Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi 1994

--- Bài mới hơn ---

  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 1994
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 1994 Sửa Đổi 35
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 1990
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Slide Bài Giảng Tuyên Truyền Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022, Sửa Đổi 2022
  • SỐ 35-L/CTN NGÀY 22/06/1994 CỦA QUỐC HỘI VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

    Căn cứ vào các điều 44, 46, 48, 77 và 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

    Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981 và sửa đổi, bổ sung ngày 21 tháng 12 năm 1990.

    “Điều 10. Các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, nhà trường và gia đình, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm động viên, giáo dục và tạo điều kiện cho công dân làm tròn nghĩa vụ quân sự”.

    “Điều 11. Địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình hoặc cá nhân có thành tích trong việc thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự thì được khen thưởng theo quy định của Nhà nước”.

    “Điều 17. Công dân nam giới, trước khi đến tuổi nhập ngũ và trước khi nhập ngũ, phải được huấn luyện theo chương trình quân sự phổ thông, bao gồm giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, rèn luyện ý thức tổ chức, kỷ luật và rèn luyện thể lực.

    Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh ở các trường thuộc chương trình chính khoá; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định.

    Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên không học ở các trường do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thủ trưởng cơ quan Nhà nước tổ chức; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.

    Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên thuộc địa phương mình; các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho thanh niên làm việc ở cơ sở mình tham gia huấn luyện quân sự phổ thông”.

    “Điều 19. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị cho công dân phục vụ tại ngũ và gọi công dân nhập ngũ.

    Tháng một hàng năm, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, hiệu trưởng các trường dạy nghề, các trường trung học, thủ trưởng các cơ quan, người phụ trách các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác phải báo cáo danh sách công dân nam giới đủ 17 tuổi trong năm đó cho Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ quốc phòng”.

    “Hàng năm, việc gọi công dân nhập ngũ được tiến hành từ một đến hai lần, thời gian gọi nhập ngũ và số lượng công dân nhập ngũ trong năm do Chính phủ quyết định”.

    “Điều 23. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước cùng các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác có trách nhiệm tổ chức tiễn đưa và bảo đảm cho công dân được gọi nhập ngũ của cơ sở mình có mặt đúng thời gian và địa điểm quy định.

    Chính quyền nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện chế độ, chính sách đối với gia đình quân nhân”.

    “Điều 24. Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập Hội đồng nghĩa vụ quân sự ở cấp mình để giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự ở địa phương.

    Hội đồng nghĩa vụ quân sự gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là Chỉ huy trưởng quân sự, các Uỷ viên là người phụ trách các ngành Kế hoạch, Lao động, Công an, Y tế, Văn hoá – Thông tin, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh.

    Hội đồng nghĩa vụ quân sự làm việc theo nguyên tắc tập thể; nghị quyết của Hội đồng phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành.”

    “2- Đôn đốc, kiểm tra công dân đăng ký nghĩa vụ quân sự, kiểm tra sức khoẻ, khám sức khoẻ;

    3- Đề nghị danh sách công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, được miễn làm nghĩa vụ quân sự;

    4- Đôn đốc, kiểm tra công dân thực hiện lệnh gọi nhập ngũ, lệnh tập trung huấn luyện, diễn tập, lệnh kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu;

    5- Đôn đốc, kiểm tra các cơ quan và tổ chức hữu quan trong việc chấp hành chính sách hậu phương quân đội và quản lý công dân trong diện làm nghĩa vụ quân sự ở địa phương”.

    “2- Lập danh sách công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, được miễn làm nghĩa vụ quân sự;

    3- Đôn đốc, kiểm tra các cơ quan và tổ chức hữu quan trong việc chấp hành chính sách hậu phương quân đội và quản lý công dân trong diện làm nghĩa vụ quân sự ở địa phương.”

    “Điều 29

    1- Những người sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Người chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;

    b) Người là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

    c) Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

    d) Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng cao có nhiều khó khăn, vùng sâu, biên giới, hải đảo xa xôi do Chính phủ quy định; cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước thuộc các ngành khác và cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội được điều động đến làm việc ở những vùng nói trên;

    đ) Người đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận;

    e) Người đang học ở các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học do Chính phủ quy định;

    g) Người đi xây dựng vùng kinh tế mới trong 3 năm đầu.

    2- Những người sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Con của liệt sĩ, con của thương binh, bệnh binh hạng một có thương tật, bệnh tật đặc biệt nặng;

    b) Một người anh hoặc em trai của liệt sĩ;

    c) Một con trai của thương binh hạng một, hạng hai và bệnh binh hạng một;

    d) Thanh niên xung phong, cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước, cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội đã phục vụ từ 24 tháng trở lên ở vùng cao có nhiều khó khăn, vùng sâu, biên giới, hải đảo xa xôi do Chính phủ quy định.

    Trường hợp những người được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này tình nguyện thì có thể được tuyển chọn, gọi nhập ngũ”.

    “Điều 40. Việc huấn luyện cho hạ sĩ quan, binh sĩ trong thời gian ở ngạch dự bị quy định như sau:

    1- Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng một phải tham gia huấn luyện tổng số thời gian nhiều nhất là mười hai tháng.

    Số lần huấn luyện và thời gian huấn luyện của mỗi lần do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.

    2- Việc huấn luyện binh sĩ dự bị hạng hai do Chính phủ quy định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ quốc phòng”.

    “Điều 42. Việc gọi quân nhân dự bị tập trung để huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu theo thời hạn quy định tại Điều 40 và Điều 41 của Luật này do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quyết định.

    Khi cần thiết, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền giữ quân nhân dự bị ở lại lớp huấn luyện thêm một thời gian không quá hai tháng, nhưng tổng số thời gian của các lần huấn luyện không được vượt quá thời gian đã quy định tại Điều 40 của Luật này”.

    “Điều 51. Trong thời gian tại ngũ, quân nhân chuyên nghiệp hưởng chế độ lương, các khoản phụ cấp theo lương và các quyền lợi khác do Chính phủ quy định”.

    “Điều 52. Trong thời gian tập trung huấn luyện và kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, gia đình quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hạng một được hưởng chế độ do Chính phủ quy định”.

    “3- Từ tháng thứ hai mươi lăm trở đi, được hưởng thêm 200% phụ cấp hàng tháng; từ tháng thứ ba mươi bảy trở đi, được hưởng thêm một khoản phụ cấp hàng tháng do Chính phủ quy định;”

    “Điều 55. Quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ khi xuất ngũ được cấp tiền tàu xe, phụ cấp đi đường, được hưởng trợ cấp xuất ngũ, trợ cấp tạo việc làm do Chính phủ quy định.

    Quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ kể từ khi đăng ký vào ngạch dự bị thì được miễn làm nghĩa vụ lao động công ích.

    Thời gian binh sĩ dự bị hạng hai tập trung huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu được trừ vào thời gian làm nghĩa vụ lao động công ích hàng năm”.

    “2- Hạ sĩ quan và binh sĩ trước lúc nhập ngũ làm việc ở cơ quan, cơ sở kinh tế nào thì khi xuất ngũ, cơ quan, cơ sở kinh tế đó có trách nhiệm tiếp nhận lại. Nếu cơ quan, cơ sở cũ đã giải thể, bị đóng cửa hoặc phá sản, thì cơ quan cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết việc làm.

    “Điều 61. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Hiệu trường các trường dạy nghề, Trung học chuyên nghiệp, trường Cao đẳng, trường Đại học, Thủ trưởng cơ quan, người phụ trách các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác phải thống kê quân nhân dự bị và người sẵn sàng nhập ngũ của cơ sở mình để báo cáo với Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.”

    “Điều 64. Khi có lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ thì:

    1- Đình chỉ việc xuất ngũ;

    2- Đình chỉ việc nghỉ phép đối với quân nhân; những quân nhân đang nghỉ phép phải trở về đơn vị ngay;

    3- Chỉ huy trưởng quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi từng công dân nhập ngũ theo quyết định của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

    Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ.

    Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức để công dân chấp hành nghiêm chỉnh lệnh gọi nhập ngũ.”

    a) Các chữ “Hội đồng Nhà nước” được sửa đổi thành các chữ “Uỷ ban thường vụ Quốc hội”;

    b) Các chữ “Hội đồng Bộ trưởng” được sửa đổi thành các chữ “Chính phủ”;

    c) Các chữ “Điều 72” được sửa đổi thành các chữ “Điều 70”;

    d) Các chữ “Điều 73” được sửa đổi thành các chữ “Điều 71”.

    Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật nghĩa vụ quân sự phù hợp với Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tải Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Số 78/2015/qh13 Miễn Phí
  • Bài 2 Bai 2 Luat Nghjia Vu Quan Su Doc
  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (Nato)
  • Chính Trị Gia Hàn Quốc Bị Chỉ Trích Nặng Nề Khi Lên Kế Hoạch Cho Ra Đời ‘đạo Luật Bts’ Nhằm Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự Cho Giới Idol Kpop
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi 1965

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 2. Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Trách Nhiệm Của Học Sinh
  • Vi Phạm Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Có Được Thi Vào Ngành Công An Nhân Dân Không?
  • Điều Kiện, Thủ Tục Tham Gia Nghĩa Vụ Công An Nhân Dân Năm 2022 ? Điều Kiện Nhập Ngũ ?
  • Xã Ngọc Hồi Tuyên Truyền Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Luật Công An Nhân Dân
  • Toàn Bộ Điểm Mới Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022
  • SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

    Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, nay quy định những điều sửa đổi và bổ sung sau đây về Luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 đã được sửa đổi và bổ sung lần thứ nhất bằng Luật ngày 26 tháng 10 năm 1962.

    Điều 1: Nay sửa đổi những điều 8 và 10 của Luật nghĩa vụ quân sự và thay bằng những điều (mới) sau đây:

    1. Điều 8 (mới) – Những quân nhân đang phục vụ theo chế độ tình nguyện sẽ dần dần được phục viên và chuyển sang dự bị, hoặc giải ngạch nghĩa vụ quân sự. Tuy nhiên, để đáp ứng những yêu cầu đặc biệt về xây dựng quân đội và tác chiến, Bộ quốc phòng được phép thực hiện chế độ tình nguyện đối với một số hạ sĩ quan và binh sĩ.

    2. Điều 10 (mới) – Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là 4 năm.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội phòng không – không quân, của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân, của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là 5 năm.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.

    Điều 2: Nay bổ sung tiếp theo điều 34b của Luật nghĩa vụ quân sự, điều 34c như sau:

    Trong trường hợp cần thiết, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình; mỗi lần kéo dài thời hạn phục vụ không được quá 1 năm.

    Điều 34c – Trong thời bình, khi có tình hình khẩn trương nhưng chưa cần ra lệnh động viên, để kịp thời tăng cường các lực lượng vũ trang và bảo đảm cho các lực lượng vũ trang sẵn sàng chiến đấu, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền gọi một số quân nhân đã xuất ngũ, một số cán bộ và nam nữ công nhân, nhân viên kỹ thuật ra phục vụ tại ngũ.

    Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá III, kỳ họp thứ 2, thông qua ngày 10 tháng 4 năm 1965.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Sửa Đổi Và Bổ Sung Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Các Luật Sử Đổi Đến 2005
  • Những Thay Đổi Về Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Năm 2022
  • Độ Tuổi Nhập Ngũ Áp Dụng Theo Luật Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022 Đã Sửa Đổi Những Gì?
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 1994

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 1994 Sửa Đổi 35
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 1990
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Slide Bài Giảng Tuyên Truyền Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022, Sửa Đổi 2022
  • Thời Gian Tạm Hoãn Nghĩa Vụ Quân Sự Là Bao Lâu ? Được Hoãn Bao Nhiêu Lần Khi Có Giấy Gọi Nhập Ngũ ?
  • chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

    LUẬT

    SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU

    CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

    Căn cứ vào các điều 44, 46, 48, 77 và 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

    Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981 và sửa đổi, bổ sung ngày 21 tháng 12 năm 1990.

    Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự như sau:

    1- Điều 10 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 10. Các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, nhà trường và gia đình, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm động viên, giáo dục và tạo điều kiện cho công dân làm tròn nghĩa vụ quân sự”.

    2- Điều 11 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 11. Địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình hoặc cá nhân có thành tích trong việc thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự thì được khen thưởng theo quy định của Nhà nước”.

    3- Điều 17 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 17. Công dân nam giới, trước khi đến tuổi nhập ngũ và trước khi nhập ngũ, phải được huấn luyện theo chương trình quân sự phổ thông, bao gồm giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, rèn luyện ý thức tổ chức, kỷ luật và rèn luyện thể lực.

    Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh ở các trường thuộc chương trình chính khoá; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định.

    Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên không học ở các trường do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thủ trưởng cơ quan Nhà nước tổ chức; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.

    Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên thuộc địa phương mình; các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho thanh niên làm việc ở cơ sở mình tham gia huấn luyện quân sự phổ thông”.

    4- Điều 19 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 19. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị cho công dân phục vụ tại ngũ và gọi công dân nhập ngũ.

    Tháng một hàng năm, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, hiệu trưởng các trường dạy nghề, các trường trung học, thủ trưởng các cơ quan, người phụ trách các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác phải báo cáo danh sách công dân nam giới đủ 17 tuổi trong năm đó cho Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ quốc phòng”.

    5- Đoạn 1 và 2 của Điều 21 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Hàng năm, việc gọi công dân nhập ngũ được tiến hành từ một đến hai lần, thời gian gọi nhập ngũ và số lượng công dân nhập ngũ trong năm do Chính phủ quyết định”.

    6- Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 23. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước cùng các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác có trách nhiệm tổ chức tiễn đưa và bảo đảm cho công dân được gọi nhập ngũ của cơ sở mình có mặt đúng thời gian và địa điểm quy định.

    Chính quyền nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện chế độ, chính sách đối với gia đình quân nhân”.

    7- Điều 24 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 24. Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập Hội đồng nghĩa vụ quân sự ở cấp mình để giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự ở địa phương.

    Hội đồng nghĩa vụ quân sự gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là Chỉ huy trưởng quân sự, các Uỷ viên là người phụ trách các ngành Kế hoạch, Lao động, Công an, Y tế, Văn hoá – Thông tin, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh.

    Hội đồng nghĩa vụ quân sự làm việc theo nguyên tắc tập thể; nghị quyết của Hội đồng phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành.”

    8- Các điểm 2, 3, 4 và 5 của Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “2- Đôn đốc, kiểm tra công dân đăng ký nghĩa vụ quân sự, kiểm tra sức khoẻ, khám sức khoẻ;

    3- Đề nghị danh sách công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, được miễn làm nghĩa vụ quân sự;

    4- Đôn đốc, kiểm tra công dân thực hiện lệnh gọi nhập ngũ, lệnh tập trung huấn luyện, diễn tập, lệnh kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu;

    5- Đôn đốc, kiểm tra các cơ quan và tổ chức hữu quan trong việc chấp hành chính sách hậu phương quân đội và quản lý công dân trong diện làm nghĩa vụ quân sự ở địa phương”.

    9- Điểm 2 và 3 của Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “2- Lập danh sách công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, được miễn làm nghĩa vụ quân sự;

    3- Đôn đốc, kiểm tra các cơ quan và tổ chức hữu quan trong việc chấp hành chính sách hậu phương quân đội và quản lý công dân trong diện làm nghĩa vụ quân sự ở địa phương.”

    10- Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 29

    1- Những người sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Người chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;

    b) Người là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

    c) Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

    d) Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng cao có nhiều khó khăn, vùng sâu, biên giới, hải đảo xa xôi do Chính phủ quy định; cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước thuộc các ngành khác và cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội được điều động đến làm việc ở những vùng nói trên;

    đ) Người đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận;

    e) Người đang học ở các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học do Chính phủ quy định;

    g) Người đi xây dựng vùng kinh tế mới trong 3 năm đầu.

    2- Những người sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Con của liệt sĩ, con của thương binh, bệnh binh hạng một có thương tật, bệnh tật đặc biệt nặng;

    b) Một người anh hoặc em trai của liệt sĩ;

    c) Một con trai của thương binh hạng một, hạng hai và bệnh binh hạng một;

    d) Thanh niên xung phong, cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước, cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội đã phục vụ từ 24 tháng trở lên ở vùng cao có nhiều khó khăn, vùng sâu, biên giới, hải đảo xa xôi do Chính phủ quy định.

    Trường hợp những người được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này tình nguyện thì có thể được tuyển chọn, gọi nhập ngũ”.

    11- Điều 40 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 40. Việc huấn luyện cho hạ sĩ quan, binh sĩ trong thời gian ở ngạch dự bị quy định như sau:

    1- Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng một phải tham gia huấn luyện tổng số thời gian nhiều nhất là mười hai tháng.

    Số lần huấn luyện và thời gian huấn luyện của mỗi lần do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.

    2- Việc huấn luyện binh sĩ dự bị hạng hai do Chính phủ quy định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ quốc phòng”.

    12- Điều 42 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 42. Việc gọi quân nhân dự bị tập trung để huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu theo thời hạn quy định tại Điều 40 và Điều 41 của Luật này do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quyết định.

    Khi cần thiết, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền giữ quân nhân dự bị ở lại lớp huấn luyện thêm một thời gian không quá hai tháng, nhưng tổng số thời gian của các lần huấn luyện không được vượt quá thời gian đã quy định tại Điều 40 của Luật này”.

    13- Điều 51 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 51. Trong thời gian tại ngũ, quân nhân chuyên nghiệp hưởng chế độ lương, các khoản phụ cấp theo lương và các quyền lợi khác do Chính phủ quy định”.

    14- Điều 52 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 52. Trong thời gian tập trung huấn luyện và kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, gia đình quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hạng một được hưởng chế độ do Chính phủ quy định”.

    15- Điểm 3 của Điều 53 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “3- Từ tháng thứ hai mươi lăm trở đi, được hưởng thêm 200% phụ cấp hàng tháng; từ tháng thứ ba mươi bảy trở đi, được hưởng thêm một khoản phụ cấp hàng tháng do Chính phủ quy định;”

    16- Điều 55 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 55. Quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ khi xuất ngũ được cấp tiền tàu xe, phụ cấp đi đường, được hưởng trợ cấp xuất ngũ, trợ cấp tạo việc làm do Chính phủ quy định.

    Quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ kể từ khi đăng ký vào ngạch dự bị thì được miễn làm nghĩa vụ lao động công ích.

    Thời gian binh sĩ dự bị hạng hai tập trung huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu được trừ vào thời gian làm nghĩa vụ lao động công ích hàng năm”.

    17- Điểm 2 của Điều 56 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “2- Hạ sĩ quan và binh sĩ trước lúc nhập ngũ làm việc ở cơ quan, cơ sở kinh tế nào thì khi xuất ngũ, cơ quan, cơ sở kinh tế đó có trách nhiệm tiếp nhận lại. Nếu cơ quan, cơ sở cũ đã giải thể, bị đóng cửa hoặc phá sản, thì cơ quan cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết việc làm.

    18- Điều 61 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 61. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Hiệu trường các trường dạy nghề, Trung học chuyên nghiệp, trường Cao đẳng, trường Đại học, Thủ trưởng cơ quan, người phụ trách các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác phải thống kê quân nhân dự bị và người sẵn sàng nhập ngũ của cơ sở mình để báo cáo với Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.”

    19- Điều 64 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 64. Khi có lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ thì:

    1- Đình chỉ việc xuất ngũ;

    2- Đình chỉ việc nghỉ phép đối với quân nhân; những quân nhân đang nghỉ phép phải trở về đơn vị ngay;

    3- Chỉ huy trưởng quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi từng công dân nhập ngũ theo quyết định của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

    Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ.

    Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức để công dân chấp hành nghiêm chỉnh lệnh gọi nhập ngũ.”

    Sửa đổi một số chữ của Luật nghĩa vụ quân sự như sau:

    a) Các chữ “Hội đồng Nhà nước” được sửa đổi thành các chữ “Uỷ ban thường vụ Quốc hội”;

    b) Các chữ “Hội đồng Bộ trưởng” được sửa đổi thành các chữ “Chính phủ”;

    c) Các chữ “Điều 72” được sửa đổi thành các chữ “Điều 70”;

    d) Các chữ “Điều 73” được sửa đổi thành các chữ “Điều 71”.

    Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật nghĩa vụ quân sự phù hợp với Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994.

    Nội dung văn bản đang được cập nhật, Quý khách vui lòng quay lại sau!

    chúng tôi độc quyền cung cấp bản dịch chính thống Công báo tiếng Anh của Thông Tấn Xã Việt Nam

    LAW

    ON AMENDMENTS AND SUPPLEMENTS TO A NUMBER OF ARTICLES OF THE LAW ON MILITARY SERVICE DUTY

    Pursuant to Articles 44,46,48,77 and 84 of the 1992 Constitution of the Socialist Republic of Vietnam;

    This Law amends and supplements a number of articles of the Law on Military Service Duty passed by the National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam on the 30th of December 1981, and amended and supplemented on the 21st of December 1990.

    Article 1. The following amendments and supplements are made to the Law on Military Service Duty: 1. Article 10 is amended and supplemented as follows:

    The State agencies, the Vietnam Fatherland Front and its member organizations, economic organizations, social organizations, schools and families shall, within the scope of their functions, have the responsibility to motivate, educate and create conditions for citizens to fulfill their military service duty.”

    2. Article 11 is amended and supplemented as follows:

    The localities, agencies, units, economic organizations, social organizations, schools, families and inpiduals with good records in the implementation of the military service regime shall be commended according to pscriptions of the State”.

    3. Article 17 is amended and supplemented as follows:

    Male citizens, before reaching their military service age and before joining the armed forces, shall be trained according to the general military training program, including political education, military training, training in the sense of organization and discipline, and physical training.

    The training of students in general military practice in formal programs in State schools shall be made according to a program jointly formulated by the Minister of Defense and the Minister of Education and Training.

    The Presidents of the People’s Committee of provinces and of the cities directly under the Central Government and the Presidents of the People’s Committees in the districts, towns and cities under the province shall, within the scope of their functions, provide guidance for training in general military practice for the youth in their localities. Economic organizations and social organizations have the responsibility to create conditions for the youth working in their establishments to take part in general military training”.

    4. Article 19 is amended and supplemented as follows:

    The People’s Committees of districts, towns and cities under the province have the responsibility to ppare citizens to enlist in the armed forces and to call up citizens.

    5. Paragraphs 1 and 2 of Article 21 are amended and supplemented as follows:

    “Every year the call-up is done once or twice, the time frame for the call-up and the number of citizens to be called up in the year shall be decided by the Government”.

    6. Article 23 is amended and supplemented as follows:

    The People’s Committees of communes, wards, townships, the State agencies as well as economic organizations, social organizations and other grassroots units have the responsibility to organize see-offs and to ensure that the citizens under the call-up in their establishments are psent at the pscribed time and the pscribed places.

    The people’s administrations at all levels have the responsibility, within the limit of their duties and powers, to carry out the regimes and policies regarding the families of armymen”.

    7. Article 24 is amended and supplemented as follows:

    The People’s Committees at all levels shall set up the Military Service Duty Council at their level to help the People’s Committees to organize and implement military service work in their localities.

    The Military Service Duty Council shall work according to the collective principle, any resolution of the Council must have the consent of the majority of its members.

    8. Points 2, 3, 4 and 5 of Article 25 are amended and supplemented as follows:

    “2 To urge citizens to register for military service and to get physical checks and examinations, and to verify this process.

    3. To propose the list of citizens to be enlisted, to receive temporary postponement from military call-up in peace time or definitive exemption from military service.

    4. To urge citizens to obey the call-up order, the order for military training, take part in military exercises and the order to standby for mobilization and stand combat-ready. To verify their observance of these orders.

    5. To urge State agencies and concerned organizations to implement the home – front policies and to manage citizens due for military service in their localities.”

    9. Points 2 and 3 of Article 26 are amended and supplemented as follows:

    “2. To draw up the list of citizens who are called up for military service, who are temporarily exempt from call-up in peace time, or who are exempt from military service duty.

    3. To urge and inspect the related agencies and organizations in their implementation of the policy toward the home front and management of citizens eligible for military service duty in the locality.”

    10. Article 29 is amended and supplemented as follows:

    1. The following persons are temporarily exempt from military call-up in peace time:

    a/ Persons not yet physically fit to serve in the army according to the conclusion of the Health Examination Board.

    b/ Persons who are the sole laborers who must directly support other members of their families who have lost their capacity to work or who have not reached the working age.

    c/ Persons having siblings living in the same household, who are non-commissioned officer or soldier in active service in the army.

    d/ Teachers, medical personnel, members of the Youth Volunteers Organization working in difficult highlands, remote areas, border areas, or remote offshore islands as defined by the Government; Government employees in other services and branches, and cadres of political and social organizations sent to work in the above-mentioned areas.

    e/ Persons engaged in scientific research projects of State level certified by a minister, ahead of ministerial-level agency, or a person in equivalent positions;

    f/ Students in general education schools, vocational schools, vocational secondary schools, colleges and universities as defined by the Government.

    g/ Settlers in a newly opened economic area in the first three years.

    The persons in the above-mentioned categories shall be subject to annual checks. If the reasons for temporary exemption no longer exist, they would be called up for military service duty. If a man is not called up before he reaches 27 years of age, his name shall be transferred to the reserve force.

    2. The following persons are exempt from military call-up in peace time:

    a/ Sons of fallen combatants, war invalids or diseased combatants of first degree invalidity with especially serious wounds or diseases.

    b/ One of his elder or younger brothers is a fallen combatant.

    c/ Sons of first or second-degree war invalids or first degree diseased soldiers.

    d/ Members of the Youth Volunteers’ Organizations, Government officials or employees, cadres of political or social organizations having served for more than 24 months in the highlands with special difficulties, remote areas, border areas, remote islands as defined by the Government.

    In case the persons defined at Item 1, Item 2 of this Article volunteer to enlist, they may be selected and called up.”

    11. Article 40 is amended and supplemented as follows:

    The training of non-commissioned officers and soldiers in the reserve force is defined as follows:

    1. The maximum time of training for non-commissioned officers and first class reservists is 12 months.

    The number of times and the duration of training is to be defined by the Minister of Defense.

    2. The training of second-class reservists is to be defined by the Government on the proposal of the Minister of Defense.”

    12. Article 42 is amended and supplemented as follows:

    The assembly of the reservists for training or checking for combat readiness according to the time schedule stipulated at Articles 40 and 41 of this Law, is to be decided by the Minister of Defense.

    When necessary, the Minister of Defense is entitled to retain the reservists for further training, but not for more than two months, and the total duration of the training periods shall not exceed the time stipulated at Article 40 of this Law”.

    13. Article 51 is amended and supplemented as follows:

    During their military service, professional armymen receive their pay, other allowances corollary to their pay and other benefits pscribed by the Government.

    14. Article 52 is amended and supplemented as follows:

    During the period of concentration for training and checking combat readiness, the professional militarymen, non-commissioned officers and reservists, the families of the professional militarymen and non-commissioned officers and first class reservists shall enjoy the regime to be defined by the Government”.

    15. Point 3 of Article 53 is amended and supplemented as follows:

    “3. From the 25th month onward, he shall receive an allowance equal to 200% of the monthly salary; and from the 37th month he shall receive additional monthly allowance to be specified by the Government.”

    16. Article 55 is amended and supplemented as follows:

    Professional militarymen, non-commissioned officers and armymen after demobilization shall be supplied with transport expenses and accommodation cost, demobilization allowances, and job-generation allowance to be defined by the Government.

    Demobilized professional militarymen, non-commissioned officers and armymen shall be exempt from public utility labor duty after they are registered in the reserve force.

    The time during which the second-class reservist is concentrated for training and checking for combat readiness shall be counted as the time he would spend annually in doing his public utility service duty.”

    17. Point 2 of Article 56 is amended and supplemented as follows:

    “2. After demobilization, the non-commissioned officers and armymen shall return to the agencies and economic establishments from which they joined up the army. These agencies and establishments have the responsibility to reinstate them. If the former agencies or establishments had been dissolved, closed down or had gone bankrupt, the immediate higher level has the responsibility to provide jobs for them.

    In the event the immediate higher level had also been dissolved or if there is no such agency, the provincial Labor, War Invalids and Social Affairs Office has the responsibility to cooperate with State agencies and economic and social organizations in providing jobs and carry out the regimes and policies with regard to those non-commissioned officers and armymen as pscribed by legislation on labor and other related domains.”

    19. Article 64 is amended and supplemented as follows:

    When the order of general mobilization or partial mobilization is issued:

    1. All demobilization is halted;

    2. All leaves of armymen are halted. Armymen on leave must return immediately to their units;

    3. The military commanders of the districts, towns and cities in the province shall call up each citizen according to the decision of the People’s Committee of the same level.

    The citizens who are called up must be psent on the time and at the place written in the call-up summon.

    The People’s Committees of communes, wards, townships and the economic and social organizations have the responsibility to make arrangements for the citizens to seriously carry out the call-up order.

    Article 2.- Some terms in the Law on Military Service Duty are changed as follows:

    a/ The term “Council of the State” is changed to “Standing Committee of the National Assembly”

    b/ The term “Council of Ministers” is changed to “Government”.

    c/ “Article 72” is changed to “Article 70”

    d/ “Article 73” is changed to “Article 71”

    The Government shall amend and supplement the documents detailing the implementation of the Law on Military Service Duty to make them conform to this Law.

    This Law was passed by the Ninth National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam at its Fifth Session, on the 22nd of June, 1994.

    * Lưu ý: Để đọc được văn bản tải trên chúng tôi bạn cần cài phần mềm đọc file DOC, DOCX và phần mềm đọc file PDF.

    Văn bản đã hết hiệu lực. Quý khách vui lòng tham khảo Văn bản thay thế tại mục Hiệu lực và Lược đồ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi 1994
  • Tải Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Số 78/2015/qh13 Miễn Phí
  • Bài 2 Bai 2 Luat Nghjia Vu Quan Su Doc
  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Tổ Chức Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (Nato)
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 1990

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Slide Bài Giảng Tuyên Truyền Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022, Sửa Đổi 2022
  • Thời Gian Tạm Hoãn Nghĩa Vụ Quân Sự Là Bao Lâu ? Được Hoãn Bao Nhiêu Lần Khi Có Giấy Gọi Nhập Ngũ ?
  • Năm 2022, Chưa Đi Nghĩa Vụ Quân Sự Phải Tham Gia Dân Quân Tự Vệ?
  • Tiêu Chuẩn Sức Khỏe Tham Gia Nghĩa Vụ Quân Sự Năm 2022
  • LUẬT

    SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU

    CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

    Căn cứ vào Điều 83 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981.

    Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự như sau:

    1/ Điều 14 về thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 14.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là hai năm.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do Quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tầu hải quân là ba năm.”

    2/ Đoạn 4 Điều 21 về trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong việc gọi công dân nhập ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ trong địa phương mình, bảo đảm công khai, dân chủ và công bằng; đúng thời gian, đủ số lượng, đúng tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật. Các đơn vị nhận quân có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện nhiệm vụ này”.

    3/ Điều 29 về những người được hoãn gọi nhập ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 29.

    Trong thời bình, những người đây sau được hoãn gọi nhập ngũ:

    1- Người chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;

    2- Con của liệt sĩ;

    3- Anh hoặc em trai còn lại duy nhất của liệt sĩ;

    4- Một con trai của thương binh hạng một, hạng hai và bệnh binh hàng một;

    5- Người là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

    6- Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

    7- Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở một số vùng cao xa xôi, hẻo lánh do Hội đồng bộ trưởng quy định;

    8- Người đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước hoặc người có chức tương đương chứng nhận;

    9- Người đang học ở các trường phổ thông; đang học ở các trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học thuộc hệ tập trung dài hạn do Nhà nước quản lý.

    Hàng năm, những người nói ở các điểm 1, 5, 6, 7, 8 và 9 của Điều này phải được kiểm tra, nếu không còn lý do hoãn thì được gọi nhập ngũ; hết 27 tuổi mà vẫn không được gọi nhập ngũ thì chuyển sang ngạch dự bị”.

    4/ Điều 32 về việc xuất ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 32.

    Hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ đủ thời hạn quy định ở Điều 14 của Luật này thì được xuất ngũ. Theo lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, người chỉ huy đơn vị từ cấp trung đoàn và tương đương trở lên có trách nhiệm thực hiện việc xuất ngũ cho hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc quyền.

    Thời gian xuất ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ phải được thông báo trước một tháng cho quân nhân, Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và đơn vị cơ sở, nơi quân nhân cư trú hoặc làm việc trước khi nhập ngũ. Người chỉ huy của đơn vị cấp trung đoàn và tương đương trở lên có hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ phải tổ chức tiễn và đưa họ về bàn giao cho Uỷ ban nhân dân địa phương đã giao quân. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức tiếp nhận hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ về địa phương mình.”

    5/ Điều 38 về hạn tuổi phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ ở ngạch dự bị, được sửa đổi như sau:

    “Điều 38.

    Hạn tuổi phục vụ của hạ sĩ quan và binh sĩ ở ngạch dự bị được quy định như sau:

    Nam giới, đến hết 45 tuổi;

    Nữ giới, đến hết 40 tuổi;”

    6/ Điều 39 về chia nhóm quân nhân dự bị nam giới, được sửa đổi như sau:

    “Điều 39.

    Căn cứ vào lứa tuổi, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị nam giới ở mỗi hạng được chia thành 2 nhóm:

    Nhóm A gồm những người đến hết 35 tuổi;

    Nhóm B gồm những người từ 36 tuổi đến hết 45 tuổi.”

    7/ Bỏ khoản 3 Điều 40 về việc huấn luyện quân nhân dự bị ở nhóm C.

    8/ Điều 53 về quyền lợi của hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 53.

    Hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ:

    1- Được bảo đảm cung cấp kịp thời, đủ số lượng, đúng chất lượng về lương thực, thực phẩm, quân trang, thuốc phòng bệnh, chữa bệnh, được bảo đảm chỗ ở, phụ cấp hàng tháng và nhu cầu về văn hoá, tinh thần phù hợp với tính chất nhiệm vụ của quân đội theo chế độ, tiêu chuẩn, định lượng do Hội đồng bộ trưởng quy định;

    2- Từ năm thứ 2 trở đi, được nghỉ phép theo quy định của Hội đồng bộ trưởng;

    3- Từ tháng thứ 25 trở đi, được hưởng thêm 100% phụ cấp hàng tháng;

    4- Được tính nhân khẩu ở gia đình khi gia đình được cấp hoặc điều chỉnh diện tích nhà ở, đất xây dựng nhà ở và đất canh tác;

    5- Được tính thời gian phục vụ tại ngũ vào thời gian công tác;

    6- Được ưu tiên mua vé khi đi lại bằng các phương tiện giao thông thuộc các thành phần kinh tế;

    7- Được ưu đãi về bưu phí theo quy định của Hội đồng bộ trưởng.”

    9/ Điều 54 về quyền lợi của gia đình quân nhân tại ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 54.

    Quyền lợi của gia đình hạ sĩ quan và binh sĩ tại ngũ được quy định như sau:

    1- Bố hoặc vợ được tạm miễn tham gia lao động công ích trong những trường hợp gia đình thực sự có khó khăn và được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chứng nhận;

    2- Bố, mẹ, vợ và con được hưởng chế độ trợ cấp khó khăn đột xuất theo chính sách chung của Nhà nước; được miễn viện phí khi khám bệnh và chữa bệnh tại các bệnh viện của Nhà nước;

    3- Con gửi ở nhà trẻ, học tại các trường mẫu giáo, trường phổ thông của Nhà nước được miễn học phí và tiền đóng góp xây dựng trường.”

    10/ Điều 55 về chế độ đối với hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ, được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “Điều 55.

    Hạ sĩ quan và binh sĩ khi xuất ngũ được cấp tiền tầu xe, phụ cấp đi đường và trợ cấp xuất ngũ do Hội đồng bộ trưởng quy định.

    Hạ sĩ quan và binh sĩ kể từ ngày có quyết định xuất ngũ được tạm miễn làm nghĩa vụ lao động công ích; cứ mỗi năm phục vụ tại ngũ thì được miễn thời gian nghĩa vụ lao động công ích của một năm.

    Thời gian hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị tập trung huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu được trừ vào thời gian nghĩa vụ lao động công ích hàng năm.”

    Các Điều 69, 70, 71 về việc xử lý các vi phạm được thay bằng Điều 69 mới như sau:

    “Điều 69.

    2- Quân nhân nào vi phạm các quy định về việc tuyển chọn và gọi công dân nhập ngũ, về việc xuất ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ, về chế độ, quyền lợi của quân nhân hoặc vi phạm các quy định khác của Luật này, thì tuỳ theo mức độ nhẹ hoặc nặng mà bị xử lý theo Điều lệnh kỷ luật của quân đội hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.”

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá VIII, kỳ họp thứ 8, thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1990.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 1994 Sửa Đổi 35
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 1994
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi 1994
  • Tải Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Số 78/2015/qh13 Miễn Phí
  • Bài 2 Bai 2 Luat Nghjia Vu Quan Su Doc
  • Toàn Văn Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi Năm 2005

    --- Bài mới hơn ---

  • Những Lưu Ý Về Nghĩa Vụ Quân Sự Từ Năm 2022
  • Tq Tiết Lộ Hình Phạt Với Người Bỏ Dở Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Tư Vấn Nghĩa Vụ Quân Sự Trực Tuyến, Xóa Bỏ Nỗi Lo Khoảng Cách Địa Lý
  • Tư Vấn Pháp Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Miễn Phí Qua Tổng Đài Điện Thoại
  • Luật Sư Tư Vấn Nghĩa Vụ Quân Sự Hiệu Quả Nhất
  • SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ 43/2005/QH11 NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 2005

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

    Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981, đã được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất ngày 21 tháng 12 năm 1990, lần thứ hai ngày 22 tháng 6 năm 1994.

    Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự:

    1. Điều 12 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    Công dân nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi”.

    2. Điều 14 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là mười tám tháng.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là hai mươi bốn tháng”.

    3. Điều 16 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    Việc tính thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

    Thời gian đào ngũ không được tính vào thời hạn phục vụ tại ngũ”.

    4. Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ, nếu có lý do chính đáng không thể đến đúng thời gian và địa điểm thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi cư trú”.

    5. Điều 24 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    1. Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập Hội đồng nghĩa vụ quân sự ở cấp mình để giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự ở địa phương.

    2. Thành phần của Hội đồng nghĩa vụ quân sự các cấp được quy định như sau:

    a) Hội đồng nghĩa vụ quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương, các uỷ viên là người phụ trách các ngành công an, tư pháp, kế hoạch, lao động – thương binh và xã hội, y tế, giáo dục, văn hoá – thông tin, tài chính và đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh;

    b) Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã, phường, thị trấn gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là xã đội trưởng, các uỷ viên là người phụ trách các ngành công an, tư pháp, y tế, tài chính và đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, một số thành viên khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định.

    3. Hội đồng nghĩa vụ quân sự làm việc theo nguyên tắc tập thể; nghị quyết của Hội đồng phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành”.

    6. Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    1. Những công dân sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;

    b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

    c) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

    d) Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; cán bộ, công chức, viên chức được điều động đến làm việc ở những vùng này;

    đ) Đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận;

    e) Đang học ở các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học do Chính phủ quy định;

    g) Đi xây dựng vùng kinh tế mới trong ba năm đầu.

    Hằng năm, những công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại khoản này phải được kiểm tra, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.

    2. Những công dân sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một, con của bệnh binh hạng một;

    b) Một người anh hoặc em trai của liệt sĩ;

    c) Một con trai của thương binh hạng hai;

    d) Thanh niên xung phong, cán bộ, công chức, viên chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này đã phục vụ từ hai mươi bốn tháng trở lên.

    3. Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nếu tình nguyện thì có thể được tuyển chọn, gọi nhập ngũ.

    4. Chính phủ quy định cụ thể vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn”.

    7. Điều 37 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị được chia thành quân nhân dự bị hạng một và quân nhân dự bị hạng hai.

    Quân nhân dự bị hạng một gồm hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ đủ thời hạn hoặc trên hạn định; hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ trước thời hạn, nhưng đã phục vụ tại ngũ trên sáu tháng; hạ sĩ quan và binh sĩ đã trải qua chiến đấu; nam quân nhân dự bị hạng hai đã qua huấn luyện tập trung đủ sáu tháng.

    Quân nhân dự bị hạng hai gồm hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ trước thời hạn nhưng đã phục vụ tại ngũ dưới sáu tháng; công dân nam chưa phục vụ tại ngũ từ hai mươi sáu tuổi trở lên được chuyển sang ngạch dự bị; công dân nữ đã đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định tại Điều 4 của Luật này.”

    8. Điều 39 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    Căn cứ vào độ tuổi, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị ở mỗi hạng được chia thành hai nhóm:

    Nhóm A: Nam đến hết ba mươi lăm tuổi; nữ đến hết ba mươi tuổi;

    Nhóm B: Nam từ ba mươi sáu tuổi đến hết bốn mươi lăm tuổi; nữ từ ba mươi mốt tuổi đến hết bốn mươi tuổi”.

    9. Điều 52 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    Quân nhân chuyên nghiệp dự bị; hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, bản thân và gia đình được hưởng chế độ chính sách do Chính phủ quy định”.

