Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh Hay Luật Hành Nghề Y?

--- Bài mới hơn ---

  • Các Hành Vi Bị Cấm Trong Luật Khám Chữa Bệnh
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2000
  • Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2000
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi 2010
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2010
  • Dù đã qua 15 lần chỉnh sửa, nhưng đến nay dự thảo luật Khám bệnh, chữa bệnh vẫn chưa đạt được sự đồng thuận, ngay cả từ tên gọi.

    Tại hội thảo đóng góp ý kiến cho một số nội dung quan trọng của dự thảo luật Khám bệnh, chữa bệnh do Liên hiệp Các hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Vusta) tổ chức sáng 5/8, tại Hà Nội, không chỉ kiến nghị thay tên gọi, các đại biểu còn có nhiều ý kiến khác nhau về các nội dung như: Y đức có cần luật hóa; Hội đồng y khoa quốc gia gồm những thành viên nào, hoạt động ra sao…

    Luật Hành nghề y sẽ bao quát hơn?

    Theo GS Phạm Song, Chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam, chăm sóc sức khỏe nhân dân ngoài khám và chữa bệnh còn có chăm sóc sức khỏe thai sản, phẫu thuật thẩm mỹ, y tế dự phòng. Vì vậy nên đặt tên là Luật Hành nghề y sẽ bao quát hơn.

    Với tên gọi là luật Hành nghề y, nội dung sẽ không thể thiếu các quy định về y đức – gốc rễ của chất lượng dịch vụ y tế. Hơn nữa, tên gọi này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế do những nước đã ban hành luật này đều có tên là luật Hành nghề y.

    Khi luật được áp dụng cũng sẽ không phải xóa bỏ Pháp lệnh hành nghề y dược tư nhân đã được ban hành trước đây.

    Nhưng luật gia, bác sỹ Trịnh Lê Trâm, Phó vụ trưởng, Vụ Pháp chế (Bộ Y tế) cho rằng: Với tên gọi luật Hành nghề y có thể gây hiểu nhầm là luật chỉ dùng để điều chỉnh hoạt động hành nghề y tư nhân. Thêm vào đó, khi thay đổi còn sẽ phải cấu trúc lại dự thảo luật hiện nay để có sự phù hợp hơn với tên gọi mới.

    Còn GS. Trần Quỵ, Nguyên giám đốc bệnh viên Bạch Mai lại nhìn nhận: Luật Khám bệnh, chữa bệnh nên đổi tên và cả cấu trúc để bỏ bớt đi những quy định quá nhỏ nhặt, chi tiết mà còn bị trùng lặp.

    GS.TS Nguyễn Hữu Tăng, Phó chủ tịch Vusta cũng tán đồng với hướng thiên về xây dựng một đạo luật khung, còn những điều cụ thể sẽ hướng dẫn trong những văn bản ban hành sau, căn cứ trên tình hình thực tế.

    Nên hay không nên luật hóa y đức?

    Luật hóa hay không luật hóa y đức cũng là vấn đề được còn có nhiều ý kiến trái chiều. TS. Trần Hữu Thăng, Phó chủ tịch Tổng hội Y học Việt Nam cho rằng: Thầy thuốc phải có y đức do hành vi của người làm nghề này ảnh hưởng đến sự sống, chết của con người. Người bệnh lại rất tin tưởng thầy thuốc và có thể tiết lộ mọi bí mật, do đó thầy thuốc có thể lạm dụng điều này để có những hành vi bất chính.

    Ngoài ra, các nghiên cứu còn cho thấy, nhiều bệnh của bệnh nhân còn do chính bác sỹ gây ra. Trong khi đó, kỹ năng trong hành nghề y rất khó kiểm soát, đánh giá. “Xuất phát từ những điều này, trong dự thảo luật cần phải có hẳn một chương riêng quy định về các điều y đức đối với người hành nghề y”, TS Thăng nhấn mạnh.

    Một vị Phó chủ tịch khác của Tổng hội Y học Việt Nam, GS. Hoàng Bảo Châu lại nhìn nhận: Y đức là vấn đề đạo đức, luân lý nên không thể đưa thành một điều riêng trong luật. Có chăng chỉ cần nêu thành các quy định chung trong luật.

    “Tuy nhiên, để lương y thực sự là “từ mẫu”, ngay từ trên ghế nhà trường đội ngũ cán bộ ngành y tế phải thường xuyên được giáo dục về y đức”, GS Châu chia sẻ.

    Bác sỹ Trịnh Lê Trâm cũng cho rằng, luật hóa vấn đề này là không cần thiết và không thể. Trên thực tế, trong ngành y cũng đã có quy định về 12 điều y đức.

    Hội đồng y khoa “càng độc lập càng tốt”

    Về việc thành lập hội đồng y khoa, các ý kiến đều cho rằng điều này là cần thiết trong quá trình hội nhập.

    Bác sỹ Graham Harrison, đại diện của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tại Việt Nam cho hay: Hội đồng y khoa độc lập được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới với mục đích chính là bảo vệ sức khỏe và sự an toàn cho người dân thông qua việc đảm bảo những người hành nghề y có đủ năng lực và khả năng.

    Để hội đồng này thực sự phát huy được vai trò của mình, về cơ cấu TS. Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu và đào tạo phát triển cộng đồng thuộc Vusta đề nghị: Đại diện Nhà nước nên chiếm 30%, Hội nghề nghiệp Y Dược chiếm 30%, phần còn lại là đại diện người tiêu dùng và các Hiệp hội khác.

    Tuy đồng tình với quan điểm, hội đồng này “càng độc lập càng tốt”, nhưng PGS. TS Đào Văn Dũng, Vụ trưởng Vụ Các vấn đề xã hội (Ban Tuyên giáo Trung ương) góp ý: Do nước ta có những đặc thù riêng nên cần phải có lộ trình, trước mắt có thể Bộ trưởng Bộ Y tế giữ vai trò Chủ tịch, dần dần sau đó, cơ quan này sẽ tách ra độc lập.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Câu Hỏi Ôn Tập Thi Viên Chức Y Tế 2014
  • Hướng Dẫn Triển Khai Các Thông Tư Về Giá Dịch Vụ Khám, Chữa Bệnh
  • Mở Thông Tuyến Khám Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế Từ Ngày 01/01/2016
  • Dự Thảo Thông Tư Quy Định Về Trích Chuyển Dữ Liệu Yêu Cầu Thanh Toán Bảo Hiểm Y Tế Giữa Cơ Sở Khám, Chữa Bệnh Và Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Do Bộ Trưởng Bộ Y Tế Ban Hành
  • Tải Về Luật Khám Chữa Bệnh Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Tìm Hiểu Về Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh Số 40
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2022
  • Thủ Tục Xin Cấp Giấy Phép Thành Lập Và Hoạt Động Kinh Doanh Bảo Hiểm
  • Văn Bản Pháp Luật Kế Toán Hiện Tại
  • Thị Thực Làm Việc
  • Luật khám bệnh, chữa bệnh

    VÌ SAO QUỐC HỘI BAN HÀNH BAN HÀNH LUẬT KHÁM BỆNH CHỮA BỆNH

    Thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh

    Đánh giá đúng đắn vai trò quan trọng của sức khoẻ con người trong quá trình đổi mới, đưa đất nước tiến lên công nghiệp hoá và hiện đại hoá, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra mục tiêu tổng quát để phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân ( bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân ) là “Giảm tỷ lệ mắc bệnh, tật và tử vong, nâng cao sức khoẻ, tăng tuổi thọ, cải thiện chất lượng giống nòi, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, chất lượng nguồn nhân lực, hình thành hệ thống chăm sóc sức khỏe đồng bộ từ Trung ương đến cơ sở và thói quen giữ gìn sức khỏe của nhân dân, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”1.

    Để đạt được mục tiêu trên đòi hỏi phải thực hiện nhất quán một trong những quan điểm cơ bản là “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước”2.  

    Như vậy, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đều khẳng định nhất quán mục tiêu từng bước nâng cao chất lượng công tác khám bệnh chữa bệnh nhằm đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân và quan điểm này cần phải thể chế hóa bằng pháp luật, trong đó có Luật Khám bệnh chữa bệnh.

    Nghị quyết số 46 – NQ/TW ngày 25/02/2005 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới. 

    Nghị quyết số 46 – NQ/TW ngày 25/02/2005 của Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới.

    1 Báo cáo tại Hội nghị tổng kết công tác y tế năm 2008 của Bộ Y tế ngày 28/12/2008.

    Đáp ứng yêu cầu thực tiễn của công tác khám bệnh chữa bệnh hiện nay

    Trong những năm qua, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân, trong đó có lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Hoạt động y tế dự phòng được đẩy mạnh hơn. Một số dịch bệnh mới như viêm phổi cấp (SARS), dịch cúm A (H5N1) ở người đã được ngăn chặn, khắc phục nhanh. Mạng lưới y tế, đặc biệt là y tế cơ sở đã được củng cố và phát triển; đã có 97,9 % xã trong cả nước có trạm y tế; 66,5 % trạm y tế có bác sỹ. Nhiều cơ sở khám bệnh chữa bệnh được đầu tư, nâng cấp, nhiều kỹ thuật y học cao được áp dụng và mở rộng đến tuyến tỉnh như hỗ trợ sinh sản, ghép thận, gan, phẫu thuật tim hở, nong mạch vành, phẫu thuật nội soi, chẩn đoán hình ảnh… đáp ứng nhu cầu khám bệnh chữa bệnh ngày càng cao của nhân dân3. Chế độ khám bệnh chữa bệnh cho người nghèo, khám bệnh chữa bệnh miễn phí cho trẻ em dưới 6 tuổi đang được triển khai thực hiện. Đến nay, “Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng giảm từ 33,4% năm 2000 xuống 21,2% năm 2007; tỷ lệ chết của trẻ em dưới 1 tuổi còn 16%. Tuổi thọ trung bình của người Việt Nam từ 67,8 tuổi đã nâng lên 72,84 tuổi vào năm 2007″ đòi hỏi việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh chữa bệnh thuận lợi, đa dạng, hiệu quả và kịp thời.

    Hiện nay, tính trên cả nước, trong khu vực Nhà nước có 13.439 cơ sở khám bệnh chữa bệnh, trong đó có 953 bệnh viện công với gần 202.941 giường bệnh, chưa kể người đang hành nghề trong khu vực tư nhân. Việc cấp chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện từ năm 1995 đối với người đứng đầu các cơ sở hành nghề y tư nhân ( việc cấp này thông qua việc xét hồ sơ thuần túy của đối tượng hành nghề ) nhưng đối với người trực tiếp hành nghề khám bệnh chữa bệnh thuộc khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân đều chưa được thực hiện nên chất lượng của đội ngũ này cũng chưa đồng đều do Việt Nam chưa có hệ thống đăng ký, kiểm tra, cấp chứng chỉ hành nghề và giám sát hoạt động cho người hành nghề khám bệnh chữa bệnh.

    Đáp ứng với yêu cầu phát triển và hoàn thiện hệ thống pháp luật về KBCB

    Hiện nay, các chế định pháp luật về KBCB chủ yếu được quy định trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân ngày 30/6/1989 (Chương KBCB, chương KBCB bằng y học cổ truyền), Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân. Qua đánh giá, pháp luật về KBCB còn các bất cập sau:

    Các quy định về KBCB trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân còn chung chung, mang tính nguyên tắc nên hiệu lực pháp luật không cao. Một số quy định đã được luật, pháp lệnh khác ban hành sau này điều chỉnh như bảo vệ sức khoẻ (BVSK) người cao tuổi đã được quy định tại Pháp lệnh Người cao tuổi ngày 28/4/2000; về BVSK thương binh, bệnh binh đã được quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sỹ và gia đình liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng ngày 10/9/2004; về BVSK người tàn tật đã được quy định tại Pháp lệnh người tàn tật ngày 30/7/1998; về thực hiện kế hoạch hóa gia đình đã được quy định trong Pháp lệnh Dân số ngày 22/01/2003; về BVSK trẻ em đã được quy định trong Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em ngày 15/6/2004…. Do đó, chỉ còn các quy định về điều kiện hành nghề KBCB, các quy định chuyên môn kỹ thuật y tế trong Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân là chưa được cụ thể hóa.

    Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân (Nội dung hành nghề dược tư nhân đã bị bãi bỏ bởi Luật Dược năm 2005 đã nhất thể hóa điều kiện hành nghề dược của Nhà nước với hành nghề dược tư nhân) nên Pháp lệnh này chỉ còn nội dung hành nghề y tư nhân, trong khi hành nghề KBCB của Nhà nước lại không quy định cụ thể. Do đó, Luật KBCB cũng phải nhất thể hóa điều kiện hành nghề KBCB của Nhà nước với hành nghề KBCB tư nhân, đồng thời bãi bỏ Pháp lệnh Hành nghề y, dược tư nhân sau khi Luật KBCB được ban hành và có hiệu lực.

    Các quy định về KBCB trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân được ban hành từ năm 1989 khi đất nước ta mới chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế cơ chế thị trường nên chưa đề cập đến các thành phần kinh tế khác tham gia vào công tác KBCB, chưa đề cập đến vấn đề xã hội hóa và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ KBCB, cũng như chưa tạo tiền đề pháp lý cho việc cạnh tranh lành mạnh giữa khu vực KBCB của Nhà nước và tư nhân thông qua việc cấp chứng chỉ hành nghề KBCB cho mọi người hành nghề, cấp giấy phép hoạt động cho tất cả cơ sở KBCB không phân biệt Nhà nước hay tư nhân.  

    Các quy định về KBCB trong Luật Bảo vệ sức khoẻ nhân dân đã được ban hành gần 20 năm, từ đó đến nay, thực tiễn đã có nhiều thay đổi, một số quan hệ xã hội mới nảy sinh nhưng chưa có quy phạm pháp luật đồng bộ để điều chỉnh như quyền và nghĩa vụ của người bệnh, của người hành nghề và của các cơ sở KBCB; công nhận chất lượng đối với cơ sở KBCB; sai sót chuyên môn kỹ thuật và giải quyết khiếu nại của người bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong KBCB… Đây là các khoảng trống pháp luật cần phải được điều chỉnh.

    Đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế trong hoạt động KBCB

    Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới nên phải từng bước tuân thủ các hiệp định của Tổ chức này, trong đó có các dịch vụ y tế. Mặt khác, Việt Nam cũng đã ký kết Hiệp định khung về điều kiện hành nghề điều dưỡng giữa các nước ASEAN và sắp tới là Hiệp định khung về điều kiện hành nghề bác sỹ và nha sỹ… Do đó, Việt Nam cần phải nội luật hóa các quy định này để có cơ sở pháp lý thực hiện tại Việt Nam.

    QUAN ĐIỂM VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC BAN HÀNH LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

    Quan điểm

    Thể chế hoá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân nói chung và trong lĩnh vực khám bệnh chữa bệnh nói riêng.

    Tổng kết kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc các quy định của pháp luật

    về khám bệnh chữa bệnh trong thời gian qua.

    Chứng chỉ hành nghề sẽ được cấp cho mọi người hành nghề khám bệnh chữa bệnh, giấy phép hoạt động sẽ được cấp cho mọi cơ sở khám bệnh chữa bệnh, kể cả trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân, bảo đảm các dịch vụ khám bệnh chữa bệnh này đều hoạt động trong một mặt bằng pháp luật bình đẳng, không có sự phân biệt đối xử giữa hai khu vực Nhà nước và tư nhân.

    Xã hội hóa hoạt động khám bệnh chữa bệnh thông qua việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ y tế.

    Quản lý các hoạt động khám bệnh chữa bệnh trên cơ sở tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước và có sự tham gia tích cực của các hội nghề nghiệp, của người hành nghề, của người bệnh… để phù hợp với chuẩn mực của pháp luật quốc tế về khám bệnh chữa bệnh và đáp ứng với yêu cầu hội nhập.

    Bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất, đồng bộ, tính khả thi trong thực tế và bảo đảm yếu tố về bình đẳng giới.   

    Ý nghĩa

    Ngày 23/11/2009, Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 đã chính thức thông qua Luật Khám bệnh, chữa bệnh (KBCB) và Chủ tịch nước đã ký Lệnh công bố Luật này số 17/2009/L-CTN ngày 04/12/2009. Theo đó, Luật này sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2011. Đây là đạo luật then chốt trong hoạt động y tế hiện nay.

    Luật Khám bệnh chữa bệnh được ban hành về cơ bản đã đạt được các mục đích đặt ra, đó là bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bệnh; nâng cao chất lượng khám bệnh chữa bệnh; giảm phiền hà cho người bệnh; nâng cao tính sẵn có trong việc tiếp cận các dịch vụ khám bệnh chữa bệnh ; xác định nền tảng cho sự phát triển y học thực chứng vì quyền lợi của người bệnh và là cơ sở pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ giữa người bệnh với người hành nghề khám bệnh chữa bệnh và với cơ sở khám bệnh chữa bệnh .

    BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA DỰ ÁN LUẬT

    Luật có 9 chương, 91 điều và bao gồm các nội dung cơ bản sau:

    Chương I – Những quy định chung

    Gồm 6 điều (từ Điều 1 đến Điều 6) quy định về phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh chữa bệnh ; chính sách của nhà nước về khám bệnh chữa bệnh; trách nhiệm quản lý nhà nước về khám bệnh chữa bệnh và những hành vi bị nghiêm cấm.

    Nội dung quan trọng của Chương này là điều chỉnh một cách thống nhất toàn bộ hoạt động khám bệnh chữa bệnh trong khu vực khám bệnh chữa bệnh của Nhà nước và khu vực tư nhân, tạo sự công bằng, bình đẳng giữa 2 khu vực khám bệnh chữa bệnh này như: quy định về quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề khám bệnh chữa bệnh và cơ sở khám bệnh chữa bệnh; quy định chuyên môn kỹ thuật khám bệnh chữa bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh chữa bệnh; sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong khám bệnh chữa bệnh; điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh chữa bệnh, từ đó đã tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa những người hành nghề và giữa các cơ sở khám bệnh chữa bệnh trong khu vực nhà nước và khu vực tư nhân nhằm đáp ứng các yêu cầu của công tác khám bệnh chữa bệnh. Bên cạnh đó, tại Điều 3 đã quy định 6 nguyên tắc cơ bản làm “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ nội dung của Dự thảo Luật. Đây là các nguyên tắc chủ đạo của công tác khám bệnh chữa bệnh. Các nguyên tắc này được xây dựng theo hướng tiếp cận quyền của người bệnh, bảo vệ những quyền lợi chính đáng của người hành nghề, đặc biệt thể hiện bản chất nhân đạo của công tác khám bệnh chữa bệnh.  

    Chương II – Quyền và nghĩa vụ của người bệnh

    Gồm 10 điều (từ Điều 7 đến Điều 16) được chia thành 2 mục:

    Mục 1. Quyền của người bệnh (từ Điều 7 đến Điều 13) bao gồm các quy định về quyền được khám bệnh chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế; quyền được tôn trọng bí mật riêng tư; quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe trong khám bệnh chữa bệnh; quyền được lựa chọn trong khám bệnh chữa bệnh; quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí khám bệnh chữa bệnh; quyền được từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ sở khám bệnh chữa bệnh và quyền của người bệnh bị mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi.  

    Mục 2. Nghĩa vụ của người bệnh (từ Điều 14 đến Điều 16) bao gồm các quy định về nghĩa vụ tôn trọng người hành nghề; nghĩa vụ chấp hành các quy định trong khám bệnh chữa bệnh và nghĩa vụ chi trả chi phí khám bệnh chữa bệnh.

    Nội dung của Chương này được tiếp cận trên cơ sở quyền con người và đã đề cập đầy đủ đến quyền và nghĩa vụ của người bệnh. Những quy định này đã khắc phục được tình trạng các quy định trước đây tuy đã được đề cập nhưng còn chung chung và mờ nhạt. Quyền của người bệnh được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định tại Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân và tham khảo các quy định tại Công ước Châu Âu về Nhân quyền và Y sinh học, Tuyên ngôn Helsinki của Hiệp hội y khoa Thế giới về nghiên cứu y sinh học (1964, bổ sung 1975, 1983, 1989) và Tuyên ngôn về những quyền của bệnh nhân của Hiệp hội y tế Thế giới (1995) để lựa chọn các quy định phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam. Điểm đặc biệt của chương này là mỗi quy định về quyền đều gắn chặt với nghĩa vụ mà người bệnh phải thực hiện nhằm tránh sự lạm quyền, làm ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp của người hành nghề cũng như không tuân thủ nghiêm các quy định của cơ sở khám bệnh chữa bệnh.  

    Chương III – Người hành nghề khám bệnh chữa bệnh  

    Gồm 24 điều (từ Điều 17 đến Điều 40) được chia thành 4 mục:

    Mục 1. Điều kiện đối với người hành nghề (từ Điều 17 đến Điều 25) quy định về người xin cấp chứng chỉ hành nghề; điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam; điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; điều kiện cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề; khám bệnh chữa bệnh nhân đạo, chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh chữa bệnh, hợp tác đào tạo về y có thực hành khám bệnh chữa bệnh; thừa nhận chứng chỉ hành nghề; sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh chữa bệnh tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; xác nhận quá trình thực hành; chứng chỉ hành nghề.

    Mục 2. Thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề Từ Điều 26 đến Điều 30) quy định về thẩm quyền cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề; hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề; thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề; thu hồi chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hành nghề và lệ phí cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề khám bệnh chữa bệnh.   

    Mục 3. Quyền của người hành nghề (từ Điều 31 đến Điều 35) quy định về quyền được hành nghề; quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh; quyền được nâng cao năng lực chuyên môn; quyền được bảo vệ khi xảy ra tai biến đối với người bệnh và quyền được bảo đảm an toàn khi hành nghề.

    Mục 4. Nghĩa vụ của người hành nghề (từ Điều 36 đến Điều 40) quy định về nghĩa vụ đối với người bệnh; nghĩa vụ đối với nghề nghiệp; nghĩa vụ đối với đồng nghiệp và nghĩa vụ đối với xã hội và nghĩa vụ thực hiện đạo đức nghề nghiệp.

    Các quy định tại Chương này đã thiết lập một cơ chế pháp lý rõ ràng bảo đảm nâng cao năng lực thực hành y khoa của người hành nghề, đặc biệt các quy định về điều kiện đối với người hành nghề đã được thống nhất đối với người hành nghề trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân, đặc biệt là các quy định này đã tiếp cận được với các chuẩn mực của pháp luật quốc tế về khám bệnh chữa bệnh. Việc cấp chứng chỉ hành nghề được quy định bắt buộc thực hiện đối với mọi người hành nghề, bao gồm cả người hành nghề là người Việt Nam và người nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài muốn hành nghề tại Việt Nam; đồng thời tại chương này cũng đưa ra quy định về hoạt động khám bệnh chữa bệnh nhân đạo để hợp pháp hóa việc tổ chức khám bệnh chữa bệnh nhân đạo tại Việt Nam của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, trong đó quy định giao cho Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết điều kiện, hồ sơ, thủ tục đề nghị và thẩm quyền cho phép khám bệnh chữa bệnh nhân đạo. Bên cạnh đó, các quy định về nghĩa vụ của người hành nghề đã được quy định mở rộng hơn, ngoài việc quy định nghĩa vụ đối với bệnh nhân, các nghĩa vụ khác mà người hành nghề phải thực hiện như: Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp, nghĩa vụ đối với xã hội…đã được đề cập cụ thể. Ngoài ra, bên cạnh một loạt những trách nhiệm phải thực hiện trong hành nghề, người hành nghề rất cần được hưởng những quyền lợi chính đáng. Một điều không thể không đề cập đến, đó là nghề y rất dễ bị tai nạn rủi ro nghề nghiệp, trong quá trình hành nghề, người hành nghề nào cũng có thể mắc lỗi, sai sót chuyên môn, kỹ thuật, nên họ có quyền được bảo vệ, đặc biệt cần được bảo hiểm rủi ro trách nhiệm nghề nghiệp. Vì vậy, vấn đề này cũng đã được đề cập trong mục quyền của người hành nghề.

    Chương IV – Cơ sở khám bệnh chữa bệnh

    Gồm 11 điều (từ Điều 41 đến Điều 53) được chia thành 4 mục:

    Mục 1. Hình thức tổ chức và điều kiện hoạt động của các cơ sở khám bệnh chữa bệnh (từ Điều 41 đến Điều 44)  quy định về các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh chữa bệnh; điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh chữa bệnh; điều kiện để cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh; giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh.   

    Mục 2. Thẩm quyền, hồ sơ, thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh (từ Điều 45 đến Điều 49) quy định về thẩm quyền cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với các cơ sở khám bệnh chữa bệnh; hồ sơ cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh; thu hồi và đình chỉ giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh và lệ phí cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh.  

    Mục 3. Chứng nhận nâng cao chất lượng đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh (từ Điều 50 đến Điều 51) quy định về chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh; các tổ chức  chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh.

    Mục 4. Quyền và trách nhiệm của cơ sở khám bệnh chữa bệnh (từ Điều 52 đến Điều 53)  quy định về quyền, trách nhiệm của cơ sở khám bệnh chữa bệnh.

    Các quy định về điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh chữa bệnh tại Chương này chính là nền tảng để nâng cao chất lượng khám bệnh chữa bệnh, từng bước đáp ứng các tiêu chuẩn của quốc tế về khám bệnh chữa bệnh, đặc biệt là các quy định về chứng nhận nâng cao chất lượng đối với cơ sở khám bệnh chữa bệnh nhằm bảo đảm tính ổn định ở mức độ cao trong việc cung cấp dịch vụ khám bệnh chữa bệnh. Ngoài ra, Chương này cũng quy định đầy đủ về quyền và trách nhiệm của cơ sở khám bệnh chữa bệnh, cùng với các quy định về quyền và nghĩa vụ của người hành nghề, đã nâng cao trách nhiệm của người hành nghề và cơ sở khám bệnh chữa bệnh trong thực hiện khám bệnh chữa bệnh cho người bệnh, đồng thời cũng bảo vệ cho người hành nghề, cơ sở khám bệnh chữa bệnh trong những trường hợp xảy ra rủi ro hoặc trong những trường hợp vượt quá khả năng, điều kiện thực tế mà không thể đáp ứng yêu cầu của người bệnh cũng như tình trạng bệnh.

    Chương V – Các quy định về chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh chữa bệnh

    Gồm 15 điều (từ Điều 54 đến Điều 68) bao gồm các quy định về cấp cứu; chẩn đoán bệnh, chỉ định phương pháp điều trị và kê đơn thuốc; hội chẩn; điều trị ngoại trú; điều trị nội trú; hồ sơ bệnh án; sử dụng thuốc trong cơ sở khám bệnh chữa bệnh có điều trị nội trú; thực hiện phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa; kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám bệnh chữa bệnh; xử lý chất thải y tế; giải quyết đối với người bệnh không có người nhận; giải quyết đối với người bệnh tử vong; bắt buộc chữa bệnh; trực khám bệnh chữa bệnh và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong quá trình khám bệnh chữa bệnh.

    Nội dung của Chương này tập trung vào các quy định thuần túy về chuyên môn, kỹ thuật được luật hóa từ các quy định dưới luật nhằm nâng cao hiệu lực pháp lý của các quy định trong thực tiễn. Đây chính là cơ sở thực tế cho việc bảo đảm về chuyên môn đối với quyền của người bệnh và cũng là cơ sở cho việc xử lý pháp luật đối với các vi phạm quy định về chuyên môn kỹ thuật của người hành nghề.  

    Chương VI – Áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh chữa bệnh

    Gồm 4 Điều (từ Điều 69 đến Điều 72) quy định về  kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh chữa bệnh; điều kiện áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh chữa bệnh tại Việt Nam; thẩm quyền cho phép áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới và hồ sơ, thủ tục cho phép cơ sở khám bệnh chữa bệnh áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh chữa bệnh. Đây là nội dung rất mới được được đưa vào Luật trên cơ sở những quy định dưới Luật đã được thực hiện có hiệu quả trong thực tiễn. Các quy định này đã phân định rõ các loại kỹ thuật, phương pháp mới được xem xét để cho phép áp dụng tại Việt Nam cũng như thẩm quyền cho phép áp dụng các kỹ thuật, phương pháp mới này để tránh áp dụng tùy tiện trong thực tiễn, bảo đảm an toàn về sức khỏe và tính mạng cho người bệnh.  

    Chương VII – Sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong khám bệnh chữa bệnh

    Gồm 8 Điều (từ Điều 73 đến Điều 80) được chia thành 2 mục: 

    Mục 1. Sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh chữa bệnh (từ Điều 73 đến Điều 78) quy định về xác định người hành nghề có sai sót hoặc không có sai sót chuyên môn kỹ thuật; thành lập hội đồng chuyên môn; thành phần, nguyên tắc hoạt động và nhiệm vụ của hội đồng chuyên môn; trách nhiệm của người hành nghề, cơ sở khám bệnh chữa bệnh khi xảy ra tai biến trong khám bệnh chữa bệnh; xác định mức bồi thường thiệt hại do sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến trong khám bệnh chữa bệnh và bảo hiểm trách nhiệm trong trong khám bệnh chữa bệnh.

    Mục 2. Khiếu nại, tố cáo và giải quyết tranh chấp về khám bệnh chữa bệnh (từ Điều 79 đến Điều 80) quy định về khiếu nại, tố cáo về khám bệnh chữa bệnh và tranh chấp về khám bệnh chữa bệnh.

    Chương VIII- Các điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh chữa bệnh

    Gồm 9 điều (từ Điều 81 đến Điều 89) quy định về hệ thống tổ chức cơ sở khám bệnh chữa bệnh; quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh chữa bệnh; đào tạo, bồi dưỡng người hành nghề; chế độ đối với người hành nghề; các nguồn tài chính phục vụ cho công tác khám bệnh chữa bệnh; ngân sách nhà nước chi cho công tác y tế; xã hội hóa công tác khám bệnh chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh chữa bệnh; quỹ hỗ trợ khám bệnh chữa bệnh.

    Nội dung của Chương này tập trung vào việc quy định cơ chế bảo đảm các nguồn lực nhằm bảo đảm thực hiện tốt công tác khám bệnh chữa bệnh như tài chính, cơ sở vật chất, con người, chế độ đối với người hành nghề khám bệnh chữa bệnh…

    Chương VI – Điều khoản thi hành

    Gồm 2 Điều (từ Điều 90 đến Điều 91) quy định về hiệu lực thi hành và quy định chi tiết thi hành.

    CÁC CHẾ ĐỊNH PHÁP LUẬT CẦN QUAN TÂM TRONG LUẬT KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

    Nhất thể pháp luật giữa khu vực khám bệnh chữa bệnh Nhà nước và tư nhân

    Luật đã nhất thể hóa về mặt pháp luật, tạo sự công bằng, bình đẳng giữa khu vực khám bệnh chữa bệnh Nhà nước và tư nhân, từ đó đã tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa những người hành nghề và giữa các cơ sở khám bệnh chữa bệnh trong cả hai khu vực này nhằm đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của công tác khám bệnh chữa bệnh. Điều này được thể hiện qua các quy định của Luật như: quy định về điều kiện đối với người hành nghề tại Mục 1 Chương III và mục I Chương IV của Luật, theo đó người hành nghề dù làm việc trong khu vực Nhà nước hay tư nhân đều phải đáp ứng các điều kiện như nhau trong cùng một mặt bằng pháp luật; tương tự đối với các cơ sở khám bệnh chữa bệnh cũng vậy cho dù là cơ sở của Nhà nước hay của tư nhân đều phải tuân thủ và đáp ứng đầy đủ các điều kiện tối thiểu mà một cơ sở khám bệnh chữa bệnh phải có được nhằm đáp ứng yêu cầu của công tác khám bệnh chữa bệnh. Từ đó, chứng chỉ hành nghề sẽ được cấp cho tất cả những người hành nghề có đủ điều kiện hành nghề trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân (thay vì theo quy định định trước đây chỉ cấp cho người đứng đầu của cơ sở khám bệnh chữa bệnh tư nhân), giấy phép hoạt động sẽ được cấp cho tất cả các cơ sở khám bệnh chữa bệnh có đủ điều kiện trong khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân (thay vì theo quy định của pháp luật trước đây, việc cấp phép này chỉ được thực hiện đối với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tư nhân). Luật cũng quy định rất rõ tại Điều 29 và Điều 48 về các trường hợp chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề bị đình chỉ, thu hồi và quy định này cũng được áp dụng đối với bất kỳ người hành nghề hoặc cơ sở khám bệnh chữa bệnh nào vi phạm luật.  

    Tiếp cận quyền của người bệnh theo hướng tôn trọng quyền con người

    Đây là đạo luật đầu tiên về y tế đề cập đầy đủ đến quyền và nghĩa vụ của người bệnh, quyền và nghĩa vụ của người hành nghề. Cụ thể, toàn bộ chương II của Luật đã đưa ra các quy định rất cụ thể và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của người bệnh, theo đó, người bệnh có các quyền sau: Quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế; quyền được tôn trọng bí mật riêng tư; quyền được tôn trọng danh dự; bảo vệ sức khỏe trong khám bệnh chữa bệnh, quyền được lựa chọn trong khám bệnh chữa bệnh; quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí khám bệnh chữa bệnh; quyền được từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ sở khám bệnh chữa bệnh; quyền của người bệnh bị mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Bên cạnh các quyền của mình, người bệnh còn phải thực hiện các nghĩa vụ sau: Nghĩa vụ tôn trọng người hành nghề; nghĩa vụ chấp hành các quy định trong khám bệnh chữa bệnh; nghĩa vụ chi trả chi phí khám bệnh chữa bệnh.

    Tương ứng với quyền và nghĩa vụ của người bệnh, Luật đã quy định khá rõ nét về quyền và nghĩa vụ của người hành nghề thể hiện tại Mục 3 Chương III của Luật. Theo đó, để bảo đảm an toàn, chất lượng chuyên môn trong quá trình hành nghề, người hành nghề có những quyền sau: Quyền được hành nghề, quyền từ chối khám bệnh chữa bệnh, quyền được nâng cao năng lực huyên môn; quyền được bảo vệ khi xảy ra tai biến đối với người bệnh; quyền được bảo đảm an toàn khi hành nghề. Các quy định này đã thể hiện được những quyền lợi chính đáng mà người hành nghề có quyền được hưởng, đặc biệt là quyền được bảo vệ khi xảy ra tai nạn nghề nghiệp đối với thầy thuốc và nhân viên y tế cũng chưa được pháp luật đề cập nên dẫn đến tình trạng khiếu kiện xảy ra nhiều trong khi đó thủ tục và trình tự giải quyết các khiếu kiện này cũng chưa được quy định cụ thể. Bên cạnh việc quy định quyền, luật cũng quy định khá cụ thể về nghĩa vụ của người hành nghề như: Nghĩa vụ đối với người bệnh; nghĩa vụ đối với nghề nghiệp; nghĩa vụ đối với đồng nghiệp; nghĩa vụ đối với xã hội; nghĩa vụ thực hiện đạo đức nghề nghiệp. Các quy định này đã đề cập một cách rõ ràng về nghĩa vụ của người hành nghề đối với từng nhóm đối tượng khác nhau mà họ phải tiếp xúc trong quá trình hành nghề và thông qua đó tính chất nghề nghiệp được giữ gìn và bảo vệ.    

    Nguyên tắc cơ bản trong hành nghề khám bệnh chữa bệnh

    Điều 3 Luật Khám bệnh chữa bệnh đã đưa ra các nguyên tắc cơ bản trong khám bệnh chữa bệnh. Đây là các nguyên tắc được áp dụng thống nhất và xuyên suốt trong Luật này. Đó là các nguyên tắc:

    Bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh.

    Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 11 và khoản 4 Điều 59 của Luật này.

    Kịp thời và tuân thủ đúng quy định chuyên môn kỹ thuật.

    Ưu tiên khám bệnh chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai.

    Bảo đảm đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề.

    Tôn trọng, hợp tác và bảo vệ người hành nghề khi làm nhiệm vụ.

    Trong 6 nguyên tắc này thì có 5 nguyên tắc dành cho người hành nghề khám bệnh chữa bệnh và chỉ có một nguyên tắc dành cho người bệnh đã thể hiện nhất quán quan điểm lấy người bệnh làm trung tâm trong các hoạt động khám bệnh chữa bệnh.

    Các hành vi bị nghiêm cấm

    Từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh.

    Khám bệnh, chữa bệnh không có chứng chỉ hành nghề hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hành nghề; cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động. – Hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động, trừ trường hợp cấp cứu.

    Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hoạt động.

    Người hành nghề bán thuốc cho người bệnh dưới mọi hình thức, trừ bác sỹ đông y, y sỹ đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền. – Áp dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật y tế chưa được công nhận, sử dụng thuốc chưa được phép lưu hành trong khám bệnh, chữa bệnh.

    Người hành nghề sử dụng rượu, bia, thuốc lá hoặc có nồng độ cồn trong máu, hơi thở khi khám bệnh, chữa bệnh.

    Vi phạm quyền của người bệnh; không tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh; lạm dụng nghề nghiệp để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể người bệnh; tẩy xóa, sửa chữa hồ sơ bệnh án nhằm làm sai lệch thông tin về khám bệnh, chữa bệnh.

    Gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người hành nghề. 

    Ngăn cản người bệnh thuộc diện chữa bệnh bắt buộc vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc cố ý thực hiện chữa bệnh bắt buộc đối với người không thuộc diện chữa bệnh bắt buộc.

    Cán bộ, công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước.

    Đưa, nhận, môi giới hối lộ trong khám bệnh, chữa bệnh.

    Nâng cao kỹ năng thực hành của người hành nghề khám bệnh chữa bệnh

    Luật đã thiết lập một cơ chế pháp lý rõ ràng bảo đảm nâng cao năng lực của người hành nghề, đặc biệt các quy định về điều kiện đối với người hành nghề đã tiếp cận được các chuẩn mực của pháp luật quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh. Cụ thể luật đưa ra các quy định cụ thể về điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam; điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; điều kiện cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với các trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề, trong đó có các trường hợp “Người hành nghề không hành nghề trong thời gian 2 năm liên tục; Người hành nghề được xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng người bệnh; Người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong thời gian 02 năm liên tiếp”. Đặc biệt, luật quy định “có giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức y khoa liên tục” là một trong các điều kiện để không bị thu hồi chứng chỉ hành nghề. Một vấn đề rất cần thiết trong công tác khám bệnh, chữa bệnh nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập hiện nay cũng đã được quy định tại Điều 22 của luật về thừa nhận chứng chỉ hành nghề, đó là “Việc thừa nhận chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh giữa các nước được thực hiện theo quy định của thảo thuận quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”. Ngoài ra, tại Điều 23 của luật quy định về sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trong đó có quy định cụ thể “Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh cho người Việt Nam được xác định là biết tiếng Việt thành thạo và người được xác định là đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh khi được cơ sở đào tạo chuyên ngành y do Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ định kiểm tra và công nhận. Như vậy, thay vì quy định việc xem xét khả năng biết tiếng Việt thành thạo chỉ mang tính hình thức qua việc xem xét văn bằng, chứng chỉ, luật khám bệnh, chữa bệnh đã đưa ra quy định việc thực hiện kiểm tra và công nhận khả năng, trình độ thực tế trong sử dụng tiếng Việt của người nước ngoài, người phiên dịch bởi một cơ sở đào tạo chuyên ngành y do Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ định. Đây là phương thức công nhận hết sức tiến bộ, phù hợp với xu hướng hội nhập hiện nay.  

