa hay trong lịch sử phương Tây … Chứ còn những anh hùng samurai của Nhật Bản thì chỉ có một lòng trung hiếu với đất nước và lãnh đạo, đến mức nếu không hoàn thành nhiệm vụ thì sẽ tự sát bằng cách mổ bụng !!!!

    Chắc vì thế nên chẳng có gì khó hiểu vì sao người Nhật lại có được cái đầu lạnh lùng như vậy chăng ?

    Luật pháp hay Tình nghĩa: âu cũng chỉ là một sự lựa chọn mà thôi !!!

    Sưu tầm được đoạn này trong sách Tứ Thư, viết lại cho các bạn tham khảo thay lời kết:

    Sách Tứ thư chép:

    Diệp Công nói với Khổng Tử: “Xóm tôi có người ngay thẳng. Người cha ăn trộm dê, người con ra làm chứng”. Khổng Tử đáp: “Người con ngay thẳng ở xóm tôi khác thế. Cha che giấu cho con, con che giấu cho cha. Sự ngay thẳng ở ngay đó thôi”.

    Cuộc sống này được kết cấu bởi những điều tương đối… Vì thế bạn đừng mong đợi vào sự hoàn hảo, hay đừng tin tuyệt đối vào những chân lý đúng đắn.

    Càng sống lâu bạn càng nhận thấy sẽ không bao giờ có điều gì hoàn toàn đúng, điều gì hoàn toàn sai, hoặc sẽ không bao giờ có người hoàn toàn xấu hay người hoàn toàn tốt …

    Đúng hay Sai, Xấu hay Tốt, Pháp luật hay Tình nghĩa ? Âu cũng chỉ là do sự lựa chọn của chúng ta mà thôi, và đã lựa chọn rồi thì không có gì đáng tiếc hay hối hận cả, phải không các bạn ?…

    Mời bạn tham khảo một số bài viết khác tại : Xã hội và con người Nhật Bản

    --- Bài cũ hơn ---

  • Báo Chí Và Pháp Luật Ở Mỹ
  • Đi Dubai Quan Hệ Tình Dục Trước Hôn Nhân Có Thể Bị Tù
  • Nỗi Đau Người Việt Kinh Doanh Trên Thân Xác Người Việt Ở Dubai
  • Mặc Gì Khi Du Lịch Dubai Để Không Bị Coi Là Vi Phạm Pháp Luật
  • Mọi Điều Bạn Cần Biết Về Pháp Luật Ở Dubai · G
  • Bàn Về Hành Vi Pháp Luật Và Hành Vi Đạo Đức

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Kiểu Pháp Luật Trong Khoa Học Pháp Lý
  • Nụ Hôn Kiểu Pháp Là Gì?
  • Chương 3 Những Vấn Đề Cơ Bản Về Pháp Luật2
  • Khung Hình Phạt Là Gì ? Quy Định Của Pháp Luật Về Khung Hình Phạt
  • Khung Pháp Lý Cho Hoạt Động Logistics Tại Việt Nam
  • 1. Hành vi của con người là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm lí học, xã hội học, luật học… Là hình thức biểu hiện của ý thức con người ra ngoài thế giới khách quan, hành vi là xử sự của con người trong hoàn cảnh, điều kiện cụ thể, “được biểu hiện ra ngoài bằng những lời nói, cử chỉ nhất định hoặc bằng sự thiếu vắng những lời nói, cử chỉ nhất định”. Theo cách hiểu này, hành vi có hai hình thức biểu hiện là hành động hoặc không hành động và khi nói đến hành vi của con người là bao gồm cả hành vi có ý thức và hành vi vô thức.

    Trong đời sống xã hội, các cá nhân có hoàn cảnh, điều kiện sống khác nhau với những nhu cầu, lợi ích khác nhau. Để thoả mãn nhu cầu, lợi ích của mình, mỗi chủ thể có những phương pháp, cách thức riêng. Trong cùng điều kiện, hoàn cảnh, các chủ thể khác nhau sẽ có thể có những cách xử sự khác nhau. Thực tế cho thấy có những hành vi vừa đáp ứng nhu cầu, mục đích của chủ thể đồng thời cũng phù hợp với lợi ích của người khác cũng như toàn thể cộng đồng. Ngược lại, có những hành vi chỉ thoả mãn nhu cầu của chủ thể nhất định nhưng lại xâm phạm tới lợi ích của người khác, xâm phạm tới lợi ích chung của cộng đồng, đi ngược với mong muốn chung của xã hội. Điều đó làm cho đời sống xã hội mất đi sự ổn định, trật tự, thậm chí trở nên hỗn loạn.

    Giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức, có những điểm giống nhau cơ bản sau đây:

    Một là hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là những hành vi phổ biến nhất trong đời sống xã hội. Có thể nói, trong các hành vi xã hội của con người thì hành vi đạo đức và hành vi pháp luật chiếm tỉ trọng lớn nhất. Từ những xử sự trong gia đình, trường học cho đến các xử sự nơi làm việc hay khi tham gia vào bất cứ quan hệ xã hội nào, phần nhiều trong đó đều là những hành vi pháp luật, hành vi đạo đức.

    Hai là hành vi pháp luật và hành vi đạo đức đều mang tính chất lịch sử xã hội. Qua mỗi thời kì lịch sử, con người có những hành vi khác nhau, cách thức thực hiện khác nhau, công cụ, phương tiện hỗ trợ khác nhau… Mặt khác, qua các thời kì lịch sử khác nhau, nội dung pháp luật và đạo đức cũng có sự thay đổi, bởi vậy, có hành vi thời kì này được coi là hành vi pháp luật nhưng thời kì khác lại không phải là hành vi pháp luật, có hành vi thời kì này là hành vi hợp pháp, thời kì khác lại bị coi là hành vi trái pháp luật. Điều này cũng hoàn toàn tương tự đối với hành vi đạo đức. Chẳng hạn, ở Việt Nam, trong cơ chế kinh tế kế hoạch hoá, tập trung, trong số hành vi pháp luật không có hành vi mua bán các loại chứng khoán; tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, hành vi này ngày càng trở nên phổ biến. Trước đây, để thực hiện hành vi kí kết hợp đồng, các chủ thể phải trực tiếp gặp gỡ nhau bàn bạc, thoả thuận, đi đến thống nhất và kí kết, ngày nay nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện kĩ thuật, hành vi “thương mại điện tử” dần trở thành quen thuộc với mọi người.

    Ba là hành vi pháp luật và hành vi đạo đức đều chịu sự chi phối của những nhân tố sau đây:

    Điều kiện kinh tế-xã hội: Đây là yếu tố tác động khá mạnh mẽ đến hành vi con người. Chúng ta biết rằng nhu cầu chính là nguồn gốc, động lực của hành vi con người mà nhu cầu của con người lại phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội. Bởi vậy, suy đến cùng, hành vi con người phụ thuộc vào điều kiện kinh tế-xã hội, nói cách khác, chính điều kiện kinh tế-xã hội quy định nguồn gốc, động lực, xu hướng của hành vi pháp luật và hành vi đạo đức. Kinh tế càng thấp kém, nhu cầu càng đơn giản, kinh tế càng phát triển, nhu cầu con người ngày mở rộng và nâng cao. Đồng thời, điều kiện kinh tế-xã hội còn là cơ sở hiện thực hoá hành vi con người bởi lẽ điều kiện kinh tế chính là nhân tố đảm bảo cho pháp luật, đạo đức đi vào cuộc sống, trở thành hành vi thực tế của các cá nhân, tổ chức trong xã hội.

    Điều kiện, hoàn cảnh sống: Yếu tố này cũng có ảnh hưởng khá lớn đến hành vi pháp luật và hành vi đạo đức của mỗi cá nhân. Sống trong điều kiện vật chất thiếu thốn dễ làm nảy sinh những hành vi tiêu cực, “đói ăn vụng, túng làm liều” là vì thế. Ngược lại, kiếm tiền một cách quá dễ dàng, điều kiện vật chất đầy đủ đến mức quá dư thừa cũng dễ làm con người ta ý thức không đúng đắn về giá trị của tiền bạc, của lao động, dẫn tới chi tiêu hoang phí, sống buông thả, “nhàn cư vi bất thiện” là như thế. Gia đình, khu dân cư, nhà trường, nơi công tác… cũng là những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến hành vi con người. Một gia đình có gia pháp, có kỉ cương, nền nếp là cơ sở đảm bảo rất quan trọng để hành vi của các thành viên trong gia đình hợp pháp, phù hợp đạo đức. Ngược lại, nếu trong gia đình cha mẹ không có sự nêu gương, bản thân cha mẹ cũng có những hành vi trái pháp luật, trái đạo đức xã hội thì con cái cũng dễ có khả năng thực hiện những hành vi đó.

    Yếu tố ý thức cá nhân: Ý thức cá nhân, bao gồm trình độ văn hoá, hiểu biết pháp luật, đạo đức, quan điểm, quan niệm sống… có sự chi phối rất mạnh mẽ tới hành vi của con người. Điều kiện kinh tế-xã hội, hoàn cảnh sống… tác động đến hành vi mỗi người cũng đều thông qua lăng kính ý thức cá nhân của họ. Do vậy, có thể khẳng định ý thức cá nhân là yếu tố tác động trực tiếp và quan trọng nhất tới hành vi con người.

    Một là nhân tố điều chỉnh hành vi: Hành vi pháp luật chịu sự tác động trực tiếp của quy phạm pháp luật, nói một cách cụ thể, chỉ khi có quy phạm pháp luật, các thành viên trong xã hội mới biết một cách chính xác cách xử sự mà nhà nước yêu cầu, đòi hỏi đối với mình. Chỉ một số ít trường hợp khi chưa có các quy phạm pháp luật, những quan niệm, quan điểm, tư tưởng pháp lí, những nguyên tắc, định hướng của pháp luật… mới phát huy vai trò thay thế cho các quy phạm pháp luật để điều chỉnh hành vi con người. Tất nhiên, điều này cần phải hết sức hạn chế, bởi minh bạch là một trong những thuộc tính vốn có của pháp luật.

    Trong khi đó, có thể nói hành vi đạo đức trực tiếp chịu sự chi phối của các quan điểm, quan niệm, tư tưởng đạo đức. Nắm được các quan niệm, tư tưởng đạo đức là xác định được những hành vi nên làm, phải làm trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể, xác định. Do vậy, để điều chỉnh hành vi con người bằng đạo đức, vấn đề cơ bản và quan trọng là truyền bá, giáo dục các quan niệm, tư tưởng đạo đức. Những quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức xã hội được đề ra cho mọi đối tượng, tuy nhiên, các cá nhân do tuổi tác, trình độ nhận thức, nghề nghiệp, chức vụ… khác nhau nên nhận thức của họ về các quan điểm, tư tưởng đạo đức xã hội có sự khác nhau. Chính vì vậy, đạo đức xã hội thường không cứng nhắc mà khá uyển chuyển, linh hoạt, cho phù hợp với các chủ thể, trong các điều kiện, hoàn cảnh. Sự đánh giá về tính phù hợp hay không phù hợp đạo đức từ phía xã hội về hành vi cụ thể nào đó vì thế cũng không cố định, cứng nhắc. Chẳng hạn, không phải trong mọi trường hợp nói dối đều là không trung thực. Trong trường hợp nhất định, bác sĩ hay con cái hoàn toàn có thể không cần phải nói đúng sự thật về bệnh tật của cha mẹ mình.

    Hai là chủ thể của hành vi

    Chủ thể của hành vi pháp luật là người có năng lực hành vi pháp luật. Tùy từng hành vi pháp luật cụ thể, pháp luật có các quy định tiêu chuẩn năng lực cụ thể để thực hiện hành vi đó. Thông thường, một người được coi là có năng lực hành vi pháp luật khi có sự hoàn thiện về thể chất, đủ sức khỏe để thực hiện hành vi, có trạng thái thần kinh bình thường, nhận thức và điều khiển được hành vi của mình, đạt đến độ tuổi nhất định do pháp luật quy định.

    Chủ thể của hành vi đạo đức cũng phải là người có năng lực hành vi đạo đức. Tuy nhiên, năng lực hành vi đạo đức xuất hiện rất sớm, nó xuất hiện ngay từ khi con người thực hiện những hành vi có ý thức đầu tiên. Khi em bé bắt đầu biết nhận thức về những phạm trù đạo đức sơ đẳng nhất là lúc hành vi của nó được xem xét, đánh giá dưới góc độ đạo đức, theo phương châm “tre non dễ uốn” (trúc nộn dị kiểu). Như vậy, đạo đức điều chỉnh hành vi không kể tuổi tác của con người.

