Thể Thơ Song Thất Lục Bát

--- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Các Thể Thơ Lục Bát
  • Bài 13. Làm Thơ Lục Bát
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát Ngắn Nhất
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát
  • Chúng tôi xin giới thiệu đến Quý anh chị Thể Thơ Song Thất Lục Bát sưu tầm trên trang Bảo mai (BM)

    Đây cũng là một thể thơ đặc thù của VN, gồm hai câu bảy chữ và hai câu lục bát. Tác phẩm Chinh Phụ Ngâm đã được viết trong thể thơ này.

    Song là 2, Thất là 7, Lục là 6, Bát là 8.

    Song Thất Lục Bát là thể thơ mà hai câu đầu mỗi câu 7 chữ, gọi là Song Thất.

    Liền theo là một câu 6 chữ và một câu 8 chữ, gọi là Lục Bát.

    Bảng chính luật Thơ song thất lục bát được viết như sau

    Nhưng bản luật mà chúng ta thường dùng là

    (v) = vần

    B = bằng, T = trắc

    x = là chữ không tính, bằng hay trắc gì cũng được

    Ghi chú: Chữ thứ bảy của câu bát tuy bất luận, nhưng chúng ta nên dùng một chữ trắc, âm điệu sẽ hay hơn.

    Cách gieo vần

    Xin được tóm tắt gọn như sau, để giúp các bạn trẻ nhanh chóng nắm bắt được các bí quyết của thể loại này :

    -Chữ thứ 5 câu 7 đầu tiên vần Bằng (B).

    -Chữ cuối câu 7 đầu tiên ở vần Trắc(T), ăn vần với chữ thứ 5 của câu 7 thứ nhì (cũng vần Trắc)

    -Chữ cuối câu 7 thứ nhì vần Bằng, ăn vần với chữ cuối câu 6 (vần Bằng)

    -Chữ cuối câu 6 vần Bằng , ăn vần với chữ thứ 6 câu 8 (vần Bằng)

    -Chữ cuối câu 8 vần Bằng , lại ăn vần với chữ thứ 3 hoặc chữ thứ 5 của câu 7 đầu tiên trong khổ thơ tiếp theo. Chữ thứ 5 này vần Bằng. Chữ thứ 3 linh động hơn, khi ăn vần với câu trước thì phải là vần Bằng, nếu không ăn vần với câu trước thì Trắc, Bằng gì cũng được.

    Nước thanh bình ba trăm năm cũ,

    Áo nhung trao quan vũ từ đây.

    Sứ trời sớm giục đường mây,

    Phép công là trọng niềm tây sá nào.

    Chinh Phụ Ngâm Khúc -Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm

    Đối trong thể Song Thất Lục Bát

    Thể thơ này không bắt buộc phải có các cặp đối, nhưng hai câu thất, số chữ bằng nhau, nếu các thi nhân có thể viết thành một cặp đối :

    Cầu Thệ-thủy ngồi trơ cổ-độ

    Quán Thu-phong đứng rũ tà-huy

    Cung oán ngâm khúc – Nguyễn Gia Thiều

    Chinh phụ ngâm khúc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Lục Bát Biến Thể Và Hiệu Quả Nghệ Thuật
  • Cửa Sổ Tri Thức:thơ Lục Bát Biến Thể
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát Của Dân Tộc

    --- Bài mới hơn ---

  • Sức Sống Của Thể Thơ Lục Bát Trong Thơ Ca Việt Nam Hiện Đại
  • Luật Thương Mại Năm 2005, Luật Số 36/2005/qh11
  • Luật Thương Mại Quốc Tế Những Vấn Đề Quan Trọng Bạn Cần Biết
  • Lưu Trữ Luật Thương Mại Quốc Tế
  • Bài Giảng Luật Thương Mại Quốc Tế Ts. Bùi Quang Xuân
  • Thuyết minh thể thơ lục bát của dân tộc

    Nếu chọn loài cây Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn phải là cây tre. Nếu chọn loài hoa Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là hoa sen. Nếu chọn trang phục Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là chiếc áo dài. Nếu chọn nhạc khí Việt tiêu biểu nhất, đó hẳn là cây đàn bầu… Cũng như thế, nếu chọn trong nền thơ ca phong phú của ta một thể thơ làm đại diện dự cuộc giao lưu thơ toàn cầu, hẳn đó phải là thơ lục bát – một thể thơ cách luật cổ điển thuần túy Việt Nam.

    Nguồn gốc ra đời của thể thơ lục bát:

    Thơ lục bát vốn rất phổ biến trong ca dao dân ca và lời ăn tiếng nói của dân tộc. Bởi thê mà, nhiều người nhầm lẫn thể thơ này có từ lâu đời. Thực tế, thể thơ lục bát có thể xuất hiện vào khoảng trước thế kỉ XVI đến thế kỉ XVII. Từ một loại hình nghệ thuật dân gian, lục bát trở thành một kiểu loại của văn học viết và bắt đầu phát triển mạnh mẽ ở các thế kỉ sau đó.

    Có thể nói, người Việt sống trong “bầu thi quyển” lục bát. Dân ta nói vần nói vè chủ yếu bằng lục bát. Dân ta đối đáp giao duyên, than thân trách phận, tranh đấu tuyên truyền chủ yếu bằng lục bát. Và dân ta hát ru các thế hệ, truyền nguồn sữa tinh thần của giông nòi cho lớp lớp cháu con cũng chủ yếu bằng lục bát. Bắt nguồn từ ca dao, dân ca, được phát triển qua các truyện thơ Nôm, các kịch bản ca kịch dân tộc và đạt đến sự hoàn thiện với thiên tài Nguyễn Du, thể thơ lục bát vẫn được tiếp tục phát huy qua thơ Tố Hữu, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nó trong nền thơ ca hiện đại Việt Nam.

    Ngày nay thơ lục bát vẫn được các nhà thơ hiện đại tiếp thu, hoàn chỉnh và giữ một vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Thơ lục bát rất giản dị về quy luật, dễ làm, thường dùng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau trong tâm hồn con người.

    Đặc điểm cấu tạo thể thơ lục bát:

    Một bài lục bất phải bao gồm từ hai câu trở lên. Trong đó thì cứ hai câu ghép lại thành một cặp câu. Các cặp câu gồm có một câu 6 tiếng (câu lục) và một câu 8 tiếng (câu bát), và xen kẽ cứ câu lục là câu bát rồi đến cặp câu khác, số câu trong bài không giới hạn. Chính đặc điểm này có thể xem lục bát là mọt thể loại đoản thiên hay trường thiên đều được.

    Thông thường thì bắt đầu bằng câu sáu chữ và chấm dứt ở câu tám. Nhưng cũng có khi kết thúc bằng câu sáu để đạt tính cách lơ lửng, hiểu ngầm, hay diễn đạt sự đột ngột. Thơ lục bát cũng cần tuân thủ luật về thanh và vần. Vì vậy tìm hiểu thơ lục bát là tìm hiểu về luật và vần của nó. Luật về thanh giúp cho câu thơ trở nên hài hoà. Các vần chính là hình thức kết dính các câu thơ lại với nhau.

    Đơn vị cơ bản của thể thơ này là một tổ hợp gồm hai câu sáu tiếng và tám tiếng. Số câu không hạn định, về gieo vần, chủ yếu là vần bằng, cứ mỗi cặp hai câu mới đổi vần. Tiếng cuối câu sáu vần với tiếng thứ sáu câu tám, rồi tiếng cuối câu tám lại vần với tiếng cuối câu sáu sau. Như thế ngoài vần chân có cả ở hai câu sáu và tám, lại có cả vần lưng trong câu tám:

    Luật thanh trong thơ lục bát; Thơ lục bát có 2 câu chuẩn là câu lục và câu bát, cũng như thơ Đường luật, nó tuân thủ quy tắc nhất, tam, ngũ bất luận; nhị, tứ, lục phân minh. Nghĩa là các tiếng thứ 1,3,5 trong câu có thể tự do về thanh, nhưng các tiếng thứ 2,4,6 thì phải theo luật chặt chẽ. Luật như sau:

    Về phối thanh, chỉ bắt buộc các tiếng thứ tư phải là trắc, các tiếng thứ hai, thứ sáu, thứ tám phải là bằng. Nhưng trong câu tám, hai tiếng thứ sáu và thứ tám phải khác dấu. Nếu trước là dấu huyền thì sau phải là không dấu, hoặc ngược lại:

    “Cỏ non xanh tận chân trời

    Cành lê trắng điểm một vài bông hoa”

    (Truyện Kiều)

    Cách gieo vần trong thơ lục bát: Thơ lục bát có cách gieo vần khác với các thơ khác. Có nhiều vần được gieo trong thơ nhiều câu chứ không phải là một vần, điều này tạo cho thơ lục bát tính linh hoạt về vần. Thể thơ lục bát thường được gieo vần bằng; tiếng cuối của câu lục hiệp với tiếng thứ sáu của cậu bát, tiếng thứ sáu của câu bát hiệp với tiếng của câu lục tiếp; cứ như thế đến hết bài lục bát:

    (Truyện Kiều)

    Ngoài vần chân có cả ở hai câu 6, 8 lại có cả vần lưng trong câu tám. Tiểu đối trong thơ lục bát: Đó là đối thanh trong hai tiếng thứ 6 (hoặc thứ 4) của câu bát với tiếng thứ 8 câu đó. Nếu tiếng này mang thanh huyền thì tiếng kia bắt buộc là thanh ngang và ngược lại:

    “Người lên ngựa, kẻ chia bào

    Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”

    (Chinh phụ ngâm khúc)

    Cách ngắt nhịp trong thơ lục bát: Thơ lục bát thông thường ngắt nhịp chẵn, là nhịp 2/2/2, hoặc 4/4 hoặc để diễn tả những tình cảm thương yêu, buồn đau…

    “Một mình một ngọn đèn khuya

    Áo đầm giọt tủi tóc se mái đầu”

    (Chinh phụ ngâm khúc)

    Khi cần diễn đạt những điều trắc trở, khúc mắc, mạnh mẽ, đột ngột hay tâm trạng bất thường, bất định thì có thể chuyển sang nhịp lẻ 3/3, 1/5, 3/5…

    “Trăm nghìn gửi lạy tình quân

    Tơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy thôi.

    Phân sao phận bạc như vôi?

    Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ làng.

    Ôi Kim Lang! Hỡi Kim lang!

    Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!”

