Top 14 # Xem Nhiều Nhất Luật Pháp Của Mỹ / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Athena4me.com

Báo Chí Và Pháp Luật Ở Mỹ / 2023

Báo chí Việt Nam nhiều tờ tạp chí đạt tiêu chuẩn hình thức rất cao, nhưng cũng có nhiều tờ báo thường ngày trông thật chán đời, hình ảnh lem nhem, bài vở lôm côm, giấy thì đen thui như cơm cháy, đọc nhiều chắc chắn bị loạn thị. Dân Mỹ đọc báo cũng khá kỳ lạ: không bao giờ ngồi đọc hết tất cả mục trong tờ báo như dân ta. Tờ báo Mỹ chia làm nhiều xấp, chẳng hạn xấp thể thao, xấp tin khu vực (metro region), xấp về kinh doanh (business),v.v. Một người thích kinh doanh sẽ lấy riêng xấp này ra đọc còn bỏ nguyên tờ báo dầy cộm còn lại vào thủng rác, hay lịch sự hơn, để lại trên băng xe điện ngầm (subway) cho người khác đọc ké.

Đọc báo Mỹ chẳng hạn tờ Boston Globe có khuynh hướng chống Bill Clinton và theo phe Kenneth Starr trong vụ bê bối Monica Lewinsky nên lời lẽ rất gay gắt trong việc phê bình, nhưng tờ New York Times thì lời lẽ ôn hòa hơn, không nặng lời sỉ vả, cũng không đăng tải những lá thư mạt sát Bill Clinton theo kiểu Boston Globe. Tờ Boston Herald thì thiên về chồng Monica Lewinsky, cho rằng đây là một âm mưu của Đảng Cộng Hòa nhằm triệt hạ uy tín Bill Clinton. Tạp chí People, chuyên khai thác những chuyện tình giật gân của các siêu sao màn bạc, thì đăng toàn chuyện rùng rợn không báo nào dám đăng. Chẳng hạn Monica thú nhận rằng nàng đã cố gắng để được “đeo ba lô ngược” với Clinton nhằm khóa chân “chàng” vĩnh viễn trong “vòng tay tình ái” và hi vọng chàng sẽ ly dị đương kim đệ nhất phu nhân để chung sống với nàng. Nhưng ước vọng cho ra đời một Clinton “nhí” không thành nên nàng “đành” giữ lại “chiếc áo” trời đánh để mai sau “chàng” có phủ nhận nàng sẽ đưa ra y hệt như Kiều tố cáo Sở Khanh: ” Còn tiên tích việt ở tay/ Rõ ràng mặt ấy mặt này chứ ai” (Kiều: 1183 – 1184). Kiều khôn ngoan giữ lại tiền tích việt, cũng như Monica giữ lại chiếc áo, để nguyên xi “tình trạng cũ” cho Clinton cứng họng, dành phải mặt mũi méo xẹo xin lỗi toàn thể quốc dân đồng bào: ” phụ tình án đã rõ ràng/ Dơ tuồng nghỉ mới kiếm đường tháo lui “. Sở Khanh “quê” quá nên tháo lui, còn Clinton “quê” thì chơi bạo: ném luôn cho Afghanistan và Sudan mấy “quả” khiến báo chí rụng rời, quên tuốt “chuyện tình thế kỷ”. Ngẫm nghĩ cũng thấy dân Mỹ là thứ dân kỳ lạ nhất trên đời. Không ở nơi đâu trên hành tinh này lại nhiều tội ác và lắm sự đồi trụy nhiễu nhương như ở Mỹ, nhưng cũng không nơi đâu lắm sự đạo đức giả như ở đây. Tổng thống, theo hiến pháp, chỉ là người đứng đầu ngành hành pháp, điều khiển việc cai trị quốc gia, đâu phải là một ông thánh Ấn Độ. So với các thành tích động trời của Kennedy thì Clinton chỉ là đệ tử hạng bét. Nhưng có lẽ đó là hậu quả hay mặt trái của tự do, dân chủ theo kiểu phương Tây. Ai cũng có quyền nhao nhao lên chửi bớt Clinton cho đã miệng, trong khi đạo đức cá nhân chưa chắc gì ngon lành hơn ai.

Lạm bàn sang chuyện pháp luật hay tự do, chúng ta có thể thấy ngay tự do hiểu theo kiểu Mỹ là một thứ tự do đặc biệt. Bạn có thể một ngày kia nhận được lá thư của người hàng xóm yêu cầu bạn hãy đi cắt cỏ trong sân nhà bạn ngay, nếu không y sẽ gọi cảnh sát. Theo cách hiểu của người Việt Nam thì: ” Nhà tôi tôi lo, việc gì đến anh?” Nhưng ở Mỹ thì khác. Bạn không có quyền để sân cỏ xung quanh nhà dơ dáy bẩn thỉu, hàng xóm sẽ vác đơn đi kiện ngay, và bạn sẽ phải móc túi chi tiền cắt cỏ cho các “kỹ sư cây xanh” do thành phố gởi đến để làm sạch sân nhà bạn. Việc chạy xe hơi ngoài đường cũng thế. Không phải muốn đi kiểu nào cũng được. Cảnh sát giao thông Mỹ thì không bao giờ có màn hạch sách hay dấm dúi ăn hối lộ, nhưng họ rất cứng rắn và không du di bao giờ. Dù là đậu xe ở một nơi vắng tanh, bạn cũng sẽ ăn giấy phạt nếu đậu không đúng nơi đã quy định. Đặc biệt là đậu gần ống nước (hydrant) dùng để cứu hỏa hay trên lối đi dành cho người đi bộ thì mạt nhất bạn cũng phải chi ra 75 đô tiền phạt. Như vậy nền tảng của tự do, một cách nghịch lý, lại chính là pháp luật. Không có pháp luật thì tự do cũng bốc hơi, trở thành một thứ vô chính phủ, vô kỷ luật, mạnh ai nấy làm theo sở thích riêng, và rốt cục đưa đến luật rừng.

