Top 9 # Xem Nhiều Nhất Luật Phá Sản Trung Quốc Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Vì Sao Luật Phá Sản Lại… Phá Sản?

Vì sao Luật Phá sản lại… phá sản?

Luật Phá sản hiện hành chỉ mới bảo vệ chủ nợ mà chưa quan tâm đến con nợ.

Gần 61.000 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động trong năm 2013, theo Tổng cục Thống kê. Con số này khiến cho không ít người phải giật mình. Nhưng điều đáng băn khoăn là rất hiếm trường hợp tuyên bố phá sản trong khi Việt Nam đã có Luật Phá sản 2004.

Muốn phá sản cũng khó

Có nhiều lý do khiến việc tuyên bố phá sản chưa phổ biến. Một phần là do phá sản mang đến áp lực tâm lý nặng nề cho chủ doanh nghiệp khi cộng đồng chưa xem phá sản là chuyện bình thường trong kinh doanh. Thậm chí, nhiều trường hợp còn bị hình sự hóa các quan hệ dân sự. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là do Luật Phá sản hiện hành còn nhiều điểm bất hợp lý.

Cái giá phải trả quá lớn cũng chi phối đến động cơ phá sản của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp thuộc khu vực phi nhà nước sẽ bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ 1-3 năm kể từ ngày công bố phá sản. Sự trừng phạt đối với lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước còn khắc nghiệt hơn khi họ vĩnh viễn không còn cơ hội sửa sai.

Một nút thắt khác là trình tự xử lý phá sản của Luật Phá sản hiện hành được cho là “quy trình ngược”, tức là xử lý tài sản trước khi tòa án tuyên bố phá sản, dẫn đến doanh nghiệp rơi vào tình trạng sống dở chết dở.

Nhìn chung, Luật Phá sản hiện hành được các chuyên gia đánh giá là chỉ mới bảo vệ và đảm bảo công bằng cho chủ nợ nhưng lại chưa thực sự quan tâm đến con nợ. Trong khi đó, trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, pháp luật phá sản được xây dựng để bảo vệ những doanh nghiệp thua lỗ. Theo đó, những tổ chức, cá nhân kinh doanh thua lỗ được quyền mở thủ tục phá sản và được khuyến khích tiếp tục theo đuổi công việc kinh doanh sau đó.

Ở Nhật, Luật Phá sản còn quy định sự phục quyền. Công ty phá sản vào bất cứ lúc nào đều có thể yêu cầu tòa án ra lệnh phục quyền khi đáp ứng được các quy định của pháp luật. Lệnh này được ban hành sẽ hủy bỏ tất cả các quyền đòi nợ khi đã trả tiền lãi, trừ một số khoản nợ như nợ thuế, các khoản tiền phạt hình sự.

Ngoài ra, Nhật quy định tình trạng phá sản đối với pháp nhân là không có khả năng trả nợ khi khoản tiền nợ lớn hơn tài sản có của pháp nhân đó. Điều này giúp các doanh nghiệp bị mất cân đối tài chính tạm thời có thể xoay xở trả nợ nhằm tránh tình trạng phá sản hàng loạt. Trong khi đó, theo pháp luật Trung Quốc, khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn thì sẽ bị xem xét khả năng phá sản.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng cần có thái độ khoan dung đối với những doanh nghiệp đăng ký mở thủ tục phá sản. Theo quan điểm kinh tế, cơ chế phá sản là quá trình phân bổ lại nguồn lực từ nơi kém hiệu quả sang nơi hiệu quả hơn. Ngược lại, để tồn tại những doanh nghiệp “chết mà chưa chôn” trở thành những “xác chết biết đi” sẽ gây ra sự hao phí nguồn lực xã hội và ách tắc trong quản lý cũng như hạn chế cơ hội phục hồi của nền kinh tế nói chung.

Kỳ vọng vào Dự thảo Luật Phá sản

Chính vì những điểm chưa hợp lý nói trên ở Luật Phá sản hiện hành mà Dự thảo Luật Phá sản đã được đưa ra bàn luận nhằm giúp doanh nghiệp “đã chết” được “chôn” và có cơ hội làm lại từ đầu.

Cụ thể, Khoản 1, Điều 5 quy định “chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đến hạn”.

Theo Công ty Luật Phước & Partners, việc bổ sung quy định về thời gian so với Luật hiện hành là một “giải pháp phù hợp nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trả nợ”, còn thời hạn bao lâu tùy thuộc vào nhà làm luật khi cân nhắc lợi ích giữa con nợ và chủ nợ.