    Vấn đề khám bệnh chữa bệnh nhân đạo, việc chuyển giao các kỹ thuật chuyên môn về khám, chữa bệnh nhân, hợp tác đào tạo về y có thực hành khám bệnh chữa bệnh

    Đây cũng là một nội dung rất mới được đưa vào Luật. Theo đó, cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có quyền đề nghị được tổ chức khám bệnh chữa bệnh nhân đạo hoặc chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh chữa bệnh hoặc hợp tác đào tạo về y có thực hành khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam. Quy định này nhằm mở rộng, phát triển và đa dạng hóa các hình thức khám bệnh chữa bệnh, cũng như việc hợp tác trao đổi kinh nghiệm giữa các nước. 

    Điều kiện cấp giấy phép hoạt động cho cơ sở khám bệnh chữa bệnh

    Các quy định về điều kiện cấp giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh chữa bệnh trong Luật chính là nền tảng để nâng cao chất lượng khám bệnh chữa bệnh. Điều này được thể hiện rõ tại Điều 43 của Luật như sau “Đáp ứng các quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành; có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn; người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 36 tháng”. Các quy định về công nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã đáp ứng các tiêu chuẩn của quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh và tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhằm hướng đến việc cung cấp các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tốt nhất cho người bệnh, cụ thể tại khoản 1 Điều 50 của Luật có quy định “Tiêu chuẩn quản lý chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là yêu cầu về đặc tính kỹ thuật và quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá chất lượng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do tổ chức trong nước hoặc nước ngoài ban hành được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận”. 

    Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh

    Luật đã đưa ra những quy định về thời hạn, giá trị của chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động của cơ sở khám bệnh chữa bệnh. Đó là, theo quy định tại Điều 25 của Luật thì chứng chỉ hành nghề được cấp một lần và có giá trị trong phạm vi cả nước; tại Điều 44 của Luật quy định giấy phép hoạt động được cấp một lần cho cơ sở khám bệnh chữa bệnh. Quy định theo hướng này có ưu điểm là đơn giản, bớt tốn kém, thuận lợi cho cả cơ quan quản lý nhà nước và người hành nghề, cơ sở khám bệnh chữa bệnh, hạn chế thủ tục xin cho, phù hợp với điều kiện của cơ quan quản lý nhà nước và xu thế cải cách hành chính, đặc biệt đối với người hành nghề, việc quy định chứng chỉ hành nghề có giá trị trong phạm vi toàn quốc tạo điều kiện thuận lợi cho người hành nghề trong giao lưu quốc tế về chuyên môn kỹ thuật thông qua việc thừa nhận chứng chỉ hành nghề giữa các nước. Tuy nhiên, đã cũng chính là điểm hạn chế của Luật vì không có nước nào trên thế giới quy định thời hạn của chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động vĩnh viễn như Việt Nam.

    Chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh chữa bệnh

    Đây là nội dung mới mà chưa được luật nào đề cập, Luật khám bệnh chữa bệnh đã đưa ra một loạt các quy định chuyên môn như: Cấp cứu, chẩn đoán bệnh, chỉ định phương pháp điều trị và kê đơn thuốc, hội chẩn, điều trị ngoại trú, điều trị nội trú, hồ sơ bệnh án…

    Trong quy định về hồ sơ bệnh án có chế định về việc lưu hồ sơ bệnh án bằng bản điện tử, việc khai thác hồ sơ bệnh án trong một số trường hợp cụ thể và quy định về quyền của người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh được nhận bản tóm tắt hồ sơ bệnh án theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này (điểm c, khoản 4 Điều 59)… Đây là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc triển khai thực hiện các hoạt động về chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh và cũng là cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bệnh và người hành nghề khám bệnh chữa bệnh.

    Áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh chữa bệnh

    Vấn đề này mới chỉ được quy định rải rác tại các văn bản cấp Bộ, vì vậy trong thực tế thực hiện các quy định này đã gặp một số các khó khăn, vướng mắc. Mặt khác, do quy định ở văn bản cấp Bộ ban hành nên hiệu lực pháp lý của các quy định chưa cao, đặc biệt nhiều quy định còn chưa rõ ràng. Chính vì vậy, vấn đề này đã được luật hóa bởi một chương trong Luật, bao gồm các quy định về điều kiện áp dụng, thẩm quyền cho phép áp dụng, hồ sơ, thủ tực cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh,chữa bệnh tại Việt Nam. Theo đó, thẩm quyền cho phép áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh được gia cho Bộ trưởng Bộ Y tế và Giám đốc Sở y tế các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Các quy định này chính là cơ sở pháp lý để Việt Nam tiếp cận nền khoa học kỹ thuật tiến tiến của các nước trên thế giới và áp dụng trực tiếp trong hoạt động khám bệnh, chữa bệnh, góp phần nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh và đáp ứng yêu cầu hội nhập.  

    Sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh chữa bệnh

    Một vấn đề mới nữa cũng được đề cập trong Luật, đó là các quy định về sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh, theo đó Luật đã đặt ra cơ chế pháp lý để bảo vệ các quyền của người bệnh cũng như của người hành nghề trong khám bệnh, chữa bệnh, đồng thời cũng nhằm nâng cao trách nhiệm của người hành nghề trong quá trình khám bệnh chữa bệnh. Cụ thể, luật đã đưa ra các quy định cụ thể về xác định người hành nghề có sai sót hoặc không có sai sót chuyên môn kỹ thuật, thành lập Hội đồng chuyên môn để xác định người hành nghề có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật; trách nhiệm của người hành nghề, cơ sở khám bệnh chữa bệnh khi xảy ra tai biến trong khám bệnh chữa bệnh và bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh chữa bệnh.

    Điều 73 Luật Khám bệnh chữa bệnh quy định rõ việc xác định người hành nghề có sai sót hoặc không có sai sót chuyên môn kỹ thuật như sau: Người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn xác định đã có một trong các hành vi sau đây: vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc và điều trị người bệnh; vi phạm các quy định chuyên môn kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp; xâm phạm quyền của người bệnh. Đồng thời Luật Khám bệnh chữa bệnh cũng xác định người hành nghề không có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn  xác định thuộc một trong các trường hợp sau đây: đã thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh nhưng vẫn xảy ra tai biến đối với người bệnh; trong trường hợp cấp cứu nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu người hành nghề theo quy định của pháp luật mà không thể khắc phục được hoặc bệnh đó chưa có quy định chuyên môn để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh; các trường hợp bất khả kháng khác dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh.

    Khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại tố cáo về khám bệnh chữa bệnh

    Điều 80 Luật khám bệnh chữa bệnh đã quy định cụ thể cách thức giải quyết tranh chấp về khám bệnh chữa bệnh như sau:

    Tranh chấp về khám bệnh chữa bệnh được giải quyết như sau: các bên tranh chấp có trách nhiệm tự hòa giải về nội dung tranh chấp; trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật. 

    Luật Khám bệnh, chữa bệnh được Quốc hội thông qua và được Chủ tịch nước công bố là một sự kiện hết sức quan trọng. Luật đã thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng về khám bệnh chữa bệnh, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hoạt động khám bệnh chữa bệnh trong giai đoạn đổi mới hệ thống y tế hiện nay, góp phần tích cực vào việc thực hiện thành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    Luật Khám bệnh, chữa bệnh 

    Nghị quyết số 46 NQ/TW ngày 23 tháng 2 năm 2005 về công tác chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới

    Quyết định153/2006/QĐ-TTg ngày 30 tháng 6 năm 2006 phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế Việt Nam giai đoạn đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2022 

    Quy hoạch hệ thống y tế năm 2007.

    Tổng cục thống kê, Niên giám thống kê y tế năm 2009 – tr 49.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Chi Tiết Một Số Điều Của Luật Kế Toán Đã Cởi Bỏ Các Thủ Tục Cứng Nhắc
  • Hướng Dẫn Thủ Tục Kết Hôn Giữa Người Việt Nam Với Người Mỹ
  • Cách Chơi Bài Joker Hay Và Thú Vị Nhất Cho Tân Game Thủ
  • Khám Phá Cách Chơi Bài Joker Chuẩn Chỉnh Nhất Cho Bạn!
  • Cách Chơi Bài Joker Đỉnh Cao Được Chia Sẻ Từ Cao Thủ Game Bài
  • Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh 2009, Luật Khám Chữa Bệnh Số 40/2009/qh12

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Thủ Tục Cấp Chứng Chỉ Hành Nghề Khám Bệnh, Chữa Bệnh
  • Quy Định Về Đối Tượng Bhyt Được Khám Chữa Bệnh Ưu Tiên
  • Những Ai Được Khám, Chữa Bệnh Bhyt Ưu Tiên?
  • Quy Định Ưu Tiên Khám Và Xử Trí Người Bệnh Cấp Cứu
  • Tải Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh Năm 2009
  • KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH CỦA QUỐC HỘI KHÓA XII, KỲ HỌP THỨ 6

    SỐ 40/2009/QH12 NGÀY 23 THÁNG 11 NĂM 2009 Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành Luật khám bệnh, chữa bệnh. CHƯƠNG I

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Luật này quy định quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh; sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh.

    1. Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.

    2. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh.

    3. Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    4. Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này (sau đây gọi chung là chứng chỉ hành nghề).

    5. Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật này (sau đây gọi chung là giấy phép hoạt động).

    6. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cấp chứng chỉ hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi chung là người hành nghề).

    7. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    8. Lương y là người có hiểu biết về lý luận y dược học cổ truyền, có kinh nghiệm khám bệnh, chữa bệnh bằng phương pháp y dược học cổ truyền có dùng thuốc hoặc không dùng thuốc được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế công nhận sau khi có ý kiến của Hội đông y trung ương hoặc Hội đông y cấp tỉnh.

    9. Người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền là người sở hữu bài thuốc hoặc phương pháp chữa bệnh theo kinh nghiệm lâu đời do dòng tộc, gia đình truyền lại, điều trị có hiệu quả đối với một hoặc vài bệnh, chứng nhất định được Sở Y tế công nhận sau khi có ý kiến của Hội đông y cấp tỉnh.

    10. Cập nhật kiến thức y khoa liên tục là việc người hành nghề tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, hội nghị, hội thảo về y khoa thuộc lĩnh vực hành nghề theo chương trình do Bộ Y tế phê duyệt hoặc công nhận và được cấp giấy chứng nhận theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    11. Người bệnh không có người nhận là người bệnh đang ở trong tình trạng cấp cứu, bị bệnh tâm thần hoặc bị bỏ rơi, bao gồm cả trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy tờ tùy thân, không xác định được địa chỉ cư trú.

    13. Tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh là hậu quả gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh do sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh hoặc rủi ro xảy ra ngoài ý muốn trong khám bệnh, chữa bệnh mặc dù người hành nghề đã tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật.

    Điều 3. Nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh

    1. Bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh.

    2. Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 11 và khoản 4 Điều 59 của Luật này.

    3. Kịp thời và tuân thủ đúng quy định chuyên môn kỹ thuật.

    4. Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai.

    5. Bảo đảm đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề.

    6. Tôn trọng, hợp tác và bảo vệ người hành nghề khi làm nhiệm vụ.

    Điều 4. Chính sách của Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh

    1. Ưu tiên bố trí ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân. Quan tâm dành ngân sách cho việc chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng, trẻ em, người nghèo, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, nhân dân ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

    2. Tăng cường phát triển nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là nguồn nhân lực y tế ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Thực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến trên xuống tuyến dưới, từ vùng có điều kiện kinh tế – xã hội không khó khăn đến vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

    3. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    4. Khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong khám bệnh, chữa bệnh.

    5. Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 5. Trách nhiệm quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    a) Xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Chỉ đạo hướng dẫn, tuyên truyền và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    c) Quản lý thống nhất việc cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động;

    d) Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    đ) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;

    e) Tổ chức đào tạo, đào tạo liên tục, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực; hướng dẫn việc luân phiên người hành nghề; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong khám bệnh, chữa bệnh;

    g) Thực hiện hợp tác quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh; thừa nhận chứng chỉ hành nghề giữa các nước; hướng dẫn khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo; hợp tác chuyên gia, chuyển giao kỹ thuật và phương pháp chữa bệnh mới.

    3. Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện và hướng dẫn việc khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định của Luật này và phù hợp với điều kiện thực tế của quân đội.

    4. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh.

    5. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi địa phương.

    Điều 6. Các hành vi bị cấm

    1. Từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh.

    2. Khám bệnh, chữa bệnh không có chứng chỉ hành nghề hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hành nghề; cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy phép hoạt động hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động.

    3. Hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động, trừ trường hợp cấp cứu.

    4. Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hoạt động.

    5. Người hành nghề bán thuốc cho người bệnh dưới mọi hình thức, trừ bác sỹ đông y, y sỹ đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền.

    6. Áp dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật y tế chưa được công nhận, sử dụng thuốc chưa được phép lưu hành trong khám bệnh, chữa bệnh.

    8. Sử dụng hình thức mê tín trong khám bệnh, chữa bệnh.

    9. Người hành nghề sử dụng rượu, bia, thuốc lá hoặc có nồng độ cồn trong máu, hơi thở khi khám bệnh, chữa bệnh.

    10. Vi phạm quyền của người bệnh; không tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh; lạm dụng nghề nghiệp để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể người bệnh; tẩy xóa, sửa chữa hồ sơ bệnh án nhằm làm sai lệch thông tin về khám bệnh, chữa bệnh.

    11. Gây tổn hại đến sức khoẻ, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người hành nghề.

    12. Ngăn cản người bệnh thuộc diện chữa bệnh bắt buộc vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc cố ý thực hiện chữa bệnh bắt buộc đối với người không thuộc diện chữa bệnh bắt buộc.

    13. Cán bộ, công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phần vốn của Nhà nước.

    14. Đưa, nhận, môi giới hối lộ trong khám bệnh, chữa bệnh.

    CHƯƠNG II

    QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỆNH Mục 1

    QUYỀN CỦA NGƯỜI BỆNH Điều 7. Quyền được khám bệnh, chữa bệnh có chất lượng phù hợp với điều kiện thực tế

    1. Được tư vấn, giải thích về tình trạng sức khỏe, phương pháp điều trị và dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với bệnh.

    2. Được điều trị bằng phương pháp an toàn, hợp lý và có hiệu quả theo các quy định chuyên môn kỹ thuật.

    Điều 8. Quyền được tôn trọng bí mật riêng tư

    1. Được giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án.

    2. Thông tin quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được phép công bố khi người bệnh đồng ý hoặc để chia sẻ thông tin, kinh nghiệm nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán, chăm sóc, điều trị người bệnh giữa những người hành nghề trong nhóm trực tiếp điều trị cho người bệnh hoặc trong trường hợp khác được pháp luật quy định.

    Điều 9. Quyền được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe trong khám bệnh, chữa bệnh

    1. Không bị kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc bị ép buộc khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật này.

    2. Được tôn trọng về tuổi tác, giới tính, dân tộc, tín ngưỡng.

    3. Không bị phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội.

    Điều 10. Quyền được lựa chọn trong khám bệnh, chữa bệnh

    1. Được cung cấp thông tin, giải thích, tư vấn đầy đủ về tình trạng bệnh, kết quả, rủi ro có thể xảy ra để lựa chọn phương pháp chẩn đoán và điều trị.

    2. Chấp nhận hoặc từ chối tham gia nghiên cứu y sinh học về khám bệnh, chữa bệnh.

    3. Được lựa chọn người đại diện để thực hiện và bảo vệ quyền, nghĩa vụ của mình trong khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 11. Quyền được cung cấp thông tin về hồ sơ bệnh án và chi phí khám bệnh, chữa bệnh

    1. Được cung cấp thông tin tóm tắt về hồ sơ bệnh án nếu có yêu cầu bằng văn bản, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    2. Được cung cấp thông tin về giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, giải thích chi tiết về các khoản chi trong hoá đơn thanh toán dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 12. Quyền được từ chối chữa bệnh và ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Được từ chối xét nghiệm, sử dụng thuốc, áp dụng thủ thuật hoặc phương pháp điều trị nhưng phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc từ chối của mình, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật này.

    2. Được ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi chưa kết thúc điều trị nhưng phải cam kết tự chịu trách nhiệm bằng văn bản về việc ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trái với chỉ định của người hành nghề, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 66 của Luật này.

    Điều 13. Quyền của người bệnh bị mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi

    1. Trường hợp người bệnh bị mất năng lực hành vi dân sự, không có năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi thì người đại diện hợp pháp của người bệnh quyết định việc khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Trường hợp cấp cứu, để bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người bệnh, nếu không có mặt người đại diện hợp pháp của người bệnh thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định việc khám bệnh, chữa bệnh.

    Mục 2

    NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI BỆNH

    Điều 14. Nghĩa vụ tôn trọng người hành nghề

    Tôn trọng và không được có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng của người hành nghề và nhân viên y tế khác.

    2. Chấp hành chỉ định chẩn đoán, điều trị của người hành nghề, trừ trường hợp quy định tại Điều 12 của Luật này.

    3. Chấp hành và yêu cầu người nhà của mình chấp hành nội quy của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 16. Nghĩa vụ chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh

    Người bệnh có trách nhiệm chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp được miễn, giảm theo quy định của pháp luật. Trường hợp người bệnh tham gia bảo hiểm y tế thì việc thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế.

    CHƯƠNG III

    NGƯỜI HÀNH NGHỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Mục 1

    ĐIỀU KIỆN ĐỐI VỚI NGƯỜI HÀNH NGHỀ Điều 17. Người xin cấp chứng chỉ hành nghề

    2. Điều dưỡng viên.

    3. Hộ sinh viên.

    4. Kỹ thuật viên.

    6. Người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.

    Điều 18. Điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam

    1. Có một trong các văn bằng, giấy chứng nhận sau đây phù hợp với hình thức hành nghề khám bệnh, chữa bệnh:

    b) Giấy chứng nhận là lương y;

    c) Giấy chứng nhận là người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.

    2. Có văn bản xác nhận quá trình thực hành, trừ trường hợp là lương y, người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền.

    3. Có giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 19. Điều kiện để cấp chứng chỉ hành nghề tại Việt Nam đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

    1. Có đủ điều kiện quy định tại Điều 18 của Luật này.

    2. Đáp ứng yêu cầu về sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 23 của Luật này.

    3. Có lý lịch tư pháp được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại xác nhận.

    4. Có giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động của Việt Nam cấp theo quy định của pháp luật về lao động.

    Điều 20. Điều kiện cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với trường hợp bị thu hồi chứng chỉ hành nghề

    1. Có đủ điều kiện quy định tại Điều 18 của Luật này đối với người Việt Nam hoặc Điều 19 của Luật này đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trừ điều kiện về văn bản xác nhận quá trình thực hành.

    2. Có giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức y khoa liên tục.

    Điều 21. Khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo, chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh, hợp tác đào tạo về y có thực hành khám bệnh, chữa bệnh

    1. Cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có quyền đề nghị được tổ chức khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo hoặc chuyển giao kỹ thuật chuyên môn về khám bệnh, chữa bệnh hoặc hợp tác đào tạo về y có thực hành khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam.

