Top 3 # Xem Nhiều Nhất Luật Lao Đông Việt Nam 2019 Về Nghỉ Hưu Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Athena4me.com

Sống Ở Mỹ : Tôi Về Nghỉ Hưu Ở Việt Nam

Đã bàn nhiều về cách làm giàu ở Mỹ, nay tôi xin kể về chuyện trở về quê hương, “nghỉ hưu” sau nhiều năm bôn ba trên đất khách của tôi.

Sinh ra ở Việt Nam, lớn lên bằng gạo lúa quê mình vì nhiều lý do khác nhau, nhiều người phải mưu sinh ở nước khác. Sau những năm tháng bôn ba trên quê hương thứ hai, thành công về vật chất đã có rất nhiều người đạt được, nhưng về tinh thần cũng còn rất có rất nhiều người luôn nặng tình với quê hương.

Rất hiếm hoi để được nghe người ta nói về tình yêu quê hương, nhưng khi nhắc về những kỷ niệm, về gia đình, về tuổi thơ hay những câu chuyện tình yêu một thời, hai chữ quê hương lúc ẩn lúc hiện và bây giờ họ đã trở thành tầng lớp hưu trí. Và hình như đã đến lúc mọi người cùng ghé tai nhau nói nhỏ “ta về ta tắm ao ta” rồi thì phải.

Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nhìn từ trên cao. Ảnh: Tapetco

Tôi còn nhớ cái cảm giác lâng lâng và đầy hụt hẫng khi trở lại quê hương, lần đầu trở lại thăm gia đình ở Việt Nam vào năm 1990. Nước mắt đã không ngăn được khi phi cơ vào không phận Việt Nam.

Nhưng năm 1990, tôi chưa có cảm giác có thể quên đi công ăn việc làm ở Mỹ để trở về Việt Nam, gần gũi gia đình. Đến năm 1993 tôi lại về Việt Nam, bức tranh quê hương có thay đổi thêm vào những nét chấm phá của văn hóa rất Việt Nam, những tình cảm ngộ nghĩnh và rất con người đột nhiên tự có.

Tôi làm quen với nhiều người, từ bà cụ bán vịt lộn, anh lái xe ôm, trí thức. Chúng tôi nói nhiều chuyện, trong đó có chuyện làm sao để có đời sống kinh tế khá hơn. Và mỗi người, mỗi câu chuyện lại là một kinh nghiệm đầy phấn đấu cho tôi.

Có những mẩu chuyện mà khó ai tin, một bà cụ vốn liếng chỉ có 30 trái vịt lộn thế nhưng bà cụ nuôi được thân mình và đứa cháu tật nguyền mất cả cha lẫn mẹ. Những mảnh đời thiếu may mắn tôi gặp ở khắp mọi nơi, họ chỉ mong có số vốn nhỏ để bắt đầu. Khi biết được cái mong ước của họ chỉ là số tiền nhỏ có khi chỉ 50 USD, đủ để họ khởi đầu cho một gánh hàng rong, hay có tiền vốn bán vé số, và thực tế hơn chính gia đình người anh ruột của tôi cũng mong được tôi cho 500 USD và hứa sẽ “không bao giờ làm phiền chú nữa”.

Tôi trở lại Mỹ và mau chóng quên những người bạn này vì quá bận rộn, rồi tình cờ tôi gặp lại một vài người đã đến Mỹ theo diện HO. Họ kể cho tôi nghe về những người quen khác ngày một khá hơn, đời sống thay đổi nhiều, và còn nhiều cái vui khác. Tôi lại quyết định về Việt Nam thăm nhà vào đầu những năm 2000.

Và ngày trở lại có nhiều người đón tôi ở phi trường với những trách móc: “Sao tôi viết thư mà ông không trả lời?” Thật là ngỡ ngàng nhưng tôi cười trừ chống chế. Tôi mà nhận được thư ông viết “tôi chết liền”. Tôi không hiểu cái cách nói này tôi học được ở đâu (!) nhưng đó là lần đầu tiên tôi nói.

Một tháng ở Việt Nam trôi qua mau chóng, tôi ngày nào cũng đi hết nhà người này đến nhà người khác, mà ngày nào cũng giống nhau ở đâu thì cũng rượu thuốc (phần lớn là rượu chuối hột). Còn đồ ăn thì được chế biến từ tất cả những thứ mà họ tìm được.

Tôi có cái may mắn là ăn cái gì cũng được, thế mà lần đầu tiên được mời uống tiết rắn. Mặc dù rất sợ nhưng vẫn can đảm, “ai tới đâu thì tôi theo tới đó” có lẽ vì vậy mà tôi dễ thân thiết với mọi người. Bài học đầu tiên mà tôi học được trong cái văn hóa phức tạp của ngày trở về này.

“Bữa nhậu là đầu câu chuyện, từ kinh doanh buôn bán, đến việc giải quyết xung khắc trong nhiều lĩnh vực. Những ông lớn không làm những việc bé, nhưng rất nhiều người “bé” lại có quan hệ với nhiều ông lớn, và cuối cùng thì các ông lớn sẽ giải quyết những việc của người bé”, một người bạn của tôi đúc kết như vậy.

Tôi trở lại Mỹ, để rồi hai tháng sau tôi quyết định nghỉ việc và về Việt Nam hưu trí. Bây giờ đã 10 năm, khi viết bài này, tôi đang ở Việt Nam và được gọi là Việt kiều. Tôi là một người “Việt kiều hưu trí” 10 năm, một khoảng thời gian “được cái này mất cái kia” và rất nhiều điều tôi đã trải qua vừa vui và vừa buồn cười. Những trải nghiệm của tôi đôi lúc trở thành câu chuyện dí dỏm, và tôi sẽ tuần tự trình bày dưới khía cạnh của kinh nghiệm thực tế, để các bạn ” Người Việt hải ngoại” đừng vấp phải những khó khăn mà tôi đã trải qua khi các bạn quyết định về Việt Nam hưu trí.

Tôi mua nhà

Về Việt Nam, tôi không có ý định ở khách sạn, nên quyết định mua một căn nhà nhỏ chỉ bằng diện tích của một studio ở Mỹ làm nơi tạm trú với dự định là số khi nào không cần nữa thì cho ai đó là xong.

Căn nhà đầu tiên tôi mua có diện tích 5×9 = 45m2, giá mua là 45 cây vàng 9999. (một lượng vàng 9999 quy thành tiền Việt = 4,7 triệu/cây vàng và bằng 22.000 USD). Đây là số tiền không lớn, làm tôi không phải băn khoăn, và để căn nhà này cho một người thân đứng tên.

Nhiều Việt kiều đã không còn muốn mua nhà tại Việt Nam như trước đây. Ảnh: Hoàng Hà

Căn nhà được tôi tu bổ và trở nên rất ấm cúng với những hệ thống nội thất trang trí vừa phải đã cho tôi một tổ ấm đúng nghĩa 50%, còn 50% còn lại là do tôi không được đứng tên nhà. Chỉ có điều tôi không bao giờ ngờ rằng, người thân mà tôi nhờ đứng tên lại có ý “chỉ coi tôi như một người ở nhờ”. Cái đắng cay là mất tình nghĩa chứ không phải là do số tiền mua nhà.

Trong khi để cảm ơn họ đã giúp tôi, tôi cũng đã mua lại một khu nuôi gia súc cách thành phố 40 km thuộc vùng Tân Uyên Biên Hòa với ý định biếu họ. Tôi may mắn lấy lại được nhà chỉ vì họ phạm phải lỗi lầm to lớn đó là khi tôi đi chơi xa, họ mang người đến đục két sắt và lấy của tôi một số tiền, nhờ vậy để tránh bị tù tội họ phải chuyển chủ quyền cho một người khác mà tôi chỉ định, và dĩ nhiên không bao giờ họ nhận được cái trang trại mà tôi có ý cho họ.

Về Việt Nam, mang danh nghĩa Việt kiều, thời năm 2000 đi tàu giá vé gấp đôi, vào nhà hàng thì luôn có con dao thật bén để họ chém đẹp, dù không bao giờ tự nhận mình là Việt kiều, nhưng họ tinh lắm chỉ cần nhìn cách đi đứng ăn nói của mình là họ biết ngay. Chẳng vậy mà trên tuyến đường đi từ Đà Lạt xuống Phan rang, khi xe ngừng lại một quán nước bên đường đã có người bán hàng rong đưa tay bóp bắp tay tôi rồi nói: “Chu ơi, Việt kiều mập quá!”

Bây giờ, những chuyện thế này thì không còn nữa và luật pháp Việt Nam khá thông thoáng. Theo thông tin đại chúng, Việt kiều được đứng tên mua nhà và làm chủ tài sản của mình, nhưng đến thời điểm này liệu không còn có nhiều người thật sự muốn mua nhà. Vì các nguyên nhân sau đây:

– Những người cần mua thì họ đã mua rồi, họ không đứng tên thì người nhà của họ đứng tên. Khi đó giá nhà đất còn rẻ, nhiều người có thể đủ khả năng để mua một biệt thự hay một căn nhà phố, giá chỉ vài ba tỷ đồng Việt Nam.

– Ngày nay muốn mua được một biệt thự họ phải trả từ 6 đến 10 tỷ hay từ 300.000 đến 500.000 USD (10 tỷ VND), cho một biệt thự, trong khi giá cho thuê một biệt thự cao cấp cũng chỉ khoảng 1.000 USD. Hãy làm một so sánh: nếu phải bỏ ra 10 tỷ đồng, số tiền này có thể cho lợi nhuận 50 triệu VND/tháng. Như vậy, dù có thuê nhà với giá 1.000 USD họ vẫn còn lợi đươc 1.500 USD.

– Hiện tại giá nhà đất tăng vọt, giá trị thật sự của nhu cầu không tương ứng với số tiền người ta phải bỏ ra để mua.

– Tâm lý Việt kiều không bao nhiêu người muốn ở Việt Nam toàn thời gian mà chỉ có ý định sống hai nơi tùy theo lúc và nhu cầu.

– Việc khó khăn để có được giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam là một hành trình dài, trong khi hộ chiếu của Mỹ thì có ghi rõ “Xuất xứ: Việt Nam” mặc dù vậy họ vẫn không được công nhận là còn quốc tịch Việt Nam.

– Thủ tục hành chính rườm rà, dể làm nản lòng rất nhiều người.

– Hệ thống pháp lý của Việt Nam cũng vô cùng phức tạp, nhất là khi người Việt hải ngoại có vướng mắc với luật pháp, thông thường là các án dân sự, rất và rất nhiều do tranh chấp tài sản khi nhờ người khác đứng tên.

Trên mục “Người Việt Năm châu” tôi đọc được một số bài viết của các bạn đọc ở hải ngoại có những ưu tư như những bài “Có nên về Việt Nam hưu trí”, “Về Việt Nam làm việc” hay “Mua nhà ở Việt Nam để hưu trí” và còn nhiều nữa. Với kinh nghiệm mà tôi có được trong nhiều năm sống tại Việt Nam, tôi mong được chia sẻ với bạn đọc, hy vọng những kinh nghiệm nhỏ bé này sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn khi chọn lựa cho mình một quyết định.

Xin chào tất cả bạn đọc và hẹn gặp lại.

Quy Định Của Bộ Luật Lao Động Năm 2012 Về Tuổi Nghỉ Hưu?

1. Khái niệm tuổi nghỉ hưu theo quy định của Bộ luật lao động năm 2012

Căn cứ Điều 187 Bộ luật lao động năm 2012 như sau:

Điều 187 quy định về tuổi nghỉ hưu khác nhau cho ba nhóm người lao động: nhóm người lao động nghỉ hưu ở độ tuổi trung bình mang tính đại trà, nhóm người lao động nghỉ hưu ở độ tuổi thấp hơn và nhóm người lao động nghỉ hưu ở độ tuổi cao hơn. Độ tuổi nghỉ hưu khác nhau của những nhóm người lao động này được xác định không chỉ dựa trên cơ sở sinh học, mức suy giảm khả năng lao động, điều kiện lao động, tính chất công việc như trước đây, mà Điều 187 còn bổ sung thêm điều kiện về trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác của người lao động. Do các đối tượng người lao động được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn hoặc ở tuổi cao hơn không mang tính đại trà, phổ biến, nên khoản 4 của Điều luật quy định Chính phủ sẽ hướng dẫn cụ thể trong các nghị định.

– Đối với nhóm người lao động nghỉ hưu ở độ tuổi trung bình mang tính đại trà: Khoản 1 Điều luật quy định cùng với điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên) thì người lao động được hưởng lương hưu khi lao động nam đủ 60 tuổi, lao động nữ đủ 55 tuổi.

Độ tuổi nghỉ hưu này được pháp luật lao động, ngay từ khi ra đời đến nay, đã xác định và làm căn cứ để người lao động nghỉ việc hưởng lương hưu hằng tháng. Do được kiểm nghiệm trên thực tế, áp dụng trong khoảng thời gian lâu dài, nên quy định này không chỉ phù hợp với sức khỏe, sự lão hóa, khả năng lao động của người lao động Việt Nam, mà còn phù hợp với nhu cầu của người lao động cũng như bảo đảm nguồn quỹ tài chính ổn định đủ khả năng chi trả. Trong quá trình lập pháp, tuy có nhiều ý kiến về độ tuổi khác nhau giữa lao động nam và lao động nữ, song dựa trên nhiều cơ sở khoa học như đã nêu, với độ tuổi xác định trong điều luật này là hợp lý.

– Đối với nhóm người lao động nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn: Độ tuổi thấp hơn được xác định so với độ tuổi được quy định ở khoản 1 nêu trên, theo đó, người lao động được nghỉ hưu sớm hơn so với trường hợp trên từ 5 đến 10 năm tuổi đời, cá biệt có trường hợp không phụ thuộc vào tuổi đời, song phải bảo đảm các điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 20 năm trở lên, mức suy giảm khả năng lao động và tính chất công việc. Nhóm này gồm các đối tượng:

– Người lao động bị suy giảm khả năng lao động. Mốc xác định khả năng lao động bị suy giảm để được hưởng lương hưu ở tuổi thấp hơn theo quy định của pháp Luật Bảo hiểm xã hội là 61% trở lên. Vì vì với mức suy giảm khả năng lao động này, người lao động khó khăn trong thực hiện việc làm theo yêu cầu chung. Với thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên cùng với điều kiện làm việc bình thường, thì người lao động trong trường hợp đó được nghỉ hưởng lương hưu thấp hơn độ tuổi trung bình tối đa tới 10 năm tuổi đời. Trường hợp người lao động làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có mức suy giảm khả năng lao động này trở lên và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm trở lên thì không phụ thuộc tuổi đời;

Như vậy, khoản 2 điều luật này quy định một số trường hợp người lao động có thể nghỉ hưu thấp hơ n so với trường hợp quy định tại khoản 1 Điều luật là hợp lý, có tính khoa học và phù hợp với điều kiện cụ thể cũng như khả năng lao động của người lao động. Đồng thời, quy định đó cũng nhằm thu hút và phân bổ lực lượng lao động trong xã hội, góp phần phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ an ninh quốc phòng của đất nước.

– Đ ối với nhóm người lao động nghỉ hưu ở tuổi cao hơn: Đây là quy định mới được bổ sung trong BLLĐ năm 2012, nhằm tận dụng kinh nghiệm của người lao động trong một số trường hợp, giảm gánh nặng chi trả trợ cấp của quỹ bảo hiểm xã hội và phù hợp với thực tế sử dụng lao động ở Việt Nam, đồng thời thể hiện sự thống nhất với các ngành luật khác và phù hợp với quy định của pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới.

Nhóm người nghỉ hưu ở độ tuổi cao hơn so với độ tuổi trung bình bao gồm: Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao như giảng viên trong các trường đại học có trình độ tiến sĩ, hoặc có chức danh phó giáo sư, giáo sư; thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; cán bộ, công chức nữ giữ một số chức vụ, chức danh quản lý. Theo đó, tùy từng đối tượng tương ứng với trình độ chuyên môn, chức danh, chức vụ đảm nhiệm của người lao động mà thời gian kéo dài tuổi nghỉ hưu từ 5 năm đến 10 năm.

Việc cụ thể hoá quy định này đã được thể hiện trong Nghị định số 141/2013/NĐ-CP ngày 24/10/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật giáo dục đại học và Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29/05/2015 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức. Theo khoản 2 Điều 9 Nghị định số 141/2013/NĐ-CP, thì kéo dài thời gian làm việc đối với giảng viên có trình độ tiến sĩ đủ tuổi nghỉ hưu là không quá 5 năm, đối với giảng viên có chức danh phó giáo sư là không quá 7 năm và đối với giảng viên có chức danh giáo sư là không quá 10 năm. Đối với các đối tượng là cán bộ, công chức nữ giữ các chức vụ, chức danh (Ví dụ: Phó Trưởng ban các Ban Trung ương Đảng, Phó Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Chỉ đạo: Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ; Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội; Phó Chủ tịch chuyên trách Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Phó Chủ nhiệm chuyên trách các ủy ban của Quốc hội…), thì thời gian công tác khi nghỉ hưu ở tuổi cao hơn tối đa là 05 năm, nhưng không vượt quá 60 tuổi.

– Đối với những người được bổ nhiệm chức vụ, chức danh thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, thì thời gian công tác khi nghỉ hưu ở tuổi cao hơn tối đa là 05 năm, nhưng không quá 65 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

Bố tôi là Nguyễn Minh Thành, là nhân viên công ty vận tải Minh Tiến, năm 2017 bố tôi 53 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội. Đầu năm 2017 bố tôi có bị tai nạn trong quá trình làm việc và qua thẩm định thì được xác định là bị suy giảm 61% khả năng lao động. Vậy với trường hợp bị suy giảm khả năng lao động 61%, bố tôi có được nghỉ hưu trước tuổi vào năm 2017 hay không? Mong Luật sư giải đáp giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Có được nghỉ hưu trước tuổi khi bị suy giảm khả năng lao động không?

Căn cứ theo quy định tại Điều 55 Luật bảo hiểm xã hội 2014 về Điều kiện hưởng lương hưu khi suy giảm khả năng lao động như sau:

Mức hưởng lương hưu hằng tháng như sau: mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều kiện quy định tại Điều 54 của Luật này được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội quy định tại Điều 62 của Luật này tương ứng với 15 năm đóng bảo hiểm xã hội, sau đó cứ thêm mỗi năm thì tính thêm 2% đối với nam và 3% đối với nữ; mức tối đa bằng 75%.

15 năm = 45%

5 năm tiếp theo: 5 x 2% = 10%

Tỷ lệ % do nghỉ hưu trước tuổi: 7 x 2% = 14%

Như vậy tỷ lệ hưởng lương trước tuổi của bố bạn là: (45% + 10%) – 14% = 41% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn.

Tác giả

Nguyễn Văn Phi

Điểm Mới Về Độ Tuổi Nghỉ Hưu Trong Bộ Luật Lao Động 2022

Bộ luật lao đọng 2012 quy định như thế nào về độ tuổi nghỉ hưu chủa người lao động. Điểm mới về độ tuổi nghỉ hưu trong Bộ luật lao động 2019 được thể hiện ra sao?

Độ tuổi nghỉ hưu trong Bộ luật lao động 2012

Theo quy định tại Điều 187 Bộ luật lao động 2012, người lao động bảo đảm điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội được hưởng lương hưu khi nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi.

– Người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người lao động làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt khác có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 năm so với quy định trên.

Vấn đề hỗ trợ khám bệnh nghề nghiệp cho người lao động đã nghỉ hưu

Độ tuổi nghỉ hưu trong Bộ luật lao động 2019

Dự thảo Bộ luật lao động 2019 được thông qua với nhiều điểm mới đáng chú ý so với Bộ luật lao động 2012. một trong những điểm mới cần được nhắc đến đó là sự điều chỉnh về độ tuổi nghỉ hưu của người lao động.

Theo quy định tại Điều 169 Bộ luật lao động 2019, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 04 tháng đối với lao động nữ; sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng đối với lao động nam và 04 tháng đối với lao động nữ.

– Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định trên tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

– Người lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt có thể nghỉ hưu ở tuổi cao hơn nhưng không quá 05 tuổi so với quy định trên tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Từ quy định trên, chúng ta thấy rõ là độ tuổi nghỉ hưu được tăng theo lộ trình cụ thể. Điều này khá là cần thiết bởi chúng ta sẽ tận dụng được nguồn lao động lành nghề trong công cuộc phát triển kinh tế. Nhất là việc tăng độ tuổi nghỉ hưu cũng không làm mất đi cơ hội việc làm của giới trẻ.

Đối với những người lao động bị suy giảm khả năng lao động; người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao;…có thể được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn không quá 05 tuổi so với quy định trên tại thời điểm nghỉ hưu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nghỉ Hưu Trước Tuổi Cho Người Lao Động

Bao nhiêu tuổi được hưởng lương hưu?

Ngoài ra, với những người đủ điều kiện hưởng lương hưu nhưng không đủ số năm đóng BHXH thì có thể làm thủ tục rút BHXH 1 lần.

Người nghỉ hưu trước tuổi là người nghỉ trước thời gian theo tiêu chuẩn nêu trên. Tuy nhiên, theo Điều 16 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, người nghỉ hưu trước tuổi vẫn phải đáp ứng điều kiện đã có đủ 20 năm đóng BHXH và thuộc một trong các trường hợp:

– Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% và đảm bảo điều kiện về tuổi đời:

– Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi.

Như vậy, để được nghỉ hưu trước tuổi, người lao động phải làm giám định mức suy giảm khả năng lao động và mức suy giảm tối thiểu là 61%.

Như đã đề cập ở trên, một trong những điều kiện để người lao động hưởng chế độ hưu trí theo diện nghỉ hưu sớm là bị suy giảm khả năng lao động. Do vậy, trước hết, người lao động cần phải chuẩn bị hồ sơ khám giám định sức khỏe.

Theo khoản 3 Điều 5 Thông tư 56/2017/TT-BYT, hồ sơ này gồm:

– Giấy giới thiệu của người sử dụng lao động (đối với người đang đóng BHXH bắt buộc) hoặc Giấy đề nghị khám giám định (đối với người đang bảo lưu thời gian đóng BHXH hoặc đã có quyết định nghỉ việc chờ giải quyết chế độ hưu trí, trợ cấp hàng tháng);

– Bản chính hoặc bản sao hợp lệ của một hoặc các giấy tờ khám, điều trị bệnh, tật: Tóm tắt hồ sơ bệnh án, giấy xác nhận khuyết tật, giấy ra viện, sổ khám bệnh…

– Một trong các giấy tờ chứng minh nhân thân: Chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu…

Sau khi có kết quả giám định mức suy giảm khả năng lao động, người lao động lập hồ sơ đề nghị hưởng lương lưu theo khoản 1 Điều 6 Quyết định 166/QĐ-BHXH. Cụ thể:

Trường hợp đang đóng BHXH bắt buộc

– Sổ BHXH;

– Quyết định nghỉ việc hưởng chế độ hưu trí hoặc văn bản chấm dứt hợp đồng lao động hưởng chế độ hưu trí;

– Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động.

Trường hợp tham gia BHXH tự nguyện, bảo lưu thời gian đóng BHXH

– Sổ BHXH;

– Đơn đề nghị (mẫu số 14-HSB);

– Biên bản giám định mức suy giảm khả năng lao động;

– Giấy ủy quyền ( mẫu số 13-HSB) với trường hợp đang chấp hành hình phạt;

– Bản sao văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc trở về nước định cư hợp pháp với trường hợp xuất cảnh trái phép trở về;

– Quyết định của Tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích trong trường hợp mất tích trở về;

– Hóa đơn, chứng từ thu phí giám định, bảng kê các nội dung giám định với trường hợp thanh toán phí giám định.

Trường hợp có quyết định hoặc giấy chứng nhận chờ đủ điều kiện về tuổi để hưởng lương hưu

– Quyết định hoặc giấy chứng nhận chờ đủ điều kiện về tuổi đời để hưởng lương hưu;

– Đơn đề nghị (mẫu số 14-HSB) nêu rõ lý do bị mất với trường hợp bị mất giấy tờ trên;

– Một số giấy tờ khác như các trường hợp đặc biệt nêu trên (chấp hành hình phạt, xuất cảnh trái phép, mất tích…)

Tùy theo hoàn cảnh của mình, người lao động chuẩn bị đủ các giấy tờ nêu trên và nộp cho cơ quan BHXH.

Lương hưu hàng tháng

Theo Điều 7 Nghị định 115/2015/NĐ-CP, mức lương hưu hàng tháng của người lao động được tính theo công thức:

Trong đó, tỷ lệ hưởng lương hưu hàng tháng được xác định như sau:

Từ năm 2018, mức lương hưu hàng tháng của người lao động được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội như sau:

Đối với người nghỉ hưu trước tuổi, mức lương hưu hàng tháng cũng được tính theo công thức trên, sau đó, cứ mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi quy định thì giảm 2%.

– Khi tính tỷ lệ hưởng lương hưu trong trường hợp thời gian đóng BHXH có tháng lẻ thì từ 01 – 06 tháng được tính là nửa năm; từ 07 – 11 tháng được tính là 01 năm. – Trường hợp tuổi nghỉ hưu có thời gian lẻ đến đủ 06 tháng thì mức giảm là 1%, từ trên 06 tháng thì không giảm tỷ lệ phần trăm do nghỉ hưu trước tuổi. Trợ cấp một lần

Điều 58 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 nêu rõ, nếu người lao động có thời gian đóng BHXH cao hơn số năm tương ứng với tỷ lệ hưởng lương hưu 75% thì khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần.

Mức trợ cấp được tính theo số năm đóng BHXH cao hơn, cứ mỗi năm được tính bằng 0,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH.