Review Sách Luật Im Lặng (Mario Puzo)

--- Bài mới hơn ---

  • Trích Dẫn Sách Luật Im Lặng
  • Chuyên Gia Luật Hoa Kỳ Chia Sẻ Về Quyền Im Lặng
  • “nhập Khẩu” Quyền Im Lặng Và Những Hệ Lụy
  • Combo 5 Tiểu Thuyết Của Mario Puzo
  • Thành Lập Cơ Sở In Ấn Xuất Bản Phẩm
  • Độc giả Phan Hữu Việt Minh nhận xét về tác phẩm Luật Im Lặng (Mario Puzo)

    Các câu hỏi thường gặp về sản phẩm:. Được vậy hay quá!

    Luật im lặng sách hay. Tác giả Mario Puzo sách hấp dẫn lôi cuốn, có ịch, tranh đấu Mafia ngầm ở trong lòng nước Mỹ. Hối lộ cảnh sát Mỹ FBI năm 2005.

    Độc giả Tràng Nhật Hiển nhận xét về tác phẩm Luật Im Lặng (Mario Puzo)

    – Sản phẩm này có dễ dùng không ?. Cuộc sống vốn đơn giản, nhưng chúng ta luôn làm cho nó phức tạp lên.

    Ko biết có phải do dịch giả hay cảm nhận của mình, truyện ko thực sự kịch tính, tình tiết có phần tóm tắt quá.

    Độc giả Nguyen phu Nam nhận xét về tác phẩm Luật Im Lặng (Mario Puzo)

    Độc giả xikun nhận xét về tác phẩm Luật Im Lặng (Mario Puzo)

    – Kích thước sản phẩm này ?. Cuộc đời nó thật là khốn khổ!

    Mình đọc tác phẩm này sau “Bố Già”. Mình không nói tới nội dung để tránh việc tiết lộ trước làm mất yếu tố bất ngờ cho những người sau. Nếu Bố Già nói về Mafia có vẻ hơi cổ điển thì Luật Im Lặng hiện đại hơn một tí, xã hội hiện đại hơn, có sự xuất hiện của cả FBI và chính phủ một cách rõ ràng hơn. Và tất nhiên yếu tố “Mafia” thì vẫn còn ngập tràn đủ để thỏa mãn những ai yêu thích thể loại xã hội đen kiểu này. Những âm mưu, thủ đoạn, những cuộc đấu trí đấu lực của các phe phái và tổ chức được đề cập đến theo một cách mà mình không biết miêu tả thế nào, chỉ thấy nó rất đặc trưng của Mario Puzzo, quả thực đã đọc là cứ muốn đọc tiếp đọc tiếp cho tới hết. Đọc xong tác phẩm này mình quyết định sẽ mua tiếp “Ông Trùm cuối cùng”, vì muốn thưởng thức hết bộ ba tác phẩm nổi tiếng nhất của Mario Puzzo.

    Độc giả Phan Hữu Việt Minh nhận xét về tác phẩm Luật Im Lặng (Mario Puzo)

    – Chế độ bảo hành cùng cách thức vận chuyển sản phẩm này thế nào?. Tệ lắm phải không?

    Luật im lặng sách hay. Tác giả Mario Puzo sách hấp dẫn lôi cuốn, có ịch, tranh đấu Mafia ngầm ở trong lòng nước Mỹ. Hối lộ cảnh sát Mỹ FBI năm 2005.

    Độc giả Tràng Nhật Hiển nhận xét về tác phẩm Luật Im Lặng (Mario Puzo)

    Ko biết có phải do dịch giả hay cảm nhận của mình, truyện ko thực sự kịch tính, tình tiết có phần tóm tắt quá.

    Độc giả Nguyen phu Nam nhận xét về tác phẩm Luật Im Lặng (Mario Puzo)

    Độc giả xikun nhận xét về tác phẩm Luật Im Lặng (Mario Puzo)

    Mình đọc tác phẩm này sau “Bố Già”. Mình không nói tới nội dung để tránh việc tiết lộ trước làm mất yếu tố bất ngờ cho những người sau. Nếu Bố Già nói về Mafia có vẻ hơi cổ điển thì Luật Im Lặng hiện đại hơn một tí, xã hội hiện đại hơn, có sự xuất hiện của cả FBI và chính phủ một cách rõ ràng hơn. Và tất nhiên yếu tố “Mafia” thì vẫn còn ngập tràn đủ để thỏa mãn những ai yêu thích thể loại xã hội đen kiểu này. Những âm mưu, thủ đoạn, những cuộc đấu trí đấu lực của các phe phái và tổ chức được đề cập đến theo một cách mà mình không biết miêu tả thế nào, chỉ thấy nó rất đặc trưng của Mario Puzzo, quả thực đã đọc là cứ muốn đọc tiếp đọc tiếp cho tới hết. Đọc xong tác phẩm này mình quyết định sẽ mua tiếp “Ông Trùm cuối cùng”, vì muốn thưởng thức hết bộ ba tác phẩm nổi tiếng nhất của Mario Puzzo.

    ĐÁNH GIÁ SÁCH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Review Sách Tác Phẩm Luật In Lặng Cuốn Sách Về Luật Pháp Sicilia
  • Quyền Im Lặng Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
  • Từ 1/7/2016, “quyền Im Lặng” Của Người Bị Bắt Có Hiệu Lực
  • Quyền Im Lặng Trong Pháp Luật Việt Nam
  • Quan Điểm Về Quyền Im Lặng Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
  • Ebook Luật Im Lặng: Phần 2

    --- Bài mới hơn ---

  • Hận Năm Cam, Hải “bánh” Phá Vỡ “luật Im Lặng” Trong Giang Hồ
  • Năm Cam Bội Nghĩa, Hải ‘bánh’ Phá ‘luật Im Lặng’ Giang Hồ (3)
  • ‘ông Trùm’ Năm Cam Và Bí Ẩn ‘luật Im Lặng’
  • Kỳ 41: Hận Năm Cam, Hải “bánh” Phá Vỡ “luật Im Lặng” Trong Giang Hồ
  • Năm Cam (40): Hận Năm Cam, Hải “bánh” Phá Vỡ “luật Im Lặng” Trong Giang Hồ
  • em muốn một lời hứa. Khi vụ này kết thúc, anh sẽ rời nhiệm sở. Hãy bắt đầu công việc

    luật sư của anh hay đi dạy. Em không thể sống như thế này mãi được. Chị nói hết sức

    nghiêm chỉnh.

    Câu nói chị sẽ rất nhớ ông in sâu vào tâm trí ông. Và ông cũng thường nhớ Georgette như

    vậy. Ông tự hỏi làm sao một phụ nữ như chị lại có thể yêu một người như ông. Tuy nhiên

    ông luôn biết sẽ có ngày Georgette đưa ra đề nghị này. Ông thở dài và nói,

    – Anh hứa.

    Họ tiếp tục đi theo bờ biển rồi rẽ vào một công viên nhỏ rợp bóng cây giúp họ tránh ánh

    mặt trời. Một làn gió mát từ vịnh thổi vào làm rối tung mái tóc Georgette. Lúc này, trông

    chị rất trẻ và hanh phúc. Cilke biết ông không thể nào thất hứa với vợ. Và thậm chí ông

    còn kiêu hãnh về vẻ hấp dẫn của chị trong cách moi lời hứa của ông vào đúng một thời

    điểm thích hợp, khi chị mạo hiểm cả cuộc sống của mình để đứng về phía ông. Suy cho

    cùng, có ai muốn được một người đàn bà đần độn yêu thương cớ chứ? Đồng thời ông biết

    rằng vợ ông sẽ kinh sợ và cảm thấy bị xúc phạm nếu biết được những gì ông đang nghĩ.

    Vẻ hấp dẫn của chị hoàn toàn trong trắng. Ông xét đoán ai đây? Georgette không khi nào

    xét đoán ông, không nghi ngờ cái vẻ hấp dẫn không được trong trắng của ông bao giờ.

    (1) Mũ Panama: mũ rộng vành

    (2) Faun (thần thoại La Mã): vị thần cai quản đồng ruộng và rừng cây, có sừng, chân dê,

    mình người.

    Chương 6

    Franky and Stace Sturzo sở hữu một cửa hàng bán đồ thể thao lớn ở Los Angeles và

    một ngôi nhà ở Santa Monica chỉ cách bãi biển Malibu năm mươi phút đi bộ. Cả hai đã

    từng lập gia đình, nhưng hôn nhân của chúng chẳng đi đến đâu, nên bây giờ chúng sống

    với nhau.

    Chúng không nói với bất kỳ ai trong đám bạn bè chúng là anh em sinh đôi, mà chúng thậm

    chí cũng chẳng có vẻ gì là anh em ngoại trừ cả hai đều cả tin và mê thể thao. Franky hấp

    dẫn và có cá tính hơn. Stace nhanh nhạy hơn, chỉ hơi chút lạnh lùng, nhưng cả hai đều nổi

    tiếng về lòng tốt của mình.

    Chúng là thành viên của một trong số những phòng tập thể thao rộng rãi và sang trọng rải

    rác khắp Los Angeles, một phòng tập có những máy tập thể hình kỹ thuật số và những

    chiếc tivi treo tường màn hình rộng để xem trong khi luyện tập. Nó có một sân bóng rổ,

    một bể bơi và cả một võ đài nữa. Ban huấn luyện của nó là những người đàn ông đẹp như

    tạc và những phụ nữ nom bắt mắt, rắn chắc. Hai anh em chúng dùng phòng tập để tập và

    cũng là để gặp gỡ những phụ nữ tập luyện ở đó. Đây là một bãi săn lớn cho đám đàn ông

    như chúng vì được vậy quanh bởi những nàng diễn viên tràn trề hy vọng đang cố giữ thân

    hình thon thả và những bà vợ ủ ê bệ rạc của những kẻ đầy quyền lực trong làng điện ảnh.

    Nhưng nhìn chung Franky và Stace khoái chơi bóng rổ. Những cầu thủ giỏi thường lui tới

    phòng tập – thậm chí đôi khi có cả một cầu thủ dự bị của đội LA (1) Lakers. Franky và

    Stace thi đấu với anh ta và cảm thấy chúng cũng vững vàng. Điều đó gợi lại những kỷ

    niệm đầy mơ mộng khi chúng là những ngôi sao của trường trung học. Tuy nhiên chúng

    không hề ảo tưởng cũng sẽ may mắn như vậy trong một trận đấu thực sự. Chúng chơi đến

    mệt lử còn anh chàng cầu thủ của đội Lakers được một phen đùa cợt thỏa thích.

    Tại nhà hàng bán đồ ăn bổ dưỡng tự nhiên của phòng tập, chúng kết bạn với những nữ

    huấn luyện viên và hội viên của phòng tập, thậm chí đôi khi cả với một vài người nổi

    tiếng. Chúng luôn được vui chơi, nhưng đó chỉ là một phần nhỏ trong cuộc đời của chúng.

    Franky huấn luyện cho đội bóng rổ của một trường tiểu học. Gã làm việc này rất nghiêm

    túc. Gã luôn hy vọng phát hiện ra một siêu sao đang trong quá trình trưởng thành, và gã

    được bọn trẻ yêu quý vì tốt bụng và nghiêm khắc. Gã có một phương pháp huấn luyện nổi

    tiếng. “OK”, gã nói.

    – Các em còn kém hai mười điểm. Đây là hiệp cuối cùng. Các em ra sân và ghi mười điểm

    đầu tiên. Chỉ cần can đảm và tự tin các em sẽ luôn luôn thắng. Các em chỉ còn kém mười

    điểm, rồi năm, rồi hòa. Và các em thắng!

    Đương nhiên, chuyện đó chẳng bao giờ thành hiện thực. Bọn trẻ không phát triển đầy đủ

    cả về thể chất lẫn tinh thần. Chúng vẫn chỉ là một lũ nhóc. Nhưng Franky biết những đứa

    thực sự có tài sẽ không bao giờ quên bài học này và nó sẽ còn giúp ích cho chúng sau này.

    Stace tập trung vào việc điều hành cửa hàng và ra những quyết định cuối cùng anh em

    chúng sẽ làm những việc gì. Đó phải là những việc ít rủi ro nhất nhưng được trả giá cao

    nhất. Stace lúc nào cũng tin vào các tỷ lệ và là kẻ bi quan. Hai anh em chúng ít khi lại

    không nhất trí được với nhau về một vấn đề. Chúng có chung sở thích, chúng ngang sức

    ngang tài trong những kỹ năng về thể chất. Thỉnh thoảng chúng đấu tập với nhau trên võ

    đài hoặc ngoài sân bóng rổ.

    Bây giờ chúng đã sang tuổi bốn ba và có cuộc sống ổn đinh, nhưng chúng vẫn thường bàn

    thảo về việc lập gia đình lần nữa. Franky cặp một cô bồ ở San Francisco, còn Stace có bạn

    gái ở Vegas, một ả vũ nữ. Cả hai ả đều tỏ ra không mặn mà lắm với chuyện chồng con nên

    hai anh em chúng có cảm giác rằng chúng chỉ là những kẻ chèo đò đang dài cổ trông tới

    ngày cập bến.

    Vì hào phóng nên chúng kết bạn dễ dàng và khá bận rộn với hoạt động xã hội. Một năm

    sau ngày giết ông Trùm chúng vẫn sống trong tâm trạng lo lắng. Không thể giết một người

    như lão mà không gặp nguy hiểm.

    Khoảng tháng Mười một Stace gọi một cú điện thoại cho Heskow về việc trả nột năm trăm

    ngàn lệ phí còn lại. Cú điện ngắn gọn và có vẻ tối nghĩa.

    – Xin chào, Stace nói. Tụi này sẽ tới đích khoảng một tháng nữa kể từ hôm nay. Mọi cái

    đều ổn cả chứ?

    Heskow có vẻ mừng rỡ khi nghe giọng Stace.

    – Mọi cái đều hoàn hảo, y nói. Mọi cái đã sẵn sàng. Tụi mày có thể chi tiết hơn về thời

    gian không? Tao không muốn tụi mày tới khi tao đi đâu đó ra ngoài thành phố.

    Stace cười và thản nhiên nói

    – Tụi mày sẽ tìm, được chứ? Cứ tính một tháng đi. Sau đó gã cúp máy.

    Tiền nong nhận được trong một hợp đồng như thế luôn luôn có yếu tố nguy hiểm. Đôi khi

    người ta ghét thanh toán cho những việc đã làm. Điều đó xảy ra trong mỗi vụ làm ăn. Với

    Heskow nguy hiểm chỉ là rất nhỏ – y luôn luôn là một nhà môi giới đáng tin cậy. Tuy

    nhiên, vụ của ông Trùm là đặc biệt, cả tiền cũng vậy. Vì thế chúng không muốn Heskow

    hiểu rõ kế hoạch của mình.

    Hai anh em chọn quần vợt để tiêu khiển từ năm trước, nhưng với môn này, chúng luôn gặp

    thất bại. Mặc dù người ta giải thích cho chúng rằng đây là một môn thể thao đòi hỏi phải

    tập những cú giao bóng từ rất sớm, rằng nó thực sự dựa vào những kỹ thuật nào đó giống

    như học ngoại ngữ vậy, nhưng chúng có khiếu thể thao đến mức không thể chấp nhận thất

    bại. Thế là hai gã thỏa thuận ở lại khu nhà của sân quần ở Scottsdale, tiểu bang Arizona ba

    tuần để theo học một khóa nhập môn. Từ đó chúng sẽ tới New York gặp Heskow. Tất

    nhiên trong ba tuần này chúng có thể bỏ qua du hý vài đêm tại Vegas, nơi chỉ cách

    Scottsdale chưa đầy một giờ bay.

    Khu nhà ở sân quần cực kỳ sang trọng. Franky và Stace được phân một ngôi nhà nhỏ hai

    phòng ngủ tường làm bằng gạch sống, có điều hòa nhiệt độ, một phòng ăn kiểu Ấn Độ,

    một phóng khách có ban công và một nhà bếp nhỏ. Từ đây có thể thấy phong cảnh hùng vĩ

    của vùng núi. Trong nhà còn có một quầy bar, một tủ lạnh lớn và một TV to đùng.

    Nhưng ba tuần đầu đã diễn ra chẳng mấy suôn sẻ. Một trong các huấn luyện viên bắt

    Franky làm việc quá sức. Franky dễ dàng trở thành người giỏi nhất trong nhóm học viên

    mới. Gã đặc biệt tự hào về cú giao bóng của mình: nó rất là và dữ dội. Nhưng huận luyện

    viên, một người tên là Leslie, có vẻ đặc biệt khó chịu với cú giao bóng của gã.

    Một buổi sáng Franky quật trái banh về phía đối thủ của gã. Gã quay sang tự hào với

    Leslie,

    – Hiểm đấy chứ?

    – Nhằm nhò gì, Leslie lạnh lùng đáp. Lỗi chân rồi. Ngón chân của anh đã chồm qua vạch

    giao bóng. Hãy thử lại một lần nữa với một cú giao bóng như vừa rồi, trái banh thường sẽ

    ra ngoài sân đấy.

    Franky làm một cú giao bóng nữa, nhanh và chính xác

    – Cũng hiểm hóc đấy chứ? Gã hỏi.

    – Vẫn mắc lỗi chân, Leslie chậm rãi nói. Đánh banh như thế thì nước mẹ gì. Mới chỉ đưa

    được trái banh vào sân. Anh chỉ khá so với một Hacker(2) thôi.

    Franky bực lắm nhưng gã kiềm chế được.

    – Cứ xếp cho tôi đấu với một ai đó không phải là hacker đi, gã nói. Cứ mở mắt ra mà xem

    tôi chơi ra sao. Gã dừng lại. Thế còn anh?

    Leslie khinh bỉ nhìn gã.

    – Tôi không đấu với dân hacker, anh ta nói rồi chỉ vào một cô gái trẻ trạc cuối hai đầu ba

    chục

    – Rosie đấy phải không? Leslie gọi. Tiếp ngài Sturzo một ván đi.

    Cô giá vừa mới tới sân banh. Nàng có cặp giò rám nắng rất đẹp lộ ra ngoài chiếc quần sọc

    trắng, và nằng mặc một chiếc sơ mi hồng có biểu tượng khu nhà của sân quần. Khuôn mặt

    vở tôi sẽ không thể nào hiểu được con người trong đời sống thực tế. Giống như hai anh

    thôi. Các anh đã kể cho tôi nghe những chuyện đã qua của mình, hai anh thật dễ mến,

    nhưng tôi không biết cái gì đã làm các anh vượt qua được ?

    – Đừng có lo về chuyện đó, Stace nói. Cô em cầu gì khắc được nấy thôi.

    – Đừng có mà hỏi tôi, Franky bảo nàng. Ngay bây giờ tôi chỉ tập trung vào một việc là làm

    sao thắng được cô em trong môn quần vợt.

    Sau bữa tối hai gã đưa Rosie xuống con đường đất đỏ dẫn tới nhà nàng. Nàng hôn nhanh

    lên má chúng, rồi chúng bị bỏ lại một mình trong không gian vắng vẻ. Khuôn mặt vui

    nhộn của nàng đang ngời lên dưới ánh trăng là hình ảnh cuối cùng chúng mang theo.

    – Tao nghĩ cô nàng hết sảy đấy. Stace lên tiếng.

    – Còn hơn thế nữa, Franky nói.

    Hai tuần cuối cùng ở sân banh, Rosie trở thành bồ của hai gã. Vào những buổi chiều tà sau

    khi chơi tennis họ lại cùng nhau đi đánh golf. Nàng chơi khá nhưng không bằng cả hai anh

    em. Chúng có thể đánh mạnh trái banh đi xa và rất bình tĩnh trên vạt lỗ bóng. Một gã tuổi

    sồn sồn ở khu sân quần đi cùng họ tới sân golf để làm thành một vặp đôi. Y năn nỉ được

    cùng phe với Rosie và chơi mười đô cho một lỗ. Và mặc dù rất khá nhưng y vẫn bị thua.

    Sau đó y thử nhập bọn với họ đi ăn tối. Rosie cự tuyệt y để làm vui lòng hai gã sinh đôi.

    – Tôi đang cố thuyết phục hai anh bạn này kết hôn với tôi mà, nàng nói.

    Chính Stace là người đưa được Rosie lên giường vào cuối tuần thứ nhất. Trước đó Franky

    đã đi Vegas để đánh bạc và cũng để Stace dễ “làm ăn”. Nửa đêm khi gã trở về, Stace

    không có trong phòng. Sáng hôm sau khi gã xuất hiện. Franky hỏi

    – Cô nàng sao hả ?

    – Hết sảy, Stace nói.

    – Anh không phản đối nếu tôi cũng làm một phát chứ ? Franky nói.

    Việc này không bình thường chút nào. Chúng đã bao giờ cùng chia sẻ một người đàn bà

    đâu. Trong lĩnh vực này khẩu vị của chúng hoàn toàn khác nhau. Stace cân nhắc đề nghị

    đó. Rosie hoà hợp tuyệt vời với cả hai gã. Nhưng chúng sẽ không thể tiếp tục cặp kè cùng

    nhau nữa nếu Stace có được Rosie và Franky chẳng xơ múi được gì. Trừ phi Franky đưa

    được một cô nàng nữa về phối hợp – mà thế thì hỏng mất.

    – Được thôi, Stace nói.

    Thế là đêm hôm sau Stace mò xuống Vegas và Franky ăn nằm với Rosie. Cô nàng không

    làm khó dễ và còn tỏ ra thích thú – không có những tiểu xảo khác thường, chỉ có các sinh

    hoạt vui nhộn tử tế. Nàng không hề tỏ ra khó chịu chút nào.

    Tuy vậy, sáng ra khi cả ba ngồi ăn sáng, Franky và Stace không biết phải xử sự ra sao.

    Chúng cũng khá đàng hoàng và lịch sự. Mối quan hệ hài hoà của chúng rạn nứt. Rosie

    nhanh chóng ăn hết phần của mình rồi ngả lưng vào ghế và hổi một cách thích thú.

    – Em làm các anh khó chịu hay sao ? Em nghĩ chúng mình cùng là bồ bịch của nhau cơ

    mà.

    Stace thành thật nói

    – Chỉ là do cả hai đứa tụi anh đều phát điên vì em thôi, và bọn anh không biết chính xác

    phải làm thế nào để giữ mối quan hệ này.

    Rosie cười nói,

    – Em sẽ giữ. Em thích cả hai anh, rất nhiều. Chúng mình đang vui vẻ. Chúng mình đâu có

    --- Bài cũ hơn ---

  • #1 Cơ Cấu Tổ Chức Và Hoạt Động Của Tổ Chức Tội Phạm Kiểu Mafia Ý
  • Người Đầu Tiên Phá “luật Im Lặng” Của Mafia
  • Quyền Im Lặng Là Gì? Quyền Im Lặng Được Hiểu Như Thế Nào Trong Pháp Luật
  • Linh Chi, Hà Hồ: Khi “người Thứ Ba” Quên Đi Luật Im Lặng
  • Luật Im Lặng, Lạm Dụng Tâm Lý Ngụy Trang
  • Quyền Im Lặng Là Gì? Quyền Im Lặng Được Hiểu Như Thế Nào Trong Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Người Đầu Tiên Phá “luật Im Lặng” Của Mafia
  • #1 Cơ Cấu Tổ Chức Và Hoạt Động Của Tổ Chức Tội Phạm Kiểu Mafia Ý
  • Ebook Luật Im Lặng: Phần 2
  • Hận Năm Cam, Hải “bánh” Phá Vỡ “luật Im Lặng” Trong Giang Hồ
  • Năm Cam Bội Nghĩa, Hải ‘bánh’ Phá ‘luật Im Lặng’ Giang Hồ (3)
  • Quyền im lặng là gì?

    Quyền im lặng chính là một trong những quyền của con người, nếu nhìn nhận từ dưới góc độ tư pháp hình sự thì đây là quyền cơ bản của mỗi công dân. Theo luật quốc tế, quyền im lặng được xem là một quyền cực kỳ quan trọng của bị cáo, bị can trong tố tụng hình sự, đây là yêu cầu đảm bạo sự công bằng trong một phiên tòa xét xử, đảm bảo luật nhân quyền quốc tế, được thông qua một tập hợp các đảm bảo tố tụng nhằm:

    Bảo vệ các quyền tự do và an ninh cá nhân của con người, về tính mạng, thân thể, nhân dự, danh dự, nhân phẩm, và đảm bảo quá trình xét xử được công bằng. Quyền im lặng không được quy định cụ thể trong luật nhân quyền quốc tế, nhưng được coi là quyền và đây là quyền không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội. Dưới góc độ luật nhân quyền quốc tế, trong một kết luận nhân quyền quốc tế, trong một kết luận của ủy ban nhân dân quyền quốc tế đã nêu rõ: (Bất kỳ ai bị bắt giữ về một cáo buộc hình sự cần được thông báo về quyền giữ im lặng trong quá trình thẩm vấn của cảnh sát. Ở cấp độ khu vực hay rõ hơn là Công ước châu Mỹ về quyền con người cũng khẳng định rằng bất kỳ người bị buộc tội nào đều không phải làm nhân chứng chống lại chính mình hoặc bất lợi cho mình. Ở Việt Nam, cách đây hơn 1 năm, chắc hẳn mọi người còn nhớ vụ việc xôn xao của hoa hậu Trương Hồ Phương Nga đã sử dụng “quyền im lặng”. Khi đó cô đã từ chối tất cả các câu hỏi mà cô cho là bất lợi về phía mình của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP HCM và Hội Đồng xét xử đặt ra trong quá trình xét xử trên tòa.

    Nguồn gốc của quyền im lặng là ở đâu?

    Quyền được im lặng là một chuẩn mực là một chuẩn mực đã được pháp luật của nhiều quốc gia thừa nhận, theo đó người bị cáo buộc có quyền từ chối đưa ra ý kiến hay trả lời của giới chấp pháp cả trước và trong quá trình xét xử. Cụm từ tiếng La- tinh “nemo tenetur prodere seipsum” đã xuất hiện từ thời La Mã, có nghĩa là không ai bị ràng buộc để phản bội chính mình. Vì vậy, trong khoa học pháp lí đã tồn tại quan điểm cho rằng quyền im lặng có nguồn gốc từ luật La Mã cổ đại, xuất phát từ nguyên tắc của người La Mã và được sử dụng trong lĩnh vực dân sự, thương mại khi ở đó người ta khẳng định “trách nhiệm chứng minh thuộc bên khẳng định chứ không phải bên phủ định. A khẳng định B nợ mình thì A phải chứng minh”. Ở thời kì đó, chế định này nhiều khi đã bị lợi dụng để sử dụng như là công cụ bảo vệ cho giai cấp thống trị hơn là quyền cho bất kì cá nhân nào bị buộc tội. Chế định này đảm bảo rằng chỉ khi có lí do hợp lí để nghi ngờ ai đó vi phạm pháp luật thì người đó mới có thể bị buộc trả lời những câu hỏi buộc tội. Tuy nhiên, chế định này gần như đã bị “tê liệt” trong các toà án suốt thời trung cổ, nó chỉ được phục hưng và tôn trọng kể từ các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu. Sự phục hồi của quyền này dẫn đến sự ra đời của nguyên tắc khác chi phối toàn bộ pháp luật hình sự của thế giới đó là quyền không tự tố giác.

    Tuy nhiên, có quan điểm lại cho rằng ở nước anh là quốc gia đầu tiên đưa ra khái niệm về quyền được im lặng. Ở Anh xuất phát từ quan điểm lịch sử về sự cân bằng quyền lực giữa nhà nước và quyền công nhân. Ngay từ thế kỷ xa xưa XVI đã tồn tại nguyên tắc về quyền im lặng, giống như câu nói ” không ai bị ràng buộc để buộc tội mình, bất kỳ hình thức hoặc tòa án”. Lịch sử tố tụng Anh chứng kiến sự thay đổi từ thuyết học “người bị buộc tội trình bày” đến học thuyết ” kiểm tra sự buộc tội” trong việc xét xử hình sự thay thế học thuyết “người bị buộc tội trình bày”. Có thể thấy bị cáo có quyền được từ chối trả lời những buộc tội đến với mình. Những người bào chữa đã góp phần lớn trong việc cho ra đời ra đặc quyền chống lại sự tự buộc tội và quyền im lặng, cũng như tạo nên cuộc cách mạng về tố tụng mà kết quả của nó vẫn tồn tại trong hệ thống tư pháp ở Anh.

    Dù không có căn cứ nào rõ ràng nhưng ngày nay, tại vương quốc xứ sở sương mù Anh quốc và các nước thuộc dòng họ pháp luật Anh, quyền im lặng vẫn được giữ gìn. Các quốc gia này đều có những điều luật quy định về quyền được im lặng của công dân trước các hình thức chất thức chất vấn của nhà nước, trước và trong quá trình xét xử. Ví dụ như Australia, mặc dù không được quy định trong Hiến pháp song chính quyền vẫn thừa nhận về quyền này trong các luật và bộ quy tắc cấp bang và liên bang. Quyền im lặng được coi là một trong những biện pháp vô cùng quan trọng nhất để bảo vệ người dân trước các hành động tùy tiện của nhà nước, quyền tính này có tính bảo vệ quyền con người trất cao.

    Tuy nhiên, khi nói về quyền im lặng, người ta thường nhắc nhiều hơn đến Hoa Kỳ với câu nói “Anh có quyền im lặng” đây là câu nói bắt nguồn từ vụ Miranda kiện Arizona mà sau này trở thành nguyên tắc cơ bản về quyền im lặng trong luật tố tụng hình sự của Hoa Kỳ. Từ đó cụm từ “Miranda warning”được dùng như công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền của nghi phạm hình sự nhằm tránh việc tự buộc tội chính mình do bị bức cung.

    Theo tu chính án Hiến pháp lần thứ năm của Hoa Kỳ quy định rằng:”… và trong bất kỳ vụ án hình sự nào cũng không phải bị ép buộc làm nhân chứng chống lại chính mình, và không thể bị tước đoạt sinh mạng, tự do, hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng thủ tục quy định của pháp luật 8…”

    Có nghĩa là một người bị tình nghi không thể bị bắt buộc theo bất cứ cách nào để thú tội hay thú tội do bị cưỡng ép. Toà án tối cao Hoa Kỳ coi câu trên trong Tu chính án năm là một trong những quyền căn bản của công dân và gọi nó là “quyền không tự buộc tội bản thân”. Việc sử dụng quyền này bao gồm cả quyền từ chối trả lời mọi câu hỏi, bởi vì mọi lời nói của một người đều có thể bị đem ra làm bằng chứng chống lại chính mình. Như vậy, có thể thấy rằng quyền im lặng là một trong những quyền con người căn bản và lâu đời nhất tại Hoa Kỳ. Theo cuốn từ điển pháp luật của Hoa Kỳ thì Tu chính án năm còn bắt công tố viên phải mang ra được các bằng chứng khác, ngoài lời khai của bị cáo để chứng minh bị cáo có tội. Theo Toà án tối cao, việc Miranda thú tội là kết quả của việc cảnh sát sử dụng phương pháp tra tấn trong suốt cuộc hỏi cung của họ. Vì vậy, sự kết án về Miranda đã bị thay đổi và toà án đã đưa ra một bộ hướng dẫn hành động cho cảnh sát trước khi hỏi cung người bị tình nghi tại đồn cảnh sát. Những quyết định trong những trường hợp sau đã cô đọng những quyền của những người bị tình nghi được trình bày trong lời cảnh báo Miranda. Theo Toà án tối cao Hoa Kỳ, trước khi thẩm vấn, cảnh sát phải thông báo cho nghi phạm hình sự như sau: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói sẽ cũng được dùng để làm vũ khí chống lại anh trước toà. Anh có quyền có luật sư trước khi khai báo với cảnh sát và luật sư sẽ hiện diện khi cảnh sát thẩm vấn. Nếu anh không thể tìm được luật sư, anh sẽ được luật sư, anh sẽ được cung cấp một luật sư nhưng anh vẫn có quyền ngưng trả lời bất cứ lúc nào để chờ sự có mặt của luật sư”

    Bản chất của quyền im lặng

    Có rất nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của quyền im lặng dưới góc độ tư pháp hình sự.

