Top 5 # Xem Nhiều Nhất Luật Phá Giá Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Hoàn Thiện Pháp Luật Chống Bán Phá Giá

Trưởng phòng Công tác Đại biểu, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Tây Ninh

Pháp luật về chống bán phá giá (CBPG) của Việt Nam được hình thành trong giai đoạn nước ta thực hiện những nỗ lực nước rút để gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Mục tiêu được đặt ra đối với chế định này là hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam cho phù hợp với quy định của WTO và sẵn sàng cho thời kỳ hội nhập sau khi gia nhập tổ chức này. Trước đó, không có bất kỳ một tiền lệ hay một quy định nào điều chỉnh cụ thể vấn đề này. Trên thực tế, khi soạn thảo các văn bản thuộc chế định này, các cơ quan chịu trách nhiệm soạn thảo, các cơ quan thẩm tra, các nhà tư vấn trong và ngoài nước đều dựa trên những quy định về CBPG của WTO và một số nước thành viên WTO. Về cơ bản, tất cả các quy định của pháp luật Việt Nam về CBPG đều tuân thủ các quy định tại Hiệp định ADA . Vì thế, về mặt nguyên tắc, Việt Nam không cần điều chỉnh, sửa đổi các văn bản hiện hành về CBPG để tuân thủ cam kết WTO.

Mặt khác, chúng tôi thấy Việt Nam có thể vận dụng các quy định pháp luật về CBPG của WTO và Việt Nam theo hướng bảo vệ quyền lợi chính đáng của các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam.Tuy nhiên vấn đề này trong thời gian qua còn bỏ ngỏ do Việt Nam mới gia nhập WTO, kinh nghiệm pháp lý còn hạn chế, việc vận dụng sao cho linh hoạt các quy định về bán phá giá để vừa đảm bảo tốt nhất quyền lợi của Việt Nam, vừa tránh việc bị các nước Thành viên khác kiện ra WTO không phải là dễ dàng. Kinh nghiệm kiểu “thử – sai” như những nước có hoàn cảnh tương tự[6] rất khó áp dụng lại. Bởi, hiện nay nhiều nước đã sử dụng tương đối nhuần nhuyễn công cụ giải quyết tranh chấp trong WTO để kiện về các vụ việc điều tra CBPG sai nguyên tắc[7].

Mặt khác, xuất phát từ đặc điểm nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế đang phát triển và đang hội nhập sâu vào thị trường thương mại quốc tế, ngoài việc phải đối mặt với những vụ kiện bán phá giá ngoài quốc gia, các doanh nghiệp Việt Nam còn phải đối phó với những hành vi cạnh tranh thương mại không lành mạnh ngay chính thị trường nội địa cũng đang diễn biến khá phức tạp. Theo các cam kết WTO, thị trường Việt Nam đang mở rộng dần cho hàng hóa nước ngoài, vì vậy, nguy cơ hàng nước ngoài nhập khẩu bán phá giá vào Việt Nam gây thiệt hại cho sản xuất nội địa cũng từ đó tăng lên.

Trong khi đó, PL CBPG Việt Nam sau hơn bảy năm có hiệu lực vẫn chưa được áp dụng trong thực tiễn do các quy định còn đơn giản và sơ khai, hệ thống cơ quan điều tra và xử lý vụ việc CBPG còn yếu về nhân lực và kinh nghiệm áp dụng pháp luật, quan hệ kinh tế – chính trị song phương và đa phương có thể ảnh hưởng đến quyết tâm xử lý vụ việc CBPG của doanh nghiệp và của Nhà nước, sự yếu kém trong việc quản lý xuất nhập khẩu có thể ảnh hưởng đến công tác điều tra và áp dụng các biện pháp CBPG đối với hàng hóa nhập khẩu bán phá giá. Thực tế chứng minh, mặc dù đã có nghi vấn về việc hàng hóa nhập khẩu bán phá giá, song các doanh nghiệp Việt Nam chưa nộp đơn khiếu nại và cơ quan có thẩm quyền chưa ra quyết định điều tra về vụ việc CBPG[8].

Xuất phát từ nhận định nhu cầu áp dụng pháp luật CBPG là đòi hỏi khách quan của quá trình toàn cầu hóa, là xu thế chung của các nước và cũng là nhu cầu thực tế của Việt Nam để bảo vệ ngành sản xuất trong nước, chúng tôi cho rằng, việc sửa đổi, bổ sung các quy định của PL CBPG nói chung, quy định về cách tính biên độ phá giá nói riêng cần được quan tâm và nhanh chóng thực hiện. Nhà nước nên xem đây là một mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài đối với Việt Nam trong công tác hoàn thiện các quy định pháp luật của Việt Nam trên hai phương diện:

Thứ nhất, các quy định này đảm bảo là công cụ ngăn chặn, xử lý các hành vi bán phá giá của hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài vì những mục đích cạnh tranh thương mại không lành mạnh, gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa.