Luật Phá sản của Nga cũng có quy định về thời hạn tương tự, trong khi Trung Quốc cho phép chủ nợ khởi kiện vụ án phá sản ngay khi doanh nghiệp không trả được nợ.

Trả lời báo giới, Luật gia Vũ Xuân Tiền cho rằng nên kéo dài thời gian trên thành 6 tháng vì 3 tháng quá ngắn để con nợ có thể xoay xở nguồn tiền.

Quy trình xử lý tài sản ngược nói trên cũng được đảo lại trong dự thảo lần này. Theo đó, sau khi tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản rồi mới tiến hành thanh lý và chia tài sản của doanh nghiệp. Điều này được đánh giá là một thay đổi rất quan trọng để giải quyết sự bất hợp lý hiện nay.

Mặc dù vẫn còn nhiều bất đồng về khái niệm “mất khả năng thanh toán”, “tình trạng phá sản” và một số điều khoản khác, nhưng với những sửa đổi quan trọng trên, chúng ta có quyền kỳ vọng rằng Luật Phá sản mới sẽ không tiếp tục bị . . . phá sản như Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và 2004.

Hoàng Điền

Nhịp cầu đầu tư

Thủ Tục Phá Sản Theo Luật Phá Sản 2014

(TBKTSG) – Ngày 19-6-2014, Luật Phá sản mới đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-2015 (Luật Phá sản 2014), được kỳ vọng là sẽ giúp “cởi trói” về mặt thủ tục cho việc phá sản doanh nghiệp vốn là một hệ quả tất yếu của quá trình cạnh tranh.

(TBKTSG) – Ngày 19-6-2014, Luật Phá sản mới đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1-1-2015 (Luật Phá sản 2014), được kỳ vọng là sẽ giúp “cởi trói” về mặt thủ tục cho việc phá sản doanh nghiệp vốn là một hệ quả tất yếu của quá trình cạnh tranh. Các thủ tục phá sản

Luật Phá sản 2014 có rất nhiều thay đổi so với Luật Phá sản 2004, đặc biệt đã thay thế tổ quản lý, thanh lý tài sản bằng quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản; đã quy định thủ tục phá sản rút gọn, thủ tục phá sản của tổ chức tín dụng và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản của người quản lý doanh nghiệp; đã hoàn thiện các quy định về giao dịch đáng ngờ, cũng như đã có sự phân chia rạch ròi về mặt quyền hạn và nghĩa vụ của các bên tiến hành thủ tục phá sản. Nhiều khía cạnh khác nhau về mặt thủ tục cũng đã được thay đổi và có tính khả thi cao hơn so với quy định cũ.

Khác với cách tiếp cận của Luật Phá sản 2004, thủ tục phá sản quy định trong Luật Phá sản 2014 chỉ bao gồm hai thủ tục chính là thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và thủ tục tuyên bố phá sản. Thanh lý tài sản được thực hiện sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản chứ không còn là một thủ tục riêng biệt được tiến hành trước khi ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản như trước nữa. Đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán, không nhất thiết phải thực hiện lần lượt hai thủ tục này để được phá sản. Thủ tục mở thủ tục phá sản (điều 42 và các điều tiếp theo) là bước đệm cho việc mở các thủ tục này.

Việc có tình trạng mất khả năng thanh toán là cơ sở để chủ nợ, người lao động, người đại diện theo pháp luật hay người quản lý của doanh nghiệp, cổ đông nộp đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp (điều 5) và là căn cứ để thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản (khoản 2, điều 42). Tuy vậy, cần lưu ý tình trạng mất khả năng thanh toán không nhất thiết sẽ dẫn tới việc mở thủ tục phá sản.

Thực vậy, trong khoảng thời gian kể từ khi nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho tới khi tòa án ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp có thể khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán (chẳng hạn có được nguồn thu đáng kể từ việc thực hiện hợp đồng hay được cấp một khoản tín dụng mới). Ngay cả khi mất khả năng thanh toán và đã bị chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp vẫn có cơ hội đạt được thỏa thuận với chủ nợ này về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (điều 37).

Thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh và tuyên bố phá sản

Hội nghị chủ nợ có thể đưa ra nghị quyết đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi kinh doanh đối với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán (điểm b, khoản 1, điều 83). Sau đó, doanh nghiệp phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh cùng với chủ nợ, quản tài viên hay doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để làm cơ sở cho thẩm phán xem xét và triệu tập hội nghị chủ nợ. Nếu hội nghị chủ nợ ra nghị quyết thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận nghị quyết này (điều 87 và các điều tiếp theo).

Các biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh khá đa dạng, bao gồm: huy động vốn; giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ; thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; đổi mới công nghệ sản xuất; tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất; bán cổ phần cho chủ nợ và những người khác; bán hoặc cho thuê tài sản và các biện pháp khác không trái quy định pháp luật.

Dễ nhận thấy đây là một danh sách mở, các bên có thể xem xét khả năng áp dụng các biện pháp khác ngoài danh sách này giúp doanh nghiệp phục hồi hoạt động. Nghị quyết của hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có thể xác định thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, nếu không xác định, thời hạn là ba năm kể từ ngày hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản khi (i) doanh nghiệp không còn tài sản để thanh toán lệ phí nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hay chi phí phá sản, (ii) hội nghị chủ nợ đã được hoãn nhưng khi triệu tập lại vẫn không đáp ứng điều kiện theo quy định, (iii) hội nghị chủ nợ không thông qua được nghị quyết trong lần họp đầu hay không tổ chức lại được hội nghị chủ nợ để thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hay không thông qua được nghị quyết về phương án này, hoặc (iv) doanh nghiệp không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn quy định, không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh hoặc vẫn mất khả năng thanh toán khi hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

Như vậy, Luật Phá sản 2014 mở ra nhiều cánh cửa hơn cho doanh nghiệp để rút khỏi thị trường một cách hợp pháp.

Hơn nữa, điều 37, Luật Phá sản 2014 để ngỏ khả năng thương lượng giữa chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản với doanh nghiệp mất khả năng thanh toán về việc rút đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Tuy nhiên, điều luật này không đề cập cụ thể về các biện pháp mà hai bên có thể đàm phán để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp như chuyển nợ thành phần vốn góp/cổ phần, thay đổi vị trí ưu tiên thanh toán của khoản nợ có bảo đảm hay khoản nợ không có bảo đảm, chuyển khoản nợ có bảo đảm thành khoản nợ không có bảo đảm và ngược lại, tăng hoặc giảm vốn góp…

Mặt khác, Luật Phá sản 2014 chỉ đề cập đến trường hợp doanh nghiệp chủ động chấm dứt hợp đồng đang có hiệu lực (điều 61 và 62) chứ không có quy định nào về giá trị pháp lý của điều khoản trong hợp đồng ký với doanh nghiệp cho phép phía bên kia đơn phương chấm dứt hợp đồng khi phát hiện doanh nghiệp mất khả năng thanh toán vốn được sử dụng rất phổ biến trong thực tế. Thêm vào đó, vẫn còn quá ít quy định về trách nhiệm pháp lý của người quản lý doanh nghiệp trước và trong thủ tục phá sản.

Theo ThoibaokinhteSaigon

Thủ Tục Phá Sản Ngân Hàng Theo Luật Phá Sản 2014

1. Cơ sở pháp lý điều chỉnh thủ tục phá sản ngân hàng

Cơ sở pháp lý điều chỉnh thủ tục phá sản ngân hàng là Luật Phá sản 2014.

2. Thủ tục phá sản ngân hàng là một thủ tục đặc biệt

Sự tồn tại và hoạt động của ngân hàng ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế, xã hội, đến lợi ích chung của cộng đồng nên việc phá sản các doanh nghiệp này cũng được pháp luật quy định một cách thận trọng, chặt chẽ. Thủ tục phá sản ngân hàng không giống thủ tục phá sản thông thường áp dụng đối với các doanh nghiệp và hợp tác xã – bạn có thể tham khảo Thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.

3. Về thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng chỉ thực hiện sau khi Ngân hàng nhà nước có một trong các văn bản sau:

văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán

văn bản không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán…

Khi ngân hàng có nguy cơ mất khả năng thanh toán, Ngân hàng nhà nước sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát, đặc biệt đối với ngân hàng đó. Việc mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng sẽ được thực hiện khi ngân hàng không có khả năng khôi phục được khả năng thanh toán.

4. Về quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Nhũng người sau đây được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với ngân hàng:

Chủ nợ không có bảo đàm, chủ nợ có bảo đảm một phần;

Người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở;

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng;

Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng trong trường hợp điều lệ ngân hàng có quy định;

Ngân hàng có nghĩa vụ nộp đơn yếu cầu mở thủ tục phá sản; trường hợp ngân hàng không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản thì Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sân đốị với ngân hàng đó.

5. Về thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng

Toà án nhân dân thụ lí đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ngân hàng khi đã có một trong các văn bản sau:

văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt

văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

mà ngân hàng vẫn mất khả năng thanh toán.

6. Về hoàn trả khoản vay đặc biệt trong thủ tục phá sản ngân hàng

Nếu ngân hàng bị tuyên bổ phá sản có khoản vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ngân hàng khác theo quy định của Luật Các ngân hàng thì phải hoàn trả khoản vay đặc biệt trước khi thực hiện phân chia tài sản theo quy định.

7. Về hoàn trả tài sản gửi giữ cho khách hàng trong thủ tục phá sản ngân hàng

8. Về giao dịch cùa ngân hàng trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt

Các giao dịch của ngân hàng thực hiện trong giai đoạn Ngân hàng Nhà nước Việt Nam áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thạnh toán sẽ không áp dụng quy định về giao dịch vô hiệu, bởi đó đều là những giao dịch cần thiết cho việc đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng.

9. Về thứ tự phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Việc phân chịa tài sản cua ngân hàng có những khác biệt so với doanh nghiệp, hợp tác xã thông thường. Thứ tự ưu tiên phân chia tài sản như sau:

a. Nhóm ưu tiên số 1 phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Chi phí phá sản;

Các khoản nợ tiền công, tiền lương đối với người lao động

Các khoản tiền gửi, khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả

Các khoản nợ ngân sách nhà nước

b. Nhóm ưu tiên số 2 phân chia tài sản trong thủ tục phá sản ngân hàng

Nhóm ưu tiên số 2 gồm chủ sở hữu ngân hàng, các thành viên góp vốn là tổ chức và cá nhân.

Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán theo quy định cho các khoản nợ theo quy định thì các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỉ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

10. Về quyết định tuyên bố ngân hàng phá sản

Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản tí, thanh lí tài sản lập xong danh sách chù nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của ngân hàng, Toà án nhân dân ra quyết định tuyên bố ngân hàng phá sản.

11. Thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

Các bước thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là:

a) Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã

Bạn có thể tìm hiểu thêm khi đọc bài viết Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã của chúng tôi.

b) Thi hành quyểt định tuyên bố phá sản

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bổ phá sản, cơ quan thi hành án dân sự có ttách nhiệm ra quyết định thi hành, phân công Chấp hành viên thi hành quyết định tuyên bố phá sản.

Sau khi nhận được quyết định phân công của Thủ ttưởng cơ quan thi hành án dẫn sự, Chấp hành viên thực hiện các nhiệm vụ sau:

Mở một tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản để gửi các khoản tiền thu hồi được của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

Giám sát, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sàn thực hiện thanh lí tài sản;

Thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sần, giao tài sản cho người mua được tài sản trong vụ việc phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

Dựa trên báo cáo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lí, thanh lí tài sản về kết quả thanh lí tài sản, Chấp hành viên thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản. Việc phân chia tài sản phải thực hiện theo thứ tự do pháp luật quy định. Để hiểu thêm, bạn hãy đọc bài viết Thứ tự phân chi tài sản khi phá sản của chúng tôi. Nểu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỉ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

13. Dịch vụ luật sư doanh nghiệp của Luật Thái An

Trong bối cảnh kinh doanh sôi động, doanh nghiệp càng phát triển thì việc kinh doanh và quản trị doanh nghiệp càng khó khăn, phức tạp. Một trong các thách thức đối với tất cả các doanh nghiệp là bảo đảm hoạt động kinh doanh và quản trị doanh nghiệp tuân thủ các quy định của pháp luật. Làm được điều này sẽ giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro pháp lý như bị các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự, cũng như phòng ngừa ranh chấp lao động, tranh chấp nội bộ doanh nghiệp hoặc các kiện tụng từ phía khách hàng, đối tác…

Nếu bạn cần được tư vấn luật doanh nghiệp, luật đầu tư… hãy tham khảo bài viết Tư vấn pháp luật cho doanh nghiệp của chúng tôi.