Một ví dụ khác là chuyện sử dụng súng cá nhân. Sau những vụ thảm sát bằng súng ngắn do trẻ em gây ra rất nhiều người phẫn nộ yêu cầu chính phủ phải ra lệnh cấm tàng trữ súng và các loại vũ khí khác trong nhà. Thoạt nghe thì yêu cầu này rất hữu lý, nhưng nếu theo dõi sự tranh luận trên TV giữa hai phe có quan điểm đối lập thì chúng ta sẽ thấy phe có quan điểm cần phải có súng để tự vệ không phải là vô lý. Họ lập luận rằng chính phủ hoàn toàn bất lực trong việc bảo vệ họ nên họ phải trang bị súng để tự vệ.

Việc cấm tư nhân tàng trữ súng chẳng nhằm nhò gì với bọn tội phạm chuyên nghiệp vì bọn chúng kiếm ra súng lậu không khó khăn gì. Như vậy tư nhân, khi không còn được phép giữ súng trong nhà để tự vệ, càng trở thành mồi ngon cho bọn tội phạm, vì giờ đây chỉ chúng là có vũ khí. Những cuốn phim Death Wish gồm nhiều tập do Charles Bronson thủ vai chính chính là thể hiện quan điểm này.

Báo chí chính là công cụ đắc lực trong việc trình bày mọi quan điểm khác nhau về các vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội. Báo chí cũng ảnh hưởng một cách trực tiếp đến việc sống và sinh hoạt như những cá thể tự do trong một xã hội mở, khai phóng, nhưng đặt nền trên một hệ thống pháp lý chặt chẽ. Mối quan hệ này cần được nghiên cứu và khai thác sâu xa hơn nữa trong định hướng phát triển cộng đồng và xã hội.

Liên hệ sử dụng dịch vụ đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

Kiến thức Luật pháp

Điện thoại yêu cầu dịch vụ luật sư tư vấn luật Sở hữu trí tuệ,: : Yêu cầu tư vấn

Gửi thư tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ qua Email: info@kienthucluatphap.com

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

THAM KHẢO DỊCH VỤ LIÊN QUAN:

1. Dịch vụ tư vấn sở hữu trí tuệ;

2. Tư vấn đăng ký mã số, mã vạch;

3. Dịch vụ đăng ký bản quyền tác giả;

3. Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu tại Hoa Kỳ;

4. Tư vấn thủ tục đăng ký bảo hộ nhãn hiệu;

5. Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại EU;

6. Dịch vụ tư vấn bảo hộ thương hiệu doanh nghiệp;

Luật sư Minh Tiến

Trách Nhiệm Hình Sự Pháp Nhân Trong Pháp Luật Mỹ / 2023

Việc truy cứu TNHS đối với pháp nhân ngay lập tức làm phát sinh một loạt các vấn đề pháp lý, như làm thế nào để xác định trạng thái tinh thần và xác định sự tồn tại của ý định trong hành động của một thực thể pháp lý có tư cách pháp nhân, phạm vi mà pháp nhân chịu trách nhiệm về các hành động của nhân viên của họ, những tiêu chuẩn đưa đơn kiện đối với pháp nhân, các hình phạt có thể áp dụng đối với pháp nhân. Ở Mỹ, chế định TNHS pháp nhân đã tồn tại hơn 100 năm nên các kinh nghiệm thực tế của Mỹ trong lĩnh vực này có thể là một công cụ hữu ích cho các nước đã áp dụng hoặc đang nghiên cứu khả năng đưa TNHS đối với pháp nhân vào pháp luật hình sự quốc gia. Bài viết bàn về các giai đoạn phát triển trong hệ thống pháp lý của các học thuyết của Mỹ về TNHS pháp nhân và việc áp dụng trên thực tế để làm sáng tỏ cách tiếp cận của Mỹ trong việc giải quyết vấn đề này.

1. Lịch sử vấn đề trách nhiệm hình sự pháp nhân tại Mỹ

Ý tưởng của việc buộc các pháp nhân phải chịu TNHS đối với các hoạt động của các chi nhánh của chúng còn tương đối mới mẻ, bởi vì “vào đầu thế kỷ mười sáu và mười bảy thì quan điểm chung là pháp nhân không buộc phải chịu TNHS”. V.S. Khanna lập luận rằng, quan điểm này có thể xuất phát từ ít nhất bốn trở ngại: đầu tiên, việc “quy kết hoạt động của pháp nhân chỉ là viễn tưởng pháp lý”; thứ hai, cho rằng các pháp nhân không thể “có trạng thái tâm lý cần thiết để thực hiện tội phạm có chủ định; thứ ba là “học thuyết quyền lực cực đoan, theo đó tòa án sẽ không buộc các pháp nhân phải chịu trách nhiệm đối với những hành vi, chẳng hạn như tội phạm, mà không được quy định trong điều lệ của mình”; và trở ngại thứ tư là “sự nhận thức theo nghĩa thông thường của các tòa án trong tố tụng hình sự”, dẫn đến những khó khăn trong việc áp dụng những quy tắc đối với chủ thể đặc biệt là pháp nhân.