    10. Khoản 3 Điều 53 được sửa đổi, bổ sung như sau:

    “3. Từ tháng thứ mười chín trở đi được hưởng thêm 200% phụ cấp quân hàm hiện hưởng hàng tháng, từ tháng thứ hai mươi lăm trở đi được hưởng thêm 250% phụ cấp quân hàm hiện hưởng hàng tháng;”

    Điều 2. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự như sau:

    1. Bỏ từ “giới” trong cụm từ “nam giới” tại các điều 3, 13, 17, 19, 20 và 38; bỏ từ “giới” trong cụm từ “nữ giới” tại Điều 38;

    2. Thay cụm từ “phụ nữ” tại Điều 4 bằng cụm từ “công dân nữ”; thay từ “người” tại các điều 20, 26, 28, 31, 58, 59, 60 và 62 bằng cụm từ “công dân”; thay từ “người” trong cụm từ “người sẵn sàng nhập ngũ” tại Điều 61 bằng cụm từ “công dân”;

    3. Bỏ từ “về” trong cụm từ “Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam” tại Điều 6 và Điều 7;

    4. Bổ sung cụm từ “(sau đây gọi là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã)” vào sau cụm từ “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn” tại Điều 17; thay cụm từ “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn” tại Điều 19 và Điều 61 bằng cụm từ “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã”;

    5. Thay cụm từ “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn” tại các điều 23, 36, 54 và 64 bằng cụm từ “Uỷ ban nhân dân cấp xã”;

    6. Bổ sung cụm từ “(sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp huyện)” vào sau cụm từ “Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” tại Điều 19; thay cụm từ “Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” tại các điều 27, 31 và 32 bằng cụm từ “Uỷ ban nhân dân cấp huyện”;

    7. Thay cụm từ “ở điểm 2 và điểm 3 Điều 29 của Luật này” tại Điều 33 bằng cụm từ “tại điểm b khoản 1, các điểm a, b và c khoản 2 Điều 29 của Luật này”.

    Điều 3. Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nghĩa Vụ Thực Hiện Khám Sức Khỏe Nghĩa Vụ Quân Sự Năm 2022
  • Nữ Giới Có Được Tham Gia Nghĩa Vụ Quân Sự Không?
  • Tự Nguyện Tham Gia Nghĩa Vụ Quân Sự Đối Vơi Nữ Giới Thì Thủ Tục Như Thế Nào ?
  • Nghĩa Vụ Quân Sự Đối Với Công Dân Nữ Quy Định Thế Nào?
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Áp Dụng Cho Nữ Giới
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi 2005

    --- Bài mới hơn ---

  • Nhà Có 2 Anh Em Thì Có Phải Đi Nghĩa Vụ Quân Sự Cả 2 Anh Em Không ?
  • Anh Trai Ruột Đi Lính Về Thì Em Có Phải Đi Nữa Không?
  • Đi Nghĩa Vụ Quân Sự Có Được Hưởng Lương Không ? Xăm Hình Có Được Thực Hiện Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Cha Mẹ Đã Già Yếu Có Được Hoãn Nghĩa Vụ Quân Sự ? Hoãn Nvqs Khi Là Lao Động Chính Trong Nhà ?
  • Giải Quyết Trường Hợp 2 Thành Viên Trong Gia Đình Đều Bị Gọi Đi Nghĩa Vụ Quân Sự
  • SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ 43/2005/QH11 NGÀY 14 THÁNG 6 NĂM 2005

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

    Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981, đã được sửa đổi, bổ sung lần thứ nhất ngày 21 tháng 12 năm 1990, lần thứ hai ngày 22 tháng 6 năm 1994.

    Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự:

    “Điều 12

    Công dân nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ mười tám tuổi đến hết hai mươi lăm tuổi”.

    “Điều 14

    Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan và binh sĩ là mười tám tháng.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan chỉ huy, hạ sĩ quan và binh sĩ chuyên môn kỹ thuật do quân đội đào tạo, hạ sĩ quan và binh sĩ trên tàu hải quân là hai mươi bốn tháng”.

    “Điều 16

    Việc tính thời điểm bắt đầu và kết thúc thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.

    Thời gian đào ngũ không được tính vào thời hạn phục vụ tại ngũ”.

    “Điều 22

    Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ, nếu có lý do chính đáng không thể đến đúng thời gian và địa điểm thì phải có giấy xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp xã) nơi cư trú”.

    “Điều 24

    1. Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập Hội đồng nghĩa vụ quân sự ở cấp mình để giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự ở địa phương.

    2. Thành phần của Hội đồng nghĩa vụ quân sự các cấp được quy định như sau:

    a) Hội đồng nghĩa vụ quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là Chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương, các uỷ viên là ngườiphụ trách các ngành công an, tư pháp, kế hoạch, lao động – thương binh và xã hội, y tế, giáo dục, văn hoá – thông tin, tài chính và đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh;

    b) Hội đồng nghĩa vụ quân sự xã, phường, thị trấn gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là xã đội trưởng, các uỷ viên là người phụ trách các ngành công an, tư pháp, y tế, tài chính và đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Đoàn thanh niên, Hội liên hiệp phụ nữ, Hội cựu chiến binh, một số thành viên khác do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp quyết định.

    3. Hội đồng nghĩa vụ quân sự làm việc theo nguyên tắc tập thể; nghị quyết của Hội đồng phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành”.

    “Điều 29

    1. Những công dân sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;

    b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

    c) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

    d) Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn; cán bộ, công chức, viên chức được điều động đến làm việc ở những vùng này;

    đ) Đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận;

    e) Đang học ở các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học do Chính phủ quy định;

    g) Đi xây dựng vùng kinh tế mới trong ba năm đầu.

    Hằng năm, những công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại khoản này phải được kiểm tra, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.

    2. Những công dân sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một, con của bệnh binh hạng một;

    b) Một người anh hoặc em trai của liệt sĩ;

    c) Một con trai của thương binh hạng hai;

    d) Thanh niên xung phong, cán bộ, công chức, viên chức quy định tại điểm d khoản 1 Điều này đã phục vụ từ hai mươi bốn tháng trở lên.

    3. Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nếu tình nguyện thì có thể được tuyển chọn, gọi nhập ngũ.

    4. Chính phủ quy định cụ thể vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn”.

    “Điều 37

    Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị được chia thành quân nhân dự bị hạng một và quân nhân dự bị hạng hai.

    Quân nhân dự bị hạng một gồm hạ sĩ quan và binh sĩ đã phục vụ tại ngũ đủ thời hạn hoặc trên hạn định; hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ trước thời hạn, nhưng đã phục vụ tại ngũ trên sáu tháng; hạ sĩ quan và binh sĩ đã trải qua chiến đấu; nam quân nhân dự bị hạng hai đã qua huấn luyện tập trung đủ sáu tháng.

    Quân nhân dự bị hạng hai gồm hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ trước thời hạn nhưng đã phục vụ tại ngũ dưới sáu tháng; công dân nam chưa phục vụ tại ngũ từ hai mươi sáu tuổi trở lên được chuyển sang ngạch dự bị; công dân nữ đã đăng ký nghĩa vụ quân sự theo quy định tại Điều 4 của Luật này.”

    “Điều 39

    Căn cứ vào độ tuổi, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị ở mỗi hạng được chia thành hai nhóm:

    Nhóm A: Nam đến hết ba mươi lăm tuổi; nữ đến hết ba mươi tuổi;

    Nhóm B: Nam từ ba mươi sáu tuổi đến hết bốn mươi lăm tuổi; nữ từ ba mươi mốt tuổi đến hết bốn mươi tuổi”.

    “Điều 52

    Quân nhân chuyên nghiệp dự bị; hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu, bản thân và gia đình được hưởng chế độ chính sách do Chính phủ quy định”.

    “3. Từ tháng thứ mười chín trở đi được hưởng thêm 200% phụ cấp quân hàm hiện hưởng hàng tháng, từ tháng thứ hai mươi lăm trở đi được hưởng thêm 250% phụ cấp quân hàm hiện hưởng hàng tháng;”

    Điều 2. Sửa đổi, bổ sung về từ ngữ trong một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự như sau:

    1. Bỏ từ “giới” trong cụm từ “nam giới” tại các điều 3, 13, 17, 19, 20 và 38; bỏ từ “giới” trong cụm từ “nữ giới” tại Điều 38;

    3. Bỏ từ “về” trong cụm từ “Luật về sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam” tại Điều 6 và Điều 7;

    4. Bổ sung cụm từ “(sau đây gọi là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã)” vào sau cụm từ “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn” tại Điều 17; thay cụm từ “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn” tại Điều 19 và Điều 61 bằng cụm từ “Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã”;

    5. Thay cụm từ “Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn” tại các điều 23, 36, 54 và 64 bằng cụm từ “Uỷ ban nhân dân cấp xã”;

    6. Bổ sung cụm từ “(sau đây gọi là Uỷ ban nhân dân cấp huyện)” vào sau cụm từ “Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” tại Điều 19; thay cụm từ “Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh” tại các điều 27, 31 và 32 bằng cụm từ “Uỷ ban nhân dân cấp huyện”;

    7. Thay cụm từ “ở điểm 2 và điểm 3 Điều 29 của Luật này” tại Điều 33 bằng cụm từ “tại điểm b khoản 1, các điểm a, b và c khoản 2 Điều 29 của Luật này”.

    Điều 3. Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Toàn Bộ Điểm Mới Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022
  • Xã Ngọc Hồi Tuyên Truyền Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Luật Công An Nhân Dân
  • Điều Kiện, Thủ Tục Tham Gia Nghĩa Vụ Công An Nhân Dân Năm 2022 ? Điều Kiện Nhập Ngũ ?
  • Vi Phạm Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Có Được Thi Vào Ngành Công An Nhân Dân Không?
  • Bài 2. Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Trách Nhiệm Của Học Sinh
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 1994 Sửa Đổi 35

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 1990
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Slide Bài Giảng Tuyên Truyền Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022, Sửa Đổi 2022
  • Thời Gian Tạm Hoãn Nghĩa Vụ Quân Sự Là Bao Lâu ? Được Hoãn Bao Nhiêu Lần Khi Có Giấy Gọi Nhập Ngũ ?
  • Năm 2022, Chưa Đi Nghĩa Vụ Quân Sự Phải Tham Gia Dân Quân Tự Vệ?
  • SỐ 35-L/CTN NGÀY 22/06/1994 CỦA QUỐC HỘI VỀ SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

    Căn cứ vào các điều 44, 46, 48, 77 và 84 của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

    Luật này sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật nghĩa vụ quân sự được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 30 tháng 12 năm 1981 và sửa đổi, bổ sung ngày 21 tháng 12 năm 1990.

    “Điều 10. Các cơ quan Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội, nhà trường và gia đình, trong phạm vi chức năng của mình, có trách nhiệm động viên, giáo dục và tạo điều kiện cho công dân làm tròn nghĩa vụ quân sự”.

    “Điều 11. Địa phương, cơ quan, đơn vị, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình hoặc cá nhân có thành tích trong việc thi hành chế độ nghĩa vụ quân sự thì được khen thưởng theo quy định của Nhà nước”.

    “Điều 17. Công dân nam giới, trước khi đến tuổi nhập ngũ và trước khi nhập ngũ, phải được huấn luyện theo chương trình quân sự phổ thông, bao gồm giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự, rèn luyện ý thức tổ chức, kỷ luật và rèn luyện thể lực.

    Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho học sinh ở các trường thuộc chương trình chính khoá; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ quốc phòng phối hợp với Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo quy định.

    Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên không học ở các trường do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, thủ trưởng cơ quan Nhà nước tổ chức; nội dung huấn luyện do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.

    Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong phạm vi chức năng của mình, chỉ đạo việc huấn luyện quân sự phổ thông cho thanh niên thuộc địa phương mình; các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho thanh niên làm việc ở cơ sở mình tham gia huấn luyện quân sự phổ thông”.

    “Điều 19. Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có trách nhiệm tổ chức chuẩn bị cho công dân phục vụ tại ngũ và gọi công dân nhập ngũ.

    Tháng một hàng năm, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, hiệu trưởng các trường dạy nghề, các trường trung học, thủ trưởng các cơ quan, người phụ trách các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác phải báo cáo danh sách công dân nam giới đủ 17 tuổi trong năm đó cho Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ quốc phòng”.

    “Hàng năm, việc gọi công dân nhập ngũ được tiến hành từ một đến hai lần, thời gian gọi nhập ngũ và số lượng công dân nhập ngũ trong năm do Chính phủ quyết định”.

    “Điều 23. Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước cùng các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác có trách nhiệm tổ chức tiễn đưa và bảo đảm cho công dân được gọi nhập ngũ của cơ sở mình có mặt đúng thời gian và địa điểm quy định.

    Chính quyền nhân dân các cấp, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện chế độ, chính sách đối với gia đình quân nhân”.

    “Điều 24. Uỷ ban nhân dân các cấp thành lập Hội đồng nghĩa vụ quân sự ở cấp mình để giúp Uỷ ban nhân dân tổ chức thực hiện công tác nghĩa vụ quân sự ở địa phương.

    Hội đồng nghĩa vụ quân sự gồm có Chủ tịch là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Phó Chủ tịch là Chỉ huy trưởng quân sự, các Uỷ viên là người phụ trách các ngành Kế hoạch, Lao động, Công an, Y tế, Văn hoá – Thông tin, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Liên đoàn lao động, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh.

    Hội đồng nghĩa vụ quân sự làm việc theo nguyên tắc tập thể; nghị quyết của Hội đồng phải được quá nửa tổng số thành viên Hội đồng biểu quyết tán thành.”

    “2- Đôn đốc, kiểm tra công dân đăng ký nghĩa vụ quân sự, kiểm tra sức khoẻ, khám sức khoẻ;

    3- Đề nghị danh sách công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, được miễn làm nghĩa vụ quân sự;

    4- Đôn đốc, kiểm tra công dân thực hiện lệnh gọi nhập ngũ, lệnh tập trung huấn luyện, diễn tập, lệnh kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu;

    5- Đôn đốc, kiểm tra các cơ quan và tổ chức hữu quan trong việc chấp hành chính sách hậu phương quân đội và quản lý công dân trong diện làm nghĩa vụ quân sự ở địa phương”.

    “2- Lập danh sách công dân được gọi nhập ngũ, được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ trong thời bình, được miễn làm nghĩa vụ quân sự;

    3- Đôn đốc, kiểm tra các cơ quan và tổ chức hữu quan trong việc chấp hành chính sách hậu phương quân đội và quản lý công dân trong diện làm nghĩa vụ quân sự ở địa phương.”

    “Điều 29

    1- Những người sau đây được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Người chưa đủ sức khoẻ phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khoẻ;

    b) Người là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi người khác trong gia đình không còn sức lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

    c) Người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

    d) Giáo viên, nhân viên y tế, thanh niên xung phong đang làm việc ở vùng cao có nhiều khó khăn, vùng sâu, biên giới, hải đảo xa xôi do Chính phủ quy định; cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước thuộc các ngành khác và cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội được điều động đến làm việc ở những vùng nói trên;

    đ) Người đang nghiên cứu công trình khoa học cấp Nhà nước được Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ hoặc người có chức vụ tương đương chứng nhận;

    e) Người đang học ở các trường phổ thông, trường dạy nghề, trường trung học chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học do Chính phủ quy định;

    g) Người đi xây dựng vùng kinh tế mới trong 3 năm đầu.

    2- Những người sau đây được miễn gọi nhập ngũ trong thời bình:

    a) Con của liệt sĩ, con của thương binh, bệnh binh hạng một có thương tật, bệnh tật đặc biệt nặng;

    b) Một người anh hoặc em trai của liệt sĩ;

    c) Một con trai của thương binh hạng một, hạng hai và bệnh binh hạng một;

    d) Thanh niên xung phong, cán bộ, công nhân, viên chức Nhà nước, cán bộ các tổ chức chính trị, xã hội đã phục vụ từ 24 tháng trở lên ở vùng cao có nhiều khó khăn, vùng sâu, biên giới, hải đảo xa xôi do Chính phủ quy định.

    Trường hợp những người được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này tình nguyện thì có thể được tuyển chọn, gọi nhập ngũ”.

    “Điều 40. Việc huấn luyện cho hạ sĩ quan, binh sĩ trong thời gian ở ngạch dự bị quy định như sau:

    1- Hạ sĩ quan, binh sĩ dự bị hạng một phải tham gia huấn luyện tổng số thời gian nhiều nhất là mười hai tháng.

    Số lần huấn luyện và thời gian huấn luyện của mỗi lần do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quy định.

    2- Việc huấn luyện binh sĩ dự bị hạng hai do Chính phủ quy định theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ quốc phòng”.

    “Điều 42. Việc gọi quân nhân dự bị tập trung để huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu theo thời hạn quy định tại Điều 40 và Điều 41 của Luật này do Bộ trưởng Bộ quốc phòng quyết định.

    Khi cần thiết, Bộ trưởng Bộ quốc phòng được quyền giữ quân nhân dự bị ở lại lớp huấn luyện thêm một thời gian không quá hai tháng, nhưng tổng số thời gian của các lần huấn luyện không được vượt quá thời gian đã quy định tại Điều 40 của Luật này”.

    “Điều 51. Trong thời gian tại ngũ, quân nhân chuyên nghiệp hưởng chế độ lương, các khoản phụ cấp theo lương và các quyền lợi khác do Chính phủ quy định”.

    “Điều 52. Trong thời gian tập trung huấn luyện và kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị, gia đình quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hạng một được hưởng chế độ do Chính phủ quy định”.

    “3- Từ tháng thứ hai mươi lăm trở đi, được hưởng thêm 200% phụ cấp hàng tháng; từ tháng thứ ba mươi bảy trở đi, được hưởng thêm một khoản phụ cấp hàng tháng do Chính phủ quy định;”

    “Điều 55. Quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ khi xuất ngũ được cấp tiền tàu xe, phụ cấp đi đường, được hưởng trợ cấp xuất ngũ, trợ cấp tạo việc làm do Chính phủ quy định.

    Quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan và binh sĩ xuất ngũ kể từ khi đăng ký vào ngạch dự bị thì được miễn làm nghĩa vụ lao động công ích.

    Thời gian binh sĩ dự bị hạng hai tập trung huấn luyện và kiểm tra sẵn sàng chiến đấu được trừ vào thời gian làm nghĩa vụ lao động công ích hàng năm”.

    “2- Hạ sĩ quan và binh sĩ trước lúc nhập ngũ làm việc ở cơ quan, cơ sở kinh tế nào thì khi xuất ngũ, cơ quan, cơ sở kinh tế đó có trách nhiệm tiếp nhận lại. Nếu cơ quan, cơ sở cũ đã giải thể, bị đóng cửa hoặc phá sản, thì cơ quan cấp trên trực tiếp có trách nhiệm giải quyết việc làm.

    “Điều 61. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, Hiệu trường các trường dạy nghề, Trung học chuyên nghiệp, trường Cao đẳng, trường Đại học, Thủ trưởng cơ quan, người phụ trách các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và các đơn vị cơ sở khác phải thống kê quân nhân dự bị và người sẵn sàng nhập ngũ của cơ sở mình để báo cáo với Ban chỉ huy quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.”

    “Điều 64. Khi có lệnh tổng động viên hoặc lệnh động viên cục bộ thì:

    1- Đình chỉ việc xuất ngũ;

    2- Đình chỉ việc nghỉ phép đối với quân nhân; những quân nhân đang nghỉ phép phải trở về đơn vị ngay;

    3- Chỉ huy trưởng quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh gọi từng công dân nhập ngũ theo quyết định của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

    Công dân được gọi nhập ngũ phải có mặt đúng thời gian và địa điểm ghi trong lệnh gọi nhập ngũ.

    Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội có trách nhiệm tổ chức để công dân chấp hành nghiêm chỉnh lệnh gọi nhập ngũ.”

    a) Các chữ “Hội đồng Nhà nước” được sửa đổi thành các chữ “Uỷ ban thường vụ Quốc hội”;

    b) Các chữ “Hội đồng Bộ trưởng” được sửa đổi thành các chữ “Chính phủ”;

    c) Các chữ “Điều 72” được sửa đổi thành các chữ “Điều 70”;

    d) Các chữ “Điều 73” được sửa đổi thành các chữ “Điều 71”.

    Chính phủ sửa đổi, bổ sung các văn bản quy định chi tiết thi hành Luật nghĩa vụ quân sự phù hợp với Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 22 tháng 6 năm 1994.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi, Bổ Sung Năm 1994
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi 1994
  • Tải Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Số 78/2015/qh13 Miễn Phí
  • Bài 2 Bai 2 Luat Nghjia Vu Quan Su Doc
  • Nâng Cao Hiệu Quả Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Thông Qua Luật Nghĩa Vụ Quân Sự (Sửa Đổi)

    --- Bài mới hơn ---

  • Thông Tư Liên Tịch 13/ttlt Năm 1992 Quy Định Khám Sức Khoẻ, Kiểm Tra Sức Khoẻ, Tiêu Chuẩn Sức Khoẻ Và Giám Định Sức Khoẻ Để Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Do Bộ Quốc Phòng; Bộ Y Tế Ban Hành
  • Thông Tư Liên Tịch 13/ttlt Quy Định Khám Kiểm Tra Tiêu Chuẩn Sức Khoẻ Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự Khi Mắc Tật Về Mắt
  • Bị Tật Khúc Xạ Về Mắt Có Được Tham Gia Nghĩa Vụ Quân Sự Không
  • Mắt Cận Bao Nhiêu Độ Thì Được Miễn Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Thông qua Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) và Luật thú y

    Với 87,65% đại biểu tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi). Như vậy, Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) gồm 9 chương, 62 Điều quy định rõ về nghĩa vụ quân sự; nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân và chế độ, chính sách trong việc thực hiện nghĩa vụ quân sự. Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016.