Tác giả bài viết:

Tiến sỹ luật học, Luật sư Nguyễn Văn Thanh – Giám đốc Công ty luật Thái An

Thành viên Đoàn Luật sư TP. Hà Nội và Liên đoàn Luật sư Việt Nam

Lĩnh vực hành nghề chính: * Tư vấn pháp luật: Doanh nghiệp, Đầu tư, Xây dựng, Thương mại, Lao động, Dân sự, Hình sự, Đất đai, Hôn nhân và gia đình * Tố tụng và giải quyết tranh chấp: Kinh doanh thương mại, Đầu tư, Xây dựng, Lao động, Bảo hiểm, Dân sự, Hình sự, Hành chính, Đất đai, Hôn nhân và gia đình 

Những Điểm Mới Của Luật Phá Sản 2014 So Với Luật Phá Sản 2004

Trong Luật phá sản 2004 quy định hiệu lực của Luật phá sản áp dụng ” khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp phạm vi áp dụng chỉ đối với “doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này rõ ràng mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ. Bởi lẽ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài có hoặc không có trụ sở đặt tại Việt Nam. Vì vậy, đối với các doanh nghiệp nước ngoài mà không có trụ sở, không có tài sản mà chỉ có một số hoạt động tại Việt Nam, khi mất khả năng thanh toán thì không thể áp dụng Luật Phá sản của Việt Nam để giải quyết.

Trong khi Luật Phá sản năm 2004 chỉ quy định chung chung “doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu coi là lâm vào tình trạng phá sản”, thì tạ i Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014 đã có những thay đổi theo hướng rõ ràng và cụ thể hơn: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”

Như vậy, chỉ cần xác định là có khoản nợ và đến thời điểm tòa án quyết định việc mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn không thanh toán thì tòa án có thể ra quyết định mở thủ tục phá sản. Ngoài ra, việc mất khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ.

Thời hạn phải thanh toán là 03 tháng giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã chưa có khả năng thanh toán có thể tìm các phương án khác để thanh toán nợ đến hạn trước khi bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Quy định này phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của một số nước khi cho phép con nợ có thời hạn trễ hạn thanh toán sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ, đồng thời khắc phục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ như quy định cũ.

So với Luật phá sản 2004, Luật Phá sản năm 2014 quy định theo hướng mở rộng phạm vi và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để đảm bảo quyền lợi của mình.

Trước đây trong Luật cũ, người lao động phải nộp đơn thông qua đại diện, thì trong luật mới, người lao động có quyền tự mình nộp đơn mà không cần phải thông qua đại diện.

Để đảm đảm bảo tính khách quan, Luật Phá sản mới bổ sung quy định về trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản. Đồng thời, Luật cũng bỏ quy định “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó”. Vì theo quy định hiện hành, tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và hoạt động trong khuôn khổ luật doanh nghiệp. Tòa án cấp huyện đương nhiên có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp này, trừ khi nó có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài.

Quản tài viên là người đảm bảo các điều kiện quy định tại điều 12 Luật Phá sản: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan; Có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Những người được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên gồm: Luật sư; Kiểm toán viên;Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo.

Quản tài viên có quyền và nghĩa vụ được quy định tại điều 16 Luật Phá sản 2014, được hưởng thù lao và thực hiện trách nhiệm bảo hiểm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Quản tài viên được Thẩm phán thụ lý chỉ định, trong quá trình công tác có thể bị những người tham gia thủ tục phá sản yêu cầu thay đổi.

Do Luật Phá sản 2004 chưa có quy định cụ thể về việc xác định khoản lãi đối với các khoản nợ đến hạn và chưa đến hạn, đặc biệt là các khoản nợ mới phát sinh trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản đã dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất về việc tính lãi đối với các khoản nợ, nên không bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản. Để khắc phục tình trạng này, Luật Phá sản 2014 đã bổ sung quy định về xác định tiền lãi đối với khoản nợ, theo đó, kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ vẫn được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Điều 86 Luật này, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 95 của Luật này, thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện trả lãi theo thỏa thuận; đối với các khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của các khoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật; kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ không được tiếp tục tính lãi.

Luật Phá sản quy định, sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, người giữ chức vụ giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị của các công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước không được cử đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào. Kể cả những người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp khác như công ty TNHH, công ty cổ phần… mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản, thì cũng không được cử đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.

Đối với các chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, hội đồng thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, thì không được quyền thành lập DN, không được làm người quản lý doanh nghiệp từ một đến ba năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.

Tuy nhiên, Luật cũng quy định rõ các trường hợp sẽ không áp dụng các quy định trên, đó là trong trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng.