2935.tạp Chí Luật Khoa Thiếu Tín Nghĩa Tt

--- Bài mới hơn ---

  • Nữ Sinh Khoa Luật Đh Tôn Đức Thắng ‘gây Thương Nhớ’ Với Nhan Sắc Trong Veo
  • Sinh Viên Khoa Luật Với Chuyên Đề “thực Nghiệm Giám Định Pháp Y”
  • Dây Đeo Thẻ Sinh Viên Đại Học Tôn Đức Thắng Khoa Luật Chất Liệu Nylon In Nh
  • Khoa Luật Uef Tổ Chức Lễ Tổng Kết Và Phát Động Phong Trào Nckh Sinh Viên Năm Học 2022
  • Miss Uef 2022 Gọi Tên Cô Sinh Viên Khoa Luật Phan Ngọc Qúy
  • Ông Ngô Văn Chiêu độc lập với Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

    Ông Trần Phương viết: Vị môn đồ đầu tiên đó chính là ông Ngô Văn Chiêu, sau này là “anh cả” của tất cả tín đồ Cao Đài.

    Ông Ngô Văn Chiêu là môn đệ đầu tiên của Đức Cao Đài là một sự thật hiển nhiên.

    Nhưng ông Chiêu không phải là “anh cả” của tất cả tín đồ Cao Đài.

    Chúng tôi xin làm rõ như sau:

    Trên thực tế: Đức Chí Tôn dự định phong cho Ngài Chiêu làm Giáo Tông nhưng Ngài không nhận nên Ngài không phải là Anh Cả. Không nhận hoàn toàn khác với có nhận rồi sau đó từ nhiệm.

    Ngài học với Đức Chí Tôn một pháp môn có tên là: Pháp Môn Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi, (danh hiệu có 12 chữ). Hiện nay các hậu duệ của Ngài cũng đã đăng ký với nhà cầm quyền danh hiệu nói trên và có tổ đình tại Cần Thơ.

    Ngài Chiêu không phải là Chức sắc của ĐĐTKPĐ.

    Chúng tôi dẫn chứng từ 3 phương diện lịch sử, pháp luật và đạo lý.

    Ngài Ngô Văn Chiêu không có đứng tên trong TỜ KHAI ĐẠO. Ngày Lễ Khai Đạo Tại Chùa Gò Kén Ngài cũng không có mặt. Các ảnh của Ngài lưu lại không có một ảnh nào mặc thiên phục Giáo Tông. Hậu duệ của Ngài thường giới thiệu ảnh Ngài mặc sắc phục của một vị quan chức.

    Về pháp luật đạo: Tôn giáo Cao Đài là một tôn giáo pháp quyền. Từ phẩm Giáo Tông cho đến hàng Đạo Hữu cùng chịu chung một khuôn luật. Theo pháp luật ĐĐTKPĐ từ phẩm Phối Sư trở lên phải hành đạo tại Tòa Thánh Tây Ninh. Suốt trong quá trình sinh hoạt của ĐĐTKPĐ tại Tòa Thánh Tây Ninh Ngài Chiêu không có tham gia. Tất cả kinh sách của Hội Thánh ĐĐTKPĐ ban hành không hề có nội dung nào xác định Ngài Chiêu là Chức sắc. Chính Ngài cũng không hề có một lời dạy nào cho tín đồ Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh. Như vậy nếu nói Ngài Chiêu là Giáo Tông (Anh Cả) thì còn gì là một tôn giáo pháp quyền?

    : Nếu Ngài Chiêu là Anh Cả thì Hội Thánh Cao Đài đã lấy ngày mất của Ngài Chiêu để kỷ niệm như Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt hay những vị khác. Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh dạy toàn thể tín đồ ĐĐTKPĐ thực hành Nhơn Nghĩa mà Ngài Chiêu không là Anh Cả nên Hội Thánh đã cư xử đúng khuôn phép.

    Xin vui lòng xem bảng đối chiếu sau đây:

    Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có bản sắc trong lành của nó mới đủ tư cách để xây dựng nền văn minh Cao Đài Giáo.

    Ngài Chiêu được Thầy dạy Pháp Môn Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi trước. Sau đó Thầy dạy các vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang lập ra Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (6 chữ) gọi tắt là Đạo Cao Đài (03 chữ) nên Ngài Chiêu là đàn anh.

    Pháp Môn của Ngài Chiêu độc lập với Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một sự thật xét về lịch sử, pháp luật và đạo lý. Chúng tôi kính trọng Ngài Chiêu nên cung cấp sự thật rằng: Ngài Chiêu không phải là Anh Cả của tất cả tín đồ Cao Đài như ông Trần Phương đã viết.

    Hội Thánh Em Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

    Email: [email protected]

    Whatsapp: +1 469 642 4667. (Ban Truyền Thông).

    BẰNG CHỨNG TẠP CHÍ LUẬT KHOA THẤT TÍN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Khoa Tín Tăng Cường Hỗ Trợ Doanh Nghiệp Dịp 30/4
  • Học Trung Cấp Luật Tphcm
  • Trường Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (Faculté De Droit).
  • Sinh Viên Khoa Luật Đam Mê Nghệ Thuật
  • Xác Minh Giảng Viên Khoa Luật Bị Tố Quấy Rối Nữ Sinh
  • ​giới Thiệu Tạp Chí Nghề Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Đà Nẵng
  • Hồ Sơ, Thủ Tục Ly Hôn Tại Quảng Nam, Đà Nẵng
  • Luật Sư Chuyên Ly Hôn Đà Nẵng Tư Vấn: Án Phí Và Chi Phí Ly Hôn Đơn Phương
  • Luật Sư Tư Vấn Ly Hôn Tại Tp Hcm
  • Luật Sư Ly Hôn Tại Tp Hcm Uy Tín, Ly Hôn Nhanh, Trọn Gói Tại Hồ Chí Minh
  • Tạp chí Nghề luật là cơ quan ngôn luận của Học viện Tư pháp được thành lập theo Quyết định số 2224/QĐ-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp và hoạt động theo Giấy phép hoạt động báo chí số 141/GP-BVHTT ngày 21/10/2005 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin với thời hạn hoạt động 05 năm kể từ ngày ký Giấy phép, gia hạn hoạt động theo Giấy pháp hoạt động báo chí số 1144/GP-BTTTT ngày 22/6/2012 của Bộ Thông tin và truyền thông với thời hạn cấp phép 10 năm kể từ ngày ký giấy phép. Kỳ hạn xuất bản 01 kỳ/02 tháng; khuôn khổ 19cm x 26,5 cm, số trang: 60, số lượng tin tối đa 3.000 bản/ 01 kỳ; nơi in tại Hà Nội. Giá bìa hiện nay 15.000đ/số.

    Ngày 15 tháng 4 năm 2022, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp Giấy phép sửa đổi, bổ sung số 195/GP-BTTTT cho phép Tạp chí Nghề luật tăng kỳ xuất bản từ 02 tháng/số lên 01 tháng/số từ tháng 5 năm 2022.

    Theo Giấy phép hoạt động, Tạp chí Nghề luật hoạt động với tôn chỉ, mục đích như sau:

    – Tuyên truyền, phổ biến về chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực tư pháp;

    – Thông tin về hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của Học viện Tư pháp;

    – Nâng cao trình độ, kỹ năng tác nghiệp của những người làm nghề luật; là diễn đàn cho các chức danh tư háp, những người học tập và nghiên cứu trong lĩnh vực pháp luật

    Đối tượng phục vụ của Tạp chí là các nhà lập pháp, giảng viên, học viên Học viện Tư pháp; sinh viên các cơ sở đào tạo luật học; đội ngũ những người giữ các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp và nhân dân

    Tạp chí Nghề luật đã được Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước công nhận là Tạp chí có điểm khoa học tại các Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Khoa học An ninh và Hội đồng chức danh Giáo sư ngành Luật học (từ 0-0,5 điểm).

    Cơ cấu tổ chức của Tạp chí Nghề luật:

    1. Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: TS. Nguyễn Xuân Thu – Phó Giám đốc Học viện Tư pháp(được bổ nhiệm theo Quyết định số 1274/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

    2. Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: chúng tôi Nguyễn Minh Hằng(được bổ nhiệm theo Quyết định số 1276/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

    Phó Tổng biên tập Tạp chí Nghề luật: TS. Nguyễn Thanh Phú ( được bổ nhiệm theo Quyết định số 1275/QĐ-BTP ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp).

