【#1】Quy Luật Nhân Quả: Thiện Ác Tất Hữu Báo, Dù Sớm Hay Muộn Đều Vốn Công Bằng

Sau khi nhậm chức, Vương Ôn Thư trở nên thô bạo, giết hại nhiều người, không quan tâm đến luật pháp quốc gia, đối với những đại án, nghi án thì lại càng mập mờ khó phân biệt. Khi triều đình miễn bỏ chức đình úy, Vương được lên làm trung úy. Ông ta trọng dụng những kẻ giảo hoạt làm đồng sự, những kẻ này giỏi luồn lách pháp luật, chúng muốn trừng trị ai thì không từ một hình phạt tra khảo đánh đập nào, rất nhiều người đã bị bức hại cho đến chết, chẳng mấy ai có thể sống sót trở về.

Vương Ôn Thư coi luật pháp như trò đùa, mỗi lần thẩm án ông ta thường làm liên lụy đến người khác, thậm chí có lần còn làm liên lụy đến hàng trăm hộ gia đình. Mạng người bị coi như cỏ rác.

Vương chỉ quan tâm đến quyền lực. Mọi người đều nói ông là con người hai mặt. Đối với những người dân vô tội không quyền không thế, ông ta như một con hổ con sói, tàn bạo vô cùng, những người mà Vương giết chết đa phần đều là những người dân bình thường. Còn trước mặt những kẻ có quyền có thế thì Vương lại đổi sang bộ mặt xu nịnh gian trá.

Sở dĩ từ một chức lính quèn mà leo lên được địa vị cao là nhờ Vương cấu kết với những người đó. Mặc dù nắm chức vụ trừ gian diệt ác, nhưng những kẻ quyền thế đó dù phạm tội chồng chất như núi thì Vương cũng mặc kệ, còn nghĩ trăm phương nghìn kế để bảo vệ. Chính vì thế mà rất nhiều kẻ quyền thế dựa vào Vương để tự lập thành tích và tạo dựng danh tiếng cho bản thân,

Vương Ôn Thư thấy con đường quan vận hanh thông, trong vòng mấy năm đảm nhận chức trung úy, ông ta cùng tay chân thuộc hạ đều lợi dụng quyền uy để vơ vét của cải. Vương tìm mọi cách để trục lợi, kẻ phạm tội chỉ cần dùng tiền để mua tính mạng; đối với tài sản bị tịch thu cần nộp cho triều đình ông ta cũng dùng thủ đoạn để chiếm đoạt.

Việc ác cuối cùng cũng bại lộ, về sau có người tố giác Vương có ý đồ mưu phản, những việc làm xấu xa của ông ta cũng bị vạch trần theo. Vương Ôn Thư biết tội của mình sẽ bị trừng phạt, tự biết ngày tàn đã đến nên tìm đến con đường tự sát. Hai người em trai và gia đình nhà vợ bị trừng phạt vì vi phạm pháp luật. Những kẻ tay chân cũng lần lượt bị trị tội.

Vương Ôn Thư lợi dụng quyền thế trong tay để tư lợi cá nhân, sát hại người khác không ghê tay, coi thường pháp luật, không biết rằng quyền lực chỉ là nhất thời, kẻ tạo nghiệp vĩnh viễn không thể chạy thoát được luật nhân quả, cho dù có giở bao nhiêu thủ đoạn thì cũng vô ích.

Mê muội lừa gạt người khác gây tổn phúc tận thọ

Vào triều đại nhà Đường, ở Sơn Đông có hai người đàn ông là bạn thân thiết của nhau. Một người tên là Sử Vô Úy, người còn lại là Trương Tòng Chân. Chỉ có điều Sử Vô Úy có gia cảnh nghèo khổ. Cho dù anh ta làm việc quần quật từ sáng đến tối mà gia cảnh vẫn không khá được lên, thậm chí thường xuyên túng thiếu, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc.

Ngược lại, Trương Tòng Chân lại có gia cảnh giàu có, dù không phải làm việc vất vả cũng có cái ăn cái mặc. Cuộc sống của anh ta nhàn nhã, gần như không phải lo nghĩ đến cái ăn cái mặc.

Thấy Sử Vô Úy gia cảnh khó khăn, Trương Tòng Chân nói với bạn rằng: “Anh mỗi ngày làm đồng từ lúc mặt trời chưa mọc, đến lúc mặt trời đã lặn cũng chưa nghỉ, vừa mệt vừa khổ cực như vậy mà cái ăn cái mặc vẫn thiếu. Chi bằng, tôi cho anh mượn 1.000 mân tiền (mân là xâu tiền thời xưa), theo tôi đi buôn bán, chắc chắn là lãi sẽ hơn số thu nhập làm ruộng của anh bây giờ. Đến lúc ấy, anh chỉ cần trả lại tôi tiền vốn là được rồi”.

Nghe xong lời kiến nghị của Trương Tòng Chân, Sử Vô Úy rất lấy làm vui mừng. Sau khi được Trương Tòng Chân giao cho 1.000 mân tiền, Sử Vô Úy dẫn theo con trai đến địa phương khác kinh doanh. Chỉ mấy năm sau, cha con họ buôn bán tốt, số tiền kiếm được cũng rất nhiều.

Trương Tòng Chân sau khi cho Sử Vô Úy mượn tiền, lại liên tiếp chịu bất hạnh giáng xuống. Đầu tiên là nhà anh ta gặp hỏa hoạn, tuy rằng không bị cháy hết, nhưng tài sản đã vơi đi khá nhiều. Một thời gian ngắn sau, gia đình lại bị cướp đến cướp hết tài sản, trong nhà họ gần như đã không còn gì cả.

Trương Tòng Chân lúc này cơm không đủ ăn. Sau khi biết được Sử Vô Úy giờ đây đã giàu có, tiền bạc đầy nhà, không còn cách nào khác, anh ta liền tìm đến Sử gia.

Trương Tòng Chân nói với Sử Vô Úy: “Giờ đây gia đình tôi đã không còn chút tài sản nào, gạo cũng không có mà ăn. Kỳ thực, tôi cũng không muốn đòi lại 1.000 mân tiền trước đây đã cho anh mượn, tôi chỉ muốn anh có thể đưa cho tôi hai, ba trăm mân là được rồi!”

Trương Tòng Chân vừa nghe những lời vong ân phụ nghĩa này của Sử Vô Úy thì như chết đứng, trong lòng vô cùng uất ức, phẫn nộ.

Anh ta vừa về đến nhà, liền ở trong sân, thắp một nén hương, rồi chảy nước mắt giàn giụa, hướng lên trời kể sự tình oan ức của mình. Anh ta vừa kể với giọng phẫn uất, vừa khóc.

Không ngờ, tại nơi Sử Vô Úy sinh sống, buổi chiều hôm ấy, mây đen kéo đến đầy trời, cuồng phong nổi lên và sấm sét nổ vang trời. Sau trận cuồng phong ấy, người ta thấy Sử Vô Úy đã bị sét đánh trúng.

Người dân địa phương biết việc Sử Vô Úy vong ân phụ nghĩa, không có lương tâm nên đều nói rằng: “Trời xanh có mắt, anh ta bị như vậy là quả báo, làm ác phải gặp ác báo!”

-***-

Của cải vật chất là thứ sinh không mang đến, chết không mang theo, còn sức khỏe và sinh mệnh thì không có danh lợi và tiền tài nào có thể đổi được. Mê muội lừa gạt người khác, chiếm đoạt tiền tài người khác một cách phi lý phi pháp là tự làm tổn hại đến phúc phận của bản thân. Phúc lộc thọ cũng theo đó mà giảm đi, khi báo ứng đến thì tiền tài chiếm đoạt được chẳng còn ý nghĩa gì nữa!

Những kẻ chỉ biết đến tư lợi cá nhân, bất chấp thiên lý, tính toán đi tính toán lại thì cuối cùng cũng đã tự tính mình vào trong đó. Chúng ta cần phải làm việc dựa theo lương tâm, đạo đức, bởi tất cả phúc phận, phúc lành đều đến theo những việc làm tốt.

【#2】Luật Nhân Quả Khi Nào Linh Ứng?

Luật nhân quả lý giải mọi việc trong 3 thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Có những nguyên nhân được tạo ra trong quá khứ, kết quả hay hậu quả nhận được trong hiện tại. Có những nguyên nhân được tạo ra trong hiện tại, kết quả hay hậu quả nhận được trong vị lai. Mỗi kết quả trong cuộc sống đều bắt nguồn từ một nguyên nhân (có thể trong hiện tại, cũng có thể trong tiền kiếp, quá khứ) dù bạn có biết hay không.

Người hiền lành đang gieo nhân lành trong hiện tại, kết quả tốt chưa kịp đến thì hiện nay phải đền trả quả báo xấu do nghiệp nhân xấu đã gây tạo trong quá khứ. Khi quả báo xấu hết rồi, vận xui qua rồi, con người bắt đầu gặp may mắn, được quý nhân phù trợ, vạn sự hanh thông. Sách có câu “Hết cơn bĩ cực tới hồi thái lai”, chính nghĩa như vậy.

Những hành vi thuộc ác chủ yếu là “thập ác và ngũ nghịch”, xấu ác, đều phải chịu ác báo tương xứng với hành vi đó. Căn cứ vào những hành vi xấu ác nặng hay nhẹ mà có quả báo khác nhau. Làm 10 điều ác, sau khi chết chắc chắn phải thọ khổ trong địa ngục, còn tạo ác nhẹ hơn, sau khi chết chuyển sinh thọ khổ trong loài ngạ quỷ, nếu tạo ác nhẹ hơn nữa, thọ khổ trong loài súc sinh. Sau khi thọ hết tất cả thống khổ trong các đường này rồi, sẽ được chuyển sinh trở lại làm người, và tiếp tục bị thọ các quả báo.

Luật nhân quả khi nào linh ứng? – Ảnh 1Quy luật nhân quả lý giải mọi việc trong 3 thời: quá khứ, hiện tại và vị lai

Quy luật nhân quả lý giải mọi việc trong 3 thời: quá khứ, hiện tại và vị lai

Nghi (Nghi chỉ những người có cái nhìn tà, không tin nhân quả): Bị quả báo sinh vào gia đình tà kiến, sinh ra nơi xa xôi hẻo lánh, tâm nịnh nọt, không ngay thẳng, nhiều mưu mô quỷ kế, thích những người có tâm nịnh hót.

Sân nhuế ( Gặp chuyện không vừa lòng liền sinh tức tối oán hận, đây tức là sân nhuế): Bị quả báo thường bị người dị nghị, nhiễu loạn khiến cho phiền não, hoặc bị hãm hại.

Tham dục ( Tham cầu hưởng thụ các loại như tiền tài, sắc đẹp, danh lợi… say mê không có ý niệm xa rời, tất cả những thứ này đều thuộc tham): Bị quả báo tâm không biết đủ, tham dục không chán.