    (Truyện Kiều)

    Ngoài ra, còn có thể loại lục bát biến thể. Luật thơ vẫn tuân thủ luật thơ lục bát nhưng số chữ hoặc cách gieo vần có thể thay đổi. Kiểu biến thể vốn phổ biến trong ca dao:

    “Thương nhau ba bốn núi cũng trèo

    Năm sáu sông cũng lội, bảy tám đèo cũng qua”

    (Ca dao)

    Vai trò thể thơ lục bát trong đời sống dân tộc:

    Thơ lục bát diễn đạt tâm trạng nhiều chiều của nhân vật trữ tình. Thông thường người bình dân hay mượn thể loại văn vần này để bày tỏ nỗi lòng, tâm trạng của mình trong cuộc sống, sinh hoạt, tình yêu… do vậy thể thơ chủ yếu của ca dao vẫn là thể lục bát vì nó có khả năng diễn đạt tất thảy những cung bậc cảm xúc như: tình yêu trai gái, tình yêu gia đình, xóm làng, yêu đồng ruộng, đất đai, yêu lao động, yêu thiên nhiên… Bởi thé có thể coi, lục bát là tiếng nói. là lời ca, lời than vãn,… của người bình dân trong lao động và đời sống hàng ngày.

    Những truyện thơ vĩ đại nhất của Việt Nam như Truyện Kiều, Lục Vân Tiên đều được thể hiện bằng hình thức thơ Lục bát. Bởi cái chất duyên dáng, kín đáo, không ồn ào của lối nghĩ phương Đông, lục bát đã giữ cho mình luôn có cái vẻ nền nã. Ngày nay thể lục bát vẫn là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam.

    Ngày nay, tuy đời sống thi ca có phần đi xuống nhưng sự ưa chuộng của người Việt đối với thể thơ lục bát vẫn còn rất sâu đậm. Không những nó là một thể thơ có khả năng thể hiện cái hồn tính của dân tộc mà còn là một loại hình nghệ thuật độc đáo và tài hoa bậc nhất thế giới. So với một vài thể loại thơ của các quốc gia khác, ta hoàn toàn có đủ căn cứ để khẳng định mạnh mẽ điều đó.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Của Thể Thơ Lục Bát
  • Bài Văn Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Lớp 8, 2Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Ngắn Hay Nhất
  • Luật Thơ : Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Vần Điệu Trong Thơ Lục Bát
  • Luật Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Thể Thơ Song Thất Lục Bát
  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Các Thể Thơ Lục Bát
  • Bài 13. Làm Thơ Lục Bát
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Làm Thơ Lục Bát Ngắn Nhất
  • Nhân có anh Bạn nêu ý kiến: Thơ Lục Bát không hề có gieo vần Trắc. Đó chỉ là Lục Bát biến thể mà thôi.

    Để trả lời ý kiến trên, cũng như tìm hiểu rõ hơn về thơ Lục Bát, tôi xin bổ sung thêm cho bài viết về Luật thơ Lục Bát và Song Thất Lục Bát của mình trước đây :

    Thơ Lục Bát Vần Trắc không phải là Lục Bát Biến Thể, mà là Thơ Lục Bát Chính Thể.

    Các nhà Nghiên Cứu đã xác nhận thơ Lục Bát có gieo Vần Trắc. Điển hình là Giáo Sư Dương Quảng Hàm, khi dẫn chứng Thơ Lục Bát Chính Thể, Ông đã lấy một bài Ca Dao gieo Vần Trắc để thí dụ (trang 12 quyển Việt Nam Văn Học Sử Yếu).

    Trước hết, chúng ta phải xác định Thơ Lục Bát là thể thơ gì? Nói cách khác là Định Nghĩa Thơ Lục Bát.

    Thể thơ Lục Bát là một dạng Thơ trong Ca dao. Số câu trong bài thơ chỉ có câu 6 chữ và câu 8 chữ nối tiếp nhau. Được gieo vần Bằng hoặc Trắc. Cách gieo Vần của thơ Lục Bát cũng khác hẳn các loại thơ khác, sử dụng cách gieo vần Cuối Câu và Giữa Câu. Các Vần được gieo vào vị trí các chữ thứ 4; thứ 6 và thứ 8 trong câu.( điều này thể hiện rất rõ trong Quyển “Việt Nam Văn Học Sử Yếu” của Dương Quảng Hàm nơi trang: 12-14).

    – Gieo vần ở chữ thứ 4 trong câu:

    …Thùng thùng trống đánh ngũ liên,

    Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa…

    …Ước gì anh lấy được nàng

    Thì anh mua gạch bát tràng về xây

    Xây dọc rồi lại xây ngang

    Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.

    Là thơ Lục Bát không còn thuần tuý là các câu 6 ; 8, mà có thêm nhiều từ vào thành những câu có số chữ là 7; 9 hoặc nhiều hơn nữa.

    …Chắc về đâu đã hẳn hơn đâu

    Cầu tre vững nhịp hơn cầu thượng gia.

    Bắc thang lên thử hỏi trăng già

    Phải rằng phận gái hạt mưa sa giữa trời…

    …Thành Hà-nội năm cửa chàng ơi

    Sông Lục-đầu sáu khúc nước chảy xuôi một dòng.

    Nước sông Thương bên đục bên trong

    Núi đức thánh Tản thắt cổ bồng mà lại có thánh sinh…

    3- Thể Thơ Song Thất Lục Bát:

    Đây là dạng biến thể từ thơ Lục Bát Vần Trắc.

