Top 11 # Xem Nhiều Nhất Luật Giáo Dục Việt Nam / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Athena4me.com

Giáo Dục Việt Nam Qua Các Thời Kỳ / 2023

Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu đời. Từ khi cộng đồng người Việt xuất hiện đã lưu truyền việc giáo dục kiến thức để làm ra của cải vật chất, mưu sinh, dạy nhau tổ chức đời sống xã hội và giáo dục đạo đức nhân sinh, tạo nên nhân cách, con người Việt Nam.

1. Giáo dục Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.

Năm 938, dân tộc Việt Nam khôi phục nền độc lập, thống nhất quốc gia, xây dựng nhà nước phong kiến. Nền giáo dục phong kiến do nhà nước chỉ đạo được hình thành và phát triển qua 10 thế kỷ, cơ bản là giống nhau về cơ cấu, nội dung, cách tổ chức việc dạy và học, thi hành chế độ khoa cử. Các triều đại thường chú trọng việc xây dựng một trường đại học ở kinh đô, đặt các giáo chức ở các phủ, lộ để trông coi việc học hành. Tại các trường lớp tư gia, do các ông đồ ngồi dạy trẻ. Các ông đồ được người dân tôn kính, quý trọng bởi họ là những nhà Nho, bậc hưi quan, các nhà khoa bảng. Nội dung dạy và học từ lớp tư gia đến các trường lớp ở lộ, phủ, kinh đô đều lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm sách giáo khoa. Các triều đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn tổ chức các khoa thi (thi hương, thi hội, thi đình hay thi tiến sĩ) về cơ bản là giống nhau. Từ năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh Kinh đầu tiên, đến năm 1919, nhà Nguyễn tổ chức khoa thi cuối cùng. Chế độ khoa cử của nền giáo dục phong kiến Việt Nam trải qua 844 năm với trên 180 khoá thi và hơn 2900 người đỗ từ tiến sĩ đến trạng nguyên. Trải qua nghìn năm lịch sử, nền giáo dục phong kiến Việt Nam đã đào tạo nhiều thế hệ tri thức tinh hoa của dân tộc, đồng thời cung cấp lực lượng chủ yếu cho hệ thống quan chức quản lý nhà nước và xã hội. Nền giáo dục ấy đã đào tạo nên nhiều nhà bác học, nhà văn, nhà viết sử, nhà giáo, thầy thuốc có danh tiếng cùng những thế hệ tri thức giữ vai trò quan trọng trong việc xây dựng, vun đắp nền văn hiến Việt Nam. Một nền giáo dục phong kiến coi trọng luân lý, lễ nghĩa, góp phần cơ bản xây dựng nền tảng đạo đức xã hội. Tuy nhiên, ý thức tồn cổ của Nho giáo đã cản trở những tư tưởng cải cách, kìm hãm sự phát triển của xã hội; phương pháp học khuôn sáo, giáo điều, nặng về tầm c hương trích cú, lý thuyết suông, chạy theo hư danh…là những hạn chế của nền giáo dục phong kiến Việt Nam. Cuối thế kỷ XIX, thực dân pháp xâm chiếm nước ta. Nền giáo dục phong kiến Việt Nam bị thay đổi toàn bộ, chữ Hán thay bằng chữ quốc ngữ và chữ Pháp. Từ nội dung chương trình sách giáo khoa đến cách học, cách dạy, cách tổ chức các kỳ thi thay đổi, hệ thống các trường từ sơ cấp, tiểu học, cao đẳng tiểu học, trung học phổ thông đến các trường chuyên nghiệp, đại học dần dần được hình thành, thay thế các trường lớp cả nền giáo dục phong kiến. Thực dân Pháp coi nền giáo dục phong kiến là công cụ quan trọng để chinh phục thuộc địa. Chúng mở các trường nhằm đào tạo một số công chức cho bộ máy cai trị, các cơ sở kinh doanh…Số trường học ít và số người đi học ngày càng ít hơn. Trong khoảng từ năm 1931 đến năm 1940, cứ 100 người dân chưa được 3 người đi học và hầu hết là học bậc tiểu học và vỡ lòng, trên 3 vạn dân mới có một sinh viên (cao đẳng, đại học). Mặc dù đã thực hiện một số chính sách giáo dục nô dịch với thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nhưng thực dân Pháp vẫn không đạt được kết quảmong muốn. Phần lớn những người Việt Nam được Pháp đào tạo vẫn có ý thức dân tộc, một số không nhỏ có tinh thần yêu nư ớc chống Pháp, trở thành chiến sĩ cách mạng và đảng viên cộng sản. Từ khi Ðảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo cuộc đấu tranh của nhân dân chống thực dân Pháp, giáo dục được coi là bộ phận của Cách mạng Việt Nam. Hội truyền bá Quốc ngữ thành lập năm 1938, Ðề cương Văn hoá Việt Nam ra đời năm 1943 là những mốc quan trọng trong đấu tranh của Ðảng trên lĩnh vực văn hoá, giáo dục. Tư tưởng dân tộc, khoa học đại chúng là những nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng nền giáo dục Cách mạng Việt Nam.

2. Giáo dục Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.

a. Giai đoạn xây dựng nền giáo dục dân tộc và dân chủ. Giáo dục phục vụ kháng chiến và kiến quốc (1945- 1954).

Từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời, nền giáo dục mới được hình thành trên cơ sở tiếp quản và cải tổ nền giáo dục Pháp thuộc. Nền giáo dục mới dược tiến hành trên 3 nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng với mục tiêu cao cả là: “Tôn trọng nhân phẩm, rèn luyện chí khí, phát triển tài năng?, đề cao tinh thần khoa học, học tập và giảng dạy bằng tiếng Việt từ các trường phổ thông đến đại học. Trong phiên họp đầu tiên sau ngày 2- 9- 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động chiến dịch chống nạn mù chữ trong cả nước. Các lớp học bình dân được mở ở khắp nơi. Sau một năm, cả nước có gần 75.000 lớp học bình dân, trên 95.000 giáo viên và 2,5 triệu người thoát nạn mù chữ. Từ tháng 9/1945, cả nước cùng khai giảng năm học mới. Nhân ngày khai trường, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho học sinh, trong đó Người chỉ rõ: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là một phần lớn ở công học tập của các em.” Khi thực dân Pháp quay lại xâm chiếm nước ta một lần nữa, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Các trường học ở thành phố di chuyển về nông thôn và các khu an toàn. Phong trào xoá mù chữ vẫn được duy trì. Ðến năm 1950, cả nước có trên 10 triệu người được xoá mù chữ và đã có 10 tỉnh, 80 huyện, 1424 xã, 7248 thôn được công nhận đạt tiêu chuẩn xoán nạn mù chữ. Năm 1950, Trung ương Ðảng và Chính phủ quyết địng tiến hành cải cách giáo dục: Nền giáo dục của dân, do dân, vì dân được thiết kế trên 3 nguyên tắc: Dân tộc, khoa học, đại chúng?. Phương châm giáo dục là học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn. Ðến năm học 1953- 1954, ở vùng giải phóng đã có 3673 trường cấp I, 397 trường cấp II, 34 trường cấp III, 5 trường trung học chuyên nghiệp và 4 trường đại học.

b.Giai đoạn giáo dục phục vụ sự nghiệp xây dựng XHCN ở miền Bắc và thống nhất đất nước (1954- 1975).

Sau năm 1954, nền giáo dục dân chủ nhân dân được xây dựng trong kháng chiến chuyển hướng mạnh mẽ nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nhiệm vụ xây dựng CNXH ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai ở miền Bắc là bước đi quan trọng trong quá trình xây dựng nền giáo dục XHCN. Hệ thống giáo dục mới này được tiến hành không chỉ ở giáo dục phổ thông, mà còn ở giáo dục đại học và chuyên nghiệp. Nội dung giáo dục mới mang tính chất toàn diện trên bốn mặt: đức, trí, thể, mỹ. Phương châm giáo dục là “liên hệ lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với đời sống xã hội”. Do cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, các trường học và các cơ sở giáo dục vừa tiến hành sơ tán, vừa tiếp tục duy trì việc dạy và học ở tất cả các lớp học, các ngành học. Có thể nói, ngành giáo dục của nước ta trong thời kỳ này đã giữ vững được quy mô, chất lượng giáo dục và đạt được nhiều kỳ tích lớn.

c.Giai đoạn xây dựng hệ thống giáo dục thống nhất trong cả nước và đổi mới giáo dục Việt Nam.

Năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng. Nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục là xây dựng một nền thống nhất theo định hướng XHCN. Giáo dục miền Nam, được sự hỗ trợ sức người, sức của từ miền Bắc, nhanh chóng khôi phục và hoạt động trở lại hoạt động bình thường. Ðến năm 1976, việc đào tạo sau đại học được triển khai, đến năm 1980 đã có 42 trường đại học và viện nghiên cứu khoa học được quyết định là cơ sở sau đại học. Tháng 1/1979, cuộc cách mạng lần thứ ba được triển khai. Hệ thống giáo dục mười hai năm được thiết kế thống nhất trong toàn quốc. Các bộ sách giáo khoa mới theo tinh thần và nội dung cải cách được thực hiện mỗi năm một lớp, bắt đầu từ năm học 1981- 1982. Mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, các trường trung học chuyên nghiệp ở trung ương và địa phương được cải cách, từ mục tiêu đào tạo đến nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy. Tuy nhiên, những khó khăn của nền kinh tế- xã hội nói chung và bản thân ngành giáo dục nói riêng đa tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của ngành, làm cho hệ thống giáo dục ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Trước tình hình đó, Bộ Giáo dục đã xây dựng và triển khai chương trình phát triển giáo dục 3 năm (1987- 1990). Sau 3 năm đổi mới, ngành giáo dục đã dần tháo gỡ khó khăn, khắc phục tình trạng yếu kém và thu được những kết quả đáng khích lệ. Năm 1991, Quốc hội khoá VIII, kỳ họp thứ 9 đã thông qua Luật phổ cập giáo dục tiểu học. Trước đó, Nhà nước đã quyết định phổ cập giáo dục tiểu học và xoa mù chữ là chương trình mục tiêu quốc gia, đặt mục tiêu đến năm 2000, tất cả các tỉnh, thành trong cả nước đều đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ. Hội nghị Trung ương Ðảng lần thứ tư (khoá VII) đã đề ra Nghị quyết về “tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”. Nghị quyết nêu lên 4 quan điểm chỉ đạophát triển giáo dục – đào tạo trong đó nhấn mạnh giáo dục và đào tạo cùng với kho học công nghệ được xem là quốc sách hàng đầu. Tháng 12- 1996, Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Ðảng khoá VIII tiếp tục ra Nghị quyết chuyên đề về giáo dục đào tạo. Quốc Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua luật Giáo dục, tháng 12 – 1998. Trong những năm cuối thập kỷ XX, Giáo dục – Ðào tạo Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu lớn. Quy mô giáo dục – đào tạo tăng nhanh. Tính đến tháng 8 ?1999, có hơn 93,7% dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ, 85% tỉnh, thành và 90% quận, huyện đạt chuẩn quốc gia vè xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học. Nhiều tỉnh đang tiến tới phổ cập trung học cơ sở. Giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực. Trên 100 trường dân tộc nội trú đã được xây dựng tạo điều kiện thuận lợi cho con em các dân tộc theo học. Ðội tuyển học sinh Việt Nam tham dự các kỳ thi Olimpic quốc tế đem lại niềm tự hoà cho dân tộc Việt Nam. Hơn 25 năm qua, năm nào học sinh Việt Nam cũng mang về cho đất nước nhiều huy chương và nhiều giải cao trong các kỳ thi Olimpic về toán, vật lý, hoa học, sinh học, tin học, ngoại ngữ.

Hơn nửa thế kỷ qua, dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam nhân dân Việt Nam đã xây dựng một nền giáo dục XHCN, có tính nhân dân, tính dân tộc, khoa học, hiện đại, lấy chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng. Ðây là cơ sở cho việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay / 2023

Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay Cuốn sách Giáo dục pháp luật cho trẻ em ở Việt Nam hiện nay thể hiện cách tiếp cận có nhiều cách tiếp cận có nhiều tính mới về giáo dục pháp luật cho…