Tuy nhiên, các tòa án đã chậm chạp trong việc mở rộng TNHS pháp nhân đối với các tội phạm có chủ định. Năm 1909, tập đoàn Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ (New York Central & Hudson River Railroad) bị Tòa án tối cao buộc phải chịu trách nhiệm về những tội phạm có chủ định. Trong vụ án này, tập đoàn bị đơn cho rằng các quy định của pháp luật về vấn đề này, cho phép buộc các tập đoàn chịu trách nhiệm về những tội phạm thực hiện bởi các đại lý của họ là vi hiến vì “Tòa án không có thẩm quyền để quy tội cho một pháp nhân, hoặc truy tố pháp nhân bởi lý do những nhiệm vụ mà pháp nhân phải đảm nhiệm… [và] rằng, trừng phạt pháp nhân như vậy thì thực tế để trừng phạt các cổ đông vô tội, và để tước đoạt tài sản của họ mà họ không có cơ hội được xét xử, do đó không theo đúng thủ tục của pháp luật”. Tuy nhiên, Tòa án đã bác bỏ lập luận này.

Sau đó các tòa án đã mở rộng tới cả các vụ án làm rõ ý định phạm tội, và “trong suốt đầu thế kỷ hai mươi các tòa án đã bắt đầu buộc các pháp nhân phải chịu TNHS… cho hầu hết những thiệt hại trừ những tội phạm hiếp dâm, giết người, vi phạm chế độ một vợ một chồng, và các tội phạm với mục đích hiểm độc”.

Theo pháp luật chung của Anh vào thế kỷ XVI-XVII, pháp nhân (doanh nghiệp) không bị truy cứu TNHS. Các luật sư vào thời điểm đó cho rằng, các công ty không phải là con người để có khả năng đưa ra sự lựa chọn thể hiện đạo đức, nên không thể phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức hoặc hình sự đối với các hành động của họ[2]. Một quan tòa nổi tiếng của Anh – Lord Holt – năm 1701 tuyên bố: “Doanh nghiệp không bị truy tố hình sự”[3], và trong hơn một thế kỷ, nguyên tắc pháp lý này đã hướng dẫn các thẩm phán Anh và Mỹ, ngăn chặn nỗ lực để áp đặt TNHS đối với pháp nhân. Tuy nhiên, vào đầu thế kỷ XIX, tình hình bắt đầu thay đổi, vì các tòa án đã bắt đầu quan tâm đến TNHS đối với doanh nghiệp cho cái gọi là “vi phạm trật tự công cộng”. Luật pháp Hoa Kỳ định nghĩa “vi phạm trật tự công cộng” là “sự vi phạm công cộng vô lý đối với các lĩnh vực rộng lớn của pháp luật về công cộng”. Danh sách các hành vi “vi phạm trật tự công cộng” bao gồm một số hành động có hại và có khả năng gây nguy hiểm, chẳng hạn như thải các khí độc hại, gây cản trở trên đường công cộng, lưu giữ các động vật bị bệnh ở nơi công cộng và sở hữu chất nổ ở những vị trí nguy hiểm. Trong thế kỷ XIX, do tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, trong các tập đoàn ở Mỹ có các “vi phạm trật tự công cộng” đã tăng lên đáng kể, pháp luật đã được dự tính để đáp ứng những thay đổi này và việc cho phép truy cứu TNHS pháp nhân đã phần nào thể hiện điều này.

Năm 1852, Tòa án tối cao bang New Jersey đã đưa ra phán quyết về khả năng truy tố hình sự đối với các công ty đường sắt đã xây một tòa nhà ở giữa đường làm cản trở giao thông[4]. Năm 1854, Tòa án tối cao thượng thẩm ở bang Massachusetts đã phán quyết về khả năng truy tố hình sự đối với một tập đoàn xây dựng một cây cầu qua sông mà tàu bè hay đi lại, tạo ra những trở ngại cho vận tải đường sông[5].

Năm 1909, trong quyết định về vụ án Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ, Tòa án tối cao Mỹ đã chấp nhận luận cứ của tòa án xét xử vụ này về việc áp dụng chế tài hình sự đối với pháp nhân. Vụ án này nhắc đến đạo luật Elkins, quy định mức cước phí của các công ty vận tải, bao gồm cả các công ty vận tải đường sắt, cấm các công ty vận tải đường sắt giảm giá cho các khách hàng ưu tiên của mình. Theo sự buộc tội của nhà nước thì các nhân viên của công ty đường sắt trong vụ Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ đã vi phạm quy định của Đạo luật và các tòa án buộc phải quyết định về khả năng truy cứu TNHS đối với công ty này.

Là kết quả của một quyết định của tòa án trong vụ án của công ty đường sắt Trung tâm Niu Ước và Công ty Đường sắt Hắt sơn Ri vơ của Mỹ, chế định TNHS pháp nhân đã được thiết lập vững chắc trong luật pháp Mỹ, và các doanh nghiệp phải chịu TNHS đối với các trường hợp sau:

– Tội phạm môi trường;

– Cung cấp bất hợp pháp các dịch vụ y tế;

– Vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng;

– Vi phạm pháp luật chống độc quyền;

– Tham ô và lừa đảo;

– Phổ biến hoặc trưng bày các nội dung khiêu dâm;

– Vi phạm pháp luật về an toàn tại nơi làm việc[6].

Roland Hefendehl nói rằng “chỉ có hai tình huống mà TNHS của pháp nhân không thể được áp dụng: khi tội phạm không thể bị trừng phạt bằng cách phạt tiền – mà phạt tiền là những phương tiện mang tính nguyên tắc để trừng phạt một công ty – và khi tội phạm, do bản chất của nó không thể phạm phải bởi một pháp nhân (ví dụ như hiếp dâm). Như vậy, trong phần lớn các phán quyết của tòa án Mỹ, TNHS đối với pháp nhân được xác định trên học thuyết chế độ chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên. Theo học thuyết chế độ chịu trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, ba yêu cầu phải được đáp ứng để áp đặt trách nhiệm đối với một doanh nghiệp: thứ nhất, một đại lý của doanh nghiệp phải có hoạt động bất hợp pháp (có hành vi khách quan) với trạng thái tâm lý (thể hiện ý định phạm tội); thứ hai, đại lý thực hiện những hoạt động đó trong phạm vi thẩm quyền của mình; cuối cùng, đại lý phải có dự định thu lợi cho tập đoàn.