Nói lời hung ác ( Dùng lời tàn bạo, độc ác mắng người, đều thuộc nói lời ác): Quả báo thường bị người mắng chửi, gặp nhiều chuyện kiện cáo, tranh chấp.

Nói lưỡi đôi chiều ( Đâm bị thóc, thọc bị gạo, gây chia rẽ, đều phạm tội nói lưỡi đôi chiều): Bị quả báo quyến thuộc chia lìa, thân tộc xấu ác.

Nói lời trau chuốt ( Nói những lời tà dâm, những lời khiến cho mọi người nghĩ chuyện ái ân, đều gọi là nói lời trau chuốt): Bị quả báo nói ra lời nào mọi người đều không tin, không tiếp thu, lời nói không rõ ràng, diễn đạt người ta không hiểu.

Nói dối ( Nói không đúng sự thật, làm chứng bậy, không giữ chữ tín, đều phạm vào tội nói dối): Quả báo bị người phỉ báng, khinh khi.

Trộm cắp ( Hễ tài vật hoặc đồ dùng của người khác, chưa được sự đồng ý của họ mà ta tự lấy dùng hoặc chiếm đoạt, đều thuộc trộm cắp): Sẽ bị quả báo nghèo khổ, tài sản bị người khác chiếm đoạt.

Sát sinh ( Trực tiếp hoặc gián tiếp sát hại, đánh đập, ngược đãi, tổn hại người, động vật, đều thuộc hành)

Thường thường, chúng ta thấy gieo nhân nào thì gặp quả nấy, một cách nhãn tiền. Sinh sự thì sự sinh, gieo gió thì gặt bão, ở hiền thì gặp lành, làm thiền thì hưởng phước.

Muốn biết kiếp trước mình đã gieo nhân gì

Hãy nhìn việc mình thọ nhận hiện tại.

Muốn biết kiếp sau mình sẽ nhận quả nào,

Hãy nhìn việc mình đang làm hiện tại.

Nếu hôm nay mình dốt nát nghèo khó, gặp tại nạn liên miên, thì đó là quả của cái nhân tạo ác nghiệp và không biết làm việc phước thiện trước đây. Nếu hôm nay mình thông minh, đủ ăn đủ mặc, thì đó là quả của cái nhân tu tâm dưỡng tính, tích phước tích đức trước đây, nhiều đời và đời này. Hôm nay mình được bình an là quả của cái nhân mình không tạo sự bất an cho kẻ khác, dù đó là kẻ thù. Hôm nay mình được hạnh phúc là quả của cái nhân mình không phá hoại hạnh phúc kẻ khác, dù đó là kẻ thù.

【#3】Cho Dù Vô Tình, Luật Nhân Quả Ghi Nhớ Đừng Phạm Điều Này!

Trong phim Xuân Hạ Thu Đông của đạo diễn Kim – ki – duk, có cảnh sư trụ trì chùa đã dạy cho chú tiểu một bài học về nhân quả khi chú mải nghịch những con vật như buộc dây vào con tắc kè, buộc đá vào cá rồi thả xem cá có bơi được không.

Trong phim Xuân Hạ Thu Đông của đạo diễn Kim – ki- duk (1 trong những bộ phim về Nhân Quả đương đại hay nhất dành cho xã hội), hẳn là chú bé chưa biết các hành động nghịch ngợm của chú vô tình đã gây cho loài vật những tổn thương hay cái chết như nào. Sư phụ khi quan sát thấy những trò nghịch dại của chú tiểu, người đã thầm lặng dạy cho chú một bài học bằng cách: buộc dây đá vào người chú khi chú đang ngủ. Và chú đã cảm nhận được sức nặng của đá khiến cho chú đau đớn thế nào. Từ đó, chú đã hiểu dần bài học Nhân quả mà sư phụ của chú dạy cho mình.

Trộm cắp

Sẽ bị quả báo nghèo khổ, tài sản bị người khác chiếm đoạt… (Hễ tài vật hoặc đồ dùng của người khác,chưa được sự đồng ý của họ mà ta tự lấy dùng hoặc chiếm đoạt, đều thuộc trộm

cắp).

Nói dối

Quả báo bị người phỉ báng, khinh khi. (Nói không đúng sự thật, làm chứng bậy, không giữ chữ tín, đều phạm vào tội nói dối).

Nói lời trau chuốt

Bị quả báo nói ra lời nào mọi người đều không tin, không tiếp thu, lời nói không rõ ràng, diễn đạt người ta không hiểu. (Nói những lời tà dâm, những lời khiến cho mọi người nghĩ chuyện ái ân, đều gọi là nói lời trau chuốt).

Nói lưỡi đôi chiều

Bị quả báo quyến thuộc chia lìa, thân tộc xấu ác. (Đâm bị thóc, thọc bị gạo, gây chia rẽ, đều phạm tội nói lưỡi đôi chiều).

Nói lời hung ác

Quả báo thường bị người mắng chửi, gặp nhiều chuyện kiện cáo tranh chấp. (Dùng lời tàn bạo, độc ác mắng người, đều thuộc nói lời ác).

Tham dục

Bị quả báo tâm không biết đủ, tham dục không chán. (Tham cầu hưởng thụ các loại như tiền tài, sắc đẹp, danh lợi… say mê không có ý niệm xa rời, tất cả những thứ này đều thuộc tham).

Sân nhuế

Bị quả báo thường bị người dị nghị, nhiễu loạn khiến cho phiền não, hoặc bị hãm hại. (Gặp chuyện không vừa lòng liền sinh tức tối oán hận, đây tức là sân nhuế).

Nghi ngờ

Bị quả báo sinh vào gia đình tà kiến, sinh ra nơi xa xôi hẻo lánh thiếu Phật pháp và văn minh, tâm nịnh nọt, không ngay thẳng, nhiều mưu mô quỉ kế, thích những người có tâm nịnh hót. (Nghi chỉ cho những người có cái nhìn tà, không tin nhân quả).

Chỉ có con đường Tu là chuyển Nghiệp

Theo Luật Nhân Quả, khi chúng ta tạo Nhân nào thì sẽ nhận Quả (báo) tương ứng, nghĩa là “Nhân nào quả nấy”. Trong kinh A-Hàm Đức Phật dạy: “Người gây nhân bất thiện, biết tu thân, tu giới, tu tâm thì quả sẽ đổi thay. Nếu người gây nhân bất thiện mà không biết tu thân, tu giới, tu tâm thì gây nhân nào sẽ thọ quả nấy”.

Như vậy chúng ta thấy rõ muốn thoát Nghiệp phải tu tập tích lũy công đức, càng nhiều công đức thì chúng ta mới có thể hoà tan dần dần để đi đến xoá bớt Nghiệp mà chúng ta đã tạo, nên mới nói “Tu là chuyển Nghiệp” hay “Tu là giải Nghiệp”.

Tu là sửa đổi, trước kia hay làm những việc xấu bây giờ sửa đổi không làm việc xấu ác nữa mà thực hành những điều thiện lành. Chuyển Nghiệp là chuyển hoá khổ đau thành an vui hạnh phúc. Tùy theo khả năng tu nhiều hay ít mà quả khổ sẽ thay đổi chứ không cố định “nhân nào quả đó” như khi chưa biết tu, tức chưa biết sửa đổi.

Đức Phật dạy muốn chuyển Nghiệp chúng ta cần phải “tịnh hóa tam nghiệp” nghĩa là tu sửa, thanh lọc Thân, Khẩu, Ý từ những lầm lỗi bất thiện dần dần trở nên thiện lành.

– Về Thân:

1) Không sát sanh, hãm hại, giết người, cũng không xúi giục người khác giết người hại vật.

2) Không trộm cắp của không cho, dù chỉ là một cây kim cuộn chỉ.

3) Vợ hoặc chồng phải thuỷ chung, không gian dâm tà hạnh với người khác.

– Về Khẩu:

1) Không vọng ngữ, nói dối.

2) Không nói lời hung dữ, độc ác.

3) Không dùng lời thêu dệt đặt điều nói xấu kẻ khác.

4) Không nói lời đâm thọc, hai chiều khiến cho người này hận ghét người kia.

– Về Ý:

Không uống rượu say. Không xử dụng ma tuý cần sa, những thứ này là nguyên nhân của bệnh thân và tâm. Nó khiến cho tâm trí ngày càng mê mờ si muội.

Ngoài ra, Đức Phật cũng khuyên chúng ta nên hành thiện không bỏ qua bất cứ việc thiện nhỏ nhặt nào và xa lìa những hành động xấu ác làm tổn thương người khác đồng thời hãy tu tập giữ tâm thanh tịnh không gợn ý xấu tốt về bất cứ chuyện gì qua bài kệ: “Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật Giáo”, đại ý là:

“Những việc ác không nên làm. Vâng làm những việc lành. Khéo giữ tâm thanh tịnh. Đó là lời Phật dạy”

Nhìn chung, ngoài Đức Phật và các vị A-La-Hán đã hoàn toàn sạch Nghiệp, các Ngài “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm xong, sau đời hiện tại không có đời khác nữa”.

Còn bất cứ một chúng sinh nào còn luân hồi trong 6 cõi (Trời, Người, A-tu-La, Súc sanh, Ngạ quỷ, Địa ngục) đều mang Nghiệp. Vì có Nghiệp mới có tái sinh để trả nghiệp. Tùy Nghiệp nặng hay nhẹ mà khổ nhiều hay khổ ít. Vậy nên, Đức Phật dạy chúng ta phải tu để chuyển đổi quả báo do Nghiệp gây ra bằng cách giữ giới tức tu Giới, tu Thân và tu Ý. Mà tu Ý tức tu Tâm là quan trọng hơn hết.

CHI TIẾT VỀ LUẬT NHÂN QUẢ

Anh Nhy

【#4】Lời Phật Dạy Về Luật Nhân Quả Vô Cùng Sâu Sắc

Ở hiền gặp lành, Ở ác gặp ác. Luật nhân quả luôn tồn tại ở đời và không bỏ sót một ai.

Nhân quả rất đa dạng và phức tạp, sự diễn biến từ nhân đến quả còn tùy thuộc vào các duyên, nhân quả có thể báo ứng liền tức khắc như chúng ta đang đói, chỉ cần ăn vào một thứ gì đó thì được no và kết quả của nó cũng có thể xảy ra ở tương lai gần hoặc xa. Chỉ cần chúng ta chịu khó quan sát trong hiện tại, ta sẽ dễ dàng nhận ra quả báo trước mắt của những việc làm tốt hay xấu.

Suy nghĩ và cảm xúc của con người luôn thay đổi và chịu tác động nhanh chóng bởi các sự kiện xung quanh. Ví dụ, khi nhận được một thông tin tốt đẹp có lợi cho mình, thì lập tức ta có thái độ hoan hỷ vui vẻ, lạc quan. Ngược lại, nếu nhận được tin xấu, ngay khi ấy chúng ta sẽ cảm thấy khó chịu, buồn phiền, bực bội và có thể nóng nảy với những người khác.