    Quan điểm thứ nhất

    Đây là quan điểm cho rằng quyền im lặng chỉ là một trong những vấn đề cụ thể của nguyên tắc suy đoán vô tội, tức là quyền im lặng là quyền phát sinh từ nguyên tắc suy đoán vô tội.

    Quan điểm thứ hai

    Khác với quan điểm thứ nhất, quan điểm này lại cho rằng g quyền im lặng là một trong những quyền để thực hiện quyền bào chữa, là bộ phận cấu thành của quyền bào chữa. Để bảo đảm quyền bào chữa phải có quyền im lặng10. Quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là tổng hợp các quyền mà pháp luật dành cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo để chống lại sự buộc tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

    Chúng ta đã nghe rất nhiều về đối tượng lao động trong quá trình sản xuất kinh tế. Vậy đối tượng lao động là gì?, khái niệm này được định nghĩa theo Chủ nghĩa Mác – Lê nin như thế nào, bạn hãy tham khảo thông tin chi tiết tại chúng tôi

    Như vậy, quyền bào chữa trước hết phải là những điều được pháp luật ghi nhận và bảo đảm thực hiện, có nghĩa là phải được ghi nhận về mặt pháp lí. Những gì không được pháp luật ghi nhận thì cũng không được coi là quyền bào chữa. Cùng với việc ghi nhận, pháp luật còn xác định cơ chế đảm bảo cho chủ thể (cụ thể là người bị tạm giữ, bị cáo, bị can) thực hiện quyền này. Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như các cơ quan, cá nhân khác không hạn chế, ngăn cản người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa. Quyền bào chữa gắn liền với chủ thể bị buộc tội (người bị tam giữ, bị can, bị cáo) được thể hiện thông qua quan hệ pháp luật hình sự giữa một bên là nhà nước và bên kia là người bị buộc tội. Nội dung của quyền bào chữa là người bị buộc tội sử dụng mọi lí lẽ, chứng cứ, tài liệu để chống lại toàn bộ hoặc một phần sự buộc tội của Nhà nước (cụ thể là cơ quan công tố) nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

    Thật ra từ thời La Mã rất cổ đại về xưa, có nhiều người đã khẳng định trách nhiệm chứng minh là thuộc về bên tố cáo, chứ hoàn toàn không phải do bên phủ định. Những tư tưởng này chỉ được các quan tòa áp dụng trong tố tụng dân sự. Đây hoàn toàn có thể được coi là một cội nguồn của nguyên tắc vô tội suy đoán. Ở Anh, ngay từ thế kỷ XV, Hoàng gia Anh đã đề ra nguyên tắc “chưa bị tòa kết án thì vẫn coi là vô tội” và chế độ cho người bị bắt tại ngoại. Khi nói về suy đoán vô tội, học giả học giả Trezare Becaria trong cuốn “về tội phạm và hình phạt” năm 1764 đã viết: “Không ai có thể bị coi là kẻ có tội khi còn chưa có bản án kết tội và xã hội không thể tước của bị can sự bảo hộ của mình trước khi quyết định rằng anh ta đã vi phạm những điều kiện mà sự tuân thủ các điều kiện đó thì anh ta được đảm bảo sự bảo hộ”.

    Tuy nhiên, chỉ đến khi Cách mạng tư sản Pháp năm 1789 nổ ra, tư tưởng này mới được ghi nhận như là nguyên tắc của pháp luật.

    Hiện nay trong hệ thống khoa học pháp lý vẫn còn xuất hiện và tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của vấn đề này.

    1. Quan điểm thứ nhất:

    Cho rằng nguyên tắc suy đoán vô tội chính là nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của toà án đã có hiệu lực pháp luật.

    2. Quan điểm thứ hai:

    Quan điểm thứ hai cho rằng nguyên tắc suy đoán vô tội gồm những nội dung sau:

    (1) Người bị tình nghi, bị can, bị cáo (người bị buộc tội) được coi là không có tội cho đến khi có bản án có hiệu lực pháp luật của toà án kết tội đối với người đó

    (2) Nghĩa vụ chứng minh một người có tội thuộc về bên có trách nhiệm buộc tội. Người bị tình nghi, bị can, bị cáo có quyền chứng minh mình vô tội nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh sự vô tội của mình

    (3) Khi có những nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ xuất hiện thì những nghi ngờ này phải được hiểu và giải thích theo hướng có lợi cho người bị tình nghi và bị can, bị cáo.

    Tóm lại hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội.

    Phạm vi áp dụng của quyền im lặng đến đâu?

    Qua những nguồn nghiên cứu pháp luật tố tụng hình sự ở các nước các nước có chế định quyền im lặng đều cho thấy chế định này được áp dụng hầu hết trong các giai đoạn tố tụng. Theo đó, người bị bắt, bị tạm giam giữ, hay bị can, bị cáo không chỉ có thể im lặng trong suốt quá trình điều tra, cho đến khi giai đoạn xét xử, mà tại phiên toà đều có quyền giữ im lặng, không bị phụ thuộc việc có hay không có sự có mặt của luật sư, chứ không nhất thiết phải nói bất cứ điều gì vào bất cứ thời điểm nào cả hoặc không cần phải trả lời.

    Bộ luật tố tụng hình sự của Cộng hoà Liên bang Đức quan niệm người bị bắt giữ được thông báo quyền giữ im lặng và quyền được tư vấn bởi người bào chữa (do anh ta lựa chọn) ở bất kì giai đoạn tố tụng nào, thậm chí trước khi tiến hành thủ tục thẩm vấn. Chính vì vậy, khi bị bắt giữ, người bị bắt thường được khuyên nên im lặng nếu bị cảnh sát thẩm vấn và yêu cầu được gặp luật sư.

    Việc giữ im lặng cho đến khi nói chuyện với luật sư sẽ không bị coi là tình tiết chống lại người bị bắt. Bộ quy tắc về tố tụng hình sự của Hoa Kỳ cũng có những quan niệm tương tự với nội dung: Người bị buộc tội có quyền tiếp xúc với người bào chữa trong mọi giai đoạn tố tụng hình sự, bắt đầu từ lần xuất hiện lần đầu tiên của người bị buộc tội i trước cơ quan tố tụng có thẩm quyền. Nếu người bị buộc tội yêu cầu sự có mặt người bào chữa trong quá trình thẩm tra của cảnh sát thì cảnh sát viên buộc phải chấm dứt việc xét hỏi cho đến khi có mặt người bào chữa.

    Có một số người thì lại cho rằng quyền im lặng làm giảm thiểu tác động tổng hợp này, do đó làm giảm tỉ lệ kết tội nhầm, bằng cách cung cấp cho tội phạm điều thay thế hấp dẫn để nói dối. Theo quan điểm này sẽ hiểu nếu người vô tội nói sự thật, trong khi thực hiện quyền im lặng thì những tên tội phạm nguy hiểm thì lại lời khai dối trá và không muốn thú nhận.

    Sự tách biệt này sẽ giúp nhà lập pháp có những thiết chế dành riêng trong trường hợp đi chứng minh sự có tội của những tên tội phạm nguy hiểm vì lời khai dối trá và không muốn thú nhận. Sự luận giải này giải thích cho lý do quyền im lặng không phải là gây cản trở điều tra và giúp nhiều tội phạm nguy hiểm lọt lưới khỏi sự trừng trị của pháp luật.

    Kết luận

    Quyền im lặng là quyền im lặng cơ bản của con người trong tố tụng hình sự và là một trong những biện pháp quan trọng bảo vệ quyền con người. Việc quy định rõ ràng quyền im lặng trong pháp luận tố tụng hình sự là hết sức cần thiết nhằm tránh hiện tượng oan sai, bức cung, nhục hình, các sai phạm trong tố tụng hình sự của các chủ thể tiến hành tố tụng. Thực tiễn tố tụng hình sự của nhiều nước có nền tư pháp phát triển như Anh, Hoa Kỳ, CHLB Đức,… Có quy định về chế định quyền im lặng đã chứng minh điều này.

    Hy vọng qua bài viết này sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn về quyền im lặng trong pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Linh Chi, Hà Hồ: Khi “người Thứ Ba” Quên Đi Luật Im Lặng
  • Luật Im Lặng, Lạm Dụng Tâm Lý Ngụy Trang
  • Quyền Được Im Lặng Đến Khi Có Luật Sư
  • Gs Luật Mỹ: ‘áp Dụng Quyền Im Lặng Không Nhằm Tránh Oan Sai’
  • Nguồn Gốc Tranh Cãi Của Quyền Im Lặng
  • Luật Im Lặng Của Mafia

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Đề Vật Lý 11
  • Định Luật Okun – Du Học Trung Quốc 2021
  • Đầu Tư Theo Hình Thức Đối Tác Công Tư (Ppp) Là Gì?
  • Chủ Thể Luật Quốc Tế Là Gì? Phân Loại Chủ Thể Luật Quốc Tế
  • Áp Dụng Quy Luật Bình Quân Trong Tư Vấn, Dịch Vụ Khách Hàng Bảo Hiểm Nhân Thọ.
  • PV: Các anh có thể giới thiệu qua về đội hình hiện tại của ban nhạc được không?

    Guitarist Duy Tân: Hiện tại thì ban nhạc đã ổn định với đội hình gồm có 5 thành viên gồm: drumer Hồng Ân, bassist Đình An, guitarist Thanh Hoàng, vocalist Toàn và cuối cùng là mình Duy Tân.

    Guitarist Duy Tân: Omerta là một từ tiếng Ý, có nghĩa là Luật Im lặng của Mafia. Tất nhiên khi đặt tên cho ban nhạc thì nó phải có một nghĩa nào đó và Omerta cũng chính là cảm hứng chủ đạo cho các tác phẩm của ban nhạc.

    PV: Các anh có thể kể một chút về quá trình hình thành Omerta?