Các tòa án liên bang cấp thấp hơn đã theo nguyên tắc chung này, ví dụ vào năm 1943, một công ty vi phạm một quy định về cấm đóng góp chính trị của các thực thể công cộng, vòng kiểm tra thứ tám phục vụ cho xét xử của tòa phúc thẩm cho rằng “không còn bất kỳ sự phân biệt cơ bản nào giữa trách nhiệm dân sự và TNHS của các doanh nghiệp, dựa trên những yếu tố của ý định hoặc sai mục đích”.

2. Luật pháp Mỹ hiện hành 2.1. Bộ luật hình sự mẫu

Theo một hướng khác, Tòa án tối cao cũng đã truy cứu trách nhiệm đối với các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về “phúc lợi công cộng”. Ví dụ, tại Mỹ vào năm 1971 đối với vụ án về Tập đoàn Khoáng sản và Hóa chất quốc tế, Tòa án Tối cao áp dụng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc tiêu chuẩn đối với tập đoàn bị đơn về việc đã vận chuyển chất độc hại và nguy hiểm[8].

Mặc dù dưới “Hiến pháp Mỹ, quyền lực để áp đặt TNHS nhìn chung là dành chủ yếu cho các tiểu bang,” và do đó “luật hình sự của Mỹ được pháp điển hóa trong năm mươi hai bộ luật hình sự khác nhau” vẫn còn có những tương đồng giữa các bộ luật, “do ảnh hưởng từ Bộ luật hình sự mẫu của Viện nghiên cứu luật Mỹ. Đối với TNHS của doanh nghiệp, cách tiếp cận của Bộ luật là “hạn chế hơn so với đa số các thẩm quyền phán quyết được sử dụng tại Mỹ. Xử phạt doanh nghiệp trong các trường hợp vi phạm chỉ áp dụng nếu doanh nghiệp vi phạm một nghĩa vụ nào đó do luật định hoặc nếu việc phạm tội là do sự bất cẩn của ít nhất một trong số các lãnh đạo cấp cao.

Bộ luật hình sự mẫu phân chia doanh nghiệp phạm tội thành ba nhóm với các hệ thống trách nhiệm khác nhau. Nhóm đầu tiên bao gồm các hành vi phạm tội phổ biến đòi hỏi phải có ý định phạm tội nhằm áp đặt trách nhiệm pháp lý đối với doanh nghiệp, thông thường là do cá nhân vi phạm như gian lận hoặc giết người ở cấp độ hai[9]. Đối với các hành vi phạm tội này, Bộ luật “cung cấp các hình phạt đối với các doanh nghiệp chỉ khi tội phạm đã được thực hiện, hoặc ít nhất cũng đã được cho phép, ra lệnh hoặc do sơ xuất bởi ban giám đốc hoặc bởi lãnh đạo chi nhánh hành động thay mặt cho doanh nghiệp trong phạm vi thẩm quyền của mình”[10].

Nhóm thứ hai bao gồm các tội phạm chứa đựng yêu cầu về ý định phạm tội của doanh nghiệp (ví dụ như sự đồng mưu kinh doanh). Ở đây, Bộ luật hình sự mẫu theo thuyết trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, quy định rằng doanh nghiệp sẽ bị trừng phạt đối với những tội phạm mà không cần quan tâm tới vị trí của người phạm tội trong doanh nghiệp hay người phạm tội đã hành động trong phạm vi của công việc của mình và với mục đích có lợi cho tập đoàn. Ngoài ra, Bộ luật hình sự mẫu tạo ra cơ chế biện hộ có lợi cho doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có thể chứng minh rằng một người giám sát có trách nhiệm cao hơn chủ thể của hành vi phạm tội đã làm việc rất tận tâm để ngăn chặn việc phạm tội, thì doanh nghiệp có thể không bị trừng phạt.

2.2. Các quy định khác

Cuối cùng, nhóm thứ ba được dựa trên các tội phạm có trách nhiệm tuyệt đối và đối với những tội phạm này thì theo Bộ luật hình sự mẫu, trên cơ sở nguyên tắc trách nhiệm thay thế bởi cấp trên, các doanh nghiệp có thể phải chịu TNHS mà không cần có bằng chứng về ý định hoặc yếu tố vật chất khác của hành vi phạm tội và cũng không cần thiết phải chứng minh việc phạm tội với mục đích có lợi cho doanh nghiệp.

“Tại Mỹ, pháp nhân được coi là chủ thể có thể bị đưa ra xét xử và bị kết án đối với những tội phạm do cá nhân giám đốc, người quản lý và thậm chí cả nhân viên ở cấp thấp thực hiện”[11]. Mỹ là quốc gia áp dụng “TNHS đặc trưng để bổ sung cho những quy định dân sự và hành chính”, điều mà những quốc gia khác sử dụng với tư cách là công cụ để điều chỉnh những hoạt động của các pháp nhân[12].

Tuy nhiên, nhiều chuyên gia và học giả không đồng ý vì nghi ngờ cách thức mà người Mỹ tiến hành hiện nay có lợi hay gây hại nhiều hơn. Edward Diskant chỉ ra rằng, chỉ riêng quá trình đưa ra bản cáo trạng thôi cũng có thể có “tác động hủy hoại về tài chính và uy tín, và điều này có thể làm hỏng công việc kinh doanh của các công ty. Và hệ quả là, nhận thức chung trong cộng đồng kinh doanh đối với việc kết tội pháp nhân chính là cú đánh có khả năng khai tử đối với một công ty, và như vậy công ty khó có thể phục hồi ngay cả khi nó thực sự là vô tội”.