    Ba là giới hạn của hành vi pháp luật và hành vi đạo đức

    Có thể nói hành vi của con người phần lớn chịu sự điều chỉnh của pháp luật và đạo đức. Đối với mỗi người, cho dù ở đâu, bao giờ, khi nào cũng luôn phải chú ý đối nhân, xử thế sao cho phù hợp với các chuẩn mực đạo đức cũng như pháp luật. Xã hội “không thể một ngày thiếu pháp luật”,(4) nói cách khác, pháp luật chi phối hành vi hàng ngày của con người. Đạo đức là yếu tố tinh thần không thể tách rời hành vi của con người, không thể thiếu được trong đời sống của mỗi con người. Chính vì vậy, việc xác định ranh giới giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là hết sức khó khăn.

    Trước hết, cần nhấn mạnh rằng việc xác định hành vi cụ thể là hành vi pháp luật hay hành vi đạo đức chỉ có ý nghĩa tương đối. Cùng hành vi, xét theo hệ thống pháp luật này là hành vi pháp luật nhưng xét theo hệ thống pháp luật khác có thể không phải là hành vi pháp luật. Điều này là do các hệ thống pháp luật được xây dựng trên nền tảng kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, đạo đức, truyền thống, tín ngưỡng… khác nhau, vì vậy, nội dung cũng như cách thức tác động của chúng đến các quan hệ xã hội là khác nhau. Chẳng hạn, theo pháp luật phong kiến Việt Nam, hành vi sinh con thứ ba trở lên không phải là hành vi pháp luật, tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, hành vi này bị coi là vi phạm pháp luật.(5) Đối với hành vi đạo đức, điều này cũng hoàn toàn tương tự. Xét theo hệ thống pháp luật hay nền đạo đức nhất định, hành vi cụ thể có thể chỉ là hành vi pháp luật hoặc chỉ là hành vi đạo đức; có thể vừa là hành vi pháp luật vừa là hành vi đạo đức và cũng có thể không phải hành vi pháp luật cũng không phải hành vi đạo đức.

    Có những hành vi được pháp luật điều chỉnh nhưng đạo đức không điều chỉnh chúng, nói cách khác, chúng chỉ là hành vi pháp luật mà không phải là hành vi đạo đức. Những hành vi thực hiện quy trình kĩ thuật do pháp luật quy định, những hành vi thực hiện trình tự, thủ tục pháp lí… chỉ là hành vi pháp luật. Ngược lại, có những hành vi được đạo đức điều chỉnh nhưng pháp luật không điều chỉnh, những hành vi thể hiện tình làng nghĩa xóm “tối lửa tắt đèn có nhau”, thăm hỏi nhau lúc ốm đau, giúp đỡ nhau bằng công sức, tiền bạc; những hành vi thể hiện tinh thần, tương thân, tương ái giữa con người với nhau trong cộng đồng… chỉ có thể là hành vi đạo đức.

    Nhìn chung, những hành vi được pháp luật điều chỉnh thì thường cũng được đạo đức điều chỉnh, do vậy mà sự chồng lấn giữa hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là rất lớn. Nội dung những quy định cụ thể của pháp luật và đạo đức có thể thống nhất hoặc mâu thuẫn nhau, nói cách khác, sự điều chỉnh của pháp luật và đạo đức có thể là thuận chiều cũng có thể là ngược chiều. Chính vì thế, hành vi nhất định có thể vừa hợp pháp vừa hợp đạo đức; hợp pháp nhưng không hợp đạo đức; hợp đạo đức nhưng không hợp pháp; vừa không hợp pháp vừa không hợp đạo đức. Chẳng hạn, theo các chuẩn mực pháp luật và đạo đức hiện hành ở Việt Nam, những hành vi của cha mẹ trong việc nuôi dạy, chăm sóc con cái vừa hợp pháp, vừa hợp đạo đức. Theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985, việc cha mẹ không tố giác hành vi phạm tội do con mình thực hiện bị coi là vi phạm pháp luật(6) nhưng xét về mặt đạo đức, hành vi này có thể được coi là phù hợp đạo đức xã hội. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng trong xã hội, bên cạnh các quan niệm, quan điểm, quy tắc đạo đức chung của toàn xã hội còn có đạo đức của các giai cấp, tầng lớp; đạo đức của các tôn giáo; đạo đức của các thiết chế xã hội… trong đó các quan niệm, quan điểm, quy tắc đạo đức này chưa hẳn đã thống nhất, đồng bộ với nhau. Bởi vậy, hành vi cụ thể có thể là hợp chuẩn đối với hệ thống đạo đức này nhưng lại có thể lệch chuẩn đối với hệ thống đạo đức khác. Tất nhiên, đạo đức chung của toàn xã hội, đạo đức của giai cấp cầm quyền vẫn có sức chi phối mạnh mẽ nhất đối với hành vi của các thành viên trong xã hội.

    Trong giới hạn nào đó, hành vi con người có thể vừa là hành vi pháp luật, vừa là hành vi đạo đức nhưng vượt ra ngoài giới hạn đó thì chỉ là hành vi đạo đức. Chẳng hạn, trường hợp gặp người bị nạn, pháp luật chỉ buộc chủ thể phải thực hiện hành vi cứu giúp, tức là làm cho người đó thoát khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng, trong khi đó, đạo đức đòi hỏi rộng hơn nhiều, nó không chỉ yêu cầu chủ thể phải thực hiện hành vi giúp người bị nạn thoát khỏi sự nguy hiểm đến tính mạng mà còn đòi hỏi chủ thể phải có những những hành vi giúp đỡ về vật chất cũng như về tinh thần khác. Trong trường hợp này, hành vi đưa người đang chới với giữa dòng nước chảy xiết vào bờ, đưa người bị tai nạn giao thông vào bệnh viện cấp cứu… vừa là hành vi pháp luật, vừa là hành vi đạo đức nhưng những hành vi như giúp đỡ tiền bạc, động viên, an ủi, đưa về nhà chăm sóc… không còn là hành vi pháp luật, nó chỉ còn được đánh giá về mặt đạo đức. Ngược lại, hành vi nhất định nào đó có thể được đánh giá về mặt đạo đức không phụ thuộc vào tính chất và mức độ nhưng hành vi này chỉ bị đánh giá về mặt pháp luật khi tác động, ảnh hưởng ở mức độ nhất định đối với đời sống xã hội. Chẳng hạn, hành vi nói dối, hành vi “sống thử”, “sống gấp”… luôn bị đánh giá về mặt đạo đức. Tuy nhiên, những hành vi này chỉ được đánh giá về mặt pháp luật trong những trường hợp nhất định.(7) Hành vi gây thiệt hại cho xã hội chỉ trở thành đối tượng của pháp luật khi thiệt hại mà nó gây ra ở mức độ nào đó. Người ta không cần xử lí bằng pháp luật đối với hành vi trộm cắp những tài sản nhỏ nhặt.

    Pháp luật chỉ điều chỉnh các hành vi xã hội đã tồn tại một cách khách quan, phổ biến, điển hình, ổn định ở mức độ nhất định, còn đạo đức do tính chất mềm dẻo và linh động, nó điều chỉnh các hành vi xã hội ngay từ khi nó mới manh nha hình thành. Chẳng hạn, những hành vi mang thai hộ; cho, nhận trứng, tinh trùng, các bộ phận trên cơ thể người; hiến xác hoặc các bộ phận trên cơ thể sau khi chết… đầu tiên xảy ra trong đời sống được đánh giá về mặt đạo đức… Nhưng những hành vi này chỉ trở thành hành vi pháp luật khi đã trở nên phổ biến và ổn định tương đối.

    Tóm lại, cả pháp luật và đạo đức đều không thể điều chỉnh tất cả các hành vi con người. Pháp luật chỉ có thể điều chỉnh những hành vi thể hiện lí trí, ý chí của chủ thể, trong khi đó, đạo đức điều chỉnh cả những hành vi chịu sự chi phối bởi tình cảm của con người.

    Bốn là cơ chế tâm lí của hành vi

    Như đã đề cập, hành vi của con người là hành vi có ý thức, bởi vậy, đánh giá hành vi pháp luật và hành vi đạo đức của con người không chỉ xem xét biểu hiện bên ngoài của nó mà còn cần phân tích cơ chế tâm lí của chúng. Cơ chế tâm lí của hành vi pháp luật và hành vi đạo đức là quá trình rất phức tạp, nó bao gồm việc hình thành động cơ hành vi, lựa chọn và quyết định phương án hành vi, hiện thực hoá hành vi, tự đánh giá về hành vi đã thực hiện.

    Khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, trên cơ sở sự hiểu biết của chủ thể cũng như thái độ, tình cảm của bản thân đối với pháp luật cũng như đạo đức xã hội, từ vốn sống, nhân cách, từ sự hiểu người, hiểu mình, sự ý thức về vị trí và vai trò của bản thân mình, xuất phát từ tình cảm của cá nhân về đối tượng của hành vi, trên cơ sở sự dự liệu về những hậu quả có thể phải gánh chịu cũng như thái độ của bản thân đối với những hậu quả đó… (gọi chung là ý thức cá nhân bao gồm tri thức, tình cảm, ý chí, động cơ, mục đích…), chủ thể tự lựa chọn cho mình phương án hành vi cụ thể. Sau khi đã quyết định lựa chọn phương án xử sự cụ thể, chủ thể hiện thực hoá sự lựa chọn đó bằng cách tiến hành hoặc không tiến hành những thao tác, cử chỉ, lời nói nhất định. Sau khi hành vi được thực hiện, các chủ thể thường có sự tự đánh giá về nó. Khi đó, về mặt tâm lí, chủ thể có thể thoả mãn, bằng lòng, hưng phấn hoặc ngược lại là sự ăn năn, ân hận, sợ hãi… Trong toàn bộ cơ chế này, các yếu tố lí trí, ý chí, tình cảm, thói quen… giữ vai trò khác nhau đối với mỗi loại hành vi.

    Đối với hành vi đạo đức, yếu tố tình cảm, yếu tố thói quen đóng vai trò rất quan trọng. Có thể nói, tình cảm là yếu tố quan trọng nhất đối với hành vi đạo đức. Nếu không có tình cảm đạo đức thì các khái niệm đạo đức, các phạm trù luân lí, những tri thức thu được về thiện ác, công bằng, lương tâm, danh dự… chỉ được nhận thức ở mức độ ghi nhận thông tin mà không có cơ sở để chuyển hoá thành động cơ của hành vi. Bằng tình cảm đạo đức, chủ thể không cần phải do dự khi lựa chọn hành vi cần thực hiện đồng thời lại tích cực, say mê thực hiện hành vi với quyết tâm cao độ… Yếu tố tình cảm chi phối, ảnh hưởng đến tất cả các giai đoạn trong diễn biến tâm lí của hành vi, từ việc hình thành động cơ cho đến sự tự đánh giá về hành vi của mình. Nhiều khi, tình cảm còn làm con người “mất” lí trí, thực hiện hành vi không có sự kiểm soát của lí trí. Xuất phát từ vai trò quan trọng của yếu tố tình cảm đối với hành vi đạo đức, cho nên khi đánh giá về hành vi đạo đức, người ta không chỉ đánh giá sự phù hợp hay không phù hợp về hình thức của hành vi đối với các chuẩn mực đạo đức xã hội. Bởi vậy, có những hành vi mặc dù về hình thức là phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội nhưng vẫn bị chê cười, bị coi là giả tạo, là “chơi ngông”… Trong khi đó, đối với hành vi pháp luật, yếu tố lí trí, ý chí lại thể hiện vai trò quan trọng hơn, bởi vậy, trong việc đánh giá hành vi pháp luật, chỉ cần đánh giá về lí trí và sự tự do ý chí mà thôi.

    Có thể nói, đạo đức là yếu tố điều chỉnh gần gũi nhất đối với hành vi con người. Chính vì thế, những quan niệm, quan điểm, tư tưởng đạo đức được truyền bá hết sức sâu rộng trong xã hội, bởi vậy, nó đã ăn sâu, bám rễ một cách chắc chắn trong mỗi người, nó chi phối hoạt động hàng ngày, hàng giờ của con người. Nhiều hành vi đạo đức vì thế đã trở thành tập quán, truyền thống của cộng đồng, thậm chí có những hành vi đạo đức đã trở thành vô thức, chúng xảy ra tự động ngay cả khi không có sự điều khiển của ý thức.