Thứ hai, các quy định này phải là phương tiện đấu tranh chống lại sự lạm dụng các biện pháp CBPG đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam.

Vì vậy, thiết nghĩ Việt Nam cần sớm tổ chức sơ kết hoặc tổng kết rút kinh nghiệm việc thực hiện một số văn bản sau: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO; Nghị quyết 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành trung ương Đảng khoá X về một số chủ trương chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO; Chỉ thị số 20/2005/CT-TTg ngày 09/6/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc chủ động phòng chống các vụ kiện thương mại nước ngoài.

Việc sơ kết, tổng kết nói trên nhằm đánh giá những thuận lợi và khó khăn qua một thời gian thực hiện các chiến lược, nội dung chỉ đạo này để kịp thời sửa đổi, bổ sung một số giải pháp về cải cách thể chế. Đồng thời, để nâng cao chất lượng việc ban hành một số quy định pháp lý nói chung, các quy định để cụ thể hóa và thực thi các quy định của WTO, Hiệp định ADA trong lĩnh vực bán phá giá vào Việt Nam nói riêng, tránh tình trạng văn bản đã có hiệu lực pháp luật nhưng không thể áp dụng vào thực tiễn như hiện nay. Cụ thể như sau:

– Quy định về nội dung cụ thể của các phương pháp tính giá thông thường trong điều tra CBPG: thiếu các quy định về việc xác định điều kiện và cách thức tính giá thông thường của từng phương pháp… theo Điều 2 Hiệp định ADA;

– Quy định về nội dung cụ thể của phương pháp xác định thiệt hại do việc nhập khẩu hàng hóa bán phá giá gây ra cho ngành sản xuất nội địa: thiếu quy định về việc xác định thiệt hại của ngành sản xuất vùng, về nghĩa vụ bắt buộc[10] phải xem xét các yếu tố khác cùng gây ra thiệt hại ngoài việc hàng nhập khẩu bán phá giá

– Các quy định hiện hành chưa giải thích chi tiết về việc xác định giá bán trong các giao dịch xuất khẩu không đáng tin cậy, về quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp xuất khẩu nước ngoài và nhà nhập khẩu Việt Nam, chưa đưa ra phương pháp sẽ áp dụng phương pháp nào để tính biên độ phá giá (có cho hoặc không cho phép sử dụng phương pháp Zeroing)…

Qua đó nhận thấy, các quy định của PL CBPG năm 2004 nói chung, quy định về cách tính biên độ phá giá nói riêng còn mang tính chất “khung” trong khi thực tiễn áp dụng pháp luật đòi hỏi phải dự liệu từng căn cứ, từng chi tiết cụ thể và những tình huống có thể xảy ra khi tính toán giá thông thường; giá xuất khẩu. Vì thế, PL CBPG đã được ban hành và có hiệu lực từ 01/10/2004 nhưng chưa được áp dụng trên thực tế sau bảy năm ban hành. Có lẽ, một trong những nguyên nhân chính là do khung pháp lý về CBPG của chúng ta chưa hoàn thiện nên chưa thể ứng dụng vào thực tiễn.

Thiết nghĩ, việc chúng ta cần bổ sung vào chương trình xây dựng luật của Quốc hội khóa XIII, nhiệm kỳ 2011-2016 nội dung sửa đổi, bổ sung PL CBPG năm 2004 dưới hình thức Luật CBPG[11].

Quy Định Của Pháp Luật Hiện Hành Về Vấn Đề Chống Bán Phá Giá ?

– Thông tin xác định danh tính của chủ thể nộp đơn, các mô tả về số lượng và giá trị SPTT do chủ thể nộp đơn sản xuất ra.