    2. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết về điều kiện, hồ sơ, thủ tục đề nghị và thẩm quyền cho phép khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

    Điều 22. Thừa nhận chứng chỉ hành nghề

    Việc thừa nhận chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh giữa các nước được thực hiện theo quy định của thỏa thuận quốc tế hoặc điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

    Điều 23. Sử dụng ngôn ngữ trong khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam của người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài

    1. Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh cho người Việt Nam phải biết tiếng Việt thành thạo; trường hợp không biết tiếng Việt thành thạo thì phải đăng ký ngôn ngữ sử dụng và có người phiên dịch.

    2. Việc chỉ định điều trị, kê đơn thuốc phải ghi bằng tiếng Việt; trường hợp người hành nghề không biết tiếng Việt thành thạo thì việc chỉ định điều trị, kê đơn thuốc phải ghi bằng ngôn ngữ mà người hành nghề đã đăng ký sử dụng và người phiên dịch phải dịch sang tiếng Việt.

    3. Người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh cho người Việt Nam được xác định là biết tiếng Việt thành thạo và người được xác định là đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh khi được cơ sở đào tạo chuyên ngành y do Bộ trưởng Bộ Y tế chỉ định kiểm tra và công nhận.

    Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết về tiêu chí để công nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh.

    4. Người phiên dịch phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác của nội dung phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh.

    a) 18 tháng thực hành tại bệnh viện, viện nghiên cứu có giường bệnh (sau đây gọi chung là bệnh viện) đối với bác sỹ;

    b) 12 tháng thực hành tại bệnh viện đối với y sỹ;

    c) 09 tháng thực hành tại bệnh viện có khoa phụ sản hoặc tại nhà hộ sinh đối với hộ sinh viên;

    d) 09 tháng thực hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đối với điều dưỡng viên, kỹ thuật viên.

    2. Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm xác nhận bằng văn bản về quá trình thực hành cho người đã thực hành tại cơ sở của mình, bao gồm nội dung về thời gian, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp.

    Điều 25. Chứng chỉ hành nghề

    1. Chứng chỉ hành nghề được cấp cho người có đủ điều kiện quy định tại Điều 18 hoặc Điều 19 của Luật này.

    2. Chứng chỉ hành nghề được cấp một lần và có giá trị trong phạm vi cả nước.

    3. Nội dung của chứng chỉ hành nghề bao gồm:

    a) Họ và tên, ngày tháng năm sinh, địa chỉ cư trú, bằng cấp chuyên môn;

    c) Phạm vi hoạt động chuyên môn.

    4. Trường hợp chứng chỉ hành nghề bị mất hoặc bị hư hỏng, người hành nghề được cấp lại chứng chỉ hành nghề.

    5. Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành mẫu chứng chỉ hành nghề.

    6. Chính phủ quy định lộ trình cấp chứng chỉ hành nghề để bảo đảm đến ngày 01 tháng 01 năm 2022, tất cả đối tượng đang tham gia khám bệnh, chữa bệnh ở các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước vào thời điểm Luật này có hiệu lực phải có chứng chỉ hành nghề.

    Mục 2

    THẨM QUYỀN, HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI VÀ THU HỒI

    CHỨNG CHỈ HÀNH NGHỀ Điều 26. Thẩm quyền cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề

    1. Bộ trưởng Bộ Y tế cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với các trường hợp sau đây:

    a) Người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế;

    b) Người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc các bộ khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này;

    c) Người nước ngoài đến hành nghề khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam.

    2. Giám đốc Sở Y tế cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn quản lý, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này.

    3. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc cấp, cấp lại và thu hồi chứng chỉ hành nghề đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.

    Điều 27. Hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề

    1. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam bao gồm:

    a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề;

    b) Bản sao văn bằng hoặc giấy chứng nhận trình độ chuyên môn;

    c) Văn bản xác nhận quá trình thực hành;

    d) Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp;

    đ) Phiếu lý lịch tư pháp;

    e) Sơ yếu lý lịch có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) nơi cư trú hoặc xác nhận của Thủ trưởng đơn vị nơi công tác.

    2. Hồ sơ đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bao gồm:

    a) Đơn đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề;

    b) Bản sao văn bằng chuyên môn;

    c) Văn bản xác nhận quá trình thực hành;

    d) Văn bản xác nhận biết tiếng Việt thành thạo hoặc hồ sơ của người phiên dịch theo quy định tại khoản 3 Điều 23 của Luật này;

    đ) Giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế cấp;

    e) Phiếu lý lịch tư pháp;

    g) Giấy phép lao động do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về lao động của Việt Nam cấp.

    3. Người bị mất hoặc bị hư hỏng chứng chỉ hành nghề hoặc bị thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 29 của Luật này thì chỉ phải làm đơn đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề.

    4. Hồ sơ đề nghị cấp lại chứng chỉ hành nghề trong trường hợp bị thu hồi quy định tại các điểm c, d, đ, e và g khoản 1 Điều 29 của Luật này bao gồm:

    a) Các giấy tờ theo quy định tại khoản 1 Điều này đối với người Việt Nam hoặc khoản 2 Điều này đối với người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, trừ văn bản xác nhận quá trình thực hành;

    b) Giấy chứng nhận đã cập nhật kiến thức y khoa liên tục.

    Điều 28. Thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề

    1. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề quy định tại Điều 27 của Luật này được nộp cho Bộ Y tế hoặc Bộ Quốc phòng hoặc Sở Y tế.

    2. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế phải cấp chứng chỉ hành nghề; trường hợp cần xác minh đối với người được đào tạo ở nước ngoài hoặc có chứng chỉ hành nghề do nước ngoài cấp thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 180 ngày; nếu không cấp chứng chỉ hành nghề thì phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do.

    3. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế phải cấp lại chứng chỉ hành nghề; nếu không cấp lại chứng chỉ hành nghề thì phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do.

    4. Bộ trưởng Bộ Y tế thành lập Hội đồng tư vấn với sự tham gia của đại diện tổ chức xã hội – nghề nghiệp về y, hội luật gia, cơ sở đào tạo y khoa, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, tổ chức xã hội về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và một số tổ chức xã hội khác để tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Y tế trong việc cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề; đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề; xây dựng các tiêu chuẩn công nhận nội dung, hình thức cập nhật kiến thức y khoa liên tục và điều kiện đối với các cơ sở thực hiện cập nhật kiến thức y khoa liên tục; quy định nội dung, hình thức và tổ chức kiểm tra để xác nhận bằng văn bản người biết tiếng Việt thành thạo và người đủ trình độ phiên dịch trong khám bệnh, chữa bệnh.

    Giám đốc Sở Y tế thành lập Hội đồng tư vấn với sự tham gia của đại diện tổ chức xã hội – nghề nghiệp về y, hội luật gia, cơ sở đào tạo y khoa, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, tổ chức xã hội về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và một số tổ chức xã hội khác để tư vấn cho Giám đốc Sở Y tế trong việc cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hoạt động chuyên môn của người hành nghề.

    5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề đối với người làm việc tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.

    Điều 29. Thu hồi chứng chỉ hành nghề, đình chỉ hành nghề

    1. Chứng chỉ hành nghề bị thu hồi trong trường hợp sau đây:

    a) Chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền;

    b) Chứng chỉ hành nghề có nội dung trái pháp luật;

    c) Người hành nghề không hành nghề trong thời gian 02 năm liên tục;

    d) Người hành nghề được xác định có sai sót chuyên môn kỹ thuật gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng người bệnh;

    đ) Người hành nghề không cập nhật kiến thức y khoa liên tục trong thời gian 02 năm liên tiếp;

    e) Người hành nghề không đủ sức khỏe để hành nghề;

    g) Người hành nghề thuộc một trong các đối tượng quy định tại khoản 4 Điều 18 của Luật này.

    2. Khi phát hiện một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế ra quyết định thu hồi chứng chỉ hành nghề theo quy định tại Điều 26 của Luật này.

    3. Trong trường hợp phát hiện người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật mà không thuộc quy định tại điểm d khoản 1 Điều này thì tùy theo tính chất, mức độ sai sót, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của người hành nghề theo quy định của pháp luật.

    4. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định thủ tục thu hồi chứng chỉ hành nghề; thủ tục, thời gian đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của người hành nghề.

    5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định thủ tục thu hồi chứng chỉ hành nghề; thủ tục, thời gian đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.

    Điều 30. Lệ phí cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề

    1. Người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề phải nộp lệ phí.

    2. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu lệ phí cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề.

    Mục 3

    QUYỀN CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ Điều 31. Quyền được hành nghề

    1. Được hành nghề theo đúng phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong chứng chỉ hành nghề.

    2. Được quyết định và chịu trách nhiệm về chẩn đoán, phương pháp điều trị bệnh trong phạm vi hoạt động chuyên môn ghi trong chứng chỉ hành nghề.

    3. Được ký hợp đồng hành nghề khám bệnh, chữa bệnh với các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nhưng chỉ được chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật cho một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    4. Được tham gia các tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

    Điều 32. Quyền từ chối khám bệnh, chữa bệnh

    1. Được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nếu trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh mà tiên lượng bệnh vượt quá khả năng hoặc trái với phạm vi hoạt động chuyên môn của mình, nhưng phải báo cáo với người có thẩm quyền hoặc giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để giải quyết. Trong trường hợp này, người hành nghề vẫn phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị người bệnh cho đến khi người bệnh được chuyển đi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.

    2. Được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nếu việc khám bệnh, chữa bệnh đó trái với quy định của pháp luật hoặc đạo đức nghề nghiệp.

    Điều 33. Quyền được nâng cao năng lực chuyên môn

    1. Được đào tạo, đào tạo lại và cập nhật kiến thức y khoa liên tục phù hợp với trình độ chuyên môn hành nghề.

    2. Được tham gia bồi dưỡng, trao đổi thông tin về chuyên môn, kiến thức pháp luật về y tế.

    Điều 34. Quyền được bảo vệ khi xảy ra tai biến đối với người bệnh

    1. Được pháp luật bảo vệ và không phải chịu trách nhiệm khi thực hiện đúng quy định về chuyên môn kỹ thuật mà vẫn xảy ra tai biến.

    2. Được đề nghị cơ quan, tổ chức, hội nghề nghiệp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra tai biến đối với người bệnh.

    2. Được bảo vệ sức khỏe, tính mạng, danh dự, thân thể.

    3. Trường hợp bị người khác đe dọa đến tính mạng, người hành nghề được phép tạm lánh khỏi nơi làm việc, sau đó phải báo cáo với người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc chính quyền nơi gần nhất.

    Mục 4

    NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI HÀNH NGHỀ Điều 36. Nghĩa vụ đối với người bệnh

    1. Kịp thời sơ cứu, cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh cho người bệnh, trừ trường hợp quy định tại Điều 32 của Luật này.

    2. Tôn trọng các quyền của người bệnh, có thái độ ân cần, hòa nhã với người bệnh.

    3. Tư vấn, cung cấp thông tin theo quy định tại khoản 1 Điều 7 và khoản 1 Điều 11 của Luật này.

    4. Đối xử bình đẳng với người bệnh, không để lợi ích cá nhân hay sự phân biệt đối xử ảnh hưởng đến quyết định chuyên môn của mình.

    5. Chỉ được yêu cầu người bệnh thanh toán các chi phí khám bệnh, chữa bệnh đã niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

    Điều 37. Nghĩa vụ đối với nghề nghiệp

    1. Thực hiện đúng quy định chuyên môn kỹ thuật.

    2. Chịu trách nhiệm về việc khám bệnh, chữa bệnh của mình.

    3. Thường xuyên học tập, cập nhật kiến thức y khoa liên tục để nâng cao trình độ chuyên môn theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    4. Tận tâm trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh.

    5. Giữ bí mật tình trạng bệnh của người bệnh, những thông tin mà người bệnh đã cung cấp và hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8 của Luật này.

    6. Thông báo với người có thẩm quyền về người hành nghề có hành vi lừa dối người bệnh, đồng nghiệp hoặc vi phạm quy định của Luật này.

    7. Không được kê đơn, chỉ định sử dụng các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh, gợi ý chuyển người bệnh tới cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác vì vụ lợi.

    Điều 38. Nghĩa vụ đối với đồng nghiệp

    1. Hợp tác và tôn trọng đồng nghiệp trong khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Bảo vệ danh dự, uy tín của đồng nghiệp.

    Điều 39. Nghĩa vụ đối với xã hội

    1. Tham gia bảo vệ và giáo dục sức khoẻ tại cộng đồng.

    2. Tham gia giám sát về năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề khác.

    3. Chấp hành quyết định điều động của cơ quan quản lý trực tiếp theo quy định tại khoản 2 Điều 4 của Luật này.

    4. Chấp hành quyết định huy động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có thiên tai, thảm họa, dịch bệnh nguy hiểm.

    Điều 40. Nghĩa vụ thực hiện đạo đức nghề nghiệp

    Người hành nghề có nghĩa vụ thực hiện đạo đức nghề nghiệp theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    CHƯƠNG IV

    CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Mục 1

    HÌNH THỨC TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU KIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Điều 41. Các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Các hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

    b) Cơ sở giám định y khoa;

    d) Phòng khám chuyên khoa, bác sỹ gia đình;

    đ) Phòng chẩn trị y học cổ truyền;

    i) Trạm y tế cấp xã và tương đương;

    k) Các hình thức tổ chức khám bệnh, chữa bệnh khác.

    2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này và các hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quân đội.

    Điều 42. Điều kiện hoạt động của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Nhà nước thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.

    2. Có giấy phép hoạt động do Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp.

    Điều 43. Điều kiện cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp giấy phép hoạt động phải có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Đáp ứng các quy định của quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành;

    b) Có đủ người hành nghề phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn;

    c) Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có thời gian hành nghề khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 36 tháng.

    2. Trường hợp đăng ký thành lập phòng khám chuyên khoa hoặc bác sỹ gia đình thì ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người đứng đầu cơ sở phải là người hành nghề có bằng cấp chuyên môn phù hợp với loại hình hành nghề.

    3. Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định chi tiết điều kiện cấp giấy phép hoạt động quy định tại Điều này đối với từng hình thức tổ chức của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh theo thẩm quyền quản lý.

    Điều 44. Giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Giấy phép hoạt động được cấp một lần cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 43 của Luật này.

    2. Nội dung của giấy phép hoạt động bao gồm:

    a) Tên, hình thức tổ chức, địa điểm hoạt động;

    b) Phạm vi hoạt động chuyên môn;

    c) Thời gian làm việc hằng ngày.

    3. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi thay đổi quy mô, phạm vi hoạt động chuyên môn phải làm thủ tục đề nghị điều chỉnh giấy phép hoạt động; trường hợp thay đổi hình thức tổ chức, chia tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc thay đổi địa điểm phải làm thủ tục đề nghị cấp giấy phép hoạt động.

    4. Trường hợp giấy phép hoạt động bị mất hoặc bị hư hỏng hoặc bị thu hồi theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 48 của Luật này, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được cấp lại giấy phép hoạt động.

    5. Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành mẫu giấy phép hoạt động.

    6. Chính phủ quy định lộ trình cấp giấy phép hoạt động để bảo đảm đến ngày 01 tháng 01 năm 2022, tất cả cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước đang hoạt động vào thời điểm Luật này có hiệu lực phải có giấy phép hoạt động.

    Mục 2

    THẨM QUYỀN, HỒ SƠ, THỦ TỤC CẤP, CẤP LẠI, ĐIỀU CHỈNH VÀ THU HỒI GIẤY PHÉP HOẠT ĐỘNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Điều 45. Thẩm quyền cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Bộ trưởng Bộ Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế, bệnh viện tư nhân hoặc thuộc các bộ khác, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này và thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi cơ sở đó đặt trụ sở trong thời gian không quá 30 ngày kể từ ngày cấp, điều chỉnh hoặc thu hồi giấy phép hoạt động.

    2. Giám đốc Sở Y tế cấp, cấp lại, điều chỉnh và thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên địa bàn, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều này và thông báo cho Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi cơ sở đó đặt trụ sở trong thời gian 30 ngày kể từ ngày cấp, điều chỉnh hoặc thu hồi giấy phép hoạt động.

    3. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc cấp, cấp lại, điều chỉnh, thu hồi giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.

    Điều 46. Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại hoặc điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép hoạt động bao gồm:

    a) Đơn đề nghị cấp giấy phép hoạt động;

    b) Bản sao quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân hoặc giấy chứng nhận đầu tư đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vốn đầu tư nước ngoài;

    c) Bản sao chứng chỉ hành nghề của người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật, người phụ trách bộ phận chuyên môn và danh sách ghi rõ họ tên, số chứng chỉ, phạm vi hoạt động chuyên môn của từng người hành nghề đối với bệnh viện; bản sao chứng chỉ hành nghề của từng người hành nghề đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác;

    d) Bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế, bản mô tả mô hình tổ chức và hồ sơ nhân sự;

    đ) Tài liệu chứng minh cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 43 của Luật này;

    e) Đối với bệnh viện, ngoài các điều kiện quy định tại các điểm a, b, c, d và đ khoản này còn phải có Điều lệ tổ chức và hoạt động, phương án hoạt động ban đầu.

    2. Hồ sơ đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động bao gồm:

    a) Đơn đề nghị cấp lại giấy phép hoạt động;

    b) Bản gốc giấy phép bị hư hỏng (nếu có).

    3. Hồ sơ đề nghị điều chỉnh giấy phép hoạt động bao gồm:

    a) Đơn đề nghị điều chỉnh giấy phép hoạt động;

    b) Bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế và hồ sơ nhân sự tương ứng với quy mô hoặc phạm vi hoạt động chuyên môn dự kiến điều chỉnh.

    Điều 47. Thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Thủ tục cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quy định như sau:

    a) Hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động quy định tại Điều 46 của Luật này được nộp cho Bộ Y tế hoặc Bộ Quốc phòng hoặc Sở Y tế;

    b) Trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp hoặc điều chỉnh giấy phép hoạt động; nếu không cấp hoặc điều chỉnh giấy phép hoạt động thì phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do;

    c) Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp lại giấy phép hoạt động; nếu không cấp lại giấy phép hoạt động thì phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do.

    2. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định việc tổ chức thẩm định, thành phần thẩm định, thủ tục thẩm định để cấp, điều chỉnh giấy phép hoạt động.

    3. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định việc tổ chức thẩm định, thành phần thẩm định, thủ tục thẩm định để cấp, điều chỉnh giấy phép hoạt động cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.

    Điều 48. Thu hồi và đình chỉ giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Giấy phép hoạt động bị thu hồi trong những trường hợp sau đây:

    a) Giấy phép hoạt động được cấp không đúng thẩm quyền;

    b) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không bảo đảm các điều kiện quy định tại Điều 43 của Luật này;

    c) Sau 12 tháng, kể từ ngày được cấp giấy phép hoạt động mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không hoạt động;

    d) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tạm dừng hoạt động trong thời gian 12 tháng liên tục hoặc chấm dứt hoạt động.

    2. Khi phát hiện một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế ra quyết định thu hồi giấy phép hoạt động theo quy định tại Điều 45 của Luật này.

    3. Trong trường hợp phát hiện cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có sai sót chuyên môn hoặc không bảo đảm một trong các điều kiện quy định tại Điều 43 của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ sai sót, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    4. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định thủ tục thu hồi giấy phép hoạt động; thủ tục, thời gian đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    5. Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định thủ tục thu hồi giấy phép hoạt động; thủ tục, thời gian đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý.

    Điều 49. Lệ phí cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề nghị cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động phải nộp lệ phí.

    2. Bộ trưởng Bộ Tài chính quy định mức thu lệ phí cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động.

    Mục 3

    CHỨNG NHẬN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỐI VỚI CƠ SỞ

    KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Điều 50. Chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Tiêu chuẩn quản lý chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là yêu cầu về đặc tính kỹ thuật và quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá chất lượng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do tổ chức trong nước hoặc nước ngoài ban hành được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam thừa nhận.