    Ðại biểu Quốc hội ấn nút thông qua Luật. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN

    Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) ban hành sẽ khắc phục được những vướng mắc, bất cập, bảo đảm tính thống nhất trong hệ thống pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

    Trong đó, về nghĩa vụ quân sự, Luật nêu rõ: Nghĩa vụ quân sự là nghĩa vụ vẻ vang của công dân phục vụ trong Quân đội nhân dân. Thực hiện nghĩa vụ quân sự bao gồm phục vụ tại ngũ và phục vụ trong ngạch dự bị của Quân đội nhân dân.

    Công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ quân sự, không phân biệt dân tộc, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ học vấn, nghề nghiệp, nơi cư trú phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật này. Công dân phục vụ trong lực lượng Cảnh sát biển và thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân được coi là thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ.

    Công dân thuộc một trong các trường hợp sau đây được công nhận hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trong thời bình: Dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân tự vệ thường trực; hoàn thành nhiệm vụ tham gia Công an xã liên tục từ đủ 36 tháng trở lên; cán bộ, công chức, viên chức, sinh viên tốt nghiệp đại học trở lên, đã được đào tạo và phong quân hàm sĩ quan dự bị; thanh niên đã tốt nghiệp đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp tình nguyện phục vụ tại đoàn kinh tế – quốc phòng từ đủ 24 tháng trở lên theo Đề án do Thủ tướng Chính phủ quyết định; công dân phục vụ trên tàu kiểm ngư từ đủ 24 tháng trở lên.

    Về thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ, Luật nêu rõ: Thời hạn phục vụ tại ngũ trong thời bình của hạ sĩ quan, binh sĩ là 24 tháng.

    Bộ trưởng Bộ Quốc phòng được quyết định kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan, binh sĩ nhưng không quá 6 tháng trong trường hợp sau đây: Để bảo đảm nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; đang thực hiện nhiệm vụ phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn. Thời hạn phục vụ của hạ sĩ quan, binh sĩ trong tình trạng chiến tranh hoặc tình trạng khẩn cấp về quốc phòng được thực hiện theo lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ.

    Đối với những công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ, Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) lần này đã quy định rõ là: Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe; là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.

    Ngoài ra có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; người thuộc diện di dân, giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định; cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; dang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

    Thông qua Luật thú y

    Trong đó, nguyên tắc hoạt động, Luật thú y nêu rõ: Bảo đảm sự thống nhất trong hoạt động thú y từ trung ương đến địa phương nhằm chăm sóc, bảo vệ sức khỏe động vật, nâng cao hiệu quả kinh tế – xã hội, tính bền vững trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe con người và môi trường sinh thái.

    Thực hiện việc phòng bệnh là chính, chữa bệnh kịp thời, chống dịch khẩn trương; phát hiện nhanh, chính xác, xử lý triệt để các ổ dịch, nguồn lây dịch bệnh; ngăn chặn kịp thời sự lây nhiễm, lây lan của đối tượng kiểm dịch động vật, sản phẩm động vật.

    Phòng, chống dịch bệnh động vật trước hết là trách nhiệm của chủ vật nuôi, chủ cơ sở chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm tổ chức hướng dẫn, triển khai các biện pháp phòng, chống dịch kịp thời, hiệu quả.

    Bảo đảm thuận lợi trong giao dịch thương mại đối với động vật, sản phẩm động vật; hài hòa lợi ích của Nhà nước, cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, kết hợp khoa học và công nghệ hiện đại với kinh nghiệm truyền thống của nhân dân trong phòng, chống dịch bệnh, chữa bệnh động vật.

    Luật thú y sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2016.

    Đồng tình với việc ban hành Luật tạm giữ, tạm giam, đại biểu Trần Tiến Dũng (Hà Tĩnh) nhấn mạnh: Dự án Luật đã đưa ra nhiều quy định mới, tiến bộ, chặt chẽ và triển khai thực hiện quyền hiến định trong Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân.

    Tuy nhiên, đại biểu cho rằng, dự án Luật vừa phải đáp ứng quyền con người, quyền, nghĩa vụ của công dân, mà người tạm giữ, tạm giam không bị hạn chế; nhưng đồng thời phải bảo đảo tính khả thi trong điều kiện thực tế của đất nước ta để Luật sau khi ban hành được thực hiện một cách thuận lợi, đầy đủ, đáp ứng yêu cầu công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    Nhất trí với sự cần thiết ban hành Luật tạm giữ, tạm giam, đại biểu Đỗ Ngọc Niễn (Bình Thuận) cho rằng: Dự thảo Luật đã cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân; đồng thời khắc phục được những hạn chế phát sinh từ thực tiễn, nhất là khắc phục tình trạng bức cung, nhục hình ở các trại tạm giam, nhà tạm giữ. Nhưng sẽ văn minh, tiến bộ hơn nữa khi cho phép người bị tạm giữ, tạm giam có quyền được khởi kiện nếu bị xâm phạm về quyền và lợi ích hợp pháp.

    Góp ý về chế độ của phụ nữ có thai và nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Các đại biểu đề nghị dự án Luật cần quy định cụ thể hơn về vấn đề này.

    Theo đại biểu Lưu Thị Huyền (Ninh Bình): Đối tượng nữ bị tạm giam trong trại tạm giam, nhà tạm giữ trong các cơ sở của Công an nhân dân rất nhiều. Để đảm bảo vấn đề bình đẳng giới, dự thảo Luật đã lồng ghép khá tốt vấn đề bình đẳng giới đảm bảo theo quy định của Luật bình đẳng giới.

    Những quy định trong dự thảo Luật đã đảm bảo quyền của người bị tạm giữ, người bị tạm giam; không phân biệt giữa nam và nữ. Trong dự thảo Luật có nhiều điểm thể hiện tính nhân đạo phù hợp về độ tuổi, giới tính, đảm bảo quyền phụ nữ, trẻ em, người già, người bị bệnh. Tuy nhiên, do đặc thù giới tính, dự thảo Luật cần có những quy định đảm bảo bình đẳng giới cho phù hợp.

    Đại biểu Nguyễn Minh Phương (thành phố Cần Thơ) cho rằng: Dự thảo Luật quy định người bị tạm giữ, tạm giam là phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi được chăm sóc y tế và đảm bảo tiêu chuẩn theo chỉ dẫn của y bác sĩ; được cấp thực phẩm, thuốc, đồ dùng thiết yếu trong thời gian nuôi cao; được bố trí chỗ nằm tối thiểu 3m2 đã thể hiện tính nhân đạo, sự quan tâm đến việc bảo vệ quyền của bà mẹ và quyền của trẻ em.

    Đại biểu Quốc hội thành phố Cần Thơ Nguyễn Minh Phương phát biểu ý kiến. Ảnh: Doãn Tấn – TTXVN

    Tuy nhiên, dự thảo Luật cần quy định rõ hơn khi nào và ai xác định được chăm sóc y tế trong những trường hợp cần thiết, cơ sở giam giữ hay người tạm giam, tạm giữ đang mang thai. Theo đại biểu nên quy định như Bộ Y tế về chăm sóc y tế cho phụ nữ mang thai ở cơ sở tạm giữ, tạm giam và cần tổ chức khám thai ít nhất 3 lần trong thời kỳ mang thai.

    Cũng theo đại biểu, hiện nay, trên toàn quốc có 83 trại tạm giam, 734 nhà tạm giữ và 224 buồng tạm giữ ở các đồn biên phòng. Nếu tách khỏi cơ quan Công an các cấp sẽ phải đầu tư một khoản kinh phí khổng lồ để xây dựng trại tạm giam, nhà tạm giữ mới; đồng thời phải bổ sung một lượng biên chế cán bộ, chiến sĩ để thực hiện công tác tạm giữ, tạm giam.

    Do đó, đại biểu đề nghị giữ nguyên quy định tổ chức cơ quan quản lý trại tạm giam, nhà tạm giữ như hiện nay là phù hợp. Tuy nhiên, cần tăng cường công tác kiểm sát, thanh tra để kịp thời phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi tiêu cực trong công tác quản lý tạm giữ, tạm giam.

    Ngoài ra, các đại biểu Quốc hội cũng đã góp ý cụ thể vào các nội dung khác của Dự án Luật tạm giữ, tạm giam như: Tên gọi và phạm vi điều chỉnh; vấn đề khởi kiện trong thực hiện chế độ tạm giữ, tạm giam; quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ưu Tiên Tuyển Chọn Công Dân Đã Tốt Nghiệp Cđ, Đh Tham Gia Nghĩa Vụ Cand
  • Infographic: Những Điều Cần Biết Về Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Tiêu Chuẩn Sức Khỏe Tham Gia Nghĩa Vụ Quân Sự Năm 2022
  • Năm 2022, Chưa Đi Nghĩa Vụ Quân Sự Phải Tham Gia Dân Quân Tự Vệ?
  • Thời Gian Tạm Hoãn Nghĩa Vụ Quân Sự Là Bao Lâu ? Được Hoãn Bao Nhiêu Lần Khi Có Giấy Gọi Nhập Ngũ ?
  • Luật Sửa Đổi Và Bổ Sung Luật Nghĩa Vụ Quân Sự

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi 1965
  • Bài 2. Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Trách Nhiệm Của Học Sinh
  • Vi Phạm Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Có Được Thi Vào Ngành Công An Nhân Dân Không?
  • Điều Kiện, Thủ Tục Tham Gia Nghĩa Vụ Công An Nhân Dân Năm 2022 ? Điều Kiện Nhập Ngũ ?
  • Xã Ngọc Hồi Tuyên Truyền Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Luật Công An Nhân Dân
  • SỬA ĐỔI VÀ BỔ SUNG LUẬT NGHĨA VỤ QUÂN SỰ

    Theo đề nghị của Hội đồng Chính phủ, luật này quy định những điều sửa đổi và bổ sung sau đây về luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960:

    Nay sửa đổi những điều 7, 10, 28, 32 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 và thay bằng những điều (mới) sau đây:

    1. Điều 7 (mới): Lứa tuổi tuyển vào quân đội thường trực trong thời bình là từ mười tám đến hai mươi nhăm tuổi, trong thời chiến là từ mười tám đến bốn nhăm tuổi.

    Việc lần lượt gọi các lứa tuổi ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến do Hội đồng quốc phòng định.

    2. Điều 10 (mới): Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội lục quân là ba năm.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội không quân là bốn năm.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan kỹ thuật và binh sĩ kỹ thuật trong bộ đội lục quân là bốn năm.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ trong bộ đội hải quân là năm năm.