– Nếu đơn được nộp nhân danh ngành sản xuất trong nước thì phải nêu rõ tên của tất cả các nhà sản xuất nội địa sản xuất ra SPTT được biết đến (hoặc tên các hiệp hội các nhà sản xuất SPTT trong nước), mô tả về số lượng và giá trị SPTT do các chủ thể đó sản xuất ra;

– Thông tin mô tả đầy đủ về sản phẩm bị nghi là bán phá giá, tên của nước hoặc các nước xuất khẩu hoặc xuất xứ của những sản phẩm đó; danh tính của mỗi nhà xuất khẩu hoặc sản xuất nước ngoài được biết đến và danh sách các chủ thể nhập khẩu sản phẩm đó;

– Thông tin về giá thông thường (thông tin về bán sản phẩm tương tự tại thị trường nước (hoặc các nước) xuất khẩu hoặc xuất xứ (hoặc thông tin về giá bán của sản phẩm đó từ nước xuất khẩu hoặc xuất xứ sang một (các) nước thứ ba hoặc thông tin về giá tự tính toán)

2. Các yêu cầu về bằng chứng:

Đơn yêu cầu phải bao gồm các bằng chứng xác thực về:

– việc bán phá giá; và

– thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước; và

– mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại nói trên;

+ Ngành sản xuất SPTT nội địa nước nhập khẩu bao gồm những chủ thể nào?

ADP định nghĩa “ngành sản xuất nội địa” là “tập hợp/tổng thể các nhà sản xuất trong nước của nước nhập khẩu sản xuất SPTT (với sản phẩm bị điều tra) hoặc những nhà sản xuất có tổng sản phẩm chiếm phần đáng kể trong tổng sản lượng sản xuất trong nước những sản phẩm đó”.

2.2. Tuy nhiên, ADP có dự liệu một số ngoại lệ:

Ngoại lệ 1: Trường hợp bị loại trừ khỏi khái niệm “ngành sản xuất SPTT nội địa”

– Nhà sản xuất nội địa đồng thời là nhà nhập khẩu những sản phẩm đang bị điều tra chống bán phá giá;

Ngoại lệ 2: Trường hợp thu hẹp khái niệm “ngành sản xuất trong nước”

Trong một số trường hợp, lãnh thổ nước nhập khẩu có thể được chia thành hai hoặc nhiều thị trường cạnh tranh riêng biệt và tập hợp các nhà sản xuất tại một trong những thị trường đó có thể được coi là ngành sản xuất nội địa độc lập (hoặc ngành sản xuất nội địa vùng – regional industry) nếu:

(i) các nhà sản xuất tại thị trường đó bán toàn bộ hoặc gần như toàn bộ sản phẩm của họ tại thị trường đó; và

Khi xảy ra trường hợp như thế này, có thể coi là có thiệt hại ngay cả khi phần lớn ngành sản xuất trong lãnh thổ nước nhập khẩu không bị tổn hại gì (do nằm ở các vùng khác) nếu:

– Có sự tập trung lượng hàng nhập khẩu bán phá giá vào thị trường (vùng) đó; và

– Hàng nhập khẩu được bán phá giá gây tổn hại (thiệt hại) đối với các nhà sản xuất sản xuất ra toàn bộ hoặc gần như toàn bộ lượng sản phẩm tại thị trường đó.

Ngoại lệ 3: Trường hợp mở rộng khái niệm “ngành sản xuất nội địa”

Các trường hợp này xảy ra khi thị trường hai hoặc nhiều quốc gia đã đạt đến một mức độ hội nhập cao, có những đặc tính của một thị trường thống nhất (ví dụ: trường hợp của Liên minh châu Âu). Khi đó, ngành sản xuất trong toàn bộ khu vực kinh tế đã hội nhập được hiểu chung là “ngành sản xuất nội địa”: điều này có nghĩa là thiệt hại được xem xét là thiệt hại đối các ngành sản xuất của tất cả các quốc gia trong khu vực kinh tế hội nhập đó chứ không riêng ngành sản xuất của quốc gia nào.

– Cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu có quyền tự do lựa chọn một nước thứ ba thay thế và giá cả ở nước này có thể khác xa giá cả tại nước xuất khẩu do có các điều kiện, hoàn cảnh thương mại khác nhau;

– Rất có thể các nhà sản xuất SPTT tại nước thứ ba được lựa chọn là những đối thủ cạnh tranh của các nhà sản xuất nước xuất khẩu đang bị điều tra và vì thế họ có thể khai báo mức giá khiến kết quả so sánh giá XK với giá TT (biên độ phá giá) bất lợi cho những nhà sản xuất nước xuất khẩu…

Một trong các yếu tố khiến giá TT không được tính theo cách tính chuẩn (tính theo giá bán tại thị trường nội địa nước XK) là SPTT được bán tại thị trường nội địa với khối lượng không đáng kể.

Khối lượng SPTT bán cho tiêu dùng trong nước sẽ bị coi là không đáng kể nếu thấp hơn 5% lượng sản phẩm xuất khẩu sang nước đang tiến hành điều tra.

Tuy nhiên, cơ quan điều tra vẫn có thể sử dụng giá bán tại thị trường nội địa để xác định giá TT nếu có bằng chứng cho thấy dù lượng sản phẩm bán ra thị trường nội địa không đạt tỷ lệ 5% nhưng số lượng này cũng đủ để so sánh được với giá XK một cách hợp lý để tính biên độ phá giá.

Một trong các điều kiện để có thể sử dụng cách tính giá TT chuẩn (giá TT được tính theo giá bán của SPTT tại thị trường nội địa của nước xuất khẩu) là SPTT được bán tại thị trường này trong điều kiện thương mại thông thường.

Hiện không có định nghĩa cụ thể thế nào là hàng hoá bán trong điều kiện thương mại thông thường. Tuy nhiên, ADP có nêu một trường hợp có thể được coi là không được bán theo điều kiện thương mại thông thường: đó là khi SPTT được bán tại thị trường nội địa hoặc bán sang một nước thứ ba với mức giá không đủ bù đắp chi phí sản xuất theo đơn vị sản phẩm (giá thành sản xuất + chi phí bán hàng, quản trị, chi phí chung) (bán lỗ vốn).

Tuy vậy, sản phẩm tương tự bị bán lỗ vốn tại thị trường nội địa chỉ bị coi là không được bán theo các điều kiện thương mại thông thường và do đó, giá bán sản phẩm tại thị trường nội địa không được coi là giá thông thường khi:

– Việc bán hàng lỗ vốn đó được thực hiện trong một khoảng thời gian kéo dài (thường là 1 năm, và trong mọi trường hợp cũng không được ít hơn 6 tháng); và

– Hàng hóa bị bán lỗ vốn này được bán với một số lượng đáng kể, tức là:

+ Lượng sản phẩm bán lỗ vốn không ít hơn 20% tổng số sản phẩm được bán (trong giao dịch đang được xem xét để xác định giá trị thông thường); hoặc

+ Giá bán bình quân gia quyền thấp hơn chi phí bình quân gia quyền.

Tuy nhiên nếu sản phẩm bị bán với giá thấp hơn mức chi phí sản xuất nhưng giá bán này vẫn cao hơn chi phí bình quân gia quyền trong khoảng thời gian được điều tra thì việc bán lỗ vốn này được xem như hành động bán hàng để thu hồi vốn (bù đắp các chi phí) trong khoảng thời gian hợp lý và vẫn được coi là việc bán hàng theo các điều kiện thương mại thông thường.

Bán phá giá (vào thị trường nước ngoài) thường bị coi là một hiện tượng tiêu cực do nó làm giảm khả năng cạnh tranh về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước nhập khẩu.

Tuy nhiên, ở một góc độ khác, bán phá giá có thể có tác động tích cực đối với nền kinh tế: người tiêu dùng được lợi vì có thể mua hàng với giá rẻ hơn; nếu hàng bị bán phá giá là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất khác, giá nguyên liệu rẻ có thể là yếu tố góp phần tạo nên sự tăng trưởng nhất định của ngành đó; giá giảm có thể là động lực thúc đẩy ngành sản xuất trong nước tự đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh,…

Vì thế không phải mọi hành vi bán phá giá đều bị lên án và phải chịu thuế chống bán phá giá. Theo qui định của WTO, các biện pháp chống bán phá giá chỉ được thực hiện trong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng các điều kiện cụ thể.

Thuế chống bán phá giá là khoản thuế bổ sung bên cạnh thuế nhập khẩu thông thường, do cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu ban hành, đánh vào sản phẩm nước ngoài bị bán phá giá vào nước nhập khẩu. Đây là loại thuế nhằm chống lại việc bán phá giá và loại bỏ những thiệt hại do việc hàng nhập khẩu bán phá giá gây ra.

Việc bán phá giá (dumping) được xác định như thế nào?

Việc bán phá giá được xác định thông qua việc so sánh về giá giữa giá thông thường và giá xuất khẩu theo công thức:

Giá thông thường – Giá xuất khẩu = X

(trong đó các giá này phải được đưa về cùng một cấp độ thương mại mà thường là “giá xuất xưởng”)

Biên độ phá giá (dumping margin) được tính như thế nào?

Biên độ phá giá được tính theo công thức:

Biên độ phá giá= (Giá thông thường – Giá xuất khẩu)/Giá xuất khẩu

Giá thông thường và giá xuất khẩu được so sánh với nhau như thế nào?

Việc xác định thiệt hại (determination of injury) bao gồm những nội dung gì?

Việc xác định thiệt hại được tiến hành trên hai khía cạnh sau:

(i) khối lượng sản phẩm nhập khẩu được bán phá giá và ảnh hưởng của việc này đến giá của sản phẩm tương tự tại thị trường nội địa nước nhập khẩu;

Cụ thể, về khối lượng sản phẩm nhập khẩu bị điều tra, cơ quan điều tra phải xem xét xem trên thực tế có sự tăng đáng kể (tuyệt đối hoặc tương đối) của hàng nhập khẩu bán phá giá so với mức sản xuất hoặc nhu cầu tiêu dùng tại nước nhập khẩu hay không.

Về tác động của hàng nhập khẩu bán phá giá đối với giá của sản phẩm thông thường (SPTT) tại thị trường nước nhập khẩu, cơ quan có thẩm quyền phải xem xét trên hai khía cạnh:

– Hàng nhập khẩu bán phá giá có phải là đã được bán với giá thấp hơn một cách đáng kể so với giá của SPTT tại thị trường nước nhập khẩu hay không?; hoặc

– Việc hàng nhập khẩu bán phá giá đó có đúng là đã làm giảm giá của SPTT trên thị trường nước nhập khẩu ở mức đáng kể hoặc ngăn không cho giá tăng đáng kể hay không (điều mà lẽ ra sẽ không xảy ra nếu không bán phá giá hàng nhập đó)?

(ii) hậu quả của việc nhập khẩu này đối với các nhà sản xuất các sản phẩm này của nước nhập khẩu

Hệ quả của việc bán phá giá đối với ngành sản xuất nội địa nước xuất khẩu được xem xét trên một loạt các nhân tố khác nhau của ngành sản xuất đó và những thiệt hại của ngành sản xuất cũng có thể được xem xét ở nhiều dạng khác nhau.

Thiệt hại (injury) đối với ngành sản xuất nội địa nước nhập khẩu là những thiệt hại loại gì ? Các yếu tố cần xem xét khi xác định thiệt hại thực tế (actual injury) ?

Thiệt hại phải được xem xét trên tất cả các yếu tố và chỉ số kinh tế có thể có tác động đến thực trạng của ngành sản xuất, ví dụ:

– Mức suy giảm thực tế và tiềm ẩn của doanh số, lợi nhuận, sản lượng, thị phần, năng suất, tỷ lệ lãi đối với đầu tư, tỷ lệ năng lực được sử dụng, giá,…;

– Các nhân tố ảnh hưởng đến giá trong nước;

– Các nhân tố ảnh hưởng xấu thực tế hoặc tiềm ẩn đối với quá trình chu chuyển tiền mặt, lượng lưu kho, công ăn việc làm, lương, tăng trưởng, khả năng huy động vốn, nguồn đầu tư…;

– Độ lớn của biên độ bán phá giá;…

Các yếu tố cần xem xét khi xác định nguy cơ thiệt hại (threat of injury) ? Trường hợp hàng hóa bị bán phá giá nhập khẩu với số lượng quá nhỏ thì có bị điều tra chống bán phá giá không ?

Việc điều tra chống bán phá giá chỉ được thực hiện khi số lượng, khối lượng hàng bị bán phá giá nhập khẩu từ một nước xuất khẩu không dưới mức tối thiểu là 3% tổng lượng nhập khẩu hàng hóa bị điều tra vào nước nhập khẩu.

Do đó, các quốc gia có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để xác định mối quan hệ này (ví dụ: sự trùng hợp về thời gian giữa việc bán phá giá và thiệt hại xảy ra, các phân tích kinh tế để xác định mức tăng trưởng của ngành sản xuất nội địa nếu như không có việc bán phá giá của hàng nhập khẩu…).

Ai được quyền yêu cầu tiến hành điều tra chống bán phá giá ?

Các chủ thể có thể đưa ra yêu cầu điều tra chống bán phá giá bao gồm:

(i) ngành sản xuất trong nước/nội địa nước nhập khẩu hoặc chủ thể nhân danh cho ngành sản xuất trong nước; hoặc

(ii) cơ quan có thẩm quyền của nước nhập khẩu.

– Thông tin xác định danh tính của chủ thể nộp đơn, các mô tả về số lượng và giá trị sản phẩm do chủ thể nộp đơn sản xuất ra.