    3. Thư ký Tòa soạn: ThS. Đỗ Thị Thu Hằng-Phó Trưởng Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật(được bổ nhiệm theo Quyết định số 134/QĐ-HVTP ngày 12 tháng 01 năm 2022 của Giám đốc Học viện Tư pháp)

    Ban biên tập:

    Theo Quyết định số 422/QĐ-HVTP ngày 6 tháng 5 năm 2022 của Giám đốc Học viện Tư pháp về việc kiện toàn Ban Biên tập Tạp chí Nghề luật và Quyết định số 1011/QĐ-HVTP ngày 14/10/2016 của Giám đốc Học viện Tư pháp về việc bổ sung thành viên Ban Biên tập, hiện nay Ban biên tập có 14 thành viên:

    – TS. Đoàn Trung Kiên – Giám đốc Học viện Tư pháp;

    – TS. Nguyễn Xuân Thu – P. Giám đốc Học viện Tư pháp;

    – TS. Lê Mai Anh – Nguyên Phó Giám đốc Học viện Tư pháp;

    – TS. Nguyễn Thanh Phú – Trưởng Phòng QLKH&TSTCNL;

    – chúng tôi Nguyễn Minh Hằng – Trưởng Khoa Đào tạo Luật sư;

    – TS. Lê Thu Hằng – Khoa Đào tạo Luật sư;

    – TS. Trần Thanh Phương – Trưởng Khoa Đào tạo các chức danh thi hành án dân sự;

    – ThS. Phạm Thị Thúy Hồng – Phó Trưởng Khoa PT Khoa ĐT Công chứng viên và các chức danh khác;

    – ThS. Trần Minh Tiến – Trưởng Phòng Đào tạo và Công tác học viên;

    – TS. Ngô Thị Ngọc Vân – Phó Trưởng Khoa ĐT Luật sư;

    – TS. Đồng Thị Kim Thoa – Phó Trưởng Khoa ĐT Công chứng viên và các chức danh khác;

    – TS. Trần Văn Bách – Giám đốc Trung tâm Khảo thí và Đảm bảo chất lượng;

    – TS. Nguyễn Thị Vân Anh – Khoa Đào tạo Luật sư;

    – ThS. Đỗ Thị Thu Hằng – P. Trưởng Phòng QLKH&TSTCNL

    Ban trị sự

    – ThS. Vũ Thị Thu Thủy- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trưởng Ban

    – CN. Nguyễn Thị Hương- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trị sự viên

    – CN. Hà Thị Lan Anh- Phòng Quản lý khoa học và Trị sự Tạp chí Nghề luật, Trị sự viên

    – BTV. Nguyễn Thị Thanh Hương- Trung tâm Thông tin – Thư viện, Trị sự viên.

    Kết quả phát hành Tạp chí

    Từ năm 2005 đến tháng 9/2017, Tạp chí Nghề luật đã xuất bản được 79 số thường kỳ và số chuyên đề

    Số lượng xuất bản từ năm 2001-2017

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thể Lệ Gửi Bài Cho Tạp Chí Nhà Nước Và Pháp Luật
  • Vingroup Và Sự Trỗi Dậy Đầy Nghi Vấn Của Một Đế Chế Kinh Tế
  • Tư Vấn Ly Hôn Miễn Phí Qua Zalo, Facebook
  • Trang Thơ Lưu Trọng Lư (100 Bài Thơ)
  • Phân Tích Bài Thơ Tiếng Thu Của Lưu Trọng Lư
  • Nữ Luật Sư Trẻ Gốc Việt, Đồng Sáng Lập Tạp Chí Luật Khoa, Lâm Bệnh Hiểm Nghèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Điểm Chuẩn, Điểm Xét Tuyển Học Viện Biên Phòng 2022
  • Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
  • Khoa Luật – Đại Học Quốc Gia Hà Nội
  • Mẹo Chọn Đề Tài Làm Chuyên Đề Tốt Nghiệp Ngành Luật Kinh Tế
  • Học Đại Học Ngành Luật Ra Trường Có Thể Làm Những Công Việc Gì?
  • WESTMINSTER, California (NV) – Dáng người nhỏ nhắn, gương mặt sáng và nụ cười thân thiện luôn ở trên môi là ấn tượng của bất kỳ ai lần đầu gặp Trần Quỳnh Vi (Vi Trần), tên Mỹ đầy đủ là Vi Katerina Trần.

    Nhiều người biết đến Vi không chỉ trong vai trò của một luật sư, mà cô còn là đồng sáng lập viên của tờ Tạp Chí Luật KhoaThe Vietnamese. Đây những tạp chí bị “báo chí nhà nước” lẫn dư luận viên ở Việt Nam cho là “phản động,” “chống chính quyền,” “cờ vàng ba que.”

    Tuy nhiên, trong vài ngày qua, tất cả bạn bè quen biết Vi đều sững sờ khi hay tin cô bị “xuất huyết não dẫn đến đột quỵ và được cấp cứu tại một bệnh viện ở Đài Loan.”

    Tin tức về bệnh tình của người luật sư trẻ tuổi này được bạn bè “tìm thấy” và “share” cho nhau sau khi quỹ “Gofundme” do những anh chị em họ của cô thiết lập, xuất hiện vào ngày Thứ Bảy, 27 Tháng Tư, kêu gọi sự giúp đỡ để cô có thể chi trả các khoản chi phí y tế.

    Mắc bệnh hiểm nghèo

    Theo những gì viết trên trang “Gofundme, thì “Vi là thành viên của một tổ chức phi lợi nhuận nhằm thúc đẩy nhân quyền và dân chủ. Nhưng bi kịch thay khi vừa mới đây cô bị chảy máu não nghiêm trọng và được chẩn đoán là mắc chứng phình động mạch não, một căn bệnh rất nguy hiểm. Vi đã trải qua hai cuộc phẫu thuật lớn ở Đài Loan và sẽ cần nhiều phương pháp điều trị y tế khác nhau trong ít nhất là sáu tháng tới. Nhưng Vi không có bảo hiểm y tế. Gia đình chúng tôi xin mọi người góp lời cầu nguyện cho Vi. Chúng tôi cũng cần sự giúp đỡ của mọi người để chi trả các hóa đơn y tế của Vi, nhiều phần lên đến hàng chục ngàn đô la.”

    Tin tức này gây nên cú sốc lớn với tất cả những ai quen biết Vi. Mọi người tỏ ra hoang mang, và sau cùng, phải chấp nhận sự thật khi anh Trịnh Hữu Long, một người bạn thân thiết, là người cùng cô sáng lập nên tờ Tạp Chí Luật Khoa, lên tiếng xác nhận.

    “Mình xin xác nhận thông này. Vi bị xuất huyết não dẫn đến đột quỵ hơn hai tuần trước và được cấp cứu tại một bệnh viện ở Đài Loan,” Trịnh Hữu Long viết trên facebook cá nhân mình vào chiều tối ngày 30 Tháng Tư (theo giờ California).

    “Bác sĩ cho biết đây là loại đột quỵ đặc biệt và rất nguy hiểm. Họ đưa ra nhiều giả thuyết nhưng cũng không biết chắc là do cái gì. Vi đã trải qua hai cuộc phẫu thuật, mới qua được tình trạng nguy kịch. Tình hình hiện tại là Vi đang dần tỉnh táo hơn và có nhiều dấu hiệu hồi phục tốt. Vi sẽ sớm phải trải qua một cuộc phẫu thuật nữa,” anh Long cho biết.

    Blogger Phạm Đoan Trang, cũng là một người bạn thân và đồng sáng lập Tạp Chí Luật Khoa, cho biết thêm, “Hiện giờ Vi vừa trải qua hai lần phẫu thuật não ở Đài Loan. Vi khó có thể về Mỹ điều trị, vì chi phí y tế ở Mỹ quá cao trong khi Vi đã không còn bảo hiểm. Có lẽ tạm thời Vi đã qua cơn nguy hiểm, nhưng khả năng phục hồi để trở lại hoàn toàn bình thường như trước còn rất xa. Công việc của Vi ở Luật Khoa và trang báo tiếng Anh The Vietnamese vậy là đành dừng lại. Cầu xin mọi người hãy giúp đỡ bạn tôi, bằng mọi hình thức có thể, đặc biệt là hỗ trợ tài chính và đóng góp, duy trì nội dung cho The Vietnamese.”

    “Tình yêu kỳ lạ, không thể giải thích, đối với Việt Nam”

    Với tư cách là người bạn, cô Đoan Trang cho biết, “Vi cùng gia đình rời Việt Nam từ năm 1992. Cô đã có quốc tịch Mỹ, thừa hưởng nền giáo dục Mỹ, sử dụng tiếng Anh thành thạo hơn tiếng Việt trong lĩnh vực chuyên môn của cô là luật pháp, và đã là một luật sư có uy tín, mở công ty luật ở San Jose, California.”

    “Nhưng ở Vi có một tình yêu kỳ lạ, không thể giải thích, đối với Việt Nam – đất nước mà gia đình cô đã buộc phải rời bỏ. Năm 2014 khi Trịnh Hữu Long và tôi mở trang báo mạng Luật Khoa tạp chí, Vi tình nguyện từ bỏ tất cả – một công việc thu nhập rất tốt, một sự nghiệp rất sáng, một cuộc sống bình yên và đầy đủ ở Mỹ – để tham gia cùng chúng tôi trên một con đường đầy gian khó, rủi ro và bất trắc,” blogger Đoan Trang cảm nhận.

    Chia sẻ cảm nghĩ về người cộng sự đặc biệt của mình, anh Trịnh Hữu Long bày tỏ, “Là người gần Vi nhất trong những năm qua, tôi hiểu Vi đã hy sinh rất nhiều để đi con đường gian nan này. Vi chưa bao giờ muốn rời khỏi Việt Nam, ngay từ khi còn nhỏ. Yêu Việt Nam và tiếng Việt tha thiết, bốn năm trước Vi bỏ sự nghiệp ở California để qua Philippines và Đài Loan làm việc.”

    Cô Lam Kiều Lam, hiện sống ở New York, là một người bạn của Vi Trần, chia sẻ, “… Ngày mới tham gia Facebook, tôi hoàn toàn không biết gì về chính trị. Chính từ sự tình cờ quen Vi, mà tôi học được từ Vi nhiều điều cho đến tận bây giờ, để từ đó tôi để ý đến tình hình Việt Nam, nước Mỹ, quan tâm, chia sẻ và tìm hiểu, học hỏi để biết thêm nhiều điều, về quê hương tôi bỏ lại và về đất nước hiện tại tôi gọi là nhà.”