    Thời hạn phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc các binh chủng kỹ thuật trong Công an nhân dân vũ trang theo như thời hạn phục vụ tại ngũ của các binh chủng, quân chủng trong Quân đội nhân dân.

    Trong trường hợp đặc biệt, Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Bộ trưởng Bộ công an có thể kéo dài thời hạn phục vụ tại ngũ của quân nhân thuộc quyền mình nhưng không được quá bốn tháng.

    3. Điều 28 (mới): Sĩ quan, hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị hàng năm phải tham gia huấn luyện quân sự theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

    Sĩ quan dự bị, hạ sĩ quan kỹ thuật dự bị, binh sĩ kỹ thuật dự bị và những người được chọn để đào tạo thành sĩ quan dự bị mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự hai mươi nhăm ngày.

    Hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị bộ binh mỗi năm phải tham gia huấn luyện quân sự mười lăm ngày.

    Trong trường hợp thật cần thiết, Hội đồng Chính phủ quyết định việc tổ chức huấn luyện quân sự tập trung cho quân nhân dự bị trong một thời gian không quá tám tháng.

    4. Điều 32 (mới): Sau khi Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà công bố lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra các mệnh lệnh cần thiết để thực hiện.

    Uỷ ban hành chính các cấp có nhiệm vụ thi hành mệnh lệnh động viên của Bộ trưởng Bộ quốc phòng.

    Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho quân nhân dự bị thuộc tổ chức của mình chấp hành lệnh động viên được nhanh chóng.

    Nay bổ sung tiếp theo những điều 27, 32, 34 của luật nghĩa vụ quân sự ngày 15 tháng 4 năm 1960 những điều 27b, 32b, 34b sau đây:

    1. Điều 27b: Bộ trưởng Bộ quốc phòng lãnh đạo công tác tuyển binh trong toàn quốc.

    Thủ trưởng các cơ quan, trường học, xí nghiệp, công trường, nông trường, lâm trường và các tổ chức khác có nhiệm vụ bảo đảm cho công tác tuyển binh trong tổ chức của mình tiến hành được tốt.

    2. Điều 32b: Việc gọi quân nhân dự bị ra phục vụ tại ngũ trong thời chiến quy định như sau:

    Thủ tướng Chính phủ ra lệnh gọi sĩ quan dự bị cấp tướng;

    Bộ trưởng Bộ quốc phòng ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp tá trở xuống;

    Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính khu tự trị, tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ra lệnh gọi quân nhân dự bị từ cấp uý trở xuống;

    Theo mệnh lệnh của Bộ trưởng Bộ quốc phòng, Chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, khu phố ra lệnh gọi hạ sĩ quan và binh sĩ dự bị.

    3. Điều 34b: Trong thời bình, theo quyết định của Hội đồng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ quốc phòng tổ chức động viên thực tập cho các địa phương, cơ quan, đơn vị sản xuất và các tổ chức khác. Những người có nghĩa vụ quân sự có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh các mệnh lệnh về động viên thực tập của Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Chủ tịch Uỷ ban hành chính địa phương.

    Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ II, kỳ họp thứ 5, thông qua ngày 26 tháng 10 năm 1962.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Các Luật Sử Đổi Đến 2005
  • Những Thay Đổi Về Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Năm 2022
  • Độ Tuổi Nhập Ngũ Áp Dụng Theo Luật Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022 Đã Sửa Đổi Những Gì?
  • 8 Điều Cần Biết Về Nghĩa Vụ Quân Sự 2022
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự 2022 Đã Sửa Đổi Những Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Độ Tuổi Nhập Ngũ Áp Dụng Theo Luật Nghĩa Vụ Quân Sự ?
  • Những Thay Đổi Về Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Năm 2022
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Và Các Luật Sử Đổi Đến 2005
  • Luật Sửa Đổi Và Bổ Sung Luật Nghĩa Vụ Quân Sự
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Sửa Đổi 1965
  • Nghĩa vụ quân sự là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu của các bạn trẻ hiện nay. Vậy luật nghĩa vụ quân sự 2022 đã sửa đổi những gì?

    – Chỉ gọi nhập ngũ 1 lần: Từ năm 2022 trở đi, chỉ có 1 đợt gọi nhập ngũ là tháng 2 hoặc tháng 3. Trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh thì được gọi nhập ngũ lần thứ 2. Đối với địa phương có thảm họa hoặc dịch bệnh nguy hiểm thì được điều chỉnh thời gian gọi nhập ngũ. Quy định thời gian này cũng áp dụng cho việc gọi tham gia nghĩa vụ công an nhân dân.

    – Thời gian khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự: từ 1/11 đến hết 31/12 hàng năm tương ứng với 1 đợt gọi nghĩa vụ quân sự vào tháng 2 hoặc tháng 3. Lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự sẽ được gửi đến công dân trước 15 ngày.

    – Đối tượng đăng kí nghĩa vụ: Nam từ 17 tuổi, nữ từ 18 tuổi trở lên.

    – Độ tuổi gọi nhập ngũ: Công dân nam đủ mười tám tuổi được gọi nhập ngũ; độ tuổi gọi nhập ngũ trong thời bình từ đủ 18 đến hết 25 tuổi.

    – Thời gian phục vụ tại ngũ: từ 1/1/2016, thời gian phục vụ tại ngũ của hạ sĩ quan và binh sĩ là 24 tháng. Ngoài ra, thời gian này có thể kéo dài thêm nhưng không quá 6 tháng theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong trường hợp khẩn cấp.

    2. Ai được tạm hoãn nghĩa vụ quân sự?

    – Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của hội đồng khám sức khỏe;

    – Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động;

    – Trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được UBND cấp xã xác nhận;

    – Con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61 -80%; Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ;

    – Hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia công an nhân dân;

    – Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 3 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án pháttriển kinh tế xã hội của nhà nước do UBND cấp tỉnh trở lên quyết định;

    – Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

    3. Đối tượng nào được miễn gọi nhập ngũ?

    – Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng 1;

    – Anh trai hoặc em trai duy nhất của liệt sĩ;

    – Con một của thương binh hạng 2; Con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; Con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;

    – Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, công an nhân dân;

    – Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

    4. Ai được công nhân hoàn thành nghĩa vụ quân sự tại ngũ trong thời bình?

    – Dân quân tự vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ, trong đó có ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân tự vệ thường trực.

    – Hoàn thành nhiệm vụ công an xã liên tục đủ 36 tháng trở lên.

    – Cán bộ, công chức, viên chức, sinh viên tốt nghiệp ĐH trở lên, đã được đào tạo và phong quân hàm sĩ quan dự bị.

    – Thanh niên đã tốt nghiệp ĐH,CĐ,TC tình nguyện phục vụ tại đoàn kinh tế-quốc phòng từ đủ 24 tháng trở lên theo đề án do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

    – Công dân phục vụ trên tàu kiểm ngư từ đủ 24 tháng trở lên.

    5. Trốn tránh nghĩa vụ quân sự thì bị xử lý ra sao?

    Luật nghĩa vụ quân sự (sửa đổi) có hiệu lực ngày 1/1/2016 quy định Công dân đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ. Các đối tượng trong độ tuổi gọi nhập ngũ mà có hành vi trốn tránh đi nghĩa vụ quân sự sẽ bị xử phạt hành chính, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

    Trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự là hành vi không chấp hành lệnh gọi đăng ký nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự; lệnh gọi nhập ngũ; lệnh gọi tập trung huấn luyện, diễn tập, kiểm tra sẵn sàng động viên, sẵn sàng chiến đấu.

    Điều 59 Luật nghĩa vụ quân sự quy định đối với hành vi trốn tránh nghĩa vụ quân sự, có thể bị xử phạt như sau:

    – Không có mặt đúng thời gian, địa điểm kiểm tra khám sức khỏe ghi trong giấy gọi kiểm tra, khám sức khỏe NVQS mà không có lý do chính đáng bị phạt tiền từ 800.000 – 1.200.000 đồng.

    – Người khám sức khỏe làm sai lệch kết quả phân loại nhằm trốn tránh NVQS, hối lộ tiền hay lợi ích vật chất khác để làm sai lệch kết quả phân loại sức khỏe NVQS, cán bộ, nhân viên y tế làm sai lệch yếu tố về sức khỏe bị phạt tiền từ 2 – 4 triệu đồng.

    – Không có mặt đúng thời gian, địa điểm tập trung ghi trong lệnh gọi nhập ngũ mà không có lý do chính đáng bị phạt tiền từ 1.5 – 2.5 triệu đồng.

    Truy cứu trách nhiệm hình sự:

    Ngoài xử phạt hành chính, đối tượng vi phạm còn phải thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc đăng ký nghĩa vụ quân sự, Buộc thực hiện sơ tuyển nghĩa vụ quân sự theo kế hoạch của Hội đồng nghĩa vụ quân sự , Buộc thực hiện kiểm tra hoặc khám sức khỏe,…

    Ngoài ra, công dân vi phạm nghĩa vụ quân sự đã bị xử phạt hành chính theo nghị định 120/2013/NĐ-CP mà vẫn tái phạm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 260,261 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009:

    – Đã bị phạt tiền mà còn tái phạm, đối với công dân vi phạm sẽ bị phạt tù 3 tháng đến 5 năm tùy theo mức độ vi phạm.

    – Đối với cán bộ nếu đã bị phạt tiền mà còn tái phạm thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm tùy theo mức độ vi phạm.

    6. Có được trả lương cho ngày nghỉ để khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự?

    – Công dân đang làm việc tại cơ quan, tổ chức trong thời gian đăng ký nghĩa vụ quân sự, khám, kiểm tra sức khỏe nghĩa vụ quân được trả nguyên lương, tiền tàu xe và các khoản phụ cấp hiện hưởng.

    – Công dân đến đăng ký nghĩa vụ quân sự, khám, kiểm tra sức khỏe được bảo đảm chế độ ăn, ở trong thời gian thực hiện đăng ký, khám, kiểm tra sức khỏe, tiền tàu xe đi, về.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 8 Điều Cần Biết Về Nghĩa Vụ Quân Sự 2022
  • Luật Nghĩa Vụ Quân Sự Năm 2022 Bao Gồm Những Tiêu Chí Gì? Đi Mấy Năm?
  • Quy Định Về Tiêu Chuẩn Tham Gia Nghĩa Vụ Quân Sự Mới Năm 2022
  • Đi Nghĩa Vụ Quân Sự Năm 2022, Hưởng Phụ Cấp Cao Nhất Từ Trước Đến Nay?
  • Đã Có Lịch Khám Nghĩa Vụ Quân Sự 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100