Nếu đơn được nộp nhân danh ngành sản xuất trong nước thì phải nêu rõ tên của tất cả các nhà sản xuất nội địa sản xuất ra sản phẩm thông thường (SPTT) được biết đến (hoặc tên các hiệp hội các nhà sản xuất SPTT trong nước), mô tả về số lượng và giá trị SPTT do các chủ thể đó sản xuất ra;

– Thông tin mô tả đầy đủ về sản phẩm bị nghi là bán phá giá, tên của nước hoặc các nước xuất khẩu hoặc xuất xứ của những sản phẩm đó; danh tính của mỗi nhà xuất khẩu hoặc sản xuất nước ngoài được biết đến và danh sách các chủ thể nhập khẩu sản phẩm đó;

– Thông tin về giá thông thường (thông tin về giá bán SPTT tại thị trường nước xuất khẩu/ xuất xứ hoặc thông tin về giá bán của SPTT từ nước xuất khẩu/xuất xứ sang nước thứ ba hoặc thông tin về trị giá tính toán)

– Thông tin về sự gia tăng số lượng sản phẩm nhập khẩu bị nghi là bán phá giá; ảnh hưởng của việc này đến giá của SPTT tại thị trường nội địa nước nhập khẩu; ảnh hưởng của việc này đối với ngành sản xuất nội địa (thể hiện qua các yếu tố thể hiện tình trạng của ngành sản xuất nội địa)

Đơn yêu cầu phải bao gồm các bằng chứng xác thực về:

– Việc bán phá giá; và

– Thiệt hại đối với ngành sản xuất trong nước; và

– Mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại nói trên;

Trong các trường hợp như vậy, biên độ phá giá (căn cứ để tính thuế chống bán phá) sẽ được tính riêng cho từng nhà sản xuất, xuất khẩu được lựa chọn điều tra. Những nhà sản xuất, xuất khẩu không được chọn nhưng vẫn cung cấp thông tin kịp thời phục vụ quá trình điều tra vẫn có thể được tính biên độ phá giá riêng nếu số lượng các chủ thể này không quá lớn. Đối với tất cả các trường hợp không được điều tra còn lại, biên độ phá giá sẽ được ấn định không cao hơn biên độ phá giá bình quân gia quyền của các nhà sản xuất, xuất khẩu được lựa chọn để điều tra.

Các quyết định phải được thông báo bao gồm:

– Quyết định bắt đầu điều tra;

– Kết luận/quyết định sơ bộ;

– Kết luận/quyết định cuối cùng.

Trường hợp nêu được lý do chính đáng, các bên cung cấp thông tin có thể yêu cầu cơ quan điều tra giữ bí mật thông tin do mình cung cấp (nhưng phải có bản tóm tắt thay thế)

Các quyền tố tụng cơ bản khác:

– Quyền được thông báo về các thông tin mà cơ quan có thẩm quyền yêu cầu;

– Quyền được cung cấp các bằng chứng bằng văn bản, quyền được trực tiếp trình bày chứng cứ, lập luận (tại các phiên điều trần, gặp gỡ các bên);

– Quyền được bố trí phiên điều trần;

– Quyền được thông báo trước về các chứng cứ cơ bản mà cơ quan có thẩm quyền sẽ sử dụng làm căn cứ ban hành quyết định cuối cùng;

– Quyền được yêu cầu được tính biên độ phá giá riêng

Biện pháp tạm thời (provisional measures) là gì ? Mức thuế chống bán phá giá được xác định như thế nào ?

Mức thuế chống bán phá giá được xác định theo biên độ phá giá và trong mọi trường hợp không được cao hơn biên độ phá giá. Một số nước có quy định áp dụng mức thuế chống bán phá giá thấp hơn biên độ phá giá nếu mức đó đã đủ để loại bỏ thiệt hại.

Thuế chống bán phá giá có hiệu lực trong bao lâu ?

Về nguyên tắc, thuế chống bán phá giá sẽ chấm dứt sau 5 năm kể từ thời điểm quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá. Tuy nhiên, nếu cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu, sau khi tiến hành rà soát, đi đến kết luận là việc bán phá giá gây thiệt hại có nhiều khả năng tiếp tục duy trì hoặc tái diễn nếu thuế chống bán phá giá chấm dứt hiệu lực thì thuế này sẽ tiếp tục được áp dụng thêm 5 năm nữa.

Quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá có thể được rà soát lại (review) không ?

Quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá có thể được xem xét lại thông qua thủ tục rà soát lại. Việc rà soát lại có thể dẫn tới việc chấm dứt áp dụng thuế chống bán phá giá trước thời hạn hoặc, tiếp tục đặt thuế cho đến hết thời hạn 5 nămkéo dài thời hạn áp dụng thuế này thêm 5 năm nữa. hoặc

Có các rà soát lại quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá sau:

– Rà soát lại để yêu cầu hoàn trả thuế (nếu mức thuế đã nộp cao hơn biên độ phá giá thực tế)

– Rà soát lại trong thời hạn 5 năm kể từ khi có quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá chính thức do có thay đổi hoàn cảnh (còn gọi là Rà soát giữa kỳ); và

– Rà soát lại ngay trước khi hết thời hạn 5 năm kể từ khi có quyết định áp đặt thuế chống bán phá giá chính thức (thường được biết đến dưới tên “rà soát hoàng hôn” hoặc “rà soát cuối kỳ”).

Rất mong nhận được phục vụ Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Bộ phận luật sư doanh nghiệp – Công ty luật Minh Khuê

Vì Sao Luật Phá Sản Lại… Phá Sản?

Vì sao Luật Phá sản lại… phá sản?

Luật Phá sản hiện hành chỉ mới bảo vệ chủ nợ mà chưa quan tâm đến con nợ.

Gần 61.000 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động trong năm 2013, theo Tổng cục Thống kê. Con số này khiến cho không ít người phải giật mình. Nhưng điều đáng băn khoăn là rất hiếm trường hợp tuyên bố phá sản trong khi Việt Nam đã có Luật Phá sản 2004.

Muốn phá sản cũng khó

Có nhiều lý do khiến việc tuyên bố phá sản chưa phổ biến. Một phần là do phá sản mang đến áp lực tâm lý nặng nề cho chủ doanh nghiệp khi cộng đồng chưa xem phá sản là chuyện bình thường trong kinh doanh. Thậm chí, nhiều trường hợp còn bị hình sự hóa các quan hệ dân sự. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là do Luật Phá sản hiện hành còn nhiều điểm bất hợp lý.

Cái giá phải trả quá lớn cũng chi phối đến động cơ phá sản của doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp thuộc khu vực phi nhà nước sẽ bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp trong thời hạn từ 1-3 năm kể từ ngày công bố phá sản. Sự trừng phạt đối với lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước còn khắc nghiệt hơn khi họ vĩnh viễn không còn cơ hội sửa sai.

Một nút thắt khác là trình tự xử lý phá sản của Luật Phá sản hiện hành được cho là “quy trình ngược”, tức là xử lý tài sản trước khi tòa án tuyên bố phá sản, dẫn đến doanh nghiệp rơi vào tình trạng sống dở chết dở.

Nhìn chung, Luật Phá sản hiện hành được các chuyên gia đánh giá là chỉ mới bảo vệ và đảm bảo công bằng cho chủ nợ nhưng lại chưa thực sự quan tâm đến con nợ. Trong khi đó, trên thế giới, đặc biệt là Mỹ, pháp luật phá sản được xây dựng để bảo vệ những doanh nghiệp thua lỗ. Theo đó, những tổ chức, cá nhân kinh doanh thua lỗ được quyền mở thủ tục phá sản và được khuyến khích tiếp tục theo đuổi công việc kinh doanh sau đó.

Ở Nhật, Luật Phá sản còn quy định sự phục quyền. Công ty phá sản vào bất cứ lúc nào đều có thể yêu cầu tòa án ra lệnh phục quyền khi đáp ứng được các quy định của pháp luật. Lệnh này được ban hành sẽ hủy bỏ tất cả các quyền đòi nợ khi đã trả tiền lãi, trừ một số khoản nợ như nợ thuế, các khoản tiền phạt hình sự.

Ngoài ra, Nhật quy định tình trạng phá sản đối với pháp nhân là không có khả năng trả nợ khi khoản tiền nợ lớn hơn tài sản có của pháp nhân đó. Điều này giúp các doanh nghiệp bị mất cân đối tài chính tạm thời có thể xoay xở trả nợ nhằm tránh tình trạng phá sản hàng loạt. Trong khi đó, theo pháp luật Trung Quốc, khi doanh nghiệp không có khả năng thanh toán khoản nợ đến hạn thì sẽ bị xem xét khả năng phá sản.