Theo quy định của pháp luật hình sự, một người chỉ bị truy cứu trách nhiệm khi thực hiện hành vi rõ ràng là cố ý. Pháp nhân, khác với con người, không có khả năng nhận thức được phạm trù đạo đức, do đó, làm sao có thể truy cứu TNHS pháp nhân? Theo luật Mỹ, câu trả lời nằm trong hành động và quyết định của các nhân viên của pháp nhân đó. Tòa án thượng thẩm liên bang của Mỹ đã đưa ra phán quyết “hoạt động của pháp nhân, cuối cùng, là những hành động của các nhân viên của mình trong phạm vi thẩm quyền được trao”[13].

Không giống như cá nhân, tổ chức không thể bị phạt tù, do đó tại Mỹ, phạt tiền được coi là hình phạt chủ yếu, cơ bản để áp dụng với pháp nhân. Tuy nhiên, cách tính số tiền phạt trong từng trường hợp cụ thể cũng được quy định cụ thể. Theo Luật về cải cách áp dụng hình phạt vào năm 1984, loại hình phạt áp dụng bởi Tòa án liên bang Mỹ, soạn thảo bởi Ủy ban áp dụng hình phạt của Mỹ, đối với hình phạt cho các doanh nghiệp, Ủy ban quyết định như sau: “Hướng dẫn về áp dụng hình phạt đối với các tổ chức được thiết lập để tất cả các biện pháp trừng phạt đối với các tổ chức và đại diện của họ, bảo đảm hình phạt công bằng và các biện pháp thích hợp ngăn chặn sẽ khuyến khích các tổ chức sử dụng cơ chế nội bộ để ngăn chặn, phát hiện và ghi lại các hoạt động bất hợp pháp”[16].

Theo khuyến nghị của Ủy ban áp dụng hình phạt, đối với việc thi hành bản án của các tổ chức, tòa án trước tiên phải “buộc các tổ chức bồi thường mọi thiệt hại gây ra bởi hành động phạm pháp của mình” nhằm khôi phục toàn vẹn cho những người bị hại[17]. Nói cách khác, trước khi tòa án áp dụng phạt tiền đối với tổ chức, thì cần phải bồi thường cho các nạn nhân. Sau đó, tòa án phải xác định thực hiện hay không “hoạt động của tổ chức chủ yếu cho mục đích tội phạm hay chủ yếu bằng các phương thức phạm tội”. Trong trường hợp này, tòa án buộc phải áp dụng chế tài tiền trong phạm vi “đủ để loại bỏ tổ chức này và tất cả tài sản của nó”. Như vậy, trong ví dụ giả định trên, việc hối lộ quan chức chính phủ của doanh nghiệp để có được hợp đồng béo bở, khi áp dụng hình phạt thì tòa án kết án phải tính toán tổng giá trị các tài sản của doanh nghiệp và phạt tiền ở mức bảo đảm cho doanh nghiệp phá sản.

Trong mọi trường hợp, khi áp dụng hình phạt dưới hình thức chế tài phạt tiền thích đáng thì tòa án phải cân nhắc hai yếu tố – mức độ nghiêm trọng của tội phạm và lỗi của tổ chức[18]. Yếu tố đầu tiên, “mức độ nghiêm trọng của tội phạm” được xác định bằng cách tính toán lợi ích về tiền tệ, và các thiệt hại gây ra cho người bị hại bởi những hành động bất hợp pháp. Nói cách khác, số tiền mà tổ chức “kiếm được” càng lớn bằng cách phạm tội và các thiệt hại gây ra cho người bị hại càng đáng kể thì mức độ nghiêm trọng của tội phạm càng cao. Yếu tố thứ hai, “lỗi của tổ chức” xác định dựa trên một số yếu tố khác có thể được tóm tắt như sau: i) các biện pháp của tổ chức nhằm phòng ngừa việc phát hiện và điều tra các hành động bất hợp pháp mà tổ chức đã thực hiện tính đến thời điểm thực hiện tội phạm; ii) mức độ tham gia của nhân viên trong các hoạt động bất hợp pháp hoặc mức độ khoan dung đối với hoạt động bất hợp pháp; iii) hành động của tổ chức sau khi phạm tội; iv) lịch sử hoạt động của tổ chức.

Đối với các biện pháp của tổ chức để ngăn chặn việc phát hiện và điều tra hành vi bất hợp pháp đến thời điểm phạm tội, toà án đánh giá mức độ hiệu quả trong nội bộ doanh nghiệp về “các kế hoạch tuân thủ những tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức”. Để hỗ trợ cho các thẩm phán trong việc đánh giá này, Uỷ ban áp dụng hình phạt xác định những tiêu chí sau đây để xác định mức độ hiệu quả của kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức:

1. Các tổ chức phải soạn thảo và thực hiện chính sách tiêu chuẩn và thủ tục để phòng ngừa và phát hiện các hoạt động bất hợp pháp.

2. (i) Bộ phận quản lý của tổ chức cần biết về các nội dung và việc áp dụng các kế hoạch theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức và thực hiện quyền kiểm soát hợp lý trong việc thực hiện và tính hiệu quả của kế hoạch thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức; (ii) Người quản lý cao nhất của tổ chức phải đảm bảo rằng tổ chức có một kế hoạch hiệu quả về việc tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức phù hợp với yêu cầu đặt ra trong hướng dẫn này. Trong số lãnh đạo cao cấp chỉ định một hoặc một số người chịu trách nhiệm hoàn toàn đối với kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức; (iii) Một hoặc một số nhân viên cụ thể phải kiểm soát hàng ngày đối với việc thực hiện kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức. Một hoặc một số nhân viên chịu trách nhiệm kiểm soát hoạt động được yêu cầu phải nộp báo cáo thường xuyên cho cấp trên và trong trường hợp cần thiết, quản lý cấp trên hoặc cơ quan quản lý cấp trên về hiệu quả của kế hoạch tuân thủ theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức. Nhân viên thực hiện kiểm soát hoạt động được cung cấp nguồn lực đầy đủ, quyền hạn đầy đủ và có thể trực tiếp gặp quản lý cấp cao hoặc cơ quan quản lý cấp cao của tổ chức.