    Dạng này cũng thường nên không nêu thí dụ.

    – Song Thất Lục Bát Biến Thể

    Không còn giữ nguyên 2 câu 7, một câu 6 và một câu 8

    …Sao trời trên sao Hôm sao Mai hai cái

    Nhái ngoài ruộng nhái đực nhái cái hai con…

    Thơ Lục Bát do giới Bình Dân sáng tạo, chính vì thế nên thể thơ này rất đa dạng và phong phú.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Lục Bát Biến Thể Và Hiệu Quả Nghệ Thuật
  • Cửa Sổ Tri Thức:thơ Lục Bát Biến Thể
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • ✅ Làm Thơ Lục Bát
  • Luật Thơ : Lục Bát Và Song Thất Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Ngắn Hay Nhất
  • Bài Văn Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Lớp 8, 2Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Của Thể Thơ Lục Bát
  • Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát Của Dân Tộc
  • Sức Sống Của Thể Thơ Lục Bát Trong Thơ Ca Việt Nam Hiện Đại
  • Trong chúng ta, đôi lúc có máu thơ thẩn, thích làm thơ để trải lòng, nhưng lại không dám thực hiện. Vì sao?

    Chúng tôi xin phép được suy bụng ta ra bụng người, để trả lời. Chúng ta ngần ngại vì bởi không biết rõ luật thơ, luôn e sợ lỡ sai luật.

    Chính vì lý do đó, ngoài sự hiểu biết, đến việc cố công sưu tầm và tổng hợp một số bài viết từ Internet

    Với chủ ý cùng nhau trao đổi, chúng tôi đã chọn lọc một số bài của Thân Hữu. Những Cây Viết Nghiệp Dư này đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thi phẩm để mang ra thí dụ, hầu dẫn chứng về Luật của các Thể Thơ.

    Với khả năng hạn chế, kính mong quý độc giả góp ý và bổ sung để chúng ta có được một bài viết đầy đủ hơn.

    Thơ Lục Bát là một thể thơ thuần túy của Việt Nam, rất êm dịu, nhẹ nhàng, giống như bản chất hiền hòa của dân tộc ta. Xuất xứ từ Ca Dao.

    Phạm Quỳnh cho rằng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn. Tiếng ta còn, nước ta còn .”

    Câu này mang hàm ý: “Thơ Lục Bát còn dân tộc Việt còn, thơ Lục Bát mất dân tộc Việt mất”. Bởi vì, Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du được viết bằng Chữ Nôm theo thể thơ Lục Bát (nguyên tác là Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân).

    Chính vì thế, là con cháu, chúng ta cần nên gìn giữ tinh hoa văn hóa của ông cha lưu truyền, nhất là hạn chế việc làm biến dạng hình thức của thể Thơ Lục Bát. Đó một thể thơ đại diện cho tinh hoa dân Việt chúng ta.

    1 – Luật Bằng Trắc

    – câu 6 chữ : b B t T b B

    – câu 8 chữ : b B t T b B t B

    Những chữ có dấu huyền hay không dấu là vần Bằng.

    Thí dụ: đi, về

    Những chữ có dấu sắc, dấu hỏi, dấu ngã, dấu nặng là vần Trắc

    Thí dụ: bát, trả, chữ, nợ .

    Những chữ in lớn (B, T) là bắt buộc phải theo luật được qui định

    Trong thơ Luc Bát thông thường chỉ sử dụng vần Bằng.

    – Bắt đầu từ chữ cuối của câu 6 chữ, gieo vần với chữ thứ 6 của câu 8 chữ. Cách gieo vần này gọi là Vần Lưng (yêu vận), nghĩa là gieo vần ở giữa câu.

    – Tiếp đến, chữ cuối của câu 8 chữ, gieo vần với chữ cuối câu 6 chữ tiếp theo. Gọi là Vần Chân(Cước vận).

    Cứ thế tiếp tục mãi và số câu trong bài thơ không giới hạn.

    Muôn cành lá rụng đê nỗi buồn

    Đọng sương lóng lánh như mơ chuyện tình

    Gọi nhau hẹn ước cưới xin

    Hồng thơm hương tỏa lung linh nguyệt cầm…

    b – Cách gieo vần 2:

    Ngoài ra, chúng ta có thể gieo vần như thế này : từ chữ cuối câu 6 chữ, ta gieo vần với chữ thứ 4 của câu 8 chữ

    Thí dụ:

    Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo

    3 – Trường hợp ngoại lệ

    Tuy nhiên, trong thơ Lục Bát vẫn có những trường hợp phá cách, không theo qui luật trên.

    a – Thí dụ:

    Nghìn dậm nhớ dáng trong mơ (chữ thứ hai vần trắc)

    Bên ngoài Mai rụng ta chờ người sang

    Giờ thấm thoát xuân đã tàn

    Bóng người biền biệt hạ vàng đến nơi

    Nên ta còn đứng đợi người về đây

    b – Hoặc là sử dụng vần TRẮC

    Nhện ơi nhện hỡi mầy đi đằng nào

    Thương nhớ chàng không mộtgiấc nào nguôi

    Sét đánh bên mình duyên nợ không buông

    B – Thơ Song Thất Lục Bát

    Thơ Song Thất Lục Bát cũng là thể thơ của Việt Nam, gồm hai câu Bẩy chữ, kế đến một câu Sáu và một câu Tám chữ. Cứ như thế tiếp tục, không giới hạn số câu.

    Luật Bằng Trắc và cách gieo vần:

    ” b , t “: không bắt buộc

    Trong thơ Song thất Lục Bát, chữ cuối của câu Thất trên gieo vần với chữ thứ 5 của câu Thất thứ hai.Chữ thứ 7 câu thất thứ hai gieo vần với chữ cuối của câu Lục. Chữ cuối của câu Lục gieo vần với chữ thứ Sáu của Câu Bát. Chữ cuối của Câu Bát sẽ gieo vần với chữ thứ Năm của câu Thất đoạn hai.

    Cứ tiếp tuc như thế và không giới hạn số câu trong một bài thơ.

    Câu Thất 1 : b bT t B b T

    Câu Thất 2 : t t B b T t B

    Câu Bát : b B t T b B t B

    Đoạn hai : b b T t B b T (giống 4 câu trên )

    Ai tình nhân biền biệt phương nao

    Trên sông vắng trăng theo sóng nước

    Thuyền có về chở được hay không

    Chớ gieo hy vọng chờ mong

    Tuy nhiên, trong thơ Song Thất Lục Bát luật Bằng Trắc cũng có ngoại lệ:

    Khúc Hát Sai Mùa

    Thả tâm hồn vô thinh lá đổ (Chữ thứ ba vần Bằng)

    Ngơ ngác đời bể khổ mù bơi…

    Chuông ngân thánh thoát nhẹ rơi…

    Cửa thiền mở rộng luân hồi… nhân sinh

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vần Điệu Trong Thơ Lục Bát
  • Đôi Điều Về Thơ Lục Bát
  • Hướng Dẫn Cách Làm Thơ Lục Bát Đúng Nghiêm Luật
  • Cách Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Hướng Dẫn Làm Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát Hay Dành Cho Mọi Lứa Tuổi
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • ✅ Làm Thơ Lục Bát
  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Cửa Sổ Tri Thức:thơ Lục Bát Biến Thể
  • Lục Bát Biến Thể Và Hiệu Quả Nghệ Thuật
  • Thuyết minh về thể thơ Lục Bát – Bài làm 1

    Bắt nguồn từ ca dao, dân ca, được phát triển qua các truyện thơ Nôm… thơ lục bát đã đạt đến sự hoàn thiện hoàn mĩ với Truyện Kiều của thiên tài Nguyễn Du. Trong thơ ca hiện đại, thơ lục bát vẫn được tiếp tục phát huy qua thơ Nguyễn Bính, Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa… và nhiều nhà thơ khác, chứng tỏ sức sống mãnh liệt của nó trong lòng người đọc.

    Có thể nói rằng không người Việt Nam nào mà lại không biết đến thơ lục bát, một thể thơ thuần túy dân tộc, xuất hiện đã hàng ngàn năm nay. Từ thuở nằm nôi, nằm võng, theo lời ru ngọt ngào của bà, của mẹ, thơ lục bát đã ngấm vào tim óc, làm nên đời sống tâm hồn phong phú của mỗi con người.

    Nghiên cứu về đặc điểm của các thể thơ nói chung và thơ lục bát nói riêng, chúng ta cần lưu ý đến các mặt như: số tiếng, số câu, cách gieo vần, phối thanh và ngắt nhịp.

    Đơn vị cơ bản của thơ lục bát gồm một cặp câu: câu lục (sáu tiếng) và câu bát (tám tiếng). Số câu trong bài không hạn định, ít nhất là hai, nhiều có thể lên tới hàng ngàn, vài ngàn câu như các truyện thơ Nôm mà tiêu biểu nhất là Truyện Kiều của đại thi hào Nguyễn Du. Trong ca dao, có những bài chỉ vẻn vẹn hai câu mà đủ sức thể hiện, khái quát một nội dung, một vấn đề nào đó của xã hội, hay một trạng thái tình cảm của con người. Bên cạnh đó là những truyện thơ lục bát trường thiên kể về bao biến cố trong suốt cuộc đời dài dằng dặc của nhân vật. Điều đó chứng tỏ độ dài ngắn của thơ lục bát là hoàn toàn phụ thuộc vào chủ định của người sáng tác.

    Vần trong thơ lục bát có hai loại: vần lưng và vần chân. Hai dòng lục bát hiệp theo vần lưng có nghĩa là tiếng thứ sáu của câu lục vần với tiếng thứ sáu của câu bát. Nếu tiếp tục kéo dài thì tiếng thứ tám của câu bát lại vần với tiếng thứ sáu của câu lục bên dưới. Đó là vần chân. Ví dụ:

    Ta về mình có nhớ ta

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người.

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

    ( Việt Bắc – Tố Hữu)

    Ngoài dạng lục bát nguyên thể như trên, còn có dạng lục bát biến thể đôi chút bằng cách thêm bớt một số tiếng hoặc xê dịch về cách hiệp vần hay phối thanh.

    Ví dụ:

    Cơm ăn mỗi bữa lưng lưng,

    Uống nước cầm chừng, để dạ thương em.

    (Ca dao)

    Tiếng thứ sáu của câu lục lại vần với tiếng thứ tư của câu bát, tuy vậy đọc lên vẫn thấy du dương. Trường hợp thêm chữ như câu ca dao sau đây:

    Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng,

    Về sông ăn cá, về đồng ăn cua.

    (Ca dao)

    Câu lục đã được thêm vào hai tiếng (gió đẩy). Nếu bớt đi hai tiếng này thì hai câu lục bát trên sẽ trở lại dạng nguyên thể về vần, nó vẫn tuân thủ theo cách hiệp vần lưng.

    Quy luật phối thanh của thơ lục bát khá linh hoạt, uyển chuyển. Thường thường thì các tiếng ở vị trí thứ hai, bốn, sáu, tám là thanh bằng, vị trí thứ tư là thanh trắc. Còn các tiếng ở vị trí lẻ một, ba, năm, bảy thì có thể là bằng hay trắc đều được cả.

    Ví dụ:

    Bần thần hương huệ thơm đêm

    b t b

    Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết Bàn

    B t b b

    Chân nhang lấm láp tro tàn

    b t b

    Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào.

    b t b b

    (Mẹ và em – Nguyễn Duy)

    Nếu ở câu lục có hiện tượng tiểu đối thì luật bằng trắc có thể thay đổi.

    Ví dụ:

    Khi tựa gối, khi cúi đầu,

    t b b

    Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    Tiếng thứ hai thanh trắc, tiếng thứ tư thanh bằng, khác với cách phối thanh của câu lục bình thường.

    Nhịp trong thơ lục bát phần lớn là nhịp chẵn, tạo nên âm điệu êm đềm, thong thả, thích hợp làm lời hát ru, hát ngâm.

    Ví dụ:

    Vì mây / cho núi / lên trời,

    Vì chưng / gió thổi / hoa cười/ với trăng.

    Hay:

    Gió sao / gió mát / sau lưng

    Dạ sao / dạ nhớ / người dưng / thế này ?

    (Ca dao)

    Nhưng khi cần biểu đạt một nội dung tư tưởng, tình cảm nhất định nào đó, người ta có thể biến đổi nhịp thơ cho thích hợp. Ví dụ như lời Thúy Kiều nói với Hoạn Thư trong cảnh Kiều báo ân báo oán:

    Dễ dàng / là thói / hồng nhan,

    Càng / cay nghiệt lắm / càng / oan trái nhiều Ị

    Rõ ràng là giọng đay nghiến, chì chiết khi Thúy Kiều nhắc tới máu ghen đáo để có một không hai của tiểu thư họ Hoạn.

    Thơ lục bát đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân Việt Nam. Cái hay, cái đẹp của nó là kết tinh tinh hoa ngôn ngữ tiếng Việt. Với những ưu điểm trong cách gieo vần, phối thanh, ngắt nhịp… biến hóa linh hoạt, uyển chuyển, thơ lục bát dễ nhớ, dễ đi sâu vào tâm hồn. Điều quan trọng là thơ lục bát đủ khả năng diễn tả đời sống tình cảm phong phú, đa dạng của người Việt. Cho đến nay, giữa rất nhiều thể thơ khác nhau, thì thơ lục bát vẫn có vị trí xứng đáng và vẫn được đông đảo bạn đọc yêu mến. Sau kiệt tác Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du đã tôn vinh thơ lục bát lên tới đỉnh cao của nghệ thuật thi ca, các bài thơ lục bát của Nguyễn Bính, Tố Hữu, Xuân Diệu, Nguyễn Duy, Trần Đăng Khoa và một số nhà thơ khác vẫn kế tục và phát huy thế mạnh của thể thơ thuần túy dân tộc, để thơ lục bát mãi mãi là niềm tự hào – là sản phẩm tinh thần vô giá của non sông, đất nước.

    Thuyết minh về thể thơ Lục Bát – Bài làm 2

    Thơ lục bát là thể thơ dân tộc, thường gọi là thơ ” sáu , tám “. Phần lớn ca dao được viết bằng thơ lục bát :

    – Thằng Bờm có cái quạt mo

    Phú ông xin đổi ba bò chín trâu

    – Em là cô gái đồng trinh

    Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè

    “Truyện Kiều” của Nguyền Du dài 3254 câu thơ lục bát là kiệt tác số một trong nền thi ca cổ điển Việt Nam. Hầu như người làm thơ nào cũng có vài bài, dăm ba câu thơ lục bát.

    Mỗi bài thơ lục bát có số câu không hạn định, bài ngắn thì 2 câu 4 câu, bài dài thì hàng trăm câu, hàng ngàn câu.

    a. Luật bằng trắc.

    Luật bằng, trắc trong thơ lục bát rất dễ nhận biết. Các câu chẵn 2, 4, 6, 8 được quy định như sau:

    – Các chữ số lẻ (1, 3, 5): có thể trắc và bằng đều được.

    – Chữ thứ 7 câu bát: phần lớn là trắc

    – Chữ thứ 6 và thứ 8 câu bát đều bằng nhưng có sự phân biệt như sau:

    + Chữ thứ 6 là bằng (không dấu huyền) thì chữ 8 phải là bằng (có dấu huyền).

    + Chứ thứ 6 là bằng (có dấu huyền) thì chữ thứ 8 phải là bằng (không có dấu huyền).

    Ví dụ:

    Long lanh đáy nước in trời,

    Thành xây khói biếc, non phơi bóng vàng.

    (Truyện Kiều)

    Đầu lòng hai ả tố nga,

    Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.

    (Truyện Kiều)

    Trường hợp ngoại lệ: Khi câu lục được tạo thành hai vế tiểu đối (3/3) thì chữ thứ hai chuyển thành trắc:

    Mai cốt cách, tuyết tinh thần,

    Mỗi người mỗi vẻ mười phán vẹn mười.

    hoặc:

    Đỗ tế nhuyễn, của riêng tây,

    Sạch sành sanh vét cho dầy túi tham.

    (Truyện Kiều)

    Thơ lục bát vừa có vần chân vừa có vần lưng, tất cả đều là vần bằng. Cách gieo vần như sau:

    – Chữ thứ 6 câu lục vần với chữ thứ 6 câu bát;

    – Clìữ thứ 8 cầu bát vần với chữ thứ 6 câu lục;

    – Cứ vận động luân chuyển như thế cho đến hết bài.

    Ví dụ:

    Trông chừng thấy một văn nhân,

    Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng.

    Đề huề lưng túi gió trăng,

    Sau chân theo một vài thằng con con.

    (Truyện Kiều)

    – Trường hợp ngoại lệ: Chữ thứ 6 câu lục bắt đầu vần với chữ thử 4 câu bát.

    – Ví dụ:

    Ông ơi, ông vớt tôi nao,

    Tôi có lòng nào, ông hãy sáo măng.

    (Ca dao)

    Trèo lên cây bưởi hái hoa,

    Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

    (Ca dao)

    c. Nhịp thơ

    Nhịp thơ lục bát chủ yếu là nhịp chẵn: 2/2/2; 2/2/2/2; hoặc 4/4. Trường hợp đặc biệt mới có nhịp lẻ. Lúc đọc thơ lục bát cần chú ý thể hiện cho đúng để biểu cảm.

    Từ khóa từ Google

    • thuyết minh về thể thơ lục bát
    • thuyết minh về thơ lục bát
    • thuyet minh the tho luc bat

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Làm Thơ Lục Bát
  • Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát
  • Bổ Sung Quy Hoạch Vùng Trời Vào Dự Án Luật Quy Hoạch
  • Giới Hạn Vùng Trời Của Một Quốc Gia
  • Vùng Trời Cho Hoạt Động Hàng Không Chung
  • Luật Thơ : Lục Bát & Song Thất Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Quyền Thừa Kế Johnny Hallyday: Luật Mỹ Hay Luật Pháp Sẽ Thắng Thế ?
  • “thuế Tử Thần” Và Cái Chết Đắt Đỏ Của Các Tỷ Phú Mỹ
  • Người Nước Ngoài Có Được Nhận Thừa Kế Đất Đai Tại Việt Nam?
  • Luật Thương Mại 2005 Số 36/2005/qh11 Năm 2022
  • Luật Thương Mại 2022, Luật Thương Mại
  • Trong chúng ta, đôi lúc có máu thơ thẩn, thích làm thơ để trải lòng, nhưng lại không dám thực hiện. Vì sao?Internet của Thân Hữu. Những Cây Viết Nghiệp Dư này đã cung cấp cho chúng tôi rất nhiều thi phẩm để mang ra thí dụ, hầu dẫn chứng về Luật của các Thể Thơ.

    Chúng tôi xin phép được suy bụng ta ra bụng người, để trả lời. Chúng ta ngần ngại vì bởi không biết rõ luật thơ, luôn e sợ lỡ sai luật.

    Với chủ ý cùng nhau trao đổi, chúng tôi đã chọn lọc một số bài

    Với khả năng hạn chế, kính mong quý độc giả góp ý và bổ sung để chúng ta có được một bài viết đầy đủ hơn.

    Chính vì lý do đó, ngoài sự hiểu biết, đến việc cố công sưu tầm và tổng hợp một số bài viết từ

    Hoa hồng gợi chút ý thơ

    Đọng sương lóng lánh như mơ chuyện tình

    Gọi nhau hẹn ước cưới xin

    Hồng thơm hương tỏa lung linh nguyệt cầm…

    Ngoài ra, chúng ta có thể gieo vần như thế này : từ chữ cuối câu 6 chữ, ta gieo vần với chữ thứ 4 của câu 8 chữ

    Thí dụ :

    Anh đi ghe rổi chín chèo

    Bởi anh thua bạc nên nghèo nợ treo

    Nợ treo kệ mặc nợ treo

    Em bán bánh trả nợ nuôi anh

    Tuy nhiên, trong thơ Lục Bát vẫn có những trường hợp phá cách, không theo qui luật trên. (

    a – Thí dụ :Quên Đi)

    Trách

    Nghìn dậm nhớ dáng trong mơ (chữ thứ hai vần trắc)

    Bên ngoài Mai rụng ta chờ người sang

    Giờ thấm thoát xuân đã tàn

    Bóng người biền biệt hạ vàng đến nơi

    Đâu tăm cá đâu chim trời

    Nên ta còn đứng đợi người về đây

    Chữ thứ 7 câu thất thứ hai gieo vần với chữ cuối của câu Lục. Chữ cuối của câu Lục gieo vần với chữ thứ Sáu của Câu Bát. Chữ cuối của Câu Bát sẽ gieo vần với chữ thứ Năm của câu Thất đoạn hai.t B Tuy nhiên, trong thơ Song Thất Lục Bát luật Bằng Trắc cũng có ngoại lệ :

    Cứ tiếp tuc như thế và không giới hạn số câu trong một bài thơ.

