Top 9 # Xem Nhiều Nhất Luật Im Lặng Của Mỹ Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Luật Im Lặng Của Mafia

PV: Các anh có thể giới thiệu qua về đội hình hiện tại của ban nhạc được không?

Guitarist Duy Tân: Hiện tại thì ban nhạc đã ổn định với đội hình gồm có 5 thành viên gồm: drumer Hồng Ân, bassist Đình An, guitarist Thanh Hoàng, vocalist Toàn và cuối cùng là mình Duy Tân.

Guitarist Duy Tân: Omerta là một từ tiếng Ý, có nghĩa là Luật Im lặng của Mafia. Tất nhiên khi đặt tên cho ban nhạc thì nó phải có một nghĩa nào đó và Omerta cũng chính là cảm hứng chủ đạo cho các tác phẩm của ban nhạc.

PV: Các anh có thể kể một chút về quá trình hình thành Omerta?

Guitarist Duy Tân: Thực ra ban nhạc được hình thành cũng khá lâu rồi, nhưng  lúc đó còn thiếu thành viên và gặp nhiều khó khăn, đã có lúc gần như tan rã vì những khúc mắc. Tuy nhiên, có lẽ cái duyên với âm nhạc chưa hết được nên mọi chuyện được giải quyết và sau đó ban nhạc lại tiếp tục. Sau một thời gian, có những thành viên rời ban, phải rất lâu sau thì ban nhạc mới tìm được thành viên để tiếp tục nuôi đam mê. Và, bây giờ thì ban nhạc đã khá ổn định, Omerta trở lại hoạt động cũng được 3 tháng rồi.

Gần đây ban nhạc cũng có tham gia một số chương trình như show 29 -11,  Dark Night và một số show nhỏ khác.

PV: Chơi nhạc cũng đã được một thời gian, các anh có  thể kể về những kỉ niệm mà các anh đã có?

Guitarist Thanh Hoàng: Lần đầu tiên bước lên sân khấu, không hiểu sao mà run không chịu được (cười), cảm giác hoàn toàn khác với lúc tập. Chẳng nghe được người nào đánh như thế nào, chỉ nghe được mỗi mình mình, nên thành ra run run. Show đầu tiên ban nhạc chơi không được tốt lắm, phải đến những show sau đó thì ban nhạc mới dần quen và chơi tốt hơn. Cảm giác được nhìn khán giả phía dưới thật sự rất tuyệt. Ngày xưa, mình đứng ở vị trí đó để thưởng thức, nhưng giờ thì mình được đứng trên sân khấu để cho người khác thưởng thức, điều đó quả là rất thú vị.

PV: Omerta có gặp nhiều khó khăn khi chơi nhạc?

Guitarist Thanh Hoàng: Tất nhiên là bất cứ ban nhạc nào cũng gặp khó khăn, chẳng hạn như khó khăn trong việc tìm  thành viên –  một vấn đề nan giải. Để tìm một thành viên chơi tốt và ăn ý với ban nhạc  thì không dễ chút nào. Sau đó là tìm phòng tập, nhạc cụ. Ngoài ra, chơi nhạc chỉ vì đam mê, các thành viên trong ban nhạc còn phải đi học và đi làm, việc  sắp xếp lịch để không bị trùng cũng khó. Có lúc mọi người phải cúp học, nghỉ làm để tập nhạc và đi diễn. Nhiều khi cũng rất mệt mỏi, nhưng nhờ có drumer chơi khá tốt, tạo cho mọi người một chỗ dựa,  nhờ thế mà kĩ năng chơi nhạc của các thành viên cũng khá hơn , tình thần cũng phấn khích hơn.

Omerta trong show ra mắt khán giả chúng tôi (29/11)

Omerta trong show ra mắt khán giả chúng tôi (29/11)

PV: Định hướng cho ban nhạc trong thời gian săp tới?

Guitarist Duy Tân: Sắp tới thì ban vẫn tiếp tục tập luyện, sáng tác và thu demo.