    2. Khuyến khích cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp giấy phép hoạt động áp dụng tiêu chuẩn quản lý chất lượng quy định tại khoản 1 Điều này để nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh.

    3. Việc chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải do tổ chức có đủ điều kiện quy định tại Điều 51 của Luật này thực hiện trên cơ sở đánh giá chất lượng thực tế của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh so với tiêu chuẩn quản lý chất lượng.

    Điều 51. Các tổ chức chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Tổ chức chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là tổ chức độc lập với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do cơ quan, tổ chức, cá nhân thành lập.

    2. Khi thực hiện việc chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, tổ chức chứng nhận chất lượng phải bảo đảm nguyên tắc độc lập, khách quan, trung thực, công khai, minh bạch và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả chứng nhận của mình.

    3. Chính phủ quy định chi tiết việc thành lập, tổ chức và hoạt động của tổ chức chứng nhận chất lượng đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Mục 4

    QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ SỞ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Điều 52. Quyền của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Được thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật này; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế được khám sức khỏe định kỳ, khám sức khỏe để lao động, học tập, làm việc và chịu trách nhiệm trước pháp luật về kết quả khám sức khỏe của mình.

    2. Được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nếu trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh mà tiên lượng bệnh vượt quá khả năng hoặc trái phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong giấy phép hoạt động nhưng phải giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để giải quyết. Trong trường hợp này, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh vẫn phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị cho người bệnh cho đến khi người bệnh được chuyển đi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.

    3. Được thu các khoản chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.

    4. Được hưởng chế độ ưu đãi khi thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.

    Điều 53. Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Tổ chức việc cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh kịp thời cho người bệnh.

    3. Công khai thời gian làm việc, niêm yết giá dịch vụ và thu theo đúng giá đã niêm yết.

    4. Báo cáo cơ quan cấp giấy phép hoạt động trong trường hợp thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người hành nghề là người nước ngoài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    5. Bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề được quy định tại Luật này.

    6. Bảo đảm các điều kiện cần thiết để người hành nghề thực hiện khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi hoạt động chuyên môn được phép.

    7. Chấp hành quyết định huy động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh nguy hiểm.

    8. Trường hợp dừng hoạt động, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm chuyển người bệnh, hồ sơ bệnh án đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp và quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh với người bệnh.

    CHƯƠNG V

    CÁC QUY ĐỊNH CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

    1. Các hình thức cấp cứu bao gồm:

    a) Cấp cứu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Cấp cứu ngoài cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Khi việc cấp cứu vượt quá khả năng chuyên môn thì tùy từng trường hợp cụ thể, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải thực hiện một hoặc một số hoạt động sau đây:

    a) Tổ chức hội chẩn theo quy định tại Điều 56 của Luật này;

    b) Mời cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác đến hỗ trợ cấp cứu;

    c) Chuyển người bệnh cấp cứu đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp.

    3. Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm ưu tiên mọi điều kiện về nhân lực và phương tiện tốt nhất cho việc cấp cứu người bệnh.

    Điều 55. Chẩn đoán bệnh, chỉ định phương pháp điều trị và kê đơn thuốc

    1. Việc chẩn đoán bệnh, chỉ định phương pháp điều trị và kê đơn thuốc phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

    a) Dựa trên kết quả khám lâm sàng, kiểm tra cận lâm sàng, kết hợp với yếu tố tiền sử bệnh, gia đình, nghề nghiệp và dịch tễ;

    b) Kịp thời, khách quan, thận trọng và khoa học.

    2. Người hành nghề được giao nhiệm vụ khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây:

    a) Khám bệnh, chẩn đoán bệnh, chỉ định phương pháp điều trị, kê đơn thuốc kịp thời, chính xác và chịu trách nhiệm về việc khám bệnh, chẩn đoán bệnh, chỉ định phương pháp điều trị, kê đơn thuốc của mình;

    b) Quyết định điều trị nội trú hoặc ngoại trú; trường hợp người bệnh phải điều trị nội trú mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có giường điều trị nội trú thì phải giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp.

    1. Việc hội chẩn được thực hiện khi bệnh vượt quá khả năng chẩn đoán và điều trị của người hành nghề hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc đã điều trị nhưng bệnh không có tiến triển tốt hoặc có diễn biến xấu đi.

    2. Các hình thức hội chẩn bao gồm:

    c) Hội chẩn liên cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    d) Hội chẩn qua tham khảo ý kiến chuyên gia;

    đ) Hội chẩn từ xa bằng công nghệ thông tin;

    e) Hội chẩn khác theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    Điều 57. Điều trị ngoại trú

    1. Điều trị ngoại trú được thực hiện trong trường hợp sau đây:

    a) Người bệnh không cần điều trị nội trú;

    b) Người bệnh sau khi đã điều trị nội trú ổn định nhưng phải theo dõi và điều trị tiếp sau khi ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Sau khi quyết định người bệnh phải điều trị ngoại trú, người hành nghề có trách nhiệm sau đây:

    a) Lập hồ sơ bệnh án ngoại trú theo quy định tại Điều 59 của Luật này;

    b) Ghi sổ y bạ theo dõi điều trị ngoại trú trong đó ghi rõ thông tin cá nhân của người bệnh, chẩn đoán, chỉ định điều trị, kê đơn thuốc và thời gian khám lại.

    2. Điều trị nội trú được thực hiện trong trường hợp sau đây:

    a) Có chỉ định điều trị nội trú của người hành nghề thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.

    3. Thủ tục điều trị nội trú được quy định như sau:

    a) Nhận người bệnh vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Trường hợp người bệnh mắc nhiều bệnh, người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm xem xét, quyết định khoa sẽ tiến hành điều trị;

    b) Hướng dẫn người bệnh đến khoa nơi người bệnh sẽ điều trị nội trú.

    5. Các trường hợp sau đây phải chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:

    a) Bệnh vượt quá khả năng điều trị và điều kiện vật chất của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Bệnh không phù hợp với phân tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế;

    c) Theo yêu cầu của người bệnh.

    6. Thủ tục chuyển khoa, chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quy định như sau:

    a) Hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án, tổng kết toàn bộ quá trình điều trị của người bệnh;

    b) Nếu chuyển khoa thì chuyển toàn bộ hồ sơ bệnh án của người bệnh đến khoa mới; nếu chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì gửi giấy chuyển cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, kèm tóm tắt hồ sơ bệnh án đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mới.

    7. Khi tình trạng bệnh của người bệnh đã ổn định hoặc người bệnh có yêu cầu được ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và có cam kết của người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh, sau khi đã có sự tư vấn của người hành nghề thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây:

    a) Hoàn chỉnh hồ sơ bệnh án, tổng kết toàn bộ quá trình điều trị của người bệnh;

    b) Hướng dẫn người bệnh về việc tự chăm sóc sức khỏe;

    c) Chỉ định chế độ điều trị ngoại trú trong trường hợp cần thiết;

    d) Quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại Điều 16 của Luật này;

    đ) Làm giấy cho người bệnh ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    1. Hồ sơ bệnh án là tài liệu y học, y tế và pháp lý; mỗi người bệnh chỉ có một hồ sơ bệnh án trong mỗi lần khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Việc lập hồ sơ bệnh án được quy định như sau:

    a) Người bệnh điều trị nội trú và ngoại trú trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đều phải được lập hồ sơ bệnh án;

    b) Hồ sơ bệnh án phải được lập bằng giấy hoặc bản điện tử và phải được ghi rõ, đầy đủ các mục có trong hồ sơ bệnh án;

    3. Việc lưu trữ hồ sơ bệnh án được quy định như sau:

    a) Hồ sơ bệnh án được lưu trữ theo các cấp độ mật của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước;

    b) Hồ sơ bệnh án nội trú, ngoại trú được lưu trữ ít nhất 10 năm; hồ sơ bệnh án tai nạn lao động, tai nạn sinh hoạt được lưu trữ ít nhất 15 năm; hồ sơ bệnh án đối với người bệnh tâm thần, người bệnh tử vong được lưu trữ ít nhất 20 năm;

    c) Trường hợp lưu trữ hồ sơ bệnh án bằng bản điện tử, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có bản sao dự phòng và thực hiện theo các chế độ lưu trữ quy định tại điểm a và điểm b khoản này.

    4. Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định việc cho phép khai thác hồ sơ bệnh án trong các trường hợp sau đây:

    a) Sinh viên thực tập, nghiên cứu viên, người hành nghề trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được mượn hồ sơ bệnh án tại chỗ để đọc hoặc sao chép phục vụ cho việc nghiên cứu hoặc công tác chuyên môn kỹ thuật;

    b) Đại diện cơ quan quản lý nhà nước về y tế trực tiếp quản lý cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan điều tra, viện kiểm sát, toà án, thanh tra chuyên ngành y tế, cơ quan bảo hiểm, tổ chức giám định pháp y, pháp y tâm thần, luật sư được mượn hồ sơ bệnh án tại chỗ để đọc hoặc sao chép phục vụ nhiệm vụ được giao theo thẩm quyền cho phép;

    c) Người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh được nhận bản tóm tắt hồ sơ bệnh án theo quy định tại khoản 1 Điều 11 của Luật này.

    5. Các đối tượng quy định tại khoản 4 Điều này khi sử dụng thông tin trong hồ sơ bệnh án phải giữ bí mật và chỉ được sử dụng đúng mục đích như đã đề nghị với người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 60. Sử dụng thuốc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có điều trị nội trú

    1. Việc sử dụng thuốc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có điều trị nội trú phải bảo đảm các nguyên tắc sau đây:

    a) Chỉ sử dụng thuốc khi thật sự cần thiết, đúng mục đích, an toàn, hợp lý và hiệu quả;

    b) Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với chẩn đoán bệnh, tình trạng bệnh của người bệnh;

    c) Đúng quy định về bảo quản, cấp phát và sử dụng thuốc.

    2. Khi kê đơn thuốc, người hành nghề phải ghi đầy đủ, rõ ràng vào đơn thuốc hoặc bệnh án thông tin về tên thuốc, hàm lượng, liều dùng, cách dùng và thời gian dùng thuốc.

    3. Khi cấp phát thuốc cho người bệnh, người được giao nhiệm vụ cấp phát thuốc có trách nhiệm sau đây:

    a) Kiểm tra đơn thuốc, phiếu lĩnh thuốc, hàm lượng, liều dùng, cách dùng, tên thuốc và chất lượng thuốc;

    b) Đối chiếu đơn thuốc với các thông tin về nồng độ, hàm lượng, số lượng khi nhận thuốc và hạn dùng ghi trên phiếu lĩnh thuốc, nhãn thuốc;

    c) Đối chiếu họ tên người bệnh, tên thuốc, dạng thuốc, hàm lượng, liều dùng, cách dùng, thời gian dùng trước khi cho người bệnh sử dụng thuốc;

    d) Ghi chép đầy đủ thời gian cấp phát thuốc cho người bệnh, theo dõi và ghi diễn biến lâm sàng của người bệnh vào hồ sơ bệnh án, phát hiện kịp thời các tai biến và báo cho người hành nghề trực tiếp điều trị.

    4. Sau khi người bệnh dùng thuốc, người hành nghề trực tiếp điều trị có trách nhiệm theo dõi tác dụng và xử lý kịp thời tai biến do dùng thuốc.

    Người bệnh có trách nhiệm dùng thuốc theo đúng hướng dẫn của người hành nghề và thông báo cho người hành nghề về các dấu hiệu bất thường sau khi dùng thuốc.

    Điều 61. Thực hiện phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa

    1. Mọi trường hợp phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa đều phải được sự đồng ý của người bệnh hoặc đại diện của người bệnh, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này.

    2. Người bệnh thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 13 của Luật này, trước khi phẫu thuật, can thiệp ngoại khoa phải được người đại diện của người bệnh đồng ý bằng văn bản.

    3. Trường hợp không thể hỏi ý kiến của người bệnh hoặc người đại diện của người bệnh và nếu không thực hiện phẫu thuật hoặc can thiệp ngoại khoa sẽ đe dọa trực tiếp đến tính mạng của người bệnh thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định tiến hành phẫu thuật hoặc can thiệp ngoại khoa.

    Điều 62. Kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

    a) Khử trùng thiết bị y tế, môi trường và xử lý chất thải tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Phòng hộ cá nhân, vệ sinh cá nhân;

    c) Vệ sinh an toàn thực phẩm;

    đ) Các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn khác theo quy định của pháp luật.

    2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây:

    a) Thực hiện các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị, trang phục phòng hộ, điều kiện vệ sinh cá nhân cho người làm việc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người bệnh và người khác đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp với yêu cầu về kiểm soát nhiễm khuẩn trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    c) Tư vấn về các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn cho người bệnh và người nhà của người bệnh;

    d) Thực hiện các biện pháp kiểm soát nhiễm khuẩn khác theo quy định của pháp luật.

    3. Người làm việc trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, người bệnh và người khác đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tuân thủ quy định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về kiểm soát nhiễm khuẩn.

    Điều 63. Xử lý chất thải y tế

    1. Chất thải y tế bao gồm chất thải rắn, lỏng, khí, hóa chất, phóng xạ được thải ra trong quá trình khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc người bệnh và sinh hoạt của người bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm phân loại, thu gom và xử lý chất thải y tế theo đúng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.

    Điều 64. Giải quyết đối với người bệnh không có người nhận

    1. Tiếp nhận và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Luật này.

    2. Kiểm kê, lập biên bản và lưu giữ tài sản của người bệnh.

    3. Thông báo ngay cho cơ quan công an hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở để cơ quan này thông báo tìm người nhà của người bệnh trên phương tiện thông tin đại chúng.

    4. Đối với trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, người bệnh đã được điều trị ổn định mà vẫn chưa có người nhận, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo cho cơ sở bảo trợ xã hội để tiếp nhận đối tượng này.

    5. Đối với người bệnh tâm thần mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có chuyên khoa tâm thần thì chuyển người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành tâm thần. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành tâm thần có trách nhiệm tiếp nhận, chăm sóc và điều trị cho người bệnh. Sau khi điều trị ổn định mà vẫn không có người nhận, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo cho cơ sở bảo trợ xã hội để tiếp nhận người bệnh.

    Cơ sở bảo trợ xã hội có trách nhiệm tiếp nhận các đối tượng theo quy định tại khoản 4 và khoản 5 Điều này chậm nhất là 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo.

    6. Đối với người bệnh tử vong không có người nhận, sau khi thực hiện quy định tại Điều 65 của Luật này, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải chụp ảnh, lưu giữ mô để xác định danh tính, làm thủ tục khai tử theo quy định của pháp luật về hộ tịch và tổ chức mai táng.

    Điều 65. Giải quyết đối với người bệnh tử vong

    1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây:

    b) Tiến hành kiểm thảo tử vong trong thời hạn 15 ngày, kể từ khi người bệnh tử vong;

    c) Giao người hành nghề trực tiếp điều trị hoặc phụ trách ca trực lập hồ sơ tử vong, trong đó ghi rõ diễn biến bệnh, cách xử lý, thời gian và nguyên nhân tử vong;

    d) Lưu trữ hồ sơ tử vong theo quy định tại khoản 3 Điều 59 của Luật này.

    2. Đối với trường hợp tử vong trước khi đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được giải quyết như sau:

    a) Đối với người có giấy tờ tùy thân, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo cho thân nhân của họ để tổ chức mai táng;

    b) Đối với người không có giấy tờ tùy thân, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm người nhà của người bệnh.

    Trường hợp không có giấy tờ tùy thân hoặc có giấy tờ tùy thân nhưng không có người nhận, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm bảo quản thi thể, chụp ảnh và thông báo cho cơ quan công an hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đặt trụ sở.

    Trường hợp không có người nhận, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh liên hệ với Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan lao động, thương binh và xã hội trên địa bàn để các cơ quan này tổ chức mai táng.

    3. Việc xác định người bệnh đã tử vong và thời hạn bảo quản thi thể được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    Điều 66. Bắt buộc chữa bệnh

    1. Các trường hợp bắt buộc chữa bệnh theo quy định của Luật này bao gồm:

    a) Mắc bệnh truyền nhiễm nhóm A theo quy định của pháp luật về phòng, chống bệnh truyền nhiễm;

    b) Bệnh tâm thần ở trạng thái kích động, trầm cảm có ý tưởng, hành vi tự sát hoặc gây nguy hiểm cho người khác theo quy định của pháp luật.

    2. Việc bắt buộc chữa bệnh thực hiện theo quy định của pháp luật về hình sự và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này.

    Điều 67. Trực khám bệnh, chữa bệnh

    1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có giường bệnh nội trú, cơ sở cấp cứu phải bảo đảm trực liên tục ngoài giờ hành chính, ngày lễ, ngày nghỉ.

    Khuyến khích cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có giường bệnh nội trú tổ chức khám bệnh, chữa bệnh 24 giờ/ngày.

    2. Trực ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm trực lãnh đạo, trực lâm sàng, trực cận lâm sàng và trực hậu cần, bảo vệ.

    3. Người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm sau đây:

    a) Phân công người trực, quy định rõ trách nhiệm đối với từng cấp trực, người trực và chế độ trực cụ thể;

    b) Bảo đảm đầy đủ các phương tiện vận chuyển cấp cứu phù hợp với hình thức tổ chức khám bệnh, chữa bệnh; thiết bị, dụng cụ y tế và thuốc thiết yếu để kịp thời cấp cứu người bệnh;

    c) Bảo đảm chế độ báo cáo trực đối với mỗi phiên trực.

    Điều 68. Kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh

    1. Khuyến khích việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại tại bệnh viện y học cổ truyền được thực hiện như sau:

    a) Sử dụng một số phương tiện kỹ thuật của y học hiện đại để phục vụ chẩn đoán, đánh giá kết quả điều trị, kết quả nghiên cứu thừa kế;

    b) Sử dụng một số thiết bị và thuốc y học hiện đại để phục vụ cấp cứu người bệnh, sử dụng một số thuốc thiết yếu để điều trị người bệnh.

    3. Việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại tại bệnh viện khác được thực hiện như sau:

    a) Kết hợp phương pháp y học cổ truyền trong khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Sử dụng phương tiện kỹ thuật của y học hiện đại để chẩn đoán bệnh, tổ chức áp dụng, đánh giá kết quả các bài thuốc, môn thuốc, phương pháp chữa bệnh của y học cổ truyền.

    4. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết khoản 2 và khoản 3 Điều này và việc kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại trong khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.

    CHƯƠNG VI

    ÁP DỤNG KỸ THUẬT, PHƯƠNG PHÁP MỚI TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

    Điều 69. Kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh

    Kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

    1. Kỹ thuật, phương pháp được nghiên cứu tại Việt Nam hoặc nước ngoài, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam;

    2. Kỹ thuật, phương pháp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở nước ngoài cho phép áp dụng nhưng lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam;

    3. Kỹ thuật, phương pháp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép và đã áp dụng tại Việt Nam, nhưng lần đầu tiên áp dụng tại một cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 70. Điều kiện áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh tại Việt Nam

    1. Có đủ điều kiện về nhân lực, cơ sở vật chất, thiết bị để có thể áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới.

    2. Được Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế cho phép áp dụng.

    Điều 71. Thẩm quyền cho phép áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới

    1. Bộ trưởng Bộ Y tế tổ chức thẩm định và cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh áp dụng lần đầu kỹ thuật, phương pháp mới quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 69 của Luật này.

    2. Giám đốc Sở Y tế tổ chức thẩm định và cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc địa bàn quản lý áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới quy định tại khoản 3 Điều 69 của Luật này theo phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của Bộ Y tế.