Theo luật nhân quả, thành công hay thất bại đều có nguyên nhân sâu xa của nó. Nếu chúng ta muốn có được nhiều kết quả tốt đẹp thì phải biết gieo nhân thiện ích giúp người cứu vật.

Trên thế gian này với nhiều thể chế chính trị và rất nhiều tôn giáo đều lý giải nhân quả theo cách riêng của mình, đa số đều nghiêng về có một đấng tối cao ban phước giáng họa. Tuy nhiên theo quan điểm của đạo Phật, luật nhân quả báo ứng là nền tảng sống của muôn loài vật, không ai có thể tách rời luật nhân quả mà tồn tại. Cho nên Phật giáo, đối với “nhân quả báo ứng”, có cái nhìn đầy đủ và thấu triệt, Phật dạy chính chúng ta là chủ nhân của bao điều họa phúc, mình làm lành được hưởng phước tốt đẹp, làm ác chịu quả khổ đau.

Nói một cách đơn giản và dễ hiểu, “nhân quả báo ứng” chính là làm thiện được quả báo tốt đẹp, còn làm các điều xấu xa tội lỗi bị quả báo khổ đau. Mỗi hành vi xấu ác, đều phải chịu ác báo tương xứng với hành vi đó. Vả lại, căn cứ vào những hành vi xấu ác nặng hay nhẹ mà có quả báo tương xứng khác nhau.

Ai làm mười điều ác, sau khi chết chắc chắn phải thọ khổ trong địa ngục, còn tạo nghiệp ác nhẹ hơn, sẽ bị tái sinh vào loài quỷ đói và các loài súc vật để chịu khổ báo. Sau khi thọ hết tất cả thống khổ trong các đường này rồi, sẽ được chuyển sinh trở lại làm người, mà làm người thấp kém và tiếp tục bị thọ các quả báo xấu còn xót lại.

Để cho chúng ta có đủ niềm tin về nhân quả, xin mời tất cả quý vị cùng nghe bài kinh triết lý sâu sắc về tội lỗi, bởi gieo nghiệp xấu ác.

Tiến trình diễn biến từ nhân đến quả, có thể báo ứng ngay trong hiện tại mà cũng có thể xảy ra ở tương lai gần hoặc xa. Chỉ cần quan sát trong hiện tại, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra quả báo nhãn tiền của những việc làm ác.

Một thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại khu vườn ông Anàthapindika. Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ kheo:

Này các Tỷ kheo, có hai loại tội. Thế nào là hai? Tội có kết quả ngay trong hiện tại và tội có kết quả trong đời sau.

Thế nào là tội có kết quả ngay trong hiện tại? Này các Tỷ kheo, khi thấy nhà vua bắt được kẻ trộm, kẻ vô lại, liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ bị đánh bằng roi cho đến bị chặt đầu. Thấy vậy liền suy nghĩ: Do làm ác nghiệp nên mới bị các hình phạt như vậy.

Nghĩ vậy, người ấy sợ hãi tội lỗi trong hiện tại.

Và này các Tỷ kheo, thế nào là tội có kết quả trong đời sau? Ở đây, có người suy xét như sau: Quả báo dị thục của thân miệng ý ác, sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác thú, địa ngục. Nghĩ vậy, người ấy sợ hãi tội lỗi trong đời sau.

Do vậy, này các Tỷ kheo, cần phải học tập như sau: Chúng ta phải sợ hãi đối với tội có kết quả trong hiện tại và đời sau. Chúng ta phải thấy rõ sự nguy hiểm và tránh xa các tội.

(ĐTKVN, Tăng Chi Bộ I, chương 2, phẩm Hình phạt, phần Hai loại tội [lược], VNCPHVN ấn hành 1996, tr.94)

Đây là bài kinh đức Phật nói tại thành Xá-vệ, nơi khu đất mà trưởng giả Cấp-cô-độc mua để làm Tịnh-xá, người học Phật cần phải suy xét và chiêm nghiệm, tất cả mọi hiện tượng trong bầu vũ trụ bao la này từ con người cho đến muôn loài vật, đều chịu sự chi phối của nhân quả.

Gieo nhân nào thì gặt quả ấy, như trồng dưa được dưa, trồng đậu được đậu, việc làm ác cũng lại như thế. Phật dạy: Dù chúng ta có lên núi cao hay trốn xuống vực thẳm, cũng không thể nào tránh được nghiệp quả khi đủ nhân duyên.

Do chúng ta đã tin sâu về nhân quả nên người học Phật, luôn cẩn thận và có sự quán xét trong suy nghĩ, lời nói và hành động của mình.

Nhân trộm cướp trong hiện đời sẽ bị quả báo nghèo khổ, tài sản bị người khác chiếm đoạt… và tiếp tục chịu quả báo xấu trong tương lai.

Hễ tài vật hoặc đồ dùng của người khác, khi chưa được sự đồng ý của họ mà ta tự lấy dùng hoặc chiếm đoạt, đều thuộc về tội trộm cướp.

Tham lam muốn chiếm lấy của người khác, để làm của riêng cho mình là do thói quen thâm căn cố đế của những người không tin nhân quả.

Tuy nhiên vì lòng tham mà chúng ta có thể tìm đủ mọi cách để lường gạt người khác, là nhân dẫn đến tù tội và nghèo cùng khốn khổ trong hiện tại và mai sau.

Có biết bao người đau khổ vì bị mất của, bị lừa đảo mà túng quẫn dẫn đến tự sát.

Lại nữa, tiền bạc tài sản vật chất là phương tiện để nuôi sống bản thân và gia đình, bao nhiêu năm tháng chắt chiu dành dụm giờ thì đội nón ra đi.

Sự mất mát tài sản làm cho gia đình trở nên thiếu thốn, khó khăn, nghi ngờ lẫn nhau, có thể dẫn đến đổ vỡ hạnh phúc gia đình mình và người khác.

Sự đền trả xứng đáng của quả báo này, trước tiên là bị giam cầm tù tội, bị nhiều người khinh chê, gia đình ly tán vợ con khốn khổ, rồi mai sau nghèo cùng vô số kiếp và nếu có nhiều tiền của, thì cũng không thể tự do sử dụng để giúp đỡ người.

Chúng ta nên nhớ của phù vân khó bao giờ tồn tại bởi sống trên sự đau khổ của người khác.

Nhan nhãn mỗi ngày có những vụ lừa đảo, lường gạt trong xã hội mà báo chí thường đăng tải là do lòng tham muốn quá đáng của con người. Con người vì lòng tham lam quá đáng nên mới dễ bị người khác lường gạt.

Nhân quả trong thời hiện đại, thường được hiểu như một luật thưởng phạt công bình: “Ở hiền gặp lành, ở ác gặp dữ” hoặc “gieo gió gặt bão”…

Bởi thế có rất nhiều người quá sợ hãi luật nhân quả nên họ không dám làm những điều xấu ác, vì gieo nhân xấu thì gặt quả ác trong hiện tại và mai sau.

Hoặc ngược lại, có rất nhiều người làm phước thật nhiều để mong mai sau thọ hưởng phước báo nhiều hơn.

Luật nhân quả theo quan điểm của Phật giáo, đúng là gieo nhân nào sẽ gặt quả nấy, nhưng theo sự hiểu biết của chúng tôi nó không phải chỉ là luật thưởng phạt bình thường, mà là một luật cần thiết cho nhu cầu đời sống và sự tiến bộ của con người.

Đức Phật dạy: Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành. Tất cả mọi người ai cũng có khả năng thành Phật như nhau, vì ta đã có nhân Phật trong người, cái vì biết khi thấy, cái vì biết khi nghe…..

Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật thọ ký cho các đệ tử sau này ai sẽ thành Phật hiệu gì, ở đâu v.v… Như vậy ta thấy không những đệ tử của Phật sẽ thành Phật mà tất cả chúng sinh đều sẽ thành Phật, vì tính bình đẳng dù phải trải qua vô lượng số kiếp về sau.

LỜI BÀN:

Nhân quả ở đời vốn rất chính xác và rõ ràng, gieo nhân nào thì gặt quả ấy. Đức Phật cũng từng dạy: Dù lên núi cao hay xuống vực thẳm cũng không tránh được nghiệp quả.

Do nhận thức đúng về nhân quả nên người con Phật luôn thận trọng trong mỗi việc làm, lời nói và suy nghĩ của chính mình.

Tiến trình từ nhân đến quả, có thể báo ứng ngay trong hiện tại mà cũng có thể xảy ra ở tương lai gần hoặc xa.

Chỉ cần quan sát trong hiện tại, chúng ta cũng dễ dàng nhận ra quả báo nhãn tiền của những việc làm ác như: trộm cướp, đua xe, hút chích, phụ tình, trù dập, hãm hại, buôn lậu, tham ô…..dẫn đến bị bắt, bị truy tố, giam cầm cho đến xử tử.

Ngoài những tội có kết quả trong hiện tại còn vô số những việc ác sẽ kết thành quả xấu trong tương lai. Con người thường sợ quả báo hiện tại mà xem thường quả báo ở vị lai.

Vì thế, những người đã phạm tội nhưng chưa bị phát hiện hoặc đã “hạ cánh an toàn” thì ung dung hưởng thụ, thản nhiên như người vô tội, thậm chí đắc ý cười thầm.

Sự thật thì không như vậy, lương tâm luôn cắn rứt và tội báo sẽ đến với những người ấy, không thể nào thoát khỏi.

Vì thế, người học Phật thấy rõ nhân quả nên luôn sợ hãi với quả báo, quyết không làm điều ác, tránh xa tội lỗi.

Niềm tin nhân quả, sự sợ hãi quả báo trong đời này và những đời sau sẽ góp phần tác thành nên nhân cách, đạo đức cho mỗi người.

Xã hội sẽ bình an, thiện lành và phát triển ổn định hơn khi mỗi người đều có nhận thức đúng đắn về nhân quả và nghiệp báo.

【#5】Luật Nhân Quả: Cục Bướu Trên Mặt Nữ Cư Sĩ Singapore Biết Ăn Cơm Nói Chuyện

Nữ cư sĩ Phật giáo người Singapore trong ảnh vốn là 1 cô gái xinh đẹp, nhưng cục bướu mang trên mặt có đầy đủ ngũ quan, biết ăn cơm nói chuyện là chứng tích của nghiệp tội cô đã tạo trong quá khứ.

Hiện cô đang sống ở Tây Tạng, và ngày ngày tu học. Bức ảnh do Ông Châu Sư Huynh từ học viện tịnh tông ở Úc chia sẻ, cùng với những bức hình kinh sợ khác của vị nữ tu sĩ trong một buổi thuyết giảng tại Singapore.

Ông cho biết, những hình ảnh này là sự thật, được chụp từ khuôn mặt của một nữ tu sĩ người Singapore sau khi cô bất ngờ mọc một khối ung bướu kỳ dị trên mặt.

Cục bướu kinh hoàng hình mặt người biết ăn cơm nói chuyện…

Vị tu sĩ này ban đầu chỉ là một cô gái có thân hình bình thường và một khuôn mặt xinh đẹp như trăng rằm.