    Guitarist Duy Tân: Thực ra ban nhạc được hình thành cũng khá lâu rồi, nhưng  lúc đó còn thiếu thành viên và gặp nhiều khó khăn, đã có lúc gần như tan rã vì những khúc mắc. Tuy nhiên, có lẽ cái duyên với âm nhạc chưa hết được nên mọi chuyện được giải quyết và sau đó ban nhạc lại tiếp tục. Sau một thời gian, có những thành viên rời ban, phải rất lâu sau thì ban nhạc mới tìm được thành viên để tiếp tục nuôi đam mê. Và, bây giờ thì ban nhạc đã khá ổn định, Omerta trở lại hoạt động cũng được 3 tháng rồi.

    Gần đây ban nhạc cũng có tham gia một số chương trình như show 29 -11,  Dark Night và một số show nhỏ khác.

    PV: Chơi nhạc cũng đã được một thời gian, các anh có  thể kể về những kỉ niệm mà các anh đã có?

    Guitarist Thanh Hoàng: Lần đầu tiên bước lên sân khấu, không hiểu sao mà run không chịu được (cười), cảm giác hoàn toàn khác với lúc tập. Chẳng nghe được người nào đánh như thế nào, chỉ nghe được mỗi mình mình, nên thành ra run run. Show đầu tiên ban nhạc chơi không được tốt lắm, phải đến những show sau đó thì ban nhạc mới dần quen và chơi tốt hơn. Cảm giác được nhìn khán giả phía dưới thật sự rất tuyệt. Ngày xưa, mình đứng ở vị trí đó để thưởng thức, nhưng giờ thì mình được đứng trên sân khấu để cho người khác thưởng thức, điều đó quả là rất thú vị.

    PV: Omerta có gặp nhiều khó khăn khi chơi nhạc?

    Guitarist Thanh Hoàng: Tất nhiên là bất cứ ban nhạc nào cũng gặp khó khăn, chẳng hạn như khó khăn trong việc tìm  thành viên –  một vấn đề nan giải. Để tìm một thành viên chơi tốt và ăn ý với ban nhạc  thì không dễ chút nào. Sau đó là tìm phòng tập, nhạc cụ. Ngoài ra, chơi nhạc chỉ vì đam mê, các thành viên trong ban nhạc còn phải đi học và đi làm, việc  sắp xếp lịch để không bị trùng cũng khó. Có lúc mọi người phải cúp học, nghỉ làm để tập nhạc và đi diễn. Nhiều khi cũng rất mệt mỏi, nhưng nhờ có drumer chơi khá tốt, tạo cho mọi người một chỗ dựa,  nhờ thế mà kĩ năng chơi nhạc của các thành viên cũng khá hơn , tình thần cũng phấn khích hơn.

    Omerta trong show ra mắt khán giả chúng tôi (29/11)

    Omerta trong show ra mắt khán giả chúng tôi (29/11)

    PV: Định hướng cho ban nhạc trong thời gian săp tới?

    Guitarist Duy Tân: Sắp tới thì ban vẫn tiếp tục tập luyện, sáng tác và thu demo.

    PV: Anh có thẻ chia sẻ  đôi điều về các sáng tác của nhóm?

    Guitar Duy Tân: Hiện tại thì nhóm đã có 5 sáng tác hoàn chỉnh và 2 sáng tác đang hình thành.  5 sáng tác đó là: The Errant Law, Lack of Fire, Opium, Grow up from the Sickness và Storms.

    Nội dung chủ yếu là xoay quanh cuộc sống của Mafia. Hầu hết các sáng tác đều đả kích, cực đoan, cục súc và phẫn nộ đối với con người, những hành động, suy nghĩ ấu trĩ của con người. Chúng tôi đưa vào sáng tác của mình những điều chướng tai, gai mắt mà chúng tôi bắt gặp hằng ngày, khi đi trên đường, khi xem TV. Khi có cảm hứng về một điều gì đó thì chúng tôi đều cầm bút và viết nó thành nhạc. Khi hát lên, chúng tôi cảm giác như đang gào thét, đang kêu van, đang đấm thẳng vào những cái khó chịu đó. Đó là lí do vì sao chúng tôi chọn Thrash và Death để thể hiện ý tưởng và cảm hứng của mình.

    Chúng tôi sẽ thu demo  cho các sáng tác đó, và có lẽ đến một ngày nào đó, khi điều kiện cho phép thì chúng tôi sẽ cho ra album. Có thể (cười).

    PV: Rất cảm ơn Omerta đã dành thời gian để chia sẻ về ban nhạc. Mong rằng, trong thời gian sắp tới nhóm sẽ phát triển và gặp nhiều thành công hơn!

    (Theo RockPassion.vn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Pháp Luật Và Nghề Luật Là Gì?
  • Luật Thương Mại Là Gì? Luật 2005 – 2021 Hiện Hành
  • Murphy: Định Luật Bánh Bơ
  • Khám Sức Khỏe Và Tape Measure Thử Nghiệm Tại Nhật Bản
  • Giáo Lý Thánh Kinh: Bài 25
  • Trích Dẫn Sách Luật Im Lặng

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuyên Gia Luật Hoa Kỳ Chia Sẻ Về Quyền Im Lặng
  • “nhập Khẩu” Quyền Im Lặng Và Những Hệ Lụy
  • Combo 5 Tiểu Thuyết Của Mario Puzo
  • Thành Lập Cơ Sở In Ấn Xuất Bản Phẩm
  • Xử Phạt Trong Lĩnh Vực Kinh Doanh In Ấn, Xuất Bản
  • Đừng có tin vào lòng biết ơn về những gì đã làm cho con người trong quá khứ cháu phải bắt họ mang ơn vì những gì cháu sẽ làm cho họ trong tương lai.

    3. Raymonde Aprile là kẻ sống bằng những luật lệ hà khắc xuất xứ từ chuẩn mực riêng biệt của chính mình.

    Nguyên tắc ứng xử của lão đã làm lão được trọng nể suốt hơn ba mươi năm và làm nảy sinh nỗi khiếp sợ lạ thường tạo ra nền tảng uy quyền của lão. Giáo điều chính của nó là hoàn toàn không có lòng nhân từ.

    Điều đó bắt nguồn không phải từ cái ác bẩm sinh, từ lòng thèm muốn bệnh hoạn được thấy kẻ khác phải chịu đau đớn và khuất phục mà là từ niềm tin tuyệt đối: Những kẻ ấy luôn luôn từ chối vâng lời. Ngay cả Lucifer, đường đường là một vị thánh, còn bị tống cổ khỏi thiên đường vì dám coi thường Chúa cơ mà.

    4. – Lòng nhân từ là một sự yếu đuối, là khát vọng vươn tới những quyền lực mà ta không có được. Những kẻ thể hiện lòng nhân từ đã xúc phạm nạn nhân đến mức không thể tha thứ được, và đấy không phải là bổn phận của chúng ta trên trái đất này.

    5. Khi thẩm vấn chị ông rất ngạc nhiên bởi chị không có thành kiến hay căm ghét ông – một nhân viên FBI. Thực vậy, chị có vẻ tò mò về công việc của ông. Ông nói với chị đơn giản ông là một trong những người bảo vệ xã hội. Một xã hội không thể tồn tại được nếu thiếu một vài quy định. Ông nửa đùa nửa thật nói thêm, ông là một tấm lá chắn giữa những người như chị và những kẻ muốn ăn tươi nuốt sống chị để phục vụ cho những mưu đồ riêng của họ.

    6. Người thuyết minh ngân nga: Mỗi công nương xứng với một hoàng tử. Nhưng nàng công nương này còn có một bí mật”. Một người sành điệu luôn có một lọ nước hoa bằng pha lê tao nhã, nhãn hiệu sản phẩm rất rõ ràng. Người thuyết minh tiếp tục: ” Với một giọt nhỏ nước hoa Princess, các bạn cũng có thể bắt được chàng hoàng tử của mình – và không bao giờ phải lo về mùi khó ngửi nữa.

    7. – Đừng có tin vào lòng biết ơn về những gì đã làm cho con người trong quá khứ, chàng nhớ ông Trùm đã dạy chàng. Cháu phải bắt họ mang ơn vì những gì cháu sẽ làm cho họ trong tương lai. Các nhà băng là tương lai của gia đình Aprile, Astorre và đội quân đang lớn mạnh của chàng. Đó là một tương lai đáng để đấu tranh bảo vệ bằng mọi giá.

    8. Thế đấy cuộc sống vẫn luôn tàn nhẫn và đầy rẫy những khó khăn với lớp trẻ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Review Sách Luật Im Lặng (Mario Puzo)
  • Review Sách Tác Phẩm Luật In Lặng Cuốn Sách Về Luật Pháp Sicilia
  • Quyền Im Lặng Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
  • Từ 1/7/2016, “quyền Im Lặng” Của Người Bị Bắt Có Hiệu Lực
  • Quyền Im Lặng Trong Pháp Luật Việt Nam
  • Quyền Im Lặng Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Quyền Im Lặng Theo Luật Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyền Im Lặng Là Gì?
  • Quyền Im Lặng Của Bị Can, Bị Cáo Được Quy Định Thế Nào?
  • Người Đầu Tiên Phá ‘luật Im Lặng’ Của Mafia
  • Khám Phá Luật Lệ Của Mafia
  • Tiết Lộ Đời Làm Vợ Các Ông Trùm Mafia
  • Quyền im lặng là gì? Hiểu thế nào về quyền im lặng theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện này? Ai được sử dụng quyền im lặng?

    Nguồn gốc của “Quyền im lặng”

    “Quyền im lặng” hay được biết đến rộng rãi bằng tên gọi “Quyền Miranda” bắt nguồn từ pháp luật Mỹ.

    Quyền này được giải thích là: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa”

    Nguyên tắc “quyền Miranda” được pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới ghi nhận. Tại Việt Nam, pháp luật hiện không đưa ra định nghĩa về “Quyền im lặng”.

    BLTTHS năm 2021 không nêu khái niệm về “Quyền im lặng”, nhưng đã cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản về quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013 như: Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” (Điều 13); “Xác định sự thật của vụ án” (Điều 15); “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” (Điều 16); “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26).

    Điều 58 khoản 1 điểm e; điều 59 khoản 2 điểm c; điều 60 khoản 1 điểm d; điều 61 khoản 2 điểm h BLTTHS năm 2021 quy định về quyền được “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”.

    Ai được sử dụng quyền im lặng?

    Theo quy định tại các Điều 58 khoản 1 điểm e; điều 59 khoản 2 điểm c; điều 60 khoản 1 điểm d; điều 61 khoản 2 điểm h BLTTHS năm 2021 thì những đối tượng sau được sử dụng quyền im lặng:

    – Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt

    – Người bị tạm giữ

    – Bị can, bị cáo

    – Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền chủ động về việc khai báo. Những gì bị can, bị cáo thấy bất lợi cho mình, họ có thể không buộc phải khai báo cũng như không buộc phải nhận mình có tội trước cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

    – Quyền im lặng được thể hiện xuyên suốt từ khi bị bắt, bị khởi tố cho đến xét xử.