    Điều 72. Hồ sơ, thủ tục cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới

    1. Hồ sơ đề nghị áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới bao gồm:

    a) Đơn đề nghị áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới;

    b) Tài liệu chứng minh tính hợp pháp, bằng chứng lâm sàng, tính hiệu quả trong khám bệnh, chữa bệnh của kỹ thuật, phương pháp mới đối với trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 69 của Luật này;

    c) Đề án triển khai áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới, bao gồm các nội dung chủ yếu sau: mô tả năng lực của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh về cơ sở vật chất, nhân lực, thiết bị, hiệu quả kinh tế, quy trình kỹ thuật dự kiến áp dụng và phương án triển khai thực hiện;

    đ) Hợp đồng do cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước hoặc nước ngoài chuyển giao kỹ thuật, phương pháp mới.

    2. Thủ tục cho phép áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới được quy định như sau:

    a) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nộp hồ sơ đề nghị áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới theo quy định tại khoản 1 Điều này cho Bộ Y tế hoặc Sở Y tế;

    b) Chậm nhất 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế phải tổ chức thẩm định hồ sơ và có văn bản cho phép hoặc không cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thí điểm kỹ thuật, phương pháp mới; trường hợp không cho phép phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do;

    c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh triển khai thí điểm kỹ thuật, phương pháp mới đã được Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế cho phép. Quy mô triển khai thí điểm đối với từng loại kỹ thuật, phương pháp mới thực hiện theo văn bản cho phép của Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế;

    d) Sau khi kết thúc giai đoạn triển khai thí điểm, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh nộp báo cáo kết quả và quy trình kỹ thuật đã được xây dựng hoàn thiện cho Bộ Y tế hoặc Sở Y tế để thẩm định;

    đ) Chậm nhất 20 ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả và quy trình kỹ thuật, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế thành lập Hội đồng chuyên môn thẩm định kết quả triển khai thí điểm và quy trình kỹ thuật do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đề xuất để tư vấn cho Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế xem xét quyết định cho phép;

    e) Chậm nhất 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được biên bản tư vấn của Hội đồng chuyên môn, Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế ra quyết định cho phép hoặc từ chối cho phép cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện kỹ thuật, phương pháp mới và phê duyệt quy trình kỹ thuật. Đối với các quy trình kỹ thuật giống nhau về cả thiết bị và quy trình thực hiện thì áp dụng chung trong toàn quốc; nếu khác nhau thì sẽ phải phê duyệt quy trình kỹ thuật riêng đối với từng kỹ thuật, phương pháp mới; trường hợp không cho phép phải trả lời bằng văn bản và nêu lý do.

    3. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết điều kiện, thủ tục cho phép áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh.

    CHƯƠNG VII

    SAI SÓT CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ TRANH CHẤP TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Mục 1

    SAI SÓT CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT TRONG KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Điều 73. Xác định người hành nghề có sai sót hoặc không có sai sót chuyên môn kỹ thuật

    1. Người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này xác định đã có một trong các hành vi sau đây:

    a) Vi phạm trách nhiệm trong chăm sóc và điều trị người bệnh;

    b) Vi phạm các quy định chuyên môn kỹ thuật và đạo đức nghề nghiệp;

    c) Xâm phạm quyền của người bệnh.

    2. Người hành nghề không có sai sót chuyên môn kỹ thuật khi được hội đồng chuyên môn quy định tại Điều 74 và Điều 75 của Luật này xác định thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Đã thực hiện đúng các quy định chuyên môn kỹ thuật trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh nhưng vẫn xảy ra tai biến đối với người bệnh;

    b) Trong trường hợp cấp cứu nhưng do thiếu phương tiện, thiết bị kỹ thuật, thiếu người hành nghề theo quy định của pháp luật mà không thể khắc phục được hoặc bệnh đó chưa có quy định chuyên môn để thực hiện dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh; các trường hợp bất khả kháng khác dẫn đến xảy ra tai biến đối với người bệnh.

    Điều 74. Thành lập hội đồng chuyên môn

    1. Trường hợp có yêu cầu giải quyết tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh khi xảy ra tai biến đối với người bệnh thì thành lập hội đồng chuyên môn để xác định có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật.

    2. Việc thành lập hội đồng chuyên môn được quy định như sau:

    a) Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải quyết tranh chấp, người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải tự thành lập hội đồng chuyên môn hoặc nếu không tự thành lập được thì đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền về y tế quản lý trực tiếp thành lập hội đồng chuyên môn.

    Trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đề nghị của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, cơ quan nhà nước có thẩm quyền về y tế quản lý trực tiếp phải thành lập hội đồng chuyên môn;

    b) Trường hợp các bên tranh chấp không nhất trí với kết luận của hội đồng chuyên môn quy định tại điểm a khoản này, các bên có quyền đề nghị Bộ Y tế thành lập hội đồng chuyên môn.

    Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị, Bộ Y tế phải thành lập hội đồng chuyên môn.

    Điều 75. Thành phần, nguyên tắc hoạt động và nhiệm vụ của hội đồng chuyên môn

    1. Thành phần của hội đồng chuyên môn bao gồm:

    a) Các chuyên gia thuộc lĩnh vực chuyên môn phù hợp;

    c) Luật gia hoặc luật sư.

    3. Hội đồng chuyên môn căn cứ vào các quy định tại Điều 73 của Luật này có trách nhiệm xác định có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật.

    4. Kết luận của hội đồng chuyên môn là cơ sở để giải quyết tranh chấp hoặc để cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, quyết định giải quyết vụ việc; là căn cứ để cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền về y tế, người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quyết định áp dụng các biện pháp xử lý theo thẩm quyền đối với người hành nghề.

    5. Kết luận của hội đồng chuyên môn do Bộ Y tế thành lập quy định tại điểm b khoản 2 Điều 74 của Luật này là kết luận cuối cùng về việc có hay không có sai sót chuyên môn kỹ thuật.

    Điều 76. Trách nhiệm của người hành nghề, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi xảy ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh

    1. Trường hợp xảy ra sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh hoặc trong trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 73 của Luật này, doanh nghiệp bảo hiểm mà cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã mua bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bệnh theo hợp đồng bảo hiểm đã ký với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đó.

    Trường hợp cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chưa mua bảo hiểm theo quy định tại khoản 1 Điều 78 của Luật này thì phải tự bồi thường thiệt hại cho người bệnh theo quy định của pháp luật.

    2. Ngoài việc bồi thường theo quy định tại khoản 1 Điều này, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề có sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến cho người bệnh phải chịu các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật.

    3. Trường hợp xảy ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 73 của Luật này thì cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề không phải bồi thường thiệt hại.

    Điều 77. Xác định mức bồi thường thiệt hại do sai sót chuyên môn kỹ thuật gây ra tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh

    Việc xác định mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 76 của Luật này được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    Điều 78. Bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh

    1. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh và người hành nghề mua bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của Chính phủ tại doanh nghiệp bảo hiểm được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.

    2. Chính phủ quy định chi tiết về bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh và lộ trình để tiến tới tất cả người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tham gia bảo hiểm trách nhiệm trong khám bệnh, chữa bệnh.

    Mục 2

    KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

    VỀ KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

    Điều 79. Khiếu nại, tố cáo về khám bệnh, chữa bệnh

    Việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính về khám bệnh, chữa bệnh; việc tố cáo và giải quyết tố cáo vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

    a) Người bệnh, người đại diện của người bệnh;

    c) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh được giải quyết như sau:

    a) Các bên tranh chấp có trách nhiệm tự hòa giải về nội dung tranh chấp;

    b) Trường hợp hòa giải không thành thì các bên tranh chấp có quyền khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

    3. Thời hiệu yêu cầu giải quyết tranh chấp về khám bệnh, chữa bệnh là 05 năm, kể từ khi sự việc xảy ra.

    CHƯƠNG VIII

    CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM CÔNG TÁC KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH Điều 81. Hệ thống tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước, tư nhân và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.

    2. Hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước bao gồm 4 tuyến như sau:

    b) Tuyến tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;

    c) Tuyến huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

    d) Tuyến xã, phường, thị trấn.

    3. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tuyến trên có trách nhiệm chỉ đạo, hỗ trợ về chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tuyến dưới.

    4. Bộ trưởng Bộ Y tế quy định chi tiết phân tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của từng tuyến quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

    Điều 82. Quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh

    1. Quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải đáp ứng các yêu cầu sau đây:

    a) Khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng và nguồn lực của đất nước để xây dựng và phát triển hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; bảo đảm cơ sở vật chất, thiết bị ngày càng tiên tiến, hiện đại nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Bảo đảm cân đối, đồng bộ, có quy mô hợp lý, được bố trí phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc tiếp cận với các dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh;

    c) Phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

    2. Căn cứ để xây dựng quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

    a) Nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh, cơ cấu bệnh tật;

    b) Địa giới hành chính, địa bàn dân cư, quy mô dân số;

    c) Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

    3. Nội dung quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bao gồm:

    a) Mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình, dự án trọng điểm;

    b) Hệ thống tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    c) Nguồn lực, giải pháp thực hiện, điều kiện bảo đảm.

    4. Thẩm quyền phê duyệt quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được quy định như sau:

    a) Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Y tế và Bộ trưởng Bộ Quốc phòng;

    b) Bộ trưởng Bộ Y tế phê duyệt quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chuyên ngành;

    c) Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của địa phương theo đề nghị của Giám đốc Sở Y tế.

    Điều 83. Đào tạo, bồi dưỡng người hành nghề

    1. Nhà nước có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng về chuyên môn kỹ thuật, đạo đức nghề nghiệp cho người hành nghề, kết hợp y học cổ truyền dân tộc với y học hiện đại.

    2. Nhà nước miễn học phí đối với người học chuyên ngành giải phẫu bệnh, giám định pháp y, pháp y tâm thần.

    Điều 84. Chế độ đối với người hành nghề

    1. Người hành nghề bị mắc bệnh nghề nghiệp, bệnh do tai nạn rủi ro nghề nghiệp được hưởng các chế độ theo quy định của Thủ tướng Chính phủ.

    2. Trong quá trình hành nghề, người hành nghề dũng cảm cứu người mà bị chết hoặc bị thương thì được xem xét để công nhận là liệt sỹ hoặc thương binh, hưởng chính sách như thương binh theo quy định của pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng.

    Điều 85. Các nguồn tài chính phục vụ cho công tác khám bệnh, chữa bệnh

    1. Ngân sách nhà nước đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước.

    2. Kinh phí từ nguồn chi trả chi phí sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    3. Các nguồn kinh phí khác theo quy định của pháp luật.

    Điều 86. Ngân sách nhà nước chi cho công tác y tế

    1. Ưu tiên bố trí ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân; từng bước chuyển hình thức đầu tư từ ngân sách nhà nước trực tiếp cho các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước sang hình thức hỗ trợ cho người dân thông qua bảo hiểm y tế.

    2. Ngân sách nhà nước chi cho công tác khám bệnh, chữa bệnh phải được phân bổ công khai, minh bạch; căn cứ vào quy mô dân số, cơ cấu bệnh tật, điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của từng vùng; thể hiện được chính sách ưu tiên của Nhà nước đối với công tác khám bệnh, chữa bệnh ở vùng dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và công tác khám bệnh, chữa bệnh đối với các bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm.

    Điều 87. Xã hội hóa công tác khám bệnh, chữa bệnh

    1. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

    2. Nhà nước thực hiện đa dạng hóa các loại hình dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; khuyến khích cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân hoạt động không vì mục đích lợi nhuận.

    3. Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm tự chăm lo sức khỏe, phát hiện bệnh sớm cho các thành viên trong tổ chức, gia đình và bản thân; tham gia cấp cứu, hỗ trợ giải quyết các trường hợp xảy ra tai nạn, thương tích tại cộng đồng và tham gia các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh khi có sự huy động của cơ quan có thẩm quyền.

    Điều 88. Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh

    1. Giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh là số tiền phải trả cho mỗi dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    2. Chính phủ quy định cơ chế thu, quản lý và sử dụng khoản thu từ dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước.

    3. Bộ trưởng Bộ Tài chính phối hợp với Bộ trưởng Bộ Y tế quy định khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh; giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với người bệnh là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước.

    4. Căn cứ vào khung giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh quy định tại khoản 3 Điều này, Bộ trưởng Bộ Y tế quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Bộ Y tế và các bộ khác; Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước thuộc phạm vi quản lý của địa phương theo đề nghị của Uỷ ban nhân dân cùng cấp.

    5. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân được quyền quyết định và phải niêm yết công khai giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 89. Quỹ hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh

    1. Quỹ hỗ trợ khám bệnh, chữa bệnh là quỹ xã hội, từ thiện được thành lập và hoạt động để hỗ trợ chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn hoặc không có khả năng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh và các hoạt động khác phục vụ cho công tác khám bệnh, chữa bệnh.

    CHƯƠNG IX

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 90. Hiệu lực thi hành

    Luật này có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011.

    Pháp lệnh hành nghề y, dược tư nhân số 07/2003/PL-UBTVQH11 hết hiệu lực kể từ ngày Luật này có hiệu lực.

    Điều 91. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành

    Chính phủ quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong Luật; hướng dẫn những nội dung cần thiết khác của Luật này để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23 tháng 11 năm 2009.

    CHỦ TỊCH QUỐC HỘI Nguyễn Phú Trọng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bảo Đảm Quyền Của Người Sử Dụng Dịch Vụ Khám Bệnh, Chữa Bệnh
  • Cấp Lại Giấy Phép Hoạt Động Cơ Sở Khám Bệnh Chữa Bệnh
  • Xử Lý Hành Vi Vi Phạm Quy Định Về Khám Chữa Bệnh Tại Các Phòng Khám Tư Nhân
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Luật Khám Chữa Bệnh
  • Bộ Câu Hỏi Luật Khám Chữa Bệnh
  • Tải Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh Năm 2009

    --- Bài mới hơn ---

  • Tải Về Luật Khám Chữa Bệnh Sách Miễn Phí Pdf * Thư Viện Sách Hướng Dẫn
  • Dự Thảo Thông Tư Quy Định Về Trích Chuyển Dữ Liệu Yêu Cầu Thanh Toán Bảo Hiểm Y Tế Giữa Cơ Sở Khám, Chữa Bệnh Và Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Do Bộ Trưởng Bộ Y Tế Ban Hành
  • Mở Thông Tuyến Khám Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế Từ Ngày 01/01/2016
  • Hướng Dẫn Triển Khai Các Thông Tư Về Giá Dịch Vụ Khám, Chữa Bệnh
  • Câu Hỏi Ôn Tập Thi Viên Chức Y Tế 2014
  • Tải Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009 – Luật Toàn Quốc. Luật này quy định quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở

    Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009

    KHÁM BỆNH, CHỮA BỆNH

    Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

    Quốc hội ban hành Luật khám bệnh, chữa bệnh,

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Luật này quy định quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện đối với người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; áp dụng kỹ thuật, phương pháp mới trong khám bệnh, chữa bệnh; sai sót chuyên môn kỹ thuật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tranh chấp trong khám bệnh, chữa bệnh; điều kiện bảo đảm công tác khám bệnh, chữa bệnh.

    1. Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận.

    2. Chữa bệnh là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh.

    3. Người bệnh là người sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    4. Chứng chỉ hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này (sau đây gọi chung là chứng chỉ hành nghề).

    5. Giấy phép hoạt động khám bệnh, chữa bệnh là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có đủ điều kiện hoạt động theo quy định của Luật này (sau đây gọi chung là giấy phép hoạt động).

    6. Người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh là người đã được cấp chứng chỉ hành nghề và thực hiện khám bệnh, chữa bệnh (sau đây gọi chung là người hành nghề).

    7. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh là cơ sở cố định hoặc lưu động đã được cấp giấy phép hoạt động và cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    8. Lương y là người có hiểu biết về lý luận y dược học cổ truyền, có kinh nghiệm khám bệnh, chữa bệnh bằng phương pháp y dược học cổ truyền có dùng thuốc hoặc không dùng thuốc được Bộ Y tế hoặc Sở Y tế công nhận sau khi có ý kiến của Hội đông y trung ương hoặc Hội đông y cấp tỉnh.

    9. Người có bài thuốc gia truyền hoặc có phương pháp chữa bệnh gia truyền là người sở hữu bài thuốc hoặc phương pháp chữa bệnh theo kinh nghiệm lâu đời do dòng tộc, gia đình truyền lại, điều trị có hiệu quả đối với một hoặc vài bệnh, chứng nhất định được Sở Y tế công nhận sau khi có ý kiến của Hội đông y cấp tỉnh.

    10. Cập nhật kiến thức y khoa liên tục là việc người hành nghề tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn, hội nghị, hội thảo về y khoa thuộc lĩnh vực hành nghề theo chương trình do Bộ Y tế phê duyệt hoặc công nhận và được cấp giấy chứng nhận theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.

    11. Người bệnh không có người nhận là người bệnh đang ở trong tình trạng cấp cứu, bị bệnh tâm thần hoặc bị bỏ rơi, bao gồm cả trẻ sơ sinh bị bỏ rơi tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà không có giấy tờ tùy thân, không xác định được địa chỉ cư trú.

    13. Tai biến trong khám bệnh, chữa bệnh là hậu quả gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh do sai sót chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh hoặc rủi ro xảy ra ngoài ý muốn trong khám bệnh, chữa bệnh mặc dù người hành nghề đã tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật.

    Điều 3. Nguyên tắc trong hành nghề khám bệnh, chữa bệnh

    1. Bình đẳng, công bằng và không kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người bệnh.

    2. Tôn trọng quyền của người bệnh; giữ bí mật thông tin về tình trạng sức khỏe và đời tư được ghi trong hồ sơ bệnh án, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 11 và khoản 4 Điều 59 của Luật này.

    3. Kịp thời và tuân thủ đúng quy định chuyên môn kỹ thuật

    4. Ưu tiên khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi, người khuyết tật nặng, người từ đủ 80 tuổi trở lên, người có công với cách mạng, phụ nữ có thai.

    5. Bảo đảm đạo đức nghề nghiệp của người hành nghề.

    6. Tôn trọng, hợp tác và bảo vệ người hành nghề khi làm nhiệm vụ.

    Điều 4. Chính sách của Nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh

    1. Ưu tiên bố trí ngân sách nhằm đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cơ bản của nhân dân. Quan tâm dành ngân sách cho việc chăm sóc sức khỏe đối với người có công với cách mạng, trẻ em, người nghèo, nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số, nhân dân ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

    2. Tăng cường phát triển nguồn nhân lực y tế, đặc biệt là nguồn nhân lực y tế ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Thực hiện chế độ luân phiên có thời hạn đối với người hành nghề tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ tuyến trên xuống tuyến dưới, từ vùng có điều kiện kinh tế – xã hội không khó khăn đến vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

    3. Đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư phát triển dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh.

    4. Khuyến khích việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong khám bệnh, chữa bệnh.

    5. Kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền trong khám bệnh, chữa bệnh.

    Điều 5. Trách nhiệm quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh

    2. Bộ Y tế chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

    a) Xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn kỹ thuật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    b) Chỉ đạo hướng dẫn, tuyên truyền và tổ chức triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; chiến lược phát triển, quy hoạch hệ thống cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    c) Quản lý thống nhất việc cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ hành nghề và giấy phép hoạt động;

    d) Xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu quốc gia về người hành nghề và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;

    đ) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh;

    e) Tổ chức đào tạo, đào tạo liên tục, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực; hướng dẫn việc luân phiên người hành nghề; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong khám bệnh, chữa bệnh;

    g) Thực hiện hợp tác quốc tế về khám bệnh, chữa bệnh; thừa nhận chứng chỉ hành nghề giữa các nước; hướng dẫn khám bệnh, chữa bệnh nhân đạo; hợp tác chuyên gia, chuyển giao kỹ thuật và phương pháp chữa bệnh mới.