3. Tổ chức phải có biện pháp hợp lý để ngăn chặn các nhân viên có thẩm quyền trước đó đã tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp hoặc các hành vi vi phạm mà không phù hợp với các nguyên tắc của một kế hoạch hiệu quả cho phù hợp với tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

4. (i) Tổ chức phải thực hiện các bước hợp lý để thường xuyên và với hình thức thiết thực để thu nhận thông tin của nhân viên nêu tại điểm (ii), quy định tiêu chuẩn, thủ tục và các khía cạnh khác của kế hoạch để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức, bao gồm cả việc tổ chức các khóa đào tạo hiệu quả và sử dụng những cách khác để cung cấp cho nhân viên như thông tin mà họ cần phải thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của mình; (ii) Người lao động nêu tại điểm 2i, là thành viên của cơ quan điều hành tối cao, quản lý cấp cao, các nhân viên với cấp bậc cao hơn, các nhân viên chủ chốt của tổ chức và khi thích hợp, là đại diện của tổ chức.

6. Để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức cần (i) khuyến khích thực hiện nhiệm vụ theo quy định của chương trình cho phù hợp với luật pháp và đạo đức (ii) các biện pháp xử lý kỷ luật thích đáng đối với những hành động bất hợp pháp và không tuân thủ việc thực hiện các bước hợp lý để ngăn chặn hoặc phát hiện những hoạt động trái pháp luật.

7. Sau khi hành vi bất hợp pháp bị phát hiện, các tổ chức có trách nhiệm thực hiện các biện pháp hợp lý để điều chỉnh đối với vi phạm pháp luật và ngăn ngừa việc thực hiện những hành vi phạm pháp tương tự trong tương lai, bao gồm cả việc tiến hành thay đổi và bổ sung cần thiết vào chương trình để thực hiện theo tiêu chuẩn pháp lý và đạo đức.

8. Các tổ chức phải thường xuyên đánh giá rủi ro của các hoạt động trái pháp luật và có biện pháp thích hợp để thực hiện, áp dụng, thay đổi từng mệnh lệnh để giảm nguy cơ vi phạm pháp luật, được phát hiện trong giai đoạn kiểm tra này.

Khi phân tích các yếu tố thứ hai – mức độ tham gia thực hiện tội phạm của các thành viên chủ chốt của các tổ chức – Toà án phải xem xét quy mô của tổ chức này (dựa trên tổng số nhân viên) và mức độ tham gia vào các hoạt động bất hợp pháp trong tổ chức. Đối với yếu tố thứ ba – các hoạt động của tổ chức sau khi tội phạm, Toà án phải xác định xem các tổ chức có cản trở việc điều tra, xét xử trong một vụ án hình sự (tình tiết tăng nặng) hoặc ngược lại, hợp tác với cơ quan điều tra và thừa nhận trách nhiệm của mình đối với các việc phạm tội (tình tiết giảm nhẹ). Khi phân tích yếu tố thứ tư – lịch sử hoạt động của tổ chức, Toà án phải xác định được tổ chức trước đó có vi phạm pháp luật không, và đặc biệt là có vi phạm trong thời hạn 10 năm kể từ ngày áp dụng đối với tổ chức các chế tài xử lý về hình sự, dân sự hoặc hành chính đối với các vi phạm pháp luật tương tự.

3. Kết luận

Khi áp dụng một hình phạt thích hợp cần xem xét, đánh giá các yếu tố định lượng như lợi ích tài chính cho tổ chức và các yếu tố định tính như sự sẵn sàng của tổ chức trong hợp tác với cơ quan điều tra. Mặc dù không có yếu tố riêng lẻ nào mà không có những ý nghĩa nhất định, nhưng kinh nghiệm cho thấy rằng, hành vi của tổ chức sau khi phát hiện ra vi phạm đóng một vai trò quan trọng. Ví dụ, trong vụ án Mỹ kiện Công ty Du lịch hàng hải Na Uy (Mỹ kiện Cruise Lines Na Uy) về hành vi vi phạm pháp luật môi trường, doanh nghiệp đã thừa nhận trách nhiệm của mình đối với hành vi phạm tội, góp phần tích cực điều tra và nộp phạt một triệu đôla.

United States v. Bank of New England , N.A., 821 F .2d 844, 855 (1st Cir. 1987).

[8] U.S. v. International Minerals & Chemical Corp., 402 U.S. 558 (1971).

Keven M. Hart, “New Sentencing Guidelines for Corporate Directors and Officers.” New Jersey Law Blog, published by Stark & Stark: Nov. 2004, available at: http://www.njlawblog.com/2004/11/articles/corporate-investigations-white/new-sentencing-guidelines-for-corporate-directors-and-officers/ .

Luật Pháp Mỹ Bảo Vệ Nhà Đầu Tư Thế Nào? / 2023

Tiến sĩ – luật sư Tom Rotert, một luật sư có 24 năm kinh nghiệm trong ngành luật sư tại bang California, tại cuộc tọa đàm sáng 20/4 (TP.HCM) giải thích rằng luật pháp Mỹ điều chỉnh quyền lực giữa ba cơ quan: lập pháp (quốc hội), hành pháp (chính phủ, trong đó đứng đầu là tổng thống) và tư pháp (toà án).