PV: Anh có thẻ chia sẻ  đôi điều về các sáng tác của nhóm?

Guitar Duy Tân: Hiện tại thì nhóm đã có 5 sáng tác hoàn chỉnh và 2 sáng tác đang hình thành.  5 sáng tác đó là: The Errant Law, Lack of Fire, Opium, Grow up from the Sickness và Storms.

Nội dung chủ yếu là xoay quanh cuộc sống của Mafia. Hầu hết các sáng tác đều đả kích, cực đoan, cục súc và phẫn nộ đối với con người, những hành động, suy nghĩ ấu trĩ của con người. Chúng tôi đưa vào sáng tác của mình những điều chướng tai, gai mắt mà chúng tôi bắt gặp hằng ngày, khi đi trên đường, khi xem TV. Khi có cảm hứng về một điều gì đó thì chúng tôi đều cầm bút và viết nó thành nhạc. Khi hát lên, chúng tôi cảm giác như đang gào thét, đang kêu van, đang đấm thẳng vào những cái khó chịu đó. Đó là lí do vì sao chúng tôi chọn Thrash và Death để thể hiện ý tưởng và cảm hứng của mình.

Chúng tôi sẽ thu demo  cho các sáng tác đó, và có lẽ đến một ngày nào đó, khi điều kiện cho phép thì chúng tôi sẽ cho ra album. Có thể (cười).

PV: Rất cảm ơn Omerta đã dành thời gian để chia sẻ về ban nhạc. Mong rằng, trong thời gian sắp tới nhóm sẽ phát triển và gặp nhiều thành công hơn!

(Theo RockPassion.vn)

Người Đầu Tiên Phá “Luật Im Lặng” Của Mafia

Tommaso Buscetta sinh ngày 13/7/1928, trong gia đình có 17 con ở Palermo, Sicily, Italy. Lớn lên trong nghèo khó và có ít cơ hội việc làm, Buscetta nhanh chóng bị con đường phạm tội hấp dẫn và trở thành thành viên duy nhất trong gia đình gia nhập mafia.

Tommaso Buscetta (giữa) bị cảnh sát Italy áp giải năm 1972. Ảnh: AP.

Buscetta bắt đầu dính líu đến mafia ở Italy từ cuối Thế chiến II, khi mới 17 tuổi. Ông tham gia hoạt động buôn lậu thuốc lá của các băng nhóm trong suốt những năm 1950 và 1960 với địa bàn hoạt động ở Argentina và Brazil. Đầu thập niên 1960, Buscetta đến New York và làm việc trong một thời gian ngắn cho gia đình Gambino, một trong 5 nhóm mafia thống trị thế giới ngầm New York.

Mặc dù Buscetta không có thứ hạng cao trong hàng ngũ mafia, đầu óc và kinh nghiệm của ông khiến ngay cả những thành viên cấp cao nhất cũng xin lời khuyên từ ông. Buscetta được đặt biệt danh “ông trùm của hai thế giới”.

Tuy nhiên, những vụ trả thù và thanh toán nội bộ đã khiến Buscetta quay lưng với mafia. Năm 1982, sát thủ mafia giết hai con trai, con rể, người anh thân nhất và cháu trai của Buscetta ở Palermo.

Buscetta bị bắt ở Brazil một năm sau và bị trục xuất về Italy ngày 28/6/1984. Sau khi tự tử bất thành, Buscetta đồng ý hợp tác với giới chức Italy và Mỹ. Ông yêu cầu được nói chuyện với thẩm phán chống mafia Giovanni Falcone và dành 45 ngày để cung cấp thông tin về hoạt động nội bộ, cấu trúc và ủy ban cầm đầu của mafia, nhưng từ chối tiết lộ về các mối liên hệ của mafia với giới chính trị.

Ông trở thành người đầu tiên phá vỡ Omerta, “luật im lặng” yêu cầu các thành viên mafia giữ bí mật về hoạt động của tổ chức và từ chối cung cấp thông tin cho chính quyền.