Giao hàng toàn quốc

Được kiểm tra hàng

Thanh toán khi nhận hàng

Chất lượng, Uy tín

7 ngày đổi trả dễ dàng

Hỗ trợ xuất hóa đơn đỏ

Giới thiệu Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay

Giáo Dục Pháp Luật Cho Trẻ Em Ở Việt Nam Hiện Nay

Cuốn sách Giáo dục pháp luật cho trẻ em ở Việt Nam hiện nay thể hiện cách tiếp cận có nhiều cách tiếp cận có nhiều tính mới về giáo dục pháp luật cho trẻ em, phù hợp với bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, bảo vệ quyền con người và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Nội dung cuốn sách gồm ba phần cơ bản là: Những vấn đề lý luận cơ bản về giáo dục pháp luật cho trẻ em; và các quan điểm, giải pháp bảo đảm chất lượng, hiệu quả giáo dục pháp luật cho trẻ em. Một trong những điểm mới chủ yếu và cũng đồng thời là điều kiện quan trọng bảo đảm chất lượng, hiệu quả của giáo dục pháp luật cho trẻ em đó là việc lồng ghép các loại hình giáo dục như giáo dục pháp luật, giáo dục đạo đức, giáo dục quyền con người và kỹ năng sống cho trẻ em. Các nhóm giải pháp cơ bản về bảo đảm chất lượng, hiệu quả giáo dục pháp luật cho trẻ em được đề cập cũng sẽ góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục và đào tạo nước nhà trong giai đoạn hiện nay.

Giá sản phẩm trên Tiki đã bao gồm thuế theo luật hiện hành. Tuy nhiên tuỳ vào từng loại sản phẩm hoặc phương thức, địa chỉ giao hàng mà có thể phát sinh thêm chi phí khác như phí vận chuyển, phụ phí hàng cồng kềnh, …

Thông tin chi tiết

Công ty phát hành

NXB Chính Trị Quốc Gia Sự Thật

Ngày xuất bản

12-2018

Kích thước

14.5 x 20.5 cm

Loại bìa

Bìa mềm

Số trang

243

Nhà xuất bản

Nhà Xuất Bản Chính Trị Quốc Gia

SKU

3227192566375

Nhà Giáo Và Lao Động Ngành Giáo Dục Nửa Nhiệm Kỳ Phấn Đấu Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội X Công Đoàn Việt Nam Và Đại Hội Xiii Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam / 2023

PHẤN ĐẤU THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI X CÔNG ĐOÀNVIỆT NAM VÀ ĐẠI HỘI XIII CÔNG ĐOÀN GIÁO DỤC VIỆT NAM TS. Phạm Văn Thanh Phó chủ tịch Công đoàn Giáo dục Việt Nam

1. Trong nửa nhiệm kỳ (5/2008 – 8/2011), tổ chức thực hiện nghị quyết của Đại hội X Công đoàn (CĐ) Việt Nam và Đại hội XIII Công đoàn Giáo dục (CĐGD) Việt Nam có những thuận lợi cơ bản là tình hình chính trị – xã hội của đất nước ổn định, quốc phòng an ninh giữ vững, nền kinh tế tăng trưởng khá. Sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) tiếp tục được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm. Ngành Giáo dục tiếp tục đổi mới về công tác quản lý, chăm lo xây dựng đội ngũ, tăng cường xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị và đổi mới phương pháp giảng dạy; chất lượng giáo dục và đào tạo đã có nhiều chuyển biến tích cực, những điều kiện phục vụ cho sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày càng tốt hơn.

Tuy nhiên, trong 3 năm qua do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu, giá cả tăng cao, lạm phát kéo dài, khí hậu diễn biến phức tạp, lũ lụt, mưa bão, dịch bệnh xảy ra ở nhiều địa phương đã gây thiệt hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng đến đời sống của các tầng lớp nhân dân và sự nghiệp GD&ĐT. Giáo viên mầm non, giáo viên trẻ mới vào nghề có thu nhập thấp đời sống còn gặp nhiều khó khăn; một số ít nhà giáo chưa nhiệt tình, chưa an tâm công tác.

2. Trong bối cảnh đó, dưới lãnh đạo, chỉ đạo của Đoàn Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) Việt Nam và Ban Cán sự Đảng Bộ GD&ĐT, CĐGD Việt Nam tổ chức, chỉ đạo, động viên đội ngũ nhà giáo và lao động trong ngành phấn đấu thực hiện Nghị quyết Đại hội X CĐ Việt Nam và Nghị quyết CĐGD các cấp đạt được những kết quả quan trọng.

– Về vông tác chỉ đạo, CĐGD Việt Nam bám sát các Nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Chính sách của Nhà nước, các Nghị quyết của Tổng LĐLĐ Việt Nam và nhiệm vụ chính trị của Ngành để cụ thể hóa thành chương trình, kế hoạch và hướng dẫn CĐGD các cấp tổ chức thực hiện và có tổ chức sơ kết, tổng kết, đánh giá kết quả việc thực hiện các chương trình, kế hoạch đó. Sự phối hợp công tác và chỉ đạo những hoạt động chung giữa CĐGD Việt Nam với Bộ GD&ĐT và với LĐLĐ các tỉnh, thành phố tiếp tục được củng cố và hoàn thiện, tạo điều kiện cho CĐGD các cấp hoạt động mang tính ngành nghề sâu sắc. Ban Chấp hành CĐGD các cấp có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình, gương mẫu hoàn thành nhiệm vụ được phân công trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện nghị quyết CĐ ở đơn vị mình.

CĐGD các cấp tổ chức chăm lo và tự chăm lo về đời sống vật chất và tinh thần cho nhà giáo và lao động trong ngành; tạo điều kiện giúp nhà giáo vay vốn ngân hàng phát triển kinh tế gia đình, mua sắm trang thiết bị làm việc; kịp thời trợ cấp khó khăn và thăm hỏi hiếu hỷ, giúp đỡ đoàn viên khi đau ốm, tại nạn rủi ro và thiên tai lũ lụt. Trong hai năm 2009 và 2010, lũ lụt lớn xảy ra ở các tỉnh miền Trung, CĐGD Việt Nam phối hợp với Bộ GD&ĐT kịp thời kêu gọi các đơn vị trong ngành hỗ trợ vật chất, góp phần giúp các cơ sở giáo dục trong vùng bị lũ lụt vượt qua khó khăn, nhanh chóng khắc phục hậu quả, ổn định việc dạy và học. Riêng đợt lũ lụt tháng 10/2010, CĐGD các cấp đã hỗ trợ cho các đơn vị giáo dục miền Trung được hơn 6 tỷ đồng. Hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao được tổ chức sôi nổi, rộng khắp và có hiệu quả ở các đơn vị trường học vào dịp các ngày lễ lớn và ngày truyền thống của đơn vị. Nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập CĐGD Việt Nam; ngành Giáo dục đã tổ chức ” Liên hoan tiếng hát giáo viên toàn quốc lần thứ ba, năm 2011 ” từ ngày 15/4 đến 24/4 với sự tham gia của 112 đoàn văn nghệ quần chúng. Hoạt động tham quan, du lịch trao đổi kinh nghiệm công tác CĐ được đẩy mạnh.

– Thực hiện có hiệu quả chương trình nâng cao phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Bằng nhiều hình thức hoạt động đa dạng, phong phú, CĐGD các cấp tuyên truyền, vận động nhà giáo và lao động trong ngành nâng cao nhận thức về tình hình, nhiệm vụ của đất nước, của ngành, nâng cao bản lĩnh chính trị, tiếp tục đổi mới sự nghiệp GD&ĐT. Tiêu biểu là đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (2010); 80 năm ngày thành lập CĐ Việt Nam (2009); 120 năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh 2010); kỷ niệm 1000 năm Thăng Long-Hà Nội (2010); Đại hội Đảng lần thứ XI, bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIII và Hội đồng nhân dân các cấp (2011). Phong trào tìm hiểu về Đảng, Bác Hồ, CĐ Việt Nam diễn ra rất sôi nổi và rộng khắp trong đội ngũ nhà giáo trên cả nước.

Đội ngũ nhà giáo có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, giữ gìn nhân cách, sống gương mẫu, lành mạnh, tích cực tự học tập nâng cao trình độ chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, năng lực sư phạm ngày càng được nâng cao và đã tiếp cận nhanh về đổi mới nội dung, phương pháp dạy học. Hàng năm, trong ngành kết nạp được từ 2 vạn đến 3 vạn đảng viên mới. Riêng năm học 2010-2011, toàn ngành kết nạp đươc 33.070 đảng viên. Nhiều tỉnh tỷ lệ đảng viên trong đội ngũ nhà giáo đạt 40% và có tỉnh tỷ lệ này hơn 50%, nhưầngnhf giáo dục Phú Thọ, Vĩnh Phúc. Đến năm 2010, đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục và lao động trong toàn ngành có khoảng trên 1,3 triệu người. Trong đó, trực tiếp giảng dạy ở Mầm non có 211.225 giáo viên, ở phổ thông có 818.544 giáo viên, ở Giáo dục chuyên nghiệp có 18.085 giáo viên và ở Giáo dục đại học có 74.570 giảng viên. So với năm học 2008-2009 tổng số nhà giáo trong toàn ngành tăng 80.033 người. Tỷ lệ nhà giáo đạt chuẩn và trên chuẩn về trình độ đào tạo ngày càng tăng: Giáo viên Mầm non là 92,89%, so với thời điển đại hội XIII CĐGD Việt Nam tăng 10,59%. Tương tự giáo viên Tiểu học là 99,46% (tăng 2,29%); giáo viên Trung học cơ sở là 98,48% (tăng 1,31%); giáo viên Trung học phổ thông là 99,14% (tăng 1,97%). Trong các trường cao đẳng tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 2,48% (tăng 2,35%); có trình độ thạc sĩ là 31,79% (tăng 4,68%). Trong các trường đại học, tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ là 14,4% (tăng 832 tiến sĩ; có trình độ thạc sĩ là 44,88% (4,53%).

CĐGD Việt Nam còn phối hợp với Bộ GD&ĐT, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hội nhà văn Việt Nam tổng kết và trao giải thưởng cuộc thi viết về nhà giáo trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước (2008); đồng thời tiếp tục phát động cuộc thi viết ” Câu chuyện tình huống đạo đức và pháp luật ” nhằm góp phần giáo dục và rèn luyện phẩm chất đạo đức, ý thức thực hiện pháp luật và lối sống cho đội ngũ nhà giáo và lao động trong các nhà trường.

– Tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước và các cuộc vận động mang tính xã hội rộng lớn trong ngành. CĐGD các cấp tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phong trào thi đua “Dạy tốt – Học tốt”, phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm, nghiên cứu khoa hoc, chuyển giao công nghệ; tổ chức hội thi giáo viên dạy giỏi, đổi mới phương pháp dạy và học, sử dụng có hiệu quả các thiết bị dạy học, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới công tác quản lý, cải cách thủ tục hành chính. Phong trào thi đua yêu nước được lồng ghép với các phong trào và cuộc vận động khác. Tổ chức tốt phong trào “Giỏi việc trường – Đảm việc nhà”, lồng ghép với phong trào “Phụ nữ tích cực học tập lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” dựa trên cơ sở 5 chuẩn mực của người phụ nữ trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước; cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn liền với cuộc vận động “Dân chủ – Kỷ cương – Tình thương – Trách nhiệm”, “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và cuộc vận động “Hai không”. Cuộc vận động “Quyên góp sách vở, đồ dùng học tập, áo ấm giúp học sinh và giáo viên miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn” đã được thực hiện tốt. Kết quả đã quyên góp được hơn 104 tỷ đồng, xây dựng được 59.796 m 2 nhà ở công vụ cho giao viên, gần 7 triệu quyển sách giáo khoa, sách tham khảo, vở viết, hàng triệu chiếc quần áo và nhiều hiện vật khác.

Trong phong trào thi đua yêu nước đã xuất hiện nhiều tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến xuất sắc, tiêu biểu ở các cấp học, bậc học và ở các vùng, miền. Ngành Giáo dục – Đào tạo vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh lần thứ hai (10/2010) và trong nửa nhiệm có 8 tập thể và 65 cá nhân được tặng thưởng danh hiệu anh hùng lao động, 85 CSTĐ toàn quốc, 233 nhà Nhà giáo Nhân dân và 1877 Nhà giáo Ưu tú.

– Công tác kiểm tra, bồi dưỡng cán bộ CĐ, kết nạp đoàn viên được đẩy mạnh, góp phần thực hiện đổi mới tổ chức, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ CĐGD các cấp, xây dựng tổ chức CĐ vững mạnh, tham gia xây dựng Đảng, chính quyền đơn vị. CĐGD Việt Nam đã tổ chức kiểm tra tại 37 đơn vị CĐ; trong đó có 20 đơn vị CĐ khối các trường đại học, cao đẳng và đơn vị trực thuộc; 07 CĐ trường ngoài công lập và 10 đơn vị CĐGD các tỉnh, thành phố. Kết quả kiểm tra cho thấy CĐGD các cấp cơ bản đã thực hiện tốt các Nghị quyết của CĐ cấp trên, góp phần tích cực vào hoàn thành nhiệm vụ chính trị của ngành. Tổ chức 10 lớp bồi dưỡng cho 1.190 cán bộ CĐ với 10 chuyên đề về công tác tài chính, công tác kiểm tra, công tác văn phòng và công tác nghiệp vụ, lý luận cho cán bộ CĐ chủ chốt làm báo cáo viên về mở lớp tại các CĐ cơ sở. Trong nửa nhiệm, toàn ngành đã kết nạp được 194.225 đoàn viên mới.

– CĐGD Việt Nam dã chủ động tăng cường mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các tổ chức CĐGD các nước trong khu vực và trên thế giới; tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy đối ngoại, hợp tác với CĐGD các nước ASEAN, CĐGD thế giới (EI), CĐ khối cộng đồng các nước nói tiếng Pháp. Tháng 12/2009, CĐGD Việt Nam tổ chức thành công Hội nghị Giáo giới các nước ASEAN lần thứ 25 tại Việt Nam – là một trong 12 sự kiện nổi bật của Ngành giáo dục – năm 2009. Ngoài ra, CĐGD các cấp, CĐ các trường học phối hợp với nhà trường tổ chức cho đội ngũ nhà giáo tham quan, giao lưu, học tập kinh nghiệm hoạt động CĐ với tổ chức CĐ giáo giới các nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần mở rộng hình thức hoạt động đối ngoại nhân dân theo đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước

Với những thành tich nổi bật trong nhiều năm qua và những năm gần đây, nên CĐGD Việt Nam vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng Huân chương Độc lập Hạng nhất lần thứ hai, nhân dịp kỷ niệm 60 năm ngày thành lập của mình (22/7/1951 – 22/7/2011); Chính phủ tặng thưởng Cờ thi đua – năm 2010; Đoàn chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam tặng Cờ thi đua – năm 2010.

Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trao tặng Huân chương độc lập hạng nhất lần thứ hai cho Công đoàn Giáo dục Việt Nam, ngày 22/7/2011

Tuy nhiên, việc triển khai, thực hiện Nghị quyết CĐ các cấp còn có những hạn chế và bất cập. Việc tổ chức thực hiện Nghị quyết và các hoạt động CĐ không đồng đều giữa các vùng, miền và các khối trường. Một số chỉ tiêu còn quá cao so với thực tiễn tổ chức thực hiện, như 100% giáo viên Mầm non đạt trình độ chuẩn, 20% giáo viên THPT có trình độ thạc sĩ, 25% giảng viên trong các trường đại học và cao đẳng có trình độ tiến sĩ; 100% nhà giáo và lao động trong ngành sử dụng công nghệ thông tin; 95% CĐCS trực thuộc đạt CĐCS vững mạnh, v.v.

Nguyên nhân của những tồn tại nói trên là do CĐGD các cấp, CĐCS trường học chưa chủ động, sáng tạo, trong việc lựa chọn nội dung, phương pháp hoạt động cho phù hợp với đơn vị mình, nên hiệu quả công tác CĐ chưa cao. Sự phối hợp giữa CĐGD với LĐLĐ ở một số địa phương còn lúng túng, chưa thật sự quán triệt đặc điểm ngành nghề của đội ngũ nhà giáo; vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức CĐ ngành nghề. Đội ngũ cán bộ CĐCS trường học hầu hết kiêm nhiệm, thay đổi thường xuyên qua các kỳ đại hội. Chế độ đãi ngộ cán bộ CĐGD các cấp còn có những điểm bất hợp lý, nên việc tạo nguồn cán bộ giỏi cho CĐGD các cấp đang gặp nhiều khó khăn. Kinh phí hoạt động của CĐGD các cấp còn hết sức hạn hẹp.

3. Căn cứ vào Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, Nghị quyết Đại hội X CĐ Việt Nam, nhiệm vụ chính trị của Ngành Giáo dục trong giai đoạn mới và từ kết quả đạt được, những hạn chế, tồn tại nói trên, CĐGD Việt Nam tiếp tục chỉ đạo tổ chức thực hiện mục tiêu và các nhiệm vụ chủ yếu sau đến kết thúc nhiệm kỳ (2008 – 2013):

– Mục tiêu:Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp, tác phong hoạt động CĐ, xây dựng tổ chức công đoàn và đội ngũ đoàn viên, nhà giáo ngày càng vững mạnh, góp phần cùng với Ngành Giáo dục thực hiện đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội. Tham gia đổi mới quản lý giáo dục các cấp một cách mạnh mẽ, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo theo nhu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Tiếp tục triển khai có hiệu quả phong trào thi đua yêu nước, cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” gắn với đặc thù của ngành là thực hiện cuộc vận động “Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

– Để thực hiện mục tiêu trên cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động nhà giáo và lao động không ngừng nâng cao phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, nâng cao năng lực giảng dạy, chất lượng hiệu quả góp phần đổi mới GD&ĐT. Trọng tâm là tổ chức cho đội ngũ nhà giáo và lao động học tập, quán triệt và thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, Nghị quyết của Quốc hội khoá XIII về nhiệm vụ GD&ĐT; Chương trình hành động của Tổng LĐLĐ Việt Nam, Bộ GD&ĐT và CĐGD Việt Nam về triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng. CĐ các trường học phối hợp với nhà trường tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ năm học mới 2011-2012, theo Chỉ thị số 3398/CT-BGDĐT, ngày 12/8/2011, của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT.

Hai là , thực hiện tốt công tác chăm lo và tự chăm lo đời sống nhà giáo và lao động, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp và chính đáng của nhà giáo và lao động. Tham gia xây dựng và góp ý vào các văn bản qui phạm pháp luật; Chiến lược phát triển giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Công đoàn sửa đổi, Luật Lao động sửa đổi, Thông tư hướng dẫn thực hiện Nghị định số 54/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ về chế độ phụ cấp thâm niên nhà giáo; đề án đổi mới chương trình và nội dung sách giáo khoa sau năm 2015.

tiếp tục triển khai có hiệu quả các phong trào thi đua, các cuộc vận động lớn của ngành như cuộc vận động Ba là, “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” theo Chỉ thị 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị gắn với cuộc vận động ” Mỗi thầy, cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào thi đua ” Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực“. Nâng cao chất lượng công tác thi đua, khen thưởng tạo động lực thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của ngành.Đổi mới phương thức chỉ đạo, điều hành hoạt động CĐGD các cấp trong hệ thống theo hướng ứng dụng công nghệ thông tin.

Bốn là, hướng về cơ sở, đổi mới nội dung phương thức tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ CĐGD các cấp nhằm thực hiện hiệu quả chức năng và nhiệm vụ của tổ chức CĐ trong tình hình mới. Phát huy dân chủ, giữ vững kỷ cương và trách nhiệm, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, đẩy mạnh hoạt động của ủy ban kiểm tra CĐ, thanh tra nhân dân. Mở rộng hoạt động từ thiện, đền ơn đáp nghĩa, tích cực đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội, thực hiện nghiêm túc luật phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí trong các trường học và đơn vị giáo dục.

Năm là, CĐGD các cấp phối hợp với chuyên môn tiếp tục chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, giám sát việc t hực hiện “Qui chế thực hiện công khai đối với cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân”; Nghị định của Chính phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập.

Sáu là, tiếp tục giữ vững, mở rộng quan hệ quốc tế theo đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước, Tổng LĐLĐ Việt Nam, tham gia đầy đủ Hội nghị thường niên của Hội đồng Giáo giới các nước ASEAN (ACT). Tổ chức tốt các hoạt động tham quan, duc lịch, trao đổi kinh nghiệm hoạt động CĐ.

Tài liệu tham khảo:

– Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG – ST, Hà nội – 2011.

– Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại hội Thi đua yêu nước ngành Giáo dục lần thứ V – Năm 2010, Hà nội – 2010.

– Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chỉ thị số 3398/CT-BGDĐT, về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2011-2012, ngày 12/8/2011.

– CĐGD Việt Nam, Tài liệu hội nghị sơ kết nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết đại hội X CĐ Việt Nam và Đại hội XIII CĐGD Việt Nam, Hà nội 7/2011.

Nghị Quyết Đại Hội Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam Lần Thứ Xv Và Các Chương Trình Công Tác Toàn Khóa Của Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam Nhiệm Kỳ 2022 / 2023

Số công văn: 07/KH-CĐN

Trích yếu nội dung:

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XV và Hội nghị Ban Chấp hành Công đoàn Giáo dục (CĐGD) Việt Nam khóa XV lần thứ 2, họp ngày 23 tháng 7 năm 2018, Ban Thường vụ CĐGD Việt Nam xây dựng Kế hoạch tổ chức triển khai Nghị quyết Đại hội Công đoàn Giáo dục Việt Nam lần thứ XV và các chương trình công tác toàn khóa của Công đoàn Giáo dục Việt Nam nhiệm kỳ 2018 – 2023

Tệp đính kèm:

Tên tệp

Thao tác

KE_HOACH_SO_07-9-10-2018–11-51-980.pdf