Ở độ tuổi 18, cô còn được gọi là hoa khôi của trường làng, thế nhưng cuộc đời biến động, cho đến năm 40 tuổi, cô bỗng nhiên phát triển một cục thịt trên mặt, dần dần u bướu đó phát triển lớn, bao trùm một phần mặt bên phải của người phụ nữ.

Cô đã dùng mọi phương pháp chạy chữa để khối u đó ngừng phát triển, ngay cả từng cắt bỏ nhưng vẫn không ngăn chặn được sự lớn lên của nó.

Đặc biệt, cô càng tác động đến khối u, nó càng lớn mạnh và biểu lộ rõ cảm xúc như một đứa trẻ, thậm chí nó có thể ăn được cơm như một cơ thể bình thường.

Quá sợ hãi với những gì xảy ra trên cơ thể mình, người phụ nữ này đã tìm đến đạo Phật và học được luật nhân quả về đời người. Tin rằng đó là luật nhân quả của kiếp trước báo ứng lên cơ thể của mình, cô đã trở thành tu sĩ và ngày đêm nghe giảng kinh phật mong chuộc lại tội lỗi.

Hiện tại, vị tu nữ này đang sống tại làng phật giáo lớn nhất tại Tây Tạng, mỗi ngày đều có một vị Lạt-ma tới giảng kinh thuyết pháp cho cô.

Nguồn gốc bộ kinh “Tam Muội thủy sám”

Đời người như nước chảy, những gì chúng ta gây ra trong quá khứ đang khiến chúng ta gánh chịu ngày hôm nay…

Câu chuyện của Ngộ Đạt Quốc Sư, tác giả bộ kinh Tam Muội Thủy Sám, cho chúng ta biết chuyện cục bướu mang hình người không phải là chuyện của ngày hôm nay mà đã từng xảy ra nhiều trong quá khứ..

Ngộ Đạt Quốc sư, trước khi nổi tiếng và được phong làm quốc sư, có một lần gặp một nhà sư đang bị bệnh tại một ngôi chùa. Nhà sư ấy trên người đang bị lở loét, bốc mùi hôi thối rất ghê, vì thế những người khác đều lo mà tránh cho xa.

Chỉ có Ngộ Đạt quốc sư, thường thương xót mà chăm sóc cho ông ta, bệnh tình của nhà sư ấy cũng dần dần được khá lên. Sau này vào lúc chia tay, nhà sư ấy cảm kích và nói với ông:

“Sau này nếu như ông gặp nạn, thì có thể tới Tứ Xuyên, Bành Châu, Cửu Lũng Sơn mà tìm tôi. Trên núi đó có hai cây tùng mọc liền nhau làm mốc đánh dấu chỗ tôi ở”.

Về sau, nhờ Đức hạnh cao thâm, Ngộ Đạt được Đường Ý Tông cực kỳ tôn kính và phong làm quốc sư, đối với ông vô cùng sủng ái.

Nhưng mà một ngày nọ, trên đầu gối của Ngộ Đạt quốc sư đột nhiên mọc ra một vết loét có hình mặt người, đầy đủ cả mắt mũi miệng.

Mỗi lần lấy thức ăn nước uống đút cho thì nó đều có thể mở miệng ra ăn uống hệt như người. Thỉnh mời danh y các nơi tới chữa trị nhưng tất cả đều bó tay.

Một ngày nọ, Ngộ Đạt quốc sư đột nhiên nhớ lại lời dặn dò của vị tăng nhân bị bệnh lúc chia tay, nên bèn lên đường vào núi tìm kiếm. Cuối cùng vào lúc trời nhá nhem tối, Ngộ Đạt quả nhiên tìm được hai cây tùng mọc liền nhau, cao vút tận mây.

Còn vị tăng kia đã đứng ở trước một cung điện lớn bằng vàng và ngọc bích huy hoàng tráng lệ, chờ đợi ông. Vị tăng ấy ân cần tiếp đãi Ngộ Đạt quốc sư và giữ ông ở lại đó.

Ngộ Đạt quốc sư bèn kể về căn bệnh kỳ quái và nỗi thống khổ của bản thân, vị tăng kia nói với ông:

“Không sao cả, ở dưới núi đá này có dòng suối trong, đợi đến sáng sớm ngày mai ông tới đó dùng nước suối ấy rửa thì sẽ khỏi bệnh thôi”.

Bình minh ngày hôm sau, khi Ngộ Đạt quốc sư tới cạnh dòng suối trong vắt ấy, đúng lúc đang muốn vốc nước để rửa, đột nhiên nghe thấy vết loét mặt người kia lại mở miệng kêu to:

“Hãy khoan rửa đã! Ông có tri thức uyên thâm, thông kim bác cổ, nhưng không biết là ông đã đọc câu chuyện về Viên Áng và Triều Thác trong sách ‘Tây Hán thư’, hay chưa?”.

Ngộ Đạt quốc sư trả lời:

Vết loét mặt người nói:

“Nếu ông đã đọc rồi, tại sao không biết chuyện Viên Áng giết Triều Thác chứ! Kiếp trước ông chính là Viên Áng, còn Triều Thác chính là ta. Lúc đó do ông tâu lời sàm ngôn với Hoàng đế, hại ta phải bị chém ngang lưng tại Đông Sơn.

Mối thù sâu hận lớn này, ta suốt mấy kiếp liền đều tìm kiếm cơ hội để trả thù, nhưng vì suốt 10 kiếp ấy ông đều là một vị cao tăng, lại giữ gìn giới luật nghiêm cẩn, khiến cho ta không có cơ hội để báo thù.

Lần này ông vì được Hoàng thượng quá sức sủng ái cho nên lòng danh lợi đã động, đạo đức có chỗ bị tổn khuyết cho nên ta có thể đến gần ông mà trả thù.

Hiện nay nhờ có tôn giả Mông-già-nhược-già (hóa thân làm vị tăng nhân bị bệnh) ban cho ta nước phép tam muội, giải thoát cho ta. Thù xưa giữa chúng ta đến đây cũng đã được giải rồi!”.

Sau khi nghe xong, Ngộ Đạt quốc sư bất giác rùng mình kinh ngạc, vội vàng vốc nước rửa ráy, lúc rửa cảm thấy đau đớn thấu tận xương tủy, và ngất xỉu.

Sau khi tỉnh lại ông thấy vết loét đã biến mất, quay đầu lại nhìn thì cung điện vàng ngọc lộng lẫy kia cũng đã không còn dấu tích đâu nữa. Về sau Ngộ Đạt quốc sư tu hành ngay tại chỗ này, từ đó trở đi không rời ngọn núi ấy nữa.

Bộ kinh “Tam muội thủy sám” nổi tiếng chính là do Ngộ Đạt quốc sư truyền lại cho đời sau.

Một mối thù từ 10 kiếp trước, đến tận 10 kiếp sau, kẻ có tội dù là một vị cao tăng, nhưng chỉ vì một niệm danh lợi khởi lên từ trong lòng, vẫn chạy không thoát sự báo ứng về nhân quả.

Câu chuyện cổ chân thực này, đã cho chúng ta một sự cảnh tỉnh không nhỏ. Ai còn coi thường bất kỳ một ý niệm nào nẩysinh ra? Ai còn hoài nghi sự công bằng của luật nhân quả được nữa đây?

Người xưa có câu: Nhân nào, quả đó. Con người khi sinh ra trên cõi đời này không mang theo thứ gì và khi rời đi cũng chỉ với hai bàn tay trắng.

Nếu đã tin vào luật nhân – quả, hiểu được luật được – mất, tốt – xấu, thì chúng ta có thể nắm lấy vận mệnh của mình để tạo dựng đức, tiêu trừ nghiệp, để chuyển hóa nghiệp và cuối cùng cải mệnh của mình bằng việc khi rời cõi trần thế này chỉ mang theo mình một thứ: Đức!

【#6】Luật Nhân Quả Trong Cuộc Sống Xã Hội Và Khoa Học

Luật Nhân Quả là một cuộc cách mạng tâm linh

Khi không hiểu luật nhân quả, con người sống trong sự sợ hãi mê tín mù mờ. Họ giải thích những hiện tượng thiên nhiên qua sự mê tín dị đoan. Thí dụ khi hạn hán mất mùa, họ nghĩ là vì ông thần đất đai giận nên phải hối lộ ông ta bằng cách cúng kiến mới có được trời mưa. Mới đầu thì tế lễ bằng con gà không có hiệu quả, rồi đến con bò, đến khi sự cuồng tín lên cao có thể dẫn đến giết một em bé hay một trinh nữ để tế thần như dân tộc Incas đã từng làm. Ngoài ra trong cuộc sống hàng ngày, đi đứng làm cái gì quan trọng thì phải coi ngày giờ tốt như vậy để tránh cái sợ hãi của những điều xấu xảy ra bất thần chớ không hẳn là tránh được những điều xấu.

Nếu quả thật có như vậy thì thế giới này không có sự đau khổ vì mọi sự đều như ý con người muốn. Ông vua dù có mướn thầy địa lý giỏi nhất nước để xây cung điện nhưng nếu không thương dân, lấy thuế cắt cổ, lúc hết thời thì ngai vàng vẫn bị mất như thường. Nói về hành động cá nhân, nếu không nhận thức có luật nhân quả thì không có gì ngăn cản con người làm việc ác miễn sao trốn tránh được cặp mắt của luật pháp là được, cho nên xã hội rất bấp bênh. Nếu vua và dân hiểu được luật nhân quả thì đất nước dễ thanh bình và dân sẽ được hạnh phúc.

Luật nhân quả rất đơn giản, nếu muốn có một kết quả tốt thì ta phải tạo nhân lành. Thí dụ như khi ta nuôi dưỡng một ý nghĩ hận thù thì ta không thể vui cười hồn nhiên được. Khi ta gạt gẫm người khác thì tối về ngủ không yên giấc vì sợ bị phát hiện. Khi ta gieo hạt lúa thì không bao giờ được cây cổ thụ. Khi con người bắt đầu hiểu được như vậy thì họ lấy về được một phần sức mạnh của những vị thần linh. Họ bắt đầu làm chủ được tương lai của họ và lấy lại định mệnh của họ từ tay các vị thần. Hiểu và tin được luật nhân quả là một cuộc cách mạng tâm linh (spiritual revolution) vì sự nhận thức đó sẽ phá tan gông cùm của sự mê tín và giúp con người làm chủ được cuộc sống của họ.