“Bản Hiến pháp Mỹ năm 1787 đã mang đến cho thế giới một ví dụ đầu tiên về một thể chế cộng hoà liên bang rộng lớn, được thành lập trên nguyên tắc đại diện. Mặc dù đây không phải là mô hình đầu tiên được thành lập trên nguyên tắc dân chủ nhưng bản hiến pháp này đã xây dựng nền tảng cho một chính quyền dân chủ cộng hoà lớn nhất trên thế giới. Bất chấp cuộc nội chiến vĩ đại, bất chấp hai cuộc chiến tranh thế giới, hiến pháp này vẫn đứng vững qua thử thách của thời gian và các biến động. Sau này, nhiều sử gia Mỹ gọi điều mà hội nghị lập hiến đã làm là “Điều kỳ diệu ở Philadenphia” – Trích “Hiến pháp Mỹ được làm ra như thế nào” (NXB Thế giới ấn hành, Nguyễn Cảnh Bình dịch và giới thiệu).

Tiến sĩ – luật sư Tom Rotert

Tiến sĩ – luật sư Tom Rotert cho biết từ 1787 tới nay, Hiến pháp Mỹ đã được chỉnh sửa, thêm các đạo luật mới tổng số 27 lần, trong đó lần chỉnh sửa đầu tiên vào năm 1789 chính là tuyên ngôn nhân quyền. Tuyên ngôn này tuyên bố các quyền tự do không bao giờ có thể bị tước đoạt hay bị giới hạn bởi bất cứ đạo luật hay người nào.

“Toà án Mỹ phán xử dựa trên hai chức năng: một là giải thích cho người dân hiểu rõ hơn về luật pháp, hai là xem xét các đạo luật mới xem nó có vi phạm hiến pháp hay không, nếu có, thì đạo luật mới sẽ lập tức bị vô hiệu hoá” – Luật sư Tom Rotert nói.

Bảo vệ toàn vẹn quyền của nhà đầu tư như nó vốn có

Một người dân bình thường của Mỹ hoàn toàn có thể thắng kiện tổng thống Mỹ bởi các vụ kiện được xem xét trên khía cạnh đối xử công bằng, không phân biệt sắc tộc, tôn giáo hay giới tính. Và trên thực tế đã có nhiều vụ kiện tương tự xảy ra, trong đó tổng thống Mỹ bị đưa ra toà và là người thua kiện.

“Mọi người thường nghe về quyền tự do phát ngôn, tự do báo chí, tự do tôn giáo… nhưng ít để ý khía cạnh quyền tự do sử dụng toà án, tự do khởi kiện, được phán xét bởi bồi thẩm đoàn. Nếu người dân được tự do ngôn luận, tự do tôn giáo nhưng không được quyền tự do sử dụng toà án để thực thi luật pháp thì thực chất các quyền kia chỉ nằm trên giấy chứ không thể đi vào đời sống. Chính quyền được tự do khởi kiện và được phán xử công bằng thể hiện lên yếu tố cốt lõi luật pháp là do người dân tạo ra và quyền lực thực sự nằm trong tay người dân” – Luật sư Tom Rotert giải thích.

“Chẳng hạn như để phản đối chiến tranh, công dân Mỹ đi biểu tình, đốt quốc kỳ. Với các nước khác mọi người sẽ rất ngạc nhiên là sao có thể đốt quốc kỳ? Cảnh sát Mỹ bắt những người có hành động này bỏ tù nhưng toà án phán xử rằng người dân có quyền thể hiện tự do phát ngôn hơn cả bằng lời nói mà còn bằng hành động, để thể hiện sự bất bình với chính phủ, thì người biểu tình được trả tự do. Người dân Mỹ được nói bất kỳ điều gì, kể cả nói xấu tổng thống. Ngoài quyền tự do ngôn luận thể hiện bằng lời nói và hành động, tự do phát ngôn còn được thể hiện bằng báo chí, người dân có quyền viết bất cứ điều gì lên báo mà không bị ngăn cản. Chính phủ Mỹ không được phép ra bất cứ một đạo luật nào để phân biệt tôn giáo, ưu tiên tôn giáo nào hơn. Phân biệt chủng tộc cũng là điều cấm kị. Tất cả các quyền này đều đã quy định rõ trong hiến pháp”.

Trả lời cho câu hỏi rằng người Việt Nam chưa có thẻ xanh có được mua nhà ở Mỹ không? Tiến sĩ – luật sư Tom Rotert cho biết luật cho phép công dân của các nước khác được mua nhà trên đất Mỹ, nhưng nếu xảy ra bất cứ tranh chấp nào thì toà án sẽ phán xử theo luật Mỹ.

Hoà Bình

Luật Pháp Mỹ Bảo Vệ Trẻ Em Nghiêm Ngặt Như Thế Nào? / 2023

Ở Mỹ, trẻ em được luật pháp bảo vệ một cách nghiêm ngặt.

Cậu bé 4 tuổi ở nhà một mình, người mẹ có nguy cơ bị kiện tội bỏ mặc trẻ nhỏ

Theo tờ Brookly, cô Trần sống ở New York vừa mới đến Mỹ chưa đầy một năm, thường ngày ngoài việc đưa con trai 4 tuổi đến trường mẫu giáo, cuối tuần hoặc ngày nghỉ cô còn đưa con trai đi chơi ở các công viên giải trí.

Vào một buổi chiều cách đây không lâu, cô đưa con đi chơi ở công viên gần nhà như thường lệ, khi chuẩn bị về nhà, con trai cô và những đứa trẻ khác bắt đầu đánh nhau, cô vội vàng bước đến ngăn lại và đưa con đi.

Sau khi về nhà, cô phát hiện không thấy túi xách đâu cả. Nghĩ kỹ lại, cô nhớ ra mình đã để túi xách trên ghế đá ở công viên, trong túi có những giấy tờ quan trọng như ví tiền, hộ chiếu… Cô nóng lòng chuẩn bị quay lại công viên để tìm, nhưng lúc này con cô lại không chịu ra ngoài nữa. Cô Trần nghĩ rằng công viên cách nhà không xa, cũng chỉ vài phút lái xe thôi, cuối cùng cô quyết định để con xem TV trong phòng, còn mình thì ra công viên tìm túi xách.

Tuy từ nhà lái xe đến công viên chỉ vài phút, nhưng cô đi rồi về, lại thêm đỗ xe, tìm túi cũng khoảng nửa tiếng. Sau khi tìm được túi xách ở công viên, từ xa cô nhìn thấy vài chiếc xe cảnh sát đỗ trước cửa nhà mình, con trai cô cùng vài cảnh sát đang đứng ở cột đèn giao thông cách nhà không xa.

Cô Trần không hiểu gì cả vội vàng xuống xe hỏi thì biết được thì ra con trai ở nhà không tìm thấy mẹ, trong nhà lại chẳng có ai, cậu bé 4 tuổi mặc quần cụt một mình chạy ra ngoài tìm mẹ, một người qua đường nhìn thấy và báo cảnh sát.

Do cô Trần không giỏi tiếng Anh, cô chỉ có thể dùng tiếng Anh bập bẹ để nói chuyện với cảnh sát. Sau đó cảnh sát yêu cầu đến nhà cô để điều tra. Khi vừa vào nhà, họ liền đi xem một vòng trước sau rồi mở cửa phòng lầu một xem qua, thấy không có ai cả bèn hỏi cô người trông trẻ đâu?

Cô Trần cho biết trong nhà không có ai khác, chỉ có cô và con trai, sau đó dùng tay miêu tả một hồi để trình bày sự việc.

Cảnh sát nghiêm túc nói với cô: “Cô có biết tôi có thể đưa con của cô đi không?”. Cô Trần nghe xong thì phát hoảng, vì tiếng Anh không tốt, cô không biết phải giải thích ra sao nên lại càng cuống cuồng. Cậu bé 4 tuổi cũng bị các chú cảnh sát dọa sợ, liên tục trốn sau lưng mẹ.

May mà cuối cùng cảnh sát cho biết họ tha cho cô Trần lần này, nhưng không có lần sau.

Cảnh sát còn cho biết, luật pháp Mỹ quy định bố mẹ không được để con nhỏ ở nhà một mình, ai vi phạm thì cảnh sát có quyền khởi tố vì tội ngược đãi trẻ em và đưa đứa trẻ đến trung tâm bảo vệ trẻ em.

Ở Mỹ tuyệt đối không được để con ở nhà một mình, dù ở sân sau nhà mình cũng không được, nếu không thì sẽ bị ghép tội nặng không thương lượng.

Luật pháp Mỹ bảo vệ trẻ em rất nghiêm ngặt. (Ảnh: wikimedia.org)

Cậu bé 11 tuổi chơi một mình trong vườn 1 tiếng rưỡi, bố mẹ bị bắt giam

Theo tờ World Journal, vào một buổi chiều tháng 4/2015, một cặp vợ chồng ở Florida không kịp về đưa con trai vào nhà, do cậu bé không có chìa khóa nên tự chơi trong vườn suốt 90 phút. Một người hàng xóm nhìn thấy đã báo cảnh sát. Khi bố mẹ của cậu bé về đến nhà sau khi bị kẹt xe và mưa to, họ bị đeo còng vào tay, bị kiểm tra, in vân tay và “ngồi tù một đêm” ở đồn cảnh sát, bị cáo buộc tội cẩu thả và bị điều tra.

Lý do là cậu bé chơi trong vườn không có nước uống hoặc thức ăn, cũng không có nơi nghỉ ngơi và đi vệ sinh, nhưng thật ra trong vườn sau nhà có một căn nhà nhỏ mở cửa, có hai cái bồn rửa và hai cái vòi nước, cậu bé cũng có ăn nhẹ rồi.

Trong thời gian chính quyền tiểu bang điều tra vụ việc để gửi cậu bé cho người thân chăm sóc, cậu bé và em trai 4 tuổi được đưa đến nơi chăm sóc 2 ngày. Vốn dĩ người phù hợp nhất để chăm sóc các bé là bà ngoại, nhưng bà sống ở tiểu bang khác, bố mẹ của cậu bé lo lắng thời gian điều tra gia đình quá lâu thì thời gian các bé bị gửi ở nơi chăm sóc sẽ càng lâu, vì vậy họ đã lựa chọn một người họ hàng khác sống ở tiểu bang Florida dù người này không phù hợp cho lắm.

Do bố mẹ của các bé bị buộc tội nặng nên họ không được đến thăm con, còn người họ hàng kia lại từ chối đưa các bé đến gặp bố mẹ. Nhưng sau vài tuần chăm sóc, người họ hàng kia mệt nên giao các bé cho chính quyền tiểu bang chăm sóc mà không cho bố mẹ của các bé biết, kết quả là Cơ quan bảo hộ trẻ em gửi đơn lên tòa án nhằm sắp xếp gửi các bé đến nơi nuôi dưỡng.

Sau đó, cả gia đình cùng luật sư ra tòa tranh chấp với tòa án nhiều giờ đồng hồ để quyết định rốt cuộc là nên gửi các bé đến nơi nuôi dưỡng hay cho về với bố mẹ. Cuối cùng, cậu con trai lớn cũng mở lời bày tỏ mong muốn được sống cùng bố mẹ, lúc này tòa án mới đồng ý để hai cậu bé về nhà với bố mẹ.

Được biết, tiểu bang Florida không có quy định độ tuổi nhỏ nhất mà trẻ được ở nhà một mình.

Thanh Trúc