    Một số quy định về nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho Quyền im lặng của đương sự

    Điều 13, 15, 16 và 26 Bộ luật TTHS đã quy định về các nguyên tắc gián tiếp đảm bảo cho Quyền im lặng của đương sự, cụ thể:

    Điều 13 Bộ luật TTHS quy định Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

    Theo đó, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội và sẽ được kết luận không có tội khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định

    Xác định sự thật của vụ án

    Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

    Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

    Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

    Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.

    Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

    Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

    Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

    Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Hỏi Ngã Trong Tiếng Việt
  • Một Vài Biện Pháp Giúp Hs Lớp 4, Lớp 5 Viết Đúng Chính Tả Về Dấu Hỏi, Dấu Ngã/ Phụ Âm Đầu X/s. Skkn Mon Chinh Ta Phan Biet S X Trkh Doc
  • Giúp Học Sinh Tiểu Học Viết Đúng Dấu Hỏi/ Dấu Ngã
  • Dấu Hỏi Và Dấu Ngã Trong Tiếng Việt Chnhttingvit Doc
  • Dấu Hỏi (?) & Dấu Ngã (~)
  • Người Đầu Tiên Phá “luật Im Lặng” Của Mafia

    --- Bài mới hơn ---

  • #1 Cơ Cấu Tổ Chức Và Hoạt Động Của Tổ Chức Tội Phạm Kiểu Mafia Ý
  • Ebook Luật Im Lặng: Phần 2
  • Hận Năm Cam, Hải “bánh” Phá Vỡ “luật Im Lặng” Trong Giang Hồ
  • Năm Cam Bội Nghĩa, Hải ‘bánh’ Phá ‘luật Im Lặng’ Giang Hồ (3)
  • ‘ông Trùm’ Năm Cam Và Bí Ẩn ‘luật Im Lặng’
  • Tommaso Buscetta sinh ngày 13/7/1928, trong gia đình có 17 con ở Palermo, Sicily, Italy. Lớn lên trong nghèo khó và có ít cơ hội việc làm, Buscetta nhanh chóng bị con đường phạm tội hấp dẫn và trở thành thành viên duy nhất trong gia đình gia nhập mafia.

    Tommaso Buscetta (giữa) bị cảnh sát Italy áp giải năm 1972. Ảnh: AP.

    Buscetta bắt đầu dính líu đến mafia ở Italy từ cuối Thế chiến II, khi mới 17 tuổi. Ông tham gia hoạt động buôn lậu thuốc lá của các băng nhóm trong suốt những năm 1950 và 1960 với địa bàn hoạt động ở Argentina và Brazil. Đầu thập niên 1960, Buscetta đến New York và làm việc trong một thời gian ngắn cho gia đình Gambino, một trong 5 nhóm mafia thống trị thế giới ngầm New York.

    Mặc dù Buscetta không có thứ hạng cao trong hàng ngũ mafia, đầu óc và kinh nghiệm của ông khiến ngay cả những thành viên cấp cao nhất cũng xin lời khuyên từ ông. Buscetta được đặt biệt danh “ông trùm của hai thế giới”.

    Tuy nhiên, những vụ trả thù và thanh toán nội bộ đã khiến Buscetta quay lưng với mafia. Năm 1982, sát thủ mafia giết hai con trai, con rể, người anh thân nhất và cháu trai của Buscetta ở Palermo.

    Buscetta bị bắt ở Brazil một năm sau và bị trục xuất về Italy ngày 28/6/1984. Sau khi tự tử bất thành, Buscetta đồng ý hợp tác với giới chức Italy và Mỹ. Ông yêu cầu được nói chuyện với thẩm phán chống mafia Giovanni Falcone và dành 45 ngày để cung cấp thông tin về hoạt động nội bộ, cấu trúc và ủy ban cầm đầu của mafia, nhưng từ chối tiết lộ về các mối liên hệ của mafia với giới chính trị.

    Ông trở thành người đầu tiên phá vỡ Omerta, “luật im lặng” yêu cầu các thành viên mafia giữ bí mật về hoạt động của tổ chức và từ chối cung cấp thông tin cho chính quyền.

    “Đối với tôi, cái chết giống như bóng râm vào ngày nắng. Là một thành viên mafia, tôi biết rằng tôi phải tuân thủ các quy định”, Buscetta nói. “Nhưng những cái chết oan uổng của những người vô tội đã khiến tôi không thể tiếp tục làm thành viên mafia. Đây là đòn trả thù”.

    “Phá vỡ luật im lặng là quyết định khó khăn nhất trong đời Buscetta vì ông ấy có cảm giác rằng mình phá vỡ thứ gì đó thiêng liêng”, vợ của Buscetta, sử dụng tên giả là Cristina, nói với một đoàn làm phim tài liệu về chồng mình.

    Italy không có chương trình bảo vệ nhân chứng, vì vậy, Mỹ chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn cho Buscetta. Họ đưa ông đến Mỹ, cho ông nhập tịch và sống trong một ngôi nhà bí mật ở New Jersey. Đổi lại, Buscetta tiết lộ cho họ các thông tin về mafia ở Mỹ.

    Một đặc vụ Cục Phòng chống Ma túy Mỹ mô tả Buscetta vào thời điểm đó là “nhân chứng quan trọng nhất, bị truy tìm gắt gao nhất và tính mạng bị đe dọa nhất trong lịch sử tội phạm Mỹ”.

    Năm 1986, Buscetta ra làm chứng tại phiên tòa chống lại mafia lớn nhất trong lịch sử có tên là Maxi, diễn ra ở Palermo. Buscetta đã giúp các thẩm phán Giovanni Falcone và Paolo Borsellino đạt được thành công đáng kể bằng việc truy tố 475 thành viên mafia và kết án 339 người.

    Tuy nhiên, Buscetta đã cảnh báo thẩm phán Falcone rằng ông đang đi một con đường nguy hiểm. “Đầu tiên, chúng sẽ tìm cách kết liễu tôi, sau đó đến lượt ông”, Buscetta nói. “Chúng sẽ kiên trì cho đến khi thành công”.

    Giovanni Falcone (trái) và Paolo Borsellino tại Italy tháng 3/1992. Ảnh: Commons.

    Falcone bị ám sát trong một vụ đánh bom tháng 5/1992. Thẩm phán Paolo Borsellino bị ám sát hai tháng sau. Buscetta sau đó cung cấp thêm cho giới chức thông tin về những chính trị gia qua lại với mafia.

    Công tố viên Louis Freeh, người sau này trở thành giám đốc FBI, nói rằng Buscetta đã cung cấp những thông tin rất quan trọng về cách mafia hoạt động. Trước khi qua đời, Falcone nói trong một cuộc phỏng vấn về sự hợp tác của Buscetta rằng: “Trước khi ông ấy tiết lộ thông tin, chúng tôi chỉ có những hiểu biết hời hợt về mafia. Nhờ có ông ấy, chúng tôi hiểu được nội tình tổ chức”.

    Sự hợp tác của Buscetta mang đến cho ông sự tự do, thoát khỏi cảnh tù tội. Tuy nhiên, Buscetta phải sống trong “nhà tù” của riêng mình: ông phải dùng tên giả, luôn phải giữ kín hành tung vì lo sợ bị truy sát.

    Sau khi qua đời năm 2000 ở tuổi 71 vì ung thư, Buscetta được chôn cất tại Miami, Florida. Vợ ông nói rằng ngay cả hàng xóm cũng không biết họ thực sự là ai.

    Đến giờ con cháu của Buscetta vẫn sống trong nỗi lo bị trả thù. Các thành viên mafia có thể coi việc giết được hậu duệ của Buscetta là “chiến lợi phẩm”. “Mafia không quên đâu”, Cristina nói.

    Theo VNE

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Im Lặng Là Gì? Quyền Im Lặng Được Hiểu Như Thế Nào Trong Pháp Luật
  • Linh Chi, Hà Hồ: Khi “người Thứ Ba” Quên Đi Luật Im Lặng
  • Luật Im Lặng, Lạm Dụng Tâm Lý Ngụy Trang
  • Quyền Được Im Lặng Đến Khi Có Luật Sư
  • Gs Luật Mỹ: ‘áp Dụng Quyền Im Lặng Không Nhằm Tránh Oan Sai’
  • Người Đầu Tiên Phá ‘luật Im Lặng’ Của Mafia

    --- Bài mới hơn ---

  • Khám Phá Luật Lệ Của Mafia
  • Tiết Lộ Đời Làm Vợ Các Ông Trùm Mafia
  • Tải Sách Luật Im Lặng Pdf/ebook/epub
  • Được Im Lặng Đến Khi Có Luật Sư
  • Nguồn Gốc Tranh Cãi Của Quyền Im Lặng
  • Tommaso Buscetta sinh ngày 13/7/1928, trong gia đình có 17 con ở Palermo, Sicily, Italy. Lớn lên trong nghèo khó và có ít cơ hội việc làm, Buscetta nhanh chóng bị con đường phạm tội hấp dẫn và trở thành thành viên duy nhất trong gia đình gia nhập mafia.

    Buscetta bắt đầu dính líu đến mafia ở Italy từ cuối Thế chiến II, khi mới 17 tuổi. Ông tham gia hoạt động buôn lậu thuốc lá của các băng nhóm trong suốt những năm 1950 và 1960 với địa bàn hoạt động ở Argentina và Brazil. Đầu thập niên 1960, Buscetta đến New York và làm việc trong một thời gian ngắn cho gia đình Gambino, một trong 5 nhóm mafia thống trị thế giới ngầm New York.

    Mặc dù Buscetta không có thứ hạng cao trong hàng ngũ mafia, đầu óc và kinh nghiệm của ông khiến ngay cả những thành viên cấp cao nhất cũng xin lời khuyên từ ông. Buscetta được đặt biệt danh “ông trùm của hai thế giới”.

    Tuy nhiên, những vụ trả thù và thanh toán nội bộ đã khiến Buscetta quay lưng với mafia. Năm 1982, sát thủ mafia giết hai con trai, con rể, người anh thân nhất và cháu trai của Buscetta ở Palermo.

    Buscetta bị bắt ở Brazil một năm sau và bị trục xuất về Italy ngày 28/6/1984. Sau khi tự tử bất thành, Buscetta đồng ý hợp tác với giới chức Italy và Mỹ. Ông yêu cầu được nói chuyện với thẩm phán chống mafia Giovanni Falcone và dành 45 ngày để cung cấp thông tin về hoạt động nội bộ, cấu trúc và ủy ban cầm đầu của mafia, nhưng từ chối tiết lộ về các mối liên hệ của mafia với giới chính trị.