Luật Nhân Quả và khái niệm không gian thời gian

Khi đi từ thế giới tâm linh qua thế giới vật chất thì sự thể hiện của luật nhân quả thay đổi từ rõ đến mờ. Sự thể nghiệm ở thế giới tâm linh rất nhanh và rõ nhưng khi qua cái màn nặng nề của thế giới vật chất thì luật nhân quả bị loãng ra vì phải trải qua nhiều thời gian mới hiện ra rõ được. Cũng vì thế mà khi con mắt bị vật chất làm mờ rồi rất khó mà nhận thức luật nhân quả. Thí dụ như kẻ trộm thành công một vài lần rất khó nhận thức rằng mình sớm muộn gì sẽ vào tù. Nếu kẻ trộm đó nhận thức rằng mình cần phải thay đổi lòng tham của mình (thế giới tâm lý) thì trong tức khắc có khả năng thay đổi được chiều hướng cuộc sống mình bằng cách học nghề và làm ăn lương thiện. Ngược lại, nếu anh ta cứ tiếp tục hành nghề bất lương, lòng tham càng lớn và ăn trộm càng táo bạo hơn, thì một thời gian sau đó anh bị bắt vào tù và sẽ hối hận (thế giới vật chất).

Như vậy, khi nhận thức ở tâm linh thì chuyển nghiệp (karma) rất nhanh, đợi khi nó thể hiện ở cõi vật chất rồi thì cái thời gian thay đổi rất chậm chạp, khó khăn, phức tạp và khổ sở. Với đời sống con người có giới hạn thời gian, sự nhận thức có được khi hoàn cảnh xấu xảy ra đôi lúc quá trễ. Con người có thể không còn đủ thời giờ để cải thiện. Ngoài ra khi họ tiến quá sâu trong hoàn cảnh xấu, trở lại điểm ban đầu rất là gian nan. Thí dụ như anh trộm khi ra tù muốn học lại thì tuổi cao, kiến thức đổi khác nhiều, bạn bè cùng lứa đã có sự nghiệp thành công hết. Anh ta phải khuất phục sự chậm chạp của tuổi cao và lòng mặc cảm để đi học lại. Mặc dù như thế, anh ta sẽ khó mà ngang hàng với các bạn được vì mất khoảng thời gian quá lâu trong tù.

Khi hiểu được luật nhân quả thì câu hỏi có định mệnh (destiny) hay không là tùy nơi con người. Định mệnh có thật khi ta để lực (force) nhân quả lôi cuốn và thụ động để cái nhân ở tâm lý biến thành cái quả ở thế giới vật chất. Định mệnh không có khi ta chủ động biến chuyển những tư tưởng (nhân) xấu thành tốt và theo đó diễn biến (quả) tốt lành sẽ đến với ta. Đôi lúc cái nhận thức nhân quả ở thế giới vật chất rất khó khăn vì có người làm lành mà sao lại gặp ác, rồi họ đâm ra chán nản và cho rằng không có luật nhân quả. Sở dĩ như vậy vì con mắt phàm không thể nhìn thấu được quá khứ và không hiểu được những khúc mắc của nghiệp. Nhưng nếu có người nào đó giữ được tâm hồn tha thứ buông xả thì mặc dù biến cố xấu đến với họ đó, nhưng cái tác động trên tâm lý tạo sự đau khổ giảm đi rất nhiều. Thì đó chẳng qua là một điều lành trong một biến cố dữ. Hiểu được luật nhân quả ở tâm thì ta nhận thức rõ hơn và ta sẽ thấy sự thay đổi nhanh hơn.

Nghiệp (karma) là những biến cố vui buồn xảy ra trong đời người. Nghiệp, dòng sông nhân quả trong cuộc đời con người, rất là phức tạp. Nghiệp không phải đơn giản như một cái máy, ta bấm nút (nhân) thì máy hoạt động (quả). Nghiệp có thể ví như một dòng sông và nhân quả là những phân tử (molecule) nước lưu chuyển, tác động lẫn nhau trong dòng sông đó. Ngoài nhân-quả ra còn yếu tố duyên nữa. Duyên là những yếu tố ở không gian và thời gian giúp nhân trở thành quả hoặc ngược lại ngăn cản hoặc đình trệ sự nối liền của nhân quả, làm giảm sức mạnh của quả. Sự sống đa dạng và sáng tạo là nhờ duyên. Như vậy duyên đóng vai trò điều chỉnh (modulation) nhân-quả. Thí dụ dễ hiểu là khi ta gieo hạt lúa (nhân) trong đồng ruộng ẩm ướt phì nhiêu (duyên), vài tháng ta sẽ có những cọng lúa xanh mượt (quả). Nếu có người lữ hành băng qua sa mạc và làm rơi một hạt lúa thì ngàn năm sau hạt lúa đó vẫn là hạt lúa (nghịch duyên). Nếu hạt lúa đó được gió thổi rơi vào một nơi ẩm ướt trên sa mạc thì hạt lúa sẽ mọc thành cọng lúa nhưng rất yếu ớt vì thiếu phân bón. Như thế ta thấy rằng cùng một nhân, qua nhiều duyên khác nhau sẽ cho ta kết quả khác nhau. Thực tế nhân quả không đơn giản như trên mà hoạt động như một mạng lưới nhện (web).

Một nhân có thể là khởi đầu của một chuỗi phản ứng (chain of events). Những yếu tố duyên tác động lên chuỗi phản ứng đó để cho ra nhiều kết quả ở nhiều từng lớp khác nhau. Thí dụ: Có một người vì lòng tham (nhân) phá rừng bán gỗ làm lợi nhuận cho riêng mình. Trời mưa, không có rễ cây hút nước (duyên) nên tạo thành lụt (quả), loài chim mất môi sinh (duyên) dời đi nơi khác (quả). Không có chim ăn (duyên) nên sâu bọ lan tràn đồng ruộng (quả). Không có cây hút thán khí (CO²) nên từ đó khí hậu bị ô nhiễm. Một nhân thiếu sáng suốt sẽ gây ra rất nhiều hậu quả tai hại về sau mà ta khó có thể lường trước được.

Giới luật là nhằm biến đổi cái duyên để cho cái nhân tham, sân và si không có cơ hội để biến thành quả dữ (tham-ăn trộm, sân-giết chóc, si-đau khổ). Xuất gia là tránh xa những duyên có thể dẫn đến quả dữ và gần gũi với những duyên khuyến khích quả lành được biểu hiện. Tuy nhiên thay đổi duyên ở thế giới vật chất không bền vững lắm. Thí dụ lòng tham tiền có thể biến thành tham chùa mình được đẹp nhứt, sân (giận) có thể biến thành bực bội khi đệ tử quên chấp tay xá mình, và si là chấp vào thời gian tụng kinh mà không hiểu ý kinh tạo ra sự tranh chấp hơn thua. Cho nên vào cảnh tịnh mà còn giữ mầm mống tham, sân, si thì cảnh tịnh đó sẽ trở nên cảnh ưu phiền.

Thiền tông chú trọng đến cái duyên ở tâm là tư tưởng. Tham, sân, si mà không có tư tưởng để nuôi dưỡng chúng thì dần dần sẽ tự tiêu mòn. Cho nên giữ giới nơi tâm thì hiệu nghiệm hơn là giữ ở thân hay cảnh. Nếu tâm ta nuôi dưỡng sự bực dọc mà miệng thì tụng kinh thì khó có thể mà ta có được hạnh phúc vì càng tụng kinh, càng mệt mỏi thì sự bực dọc càng nhiều hơn nữa. Một trong những phương pháp thiền là ta nhận thức sự bực bội và từ bi hỷ xả phóng sanh nó ra theo từng hơi thở nhẹ nhàng rồi dần dần sự bực bội đó sẽ tan biến. Đó là một cách “tụng kinh sống” hữu hiệu nhứt. Tụng kinh sống là tụng ý (thay vì chữ) kinh trong từng hơi thở, trong lúc đi, đứng, nằm và ngồi. Nói một cách khác, thiền hay tụng kinh sống là khi ta ý thức không tạo cái duyên nuôi dưỡng tham, sân, si trong tâm ta. Nếu ta không nuôi chúng thì tự động chúng sẽ rời bỏ ta. Rồi ta sẽ trở về sống với con người hạnh phúc của ta.

Nhân quả và Thiên Chúa giáo

Mặc dù Thiên Chúa giáo không đề cập nhân quả một cách trực tiếp nhưng tất cả những câu chuyện trong Thánh kinh đều khuyên răn con chiên hãy củng cố lòng tin Chúa, thương người, giúp đỡ xã hội thì sẽ được cuộc sống hạnh phúc trong vĩnh cửu. Nói một cách khác Chúa khuyên con chiên tạo nhân lành (lòng tin, thương người, tha thứ), tạo duyên lành (xây dựng một xã hội lấy nền tảng là sự yêu thương đùm bọc lẫn nhau, truyền đạo cho nhiều người được nhận thức) thì kết quả cuộc sống hạnh phúc sẽ dễ được thực hiện trên thế gian này và nếu tất cả mọi người làm được thì sẽ được hạnh phúc trong vĩnh cửu.

Tuy nhiên có nhiều con chiên quá cuồng tín dùng sức mạnh áp đặt niềm tin lên kẻ khác và kết quả là hận thù và chiến tranh. Điều dễ hiểu là vì cái nhân là tham (muốn cá nhân mình được nhiều phước khi dẫn người khác vào đạo), sân (bực tức khi người ta không theo đạo mình) và si mê (ngạo mạn coi đạo mình trên tất cả các đạo khác) thì kết quả sẽ là chiến tranh và đau khổ. Vấn đề này không hẳn xảy ra ở đạo Chúa mà còn gặp ở nhiều tôn giáo khác hoặc ngay cả ở đạo Phật (phái này chê bai phái khác). Đó là vì con người mê lầm không chữa trị cái tham, sân si nơi chính mình mà muốn thay đổi thế gian. Muốn cái quả khác cái nhân thì không bao giờ có được. Nếu có kẻ nào nói làm được hẳn là họ tự gạt chính họ, sống trong ảo tưởng u mê. Tôn giáo cũng như thuốc, trị đúng bịnh thì thuốc hay, dù có thuốc quý mà dùng sai bịnh thì thuốc quý có thể thành độc dược. Vì thế không thể nói thuốc này hay hơn thuốc kia được. Đạo Phật có thí dụ ngón tay (phương tiện) chỉ mặt trăng, nếu ta ở nhiều nơi khác nhau thì ngón tay sẽ chỉ nhiều hướng khác nhau, nhưng khi nhìn thấy mặt trăng (cứu cánh) thì chỉ có một.

Tác động trên tâm lý của Thiên Chúa giáo là dùng tình thương người và sự tha thứ tạo cái duyên lành làm giảm bớt ảnh hưởng của hoàn cảnh xấu (quả). Nếu ta tin vào một Thượng Đế công bằng bác ái ở bất cứ mọi nơi và mọi lúc, thì ta giao phó cho Ngài xử phạt những bất công trong cuộc đời ta. Như thế ta không mất ngủ bực tức tìm cách trả thù hay tìm những lời nói đâm thọc xỏ xiên. Với lòng tin đó ta sẵn sàng tha thứ kẻ muốn ám hại ta, tâm ta được an ổn và ta gieo rắc sự an ổn đó cho những người chung quanh ta. Làm được như vậy, mặc dù ta không mở miệng truyền giáo nhưng sẽ có rất nhiều người theo vì họ mến ta. Như thế lời cầu nguyện hữu hiệu nhứt phát xuất từ tư tưởng tha thứ thương yêu chớ không phải từ miệng nói tiếng thương yêu trống rỗng. Giáo đường chân thật của một linh mục hay mục sư là sự an ổn của con chiên khi họ cảm nhận được tình thương và sự tha thứ chân tình qua hành động của vị mục sư đó, chớ không phải cái giáo đường bằng ngói, bằng gạch. Cái giáo đường vật chất không bao giờ làm ấm được lòng người. Ta không thể nào gieo rắc sự an lành chung quanh ta nếu ta không có cái nhân của sự an lành đó trong tâm ta. Ta có thể dối chính ta chớ không thể dối với Thượng Đế và luật nhân quả được.

Tuy nhân quả xuất xứ từ Phật giáo nhưng không hạn chế ở phạm vi tôn giáo. Hiểu được nhân quả giúp ta rất nhiều trong việc phòng ngừa bịnh tật. Trong Đông Y có câu người y sĩ giỏi trị bịnh lúc mà bịnh chưa phát triển. Y khoa hiện đại cũng đồng ý với vấn đề ngưà bịnh hơn là chữa bịnh. Cách tốt nhứt cho con người về vấn đề sức khỏe và xã hội về vấn đề tài chánh là thay đổi cuộc sống để ngừa bịnh. Muốn ngừa bịnh (quả) ta phải hiểu cho ra lẽ những yếu tố gây ra bịnh (nhân), tìm cách làm suy giảm những nguyên nhân gây ra bịnh, tìm cách không tạo duyên xấu để cho hậu quả bịnh dễ xảy ra và củng cố những duyên lành để ngăn ngừa bịnh.

Bây giờ ta hiểu nguyên nhân của nhiều chứng bịnh là do vi trùng (bacteria) và vi khuẩn (virus) có kích thước nhỏ hơn vi trùng gây ra. Để làm suy giảm những nguyên nhân tạo ra bịnh, những nhà thuốc sáng chế ra các loại thuốc trụ sinh. Sự ỷ y có thuốc trụ sinh để trị bịnh mà không cần phòng ngừa hoặc dùng thuốc trụ sinh một cách không phân biệt đưa đến sự ra đời của những siêu vi trùng (“super bugs”) có sức kháng trụ sinh. Về phần bịnh nhân phải ráng ăn ở vệ sinh để không tạo cái duyên cho những loại vi trùng xâm chiếm cơ thể họ. Vaccine (chích ngừa) là cách phòng ngừa bịnh bằng cách dùng bộ kháng nhiễm (immune system) để chống lại bịnh. Vaccine là một cách thay đổi duyên làm cơ thể không thuận cho sự phát triển của bịnh. Một cách ngừa bịnh khác nữa là ta ăn ở vệ sinh, tìm cách tránh những nơi dễ gây ra bịnh tật là góp phần vào sự củng cố những duyên không thích hợp cho bịnh phát triển. Thực tế, ta không thể nào diệt trừ được tất cả những nhân tạo bịnh mà cách dễ dàng nhất là biến đổi cái duyên không thuận cho bịnh-quả phát triển. Con đường trị bịnh bằng cách diệt trừ nhân một cách hoàn toàn rất nguy hiểm vì có thể đưa đến sự mất cân bằng môi sinh và có thể tạo nhiều mối hiểm nguy khác. Thí dụ như khi ta đi du lịch ở những nước khác dễ bịnh tiêu chảy vì ở điều kiện ta sống không có loại vi trùng đó (nhân bị diệt) nên cơ thể ta không có chất miễn nhiễm, dễ sanh ra bịnh. Đứng trên phương diện năng lượng (sức lực, thời gian, tài chánh), dùng duyên để phòng ngừa quả là áp dụng năng lượng một cách hữu hiệu nhứt.

Stress, sự căng thẳng tinh thần, là vấn đề lớn của thời đại. Stress có thể coi như cái cửa mở cho nhiều bịnh tật vào thân thể ta. Những triệu chứng khởi đầu của stress là lo âu, bực bội và mất ngủ. Ngoài ra nhức đầu, buồn nôn, mất ăn, cao máu với nhịp tim đập nhanh cũng có thể là một triệu chứng của stress nữa. Thuở xưa, Đức Phật có cho một thí dụ rất thích hợp với stress ngày nay. Thí dụ rằng có một người bị mũi tên bắn bị thương. Người đó lo âu muốn biết mũi tên này từ đâu tới, ai bắn, lý do nào bắn, rồi lo sợ cho tính mạng, không biết vết thương như thế nào, …, người đó cứ mải lo mà quên tìm cách tháo gỡ mũi tên ra. Tính chất của lo âu là nó không bao giờ chịu dừng ở hiện tại mà lại có chiều hướng lẩn quẩn ở quá khứ hoặc tương lai. Chính vì vậy mà sự lo âu ngày càng tăng vì khi tư tưởng lẩn quẩn ở quá khứ và tương lai thì ta sẽ không giải quyết được vấn đề và tình trạng vô định đó tạo nên cái duyên làm cho lo âu càng lớn dần.

Một khoa tâm lý trị liệu (psychotherapy) trị stress là Cognitive behavioral psychotherapy, tạm dịch là tâm lý trị liệu qua nhận thức. Ta nhận thức ta có những tư tưởng sai lầm dẫn đến sự lo âu đau khổ (1), quán xét kỹ càng rằng những tư tưởng đó không có liên hệ ở thực tế (2), sau cùng thay thế vào đó những tư tưởng thích hợp với thực tại hơn (3). Khi nhận thức thích hợp với thực tại thì ta sẽ tìm được biện pháp giải quyết vấn đề một cách hữu hiệu và từ đó nhẹ gánh lo âu. Thí dụ anh A có triệu chứng hay lo (general anxiety disorder). Khi bị chủ sở phê bình, anh về ngủ không được, liên tưởng đến ngày mai mình sẽ mất việc, không có tiền trả tiền nhà, vợ anh sẽ bực bội bỏ anh (1)… Qua khâu tâm lý trị liệu, anh kiểm duyệt lại thực tế thì không thấy có dấu hiệu nào chủ sở sẽ đuổi anh, chủ anh chỉ muốn anh sửa khuyết điểm nhỏ mà thôi, vợ chồng lúc nào cũng hòa thuận (2)… Khi nhận thức như vậy, anh cảm thấy yên tâm và hiểu rằng mình có phản ứng quá đáng (3). Khi nhìn ở khía cạnh nhân duyên quả, thì khi anh nhận thức rằng cái nhân sai lầm không quan trọng lắm, không để những tư tưởng lo âu thổi phồng sự thật (nghịch duyên), và anh tìm cách học hỏi trau giồi nghề nghiệp thì kết quả sẽ tốt đẹp. Như thế hiểu được nhân quả thì cuộc sống ta sẽ nhẹ gánh lo âu.

Nhân quả không phải là một khái niệm tôn giáo (dogma) mà là một quy luật thiên nhiên (natural law) ảnh hưởng thế giới nội tâm và thế giới vật chất. Nhân quả còn là một lực (force) gắn liền hai biến cố với nhau qua không gian và thời gian.

Ta khó có thể thay đổi nhân ở quá khứ, nhưng điều dễ làm là thay đổi duyên ở hiện tại để quả xấu khó có thể biểu hiện được. Ở thế giới vật chất, duyên lành là bạn tốt, nơi chốn yên tịnh (chùa, nhà thờ, học đường…). Ở thế giới tâm lý, duyên lành là ý muốn học hỏi, trau giồi trí tuệ, cố giữ lòng nhân từ, bác ái và tha thứ. Gần duyên lành thì quả xấu khó thể hiện hoặc thể hiện một cách yếu ớt hơn.

Nếu ta còn giữ tâm tham, sân, si (làm nhân) và nuôi dưỡng những tư tưởng tham, sân, si (ác duyên) thì không bao giờ biến đổi được cuộc sống hay xã hội một cách tốt lành được (quả). Cảnh lúc nào cũng hiện theo tâm. Người mang tâm xấu lên thiên đàng sớm muộn gì cũng biến cảnh thiên đàng thành địa ngục.

Hiểu được nhân quả thì ta nắm giữ được chìa khóa mở cửa tự do trong đời ta và giúp ta làm chủ lấy cuộc đời. Không hiểu nhân quả thì ta sẽ sống trong mê tín dị đoan hay trong sự lo âu của cuộc sống vô định, bấp bênh.

Hiểu được nhân quả giúp ta định hướng dễ dàng và có một hướng đi và một quan niệm sống vững chắc trước mọi hoàn cảnh khó khăn.

Bác sĩ Thái Minh Trung

Tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 3/2015

NCPH

【#7】Luật Nhân Quả Báo Ứng Nghiệp Báo Trộm Cắp Tham Lam

Luật Nhân Quả Báo Ứng NGHIỆP BÁO Trộm Cắp Tham Lam – Lời Phật Dạy Về Luật Nhân Quả

#loiphatday #chuyenphatgiaohaynhat #chanlycuocsong

Top những video được theo dõi nhiều nhất trong kênh

1. Nhạc Thiền Cho Buổi Tối Ngủ Ngon Tĩnh Tâm An Lạc – Nhạc Thiền Phật Giáo Mới Nhất Và Hay Nhất

2. 1 điều nhịn 9 điều lành – Lời Phật Dạy CỰC HAY về hạnh nhẫn nhục

3. Nhân Quả Nghiệp Báo Luân Hồi – Những Lời Phật Dạy

4. Sống Chết có Số, Phú Quý do Trời hay do con người lựa chọn?

5. BUDDHA – Cuộc Đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni – Tập Cuối – Rất Hay

6. Người Thất Tình Nên Nghe Video Này – Phật Dạy Về Tình Yêu – Rất Hay

7. HỢP TAN Ở ĐỜI Sống Chậm Lại Để Hạnh Phúc Yêu Thương Nhiều Hơn Bí Quyết Sống Của Người Trí Tuệ

8. Nhà Ai Có THẦN THỔ ĐỊA Nên Nghe 1 Lần Sẽ Được Phù Hộ Vận May Tài Lộc Vô Như Nước – New

9. Lời Phật Dạy Làm Sao Để Sống An Vui Hạnh Phúc Trong Cuộc Sống – Rất Hay

10. Buông Đi Cho Nhẹ Kiếp Người – buông đi để có nụ cười thênh thang – RẤT HAY

11. Giác Ngộ Để Tâm Luôn Thanh Tịnh Bớt Khổ Trong Cuộc Sống – Phật Dạy 8 Điều Giác Ngộ Của Bậc Đại Nhân

12. Tâm tốt nhưng Miệng không tốt thì dù Giàu Sang Đến Mấy Cũng trở nên nghèo hèn khốn khổ

13. Đạt Ma Dịch Cân Kinh – Phương Pháp Dưỡng Sinh Và Điều Trị Bệnh Của Đạt Ma Tổ Sư

14. Ăn Chay Đi Chùa Niệm Phật Đều Vô Ích Khi Chưa Nghe Những Điều Này – Nghe 1 Lần Để Giác Ngộ Hết Khổ

15. Ai Đã và Đang nuôi Chó Mèo thì nên Nghe Qua câu chuyện này để nhận được nhiều Phúc Báo Hơn niệm phật

16. Có Nên Tin Vào DUYÊN NỢ Không? Làm Sao Để Biết Mình Có Duyên Nợ Với Ai

17. Tai Hại Khẩu Nghiệp Và Quả Báo Của Việc Nói Lời Bất Thiện Ý

18. Tâm Tốt Miệng Nói Những Lời Tốt – QUẢ BÁO GIÀU SANG phúc đức nhiều đời kiếp

19. Những Câu Nói Thâm Thúy Đáng Suy Ngâm về Cuộc Sống – Càng Nghe Càng Thấm – Thanh Tịnh Đạo

20. Lời Phật Dạy Về Cách Tạo Phước Đức – Cách Thay Đổi Vận Mệnh

【#8】Luật Nhân Quả Ứng Xuống Nhà Họ Ngô Và Triết Lý Thâm Thúy: Ở Đời Chớ Nên Tham Sân Si!