“Đối với tôi, cái chết giống như bóng râm vào ngày nắng. Là một thành viên mafia, tôi biết rằng tôi phải tuân thủ các quy định”, Buscetta nói. “Nhưng những cái chết oan uổng của những người vô tội đã khiến tôi không thể tiếp tục làm thành viên mafia. Đây là đòn trả thù”.

“Phá vỡ luật im lặng là quyết định khó khăn nhất trong đời Buscetta vì ông ấy có cảm giác rằng mình phá vỡ thứ gì đó thiêng liêng”, vợ của Buscetta, sử dụng tên giả là Cristina, nói với một đoàn làm phim tài liệu về chồng mình.

Italy không có chương trình bảo vệ nhân chứng, vì vậy, Mỹ chịu trách nhiệm đảm bảo an toàn cho Buscetta. Họ đưa ông đến Mỹ, cho ông nhập tịch và sống trong một ngôi nhà bí mật ở New Jersey. Đổi lại, Buscetta tiết lộ cho họ các thông tin về mafia ở Mỹ.

Một đặc vụ Cục Phòng chống Ma túy Mỹ mô tả Buscetta vào thời điểm đó là “nhân chứng quan trọng nhất, bị truy tìm gắt gao nhất và tính mạng bị đe dọa nhất trong lịch sử tội phạm Mỹ”.

Năm 1986, Buscetta ra làm chứng tại phiên tòa chống lại mafia lớn nhất trong lịch sử có tên là Maxi, diễn ra ở Palermo. Buscetta đã giúp các thẩm phán Giovanni Falcone và Paolo Borsellino đạt được thành công đáng kể bằng việc truy tố 475 thành viên mafia và kết án 339 người.

Tuy nhiên, Buscetta đã cảnh báo thẩm phán Falcone rằng ông đang đi một con đường nguy hiểm. “Đầu tiên, chúng sẽ tìm cách kết liễu tôi, sau đó đến lượt ông”, Buscetta nói. “Chúng sẽ kiên trì cho đến khi thành công”.

Giovanni Falcone (trái) và Paolo Borsellino tại Italy tháng 3/1992. Ảnh: Commons.

Falcone bị ám sát trong một vụ đánh bom tháng 5/1992. Thẩm phán Paolo Borsellino bị ám sát hai tháng sau. Buscetta sau đó cung cấp thêm cho giới chức thông tin về những chính trị gia qua lại với mafia.

Công tố viên Louis Freeh, người sau này trở thành giám đốc FBI, nói rằng Buscetta đã cung cấp những thông tin rất quan trọng về cách mafia hoạt động. Trước khi qua đời, Falcone nói trong một cuộc phỏng vấn về sự hợp tác của Buscetta rằng: “Trước khi ông ấy tiết lộ thông tin, chúng tôi chỉ có những hiểu biết hời hợt về mafia. Nhờ có ông ấy, chúng tôi hiểu được nội tình tổ chức”.

Sự hợp tác của Buscetta mang đến cho ông sự tự do, thoát khỏi cảnh tù tội. Tuy nhiên, Buscetta phải sống trong “nhà tù” của riêng mình: ông phải dùng tên giả, luôn phải giữ kín hành tung vì lo sợ bị truy sát.

Sau khi qua đời năm 2000 ở tuổi 71 vì ung thư, Buscetta được chôn cất tại Miami, Florida. Vợ ông nói rằng ngay cả hàng xóm cũng không biết họ thực sự là ai.

Đến giờ con cháu của Buscetta vẫn sống trong nỗi lo bị trả thù. Các thành viên mafia có thể coi việc giết được hậu duệ của Buscetta là “chiến lợi phẩm”. “Mafia không quên đâu”, Cristina nói.

Theo VNE

Gs Luật Mỹ: ‘Áp Dụng Quyền Im Lặng Không Nhằm Tránh Oan Sai’

– Thưa bà, khi bắt nghi phạm, cảnh sát Mỹ thường thông báo, nghi phạm có quyền im lặng, mọi điều nghi phạm nói đều có thể làm bằng chứng chống lại chính họ. Bà có thể giải thích điều này theo quy định trong luật pháp Mỹ ?

– Theo luật Mỹ, người bị bắt phải được thông báo về việc có quyền im lặng . Nếu quên hay vì một lý do nào đó cảnh sát không thông báo thì cơ quan điều tra không được sử dụng thông tin và lời khai của nghi phạm sau đó.

Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng ghi âm, ghi hình tất cả quá trình lấy lời khai để sau này họ có thêm cơ sở, bằng chứng chắc chắn cho việc buộc tội. Nếu như quyền im lặng không được thông báo, những lời khai sau này coi như không có giá trị sử dụng.

– Theo bà quyền im lặng ảnh hưởng thế nào đến quá trình truy xét tội phạm của cảnh sát, đặc biệt trong những vụ án có đồng phạm?

– Quyền được giữ im lặng là quyền rất cơ bản của công dân Mỹ. Những nhà làm luật Mỹ không nhìn quyền im lặng dưới góc độ lợi ích của cơ quan tố tụng. Trên thực tế, có những vụ án mà nghi phạm im lặng, trong khi cơ quan điều tra không thể chứng minh họ có tội đã phải tuyên vô tội.

Quyền này có thể gây ra những cản trở nhất định cho cơ quan tố tụng nhưng đó không phải là lý do để đánh giá lại việc áp dụng. Họ phải được giữ im lặng bởi không thể chống lại chính bản thân mình.

Với vụ án có nhiều đồng phạm, việc im lặng của nghi phạm có thể sẽ cản trở quá trình điều tra của cơ quan tố tụng. Nhưng cơ quan điều tra không nhất thiết phải dựa vào lời khai của người bị bắt. Họ có thể giám sát những đồng phạm đó hoặc điều tra lấy thông tin, làm thế nào đó để nghi phạm khai ra. Đó là nghĩa vụ của cơ quan tố tụng và họ có nhiều công cụ để đảm bảo điều đó.

Ở một góc độ nào đó, quyền im lặng cũng có lợi cho cơ quan điều tra trong suốt quá trình tố tụng sau này. Khi áp dụng quyền im lặng, cơ quan điều tra sẽ phải nâng cao nghiệp vụ của mình bằng cách tăng cường kỹ thuật khám nghiệm hiện trường, lấy lời khai từ nhân chứng, tìm kiếm các thông tin khác về nghi phạm để làm sao cáo buộc của cơ quan tố tụng chắc chắn hơn. Đây là điều sẽ làm cho hoạt động của cơ quan tố tụng tích cực hơn.

– Theo bà có cho rằng xảy ra những vụ án oan sai là do không áp dụng đúng quyền im lặng?

– Trong lịch sử tố tụng Mỹ 15 năm qua có khoảng 250 vụ án mà công dân bị kết án oan hoặc bị xét xử sai. Nhưng dường như không có những vụ án oan kiểu do không áp dụng đúng quyền im lặng. Bởi, đó sẽ là lợi thế cho bị can, bị cáo vì họ sẽ tận dụng điều đó để bác bỏ những bằng chứng của bên buộc tội. Những vụ án oan ở Mỹ phần lớn là do công tố viên không cung cấp đủ thông tin của vụ án cho luật sư theo đúng quy định. Quyền im lặng không phải giải pháp kiềm chế oan sai.

– Theo pháp luật Mỹ, những người bị kết án oan sai đó được bồi thường như thế nào?

– Đối với những người bị kết án oan thì có quyền được khởi kiện các cơ quan tố tụng ra tòa bằng một vụ kiện dân sự để đòi bồi thường. Nhưng thực tế rất ít người có thể được bồi thường vì đa phần họ không khởi kiện đúng đối tượng hoặc oan do lỗi vô ý của cơ quan tố tụng. Đối với những người cố ý làm oan sai thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xử tù và cấm hành nghề.

– Hiện các cơ quan tố tụng Việt Nam vẫn còn phân vân chưa đưa quyền im lặng vào luật, theo bà đã đến lúc Việt Nam có nên áp dụng hay chưa?

Quyền được giữ im lặng nếu được áp dụng sẽ khả thi khi cơ quan tố tụng đảm bảo được 2 yếu tố là phải thông báo cho nghi can biết quyền này và loại trừ những bằng chứng có được nếu không thông báo quyền đó.

Tháng 9, tại phiên họp Thường vụ thứ 31, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đặt vấn đề: “Việc chống ép cung, bức cung, nhục hình, bỏ lọt tội phạm có thực sự hiệu quả khi bị can, bị cáo không có quyền im lặng?”. Ông cho rằng nghi can cần có quyền im lặng cho đến khi có mặt luật sư bảo vệ quyền lợi cho họ.

Quan điểm này nhận được sự đồng thuận rất cao, nhất là trong giới luật sư. Hiện nội dung này chưa đưa vào dự án luật sửa đổi.

Hải Duyên

Quyền Im Lặng Là Gì? Hiểu Thế Nào Về Quyền Im Lặng Theo Luật Việt Nam

Quyền im lặng là gì? Hiểu thế nào về quyền im lặng theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện này? Ai được sử dụng quyền im lặng?

Nguồn gốc của “Quyền im lặng”

“Quyền im lặng” hay được biết đến rộng rãi bằng tên gọi “Quyền Miranda” bắt nguồn từ pháp luật Mỹ.

Quyền này được giải thích là: “Anh có quyền giữ im lặng và từ chối trả lời câu hỏi. Bất cứ điều gì anh nói cũng sẽ được dùng để chống lại anh trước tòa”

Nguyên tắc “quyền Miranda” được pháp luật tố tụng hình sự của nhiều nước trên thế giới ghi nhận. Tại Việt Nam, pháp luật hiện không đưa ra định nghĩa về “Quyền im lặng”.

BLTTHS năm 2015 không nêu khái niệm về “Quyền im lặng”, nhưng đã cụ thể hóa một số nguyên tắc cơ bản về quyền con người, quyền công dân của Hiến pháp năm 2013 như: Nguyên tắc “Suy đoán vô tội” (Điều 13); “Xác định sự thật của vụ án” (Điều 15); “Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự” (Điều 16); “Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” (Điều 26).

Điều 58 khoản 1 điểm e; điều 59 khoản 2 điểm c; điều 60 khoản 1 điểm d; điều 61 khoản 2 điểm h BLTTHS năm 2015 quy định về quyền được “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”.

Ai được sử dụng quyền im lặng?

Theo quy định tại các Điều 58 khoản 1 điểm e; điều 59 khoản 2 điểm c; điều 60 khoản 1 điểm d; điều 61 khoản 2 điểm h BLTTHS năm 2015 thì những đối tượng sau được sử dụng quyền im lặng:

– Người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt

– Người bị tạm giữ

– Bị can, bị cáo

– Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền chủ động về việc khai báo. Những gì bị can, bị cáo thấy bất lợi cho mình, họ có thể không buộc phải khai báo cũng như không buộc phải nhận mình có tội trước cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.

– Quyền im lặng được thể hiện xuyên suốt từ khi bị bắt, bị khởi tố cho đến xét xử.

Một số quy định về nguyên tắc cơ bản đảm bảo cho Quyền im lặng của đương sự

Điều 13, 15, 16 và 26 Bộ luật TTHS đã quy định về các nguyên tắc gián tiếp đảm bảo cho Quyền im lặng của đương sự, cụ thể:

Điều 13 Bộ luật TTHS quy định Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.

Theo đó, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh mình vô tội và sẽ được kết luận không có tội khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định

Xác định sự thật của vụ án

Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.

Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của Bộ luật này.

Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm

Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những người tham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranh tụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án.

Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại đối với bị cáo, xử lý vật chứng và những tình tiết khác có ý nghĩa giải quyết vụ án đều phải được trình bày, tranh luận, làm rõ tại phiên tòa.