    Năm là biện pháp tác động đến hành vi

    Để đạt được mục đích điều chỉnh, pháp luật và đạo đức có những phương pháp, cách thức tác động riêng, mang tính đặc thù. Hành vi pháp luật chịu sự tác động bởi các biện pháp nhà nước. Tuỳ điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, nhà nước có thể sử dụng một hoặc kết hợp các biện pháp khác nhau, từ tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, đến khen thưởng, xử phạt. Thực hiện sự tác động này, nhà nước có bộ máy chuyên môn với đầy đủ sức mạnh được tổ chức từ trung ương xuống địa phương. Để đảm bảo tăng cường hành vi hợp pháp, giảm thiểu hành vi trái pháp luật, khi cần thiết, nhà nước có thể sử dụng các biện pháp cưỡng chế đã được quy định, gây ra những bất lợi về vật chất, tinh thần, thậm chí cả tính mạng đối với người vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, tất cả những biện pháp tác động của nhà nước đều chỉ là sự tác động từ bên ngoài đối với chủ thể, nó chỉ được thực hiện trong hiện tại và chỉ có hiệu lực trong thời gian nhất định.

    Trong khi đó, tác động đến hành vi đạo đức chủ yếu và trước hết là biện pháp giáo dục, thuyết phục, nói cách khác, thông qua sự tác động vào ý thức chủ thể mà tác động đến hành vi đạo đức của họ. Thông qua gia đình, nhà trường, các thiết chế xã hội, thông qua giao tiếp hàng ngày, thông qua con đường tự ý thức, tự đánh giá… những chuẩn mực đạo đức xã hội tác động đến ý thức chủ thể, được chủ thể tiếp thu, hấp thụ, được nội tâm hoá trở thành tri thức, tình cảm, nghĩa vụ, trách nhiệm đạo đức của họ. Trên cơ sở đó, mỗi người tự xây dựng phương châm ứng xử cho mình trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, tự nguyện, tự giác thực hiện hành vi theo yêu cầu, đòi hỏi của các chuẩn mực đạo đức xã hội. Bên cạnh đó, dư luận xã hội là biện pháp tác động hết sức mạnh mẽ đến hành vi đạo đức của các chủ thể. Dư luận xã hội tác động đến chủ thể hàng ngày, hàng giờ, ở mọi nơi, mọi lúc, diễn ra lâu dài, dai dẳng, thậm chí trở thành “bia miệng ngàn năm”. Sự xấu hổ và lòng tự trọng khiến không ai có thể bỏ qua dư luận xã hội, đặc biệt đối với những người trọng danh dự thì sự tác động của dư luận càng trở nên có hiệu quả.

    Tuy nhiên, cần lưu ý rằng tác động đến hành vi con người, cưỡng chế nhà nước cũng như sự tác động của dư luận xã hội đều có những hạn chế của nó. Sự tác động theo kiểu “nói xuông” của dư luận xã hội sẽ trở nên kém hiệu quả, thậm chí là vô tác dụng đối với những kẻ bất lương, không biết xấu hổ, không có lòng tự trọng. Tương tự, biện pháp cưỡng chế nhà nước không phải khi nào cũng đem lại hiệu quả như mong muốn. Ở khá nhiều người, trong tư duy của họ không có khái niệm sợ hãi, để đạt được mục đích, họ chấp nhận đánh đổi cả danh dự, sự tự do, thậm chí kể cả tính mạng của bản thân. Bởi vậy, trong công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật, việc tăng cường các biện pháp cưỡng chế, nâng cao mức chế tài không phải khi nào cũng có ý nghĩa. Ở góc độ khác, nói như Khổng Tử, sử dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước để tác động “tuy có thể giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục, vì vậy không thể xoá bỏ được gốc rễ của sự vi phạm. Điều này cho thấy trong quản lí xã hội, cần có sự kết hợp chặt chẽ các biện pháp tác động của pháp luật và đạo đức, nhằm điều chỉnh có hiệu quả nhất đối với hành vi con người.

    Trước hết, trong công tác xây dựng pháp luật, nhận thức sâu sắc giới hạn của hành vi pháp luật giúp các chủ thể có thẩm quyền xác định đúng đối tượng tác động của pháp luật để có thể điều chỉnh có hiệu quả đối với chúng. Như đã phân tích, pháp luật chỉ có thể điều chỉnh được các hành vi bị chi phối bởi ý chí, lí trí của chủ thể, nó không thể điều chỉnh những hành vi bị chi phối bởi tình cảm con người. Trong khi đó, pháp luật Việt Nam hiện hành quy định cha mẹ có nghĩa vụ và quyền yêu thương con; con cháu có bổn phận kính trọng ông bà, cha mẹ; vợ chồng yêu thương, quý trọng nhau… Chúng tôi cho rằng vấn đề này phải được suy nghĩ một cách cẩn trọng hơn. Chúng ta đều biết kính trọng, yêu thương là những phạm trù tình cảm, nằm sâu trong ý thức mỗi người, chỉ đạo đức mới có thể tác động đến. Pháp luật không thể cho phép hay bắt buộc người này phải yêu thương, quý trọng người khác. Để thể hiện sự yêu thương, quý trọng… các chủ thể phải thực hiện từ những hành vi “nhỏ nhặt”, đời thường đến những hành vi có ý nghĩa cực kì to lớn, thậm chí hi sinh cả tính mạng bản thân vì người mà mình yêu thương, kính trọng. Tất cả những hành vi đó đòi hỏi chủ thể phải thực hiện chúng bằng sự tự nguyện, tự giác, tích cực mà không phải dựa trên bất cứ sự cưỡng bức nào từ bên ngoài. Mặt khác, trong lĩnh vực tình cảm, hành vi chưa chắc đã phản ánh đúng mục đích, ý nghĩa đích thực của nó. Chẳng hạn, người Việt Nam có triết lí “bằng mặt không bằng lòng”; “yêu cho roi cho vọt”… Vì thế, chỉ thông qua hành vi, không thể đánh giá được sự yêu thương hay quý trọng mà vấn đề này chỉ “người trong cuộc” mới cảm nhận được. Sự quy định như trên là vượt quá giới hạn điều chỉnh của pháp luật, là sự “lấn sân” của pháp luật đối với đạo đức. Thiết nghĩ, thay vì quy định như hiện nay, pháp luật nên quy định rõ hành vi nào là không yêu thương, không tôn trọng, không biết ơn… nếu xét thấy cần phải tác động để giảm thiểu nó. Lịch sử pháp luật Việt Nam dưới thời phong kiến cũng đã để lại những kinh nghiệm lập pháp cần tham khảo.

    Thứ hai, trong điều chỉnh hành vi con người, cần có sự kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa pháp luật với đạo đức. Muốn vậy, hoạt động xây dựng pháp luật phải được tiến hành trên nền tảng đạo đức, phù hợp với các chuẩn mực đạo đức, ghi nhận, thể chế hoá các chuẩn mực đạo đức. Tuy nhiên, pháp luật có đặc trưng riêng, khác hẳn đạo đức xã hội ở tính xác định về hình thức, do vậy, việc ghi nhận, thể chế hoá các chuẩn mực đạo đức xã hội thành pháp luật phải đảm bảo sự cụ thể, rõ ràng, đảm bảo tính khả thi của pháp luật.

    Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều trường hợp, sự pháp luật hoá các quan niệm, quan điểm đạo đức còn khá chung chung. Chẳng hạn, Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Giao dịch dân sự có mục đích và nội dung trái đạo đức xã hội thì vô hiệu”. Điều 15 Luật thương mại năm 1998; Điều 6 Luật doanh nghiệp năm 1999 đều quy định cấm lưu thông hàng hoá, cung ứng dịch vụ, kinh doanh ngành nghề gây phương hại đến truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức, thuần phong mĩ tục Việt Nam. Điều 7 Luật tổ chức toà án năm 2002 quy định: “Toà án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc”… Vấn đề đặt ra, đạo đức xã hội, truyền thống, thuần phong, mĩ tục của dân tộc cần được hiểu như thế nào? Điều 128 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng”. Tuy nhiên, đạo đức xã hội thường rất phức tạp, bao gồm đạo đức của các giai cấp, tầng lớp, đạo đức của các tôn giáo, đạo đức của các thiết chế nghề nghiệp… Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, về cơ bản, các chuẩn mực đạo đức này mặc dù không đối lập nhau nhưng không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Mặt khác, trong đời sống xã hội đang diễn ra sự thay đổi trong các quan niệm, quan điểm đạo đức, nhiều chuẩn mực đạo đức cũ đang được nhận thức lại… Ở khía cạnh khác, đạo đức xã hội thường tồn tại ở dạng không thành văn nên nó không có tính xác định chặt chẽ như pháp luật. Các chuẩn mực đạo đức xã hội thường chỉ mang tính định hướng, sự nhận thức của mỗi người về các chuẩn mực đạo đức thường có sự khác nhau, vì vậy, xử sự của họ khó có thể thống nhất. Sự đánh giá về tính phù hợp hay không phù hợp với các chuẩn mực đạo đức xã hội đối với hành vi cụ thể vì thế cũng không thể cố định. Chính vì vậy, theo chúng tôi, cách quy định như trên đã làm cho những quy định đó trở nên khó hiểu, gây khó khăn cho các chủ thể trong việc thực hiện chúng.

    Thứ ba, để tăng cường hành vi vừa hợp pháp vừa hợp đạo đức đồng thời giảm thiểu hành vi trái pháp luật cũng như đạo đức xã hội, trong công tác tổ chức thực hiện pháp luật, cần hết sức coi trọng việc giáo dục pháp luật, đạo đức. Giáo dục pháp luật, đạo đức chính là cầu nối để đưa pháp luật và đạo đức vào cuộc sống, nó có ý nghĩa to lớn trong việc nâng cao tri thức pháp luật, đạo đức, xây dựng thái độ, tình cảm đúng mực đối với pháp luật và đạo đức, qua đó từng bước hình thành thói quen xử sự theo pháp luật đồng thời coi trọng các giá trị đạo đức xã hội. Giáo dục pháp luật và đạo đức còn góp phần quan trọng trong việc hình thành và hoàn thiện nhân cách, hoàn thiện năng lực cá nhân, định hướng hành vi con người đến chân, thiện, mĩ, nhân đạo, giảm trừ cái ác, cái bất công… Hoạt động này có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng quan điểm sống có quy tắc, có chuẩn mực, tôn trọng người khác, tôn trọng cộng đồng. Trong hoạt động này, cần phát huy thật tốt vai trò của gia đình, nhà trường, cơ quan, tổ chức, các vị già làng, trưởng bản, các vị bô lão… Gia đình là nơi sinh thành và là môi trường sinh hoạt hàng ngày của mỗi người. Gia đình là tế bào, là hạt nhân của xã hội. Muốn cho xã hội tốt thì gia đình càng phải tốt. Vì vậy cần nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc giáo dục đạo đức, hình thành nhân cách con người, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội. Nhà trường là thiết chế rất quan trọng trong công tác giáo dục đạo đức, pháp luật bởi nó thực hiện đồng thời các chức năng dạy chữ, dạy nghề và dạy người. Sau gia đình và đồng thời với gia đình, nhà trường là nơi giúp cho con người hình thành nhân cách, lối sống. Vì vậy trong nhà trường phải coi trọng giáo dục đạo lí làm người, ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, coi trọng công tác giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc. Các quan điểm, chuẩn mực đạo đức, pháp luật một khi được lồng ghép trong quá trình truyền bá giáo lí, đức tin sẽ rất dễ dàng thâm nhập vào quần chúng. Vì vậy, cần hết sức coi trọng vai trò của các tổ chức tôn giáo, các vị chức sắc tôn giáo trong việc giáo dục pháp luật, đạo đức. Công tác hoà giải ở cơ sở có ý nghĩa hết sức to lớn trong đời sống cộng đồng, đặc biệt trong điều kiện xã hội có truyền thống coi trọng đạo lí như Việt Nam. Hoà giải làm cho vụ việc được giải quyết triệt để, tránh được tình trạng “bằng mặt không bằng lòng”, qua đó giữ được tình làng nghĩa xóm, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái trong cộng đồng, góp phần phòng ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, giảm bớt các vụ việc phải giải quyết tại các cơ quan nhà nước, giảm bớt sự tốn kém của người dân về thời gian, tiền bạc. Chính vì vậy, cần nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác hoà giải ở cơ sở, đảm bảo nguyên tắc thấu tình, đạt lí, giải quyết các mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân trên cơ sở vận dụng những chuẩn mực, nguyên tắc đạo đức, phù hợp với các quy định trong pháp luật.