    3. Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện và hướng dẫn việc khám bệnh, chữa bệnh tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định của Luật này và phù hợp với điều kiện thực tế của quân đội.

    4. Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Y tế thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh.

    5. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh) trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi địa phương.

    …………………………………………………………………………

    Để được tư vấn chi tiết về Luật khám bệnh chữa bệnh, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật bảo hiểm 24/7: 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: [email protected] Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

    Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quy Định Ưu Tiên Khám Và Xử Trí Người Bệnh Cấp Cứu
  • Những Ai Được Khám, Chữa Bệnh Bhyt Ưu Tiên?
  • Quy Định Về Đối Tượng Bhyt Được Khám Chữa Bệnh Ưu Tiên
  • Hướng Dẫn Thủ Tục Cấp Chứng Chỉ Hành Nghề Khám Bệnh, Chữa Bệnh
  • Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh 2009, Luật Khám Chữa Bệnh Số 40/2009/qh12
  • Bộ Y Tế: Tổng Kết 09 Năm Thi Hành Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Y Tế: Cần Thiết Xây Dựng Dự Án Luật Khám, Chữa Bệnh (Sửa Đổi)
  • #1 Quy Định Của Pháp Luật Về Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu
  • Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Và Những Cần Biết
  • Theo Quy Định Pháp Luật Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Ở Đâu?
  • Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Là Gì?
  • Phát biểu tại Hội nghị, chúng tôi Nguyễn Thị Kim Tiến – Bộ trưởng Bộ Y tế cho biết: Luật Khám bệnh, chữa bệnh là Luật đầu tiên trong lịch sử Y tế Việt Nam về khám, chữa bệnh. Trong suốt 9 năm thi hành Luật, ngành Y tế đã gặp rất nhiều khó khăn, bất cập. Tuy nhiên, cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định. Tạo ra hành lang pháp lý, đánh giá, nâng cao hiệu lực hiệu quả nhà nước, góp phần phát triển cạnh tranh lành mạnh giữa các thành tựu y tế, giúp người dân lựa chọn được những dịch vụ y tế tốt nhất.

    Luật cũng đã góp phần xây dựng mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh, nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ngày càng tốt hơn. Kết quả đạt được là sự hài lòng của người dân về y tế ngày càng được nâng cao. Từ đó, chúng tôi Nguyễn Thị Kim Tiến cũng hi vọng rằng các cá nhân, đơn vị tham gia Hội nghị hãy đóng góp ý kiến về những khó khăn, vướng mắc và những kiến nghị để việc thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh ngày càng hoàn thiện hơn.

    PGS.TS Nguyễn Thị Kim Tiến – Bộ trưởng Bộ Y tế phát biểu tại Hội nghị

    Hội nghị cũng đã được nghe TS. Nguyễn Huy Quang – Vụ trưởng Vụ Pháp chế – Bộ Y tế báo cáo tổng kết 9 năm thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Theo đó, ngay sau khi Luật Khám bệnh, chữa bệnh được ban hành, các cơ quan quản lý nhà nước về y tế các cấp đã tổ chức tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn việc triển khai luật, có các văn bản hướng dẫn kèm theo.

    Bên cạnh tổ chức các hội nghị, công tác phổ biến pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh còn được thực hiện trên các kênh truyền thông đại chúng của tỉnh như Đài phát thanh, truyền hình và báo in của tỉnh.

    Từ khi thực hiện phổ biến luật đến nay, một số Sở Y tế đã có hoạt động tuyên truyền, phổ biến luật thường xuyên như: Sở Y tế Gia Lai đã tổ chức tổng số 53 lớp tập huấn, với 5.800 lượt người tham dự; Sở Y tế Hà Giang tổ chức được 360 buổi với 20.000 lượt người tham dự.

    Đặc biệt, Sở Y tế Hà Nội đã thực hiện tập huấn đối với toàn bộ 30 phòng Y tế, Trung tâm y tế quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố và giao các Bệnh viện công lập và ngoài công lập thực hiện phổ biến pháp luật về khám chữa bệnh tới toàn thể người lao động trong đơn vị.

    Bên cạnh các kết quả đã đạt được, công tác phổ biến giáo dục pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh còn tồn tại một số vấn đề như: Công tác phổ biến, giáo dục ở nhiều nơi vẫn còn mang tính phong trào, chưa đi sâu vào những nội dung pháp luật mà người dân cần; hiệu quả triển khai còn chưa cao, một số hình thức chưa phù hợp với đối tượng; chưa tổ chức phổ biến nhắc lại; khó khăn về bố trí kinh phí, nhân lực cho việc tuyên truyền, phổ biến.

    Các đại biểu tham dự Hội nghị cũng đã đưa ra nhiều tham luận, góp phần hoàn thiện Luật Khám bệnh, chữa bệnh

    Từ những vấn đề đó, Bộ Y tế cũng đã đề ra các phương hướng nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh. Tập trung vào 3 giải pháp đó là: từng bước hoàn thiện pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; tổ chức tốt việc thực hiện và áp dụng pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.

    Tại Hội nghị, đại diện Cục quân y; Cục Quản lý Khám, chữa bệnh; Cục Khoa học công nghệ và Đào tạo; Sở Y tế thành phố Hà Nội…cũng đã phát biểu tham luận của một số đơn vị về các khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức triển khai thi hành Luật Khám bệnh, chữa bệnh.

    Thiếu tướng, chúng tôi Nguyễn Xuân Kiên – Cục trưởng Cục Quân y đã bày tỏ sự nhất trí cao với báo cáo tổng kết đã được trình bày tại Hội nghị. Bên cạnh đó, trình bày các kết quả mà Cục Quân y đã triển khai thực hiện trong những năm qua, đề xuất một số kiến nghị về sửa đổi, bổ sung Luật Khám bệnh, chữa bệnh như:

    Luật cần quy định đầy đủ các đối tượng tham gia khám bệnh, chữa bệnh cần cấp chứng chỉ hành nghề; Bổ sung quy định các hình thức tổ chức cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong quân đội; Trong thời điểm hiện tại, việc tổ chức kỳ thi quốc gia đánh giá năng lực hành nghề chưa bảo đảm tính khả thi nên đề nghị không đưa nội dung này vào Dự thảo Luật; Phạm vi hoạt động chuyên môn chưa được quy định cụ thể dẫn đến tình cần quá nhiều chứng chỉ kỹ thuật chuyên môn bổ sung…

    K.T

    Nguồn :

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bộ Y Tế: Tổng Kết Sơ Bộ 9 Năm Thi Hành Luật Khám Chữa Bệnh
  • Bộ Trưởng Bộ Y Tế: Sửa Đổi Luật Khám Chữa Bệnh Để Tránh “ghè Đá Vào Chân” Thầy Thuốc
  • Quyền Lợi Khám Chữa Bệnh Bhyt Của Người Có Thẻ Theo Quy Định Pháp Luật
  • Trẻ Dưới 6 Tuổi Không Có Thẻ Bhyt Được Khám Bệnh Miễn Phí?
  • Danh Mục Khám Chữa Bệnh Được Bảo Hiểm Y Tế Chi Trả
  • Bộ Câu Hỏi Luật Khám Chữa Bệnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Luật Khám Chữa Bệnh
  • Xử Lý Hành Vi Vi Phạm Quy Định Về Khám Chữa Bệnh Tại Các Phòng Khám Tư Nhân
  • Cấp Lại Giấy Phép Hoạt Động Cơ Sở Khám Bệnh Chữa Bệnh
  • Bảo Đảm Quyền Của Người Sử Dụng Dịch Vụ Khám Bệnh, Chữa Bệnh
  • Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh 2009, Luật Khám Chữa Bệnh Số 40/2009/qh12
  • Hướng Dẫn Đăng Ký Khám Bệnh Chữa Bệnh Ban Đầu Và Chuyển Tuyến Khám Bệnh Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế, Dự Thảo Lần 2 Luật Khám Bệnh Chữa Bệnh (sửa Đổi), Bộ Luật Khám Chữa Bệnh, Bộ Câu Hỏi Luật Khám Chữa Bệnh, Góp ý Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh, Báo Cáo 9 Năm Thi Hành Luật Khám Chữa Bệnh, Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh Sửa Đổi, Luật Khám Chữa Bệnh 2009, Điều 17 Luật Khám Chữa Bệnh, Luật Bảo Hiểm Khám Chữa Bệnh, Báo Cáo 9 Năm Thực Hiện Luật Khám Chữa Bệnh, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Luật Khám Chữa Bệnh, Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh 2022, Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh 2022, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Về Luật Khám Chữa Bệnh, Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh Năm 2022, Tham Luận Về Công Tác Khám Bệnh, Chữa Bệnh Tại Trạm Y Tế, Quy Định Về Tổ Chức, Hoạt Động Dược Lâm Sàng Của Cơ Sở Khám Bệnh, Chữa Bệnh, Tham Luận Về Công Tác Khám Bệnh, Chữa Bệnh, Đơn Xin Hỗ Trợ Chi Phí Khám Chữa Bệnh, Mau Don Xin Nghi Di Kham Chua Benh, Don Xin Nghi Di Kham Chua Benh, Mẫu Đơn Xin Thay Đổi Nơi Khám Chữa Bệnh, Thông Tư Khám Chữa Bệnh, Mẫu Đơn Xin Nghỉ Khám Chữa Bệnh, Các Yếu Tố ảnh Hưởng Đến Khám Chữa Bệnh, Thủ Tục Chuyển Đổi Nơi Khám Chữa Bệnh, Thủ Tục Đăng Ký Nơi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu, Đề án Khám Chữa Bệnh Theo Yêu Cầu, Thủ Tục Đăng Ký Lại Nơi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu, Đơn Xin Nghỉ Khám Chữa Bệnh, Con Tac Kham Benh Chua Benh, Tiểu Luận Về Khám Chữa Bệnh, Thủ Tục Thay Đổi Nơi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu 2022, Dự Thảo Khám Chữa Bệnh Theo Yêu Cầu, Biểu Mẫu Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu, Đơn Xin Nghỉ Việc Đi Khám Chữa Bệnh, ưu Đàm Chay Menuiên Khám Chữa Bệnh, Quy Định ưu Tiên Khám Chữa Bệnh, Đơn Xin Nghỉ Việc Khám Chữa Bệnh, Don Xin Xac Nhan Giam Chi Phi Kham,chua Benh Noi Tru, Bảng Giá Khám Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế, Bảng Giá Dịch Vụ Khám Chữa Bệnh, Bai Mau Tieu Luan Kham Chua Benh, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tiểu Luận Về Khám Chữa Bệnh Tại Việt Nam, Biên Bản Giao Nhận Thẻ Khám Chữa Bệnh, Bộ Tiêu Chí Rủi Ro Lây Nhiễm Covid-19 Tại Cơ Sở Khám Chữa Bệnh, Danh Sách Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Năm 2022, An Toan Trong Cong Tac Kham Chua Benh, Bài Tình Huống Về Khám Chữa Bệnh Cấp Phòng, Quy Định ưu Tiên Trong Khám Chữa Bệnh, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh Tại Trạm Y Tế, Tiểu Luận Tình Huống Về Khám Chữa Bệnh, Danh Sách Cơ Sở Khám Chữa Bệnh Thuộc Cấp Tuyến, Bài Thu Hoạch Quản Lý Nhà Nước Về Khám Chữa Bệnh Tại Việt Nam, Thuc Trang Va Giai Phap Kham Chua Benh, Hướng Dẫn Về Quyền Lợi Khám Chữa Bệnh Bhyt Năm 2022, Bài Tập Tinh Huống Về Khám Và Chữa Bệnh Cấp Phòngquản Lý Cấp Phòng Y Tế, Xin Trợ Giúp Việc Nợ Tiền Khám Chữa Bệnh Tại Bang Washington, Bài Tham Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Chinh Sach Kham Chua Benh Mien Phi Cho Tre Duoi 6 Tuoi, Tiểu Luận Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tiểu Luận Tình Huống Quản Lý Khám Chữa Bệnh, Tiểu Luận Quản Lý Nhà Nước Về Khám Chữa Bệnh Tại Việt Nam, Tài Liệu Tiểu Luận Tình Huống Xử Lý Tình Huống Vi Phạm Của Cơ Sở Khám Bệnh, Chữa Bệnh, Tiểu Luận Tình Huống Xử Lý Tình Huống Vi Phạm Của Cơ Sở Khám Bệnh, Chữa Bệnh, Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng , Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Chăm Sóc, Khám, Chữa Bệnh Cho Nhân Dân Trên Địa Bàn, Nâng, Hãy Giải Thích Phương Châm Phòng Bệnh Hơn Chữa Bệnh, Hãy Giải Thích Phòng Bệnh Hơn Chữa Bệnh, Hãy Giải Thích Câu Nói Phòng Bệnh Hơn Chữa Bệnh, Don Xi Nhi Di Kham Benh, Đơn Xin Đi Khám Bệnh, Đơn Xin Khám Bệnh, Mẫu Sổ Khám Bệnh Của Bộ Y Tế, Sổ Khám Bệnh A1, Mẫu Sổ Khám Bệnh, Mẫu Sổ Khám Bệnh A1, Sô Khám Bệnh, Đơn Xin Nghỉ Đi Khám Bệnh, Mẫu Đề án Khám Bệnh Theo Yêu Cầu, Đơn Xin Nghỉ Khám Bệnh, Đơn Xin Nghỉ Làm Đi Khám Bệnh, Mẫu Giấy Mời Khám Bệnh, Sổ Khám Bệnh A1/ytcs, Quy Trình Khám Bệnh, Mẫu Phiếu Khám Bệnh, Mẫu Đơn Xin Nghỉ Khám Bệnh, Mẫu Đơn Xin Nghỉ Đi Khám Bệnh, Giấy Mời Khám Bệnh, Mẫu Sổ Khám Bệnh A1/ytcs, Đề án Khám Bệnh Theo Yêu Cầu, Mẫu Sổ Khám Bệnh á/ytcs, Phí Khám Nội Soi Tda Dày Tại Bệnh Viện Quốc Tế Huế, Mẩu Đơn Nghi Việc Đi Khám Benh, Đề án Cải Tiến Khoa Khám Bệnh, Bảng Giá Khám Bệnh Quốc Tê Huê, Bảng Giá Khám Bệnh Bảo Hiểm Y Tế, Đơn Xin Nghỉ Việc Đi Khám Bệnh,

    Hướng Dẫn Đăng Ký Khám Bệnh Chữa Bệnh Ban Đầu Và Chuyển Tuyến Khám Bệnh Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế, Dự Thảo Lần 2 Luật Khám Bệnh Chữa Bệnh (sửa Đổi), Bộ Luật Khám Chữa Bệnh, Bộ Câu Hỏi Luật Khám Chữa Bệnh, Góp ý Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh, Báo Cáo 9 Năm Thi Hành Luật Khám Chữa Bệnh, Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh Sửa Đổi, Luật Khám Chữa Bệnh 2009, Điều 17 Luật Khám Chữa Bệnh, Luật Bảo Hiểm Khám Chữa Bệnh, Báo Cáo 9 Năm Thực Hiện Luật Khám Chữa Bệnh, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Luật Khám Chữa Bệnh, Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh 2022, Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh 2022, Câu Hỏi Trắc Nghiệm Về Luật Khám Chữa Bệnh, Dự Thảo Luật Khám Chữa Bệnh Năm 2022, Tham Luận Về Công Tác Khám Bệnh, Chữa Bệnh Tại Trạm Y Tế, Quy Định Về Tổ Chức, Hoạt Động Dược Lâm Sàng Của Cơ Sở Khám Bệnh, Chữa Bệnh, Tham Luận Về Công Tác Khám Bệnh, Chữa Bệnh, Đơn Xin Hỗ Trợ Chi Phí Khám Chữa Bệnh, Mau Don Xin Nghi Di Kham Chua Benh, Don Xin Nghi Di Kham Chua Benh, Mẫu Đơn Xin Thay Đổi Nơi Khám Chữa Bệnh, Thông Tư Khám Chữa Bệnh, Mẫu Đơn Xin Nghỉ Khám Chữa Bệnh, Các Yếu Tố ảnh Hưởng Đến Khám Chữa Bệnh, Thủ Tục Chuyển Đổi Nơi Khám Chữa Bệnh, Thủ Tục Đăng Ký Nơi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu, Đề án Khám Chữa Bệnh Theo Yêu Cầu, Thủ Tục Đăng Ký Lại Nơi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu, Đơn Xin Nghỉ Khám Chữa Bệnh, Con Tac Kham Benh Chua Benh, Tiểu Luận Về Khám Chữa Bệnh, Thủ Tục Thay Đổi Nơi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu 2022, Dự Thảo Khám Chữa Bệnh Theo Yêu Cầu, Biểu Mẫu Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu, Đơn Xin Nghỉ Việc Đi Khám Chữa Bệnh, ưu Đàm Chay Menuiên Khám Chữa Bệnh, Quy Định ưu Tiên Khám Chữa Bệnh, Đơn Xin Nghỉ Việc Khám Chữa Bệnh, Don Xin Xac Nhan Giam Chi Phi Kham,chua Benh Noi Tru, Bảng Giá Khám Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế, Bảng Giá Dịch Vụ Khám Chữa Bệnh, Bai Mau Tieu Luan Kham Chua Benh, Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh, Tiểu Luận Về Khám Chữa Bệnh Tại Việt Nam, Biên Bản Giao Nhận Thẻ Khám Chữa Bệnh, Bộ Tiêu Chí Rủi Ro Lây Nhiễm Covid-19 Tại Cơ Sở Khám Chữa Bệnh, Danh Sách Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Năm 2022, An Toan Trong Cong Tac Kham Chua Benh,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Công Chức Chuyên Ngành Khám Chữa Bệnh ( Trắc Nghiệm)
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Về Luật Khám Chữa Bệnh
  • Nguyên Tắc Đăng Ký Hành Nghề Khám, Chữa Bệnh
  • Nghĩa Vụ Của Người Hành Nghề Khám Chữa Bệnh Theo Quy Định
  • Điều Kiện Cấp Chứng Chỉ Hành Nghề Khám Chữa Bệnh
  • Các Hành Vi Bị Cấm Trong Luật Khám Chữa Bệnh

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2000
  • Tải Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm 2000
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Sửa Đổi 2010
  • Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Năm 2010
  • Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm Số 61/2010/qh12
  • Điều 6. Các hành vi bị cấm trong luật khám chữa bệnh!

    1. Từ chối hoặc cố ý chậm cấp cứu người bệnh

    2. Khám bệnh, không có chứng chỉ hành nghề hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hành nghề, cung cấp dịch vụ khám bệnh, mà không có giấy phép hoạt động hoặc đang trong thời gian bị đình chỉ hoạt động.

    3. Hành nghề khám bệnh, chữa bệnh, cung cấp dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh vượt quá phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề, giấy phép hoạt động, trừ trường hợp cấp cứu.

    4. Thuê, mượn, cho thuê, cho mượn chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hoạt động.

    5. Người hành nghề bán thuốc cho người bệnh dưới mọi hình thức, trừ bác sỹ đông y, y sỹ đông y, lương y và người có bài thuốc gia truyền.

    6. Áp dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật y tế chưa được công nhận, sử dụng thuốc chưa được phép lưu hành trong khám bệnh, chữa bệnh.

    8. Sử dụng hình thức mê tính trong khám bệnh, chữa bệnh.

    9. Người hành nghề sử dụng rượu, bia, thuốc lá hoặc có nồng độ cồn trong máu, hơi thở khi khám bệnh, chữa bệnh.

    10. Vi phạm quyền của người bệnh; không tuân thủ các quy định chuyên môn kỹ thuật trong khám bệnh, chữa bệnh; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh; lạm dụng nghề nghiệp để xâm phạm danh dự, nhân phẩm, thân thể người bệnh; tẩy xóa, sửa chữa hồ sơ bệnh án nhằm làm sai lệch thông tin về khám bệnh, chữa bệnh.