Câu chuyện xảy ra với nhà họ Ngô và nhiều ví dụ thực tế trong cuộc sống đều đã cho thấy, ở đời luôn có luật nhân quả. Vì thế, tham sân si là nên được…

luật nhân quả từ câu chuyện “sân si” trong gia đình họ Ngô

Chuyện kể rằng, vào thời nhà Minh (Trung Quốc) có người thư sinh tên Ngô Tử Điềm, vợ là Tôn thị.

Mẹ ruột của Ngô Tử Điềm mất sớm, chẳng bao lâu sau cha anh đi bước nữa. Vậy nhưng mẹ kế đối xử với Tử Điềm rất bất công, lại thường xuyên thiên vị em trai.

Kể từ ngày ấy, lòng chàng thư sinh dần sinh ra nhiều bất bình và oán hận. Sau khi lập gia thất, mẹ kế cũng chẳng hề đối xử tử tế với vợ của Tử Điềm.

Nhiều lần Ngô Tử Điềm cảm thấy vô cùng uất ức, muốn cùng mẹ kế nói lý lẽ. Nhưng mỗi lần như vậy, Tôn thị đều khuyên ngăn chồng không nên đi.

Khi cha qua đời, ruộng đất và ngân lượng để lại đều bị mẹ kế và em trai chiếm phần tốt nhất. Ngô Tử Điềm chỉ được thừa hưởng một mảnh ruộng xấu.

Tới nước này, chàng thư sinh cảm thấy trong lòng nhịn không nổi, một mực muốn đi tìm mẹ kế đôi co. Nhưng người vợ hiền thục lại một lần nữa ngăn cản chồng.

Chẳng bao lâu sau, con trai của mẹ kế vì ham mê cờ bạc nên đã bán sách gia sản, khiến hai mẹ con họ rơi vào cảnh túng quẫn chẳng khác nào ăn mày.

Sau khi em trai và mẹ kế rơi vào cảnh túng quẫn, vợ Ngô Tử Điềm đã khuyên chồng đón hai người về nhà mình ở. Về sau, vợ của Ngô Tử Điềm sinh được 3 người con trai. Người xưa có câu “Tam nam bất phú”, nhưng ba cậu quý tử nhà họ Ngô đều thi đậu tiến sĩ.

Người dân trong làng đều nói rằng, đó chính là “phúc báo” của gia đình Tử Điềm.

Đổi lại, nếu bạn là Ngô Tử Điềm, liệu bạn sẽ đối xử thế nào với em trai và người mẹ kế?

Cuộc đời không dài, hãy tận hưởng từng ngày hạnh phúc, an lạc!

Cổ nhân từng dạy, muốn trở thành người có văn hóa, việc đầu tiên phải làm chính là học cách chịu thiệt, học cách nhẫn nhịn. Chữ “nhẫn” ấy không chỉ cần thiết đối với người ngoài mà còn quan trọng với cả người thân

Bởi lẽ, người thân là gia đình, là ruột thịt, là máu mủ cả đời không thể bỏ rơi. Vì thế, ta hà cớ chi phải so đo, trách cứ? Đối với người thân mà quá sân si, sau cùng người chịu thiệt vẫn là mình.

Trong câu chuyện của Ngô Tử Điềm, vợ anh là một người hiểu lý lẽ, giúp được chồng tránh nhiều tai vạ. Cổ nhân có câu “thê hiền phu họa thiểu”, nghĩa là vợ hiền đức thì chồng bớt gặp họa, âu cũng là như vậy.

Đổi lại, nếu là chúng ta, liệu mấy người có thể hành xử được như Tôn thị? Có chăng, ta sẽ cười lên nỗi bất hạnh của “kẻ thù” mà nói rằng: “Đúng là ông trời có mắt, mấy người cũng có ngày hôm nay!”

Và liệu mấy người có thể buông bỏ mọi thù hận, mở rộng vòng tay đón những người năm xưa từng hành hạ mình về chung một mái nhà, rồi cùng họ vui vẻ ăn tất niên đón năm mới, sống một gia đình hòa thuận, êm ấm?

Người đời nói rằng gia đình Ngô Tử Điềm có tới 3 tiến sĩ thành danh, quả đúng là “ở hiền gặp lành”, là ân đức trời cho.

Lại nói, nếu sinh ra trong một gia đình mà cha mẹ luôn so đo thiệt – hơn với họ hàng, những người con ấy sao có thể thấm nhuần đạo lý của sách thánh hiền, sao có thể lưu danh bảng vàng?

Vì vậy, sống ở đời không cần quá sân si. Thay vào đó, ta nên học được cách chịu thiệt.

Bởi người khác nợ bạn điều gì, ông trời sẽ trả cho bạn thứ khác tương xứng. Chẳng thế mà cổ nhân vẫn thường răn dạy hậu thế: “Chịu thiệt là phúc”.

Phúc phận ấy có được là bởi trời cao có mắt, là nhờ sự công bằng hiển nhiên của lẽ đời. Ngược lại, nếu bị danh lợi làm mờ mắt, con người ta vĩnh viễn sẽ không thấu hiểu được đạo lý, tâm trí cũng chẳng lúc nào được thanh thản.

Vậy chi bằng hãy cứ an lạc mà sống, tin vào sự công bằng của Trời Phật. Không oán hận, không sân si, niềm vui trong cuộc sống ắt sẽ chẳng thể mấy đi, mà tương lai còn được hồi đáp bằng hết thảy những gì tốt đẹp nhất.

【#9】Tội Bất Hiếu Trời Đất Không Dung, Luật Nhân Quả Chẳng Bỏ Sót Một Ai

Cổ nhân có câu: “Bách thiện hiếu vi tiên”, trong tất cả các đức hạnh của con người thì đạo Hiếu là hàng đầu. Bởi vậy, phận làm con phải biết kính trên nhường dưới báo đáp công lao dưỡng dục sinh thành của cha mẹ.

Câu chuyện về người mẹ đầu thai để đòi nợ

Tại tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc có đôi vợ chồng nuôi một chú chó nhỏ đặt tên là Lu Lu. Lu Lu lớn lên vô cùng đáng yêu với bộ lông trắng mượt kiêu hãnh nên được chủ nhân hết mực cưng chiều. Mỗi ngày họ đều cho nó uống sữa bò, ăn thịt chân giò hun khói, tắm rửa, chỗ ngủ thì vô cùng êm ái thơm tho. Khách đến chơi nhìn thấy Lu Lu như vậy đều bảo nó thật là có phúc.

Nhưng một ngày kia chú chó nhỏ đột nhiên lăn ra chết bất ngờ. Cả nhà nọ đều khóc thương, mãi cho đến vài tháng sau đôi vợ chồng trẻ vẫn không hết buồn rầu. Hàng xóm thấy thế đều không hiểu được phải thốt lên rằng : “Chẳng phải nó chỉ là một con chó thôi sao, có cần phải khổ sở đến như thế? Lúc mẹ họ chết tôi cũng không thấy họ rơi nhiều nước mắt đến như vậy!”.

Một trưa nọ, khi người chồng buồn bã vì nhớ Lu Lu mà thiếp đi thì thấy mẹ anh hiện về nói với anh rằng: “Lúc mẹ sắp qua đời, hai con quá bận rộn làm ăn mà không chăm sóc mẹ. Kết quả là đã để mẹ phải lẻ loi trơ trọi một mình trong góc nhà. Thậm chí lúc mẹ qua đời hai con cũng không về bên cạnh mẹ lần cuối. Sau khi mẹ ra đi, các con cũng không hề thương xót mà rơi nhiều nước mắt. Là con nhưng các con đã không làm tròn bổn phận của mình. Lu Lu chính là mẹ chuyển sinh đến để đòi món nợ này. Các con nghĩ lại sẽ thấy thời gian các con chăm sóc Lu Lu chính bằng với thời gian các con bỏ mặc mẹ bị bệnh đấy. Duyên hết rồi, nợ cũng đã trả xong, mẹ phải đi đây!”. Sau khi nói xong, mẹ anh liền rời đi.

Giật mình tỉnh lại, người chồng ướt đẫm mồ hôi pha lẫn bần thần. Anh ngẫm lại thời gian đem Lu Lu về nuôi đúng hai năm, cũng chính là hai năm vợ chồng anh lao vào làm ăn mà quên mất bổn phận làm con, bỏ mặc mẹ lẻ loi ốm đau bệnh tật ở góc phòng. Khi về nhà cũng vì quá mệt mỏi nên hiếm lời hỏi thăm. Lúc bà mất hai vợ chồng vì bận bịu cũng không túc trực bên cạnh. Sau khi bà ra đi, bản thân anh cũng không quá buồn rầu mà nhanh chóng quên đi rồi tiếp tục lao vào kiếm tiền.

Khi được nghe chồng kể lại, người vợ rơi nước mắt nhìn lên bàn thờ mẹ chồng mà rằng: “Hóa ra thiếu nợ người khác cái gì đều phải hoàn trả. Người xưa nói ‘Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác báo’ quả là không sai, chúng ta đã quá có lỗi với mẹ rồi”.

“Lên non mới biết non cao, nuôi con mới biết công lao mẫu từ”. Mẹ là người mang nặng đẻ đau mới nên hình hài chúng ta hôm nay. Vì con mà mẹ chịu biết bao vất vả cực nhọc, thức đêm hôm chăm sóc cho ta từng miếng ăn giấc ngủ hay đau ốm lúc trái gió trở trời, vì con mà mẹ đã hy sinh cả cuộc đời. Phận làm con chúng ta đã nợ công đức ấy biết bao nhiêu. Người chồng trên chỉ vì quá lo làm ăn mà quên mất rằng, dù anh có kiếm ra nhiều tiền để phụng dưỡng bà đi nữa thì sự thật anh vẫn nợ mẹ sự quan tâm, tình cảm mà cả đời bà đã dành cho anh.