    Thứ tư, trong công tác bảo vệ pháp luật, nhà chức trách cần phải kiên trì quan điểm giáo dục thuyết phục trước, cưỡng chế sau, chỉ áp dụng cưỡng chế nhà nước khi không còn biện pháp nào khác. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế nhà nước phải luôn quán triệt phương châm “đánh kẻ chạy đi, không đánh người chạy lại”. Nhà nước và xã hội phải luôn tạo mọi điều kiện để những người “lầm đường lạc lối” quay trở lại con đường lương thiện, “làm lại cuộc đời”, tuyệt đối tránh tình trạng đẩy người vi phạm vào đường cùng, “không còn gì để mất”. Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế cốt là để người vi phạm suy nghĩ sâu sắc về hành vi của mình, “hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội” và “cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng”, có như vậy mới xoá bỏ được tận gốc rễ sự vi phạm. Chính vì vậy, việc theo dõi, giúp đỡ người vi phạm sửa chữa sai lầm, khuyết điểm là điều hết sức cần thiết và có ý nghĩa./.

    Theo: “Tạp chí Luật học”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khi Nào Một Hành Vi Vi Phạm Pháp Luật Được Coi Là Tội Phạm?
  • Khái Niệm Và Các Loại Hình Thức Pháp Luật Trong Lịch Sử
  • Hình Thức Pháp Luật Là Gì? Những Nét Cơ Bản Về Hình Thức Pháp Luật
  • Địa Phương “kêu Trời” Khi Theo Dõi Thi Hành Pháp Luật
  • Thi Hành Pháp Luật Là Gì?
  • Thực Hiện Pháp Luật Là Gì? Đặc Điểm Và Ý Nghĩa Thực Hiện Pháp Luật?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Pháp Luật, Áp Dụng Pháp Luật Và Giải Thích Pháp Luật
  • Thi Hành Pháp Luật Là Gì? Các Hình Thức Pháp Luật Bạn Cần Biết
  • Thi Hành Pháp Luật Là Gì?
  • Địa Phương “kêu Trời” Khi Theo Dõi Thi Hành Pháp Luật
  • Hình Thức Pháp Luật Là Gì? Những Nét Cơ Bản Về Hình Thức Pháp Luật
  • Thực hiện pháp luật là gì? Phân tích khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật? Cho ví dụ?

    Thực hiện pháp luật là hành vi thực tế hợp pháp của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật.

    Ví dụ: Công ty A nộp thuế cho Nhà nước đầy đủ và đúng thời hạn theo thông báo của Cơ quan thuế.

    2 – Các đặc điểm của thực hiện pháp luật

    Thực hiện pháp luật có các đặc điểm sau:

    – Thực hiện pháp luật là hành vi xác định hay xử sự thực tế của con người, bởi vì, pháp luật được ban hành để điều chỉnh hành vi hay xử sự của con người, do vậy, chỉ có thể căn cứ vào hành vi hay xử sự thực tế của các chủ thể thì mới có thể xác định được họ có thực hiện pháp luật hay không. Hành vi thực hiện pháp luật có thể được thể hiện dưới dạng hành động.

    Ví dụ: Hành vi có mặt đầy đủ và đúng giờ ở lớp của sinh viên.

    Hoặc bằng không hành động.

    Ví dụ: Sinh viên không sử dụng tài liệu trong phòng thi khi đề thi không cho phép sử dụng tài liệu.

    – Thực hiện pháp luật là làm theo yêu cầu của pháp luật, vì vậy, thực hiện pháp luật phải là hành vi hợp pháp, tức là hành vi hoàn toàn phù hợp với các yêu cầu của pháp luật.

    – Thực hiện pháp luật là hành vi của chủ thể có năng lực hành vi pháp luật, bởi vì, chỉ các chủ thể có năng lực hành vi pháp luật mới có khả năng nhận thức được yêu cầu của pháp luật để làm đúng các yêu cầu đó. Đối với các chủ thể không có hoặc mất năng lực hành vi pháp luật, tức là không có khả năng nhận thức thì các quy định của pháp luật không có ý nghĩa hoặc không có giá trị đối với họ.

    3 – Ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật

    Việc thực hiện pháp luật có ý nghĩa to lớn trong đời sống, điều đó thế hiện ở nhũng điểm sau:

    – Bằng việc thực hiện pháp luật, các quy định của pháp luật từ trong các nguồn luật khác nhau như tập quán pháp, án lệ, văn bản quy phạm pháp luật… được hiện thực hóa, đi vào đời sống, trở thành hành vi thực tế, cụ thể của các chủ thể tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Nhờ đó, ý chí, mục đích của nhà nước thể hiện trong các quy phạm pháp luật trở thành hiện thực trong thực tế, các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật của nhà nước mới đi vào cuộc sống, phát huy được vai trò, tác dụng và hiệu quả của chúng; làm cho đời sống xã hội ổn định, trật tự và có điều kiện phát triển bền vững, các quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức được bảo đảm, bảo vệ, đời sống xã hội được an toàn.

    – Trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật, thông qua hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ giúp cho các chủ thể có điều kiện nâng cao nhận thức pháp luật, hiểu rõ hơn các quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong các quan hệ pháp luật, nhờ đó, họ tích cực và chủ động tham gia vào các quan hệ đó, tiếp cận các nguồn lực để phát triển.

    – Thông qua việc thực hiện pháp luật, những hạn chế, khiếm khuyết (nếu có) của pháp luật sẽ được bộc lộ, được phát hiện và được xử lý, có thể được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế kịp thời, nhờ đó, pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp hơn với thực tế cuộc sống./.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm, Đặc Điểm Và Các Yếu Tố Cấu Thành Quan Hệ Pháp Luật
  • Quan Hệ Pháp Luật Là Gì ? Khái Niệm Quan Hệ Pháp Luật Được Quy Định Như Thế Nào ?
  • Giải Gdcd 9 Bài 15: Vi Phạm Pháp Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lí Của Công Dân
  • Bài 15. Vi Phạm Pháp Luật Và Trách Nhiệm Pháp Lí Của Công Dân
  • Giải Bài Tập Sgk Gdcd 10 Bài 10: Quan Niệm Về Đạo Đức
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Luật Sư Theo Pháp Luật Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Phòng Luật Sư Uy Tín Và Những Lưu Ý Khi Lựa Chọn Một Luật Sư
  • Visa Hôn Thê / Hôn Phu, Visa Đính Hôn, Visa Bạn Đời / Vợ Chồng, Tạm Trú, Du Lịch Úc
  • Tư Vấn Kỹ Với Luật Sư Di Trú Trước Khi Bạn Chọn Con Đường Định Cư
  • Dịch Vụ Trọn Gói Về Hồ Sơ Du Học, Định Cư Úc
  • Danh Sách Văn Phòng Luật Sư Uy Tín Tại Hà Nội
  • Nghề luật sư ở Việt Nam là một nghề cao quý, bởi hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm mục đích góp phần bảo vệ công lý, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; góp phần phát triển kinh tế – xã hội, vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Tính chuyên nghiệp và đạo đức nghề nghiệp là nền tảng cơ bản của nghề luật sư. Luật sư phải có bổn phận tự mình nâng cao trình độ, kỹ năng chuyên môn; nêu gương trong việc tôn trọng, chấp hành pháp luật; tự giác tuân thủ các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp trong hoạt động hành nghề, trong lối sống và giao tiếp xã hội. Do vậy, Luật sư được nhà nước và pháp luật bảo vệ, có những quyền và nghĩa vụ quy định cho luật sư tại Điều 21, Luật Luật sư 2022 – 03/VBHN-VPQH

    Điều 21. Quyền, nghĩa vụ của luật sư

    Luật sư có các quyền sau đây:

    b) Đại diện cho khách hàng theo quy định của pháp luật;

    c) Hành nghề luật sư, lựa chọn hình thức hành nghề luật sư và hình thức tổ chức hành nghề luật sư theo quy định của Luật này;

    d) Hành nghề luật sư trên toàn lãnh thổ Việt Nam;

    đ) Hành nghề luật sư ở nước ngoài;

    e) Các quyền khác theo quy định của Luật này.

    Luật sư có các nghĩa vụ sau đây:

    a) Tuân theo các nguyên tắc hành nghề luật sư quy định tại Điều 5 của Luật này;

    c) Tham gia tố tụng đầy đủ, kịp thời trong các vụ án do cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu;

    d) Thực hiện trợ giúp pháp lý;

    đ) Tham gia bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ;

    e) Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chương Trình Tìm Hiểu Luật Pháp Hoa Kỳ Với Luật Sư Từ Huy Hoàng
  • Luật Sư Từ Huy Hoàng
  • Tổ Hợp Luật Sư Từ Huy Hoàng
  • Giới Thiệu Luật Sư Giỏi
  • Thư Luật Sư Trịnh Hội Gửi Các Thành Viên Trong Voice – Voice
  • “Quyền Và Nghĩa Vụ Của Công Dân Do Hiến Pháp Và Luật Quy Định”

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Học Tốt Pháp Luật Đại Cương
  • Tư Vấn Pháp Luật Thương Mại
  • Vi Phạm Hiến Pháp Và Các Loại Hình Vi Phạm Hiến Pháp
  • Bàn Về Quyền Lập Pháp Và Mô Hình Lập Pháp
  • Nguyên Tắc Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Giữa Cơ Quan Lập Pháp Và Cơ Quan Hành Pháp Qua Các Bản Hiến Pháp Việt Nam
  • Trong lịch sử lập hiến Việt Nam,

    Hiến pháp năm 1992 lần đầu tiên ghi nhận nguyên tắc “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”. Trong quá trình nghiên cứu và giảng dạy Luật Hiến pháp, những trăn trở về Hiến pháp cùng với

    địa vị pháp lý

    của người dân đã khiến chúng tôi suy nghĩ một cách có hệ thống và nhận thấy nguyên tắc này là một trong những mắt xích quan trọng để bảo vệ công dân cũng như nâng cao “đẳng cấp” của Nhà nước pháp quyền mà chúng ta không ngừng phấn đấu xây dựng.

    1. Lý luận về nguyên tắc “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”

    Nhà nước là chủ thể độc quyền ban hành pháp luật. Vì thế, về nguyên tắc, pháp luật của nhà nước phải khách quan để bảo đảm lợi ích của công dân và duy trì bình thường việc thực hiện các chức năng của nhà nước. Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan dân cử tiêu biểu nhất, có khả năng nhất trong việc thể chế hóa ý nguyện của nhân dân một cách trung thực và toàn diện; đặc biệt trong việc xây dựng mối quan hệ cơ bản giữa nhà nước với công dân.

    Về mặt hình thức pháp lý,chúng tôi xin diễn giải như sau.

    3.Tất nhiên, Quốc hội cũng không thể ủy quyền cho bất kỳ cơ quan nào khác việc quy định quyền và nghĩa vụ công dân. Như vậy, thật khó mà bào chữa cho sự có mặt của pháp lệnh củaỦy ban thường vụ Quốc hội, thậm chí là Nghị định “không đầu” của Chính phủ quy định về địa vị pháp lý của công dân, nếu chúng ta thượng tôn Hiến pháp.

    1. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền quy định quyền và nghĩa vụ công dân mang tínhxác lập, khởi đầutrong Hiến pháp và các đạo luật.

    2. Các cơ quan nhà nước khác chỉ có quyền dựa vào Hiến pháp và luật để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành quyền, nghĩa vụ công dân và phải đảm bảo rằng, hoạt động này không được tiến hành trái với tinh thần hiến định, luật định. Ví dụ: Quốc hội đặt ra các thứ thuế kèm theo khung thuế suất chuẩn; cơ quan thuế vụ theo thẩm quyền chỉ có thể tổ chức cho công dân đăng ký mã số thuế, kê khai và nộp thuế (chẳng hạn ở tỉnh A, công dân đăng ký mã số thuế, kê khai và nộp thuế trực tiếp tại trụ sở cơ quan thuế; còn ở tỉnh B, công dân đăng ký mã số thuế, kê khai thuế qua Internet và nộp thuế qua ngân hàng) hoặc cơ quan thuế có quyền ấn định mức thuế suất riêng cho từng đối tượng nộp thuế nhưng không được nằm ngoài khung thuế suất luật định. Nếu hiểu một cách nghiêm ngặt thì các cơ quan này chỉ có thể tác động đến việc hưởng quyền và gánh vác nghĩa vụ của công dân thông qua việc tự mình xây dựng hoặc tham gia xây dựng thủ tục hành chính; thậm chí, trong một số trường hợp, Hiến pháp, luật sẽ quy định về quyền, nghĩa vụ công dân một cách trực tiếp và toàn diện (tuyệt đối).

    3. Các cơ quan nhà nước khác không được đặt ra quyền, nghĩa vụ mới so với quyền, nghĩa vụ hiến định và luật định hoặc xóa bỏ quyền, nghĩa vụ hiến định và luật định.

    2.1. Sự chậm trễ “luật hóa” quyền biểu tình của công dân nhìn từ tư duy của các nhà chức trách

    Từ tháng 6 đến tháng 8/2011, các cuộc biểu tình tự phát của dân chúng phản đối chính quyền Trung Quốc có hành động gây hấn, xâm phạm chủ quyền Việt Nam trên biển Đông đã diễn ra tại trung tâm thủ đô Hà Nội.Các hoạt động này chủ yếu xuất phát từ tinh thần yêu nước và tâm lý bức xúc của người dân.Tuy nhiên, theo chính quyền Hà Nội, những cuộc tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát đã “ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, hình ảnh thủ đô – Thành phố Vì hòa bình; tiềm ẩn các yếu tố gây mất ổn định chính trị; tác động tiêu cực tới việc thực hiện đường lối, quan hệ ngoại giao của Đảng, Nhà nước”. Vì vậy,hơn hai tháng sau khi tại Hà Nội diễn ra cuộc biểu tình tự phát đầu tiên phản đối hành vi gây hấn của Trung Quốc trên biển Đông, đây là lần đầu tiên, chính quyền phát đi thông điệp chính thức về vấn đề này với yêu cầucầu: “Chấm dứt mọi hoạt động tụ tập, biểu tình, tuần hành tự phát trên địa bàn thành phố”.

    Diễn biến trên phần nào minh chứng cho hai khía cạnh tư duy sau đây của các nhà chức trách:Từ góc độ nhà hành pháp,họ chưa chủ động xây dựng “hành lang pháp lý” cho các “kịch bản quản lý” do chính công dân tạo ra khi thực hiện các quyền hiến định,mà có xu hướng “chạy theo” thực tiễn quản lý hay quản lý theo kiểu bị động.Từ góc độ nhà lập pháp,một là,tư duy “bao cấp suy nghĩ” cho nhà hành pháp (lo sợ luật sẽ bị lợi dụng để gây khó khăn cho hoạt động quản lý trong những lĩnh vực được gán cholà cótính nhạy cảm). Điều khá thú vị nảy sinh: trong khi người đứng đầu hành pháp chủ động thực hiện sáng quyền lập pháp thì các nhà lập pháp lại e ngại thay cho họ;hai là,tư duy “bao cấp suy nghĩ” cho người dân theo kiểu “bố mẹ bảo bọc con trẻ”, suy đoán thay cho người dân về độ trưởng thành của họ rồi tựgiành cho mình độc quyền hoạch định cuộc sống của họ.

    2.2.Sự tương thích giữa Hiến pháp, Luật Đất đai và các văn bản dưới luật về vấn đề thu hồi đất

    Ở cấp thấp hơn,Điều 36 Nghị định 181/2004/NĐ-CPcủa Chính phủquy định ngoài các trường hợp xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế như luật định, Nhà nước còn được thu hồi đất đối với các dự án: a)đầu tư sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch (với điều kiện dự án thuộc nhóm A và không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế); b)các dự án sử dụng vốn ODA; c)các dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài (với điều kiện dự án không thể đầu tư trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế). Như vậy, nghị định này đã”ngầm” giải thích rằng,ba nhóm dự án này thuộc trường hợp “các dự án đầu tư lớn” như luật định.

    Hệ lụy tất yếu mà người ta có thể nhận ra trong trường hợp này,là quyền của công dân ngày càng bị “hạ cấp” từ tầm hiến định, luật định đến “dưới luật định” mà chưa biết điểm dừng. Hay năm học 2010-2011, Sở Giáo dục và đào tạo TP. Hồ Chí Minh yêu cầu phụ huynh học sinh tiểu học công lập đóng góp các khoản sau: phí cơ sở vật chất (20.000-30.000 đồng). Các khoản thu khác gồm: phí tổ chức và phục vụ bán trú (20.000-30.000 đồng/tháng); phí vệ sinh bán trú (3000-5000 đồng/tháng); phí cơ sở vật chất phục vụ bán trú (50.000-150.000 đồng/năm); phí tổ chức học 2 buổi (20.000-30.000 đồng/tháng); tiền in đề và giấy thi kiểm tra học kỳ (5.000-11.000 đồng); học phí tăng cường ngoại ngữ, tin học (40.000-50.000 đồng/tháng).

    Trong Báo cáo Quốc gia về Phát triển Con người năm 2011, Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) nhận định: “Miễn học phí và giảm lệ phí phản ánh cam kết của Chính phủ Việt Nam trong việc đảm bảo tiếp cận giáo dục cho mọi công dân nhằm thúc đẩy phát triển con người và tiến tới một xã hội công bằng hơn. Tuy nhiên có khoảng cách đáng kể và ngày càng tăng giữa chính sách và thực tế thực hiện. Ví dụ, theo luật,các trường tiểu học không được phép thu học phí, mà cần phải rất công bằng, cho phép trẻ em nghèo và có hoàn cảnh khó khăn học xong ít nhất là bậc giáo dục cơ bản. Tuy nhiên trên thực tế, ngoài học phí, nhiều trường tiểu học còn thu lệ phí, và quan trọng là trong nhiều trường hợp các khoản lệ phí cao hơn hẳn mức quy định. Mặc dù đã có cam kết chính trị về giáo dục tiểu học miễn phí, chi tiêu hộ gia đình vẫn chiếm 17,5% tổng chi tiêu ở bậc tiểu học”.

    3.1.Tối ưu hóa việc ghi nhận nguyên tắc “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và luật quy định”

    Trước tiên, chúng ta cần thống nhất quan điểm về sự cần thiết của việc hiến định nguyên tắcbởi nó vừa ràng buộc trách nhiệm cao độ của Nhà nước trong việc thể chế hóa pháp lý quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời, nó góp phần tạo ra một môi trường pháp lý mang tính pháp quyền-môi trường sống của một xã hội văn minh. Theo khảo sát của chúng tôi về 12 bản Hiến pháp đương đại(Hoa Kỳ, Đức, Ba Lan, Liên bang Nga, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Singapore, Indonesia, Úc, Trung Quốc),tuy cách thức hiến định khác nhau, song về mặt nội dung, các bản Hiến pháp này đều thừa nhận trách nhiệm tuyệt đối của Nhà nước nói chung, Nghị viện hay Quốc hội nói riêng trong việc “luật hóa” các quyền và nghĩa vụ hiến định của công dân; đồng thời, tôn trọng những giới hạn hiến định mang tính pháp quyền trong việc xây dựng địa vị pháp lý của công dân cũng như tôn trọng quyền con người. Trách nhiệm tuyệt đối thuộc về người có thẩm quyền là nguyên lý pháp quyền, hơn nữa, chỉ có chủ thể công quyền mới có quyền thi hành pháp luật. Do vậy, nếu Hiến pháp không được thi hành như tuyên bố thì chẳng lẽ công dân phải chịu trách nhiệm?

    Và cho dù chúng ta chọn “kịch bản” nào thì Hiến pháp cũng cần được tổ chức một cách đồng bộ, ít nhất là từ trong kết cấu của nó. Do vậy, cần thay công thức “công dân có quyền (nghĩa vụ) … theo quy định của pháp luật” bằng công thức “quyền… của công dân là bất khả xâm phạm, trừ hạn chế hiến định hoặc luật định…”. Đồng thời, chính việc đặt ra những hạn chế này cũng cần tuân thủ quy chế nghiêm ngặt (như Hiến pháp Nganăm 1993). Tất nhiên, nếu Quốc hội chưa “luật hóa”đượcvì bất cứ lý do nào,thì quyền hiến định được áp dụng trực tiếp và không hạn chế (trừ trường hợp đã có hạn chế hiến định)Trần Ngọc Đường,Quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam(sách chuyên khảo), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2011, tr. 82.

    Điều 68 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại, cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước theo quy định của pháp luật” nhưng phải đến năm 2006, Quốc hội mới ban hành Luật Cư trú.

    Xemhttp://vnexpss.net/gl/xa-hoi/2011/08/ha-noi-yeu-cau-cham-dut-bieu-tinh-tu-phat/

    Xemhttp://vnexpss.net/gl/xa-hoi/2011/11/quoc-hoi-tranh-cai-gay-gat-ve-luat-bieu-tinh/

    http://nld.com.vn/20100806123710544P0C1017/tphcm-chua-tang-hoc-phi.htm

    Chương trình Phát triển Liên hiệp quốc, Báo cáo Quốc gia về Phát triển Con người năm 2011, tr. 108.

    [19]http://phapluattp.vn/20120402105318150p0c1013/hien-phap-nhu-cai-ban-tho-phai-duoc-ton-trong.htm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Dấu Hiệu Của Tội Lạm Dụng Tín Nhiệm Chiếm Đoạt Tài Sản
  • Tìm Hiểu Về Khái Niệm “Người Có Chức Vụ” Và “Lợi Dụng Chức Vụ Để Phạm Tội” Trong Luật Hình Sự Việt Nam
  • Các Kiểu Nhà Nước Và Kiểu Pháp Luật
  • Năng Lực Pháp Luật Dân Sự, Năng Lực Hành Vi Dân Sự Của Cá Nhân
  • Phân Tích Các Hình Thức Thực Hiện Pháp Luật?
  • Ý Nghĩa Của Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Ngành Luật Quốc Tế Là Gì? Ngành Quản Trị
  • Đầu Tư Nước Ngoài, Tranh Chấp Kinh Tế, Tư Vấn Hợp Đồng
  • Giới Thiệu Về Công Ty Luật Tnhh Việt An
  • Ngành Luật Quốc Tế Là Gì ? Tìm Hiểu Về Ngành Luật Quốc Tế
  • Ngành Luật Quốc Tế Là Gì? Học Gì? Cơ Hội Nghề Nghiệp Như Thế Nào?
  • Pháp luật đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài người, gồm các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, nhằm mục đích duy trì trật tự xã hội. Vì lẽ ấy, khái niệm về pháp luật xuất hiện và tồn tại trong hầu hết các nền văn minh từ Đông sang Tây, một cách độc lập như lẽ dĩ nhiên phải thế khi một xã hội thành hình và đi vào trật tự.

    Danh từ chỉ « pháp luật » trong tiếng Latin là « jus » hay « ius » (ngôn ngữ của người La Mã cổ không có sự phân biệt hai ký tự « i » và « j » trong cách viết), nghĩa là « những quy tắc điều chỉnh quan hệ giữa các cá nhân », « công lý » (tính chất của pháp luật), và « mệnh lệnh » (hệ quả của pháp luật). Các luật gia La Mã quan niệm rằng sở dĩ trật tự xã hội thiết lập và duy trì được là nhờ có pháp luật, vì thế có câu cách ngôn nổi tiếng : Ubi societas ubi jus , nghĩa là : Ở đâu có xã hội, ở đó có pháp luật.

    Trong Hán tự, pháp luật là 法 律 . Trong đó, danh từ “pháp 法” xuất hiện sớm nhất và đóng vai trò chính của khái niệm. Từ điển Hán Nôm giải thích « pháp » nghĩa là phép tắc, khuôn mẫu. Như vậy, có thể hiểu « pháp luật » chính là những điều luật để tuân theo trong khuôn khổ do xã hội đặt ra.

    Theo giáo sư Vũ Văn Mẫu trong tác phẩm « Dân luật khái luận », có hai thuyết giải nghĩa chữ « pháp » như sau :

    Thuyết thứ nhất cho rằng « pháp 法» cấu thành bởi bộ « thủy⺡ » và chữ « khử 去 », nên vốn có nghĩa là « phép thuật dùng nước để trừ khử bệnh tật » theo đạo Phật và các thuật sĩ. « Pháp 法» chỉ pháp luật đi từ tầng nghĩa này và suy rộng ra là « những gì hướng tới mục đích trử khử những điều gian tà, bất chính trong xã hội ».

    Thuyết thứ hai đi từ lối viết cổ của từ « pháp », với nhiều nét phức tạp hơn 灋 theo sách Thuyết văn. Theo đó, pháp luật bằng phẳng như mặt nước, nên có chấm thủy⺡, chữ trãi 廌 (hay trĩ) là chỉ một con vật trong truyền thuyết giống con dê hoặc bò nhưng chỉ có một sừng, tính ngay thẳng biết phân phải trái và thường húc những đồ vật gì bị cong, những kẻ có tội, sai trái.

    Con trãi này còn được gọi là giải trãi, từ sự tích về nó, người Hán đã lấy biểu tượng và chế thành mũ giải trãi dành cho quan tư pháp. Đời nhà Thanh cũng có « giải trãi phục » là lễ phục cho quan tư pháp và ngự sử, với hàm nghĩa là phẩm phục dành cho các pháp quan chính trực, thẳng tay trừng trị kẻ gian tà.

    Về sau, chữ « pháp » được đơn giản hóa, còn lại chữ « thủy » và chữ « khử » để chỉ ý niệm « trử khử những điều gian tà trong xã hội, mang lại trật tự bằng phẳng (như mặt nước) cho xã hội ».

    Dù với lối giải nghĩa chiết tự theo thuyết thứ nhất hay thuyết thứ hai, thì những lý giải trên đều đi từ quan niệm của cổ luật phương Đông về pháp luật. Các nước thuộc khối đồng văn như Việt Nam, Nhật Bản, Cao Ly đều chịu sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Nhân trị từ Trung Hoa. Theo thuyết nhân trị, pháp luật trong xã hội chỉ là một sự tồn tại bất đắc dĩ, vì chỉ cần tu thân giáo hóa con người theo đúng lý tưởng của người quân tử thì mọi việc trong xã hội tự khắc điều hòa, không thể xảy ra những tranh chấp quyền lợi và các vụ kiện cáo.

    Chủ nghĩa nhân trị cho rằng pháp luật chỉ đóng vai trò thứ yếu trong xã hội, điều cốt yếu là dạy dân biết tu thân, dưỡng tánh theo quan niệm Khổng giáo. Vì vậy, không có sự tách bạch rõ ràng giữa pháp luật và luân lý. Cổ luật Đông phương xem pháp luật như giải pháp để TRỪ KHỬ những yếu tố vi phạm luân lý, ảnh hưởng đến tính ổn định (bằng phẳng như NƯỚC) của xã hội, nên thường đưa ra những hình phạt rất nghiêm khắc. Đây cũng là lý do Hình luật quy định về tội phạm và hình phạt là lĩnh vực được phát triển sớm nhất từ khi có pháp luật, với mục đích giữ gìn trật tự xã hội theo luân lý đặt ra.

    Tài liệu tham khảo

    1. Vũ Văn Mẫu (1973), Cổ luật Việt Nam và Tư pháp sử, quyển 1, tập 1, tr. 74

    2. Vũ Văn mẫu (1961), Dân luật Khái luận, tr. 19-20

    3. Từ điển Hán – Nôm

    4. Từ điển latin-pháp

    http://www.dicolatin.com/FR/LAK/0/JUS/index.htm

    Hướng dẫn trích dẫn:

    Hoàng Thảo Anh, Ý nghĩa của “pháp luật”, Luật văn diễn dịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vai Trò Của Giới Luật Trong Nếp Sống Thiền Môn
  • Giới Luật Là Pháp Tu Căn Bản Của Phật Giáo Để Thoát Khổ
  • Giới Luật Là Nền Tảng Của Đạo Phật
  • Giáo Án Lớp 6 Môn Giáo Dục Công Dân
  • Cảm Ứng Điện Từ Là Gì ? Từ Thông Là Gì ? Ứng Dụng Của Hiện Tượng Này
  • Nguồn Gốc Và Ý Nghĩa Ngày Pháp Luật Việt Nam 9/11

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Ngày Pháp Luật Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam: Ngày Pháp Luật Việt Nam
  • Vai Trò, Ý Nghĩa Của Ngày Pháp Luật 9/11
  • Lịch Sử Và Ý Nghĩa Sự Ra Đời Của Đảng Cộng Sản Việt Nam (3/2/1930
  • Ngày Pháp Luật Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Sự Ra Đời Của Ngày Pháp Luật
  • Bất Cập Chính Sách Pháp Luật Về Phòng Chống Rượu Bia Ở Việt Nam
  • Ngày 9/11/1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được ban hành, đánh dấu mốc son trong lịch sử lập pháp của Việt Nam.

    Trong đời sống xã hội, pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng, vừa là công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, vừa tạo hành lang pháp lý an toàn, tin cậy, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế – xã hội.

    Cùng với việc không ngừng xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống trở thành yêu cầu cấp thiết, cần được thực hiện thường xuyên, liên tục và hiệu quả.

    Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng việc sử dụng công cụ pháp luật, đặc biệt là Hiến pháp để thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, góp phần xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.

    Chính vì vậy, xuất phát từ tư tưởng của Người, 66 năm sau vào tháng 6/2012, Quốc hội đã lựa chọn ngày 9/11 làm “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” gọi tắt là “Ngày Pháp luật”.

    Theo đó, hàng năng ngày Pháp luật 9/11 đều được tổ chức với các ý nghĩa: Tôn vinh Hiến pháp, pháp luật, đề cao giá trị của Hiến pháp, pháp luật trong nhà nước pháp quyền, giáo dục ý thức thượng tôn pháp luật cho mọi người trong xã hội.

    Góp phần tôn vinh hiến pháp, pháp luật, xây dựng niềm tin, tình cảm, thái độ, hành vi ứng xử phù hợp với quy định của hệ thống pháp luật, ý thức bảo vệ pháp luật của toàn dân.

    Ngoài ra, ngày Pháp luật Việt Nam cũng nhằm đề cao giá trị con người, góp phần hình thành tâm hồn, nhân cách, để mỗi con người tự ý thức về mình, về cộng đồng, về dân tộc, về đất nước; Nâng cao hiệu quả xây dựng, phổ biến, giáo dục pháp luật và thi hành pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân đồng thời xây dựng nền văn hóa pháp lý, lối sống theo pháp luật của người Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nguồn Gốc Ra Đời Và Ý Nghĩa Ngày Pháp Luật Việt Nam 9/11
  • Bảo Hiểm Thất Nghiệp Ra Đời Khi Nào Theo Quy Định Pháp Luật?
  • Hệ Thống Chính Trị Việt Nam
  • Quyền Con Người Tại Việt Nam Luôn Được Khẳng Định Và Đảm Bảo
  • Quyền Con Người Ở Việt Nam: Những Khoảng Cách Nhận Thức Cần Xóa Bỏ
  • Mối Quan Hệ Giữa Chuẩn Mực Pháp Luật Và Chuẩn Mực Đạo Đức

    --- Bài mới hơn ---

  • Đạo Đức (Morality) Là Gì? Phân Biệt Đạo Đức Và Pháp Luật
  • Cuộc Trò Chuyện Giữa “pháp Luật” Với “đạo Đức”
  • ‘báo Kinh Doanh Và Pháp Luật Là Tờ Báo Có Nhiều Bổ Ích…’
  • Xúc Tiến Thương Mại Theo Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành
  • Luận Văn: Thực Hiện Chính Sách Pháp Luật Hôn Nhân Và Gia Đình, Hot
  • Chuẩn mực đạo đức là gì? Chuẩn mực pháp luật là gì? Mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức. Sự tác động qua lại giữa chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật?

    Điều chỉnh hành vi con người, xã hội có nhiều công cụ khác nhau, trong đó, pháp luật và đạo đức là những công cụ rất quan trọng. Bên cạnh những ưu thế vốn có, cả pháp luật và đạo đức đều có những hạn chế nhất định, song giữa chúng luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại, bổ sung cho nhau. Chính vì vậy, để quản lý xã hội một cách có hiệu quả, cần phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa pháp luật với đạo đức. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, em đã chọn đề bài: “Phân tích mối quan hệ giữa chuẩn mực pháp luật và chuẩn mực đạo đức? Liên hệ với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay?” làm đề tài bài tập học kì của mình.

    I. Khái quát về chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật

    Chuẩn mực đạo đức là hệ thống các quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi đối với hành vi xã hội của con người, trong đó xác lập những quan điểm, quan niệm chung về công bằng và bất công, về cái thiện và cái ác, về lương tâm, danh dự, trách nhiệm và những phạm trù khác thuộc đời sống đạo đức tinh thần của xã hội.

    Chuẩn mực đạo đức là loại chuẩn mực xã hội bất thành văn, nghĩa là các quy tắc, yêu cầu của nó không được ghi chép thành văn bản dưới dạng một “bộ luật đạo đức” nào cả, mà nó tồn tại dưới hình thức là những giá trị đạo đức, những bài học về luân thường đạo lý, phép đối nhân xử thế giữa con người với nhau trong xã hội. Chuẩn mực đạo đức thường được củng cố, giữ gìn và phát huy vai trò, hiệu lực của nó thông qua con đường giáo dục truyền miệng, thông qua quá trình xã hội hóa cá nhân; được củng cố, tiếp thu và lưu truyền từ đời này sang đời khác, từ thế hệ này sang thế hệ khác.

    Ví dụ như việc ta đi đường nhìn thấy một bà cụ muốn sang đường nhưng trên đường rất đông xe qua lại, bà đứng mãi mà không qua được đường. Nhìn thấy như vậy chẳng lẽ ta lại ngoảnh mặt quay đi? Tất nhiên là sẽ không có bất kì điều luật nào quy định nhìn thấy cảnh tượng như vậy ta phải quay lại giúp bà cụ sang đường và cũng không có tòa án nào xử lí vụ việc nếu không giúp bà cụ qua đường ta sẽ nhận một mức án tù hay bị phạt tiền. Có chăng tòa án ở đây chỉ là tòa án lương tâm và hình phạt mà ta nhận lấy chính là sự cắn rứt lương tâm. Vì vậy, chuẩn mực đạo đức là một loại chuẩn mực bất thành văn nhưng nó lại tác động to lớn đến việc con người sẽ hành xử như thế nào trong một vài trường hợp cụ thể như trong hoàn cảnh nêu trên.

    Chuẩn mực đạo đức mang tính giai cấp, mặc dù tính giai cấp của nó không thể hiện mạnh mẽ, rõ nét như tính giai cấp của chuẩn mực pháp luật. Tính giai cấp của chuẩn mực đạo đức thể hiện ở chỗ, nó được sinh ra cũng là nhằm để củng cố, bảo vệ hay phục vụ cho các nhu cầu, lợi ích vật chất, tinh thần của giai cấp này hay giai cấp khác trong một xã hội nhất định.

    Chuẩn mực đạo đức được đảm bảo tôn trọng và thực hiện trong thực tế xã hội là nhờ vào hai nhóm các yếu tố: các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan.

    Một là, những thói quen, nếp sống trong sinh hoạt hàng ngày của mỗi người; chúng được lặp đi lặp lại nhiều lần trong quá trình xã hội hóa cá nhân, trở thành cái thường trực trong mỗi người và điều khiển hành vi đạo đức của họ một cách tức thời, gần như mang tính tự động.

    Chẳng hạn như việc không ai và cũng không có pháp luật nào quy định việc con người trong cuộc sống, trong công việc luôn phải làm việc đúng giờ, làm việc thật cẩn thận, tỉ mỉ, kĩ càng nhưng sự thật là trong cuộc sống vẫn luôn có những con người quy củ với những quy tắc đã trở thành thói quen, nếp sống sinh hoạt của bản thân. Bác Hồ là một tấm gương điển hình về làm việc quy củ và đúng giờ. Đây chính là tác động của chuẩn mực đạo đức lên hành vi của con người.

    Hai là, sự tự nguyện, tự giác của mỗi con người trong việc thực hiện hành vi đạo đức phù hợp với các quy tắc của chuẩn mực đạo đức. Nếu như pháp luật được tuân thủ và thực hiện chủ yếu nhờ vào sức mạnh cưỡng bức của các chế tài thì chuẩn mực đạo đức chủ yếu dựa vào sự tự nguyện, tự giác của mỗi cá nhân.

    Ví dụ như việc chào hỏi người lớn tuổi khi gặp, không có quy phạm pháp luật nào quy định ta phải chào người lớn tuổi ta gặp trên đường nhưng ta vẫn luôn làm việc này với một trạng thái vui vẻ, không một chút gò bó hay khó chịu. Đó chính là do ta thực hiện hành vi đó bằng sự tự nguyện, tự giác theo chuẩn mực đạo đức mà không cần đến sự cưỡng chế của pháp luật.

    Ba là, sức mạnh nội tâm, chịu sự chi phối bởi lương tâm của mỗi người. Lương tâm thường được ví như một thứ “tòa án” đặc biệt, chuyên phán xét các hành vi sai trái, vi phạm chuẩn mực đạo đức. Một hành vi vi phạm chuẩn mực đạo đức có thể không bị pháp luật trừng phạt, nhưng nó lại bị lương tâm “cắn rứt”. Đây là một cơ chế đặc biệt của việc thực hiện chuẩn mực đạo đức.

    Ví dụ như việc ta đi đường nhìn thấy một người ăn xin, đói, rách rưới, mặc dù không có một quy phạm pháp luật nào quy định ta phải thương cảm, giúp đỡ họ nhưng “tòa án lương tâm” của ta sẽ không cho phép ta dửng dưng với họ. Cũng như việc bác sĩ Tường vứt xác bênh nhân của mình xuống sông trong vụ Thẩm mỹ viện Cát Tường dư luận đang xôn xao hiện nay, cho dù anh Tường bị pháp luật trừng phạt nặng hay nhẹ như thế nào thì anh cũng không thoát được việc cắn rứt lương tâm, đạo đức nghề y sẽ không cho phép anh làm một bác sĩ một lần nữa.

    Một là, sự tác động, ảnh hưởng của các thuần phong mỹ tục trong xã hội, hành vi hợp đạo đức của những người xung quanh tới ý thức và hành vi đạo đức của mỗi cá nhân. Đây là biểu hiện của quá trình tâm lý bắt chước.

    Hai là, sức mạnh của dư luận xã hội trong việc định hướng và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người. Chẳng hạn như thái độ phẫn nộ của các cộng đồng người khi chứng kiến hoặc nghe thông tin về một vụ giết người dã man, đòi hỏi các cơ quan pháp luật phải trừng phạt thật nghiêm khắc kẻ phạm tội để răn đe những kẻ khác. Đây chính là tác động tích cực của dư luận xã hội đến việc điều chỉnh hành vi đạo đức của con người.

    Chuẩn mực đạo đức được sinh ra từ sự mâu thuẫn được quy định về mặt vật chất giữa các lợi ích chung và lợi ích riêng, từ thể hiện cái có và cái cần có, nó thể hiện năng lực của con người đối với sự hoàn thiện và phát triển năng lực, nhân cách của mình.

    Có nhiều quan điểm khác nhau định nghĩa về pháp luật, nhưng có thể hiểu một cách chung nhất pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí nhà nước, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.

    Đặc trưng thứ nhất của pháp luật là tính quy định xã hội của pháp luật. Đặc trưng này nói lên rằng, pháp luật trước hết được xem xét như một hiện tượng xã hội, nảy sinh từ các tiền đề có tính chất xã hội, tức là những nhu cầu khách quan của thực tiễn đời sống xã hội, phản ánh các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của xã hội ở những giai đoạn lịch sử nhất định. Trong xã hội luôn luôn tồn tại nhiều mối quan hệ xã hội với tính chất đa dạng và phức tạp; vì vậy, mục đích xã hội của pháp luật là hướng tới điều chỉnh các quan hệ xã hội. Tuy nhiên, pháp luật không thể điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội, mà chỉ có thể điều chỉnh những quan hệ xã hội cơ bản, có tính chất phổ biến, điển hình; thông qua đó, tác động tới các quan hệ xã hội khác, định hướng chó các quan hệ đó phát triển theo những mục đích mà nhà nước đã xác định. Mọi sự thay đổi của pháp luật, suy cho cùng, đều xuất phát từ sự thay đổi các quan hệ xã hội và chịu sự quyết định bởi chính thực tiễn xã hội. Điều đó nói lên bản chất xã hội của pháp luật.

    Tính ý chí là đặc trưng thứ ba của pháp luật. Pháp luật thể hiện các quan hệ xã hội và ý chí giai cấp có gốc rễ từ trong các quan hệ xã hội được thể hiện ra trong hệ thống các chuẩn mực pháp luật. Xét về bản chất, ý chí của pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền trong xã hội, được thể hiện rõ ở mục đích xây dựng pháp luật, nội dung pháp luật và dự kiến hiệu ứng của pháp luật khi triển khai vào thực tế đời sống xã hội. Tính ý chí nói lên mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời nhau giữa pháp luật và nhà nước. Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, nhưng quyền lực đó chỉ có thể được triển khai và phát huy có hiệu lực trên cơ sở các quy định của pháp luật. Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành, luôn phản ánh các quan điểm, đường lối chính trị của giai cấp nắm quyền lực nhà nước và bảo đảm cho quyền lực đó được triển khai nhanh chóng, rộng rãi trên quy mô toàn xã hội. Chính vì vậy, nhà nước không thể tồn tại và phát huy quyền lực nếu thiếu pháp luật; ngược lại, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và có hiệu lực khi nó dựa trên cơ sở sức mạnh của quyền lực nhà nước.

    Tính cưỡng chế là đặc trưng thứ tư của pháp luật. Đây là đặc trưng chỉ có ở pháp luật, không có ở các loại chuẩn mực xã hội khác. Pháp luật do nhà nước xây dựng, ban hành và bảo đảm thực hiện. Với tư cách của mình, nhà nước là một tổ chức hợp pháp, công khai, có quyền lực bao trùm toàn xã hội. Nhà nước không chỉ xây dựng và ban hành pháp luật, mà còn có các biện pháp tác động nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện thông qua việc nhà nước thường xuyên củng cố và hoàn thiện bộ máy công cụ thể hiện quyền lực nhà nước như quân đội, cảnh sát, tòa án, nhà tù… Nhờ đó, khi pháp luật được nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nó sẽ có sức mạnh của quyền lực nhà nước và có thể tác động đến tất cả mọi người.

    II. Mối quan hệ giữa chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực pháp luật

    1. Những điểm tương đồng và khác biệt giữa pháp luật và đạo đức

    Đạo đức và pháp luật có bốn điểm giống nhau cơ bản, đó là:

    Thứ nhất, pháp luật và đạo đức đều gồm những quy tắc xử sự chung để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội hay gồm nhiều những quy phạm xã hội cho nên chúng có các đặc điểm của các quy phạm xã hội là:

    + Chúng là khuôn khổ những khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách xử sự cho mọi người trong xã hội, để bất kỳ ai khi ở vào điều kiện, hoàn cảnh do chúng dự liệu thì đều phải xử sự theo cách thức mà chúng đã nêu ra. Căn cứ vào pháp luật, đạo đức, các chủ thể sẽ biết mình được làm gì, không được làm gì và làm như thế nào khi ở vào một điều kiện, hoàn cảnh nhất định.

    + Chúng là tiêu chuẩn để xác định giới hạn và đánh giá hành vi của con người. Căn cứ vào các quy định của pháp luật, các quy tắc đạo đức, có thể xác định được hành vi nào là hợp pháp, hành vi nào là hợp đạo đức, hành vi nào là trái pháp luật, hành vi nào là trái đạo đức.

    Thứ hai là tính phổ biến và xu hướng phù hợp với xã hội. Đạo đức và pháp luật mang tính quy phạm phổ biến, chúng đều là khuôn mẫu chuẩn mực trong hành vi của con người. Chúng tác động đến các cá nhân tổ chức trong xã hội, tác động đến hầu hết các lĩnh vực trong đời sống. Để có phạm vi ảnh hưởng lớn như vậy, pháp luật và đạo đức phải có sự phù hợp với các tiêu chuẩn nhất định.

    Thứ ba, pháp luật và đạo đức đều phản ánh sự tồn tại của xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử. Chúng là kết quả của quá trình nhận thức đời sống của chính mình. Pháp luật và đạo đức đều chịu sự chi phối, đồng thời tác động lại đời sống kinh tế xã hội.

    Thứ tư, chúng được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống vì chúng được ban hành ra không phải để điều chỉnh một quan hệ xã hội cụ thể, một trường hợp cụ thể mà để điều chỉnh một quan hệ xã hội chung, tức là một trường hợp khi điều kiện hoàn cảnh do chúng dự kiến xảy ra.

    Bên cạnh những điểm giống nhau, pháp luật và đạo đức còn có những điểm khác nhau:

    Thứ nhất, về con đường hình thành nhà nước, pháp luật hình thành thông qua hoạt động xây dựng pháp lý của nhà nước. Trong khi đó đạo đức được hình thành một cách tự do nhận thức của cá nhân.

    Thứ hai, hình thức thể hiện của pháp luật và đạo đức. Hình thức thể hiện của đạo đức đa dạng hơn với hình thức thể hiện của pháp luật, nó được biểu hiện thông qua dạng không thành văn như văn hoá truyền miệng, phong tục tập quán…và dạng thành văn như kinh, sách chính trị,…còn pháp luật lại biểu hiện rõ ràng dưới dạng hệ thống của văn bản quy phạm pháp luật.

    Thứ tư, về biện pháp thực hiện, pháp luật đảm bảo rằng nhà nước thông qua bộ máy cơ quan như cơ quan lập pháp, tư pháp,…còn đạo đức lại được đảm bảo ư luận và lương tâm của con người.

    Thứ năm, pháp luật có tính quyền lực nhà nước, nó chỉ do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp quyền lực nhà nước, từ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục cho đến áp dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước. Trong khi đó, đạo đức được hình thành một cách tự phát trong xã hội, được lưu truyền từ đời này sang đời khác theo phương thức truyền miệng; được đảm bảo bằng thói quên, bằng dư luận xã hội, bằng lương tâm, niềm tin của mỗi người và bằng biện pháp cưỡng chế phi nhà nước.

    Thứ bẩy, pháp luật có những quan hệ xã hội điều chỉnh mà đạo đức không điều chỉnh.

    Thứ tám, pháp luật có tính hệ thống, bởi vì nó là một hệ thống các quy tắc xử sự chung đề điều chỉnh mọi loại quan hệ xã hội phát sinh trong những lĩnh vực khác nhau của đời sống như dân sự, kinh tế, lao động,…song các quy phạm đó không tồn tại một cách độc lập mà giữa chúng có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau để tạo nên một chỉnh thể là hệ thống pháp luật. Ngược lại, đạo đức không có tính hệ thống.

    Thứ chín, pháp luật luôn thể hiện ý chí của nhà nước, còn đạo đức thường thể hiện ý chỉ của một cộng đồng dân cư, ý chí chung của xã hội.

    Thứ mười, pháp luật chỉ ra đời và tồn tại trong những giai đoạn lịch sử nhất định, giai đoạn có sự phân chia giai cấp, mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp. Đạo đức ra đời và tồn tại trong tất cả các giai đoạn phát triển của lịch sử.

    Chuẩn mực đạo đức là nền tảng tinh thần để thực hiện các quy định của pháp luật. Trong nhiều trường hợp, các cá nhân trong xã hội thực hiện một hành vi pháp luật hợp pháp không phải vì họ hiểu các quy định của pháp luật, mà hoàn toàn xuất phát từ các quy tắc của đạo đức. Nhiều quy tắc, yêu cầu, đòi hỏi các chuẩn mực đạo đức được nhà nước sử dụng và nâng lên thành quy phạm pháp luật. Khi xây dựng và ban hành pháp luật, nhà nước không thể không tính tới các quy tắc chuẩn mực đạo đức. Ví dụ như “” (Điều 314 BLHS năm 1999), nếu tội phạm đó không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng thì nhà nước không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh, chị, em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội vì về mặt đạo đức và tâm lý, không ai muốn người thân mình dính vào vòng tù tội.

    – Đối với việc hình thành pháp luật:

    + Nhiều quan điểm đạo đức được thể chế hoá trong pháp luật, nhiều quy tắc đạo đức phù hợp với ý chí của nhà nước được thừa nhận trong pháp luật qua đó góp phần tạo nên pháp luật. Ví dụ như quan niệm, quy tắc đạo đức về mối quan hệ thầy trò được thừa nhận trong giáo dục.

    + Những quan niệm, quy tắc đạo đức trái với ý chí của nhà nước sẽ trở thành tiền đề để hình thành nên những quy phạm thay thế chúng, từ đó cũng góp phần hình thành nên pháp luật. Ví dụ quan niệm “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” trong hôn nhân trước đây trở thành tiền đề để hình thành nên quy định hôn nhân là tự nguyện trên cơ sở giữ tình yêu nam và nữ trong luật hôn nhân và gia đình.

    – Đối với việc thực hiện pháp luật:

    + Những quan niệm, quy tắc đạo đức được thừa nhận trong pháp luật góp phần làm cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, tự giác hơn, bởi vì chúng đã ngấm sâu vào tiềm thức của nhân dân nên ngoài những biện pháp của nhà nước, chúng còn được đảm bảo thực hiện bằng thói quen, bằng lương tâm và niềm tin của mỗi người, bằng dư luận của xã hội. Ngược lại, những quan niệm, quy tắc đạo đức trái với ý chí của nhà nước sẽ cản trở thực hiện pháp luật trong thực tế. Ví dụ quan niệm trọng nam khinh nữ dẫn đến tình trạng một số người cố đẻ đến con thứ ba, thứ tư, tức là vi phạm chính sách và pháp luật về dân số của nhà nước.

    + Ý thức đạo đức cá nhân có tác động mạnh mẽ đến việc thực hiện pháp luật. Người có ý thức đạo đức cao trong mọi trường hợp đều nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật. Ngay cả trường hợp pháp luật có những “khe hở” thì họ cũng không vì thế mà có hành vi “lợi dụng”, để làm điều bất chính. Đối với nhiều trường hợp “đã trót” thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, ý thức đạo đức giúp chủ thể ăn năn, hối cải, sửa chữa lỗi lầm. Tình cảm đạo đức còn có thể khiến các chủ thể thực hiện hành vi một cách hào hứng, nhiệt tình, tận tâm, triệt để. Ngược lại, đối với những người có ý thức đạo đức thấp thì thái độ tôn trọng pháp luật, ý thức tuân thủ pháp luật cũng không cao, họ dễ có các hành vi vi phạm pháp luật.

    Trong một số trường hợp, định hướng đạo đức muốn được thực hiện một cách phổ biến trong xã hội thì phải thông qua các quy phạm pháp luật để thể hiện. Điều đó cho thấy ở một số khía cạnh nhất định pháp luật có ưu thế nổi trội hơn so với chuẩn mực đạo đức. Pháp luật không chỉ là sự ghi nhận các chuẩn mực đạo đức, mà còn là công cụ phương tiện bảo vệ chuẩn mực đạo đức một cách hữu hiệu bằng các biện pháp, chế tài cụ thể. Pháp luật có vai trò to lớn trong việc duy trì, bảo vệ và phát triển các quy tắc đạo đức phù hợp, tiến bộ trong xã hội.

    – Pháp luật có thể góp phần củng cố, phát huy vai trò, tác dụng thực tế của các quan niệm, quy tắc đạo đức khi chúng phù hợp với ý chí của nhà nước và được thừa nhận trong pháp luật, bởi vì ngoài việc đảm bảo thực hiện bằng lương tâm, niềm tin, dư luận xã hội,…chúng còn được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp mang tính quyền lực nhà nước. Ví dụ như quy định cha mẹ có nghĩa vụ yêu thương, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục các con trong luật hôn nhân và gia đình đã góp phần củng cố, phát huy vai trò, tác dụng thực tế của quan niệm, quy tắc đạo đức về vấn đề này.

    – Pháp luật giữ gìn và phát huy những giá trị đạo đức của dân tộc, ngăn chặn sự thoái hóa, xuống cấp của đạo đức. Bằng việc ghi nhận các quan niệm, chuẩn mực đạo đức trong pháp luật, nhà nước bảo đảm cho chúng được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Một khi được thể chế hóa thành pháp luật, việc thực hiện những chuẩn mực đạo đức đó trở thành nghĩa vụ của toàn thể xã hội, các cá nhân, tổ chức dù không muốn cũng phải thực hiện theo. Đặc biệt, bằng việc xử lí nghiêm những chủ thể có hành vi đi ngược với các giá trị đạo đức xã hội, pháp luật góp phần bảo vệ và giữ gìn các giá trị đạo đức của xã hội, ngăn chặn sự tha hóa, xuống cấp của đạo đức.

    – Pháp luật cũng có thể loại bỏ các chuẩn mực đạo đức đã lỗi thời, cải tạo các chuẩn mực đạo đức, góp phần tạo nên những chuẩn mực đạo đức mới, phù hợp hơn với tiến bộ xã hội. Ví dụ quy định cấm cưỡng ép kết hôn, tảo hôn trong luật hôn nhân và gia đình góp phần loại bỏ quan hệ đạo đức “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” trong hôn nhân.

    III. Liên hệ với tình hình thực tế ở nước ta hiện nay

    Ở Việt Nam hiện nay, vị trí cũng như vai trò mối quan hệ của pháp luật và đạo đức ngày càng được nhìn nhận đúng đắn, tích cực.

    Thứ nhất, do được nhà nước xây dựng dựa trên các quan diểm đạo đức của nhân dân, pháp luật không những thể hiện được tư tưởng cách mạng, đạo đức truyền thống dân tộc, đạo đức tiến bộ mà còn thể hiện được ý chí, nguyện vọng và hướng tới lợi ích của nhân dân lao động. Cụ thể là được thể hiện trong Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung 2001, Điều 2 quy định: “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”.

    Hệ thống pháp luật Việt nam hiện hành được xây dựng trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ phẩm giá con người, coi việc phục vụ con người là mục đích cao nhất của nó. Hiến pháp 1992 quy định: “Ở nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hoá và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” (Điều 50).

    Thứ hai, hệ thống pháp luật Việt Nam phản ảnh khá rõ nét tư tưởng nhân đạo, một tư tưởng đạo đức cơ bản của nhân dân ta. Tính nhân đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam được thể hiện rất rõ trong các quy định về các chính sách xã hội của nhà nước. Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chính sách ưu đãi, quan tâm đặc biệt tới các thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng, người già, trẻ em không nơi nương tựa, người tàn tật…

    Tính nhân đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam còn được thể hiện ngay cả trong các quy định về xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật. Chẳng hạn các quy định của BLHS, quy định về các tình tiết giảm nhẹ hình sự; quyết định hình phạt nhẹ hơn quyết định của bộ luật (Điều 46, điều 47); miễn hình phạt (điều 54); miễn chấp hành hình phạt (điều 57); giảm mức hình phạt đã tuyên (điều 58,59); các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội (chương 10); các quy định về tạm hoãn chấp hành hình phạt tù đối với phụ nữ có thai hoặc mới sinh đẻ, người bị mắc bệnh hiểm nghèo, người bị kết án là người lao động duy nhất trong gia đình nếu ở tù sẽ làm cho gia đình đặc biệt khó khăn (điều 231 Bộ luật tố tụng hình sự)…

    Thứ ba, đạo đức trong xã hội đã thực sự hỗ trợ, bổ sung, hoàn thiện cho pháp luật, tạo điều kiện cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh trong đời sống. Khi pháp luật chưa được ban hành kịp thời, không đầy đủ, đạo đức giữ vai trò bổ sung, thay thế cho pháp luật. Nhà nước ta thừa nhận tập quán có thể thay thế pháp luật trong những trường hợp pháp luật chưa quy định và nội dung tập quán không trái với quy định của pháp luật.

    Đạo đức còn tạo điều kiện để pháp luật được thực hiện nghiêm minh trong đời sống xã hội. Gia đình, nhà trường, các thiết chế xã hội đã thực sự phát huy vai trò tích cực của mình trong vấn đề giáo dục nhân cách, lối sống. Chính vì vậy, về cơ bản, tuyệt đại đa số các thành viên trong xã hội đều có ý thức đạo đức tốt, có lối sống lành mạnh, tôn trọng mọi người, tôn trọng các quy tắc sống chung của cộng đồng.

    Thứ tư, pháp luật đã góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và phát huy các quan niệm đạo đức tốt đẹp, hình thành những tư tưởng đạo đức tiến bộ, ngăn chặn sự thoái hoá xuống cấp của đạo đức, loại trừ những tư tưởng đạo đức cũ, lạc hậu. Để giữ gìn và phát huy các quan niệm đạo đức của dân tộc, Hiến pháp 1992 quy định:

    “Nhà nước và xã hội bảo tồn, phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; kế thừa và phát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; phát huy mọi tài năng sáng tạo trong nhân dân” (điều 30). Để giữ gìn và phát huy các quan điểm đạo đức tiến bộ, ngăn chặn sự thoái hóa, xuống cấp của đạo đức, pháp luật quy định các xử sự bắt buộc đối với các chủ thể khi họ ở trong các điều kiện hoàn cảnh xác định. C

    hẳng hạn, Hiến pháp quy định công dân có nghĩa vụ chấp hành những quy tắc sinh hoạt cộng đồng (điều 79); Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: “Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ…” (điều 2);…Bên cạnh đó, pháp luật cấm chỉ các hành vi trái với đạo đức xã hội. Hiến pháp 1992 quy định: “Nghiêm cấm truyền bá tư tưởng và văn hoá phản động, đồi trụy; bài trừ mê tín, hủ tục” (điều 30); “Nghiêm cấm những hoạt động văn hoá, thông tin làm tổn hại lợi ích quốc gia, phá hoại nhân cách, đạo đức và lối sống tốt đẹp của người Việt Nam” (điều 33). Luật hôn nhân và gia đình 2000 quy định: “Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; giả, lừa dối để kết hôn, ly hôn…”.

    Pháp luật cũng đóng vai trò quan trọng trong việc góp phần loại bỏ những tư tưởng đạo đức phong kiến khác, chẳng hạn tư tưởng “sống lâu lên lão làng”, pháp luật quy định về các chính sách trẻ hóa đội ngũ cán bộ, công chức, các quy định về bố trí, sắp xếp cán bộ…

    Bên cạnh những mặt tích cực trong mối quan hệ giữa pháp luật với đạo đức, thực tế Việt Nam vẫn còn tồn tại một số hạn chế:

    Một là trong một số trường hợp thì ranh giới điều chỉnh giữa đạo đức và pháp luật chưa rõ ràng hay sự pháp luật hoá các quy tắc các quan niệm đạo đức không cụ thể dẫn đến khó ứng dụng vào cuộc sống. Chẳng hạn, Bộ luật dân sự quy định, các giao dịch dân sự không được trái với đạo đức xã hội. Trên thực tế, đánh giá một hành vi nào đó là trái hay không với đạo đức xã hội, không phải là vấn đề đơn giản, cùng một hành vi nhưng có thể có các đánh giá khác nhau, thậm chí đối lập nhau.

    Hai là trong xã hội nhiều quan niệm, tư tưởng đạo đức cổ hủ, lạc hậu vẫn còn tồn tại mà chưa bị ngăn chặn đúng mức cần thiết. Ví dụ như tư tưởng gia trưởng, thói cá nhân chủ nghĩa, tư tưởng địa vị, đẳng cấp, trọng nam khinh nữ,…vẫn có ảnh hưởng không nhỏ trong đại bộ phận dân cư.

    Cuối cùng, đạo đức trong xã hội xuống cấp là nguyên nhân chính làm gia tăng các vi phạm pháp luật. Nguyên nhân cơ bản là sự nhận thức không đúng đắn về vai trò của đạo đức, nhất là đạo đức truyền thống.

    Để khắc phục được những hạn chế nói trên, nhà nước ta cần phải nâng cao ý thức đạo đức nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ – tương lại của đất nước, nâng cao giáo dục, giữ gìn và phát huy những truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc.

    Từ những điều đã nói ở trên, có thể thấy được chuẩn mực pháp luật và đạo đức có những điểm chung và đồng thời cũng có những khác biệt riêng. Đạo đức và pháp luật có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau. Một xã hội có nền tảng đạo đức tốt sẽ là cơ sở để pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và tự giác. Mặt khác, pháp luật nghiêm sẽ hỗ trợ đắc lực cho việc giữ gìn, phát triển nền đạo đức xã hội tốt đẹp!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Minh Ai Cập Cổ Đại
  • Khái Quát Về Hệ Thống Pháp Luật Common Law
  • Hai Hệ Thống Pháp Luật Common Law Và Civil Law
  • Án Lệ Ở Anh Quốc: Lịch Sử, Khái Niệm, Nguyên Tắc Và Cơ Chế Thực Hiện
  • Luật Pháp Nhật Bản Và Những Điều Người Lao Động Nên Biết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100