    Ông trở thành người đầu tiên phá vỡ Omerta, “luật im lặng” yêu cầu các thành viên mafia giữ bí mật về hoạt động của tổ chức và từ chối cung cấp thông tin cho chính quyền.

    “Đối với tôi, cái chết giống như bóng râm vào ngày nắng. Là một thành viên mafia, tôi biết rằng tôi phải tuân thủ các quy định”, Buscetta nói. “Nhưng những cái chết oan uổng của những người vô tội đã khiến tôi không thể tiếp tục làm thành viên mafia. Đây là đòn trả thù”.

    “Phá vỡ luật im lặng là quyết định khó khăn nhất trong đời Buscetta vì ông ấy có cảm giác rằng mình phá vỡ thứ gì đó thiêng liêng”, vợ của Buscetta, sử dụng tên giả là Cristina, nói với một đoàn làm phim tài liệu về chồng mình.

    Italy không có chương trình bảo vệ nhân chứng, vì vậy, Mỹ chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn cho Buscetta. Họ đưa ông đến Mỹ, cho ông nhập tịch và sống trong một ngôi nhà bí mật ở New Jersey. Đổi lại, Buscetta tiết lộ cho họ các thông tin về mafia ở Mỹ.

    Một đặc vụ Cục Phòng chống Ma túy Mỹ mô tả Buscetta vào thời điểm đó là “nhân chứng quan trọng nhất, bị truy tìm gắt gao nhất và tính mạng bị đe dọa nhất trong lịch sử tội phạm Mỹ”.

    Năm 1986, Buscetta ra làm chứng tại phiên tòa chống lại mafia lớn nhất trong lịch sử có tên là Maxi, diễn ra ở Palermo. Buscetta đã giúp các thẩm phán Giovanni Falcone và Paolo Borsellino đạt được thành công đáng kể bằng việc truy tố 475 thành viên mafia và kết án 339 người.

    Tuy nhiên, Buscetta đã cảnh báo thẩm phán Falcone rằng ông đang đi một con đường nguy hiểm. “Đầu tiên, chúng sẽ tìm cách kết liễu tôi, sau đó đến lượt ông”, Buscetta nói. “Chúng sẽ kiên trì cho đến khi thành công”.

    Falcone bị ám sát trong một vụ đánh bom tháng 5/1992. Thẩm phán Paolo Borsellino bị ám sát hai tháng sau. Buscetta sau đó cung cấp thêm cho giới chức thông tin về những chính trị gia qua lại với mafia.

    Công tố viên Louis Freeh, người sau này trở thành giám đốc FBI, nói rằng Buscetta đã cung cấp những thông tin rất quan trọng về cách mafia hoạt động. Trước khi qua đời, Falcone nói trong một cuộc phỏng vấn về sự hợp tác của Buscetta rằng: “Trước khi ông ấy tiết lộ thông tin, chúng tôi chỉ có những hiểu biết hời hợt về mafia. Nhờ có ông ấy, chúng tôi hiểu được nội tình tổ chức”.

    Sự hợp tác của Buscetta mang đến cho ông sự tự do, thoát khỏi cảnh tù tội. Tuy nhiên, Buscetta phải sống trong “nhà tù” của riêng mình: ông phải dùng tên giả, luôn phải giữ kín hành tung vì lo sợ bị truy sát.

    Sau khi qua đời năm 2000 ở tuổi 71 vì ung thư, Buscetta được chôn cất tại Miami, Florida. Vợ ông nói rằng ngay cả hàng xóm cũng không biết họ thực sự là ai.

    Đến giờ con cháu của Buscetta vẫn sống trong nỗi lo bị trả thù. Các thành viên mafia có thể coi việc giết được hậu duệ của Buscetta là “chiến lợi phẩm”. “Mafia không quên đâu”, Cristina nói.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Im Lặng Của Bị Can, Bị Cáo Được Quy Định Thế Nào?
  • Quyền Im Lặng Là Gì?
  • Quyền Im Lặng Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Quyền Im Lặng Theo Luật Việt Nam
  • Luật Hỏi Ngã Trong Tiếng Việt
  • Một Vài Biện Pháp Giúp Hs Lớp 4, Lớp 5 Viết Đúng Chính Tả Về Dấu Hỏi, Dấu Ngã/ Phụ Âm Đầu X/s. Skkn Mon Chinh Ta Phan Biet S X Trkh Doc
  • Quyền Im Lặng Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyền Im Lặng Của Bị Can, Bị Cáo Được Quy Định Thế Nào?
  • Người Đầu Tiên Phá ‘luật Im Lặng’ Của Mafia
  • Khám Phá Luật Lệ Của Mafia
  • Tiết Lộ Đời Làm Vợ Các Ông Trùm Mafia
  • Tải Sách Luật Im Lặng Pdf/ebook/epub
  • 1. Quyền im lặng (hay còn được gọi là quyền Miranda) bắt nguồn từ đâu?

    Vụ án hình sự của Miranda tại bang Arizona, Hoa Kỳ vào năm 1966 là khởi nguồn cho những nguyên tắc cơ bản của “quyền im lặng” trong nền luật pháp hiện đại của Hoa Kỳ cũng như luật pháp của nhiều nước trên thế giới. Vì giới hạn nội dung của bài viết, tác giả xin được phép tóm tắt vụ kiện Miranda một cách ngắn gọn như sau.

    Ngày 13/3/1963, nghi phạm Miranda Ernesto, 22 tuổi, vốn là một kẻ vào tù ra tội đã bị cảnh sát hạt Phonix, Mỹ bắt giữ để thẩm vấn khi bị người anh trai của một nữ nạn nhân trong vụ án hiếp dâm tố cáo. Sau quá trình thẩm vấn tại cơ quan cảnh sát, mà sau này được Tòa án tối cao Hoa Kỳ kết luận rằng đã có sự ép cung đối với người bị thẩm vấn. Miranda đã nhận tội và lời khai nhận tội của Miranda được anh viết vào một tờ giấy được cảnh sát đưa cho có sẵn dòng ghi chú “…Lời khai của tôi hoàn toàn dựa trên sự tự nguyện và tự do ý chí, tôi không hề bị đe dọa, ép buộc hoặc được hứa hẹn vô tội, tôi nhận thức đầy đủ về quyền lợi hợp pháp của mình và hiểu rằng bất cứ phát ngôn nào của tôi đều có thể và sẽ được dùng để chống lại tôi”.

    Vào thời điểm đó, sẽ chẳng ngạc nhiên khi Miranda đã bị tòa án hạt Phonix và Tòa án tối cao bang Arizona kết án về tội hiếp dâm và tuyên phạt 30 năm tù. Tuy nhiên, lịch sử của nền pháp luật hình sự Hoa Kỳ đã có một bước ngoặt lớn kể từ thời điểm các luật sư bào chữa cho Miranda kiên quyết kháng cáo đối với bản án sơ thẩm. Sau khi xem xét lại toàn bộ vụ án, cùng sự biện hộ của các luật sư, Tòa án tối cao Hoa Kỳ đã kết luận thủ tục bắt giữ và thẩm vấn Miranda đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, xâm phạm tới quyền lợi chính đáng của một công dân. Vì lẽ, theo Tu chính án số 5 của Hiến pháp Hoa Kỳ nêu rằng:

    “….không một ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại bản thân mình trong một vụ án hình sự và bị tước đoạt sinh mạng, tự do hoặc tài sản, nếu không qua một quá trình xét xử theo đúng luật; không một tài sản tư hữu nào bị trưng dụng vào việc công mà không được bồi thường thích đáng.

    Theo những gì Tòa án tối cao Hoa Kỳ nhận định, trong quá trình bắt giữ Miranda, anh không hề được thông báo về quyền lợi chính đáng mà anh ta xứng đang được tôn trọng theo Hiến pháp Hoa Kỳ. Chánh án Tòa án Tối cao Mỹ Earl Warren viết trong phán quyết rằng một người bị bắt giữ trước khi bị thẩm vấn phải được thông báo một cách rõ ràng rằng họ có quyền giữ im lặng và bất kỳ điều gì người đó nói ra sẽ được sử dụng để chống lại người đó trước Tòa án. Người đó phải được thông báo rõ ràng rằng anh ta có quyền tư vấn với luật sư và có quyền có luật sư bên cạnh mình trong khi thẩm vấn và rằng nếu người đó là người nghèo, anh ta sẽ được chỉ định một luật sư đại diện. Phán quyết của Toà án tối cao Mỹ lật ngược bản bán của Tòa án Tối cao bang Arizona, và cho rằng Miranda không phạm tội cưỡng dâm. Phán quyết cũng khẳng định rằng chỉ khi nghi phạm được thông báo một cách rõ ràng và dứt khoát về những quyền hiến định của họ trước khi thẩm vấn thì những lời khai của họ mới được chấp nhận.

    Và cũng kể từ sự kiện này, ngành cảnh sát Hoa Kỳ cũng đưa ra một bộ quy tắc chung cho quá trình bắt giữ các nghi phạm hình sự. Trong đó quy định việc đầu tiên mỗi khi cảnh sát thực hiện việc bắt giữ một người khác đó là phải nêu ra những quyền lời chính đáng theo pháp luật họ xứng đáng được nhận, cụ thể đó là quyền được giữ im lặng và quyền được có luật sư.

    Tuy nhiên, nếu nhìn rộng ra, quay ngược bánh xe lịch sử về thời La mã cổ đại, nhiều học giả, luật gia trên thế giới cũng có những nghiên cứu chỉ ra rằng khi “quyền im lặng” đã xuất hiện trong pháp luật của nhà nước La Mã. Xuất phát từ nguyên tắc của người La Mã và được sử dụng trong lĩnh vực dân sự, thương mại khi ở đó người ta khẳng định “trách nhiệm chứng minh thuộc bên khẳng định chứ không phải bên phủ định”, tức là người buộc tội sẽ phải chứng minh hành vi phạm tôi và người bị buộc tội sẽ không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội. Nhưng ở thời kỳ đó, chế định này có thiên hướng bảo vệ giới tinh hoa, giai cấp thống trị nhiều hơn so với quyền im lặng trong nền pháp luật hiện đại, khi quyền im lặng bảo vệ những quyền cơ bản của tất cả mọi người dưới sự điều chỉnh của pháp luật.

    Có thể thấy, ngày nay, với xu hướng phát triển ngày càng văn mình, hiện đại của nhân loại, những tiến bộ của nền pháp luật tiên tiến dần được áp dụng một cách rộng rãi và được nhiều quốc gia áp dụng. Pháp luật Việt Nam cũng nằm trong xu thế đó của thời đại.