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho rằng cần có thái độ khoan dung đối với những doanh nghiệp đăng ký mở thủ tục phá sản. Theo quan điểm kinh tế, cơ chế phá sản là quá trình phân bổ lại nguồn lực từ nơi kém hiệu quả sang nơi hiệu quả hơn. Ngược lại, để tồn tại những doanh nghiệp “chết mà chưa chôn” trở thành những “xác chết biết đi” sẽ gây ra sự hao phí nguồn lực xã hội và ách tắc trong quản lý cũng như hạn chế cơ hội phục hồi của nền kinh tế nói chung.

Kỳ vọng vào Dự thảo Luật Phá sản

Chính vì những điểm chưa hợp lý nói trên ở Luật Phá sản hiện hành mà Dự thảo Luật Phá sản đã được đưa ra bàn luận nhằm giúp doanh nghiệp “đã chết” được “chôn” và có cơ hội làm lại từ đầu.

Cụ thể, Khoản 1, Điều 5 quy định “chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày chủ nợ có yêu cầu mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ đến hạn”.

Theo Công ty Luật Phước & Partners, việc bổ sung quy định về thời gian so với Luật hiện hành là một “giải pháp phù hợp nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp trả nợ”, còn thời hạn bao lâu tùy thuộc vào nhà làm luật khi cân nhắc lợi ích giữa con nợ và chủ nợ.

Luật Phá sản của Nga cũng có quy định về thời hạn tương tự, trong khi Trung Quốc cho phép chủ nợ khởi kiện vụ án phá sản ngay khi doanh nghiệp không trả được nợ.

Trả lời báo giới, Luật gia Vũ Xuân Tiền cho rằng nên kéo dài thời gian trên thành 6 tháng vì 3 tháng quá ngắn để con nợ có thể xoay xở nguồn tiền.

Quy trình xử lý tài sản ngược nói trên cũng được đảo lại trong dự thảo lần này. Theo đó, sau khi tòa án tuyên bố doanh nghiệp phá sản rồi mới tiến hành thanh lý và chia tài sản của doanh nghiệp. Điều này được đánh giá là một thay đổi rất quan trọng để giải quyết sự bất hợp lý hiện nay.

Mặc dù vẫn còn nhiều bất đồng về khái niệm “mất khả năng thanh toán”, “tình trạng phá sản” và một số điều khoản khác, nhưng với những sửa đổi quan trọng trên, chúng ta có quyền kỳ vọng rằng Luật Phá sản mới sẽ không tiếp tục bị . . . phá sản như Luật Phá sản doanh nghiệp 1993 và 2004.

Hoàng Điền

Nhịp cầu đầu tư

Sơ Đồ Phá Sản Theo Luật Phá Sản 2014

Đề tài: Sơ đồ phá sản theo Luật phá sản 2014Luật Phá sản năm 2014Kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2015, trình tự, thủ tục nộp đơn, thụ lý và mở thủ tục phá sản; việc xác định nghĩa vụ về tài sản và biện pháp bảo toàn tài sản trong quá trình giải quyết phá sản; thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; tuyên bố phá sản và thi hành quyết định tuyên bố phá sản được tiến hành theo Luật số 51/2014/QH13 do Quốc hội thông qua ngày 19 tháng 6 năm 2014. Luật thay thế cho luật phá sản 2004, gồm 14 chương với 133 điều.Theo khoản 1,2 điều 4 Luật Phá sản:Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.1. SƠ ĐỒ PHÁ SẢN THEO LUẬT PHÁ SẢN 2014`Thông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản theo điều 43Tòa án nhận đơn, xem xét đơn theo

điều 8, 31, 32Thông báo nộp lệ phí phá sản, tạm ứng phí phá sản theo điều 38Thñ tôc phôc håi (tõ §iÒu 68 ®Õn §iÒu 74)Thñ tôc thanh lý [§iÒu 79; §iÒu 80 (K1, K2)]Thủ tục phục hồi Chương 7Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản DN, HTX theo điều 5, 26, 27, 28, 29Chuyển TA có thẩm quyền theo điều 33Trả lại đơn Theo điều 35Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn/ Trả lại đơnTheo điều 34, 36 Tòa án quyết định mở/không mở thủ tục phá sản theo điều 42Tuyên bố DN, HTX phá sản trong trường hợp đặc biệt theo Điểm a Khoản 1 Điều 105Quyết định mở thủ tục phá sản theo khoản 2 điều 42Thụ lý đơn kể từ ngày nộp lệ phí, tạm ứng phí phá sản theo điều 39, 40Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên theo khoản 2 điều 37Thương lượng trước khi thụ lý theo điều 37Giải quyết, kháng nghị quyết định