    “Nếu ai hỏi điều gì đã khiến cho cô gái gốc Sài Gòn ấy dù lìa quê ly xứ và định cư ở Mỹ từ khi rất nhỏ, học, trở thành luật sư, thông thạo tiếng Anh, là công dân Mỹ, nhưng tâm hồn rất thuần Việt và luôn hướng về cội nguồn, thì mình nghĩ đó chính là do tình yêu tha thiết của em ấy đối với Sài Gòn và nước Việt,” cô Lam Kiều Lam nói thêm.

    Ông Sang Nguyễn, một thành viên của tổ chức VOICE, hiện ở Garden Grove, nhận xét, “Tuy còn rất trẻ nhưng Vi đã trưởng thành hơn nhiều người khác cùng lứa tuổi hoặc hơn em. Sự dấn thân của em đã nói lên tất cả khát vọng của em muốn làm gì đó để nhình thấy được sự thay đổi của quê hương, đất nước. Vi tuy khiêm tốn nhưng xông pha trên tuyến đầu bằng sự hy sinh cá nhân để làm chuyện ít ai muốn. Ai có tiếp xúc với Vi sẽ thấy em dễ mến, dễ yêu và dễ cảm phục đến chừng nào!”

    Với cô Giang Tăng, hiện ở San Francisco, một người quen biết Vi Trần từ lúc còn ở Việt Nam cũng tỏ ra thảng thốt khi hay hung tin, “Không thể tin được khi đọc tin này. Chị ấy là một người tốt bụng. Tôi biết chị Vi từ năm 2012, khi chị ấy về Kiên Giang làm tình nguyện viên cho tổ chức Catalyst Foundation. Khi đó, chị Vi đã cùng với một nhóm người Mỹ nhân đạo đến giúp đỡ cho những người dân nghèo khốn đốn bởi nạn buôn người ở quê tôi.”

    “Tôi biết chị là một luật sư giỏi ở California, tôi rất ngưỡng mộ chị và rất vui khi có cơ hội gặp lại chị ở vùng Bay Area này. Tuy nhiên, tôi đã không gặp lại chị Vi kể từ khi chị  ấy qua Châu Á để làm việc cho một tổ chức phi lợi nhuận nhằm giúp cải thiện nhân quyền và dân chủ ở Việt Nam. Tôi không thể tin điều này lại xảy ra với chị. Chị Vi  xứng đáng có một cuộc sống tốt hơn!” Giang nói một cách xúc động.

    “Với riêng tôi, Vi là hiện thân của những giá trị Mỹ: can đảm, nhiệt thành, quyết liệt, hết mình, nhưng cũng rất thực tế, sáng suốt, không một chút ảo tưởng hão huyền nào vào những điều không có thật. Tình bạn với Vi cũng là nguồn động viên to lớn cho tôi trong những lúc gian nan nhất, vì tôi được có niềm tin rằng bên tôi đang có Vi, phong trào dân chủ có Vi, Việt Nam may mắn có một người Việt như Vi,” nhà báo tự do Phạm Đoan Trang chia sẻ.

    Anh Trịnh Hữu Long cho biết thêm, “Là đồng sáng lập viên của Luật Khoa tạp chí và gần đây là tờ The Vietnamese, Vi đã làm việc cật lực hai năm đầu tiên chúng tôi ở Đài Loan với một khoản lương rất ít ỏi và phải dùng tiền riêng để trang trải sinh hoạt. Vi chưa bao giờ nói nhưng tôi biết chắc Vi còn dùng tiền riêng để chi trả nhiều khoản của Luật Khoa, sau này ngân quỹ ổn hơn rồi tôi nói Vi kiểm kê lại xem Luật Khoa nợ Vi bao nhiêu để Luật Khoa trả lại nhưng hơn nửa năm rồi Vi chưa bao giờ tính và chưa bao giờ cho tôi biết.”

    Theo anh Long, “Vi không có bảo hiểm y tế ở Đài Loan, thành ra bị bệnh thế này phải tự chi trả hết.”

    Hơn lúc nào hết, đây là thời điểm một người như Luật sư Vi Trần cần những bàn tay của người thân, bạn bè, và tất cả những ai luôn cổ võ cho những khát vọng về tự do, dân quyền ở Việt Nam, chìa ra với cô, giúp cô vượt qua thử thách khắc nghiệt này, và cũng giúp cô hoàn thành ước mơ “muốn trở về làm việc với người dân ở Việt Nam, đặc biệt là những dân oan, những người oan sai trong các vụ việc” như cô từng thổ lộ trong một bài trả lời phỏng vấn của đài VOA trước khi lâm bệnh.

    Mọi đóng góp cho cô Vi Trần, xin hãy vào trang Gofundme bằng cách BẤM VÀO ĐÂY(Ngọc Lan)

    —–

    Liên lạc tác giả: [email protected]

    Video: Tin Trong Ngày

    Mới Cập Nhật

    Copyright © 2022, Người Việt Daily News

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Khoa Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Khoa Luật Pháp Trong Tiếng Tiếng Anh
  • Học Viện An Ninh Nhân Dân
  • Ha Hai & Partners (Attorneys
  • Điều 54 Luật Hợp Tác Xã Giải Thể Hợp Tác Xã, Liên Hiệp Hợp Tác Xã
  • Khoa Luật Trường Đh Nguyễn Tất Thành Ký Kết Hợp Tác Với Tạp Chí Dân Chủ Và Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Lễ Ra Mắt Khoa Luật Của Trường Đh Nguyễn Tất Thành
  • Học Ngành Luật Không Lo Thiếu Việc Làm
  • Gia Đình Ảnh Hưởng Lớn Nhất Đến Việc Hình Thành Nhân Cách Của Trẻ
  • Thủ Tục Mở Phòng Khám Răng Hàm Mặt
  • Thành Phần Hồ Sơ Xin Giấy Phép Hoạt Động Phòng Khám Nha Khoa
  • Khoa Luật Trường ĐH Nguyễn Tất Thành ký kết hợp tác với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật

    NTTU – Sáng ngày 14/9/2019, tại cơ sở An Phú Đông, khoa Luật Trường ĐH Nguyễn Tất Thành đã ký thỏa thuận hợp tác với Tạp chí Dân chủ và Pháp luật thuộc Bộ Tư pháp

    Có mặt tại lễ ký kết về phía khách mời có sự hiện diện của TS. Đặng Vũ Huân, Tổng biên tập tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Về phía Trường ĐH Nguyễn Tất Thành có sự tham gia của PGS. TS. Trần Thị Hồng, Phó hiệu trưởng, TS. Chu Hải Thanh, trưởng khoa Luật, ThS. Nguyễn Thanh Phương, trưởng phòng Quan hệ doanh nghiệp và Việc làm sinh viên cùng 50 giảng viên thực hành đến từ các cơ quan tư pháp, tòa án, các công ty Thừa Phát Lại… ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.

    Chương trình nhận được sự tham gia của đông đảo giảng viên thực hành khoa Luật

    Đại diện 2 bên ký biên bản ghi nhớ hợp tác về đào tạo, nghiên cứu khoa học, tuyển dụng

    Trong khuôn khổ của lễ ký kết, khoa Luật Trường ĐH Nguyễn Tất Thành đã họp mặt đội ngũ giảng viên thực hành của khoa. Tại đây, các giảng viên thực hành đã đưa ra nhiều ý kiến xây dụng khung chương trình đào tạo mới. Ngoài ra, những ý kiến về công tác giảng dạy cũng được các thầy cô trình bày, đóng góp ý kiến tại buổi họp mặt.

    Khoa Luật Trường Đại học Nguyễn Tất Thành được thành lập theo quyết định số 174/QĐ-NTT ngày 24 tháng 4 năm 2022 của Hiệu trưởng nhà trường, trên cơ sở tách Bộ môn Luật Kinh tế từ khoa Quản trị – Luật. Hiện tại, khoa Luật đang đào tạo chuyên ngành Luật Kinh tế. Đội ngũ giảng viên cơ hữu của khoa Luật đa số đã hoặc đang trực tiếp đảm nhận công tác xét xử, hoạt động nghề luật sư, thừa phát lại, quản tài viên… nhằm đảm bảo việc giảng dạy lý thuyết gắn với kiến thức thực tiễn. Bên cạnh dó, khoa Luật còn có quan hệ hợp tác với nhiều cơ quan tòa án, viện kiểm sát, tư pháp, văn phòng luật sư, công ty luật, văn phòng công chứng… địa bàn các tỉnh thành phía Nam là những cơ sở nghề luật giúp sinh viên kiến tập, thực tập trong quá trình đào tạo. Ngoài ra, khoa còn có mô hình Tòa án giả định với đầy đủ trang thiết bị như tòa án thực tế, mô hình này sẽ là nơi sinh viên ngành Luật kinh tế thực hành, tổ chức hội thảo và các chương trình chuyên ngành.

    Phượng Nguyễn – Tuấn Anh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trưởng Khoa Luật Đh Ngoại Thương: ‘cơ Hội Việc Làm Về Luật Chưa Bao Giờ Rộng Mở Như Hiện Nay’
  • Báo Cáo Thực Tập Tổng Hợp Khoa Kinh Tế Luật Tại Công Ty Tnhh Gas Tech
  • Học Phí Đại Học Mở Tp Hcm
  • Trường Đại Học Mởtuyển Dụng Giảng Viên Cơ Hữu Khoa Luật
  • Đại Học Hoa Sen Mở Khoa Luật
  • Sfam: San Francisco Luật Sư Tạp Chí

    --- Bài mới hơn ---

  • Golden Gate University School Of Law, San Francisco, Hoa Kỳ
  • San Francisco Sẽ Xóa Bỏ Hàng Ngàn Án Tù Liên Quan Đến Cần Sa Từ Năm 1975
  • Vợ Chồng Gốc Á Mua Đứt Con Phố Ở San Francisco Vướng Kiện Tụng
  • A’ Design Award And Competition
  • Download Factors Associated With Alexithymia Among The Lebanese Population: Results Of A Crosssectional Study
  • SFAM có nghĩa là gì? SFAM là viết tắt của San Francisco luật sư tạp chí. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của San Francisco luật sư tạp chí, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của SFAM được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài SFAM, San Francisco luật sư tạp chí có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

    SFAM = San Francisco luật sư tạp chí

    Tìm kiếm định nghĩa chung của SFAM? SFAM có nghĩa là San Francisco luật sư tạp chí. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của SFAM trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của SFAM bằng tiếng Anh: San Francisco luật sư tạp chí. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

    Như đã đề cập ở trên, SFAM được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho San Francisco luật sư tạp chí. Trang này là tất cả về từ viết tắt của SFAM và ý nghĩa của nó là San Francisco luật sư tạp chí. Xin lưu ý rằng San Francisco luật sư tạp chí không phải là ý nghĩa duy chỉ của SFAM. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của SFAM, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của SFAM từng cái một.

    Ý nghĩa khác của SFAM

    Bên cạnh San Francisco luật sư tạp chí, SFAM có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của SFAM, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của San Francisco luật sư tạp chí bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Sư Phe Ông Trump Và Biden Đến Florida Để ‘bảo Vệ Phiếu Bầu’
  • Hoá Thân Thành “thần Chết” Đi Khắp Các Bãi Biển Để Mọi Người Ở Nhà
  • Luật Sư Ở Florida Kêu Gọi Đảng Viên Đến Georgia Đăng Ký Bỏ Phiếu Bất Hợp Pháp
  • Cháy Lớn Tại Chợ Người Việt Ở Footscray: Thiệt Hại Lên Đến Con Số Gần 300 Tỷ
  • Không Đá Nh, Không M Ắng, Các Trường Mầm Non Ở Mỹ ‘p Hạt’ Trẻ Em Như Thế Nào?
  • Nực Cười Mấy Con Giời “luật Khoa Tạp Chí” Vẫn Tung Hô Sách Của Phạm Đoan Trang

    --- Bài mới hơn ---

  • Citi & Partners Tham Dự Chương Trình Gala Tốt Nghiệp Khoa Luật Học
  • Tóm Tắt, Phân Tích Tác Giả , Tác Phẩm
  • Soạn Bài Xin Lập Khoa Luật
  • Soạn Bài: Xin Lập Khoa Luật
  • Tuần 7. Đọc Thêm: Xin Lập Khoa Luật (Trích Tế Cấp Bát Điều)
  • Có lẽ đám dân chủ ở page “luật khoa tạp chí” vẫn chưa hết ảo tưởng khi thành viên cốt cán Phạm Đoan Trang đang bị bắt để điều tra về hành vi Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đám người này còn đi khoe khoang cuốn sách “Căn bản về truyền thông và báo chí” do đối tượng này viết và tung hô đó là giáo trình đại cương dành cho những người muốn học làm báo bằng tiếng Việt.

    Phạm Đoan Trang là ai và nhân thân như thế nào thì ắt hẳn nhiều người thất rất rõ rồi. Một kẻ không có thẻ nhà báo, hoạt động không theo khuôn khổ pháp luật nhưng luôn tự gắn cho mình cái mác nhà báo tự do và lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền thông tin sai sự thật, bịa đặt nhằm hạ thấp uy tín của chính quyền, các cơ quan chức năng, xâm phạm lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Trong đó, đối tượng này thường xuyên sang các nước tư bản bôi nhọ uy tín, hạ thấp vị trí của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế.

    Cuốn sách “Căn bản về truyền thông và báo chí” do Phạm Đoan Trang viết là những câu từ dẫn dắt những kẻ thiếu kiến thức căn bản, lừa gạt những em sinh viên chưa thấm chuyện đời lao vào con đường “hoạt động dân chủ” với mục tiêu thành lập các ổ nhóm chống đối chính quyền, sống và hoạt động ngoài vòng pháp luật. Nói là sách cho oai chứ cuốn tạp san này được in chui không thông qua kiểm duyệt nội dung và cũng chẳng có nhà xuất bản. Vì vậy trên thị trường Việt Nam không hề tồn tại cuốn sách “Căn bản về truyền thông và báo chí” của một kẻ có tên Phạm Đoan Trang.

    Thứ tài liệu không bày bán công khia mà chỉ truyền tay nhau như đống giấy lộn lại được đám người ở page Luật khoa tạp chí tung hô đó là giáo trình đại cương dành cho những người muốn học làm báo bằng tiếng Việt thì đúng là trò hề có một không hai. Học viện Báo chí và Tuyên truyền và các lò đào tạo báo chí nổi tiếng khác không đời nào đi sử dụng một tạp phẩm của một kẻ chống nhà nước vào làm ví dụ cả. Đây ắt hẳn là tài liệu cho lò đào tạo phản động do các thế lực tư bản xây dựng lên.

    Có tung hô lên trời đi chăng nữa thì Phạm Đoan Trang vẫn là kẻ tội đồ của dân tộc Việt Nam và sắp phải xám hối trong trại giam một thời gian dài. Sinh viên báo chí mà học theo những cuốn sách do Phạm Đoan Trang viết thì chẳng mấy mà trại giam của Việt Nam lại quá tải với số đối tượng chống phá đất nước theo tư tưởng cực đoan ấu trĩ này.

    Công Lý

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chuẩn Bị Kỷ Niệm 55 Năm Khoa Báo Chí, Học Viện Báo Chí Tuyên Truyền
  • Báo Pháp Luật Việt Nam Trao Học Bổng Cho Sinh Viên Khoa Báo Chí
  • Học Chính Quy Đại Học Luật Ở An Giang
  • Học Nhanh Đại Học Luật Ở An Giang
  • Nha Khoa Tiếng Anh Là Gì? Mổ Xẻ Ngữ Nghĩa Các Từ Về Nha Khoa
  • Tạp Chí Xây Dựng Đảng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới, Nâng Cao Chất Lượng Xuất Bản: Tiền Đề Để Phát Triển Văn Hóa Đọc
  • Sửa Luật Để Dẹp Loạn Thị Trường Xuất Bản
  • Luật Xuất Bản 2008 Sửa Đổi 12/2008/qh12
  • Luật Xuất Bản Sửa Đổi 2008
  • Luật Báo Chí 2022, Luật Số 103/2016/qh13 2022
  • Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng trao đổi với các đại biểu

    Vai trò quản lý nhà nước và chính sách đối với hoạt động xuất bản. Nhiều đại biểu có ý kiến đề nghị cần tăng cường phân cấp quản lý về hoạt động xuất bản giữa trung ương, địa phương và cơ sở; trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các chủ thể tham gia hoạt động xuất bản; rõ hơn nội dung công tác quản lý nhà nước về hoạt động xuất bản. Đại biểu Trần Thị Diệu Thúy (TP. Hồ Chí Minh) đề nghị nên phân cấp về một số địa phương đọc và chịu trách nhiệm về nội dung một số xuất bản phẩm để giảm tải cho Bộ Thông tin truyền thông. Đối với chính sách của Nhà nước đối với hoạt động xuất bản cần quy định cụ thể chính sách phát triển sự nghiệp xuất bản, các chính sách cần xứng tầm với vị trí, vai trò của hoạt động xuất bản, bảo đảm tính chiến lược và khả thi. Quy định tập trung ưu tiên, hỗ trợ cho lĩnh vực xuất bản, chỉ ưu tiên cho các cơ sở thực hiện các nhiệm vụ phục vụ đối tượng, địa bàn thuộc diện ưu tiên của Nhà nước và các nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại. Đại biểu Nguyễn Thành Tâm (Tây Ninh) cho rằng các chính sách được quy định còn rất chung, để đảm bảo có thể áp dụng được trong thực tế đề nghị bổ sung thêm một khoản quy định là Chính phủ quy định cụ thể các chính sách ưu đãi, hỗ trợ được quy định tại điều này, đảm bảo mục tiêu đối tượng hiệu quả và phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng thời kỳ. Với đại biểu Lê Đắc Lâm (Bình Thuận) hoạt động xuất bản có tính chất đặc thù nên nhà nước phải có chính sách đối với hoạt động xuất bản là phù hợp trong điều kiện nước ta hiện nay chưa có nhà xuất bản tư nhân. Nhà nước cần có chiến lược quy hoạch phát triển mạng lưới các nhà xuất bản, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, ưu đãi về thuế, lãi suất vay vốn, hỗ trợ kinh phí đầu tư xây dựng, ưu đãi về tiền thuê nhà đất, chính sách trợ giá, trợ cước.

    Tổ chức bộ máy và nhân sự của nhà xuất bản.Nhiều ý kiến đề nghị không nên bó hẹp đối tượng thành lập nhà xuất bản để phát huy các nguồn lực xã hội đầu tư cho sự nghiệp xuất bản và tạo điều kiện cho ngành xuất bản phát triển năng động hơn. Có đại biểu đề nghị cần quy định rõ trong Luật về các tổ chức khác được thành lập nhà xuất bản. Bên cạnh đó, đại biểu thấy quy định về mô hình hoạt động của nhà xuất bản như trong Dự thảo Luật chưa bao quát được hết các loại hình đang tồn tại trong thực tiễn. Đại biểu Đinh Thị Mai Lan (Cao Bằng) cho rằng đối tượng được quy định trong Luật chưa rõ ràng. Nên quy định rõ ràng, đầy đủ về sản phẩm in, phát hành trong thực tế… Vì hiện tại không thống nhất trong quản lý nhà nước về vấn đề này.

    Nhiều ý kiến đề nghị cần quy định về loại hình tổ chức nhà xuất bản mở hơn, tạo nhiều cơ hội lựa chọn hơn về mô hình cho các nhà xuất bản, tạo điều kiện để các nhà xuất bản năng động hơn trên cơ sở phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong tổ chức sản xuất, kinh doanh. Nhà nước cần quy định chặt chẽ các điều kiện thành lập nhà xuất bản, tránh tình trạng nhiều nhà xuất bản ra đời mà không đủ điều kiện hoạt động dẫn đến chất lượng yếu kém. Đại biểu Lê Hữu Phước (Bình Dương) kiến nghị cần cho phép tư nhân tham gia thành lập Nhà xuất bản để phát huy nguồn lực xã hội nhưng pháp luật cần có quy định chặt chẽ hơn.

    Đối với tổ chức, nhân sự của nhà xuất bản nhiều đại biểu đề nghị nên cụ thể tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của các chức danh tổng giám đốc (giám đốc), tổng biên tập, biên tập viên của nhà xuất bản. Đại biểu Đinh Thị Mai Lan (Cao Bằng) đánh giá dự thảo Luật lần này đã được mở rộng hơn nhưng vẫn có sự bó hẹp, không nên áp đặt các chức danh mà để nhà xuất bản tự thực hiện… Có đại biểu đề nghị bổ sung quy định cụ thể về tiêu chuẩn, nhiệm vụ và quyền hạn của chức danh chủ tịch hội đồng thành viên trong Dự thảo Luật và thêm tiêu chuẩn về trình độ cao cấp lý luận chính trị cho người lãnh đạo của nhà xuất bản. Đại biểu Phạm Thị Trung (Kon Tum) quan tâm đến đội ngũ đọc lưu chiểu của cơ quan quản lý nhà nước hiện nay là quá mỏng, chính sách còn nhiều hạn chế so với khối lượng xuất bản phẩm và trách nhiệm của họ phải làm. Chất lượng đội ngũ chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ… Vì vậy để nghị dự thảo cần nghiên cứu quy định trong Luật này như vấn đề về tiêu chuẩn, trách nhiệm của đội ngũ đọc lưu chiểu, vấn đề thời hạn nộp tác phẩm trước khi phát hành, thời hạn lưu giữ xuất bản phẩm lưu chiểu. Đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm khắc phục các hiện trạng nêu trên.

    Việc phát hành xuất bản phẩm, dự thảo Luật đã bỏ quy định về các điều kiện được cấp phép và thủ tục cấp phép hoạt động phát hành xuất bản phẩm; bổ sung quy định cơ sở phát hành đăng ký hoạt động với cơ quan quản lý nhà nước. Về vấn đề này, theo đại biểu Nguyễn Thành Tâm (Tây Ninh) để người dân các khu vực này tiếp cận nhiều hơn với các xuất bản phẩm thì nên đầu tư vào các thư viện, các tủ sách văn hóa tại các địa phương. Làm như vậy vừa giảm áp lực cho các địa phương về bố trí quỹ đất, giảm chi phí xây dựng các nhà xuất bản trong khi các xuất bản phẩm vẫn đến tay người đọc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trên 250 Triệu Xuất Bản Phẩm Ra Mắt 6 Tháng Đầu Năm 2022
  • Quy Định Chi Tiết Và Hướng Dẫn Thi Hành Một Số Điều Của Luật Xuất Bản
  • Thông Tư Mới Quy Định Chi Tiết Và Hướng Dẫn Thi Hành Một Số Điều Của Luật Xuất Bản
  • Luật Xuất Bản Hiện Nay
  • Luật Xuất Bản Số 19/2012/qh13 Năm 2012
  • Tạp Chí Dân Vận Số 3/2019

    --- Bài mới hơn ---

  • Thực Hiện Nghị Quyết Số 11
  • Các Cấp Hội Phụ Nữ Thực Hiện Nghị Quyết Của Đảng
  • Đổi Mới Nội Dung Và Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Vận Động Phụ Nữ Của Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Việt Nam Hiện Nay
  • Tăng Cường Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Hội Và Phong Trào Phụ Nữ
  • Kế Hoạch 01/bcđ138/cp Của Ban Chỉ Đạo Chương Trình Quốc Gia Phòng, Chống Tội Phạm Về Việc Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 09/1998/nq
  • Văn kiện Đại hội lần thứ XII của Đảng xác định rõ nội dung lãnh đạo công tác phụ nữ là: “Nâng cao trình độ mọi mặt về đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ, thực hiện tốt bình đẳng giới, tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển tài năng. Nghiên cứu, bổ sung và hoàn thiện pháp luật và chính sách đổi mới lao động nữ, tạo điều kiện, cơ hội để phụ nữ thực hiện tốt vai trò và trách nhiệm của mình trong gia đình và xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và xử lý nghiêm minh theo pháp luật các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại nhân phẩm phụ nữ”. Đó là những định hướng rất cụ thể, thiết thực về sự lãnh đạo của Đảng và những nội dung để Hội LHPN đổi mới phương thức hoạt động trong thời kỳ mới.

    Thực tiễn cho thấy, hơn 30 năm qua phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ có nhiều đổi mới theo hướng ngày càng dân chủ và đạt hiệu quả cao hơn. Ngày 12/7/1993, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW “Về đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”. Ngày 19/9/1993, Ban Bí thư ra Chỉ thị số 28-CT/TW để lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác vận động phụ nữ mới ban hành. Đặc biệt, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 27/4/2007 “về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”. Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, Ban Bí thư đã chỉ đạo các cấp, các ngành sơ kết, đánh giá và ban hành Kết luận số 55-KL/TW ngày 18/01/2013 về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW. Qua các nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng đều có định hướng rõ nội dung, phương hướng lãnh đạo công tác phụ nữ để các cấp, các ngành trong cả hệ thống chính trị thực hiện. Sau khi có nghị quyết Trung ương, các cấp ủy đều xây dựng chương trình hành động thực hiện nghị quyết. Việc tổ chức học tập, quán triệt đều được tổ chức chặt chẽ, có nhiều đổi mới trong chuyển tải nội dung đến cán bộ, đảng viên nên nhận thức về công tác phụ nữ có chuyển biến tiến bộ.

    Trên cơ sở các chủ trương, nghị quyết của Trung ương Đảng, Quốc hội đã thể chế thành các văn bản pháp luật để thực hiện như ban hành: Luật Hôn nhân & Gia đình, Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình… Chính phủ ban hành nhiều nghị định, đề án để thực hiện.

    Trong đổi mới phương thức lãnh đạo, Đảng rất quan tâm đổi mới công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ trong cả hệ thống chính trị, trong đó có cán bộ của các cấp hội. Báo cáo Chính trị Đại hội đại biểu của Đảng các khóa đều ghi rõ tăng tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ dân tộc thiểu số. Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định rõ nhiệm vụ, giải pháp: “Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học nữ có trình độ cao, cán bộ lãnh đạo quản lý nữ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp CNH – HĐH”; “Phấn đấu đến năm 2022, cán bộ nữ tham gia cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên, nữ đại biểu quốc hội và HĐND các cấp từ 35% đến 40%. Các cơ quan đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết có cán bộ chủ chốt lãnh đạo là nữ. Cơ quan lãnh đạo cấp cao của Đảng, Quốc hội, Nhà nước, Chính phủ có tỷ lệ nữ phù hợp với mục tiêu bình đẳng giới”.

    Thực tế nhiệm kỳ 2022 -2021 ở Trung ương, nhiệm kỳ 2022 – 2022 ở địa phương, tỷ lệ cán bộ nữ trong cả hệ thống chính trị nói chung đều tăng cao hơn các nhiệm kỳ trước. Tỷ lệ cấp ủy cơ sở cả nước là 19,18%, cấp trên cơ sở là 14,63%, cấp tỉnh, thành chiếm 13,1%. Tỷ lệ nữ tham gia đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp đều tăng. Hàng năm có nhiều nhà khoa học và doanh nhân nữ được tôn vinh về sự cống hiến trong nghiên cứu khoa học, sáng tạo trong sản xuất kinh doanh.

    Thực hiện các đề án của Trung ương, của Chính phủ, đội ngũ cán bộ nữ có triển vọng được đưa vào nguồn quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng. Các cấp ủy đảng luôn tăng cường sự lãnh đạo đối với tổ chức Hội Phụ nữ nhiều tỉnh, thành đã phân công các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành, Ban Thường vụ trực tiếp phụ trách, theo dõi hoạt động của Hội. Ban Bí thư, thường trực cấp ủy các cấp đều duy trì tốt chế độ làm việc với Đảng đoàn, Ban Thường vụ Hội Phụ nữ theo quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Việc bầu cử Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội LHPN các nhiệm kỳ, cấp ủy đảng đều tôn trọng, phát huy dân chủ, bầu cử có số dư. Tổ chức đảng giới thiệu đảng viên ứng cử các chức danh chủ chốt của Hội, không gò ép, áp đặt.

    Để tổ chức đưa các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác phụ nữ vào thực tiễn cuộc sống, các cấp ủy đảng thường xuyên coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, nhờ đó nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, của cán bộ lãnh đạo quản lý đối với công tác vận động phụ nữ, công tác Hội Phụ nữ có chuyển biến rõ nét.

    Tuy nhiên việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ còn một số mặt hạn chế. Các cấp ủy đảng chưa chỉ đạo sâu sắc và lãnh đạo cụ thể hóa có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Sau khi có Nghị quyết của Trung ương, Quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhưng việc thể chế hóa thành văn bản pháp luật của Nhà nước để thực hiện có lĩnh vực còn chậm. Công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về vận động phụ nữ; việc dự báo xu hướng phát triển của phụ nữ, tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng chính đáng của phụ nữ để đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo công tác vận động phụ nữ có hiệu quả hơn chưa được quan tâm đúng mức. Việc bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của hội viên phụ nữ trong một số khu công nghiệp, khu chế xuất, trong doanh nghiệp chưa tốt. Các giải pháp hỗ trợ phụ nữ giảm nghèo, phát triển kinh tế bền vững thiếu đồng bộ. Một số địa phương chưa thực sự tạo điều kiện cho Hội LHPN làm tốt công tác giám sát, phản biện xã hội và tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành, tham gia cấp ủy các cấp còn thấp so với mục tiêu chỉ tiêu đề ra, chưa tương xứng với năng lực và sự phát triển của lực lượng lao động nữ. Một số lĩnh vực, ngành, địa phương nguồn cán bộ nữ hẫng hụt nhưng việc xây dựng quy hoạch để đào tạo, bồi dưỡng chưa được quan tâm đúng mức…

    Để đổi mới phương thức lãnh đạo công tác phụ nữ trong tình hình hiện nay, đề nghị Trung ương Đảng nghiên cứu, xem xét, lãnh đạo các cấp ủy Đảng, Nhà nước thực hiện một số vấn đề sau đây:

    Một là, các cấp ủy đảng cần tăng cường việc nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về công tác phụ nữ. Trên cơ sở đó cụ thể hóa phương châm, nguyên tắc: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” để bổ sung quan điểm, đường lối lãnh đạo, xây dựng chiến lược công tác phụ nữ phù hợp với từng giai đoạn mới của cách mạng Việt Nam.

    Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, kỷ nguyên số hóa, kinh tế tri thức, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và xu hướng hội nhập quốc tế… sẽ tác động đến chất lượng, cơ cấu, số lượng lao động nữ, sự chuyển dịch lao động nữ từ lĩnh vực nông nghiệp sang dịch vụ, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngày càng tăng. Tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng, thiên chức… của phụ nữ cũng có những tác động thay đổi cần phải nắm bắt, dự báo chủ động để lãnh đạo công tác phụ nữ ngày càng có hiệu quả. Để góp phần đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác phụ nữ, các cấp ủy đảng, các cơ quan chức năng phải khảo sát, điều tra đánh giá thực chất, thực trạng tình hình phụ nữ trên các lĩnh vực để có hình thức, phương thức vận động, tập hợp có kết quả hơn. Vấn đề bạo hành gia đình, phân biệt đối xử, bình đẳng giới, tình trạng buôn bán phụ nữ… diễn ra trong nền kinh tế thị trường cũng cần được nghiên cứu, phân tích khoa học để khắc phục một cách bền vững. Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị, tình hình thế giới và trong nước đã có sự thay đổi nhanh chóng, rất cần thiết để Trung ương ban hành một nghị quyết mới nhằm tiếp tục đổi mới công tác phụ nữ trong thời gian tới.

    Hai là, đổi mới nội dung ban hành nghị quyết và phương pháp tổ chức thực hiện nghị quyết của các cấp ủy đảng về công tác phụ nữ đáp ứng yêu cầu thiết thực, hiệu quả.

    Báo cáo Chính trị Đại hội XII của Đảng đặt ra yêu cầu việc ban hành nghị quyết phải ngắn gọn, súc tích, đánh giá rõ thực trạng, nguyên nhân hạn chế, đặt ra nhiệm vụ, giải pháp phải khả thi, trong đó làm rõ việc cân đối các nguồn lực, hình thức tổ chức học tập quán triệt nghị quyết phải sáng tạo, phải kết hợp tất cả các phương tiện truyền thông để làm chuyển nhận thức cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Hết sức coi trọng lựa chọn nội dung trọng tâm nhất để truyền đạt cũng như tổ chức các lớp học chặt chẽ và chọn cử báo cáo viên có chất lượng. Tăng cường hình thức đối thoại, trao đổi để các đối tượng học tập, quán triệt nghị quyết, nhận thức thấu đáo nội dung. Thành công nghị quyết của Đảng quyết định nhất ở khâu tổ chức thực hiện. Trước hết các quan điểm, đường lối mà nghị quyết nêu phải lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, thành cơ chế, chính sách kịp thời để mỗi người dân thực hiện. Hàng năm và cả nhiệm kỳ Nhà nước phải cân đối các nguồn lực và đưa vào kế hoạch để thực hiện. Trên từng lĩnh vực, từng chương trình, đề án triển khai phải phân rõ tổ chức nào thực hiện, thời gian hoàn thành và cán bộ nào chịu trách nhiệm chính. Tăng cường công tác kiểm tra việc thực hiện, định kỳ sơ kết, đánh giá thực tế gắn với khen thưởng, biểu dương đảng bộ, đơn vị làm tốt và phê bình, góp ý kịp thời nơi làm kém, chuyển biến chậm. Nếu làm tốt việc nâng cao chất lượng nội dung nghị quyết, nâng cao hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, học tập nghị quyết và chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết thì công tác phụ nữ sẽ có sự chuyển biến tích cực.

    Trên cơ sở luật pháp phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông như: báo viết, báo nói, báo hình, báo điện tử… để mọi người dân đều hiểu pháp luật, làm theo pháp luật. Tăng cường hơn nữa công tác giám sát, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật ở các cấp, các ngành trong đó có luật lao động, luật bảo hiểm, luật bình đẳng giới, luật hôn nhân gia đình, luật phòng chống bạo lực gia đình… Định kỳ cần sơ kết, đánh giá kết quả thực thi pháp luật ở các cấp, các ngành để khen thưởng, biểu dương những nơi làm tốt, đồng thời xử lý nghiêm minh những người vi phạm. Trong điều kiện ngân sách phục vụ cho công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn hạn chế mà số lượng luật lại rất nhiều, vì thế cần nghiên cứu phương pháp, cách tuyên truyền có hiệu quả nhất phù hợp với từng đối tượng, các tầng lớp nhân dân.

    Theo đánh giá hiện nay, đời sống vật chất và tinh thần của đông đảo nữ công nhân lao động, làm việc trong các khu công nghiệp, khu chế xuất, trong các doanh nghiệp là khó khăn nhất… Hội LHPN cần phối hợp chặt chẽ với Tổng LĐLĐ Việt Nam để giám sát chủ doanh nghiệp trong việc thực hiện pháp luật, tăng cường chức năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hội viên. Việc vận động nữ nông dân, thanh niên, trí thức, doanh nhân, nữ lực lượng vũ trang, nữ công nhân viên chức đòi hỏi rất cao vai trò, trách nhiệm chỉ đạo sâu sát của các cấp Hội. Hiện nay, chính sách đối với cán bộ, lao động nữ và hoạt động của các cấp hội còn nhiều bất cập, đòi hỏi các cơ quan chức năng như ngành lao động, tổ chức, nội vụ, giáo dục, y tế, tài chính… phải kịp thời tham mưu chính sách cho Nhà nước để góp phần làm cho công tác phụ nữ có biến chuyển mới.

    Năm là, đổi mới và tăng cường hơn nữa việc lãnh đạo, chỉ đạo công tác cán bộ nữ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ mới.

    Thực tế từ xưa đến nay nguồn cán bộ nữ của đất nước rất dồi dào; vấn đề quan trọng là sự quan tâm của các cấp ủy đảng, người đứng đầu các cấp, các ngành, các đơn vị trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ nữ. Trên cơ sở các chỉ tiêu Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá X) về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH và tinh thần Nghị quyết Trung ương 7 (khoá XII) về công tác cán bộ để ban hành một số quy định cụ thể về công tác cán bộ nữ cho thời kỳ mới. Trước hết thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nữ cho nhiệm kỳ 2022 – 2025 đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ mới. Cán bộ lãnh đạo quản lý các cấp, các ngành, các đơn vị trong cả hệ thống chính trị nhất thiết phải cơ cấu cán bộ nữ hợp lý. Cấp ủy các cấp phải đạt chỉ tiêu quy định, nếu tỷ lệ cán bộ nữ chưa đạt thì cấp ủy cấp trên chưa phê duyệt đề án nhân sự, trường hợp thật đặc biệt thì cho phép đại hội bầu thiếu số lượng để khi nào chuẩn bị tốt nhân sự cấp uỷ nữ mới bầu bổ sung. Sau các nhiệm kỳ đại hội cần chỉ đạo sơ kết, đánh giá công tác cán bộ nữ, đảng bộ nào thực hiện tốt thì biểu dương, đảng bộ nào thực hiện không tốt thì phê bình. Ngoài cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, các cấp ủy đảng phải tiếp tục lãnh đạo Nhà nước có cơ chế, chính sách để phát huy đội ngũ nữ trí thức, nữ doanh nhân, nữ lao động sản xuất kinh doanh giỏi trên các lĩnh vực để họ đóng góp, cống hiến cho đất nước.

    Sáu là, các cấp uỷ đảng tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện việc xây dựng, củng cố tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các cấp Hội LHPN Việt Nam đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

    Trước hết, các cấp ủy đảng phải chủ động có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chủ chốt của Hội LHPN cho nhiều thời kỳ. Ngoài tiêu chuẩn chung cần phải quan tâm lựa chọn những cán bộ tiêu biểu, có tâm huyết, có kinh nghiệm, có khả năng quy tụ, tập hợp được đông đảo hội viên để tạo nguồn. Từng nhiệm kỳ phân công cấp ủy viên nữ có năng lực, phẩm chất tốt, có tín nhiệm cao trực tiếp phụ trách công tác Hội và ứng cử tham gia lãnh đạo tổ chức Hội LHPN đồng cấp. Thường xuyên theo dõi, kiểm tra việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Hội để có định hướng lãnh đạo, chỉ đạo công tác Hội sát đúng với từng thời kỳ cách mạng. Định kỳ đánh giá chất lượng, hiệu quả việc vận động, tập hợp hội viên, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên và nhiệm vụ tham mưu cho cấp uỷ các chủ trương về công tác vận động phụ nữ. Lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội tăng cường sự phối hợp với Hội LHPN các cấp để thực hiện tốt chính sách về bình đẳng giới, xây dựng, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tốt hơn quyền lợi chính đáng của phụ nữ, đặc biệt là chính sách lao động – việc làm, giáo dục – đào tạo, dạy nghề, bảo hiểm xã hội, chăm sóc sức khoẻ, bảo vệ bà mẹ, trẻ em, hôn nhân gia đình…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chỉ Thị Của Ban Bí Thư Về Tiếp Tục Đẩy Mạnh Công Tác Phụ Nữ Trong Tình Hình Mới
  • Sơn La: Thực Hiện Hiệu Quả Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Phụ Nữ
  • Đổi Mới Phương Thức Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Công Tác Phụ Nữ Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Nhận Thức Về Văn Hóa, Con Người Việt Nam Trong Nghị Quyết Trung Ương 9 Khóa Xi
  • Sự Phát Triển Lý Luận Của Đảng Về Xây Dụng Nền Văn Hóa Việt Nam ​
  • Tạp Chí Dân Vận Số 5/2016

    --- Bài mới hơn ---

  • Chỉ Thị Về Nhiệm Vụ Chủ Yếu Năm Học 2022
  • Chương Trình Hành Động Của Chi Bộ Mầm Non Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Toàn Quốc Lần Thứ Xi
  • Xây Dựng Và Phát Triển Giai Cấp Công Nhân Việt Nam Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xi Của Đảngpgs, Ts. Phạm Công Nhất
  • Hà Nội: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương Về Xây Dựng Giai Cấp Công Nhân
  • Chương Trình Hành Động Số 38 Ctrhđ/tu Ngày 08/07/2008 Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Thành Phố Về Thực Hiện Nghị Quyết Số 20
  • Việt Nam là một quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo; với 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tại có khoảng 25 triệu người theo các tôn giáo khác nhau. Nghị quyết của Đảng khẳng định: “Công tác tôn giáo là vấn đề chiến lược có ý nghĩa rất quan trọng”(1). Bởi quần chúng tôn giáo là một lực lượng quan trọng của cách mạng, có những đóng góp to lớn vào sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Đồng thời, tôn giáo ở Việt Nam luôn bị các thế lực xấu, thù địch triệt để lợi dụng để thực hiện các lợi ích cá nhân và mưu đồ chính trị.

    Thực hiện quan điểm đổi mới của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo, qua hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW (khóa IX) về công tác tôn giáo và các chủ trương, nhiệm vụ công tác tôn giáo trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng, công tác tôn giáo được các cấp ủy đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện, đạt được nhiều kết quả tích cực. Thể hiện rõ nhất là tư tưởng mặc cảm, định kiến với tôn giáo trong xã hội đã giảm rõ rệt; coi đồng bào có tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nhìn nhận sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cũng là sinh hoạt văn hóa bình thường của nhân dân, quần chúng có đạo. Đặc biệt, việc thể chế hóa chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng có bước tiến triển mạnh mẽ, với việc Hiến pháp năm 2013 được ban hành thể hiện đúng bản chất quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền con người; trên cơ sở đó, Quốc hội khóa XIII đã đưa vào chương trình xây dựng Dự thảo Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo. Nhằm giải quyết những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP về hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo; cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo đã có hướng dẫn cụ thể các quy định về thủ tục hành chính tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tôn giáo và giúp cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ngày càng đi vào nền nếp hơn.

    Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật, đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc hoặc những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trái quy định của pháp luật”(2).

    Quán triệt và thực hiện công tác tôn giáo theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội tập trung thực hiện tốt những nội dung sau:

    1- Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ của hệ thống chính trị và đông đảo quần chúng nhân dân những quan điểm mới của Đảng về tôn giáo và công tác tôn giáo. Khẳng định: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng bào tôn giáo là bộ phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    Từ nhận thức mới này để tiếp tục khắc phục những nhận thức thiển cận về tôn giáo, xoá bỏ mặc cảm, phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tôn trọng những điểm khác biệt không trái với lợi ích chung của quốc gia – dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam vào mặt trận chung, tăng cường sự đồng thuận xã hội. Chú trọng tới công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo, trên cơ sở lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm điểm tương đồng, tạo động lực, nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    2- Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là vấn đề quan trọng đưa Nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, đảm bảo thực sự quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của con người theo Hiến pháp 2013. Mục tiêu của công tác quản lý không chỉ là việc hướng dẫn các hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật, mà điều có tác dụng cơ bản và lâu dài là phải tạo hành lang pháp lý đẩy đủ cho các hoạt động tôn giáo, thuận lợi cho công tác quản lý nhà nước về tôn giáo.

    Thực tế tình hình tôn giáo luôn có những vấn đề mới đặt ra cần phải được điều chỉnh, trong khi các chính sách, pháp luật còn có những bất cập. Vì vậy, nhiệm kỳ 2022 – 2022, Quốc hội dự kiến ban hành Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo; cơ quan quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo cần đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn để kịp thời hướng dẫn, bổ sung, điều chỉnh chính sách, pháp luật cho phù hợp; xây dựng ý thức hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật. Quan tâm củng cố tổ chức bộ máy làm công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo các cấp theo tinh thần Kết luận số 78-KL/TW, ngày 14/12/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI); nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo của hệ thống chính trị, nhất là ở cơ sở.

    3- Văn kiện Đại hội XII của Đảng nhấn mạnh: Phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Thực tế cho thấy, giáo lý, giáo luật và những lời răn dạy của các tôn giáo đều hướng con người làm lành, tránh ác, yêu thương con người, yêu thương đồng loại. Quá trình hội nhập và mở cửa, mặt trái của cơ chế thị trường, của toàn cầu hoá đang làm mai một những giá trị bản sắc văn hoá của dân tộc, tha hoá đạo đức, lối sống của một bộ phận con người thì những răn dạy, hướng thiện đó cũng góp phần vào việc gìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá, đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Bên cạnh đó, các hoạt động xã hội, từ thiện, nhân đạo của tôn giáo cũng góp phần cùng với các cấp, các ngành chung tay giải quyết những vấn đề bức xúc của xã hội.

    Như vậy, cần quan tâm chỉ đạo và có những giải pháp, chính sách tạo điều kiện cho tổ chức, chức sắc, tín đồ tôn giáo phát huy những yếu tố tích cực, hướng thiện trong văn hoá, đạo đức tôn giáo và những hoạt động xã hội, từ thiện phục vụ cho lợi ích của cộng đồng, nhất là các hoạt động y tế, giáo dục, chăm sóc người bị bệnh hiểm nghèo… theo quy định của pháp luật.

    4- Thực hiện tốt công tác vận động quần chúng với các nội dung chủ yếu: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức công dân, quan tâm chăm lo, nâng cao đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần cho đồng bào có đạo; tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật. Trong đó, các cấp ủy, chính quyền cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết hợp lý các nhu cầu hoạt động tôn giáo của tổ chức tôn giáo như: Tổ chức lễ nghi, sinh hoạt tôn giáo; việc đào tạo, bổ nhiệm chức sắc; giải quyết đất đai, xây sửa cơ sở thờ tự…. Chú trọng công tác vận động chức sắc, cốt cán tôn giáo nhằm phát huy vai trò của chức sắc, cốt cán trong vận động tín đồ, tổ chức tôn giáo đồng hành cùng dân tộc.

    5- Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo. Tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, giải quyết đúng đắn và đầy đủ nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của quần chúng là cơ sở để đấu tranh có hiệu quả chống việc lợi dụng tôn giáo. Đồng thời, chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh chống sự lợi dụng tôn giáo là tạo môi trường sinh hoạt tôn giáo lành mạnh, điều kiện đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được thực hiện tốt. Đây là hai mặt của một vấn đề có sự tác động qua lại lẫn nhau, trong đó nhấn mạnh việc chủ động quan tâm giải quyết các nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo chính đáng, theo pháp luật của quần chúng tôn giáo, từ đó loại bỏ những nguyên cớ mà các thế lực xấu có thể lợi dụng kích động, xuyên tạc; quần chúng yên tâm, tin tưởng vào sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước, tự giác đấu tranh với những hành vi lợi dụng tôn giáo chống đối Đảng, Nhà nước và chế độ.

    Làm tốt công tác giáo dục tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân, đồng bào có đạo. Thực hiện công tác quy hoạch, bồi dưỡng, đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ có lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, có phẩm chất, năng lực làm công tác dân vận, công tác tôn giáo. Quan tâm công tác phát triển đảng viên là người có đạo, xây dựng cốt cán trong tôn giáo; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chủ trương, nhiệm vụ của cấp uỷ các cấp được triển khai thực hiện có hiệu quả.

    Các cấp chính quyền kịp thời thể chế hoá chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, chương trình, nhiệm vụ cụ thể về công tác tôn giáo. Tăng cường công tác quản lý, hướng dẫn tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo tuân thủ pháp luật; chăm lo đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, trong đó có quần chúng tôn giáo bằng các chính sách phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; đảm bảo thực hiện nhiệm vụ giữ gìn an ninh, trật tự an toàn xã hội, đấu tranh có hiệu quả với các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.

    1. Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo.

    2. Văn kiện Đại hội XII của Đảng, Nxb CTQG, H.2016, tr.165.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Sách Dân Tộc, Tôn Giáo Của Đảng Là Sự Gắn Bó Giữa “ý Đảng, Lòng Dân”
  • Khảo Sát Xây Dựng Nghị Quyết Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Trung Ương Về “nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Của Đảng Bộ Các Cơ Quan Nhà Nước” Tại Đảng Bộ Bộ Văn Hóa, Thể Thao Và Du Lịch Và Đảng Bộ Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Việt Nam
  • Ngành Du Lịch Cụ Thể Hóa Nghị Quyết Đh Đảng Xii Thành Các Mục Tiêu Hành Động
  • Một Số Điểm Mới Của Nghị Quyết Số 12
  • Công Tác Đảng Tại Các Doanh Nghiệp Ngoài Nhà Nước: Nhìn Từ Hà Nội
  • Tạp Chí Dân Vận Số 3/2016

    --- Bài mới hơn ---

  • Đưa Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Tộc Vào Cuộc Sống
  • Ban Dân Vận Tỉnh Ủy: Giám Sát Việc Thực Hiện Hiện Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Trên Địa Bàn Huyện Hớn Quản
  • Quảng Ninh Sau 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Của Đảng Về Dân Số, Kế Hoạch Hóa Gia Đình
  • Triển Khai Nghị Quyết Của Đảng Về Công Tác Dân Số Trong Tình Hình Mới
  • Thực Hiện Tốt Hơn Nữa Nghị Quyết Của Đảng Về Doanh Nghiệp Nhà Nước Và Kinh Tế Tập Thể Phi Nông Nghiệp
  • Đây là bài học sâu sắc, là sự kế thừa tư tưởng “dân là gốc” của ông cha ta qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, từ triều đại nhà Lý, nhà Trần, nhà Lê, nhà Nguyễn. Mở đầu “Bình Ngô đại cáo”, Nguyễn Trãi viết: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” và ông là người đã sớm đưa ra nhận định: “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” để cảnh báo cho những ai đi ngược lại lợi ích của dân, làm trái lòng dân.

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII thành công tốt đẹp. Một trong những nhiệm vụ quan trọng về xây dựng Đảng được đề cập trong Nghị quyết là “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân”.

    Nghị quyết đưa ra ba mục tiêu rất rõ của công tác dân vận: “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới nhằm củng cố vững chắc lòng tin của nhân dân đối với Đảng; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân; tập hợp, vận động nhân dân thực hiện tốt các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng rộng lớn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

    Để phấn đấu thực hiện các mục tiêu công tác dân vận của Đảng trong tình hình mới, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ cho cấp ủy các cấp phải lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

    1. Tổ chức học tập, quán triệt đến các cấp, các ngành trong cả hệ thống chính trị, đến các tầng lớp nhân dân về Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, trong đó có nội dung công tác dân vận của Đảng. Đồng thời, xây dựng và ban hành chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác dân vận.

    Nội dung cốt lõi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng về công tác dân vận là quán triệt quan điểm “Dân là gốc”, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân, kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật, về tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận.

    Trên cơ sở các nội dung cơ bản của Nghị quyết Đại hội XII và tình hình thực tế của từng đảng bộ, để các cấp, các ngành, các đơn vị xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của địa phương, tổ chức mình.

    Chương trình hành động phải xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp khả thi nhất để tổ chức đưa nghị quyết vào cuộc sống, trong đó quan tâm các nguồn lực (bao gồm nhân lực, vật lực, tài lực) để có cơ sở, điều kiện thực hiện.

    2. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng về công tác dân vận trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.

    Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), thực hiện mục tiêu: Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải thật sự tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội, tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Các cấp ủy đảng và chính quyền cần quan tâm, tăng cường công tác dân vận trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng đồng bào tôn giáo, góp phần xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của nhà nước và các tổ chức chính trị – xã hội, xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động, có hiệu lực và hiệu quả. Trên cơ sở đó, củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, để mỗi đảng viên đều nêu gương cho quần chúng noi theo.

    Các cấp ủy đảng thường xuyên sâu sát cơ sở, kiểm tra và kịp thời tổng kết, sơ kết các nghị quyết của Đảng về công tác dân vận như nghị quyết 25-NQ/TW (khóa XI), nghị quyết về giai cấp công nhân, thanh niên, phụ nữ, doanh nhân, trí thức, người Việt Nam ở nước ngoài… Trên cơ sở đó để tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức đưa các nghị quyết của Đảng vào cuộc sống có hiệu quả.

    Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng bằng những quy chế, quy định, quy trình cụ thể. Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở, xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm.

    3. Lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

    Để nắm được những bức xúc, những kiến nghị chính đáng của nhân dân thì các tổ chức cơ sở đảng, các tổ chức chính trị – xã hội, các đại biểu dân cử phải thường xuyên sâu sát cơ sở, sâu sát nhân dân, lắng nghe ý kiến góp ý, phản ảnh của các tầng lớp nhân dân như công nhân, nông dân, trí thức, doanh nhân, thanh niên, sinh viên…

    Trên cơ sở trực tiếp gặp nhân dân, qua các cuộc tiếp xúc cử tri, các buổi tiếp dân mà tập hợp những bức xúc, kiến nghị chính đáng của nhân dân để phản ảnh cho cấp ủy, các cơ quan chức năng của nhà nước giải quyết kịp thời. Các cấp ủy đảng, các cơ quan quản lý nhà nước cần lập đường dây nóng, hộp thư điện tử để người dân phản ảnh, kiến nghị nhanh nhất; đồng thời, tạo điều kiện cho các cơ quan thông tấn báo chí hoạt động thuận lợi phản ảnh tâm tư, nguyện vọng của cử tri, của cơ sở. Cấp ủy, chính quyền phải tổ chức đối thoại trực tiếp với dân, nhất là những nơi có những vấn đề bức xúc có thể trở thành “điểm nóng”. Chỉ đạo tốt công tác tiếp nhận và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tùy tình hình và mức độ khác nhau ở từng địa phương, nhưng đông đảo nhân dân quan tâm, bức xúc về đời sống, việc làm, đền bù, giải phóng mặt bằng đất đai, tham nhũng, tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường, an toàn thực phẩm, tệ nạn ma túy, … cần được cấp ủy, cơ quan nhà nước tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết có hiệu quả.

    4. Lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân.

    Trước hết, tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” nhất là nội dung “nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

    Thực tiễn chứng minh rằng, nghị quyết của Đảng chỉ có thể đi vào cuộc sống khi được nhà nước thể chế hóa thành chính sách, pháp luật, thành kế hoạch, thành các chương trình, đề án và có nguồn lực cụ thể để các tầng lớp nhân dân, các doanh nghiệp, các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện.

    Mặc dù Chính phủ, Quốc hội đã rất tích cực trong việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật nhưng còn nhiều vấn đề để phát huy sức mạnh to lớn của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế cần phải được tiếp tục nghiên cứu, xây dựng chính sách, luật pháp hoặc bổ sung, sửa đổi những vấn đề bất hợp lý trong các văn bản pháp luật đã ban hành.

    5. Tiếp tục lãnh đạo, tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của các cơ quan nhà nước, thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị

    Đẩy mạnh thực hiện chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ – pháp quyền, quy định rõ trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước; giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức, đẩy nhanh việc áp dụng Chính phủ điện tử.

    6. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên trách làm công tác dân vận

    “Quán triệt và nghiêm túc thực hiện quan điểm Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu Ban dân vận, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội”(1). “Củng cố ban dân vận các cấp, chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân vận của Đảng, đặc biệt là độ ngũ cán bộ tham mưu chiến lược. Có cơ chế, chính sách thu hút người có năng lực, có uy tín, có kinh nghiệm làm công tác dân vận, chú trọng luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, khắc phục tình trạng đưa cán bộ phẩm chất, năng lực yếu kém và không có uy tín về công tác dân vận”(2). Tăng tỷ lệ cán bộ là người dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, cán bộ trẻ kinh qua thực tiễn cơ sở và có kinh nghiệm làm công tác vận động quần chúng. Hằng năm, mở các lớp bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về dân vận cho đội ngũ cán bộ mới, nhất là sau đại hội, các nhiệm kỳ của đảng bộ các cấp. Sớm bổ sung các quy chế, quy định về công tác cán bộ, như quy định tiêu chuẩn tuyển chọn cán bộ, đánh giá cán bộ, nhất là người đứng đầu làm công tác dân vận chuyên trách”.

    1. Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

    2. Nghị quyết 25-NQ/TW (khóa XI)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khảo Sát Xây Dựng Nghị Quyết Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Khối Các Cơ Quan Trung Ương Về “nâng Cao Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Của Đảng Bộ Các Cơ Quan Nhà Nước”
  • Thực Hiện Hiệu Quả Công Tác Dân Vận Theo Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng
  • Nghị Quyết Xii Của Đảng Về Công Tác Dân Vận Trong Tình Hình Mới
  • Đẩy Mạnh Thực Hiện Nghị Quyết 02 Của Đảng Uỷ Đối Với Công Tác Thanh Niên
  • Quan Điểm Của Đảng Về Công Tác Thanh Niên Hiện Nay
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100