    2. Quyền im lặng trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam

    Nếu dựa trên các công ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết trong quá khứ, có thể thấy rằng Việt Nam đã công nhận quyền im lặng thông qua “Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị của Liên Hợp Quốc năm 1966” mà Việt Nam đã tham gia ký kết vào năm 1982. Cụ thể tại điểm g, khoản 3 Điều 14 Công ước này quy định quá trình xét xử về một tội hình sự, mọi người đều có quyền được hưởng một cách đầy đủ và hoàn toàn bình đẳng những đảm bảo tối thiểu sau đây: “Không bị buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận là mình có tội.”

    Tuy nhiên thực tiễn trong quá trình lập pháp và áp dụng pháp luật tại Việt Nam, phải tới bản Hiến pháp 2013 mới lần đâu tiên đề cao việc bảo vệ, tôn trọng quyền con người. Để cụ thể hóa Hiến pháp trong công tác tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự 2021 nêu ra một số nguyên tắc, một trong số đó là nguyên tắc suy đoán vô tội và “quyền im lặng” là nội hàm của nguyên tắc này. Dù trong Bộ luật tố tụng hình sự 2021 không quy định trực tiếp về quyền im lặng tại một điều luật cụ thể nào. Tuy nhiên, dựa trên tinh thần của nguyên tắc suy đoán vô tội và những đặc điểm cơ bản của quyền im lặng được pháp luật quốc tế công nhận, các nhà lập pháp đã gián tiếp quy định về quyền im lặng giải rác tại nhiều điều luật khác nhau. Cụ thể tại điểm c khoản 2 Điều 59; điểm d khoản 2 Điều 60; điểm h khoản 2 Điều 61 Bộ luật tố tụng hình sự 2021 lần lượt quy định về người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền “trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội.”

    Để củng cố thêm cho việc áp dụng nguyên tắc suy đoán đoán vô tội và quyền im lặng, tại khoản 2 Điều 98 Bộ luật tố tụng hình sự 2021 quy định như sau:

    2. Lời nhận tội của bị can, bị cáo chỉ có thể được coi là chứng cứ nếu phù hợp với những chứng cứ khác của vụ án.

    Không được dùng lời nhận tội của bị can, bị cáo làm chứng cứ duy nhất để buộc tội, kết tội.

    Như vậy, bên cạnh việc bị can, bị cáo không phải khai những lời khai buộc tội chống lại mình, thì với quy định này, còn nhằm mục đích quy định nghĩa vụ chứng minh hành vi phạm tội của bị can, bị cáo thuộc về phía cơ quan điều tra. Thúc đẩy cơ quan điều tra phải tìm ra những chứng cứ thuyết phục để chứng minh hành vi phạm tội dựa trên sự thật khách quan. Lời nhận tội của bị can, bị cáo sẽ chỉ được xem xét là một chứng cứ để buộc tội bị can, bị cáo nếu lời khai đó phù hợp với những lời khai khác của những người làm chứng hoặc phù hợp với những chứng cứ khác qua các biện pháp điều tra hiện trường, giám định hiện trường,….

    Ngăn chặn tình trạng bức cung, nhục hình

    Phải nhìn nhận một cách thực tế rằng tại Việt Nam, hiện tượng bức cung, nhục hình diễn ra khá phổ biến trong quá khứ. Tuy đã có chiều hướng thuyên giảm trong những năm gần đây nhưng phần nào đó vẫn còn tồn tại ở một số nơi, khi vẫn còn tình trạng đánh đập, đe dọa bị can, bị cáo, người bị tạm giữ. Đây là những hành vi trái pháp luật, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người và có thể để lại những hậu quả nghiêm trọng đối sức khỏe, tính mạng của người bị bức cung, nhục hình. Việc phổ biến kiến thức về pháp luật, những quyền con người chính đáng tới đông đảo người dân cũng như việc giáo dục chính trị, đào tạo phẩm chất, kỹ năng nghề nghiệp của các cán bộ điều tra về quyền im lặng và nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ giúp cho tình trạng oan sai trong các vụ án hình sự được cải thiện phần nào.

    Áp dụng quyền im lặng của nghi can là để nâng cao nghiệp vụ điều tra, truy tố, xét xử

    Khi bị can, bị cáo thực hiện quyền im lặng đồng nghĩa với việc cơ quan điều tra sẽ phải tích cực và nỗ lực hơn trong công tác điều tra, khám nghiệm hiện trường, thu thập chứng cứ, lời khai của nhân chứng. Đồng thời, cán bộ điều tra sẽ góc nhìn khách quan hơn khi xem xét đánh giá chứng cứ để từ đó tìm ra hướng điều tra đúng đắn, xác định được sự thật khách quan xoay quanh vụ án. Ở một khía cạnh khác khi dựa trên những phân tích về tâm lý học tội phạm thấy rằng, người vô tội nói sự thật, thể hiện sự vô tội của mình thông qua sự im lặng và đợi sự tư vấn của luật sư, trong khi những tên tội phạm thì thường có những hành vi chối tội, khai man dẫn tới việc bế tắc trong quá trình điều tra vụ án. Do đó, quyền im lặng có vai trò giúp nâng cao nghiệp vụ điều tra, truy tố, xét xử.

    Quyền im lặng xuất phát từ trạng thái phòng vệ theo lẽ tự tự nhiên của con người, nhất là trong những tình huống khi lằn ranh giữa đúng và sai, giữa có tội và vô tội rất mong manh. Nhất là trong bối cảnh pháp luật hiện hành tại Việt Nam thường thay đổi liên tục. Bên cạnh đó còn nhiều thiếu sót, mẫu thuẫn pháp luật và tồn tại nhiều kẽ hở dẫn tới những cách hiểu và giải thích phát luật khác nhau. Do đó, quyền im lặng sẽ có vai trò hữu ích trong những tình huống như vậy, khi mà pháp luật còn chưa hoàn chỉnh và những người tham gia tố tụng còn chưa thống nhất được quan điểm với nhau. Lúc này, nguyên tắc suy đoán vô tội sẽ thể hiện vai trò của mình trong việc phòng ngừa oan sai khi cơ quan tiến hành tố tụng xét thấy chưa đủ chứng cứ, chứng minh người bị tình nghi có tội thì phải suy diễn những chứng cứ đó theo hướng có lợi cho người bị buộc tội.

    1. LSX là thương hiệu hàng đầu về tố tụng hình sự tại Việt Nam

    2. Nội dung tư vấn pháp luật mà LSX cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo. Để có những những tư vấn rõ ràng và cụ thể hơn, hãy liên hệ với chúng tôi ngay

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Im Lặng Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Quyền Im Lặng Theo Luật Việt Nam
  • Luật Hỏi Ngã Trong Tiếng Việt
  • Một Vài Biện Pháp Giúp Hs Lớp 4, Lớp 5 Viết Đúng Chính Tả Về Dấu Hỏi, Dấu Ngã/ Phụ Âm Đầu X/s. Skkn Mon Chinh Ta Phan Biet S X Trkh Doc
  • Giúp Học Sinh Tiểu Học Viết Đúng Dấu Hỏi/ Dấu Ngã
  • Dấu Hỏi Và Dấu Ngã Trong Tiếng Việt Chnhttingvit Doc
  • Quyền Im Lặng Trong Pháp Luật Việt Nam

    --- Bài mới hơn ---

  • Từ 1/7/2016, “quyền Im Lặng” Của Người Bị Bắt Có Hiệu Lực
  • Quyền Im Lặng Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
  • Review Sách Tác Phẩm Luật In Lặng Cuốn Sách Về Luật Pháp Sicilia
  • Review Sách Luật Im Lặng (Mario Puzo)
  • Trích Dẫn Sách Luật Im Lặng
  • Quyền im lặng là một trong những quyền cơ bản của công dân đã được nhiều nước trên thế giới ghi nhận trong hệ thống pháp luật. Ở Việt Nam cho đến nay quyền im lặng mặc dù chưa được ghi nhận chính thức trong các văn bản quy phạm pháp luật, nhưng đã được gián tiếp nhắc đến không những trong đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất mà còn trong một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành. Trong lần sửa đổi, bổ sung Bộ luật TTHS lần này, quyền im lặng là một trong những vấn đề đang được đưa ra bàn luận và có nhiều ý kiến trái chiều xung quanh việc quyền im lặng có phải là quyền con người hay không cũng như việc nên hay không quy định quyền im lặng trong Bộ luật TTHS.

    Quyền con người được xem là những quyền tự nhiên cơ bản của con người, nó không chỉ được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế mà còn được các quốc gia ghi nhận trong những đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất. Bên cạnh đó, quyền con người còn là cơ sở để các quốc gia thể chế hóa thành những quyền cơ bản của công dân nước mình. Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 đã khẳng định quyền con người là ” những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được pháp và tự do cơ bản của con người”. Quyền con người được toàn thể các quốc gia công nhận và bảo vệ, mỗi quốc gia phải căn cứ vào các công ước ước quốc tế mình là thành viên để nội luật hóa vào các văn bản quy phạm pháp luật nước mình. Khoản 1 Điều 14 Hiến pháp 2013, của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định: ” Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Hiện nay, quyền im lặng mặc dù chưa được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp, cũng như các văn bản quy phạm pháp luật khác trong pháp luật Việt Nam, nên vẫn có nhiều ý kiến cho rằng quyền im lặng không phải là quyền con người, do vậy quyền này vẫn chưa được thực hiện trên thực tế. Đối chiếu với một số quy định của Hiến pháp ta có thể thấy quyền im lặng tuy chưa được quy định chính thức nhưng đã được gián tiếp nhắc đến thông qua một số quy định trong Hiến pháp như nguyên tắc suy đoán vô tội, hay quyền có người bào chữa. Cụ thể tại khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013, đã khẳng định: ” Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, trong khi đó tại Điều 10 Bộ luật TTHS 2003 đã quy định rõ trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Như vậy, có thể thấy rằng khi cơ quan tiến hành tố tụng bắt, giữ hay cáo buộc một người phạm tội thì phải có nghĩa vụ chứng minh cho cáo buộc của mình là đúng, người bị buộc tội không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội (tức là họ có quyền im lặng cho đến khi cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh cáo buộc của họ là có cơ sở và đúng theo quy định pháp luật). Nếu cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được họ có tội thông qua những biện pháp hợp pháp thì họ được xem là vô tội.

    Công ty Luật Trung Nguyễn

    Số 118, phố Yên Lãng, Đống Đa, Hà Nội

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Điểm Về Quyền Im Lặng Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam
  • Bàn Về Quyền Im Lặng Trong Tố Tụng Hình Sự
  • 3 Trường Hợp Im Lặng Là Đồng Ý Theo Luật
  • Quyền Im Lặng Trong Dự Thảo Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự
  • Bình Luận Về Quyền Im Lặng Trong Tố Tụng Hình Sự
  • Web hay
  • Guest-posts
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100