Nhắc đến đây, tôi bỗng nhớ đến câu chuyện của gia đình người hàng xóm bên cạnh nhà, có lẽ cũng vì tội bất hiếu nên cả dòng họ về sau không ai có được cuộc sống đàng hoàng, bình yên.

Mẹ là người tần tảo nuôi chúng ta nên người, nhưng thành người rồi chúng ta lại quên mất rằng không có Mẹ thì không có tất cả. (Ảnh: Dương Tuấn Minh )

Câu chuyện về người mẹ chết trong đói lạnh

Hàng xóm cạnh nhà tôi có một cụ bà sinh được ba người con gồm một gái, hai trai. Chồng bà mất sớm vì chiến tranh nên chỉ mình bà còm cõi sớm hôm nuôi ba con khôn lớn.

Khi cả ba người con đã yên bề gia thất thì lúc đó bà cũng gần kề 80 tuổi. Tuy nhiên cuộc sống lúc ấy của bà cũng chẳng mấy êm đềm. Người chị cả có gia đình rất hiếm khi về thăm bà cụ. Người con trai thứ hai cũng không có việc làm gì ổn định, nay đây mai đó, lại có đến ba đời vợ và hai người con.

Tuy nhiên câu chuyện không chỉ dừng ở đó. Một ngày nọ, bà cụ lâm bệnh nặng lại thêm phần già yếu nên chỉ có thể nằm một chỗ không đi lại được. Lúc ấy bà đang sống cùng với hai người con trai và vợ con của người con trai thứ hai.

Khi biết bà già yếu, người con dâu sợ trách nhiệm nên bảo chồng dọn về nhà mình ở cách đó 20 cây số, vì thế người con trai thứ lâu lâu mới ghé đến chăm bà cụ. Người chị cả bình thường không về, thì đến lúc bà cụ già yếu cũng hiếm khi lui tới. Phần trách nhiệm lo bà cụ dồn hết cho người con trai út vốn thần kinh không bình thường.

Vào một ngày sau hai năm ròng bệnh tật, hàng xóm đi ngang qua nhiều ngày nhưng thấy cửa phòng bà cụ đóng im ỉm chứ không mở ra như mọi hôm. Họ gọi cũng không ai trả lời nên bèn đẩy cửa đi vào. Cảnh tưởng trước mắt khiến ai chứng kiến cũng không khỏi xót xa. Bà cụ nằm đó không mặc áo, bộ xương già nua co quắp ốm yếu vì lâu ngày bị đói, một mùi hôi thối ẩm ướt bốc lên.

Mọi người xì xầm với nhau rằng, có lẽ cụ chết vì đói, áo quần dính phân và nước tiểu hôi thối không mặc được nên cụ phải cởi ra trần truồng như vậy, thêm phần trời về đêm trở lạnh không có gì đắp đã khiến cụ qua đời. Tuy nhiên, điều tôi ấn tượng sâu sắc hơn cả là, dù ba người con của cụ đối xử tệ bạc như thế nhưng chưa một lần nào cụ than vãn với hàng xóm về con mình cả.

Sau khi chôn cất cụ không lâu thì giống như báo ứng nhãn tiền đến với gia đình đó. Chồng người chị cả bỗng dưng bị tai biến phải nằm liệt giường, con trai người chị cả thì sa vào nghiện ngập nên phải đi tù. Người vợ của con trai thứ thì khinh rẻ chồng, bắt ông giặt đồ nấu cơm hầu hạ như người ở, còn bà thì lo ăn diện đi theo người khác trước mặt ông. Người con trai út của bà cụ thì thêm phần điên loạn, suốt ngày đi ngoài đường lẩm bẩm một mình, thấy ở ngã ba hay ngoài đường có bát hương vất vưởng, ông đều rinh về nhà. Bàn thờ bà cụ thì không ai hương khói phủ một màu lạnh tanh, u uất.

Đây phải chăng là cái giá nhãn tiền mà ba người con bà cụ phải chịu lấy vì tội bất hiếu. Bởi cả đời bà cụ đã mòn mỏi hy sinh cho họ nhưng dù khi bà còn sống cho đến khi chết đi, chưa một lần bà nhận được sự hiếu thuận chân tình từ con mình.

“Nhọc nhằn nuôi lớn, dạy khôn

Say giấc no tròn, Mẹ bế Mẹ chăm

Đau những lúc đêm nằm mệt mỏi

Ốm thêm nhiều bởi đói vì con

Mong sao cuộc sống trường tồn

Mưu sinh Mẹ khổ, héo hon từng ngày

Chẳng ai hiểu… ai hay điều đó

Chỉ thấy mình từ nhỏ sướng, ngon

Nỗi đau khiến Mẹ hao mòn

Tuổi xuân lặng lẽ dành con dại khờ

Đời vất vả nào mơ với mộng

Mẹ hy sinh mở rộng tâm hồn”

(Bài thơ “Mẹ trong tiếng gọi tim con” của Vượng Phạm)

Mẹ đã hy sinh cho con nhiều như thế, dù con thế nào mẹ vẫn ôm ấp chở che, nhưng ai thấu hết nỗi đau của mẹ. Là phận làm con chúng ta phải làm tròn chữ Hiếu, đừng để mẹ đi rồi mới tiếc nuối xót xa. Và hơn thế nữa trời xanh luôn có mắt nên sẽ không thể im lặng trước sự vô tình của những người con, bởi “Sống ở đời có vay có trả, luật nhân quả không bỏ sót một ai”.

【#10】‘muôn Kiếp Nhân Sinh’, Cuốn Sách Giải Đáp Luật Nhân Quả Và Luân Hồi Của Vũ Trụ

Thông điệp quan trọng nhất của tác phẩm là nguồn gốc và cách thức vận hành của luật nhân quả và luân hồi của vũ trụ.

Tác phẩm “Muôn kiếp nhân sinh – Many times – Many lives” của GS. John Vũ – Nguyên Phong sẽ được phát hành ở Việt Nam và trên Amazon với 3 phiên bản: Bìa mềm, bìa cứng và 555 ấn bản đặc biệt.

“Muôn kiếp nhân sinh” mang lại cho bạn đọc kho kiến thức đồ sộ và mới mẻ, những câu chuyện kỳ lạ, những kiến giải uyên bác và tiên đoán bất ngờ về hiện tại và tương lai của con người và thế giới. Thông điệp quan trọng nhất của tác phẩm là nguồn gốc và cách thức vận hành của luật nhân quả và luân hồi của vũ trụ.

Cuốn sách thức tỉnh và thay đổi tâm thức con người.

Tác phẩm được tác giả viết từ năm 2021 và hoàn tất đầu năm 2021 ghi lại những câu chuyện, trải nghiệm về tiền kiếp kỳ lạ từ nhiều kiếp sống trước đây của người bạn tâm giao lâu năm, ông Thomas – một nhà kinh doanh tài chính ở New York. Những câu chuyện chưa từng tiết lộ này sẽ giúp mọi người trên thế giới chiêm nghiệm, khám phá về các quy luật về luật Nhân quả và Luân hồi của vũ trụ giữa lúc thế giới đang đang gặp nhiều cuộc khủng hoảng, trải qua nhiều biến động hằng ngày.

Cuốn sách đưa người đọc bước vào cuộc du hành thám hiểm vượt không gian và thời gian. Từ cuộc gặp gỡ tiền định tại Đài Loan của GS. John Vu với Thomas và các nhà khoa học năm 2008, chúng ta sẽ được trực tiếp trải nghiệm hành trình nhân quả luân hồi vô tiền khoáng hậu qua nhiều đời nhiều kiếp của Thomas – từ nền văn minh Atlantic huyền thoại đến những vương triều Ai Cập cổ đại và trở về thế giới hiện đại tại nước Mỹ.

Xuyên suốt hành trình muôn lượng kiếp ấy, ta có thể nhìn ra sự liên kết ràng buộc chặt chẽ của nhân – quả, mối liên kết giữa con người và vạn vật, giữa ứng xử của con người và quốc gia, sự điều khiển của vũ trụ và số phận con người. Từ đó, ta hiểu được rằng con người hay tất cả những hiện thân, dạng thức tồn tại hôm nay bắt nguồn từ một nguồn năng lượng vũ trụ chịu sự chi phối của luật nhân quả đã tồn tại, hình thành, trưởng thành từ vô lượng kiếp trước đó theo một quy luật, nhất quán, hoàn chỉnh và không hề có sự tình cờ, ngẫu nhiên.

Điều đặc biệt, cuốn sách chính là quy luật nhân quả và luân hồi được lý giải, phân tích logic theo năng lượng học qua những câu chuyện quá khứ – hiện tại – tương lai, cùng những câu chuyện tình yêu sống động, huyền thoại; những đoạn đối thoại minh triết, thông tuệ hiếm có, được kết nối chặt chẽ với nhau, tạo nên một hành trình chiêm nghiệm, khám phá tâm linh, luân hồi, nhân quả có một không hai, cực kỳ bất ngờ và lôi cuốn.

Đan xen trong “Muôn kiếp nhân sinh” là những lời tiên tri, phân tích bất ngờ về tương lai loài người, vận mệnh các quốc gia, sự luân hồi của các nền văn minh và hành tinh. Đây là quy luật Thành – Trụ – Hoại – Diệt mà không một ai, không một quốc gia nào ngoại lệ cả. Quy luật chu kỳ của vũ trụ diễn giải mọi sự tồn tại đều đi theo lộ trình: Sinh thành, phát triển hưng thịnh, suy thoái rồi ắt phải diệt vong, sau đó một chu kỳ mới sẽ bắt đầu.

Tác giả Nguyên Phong (Vũ Văn Du) du học ở Mỹ từ năm 1968, tốt nghiệp cao học Sinh vật học, Điện toán.

Ông từng là Kỹ sư trưởng của Tập đoàn Boeing của Mỹ, Viện trưởng Viện Công nghệ Sinh học Đại học Carnegie Mellon. Ông được mọi người biết tới là giáo sư John Vu từng giảng dạy ở nhiều trường đại học trên thế giới.

Nguyên Phong là bút danh của bộ sách văn hóa tâm linh được dịch, viết phóng tác từ trải nghiệm, tiềm thức và quá trình nghiên cứu, khám phá các giá trị tinh thần Đông phương.

Ông đã viết phóng tác tác phẩm bất hủ Hành trình về Phương Đông năm 24 tuổi (1974).

Các tác phẩm khác của Nguyên Phong được bạn đọc nhiều thế hệ yêu thích: Ngọc sáng trong hoa sen, Bên rặng tuyết sơn, Hoa sen trên tuyết, Hoa trôi trên sóng nước, Huyền thuật và các đạo sĩ Tây Tạng, Trở về từ xứ tuyết, Trở về từ cõi sáng, Minh triết trong đời sống, Đường mây qua xứ tuyết, Dấu chân trên cát, Đường mây trong cõi mộng, Đường mây trên đất hoa…

Ai cũng có một chọn lựa để sống với nó. Và có những lựa chọn mà đôi khi quá nửa đời người hoặc đến cuối đời bạn mới giật mình: Sao ta không chọn nó sớm hơn?