    11. Gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm của người hành nghề.

    12. Ngăn cản người bệnh thuộc diện bắt buộc vào cơ sở khám bệnh, hoặc cố ý thực hiện bắt buộc đối với người không thuộc diện bắt buộc.

    13. Cán bộ, công chức, viên chức y tế thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành bệnh viện tư nhân hoặc cơ sở khám bệnh, được thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp và Luật hợp tác xã, trừ trường hợp được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cử tham gia quản lý, điều hành tại cơ sở khám bệnh, có phần vốn của Nhà nước.

    14. Đưa, nhận, môi giới hối lộ trong khám bệnh, chữa bệnh.

    Nguồn: Internet.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh Hay Luật Hành Nghề Y?
  • Câu Hỏi Ôn Tập Thi Viên Chức Y Tế 2014
  • Hướng Dẫn Triển Khai Các Thông Tư Về Giá Dịch Vụ Khám, Chữa Bệnh
  • Mở Thông Tuyến Khám Chữa Bệnh Bảo Hiểm Y Tế Từ Ngày 01/01/2016
  • Dự Thảo Thông Tư Quy Định Về Trích Chuyển Dữ Liệu Yêu Cầu Thanh Toán Bảo Hiểm Y Tế Giữa Cơ Sở Khám, Chữa Bệnh Và Cơ Quan Bảo Hiểm Xã Hội Do Bộ Trưởng Bộ Y Tế Ban Hành
  • Hướng Dẫn Thi Hành Luật Khám Chữa Bệnh, Hành Nghề Y Tế

    --- Bài mới hơn ---

  • Nâng Cao Chất Lượng Khám Chữa Bệnh
  • Tham Gia Góp Ý Dự Thảo Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh (Sửa Đổi)
  • Trẻ Em Dưới 6 Tuổi Được Khám, Chữa Bệnh Miễn Phí
  • Hệ Thống Pháp Luật Về Khám Chữa Bệnh: Cần Sớm Sửa Đổi Và Hoàn Thiện
  • Thủ Tục Thay Đổi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Với Trẻ Em Dưới 6 Tuổi
  • Hướng Dẫn Thi Hành Luật Khám Chữa Bệnh, Hành Nghề Y Tế – Quy Chế Sử Dụng Thuốc, Đấu Thầu Mua Thuốc, Viện Phí 2012

    Để chăm sóc tốt hơn nữa sức khỏe nhân dân và thống nhất quản lý nhà nước về lĩnh vực khám chữa bệnh; quản lý bệnh viện; điều dưỡng, phục hồi chức năng; giám định đối với toàn bộ hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe sinh sản, kiểm soát các bệnh truyền nhiễm gây dịch, kiểm dịch y tế, phòng chống bệnh xã hội; Quản lý nhà nước về dược phẩm, mỹ phẩm,… Chính phủ và các bộ, ngành ban hành hàng loạt văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện luật Khám chữa bệnh, quy chế mới quản lý tài chính, giá thuốc, viện phí như: Thông tư liên tịch số 04/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 29-2-2012 ban hành mức tối đa khung giá một số dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của Nhà nước; Thông tư liên tịch 50/2011/TTLT-BYT-BTC-BCT ngày 30-12-2011 hướng dẫn thực hiện quản lý nhà nước về giá thuốc dùng cho người; Thông tư liên tịch 01/2012/TTLT-BYT-BTC ngày 19-1-2012 Hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế; Quyết định 1003/QĐ-BYT ngày 30-3-2012 ban hành Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị bệnh tay – chân – miệng; Quyết định 14/2012/QĐ-TTg ngày 1-3-2012 sửa đổi, bổ sung Quyết định 139/2002/QĐ-TTg ngày 15-10-2002 về khám, chữa bệnh cho người nghèo; Thông tư 32/2012/TT-BTC ngày 29-2-2012 Quy định chế độ, quản lý và sử dụng kinh phí đối với người bị áp dụng biện pháp cách ly y tế…

    Nhằm giúp cho các cán bộ y tế, các cơ quan quản lý nhà nước, bệnh viên, cơ sở y tế và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y, dược, thực phẩm và đông đảo nhân dân nắm được đầy đủ các quy định pháp luật về y tế, dược phẩm, mới được ban hành; Nhà xuất bản Y Học xuất bản cuốn sách “Hướng Dẫn Thi Hành Luật Khám Chữa Bệnh, Hành Nghề Y Tế – Quy Chế Sử Dụng Thuốc, Đấu Thầu Mua Thuốc, Viện Phí 2012”.

    Nội dung cuốn sách gồm các phần sau:

    • Phần thứ nhất: Luật Khám chữa bệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành
    • Phần thứ hai: Quy định mới về sử dụng thuốc, khám, chữa bệnh, bảo hiểm y tế
    • Phần thứ ba: Quy chế mới quản lý tài chính, giá thuốc, viện phí trong các cơ sở khám chữa bệnh
    • Phần thứ tư: Quy định mới đấu thầu mua thuốc, kinh doanh, phân phối, quản lý chất lượng thuốc
    • Phần thứ năm: Quy định mới về hành nghề y dược
    • Phần thứ sáu: Quy định mới về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, dược phẩm
    • Phần thứ bảy: Tiêu chuẩn, chế độ đối với cán bộ, công chức, viên chức ngành y tế

    Mời bạn đón đọc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sách Pháp Luật Hướng Dẫn Khám, Chữa Bệnh Tại Trạm Y Tế Xã, Phường, Thị Trấn
  • Sách Pháp Luật Hướng Dẫn Khám Chữa Bệnh
  • Đáp Ứng Nhu Cầu Khám
  • Bộ Tranh Cây Thuốc Mẫu Khám Chữa Bệnh Y Học Cổ Truyền
  • Cấp Lại Chứng Chỉ Hành Nghề Khám Chữa Bệnh Bằng Y Học Cổ Truyền Cấp Cho Người Đứng Đầu Cơ Sở Dịch Vụ Y Học Cổ Truyền Không Dùng Thuốc (Do Bị Mất)
  • Quy Dịnh Về Thanh Toán Trực Tiếp Tiền Khám Chữa Bệnh Hiện Hành

    --- Bài mới hơn ---

  • Điều Kiện Thành Lập Cơ Sở Khám, Chữa Bệnh Theo Quy Định Hiện Hành
  • Quyền Của Cơ Sở Khám Chữa Bệnh Theo Quy Định Pháp Luật
  • Quy Định Hiện Hành Về Chi Phí Khám Chữa Bệnh Khi Đi Trái Tuyến
  • Sách Pháp Luật Bộ Tranh Cây Thuốc Mẫu Khám Chữa Bệnh
  • Tóm Tắt Luật Khám Chữa Bệnh
  • NLĐ có thể thanh toán trực tiếp tiền khám chữa bệnh bằng thẻ BHYT sau khi được cơ quan BHXH gia hạn thẻ do NSDLĐ đã đóng bổ sung đầy đủ tiền bảo hiểm

    Thanh toán trực tiếp tiền khám chữa bệnh

    Câu hỏi về thanh toán trực tiếp tiền khám chữa bệnh:

    Tôi có một số vấn đề cần luật sư tư vấn như sau:

    1. Thẻ BHYT của tôi như hình đính kèm, tháng trước tôi đi khám thì bác sĩ thông báo “Thẻ của anh đã hết hạn, cần đổi thẻ mới thì mới tiếp tục khám và lấy thuốc được”. Tuy nhiên tôi nghe nói, thẻ như hình có giá trị 5 năm. Vậy nếu nhìn vào thẻ, luật sư có thể biết thẻ của tôi chỉ có giá trị 12 năm hay 5 năm?

    2. Nếu thẻ chỉ có giá trị 1 năm, trong thời gian chờ cấp thẻ mới, tôi có thể đi khám, lấy thuốc rồi trả tiền và lấy hóa đơn đỏ. Số tiền này BHYT có thanh toán lại cho tôi không?

    Rất mong nhận được tư vấn của luật sư sớm.

    Câu trả lời về thanh toán trực tiếp tiền khám chữa bệnh

    1. Cơ sở pháp lý về thanh toán trực tiếp tiền khám chữa bệnh

    2. Nội dung tư vấn về thanh toán trực tiếp tiền khám chữa bệnh

    Theo yêu cầu tư vấn của bạn, bạn muốn chúng tôi hỗ trợ về vấn đề thẻ BHYT. Cụ thể ở đây, bạn muốn biết về việc thẻ BHYT của bạn còn giá trị sử dụng nữa hay không, cũng như việc nếu như bạn đi khám chữa bệnh mà khi chưa có thẻ thì sẽ được thanh toán tiền viện phí như thế nào. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin đưa ra quan điểm tư vấn như sau:

    2.1. Giá trị sử dụng của thẻ BHYT

    Điểm c khoản 1 điều 22 Luật Bảo hiểm y tế 2014 có quy định như sau:

    “c) 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh khi người bệnh có thời gian tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở, trừ trường hợp tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến;”

    2.2. Thanh toán trực tiếp tiền khám chữa bệnh

    Khoản 2 điều 31 Luật Bảo hiểm y tế 2014 có quy định về trường hợp thanh toán trực tiếp như sau:

    “2. Tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trực tiếp cho người có thẻ bảo hiểm y tế đi khám bệnh, chữa bệnh trong các trường hợp sau đây:

    a) Tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh không có hợp đồng khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế;

    b) Khám bệnh, chữa bệnh không đúng quy định tại Điều 28 của Luật này;

    c) Trường hợp đặc biệt khác do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.”

    Trường hợp của bạn sẽ rơi việc khám chữa bệnh không đúng quy định tại điều 28 Luật này, cụ thể là:

    “Người tham gia bảo hiểm y tế khi đến khám bệnh, chữa bệnh phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế có ảnh; trường hợp thẻ bảo hiểm y tế chưa có ảnh thì phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế cùng với giấy tờ chứng minh về nhân thân của người đó; đối với trẻ em dưới 6 tuổi chỉ phải xuất trình thẻ bảo hiểm y tế.”

    Mặc dù bạn có thẻ BHYT, tuy nhiên nếu thẻ BHYT chưa được gia hạn thì có thể được coi đây là trường hợp không xuất trình được thẻ BHYT. Sau khi khám chữa bệnh, bạn cần giữ lại giấy ra viện, phiếu khám bệnh hoặc sổ khám bệnh của lần khám bệnh, chữa bệnh đề nghị thanh toán cũng như hóa đơn chứng từ thanh toán tiền viện phí để tiến hành thanh toán trực tiếp sau này

    Sau khi đã xác định công ty hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH vào tháng bạn đi khám chữa bệnh, đồng nghĩa với việc thẻ BHYT của bạn có giá trị sử dụng vào tháng đó, bạn có thể cầm đầy đủ thẻ BHYT, chứng minh thư nhân dân cũng như những chứng từ thanh toán như đã liệt kê ở trên để thực hiện thanh toán trực tiếp theo khoản 1 điều 29 nghị định 146/2018/NĐ-CP:

    “1. Người bệnh hoặc thân nhân hoặc người đại diện hợp pháp theo quy định của pháp luật của người bệnh trực tiếp nộp hồ sơ quy định tại Điều 28 Nghị định này cho cơ quan bảo hiểm xã hội cấp huyện nơi cư trú.”

    Mức thanh toán trực tiếp theo khoản 4 điều 30 nghị định trên sẽ là:

    “4. Trường hợp người bệnh đi khám bệnh, chữa bệnh tại nơi đăng ký khám bệnh, chữa bệnh ban đầu không đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật bảo hiểm y tế được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế nhưng tối đa không quá 0,15 lần mức lương cơ sở tại thời điểm khám bệnh, chữa bệnh đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh ngoại trú và tối đa không quá 0,5 lần mức lương cơ sở tại thời điểm ra viện đối với trường hợp khám bệnh, chữa bệnh nội trú.”

    Như vậy, đối với trường hợp thanh toán trực tiếp, bạn sẽ được thanh toán tiền khám chữa bệnh theo chi phí thực tế trong phạm vi được hưởng và mức hưởng bảo hiểm y tế (80% đối với khám chữa bệnh đúng tuyến), nhưng tối đa không quá 0,15 lần mức lương cơ sở với khám chữa bệnh ngoại trú.

    Kết luận: Thẻ BHYT của bạn hiện nay vẫn đang sử dụng được và không cần đổi thẻ mới. Để thẻ có giá trị sử dụng, yêu cầu phía công ty bạn phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hiểm với cơ quan bảo hiểm xã hội. Sau khi nộp đầy đủ tiền bảo hiểm, thẻ BHYT của bạn sẽ tiếp tục được gia hạn và được sử dụng. Trong quá trình này, nếu như bạn đi khám chữa bệnh mà thẻ vẫn chưa được gia hạn, bạn cần giữ lại những hóa đơn biên lai nộp tiền viện phí, cũng như giấy tờ chứng minh việc khám chữa bệnh để tiến hành thủ tục thanh toán trực tiếp sau này.

    Để được tư vấn chi tiết về Thanh toán trực tiếp tiền khám chữa bệnh, quý khách vui lòng liên hệ tới T ổng đài tư vấn pháp luật bảo hiểm 24/7: 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: [email protected] Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

    Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

    Chuyên viên: Ngọc Linh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bai Giạng Luat Kham Chữa Bệnh Bai Giang Luat Kham Benh Chua Benh Doc
  • Khám Chữa Bệnh Cho Trẻ Em Dưới 6 Tuổi Có Cần Ảnh Kèm Theo Thẻ Bhyt Không?
  • Thủ Tục Thay Đổi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Với Trẻ Em Dưới 6 Tuổi
  • Hệ Thống Pháp Luật Về Khám Chữa Bệnh: Cần Sớm Sửa Đổi Và Hoàn Thiện
  • Trẻ Em Dưới 6 Tuổi Được Khám, Chữa Bệnh Miễn Phí
  • Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thủ Tục Thay Đổi Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu
  • Quyền Đăng Ký Nơi Khám, Chữa Bệnh Bhyt Ban Đầu
  • Hồ Sơ Thay Đổi Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu
  • Quy Định Về Đăng Ký Nơi Khám Chữa Bệnh Ban Đầu
  • Quy Định Về Việc Thay Đổi Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu
  • Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách an sinh xã hội nhằm giúp người lao động và gia đình khi gặp các rủi ro về sức khỏe ổn định đời sống, góp phần đảm bảo an toàn xã hội. Trên mỗi tấm thẻ bảo hiểm y tế đều có dòng chữ: “Nơi ĐK KCB BĐ” – Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu.

    Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu là gì?

    Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu là các cơ sở khám, chữa bệnh đã lựa chọn và đăng ký để ghi vào phần cơ sở khám chữa bệnh ban đầu trên thẻ bảo hiểm y tế, là nơi người tham gia bảo hiểm y tế sẽ đến khám và được xác định là nơi chuẩn đoán bệnh đầu tiên.

    Trường hợp cơ sở không đủ chuyên môn hoặc không đảm bảo về cơ sở vật chất theo quy định pháp luật để điều trị sẽ tiến hành chuyển người tham gia bảo hiểm lên tuyến trên.

    Như vậy, việc hiểu rõ Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu là gì? rất quan trọng, giúp người tham gia tự biết bảo vệ quyền lợi của mình.

    Tại sao phải quy định nơi khám chữa bệnh ban đầu?

    Việc quy định nơi khám chữa bệnh ban đầu không chỉ có ý nghĩa đối với hoạt động quản lý của Nhà nước mà còn có ảnh hưởng lớn tới chính người tham gia bảo hiểm.

    Đối với Nhà nước: Quy định về nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu cho người tham gia bảo hiểm y tế nhằm quản lý người bệnh được tốt hơn.

    Đối với người tham gia bảo hiểm y tế: Người có thẻ được khám chữa bệnh một cách thuận tiện tại cơ sở y tế gần nơi cư trú hoặc công tác.

    Có được tự ý chọn nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu hay không?

    Sau khi đã hiểu Nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu là gì? cũng như ý nghĩa của nó chúng tôi sẽ giải đáp tiếp vấn có được tự ý lựa chọn nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu hay không.

    Căn cứ theo quy định tại Điều 8 Thông tư 40/2015/TT-BYT về đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tuyến xã, tuyến huyện như sau:

    Điều 8. Đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tuyến xã, tuyến huyện

    Người tham gia bảo hiểm y tế được quyền đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu (sau đây gọi tắt là khám bệnh, chữa bệnh ban đầu) tại một trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh quy định tại Điều 3 và Điều 4 Thông tư này không phân biệt địa giới hành chính, phù hợp với nơi làm việc, nơi cư trú và khả năng đáp ứng của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.”

    Còn đăng ký khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu tuyến tỉnh, tuyến trung ương quy định tại khoản 1 Điều 9 Thông tư 40/2015/TT-BYT.

    Theo các quy định trên, chúng ta rút ra kết luận:

    Thứ nhất: Mọi người được quyền lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh ban đầu, tức là việc lựa chọn hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của người tham gia bảo hiểm mà không ai ép buộc.

    Thứ hai: Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh mà người tham gia lựa chọn phải đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật. Bởi lẽ không phải cơ sở nào cũng được phép làm nơi để đăng ký khám chữa bệnh. Theo đó, phải đáp ứng các điều kiện sau:

    + Phải là các cơ sở y tế, bệnh viện được thành lập theo quy định của pháp luật, có giấy phép hoạt động do cơ quan có thẩm quyền cấp;

    + Y, bác sĩ làm việc trong cơ sở bắt buộc phải có chứng chỉ hành nghề theo yêu cầu;

    + Đối với các cơ sở khám chữa bệnh như trạm y tế ở các phường, thị trấn, trạm quân y… nếu chưa được cấp giấy phép hoạt động thì phải đảm bảo về điều kiện vật chất, thiết bị khám chữa bệnh, đủ số lượng y bác sĩ;

    + Đối với phòng khám gia đình tư nhân thì phải đáp ứng các điều kiện như cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ khám chữa bệnh, số lượng y bác sĩ làm việc tại phòng khám và trình độ chuyên môn,…;

    + Còn nếu là phòng khám đa khoa thì pháp luật yêu cầu bắt buộc phải có chuyên khoa nội và chuyên khoa ngoại, nếu phòng khám có dịch vụ khám chữa bệnh cho đối tượng là trẻ em thì còn phải bổ sung thêm khoa nhi.

    Tuy nhiên, bạn cần lưu ý: Đối với nơi đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại tuyến xã và tuyến huyện sẽ không phân biệt về địa giới hành chính, tức là bạn có thể tự do lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh nào mà thuận tiện, phù hợp với nhu cầu khám, chữa bệnh của bản thân. Còn đối với tuyến tỉnh và tuyến trung ương thì cần phải thuộc các trường hợp tại Điều 9 của Thông tư 40/2015/TT-BYT mới có thể đăng ký tại cơ sở này.

    Tác giả

    Nguyễn Văn Phi

    CHÚNG TÔI LUÔN SẴN SÀNG LẮNG NGHE – TƯ VẤN – GIẢI ĐÁP CÁC THẮC MẮC

    1900 6557 – “Một cuộc gọi, mọi vấn đề”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Theo Quy Định Pháp Luật Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Ở Đâu?
  • Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu Và Những Cần Biết
  • #1 Quy Định Của Pháp Luật Về Nơi Đăng Ký Khám Chữa Bệnh Ban Đầu
  • Bộ Y Tế: Cần Thiết Xây Dựng Dự Án Luật Khám, Chữa Bệnh (Sửa Đổi)
  • Bộ Y Tế: Tổng Kết 09 Năm Thi Hành Luật Khám Bệnh, Chữa Bệnh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100