    b B t T b B

    b B t T b B

    Khúc Hát Sai Mùa

    Thả tâm hồn vô thinh lá đổ ( Chữ thứ ba vần Bằng)

    Ngơ ngác đời bể khổ mù bơi…

    Chuông ngân thánh thoát nhẹ rơi…

    Cửa thiền mở rộng luân hồi… nhân sinh

    Câu Thất 1 : b bT t B b T

    Câu Thất 2 : t t B b T t B

    Câu Lục : b B t T b B

    Câu Bát : b B t T b B t B

    Đoạn hai : b b T t B b T (giống 4 câu trên )

    t t B b T

    ( Kim Oanh )

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát.
  • Luật Trời Tập 35 (Tập Cuối), Thvl1 Việt Nam (2020)
  • Giới Thiệu Về Công Ty Usis
  • Chính Quyền Tổng Thống Donald Trump Và Những Ảnh Hưởng Lên Chương Trình Eb
  • Luật Sư José E. Latour
  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Của Thể Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát Của Dân Tộc
  • Sức Sống Của Thể Thơ Lục Bát Trong Thơ Ca Việt Nam Hiện Đại
  • Luật Thương Mại Năm 2005, Luật Số 36/2005/qh11
  • Luật Thương Mại Quốc Tế Những Vấn Đề Quan Trọng Bạn Cần Biết
  • Lưu Trữ Luật Thương Mại Quốc Tế
  • Thuyet minh ve the tho luc bat. Đề bài: Bằng hiểu biết của mình, em hãy thuyết minh về thể thơ lục bát

    Trong nền văn học đồ sộ của Việt Nam, để làm nên các tác phẩm thực sự có giá trị không thể kể đến công lao của các hình thức thơ mà các nhà thơ, nhà văn đã lựa chọn làm chất liệu cho tác phẩm của mình. Nếu nói nội dung là phần hồn của bài thơ, bài văn thì hình thức thơ lại được xem là phương tiện truyền tải để những nội dung ấy, quan niệm của tác giả có thể đến được với bạn đọc. Một trong những thể thơ được xem là mang đậm màu sắc của dân tộc Việt Nam có thể kể đến là thể thơ Lục Bát.

    So với nền văn học già lâu đời như nền văn học Trung Hoa, nền văn học Việt Nam có thể coi là non trẻ hơn. Nhưng qua bao thế hệ người Việt Nam luôn có ý thức trong việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại, sau đó tiếp thu, chọn lọc một cách có sáng tạo vào Việt Nam, sự chọn lọc này hoàn toàn sáng tạo, bởi người Việt Nam ta chỉ tiếp thu những cái phù hợp nhất với quốc gia, dân tộc mình, và sự kế thừa đó không phải sao chép mà là sáng tạo. Nhìn lại quá trình tiếp thu ấy ta có thể thấy được bản lĩnh dân tộc của con người Việt Nam.

    Xét về thể loại và các hình thức thơ trong văn học, người Việt Nam bên cạnh tiếp thu của người Trung Hoa như thể thơ Cổ Phong hay thơ Đường Luật. Bên cạnh đó, ông cha ta cũng sáng tạo riêng cho dân tộc mình những thể thơ độc đáo, mang đậm màu sắc, văn hóa của dân tộc Việt Nam, như thể thơ Song thất lục bát hay thể thơ Lục bát đã trở nên vô cùng quen thuộc trong văn học Việt Nam. Trong đó, thể thơ Lục bát được nhiều nhà thơ lựa chọn làm chất liệu để xây dựng nên các tác phẩm văn chương của mình, cũng là xây dựng nên những bài văn mang đậm tinh thần dân tộc nhất.

    Thơ lục bát là thể thơ bao gồm có hai phần câu sáu ( câu lục) và câu tám (câu bát) nối tiếp nhau. Thông thường một bài thơ lục bát thường được mở đầu bằng câu lục và kết thúc bằng câu bát. Về số lượng câu trong một bài thơ lục bát không hề bị giới hạn nghiêm ngặt như các bài thơ đường luật hay thể thơ song thất lục bát. Một bài thơ lục bát có thể bao gồm hai hoặc bốn câu như:

    “Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương

    Nhớ ai dãi nắng dầm sương

    Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”

    Hoặc cũng có thể kéo dài ra hàng nghìn câu thơ, mà điển hình nhất mà ta có thể kể đến, đó chính là kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” (Truyện Kiều) của đại thi hào Nguyễn Du ( gồm 3253 câu, trong đó gồm 1627 câu lục và 1627 câu bát). Số lượng câu thơ hoàn toàn phụ thuộc vào nội dung và ý đồ mà nhà văn muốn truyền tải đến những độc giả.

    Về cách gieo vần, thơ Lục bát tuy không bị giới hạn bởi những luật lệ nghiêm ngặt như thể thơ Đường luật nhưng vẫn phải đảm bải những yếu tố cơ bản. Cụ thể là trong một bài thơ Lục bát thì câu thơ cuối của câu lục phải vần với câu thơ thứ sáu của câu bát. Tương tự, câu cuối của câu bát phải hiệp vần với câu cuối của câu lục. Có thể lấy một ví dụ trong bài thơ Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu như:

    “Mình về mình có nhớ ta?

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

    Mình về mình có nhớ không

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

    Những câu thơ trên thể hiện được tình cảm thiết tha, gắn bó của nhà thơ Tố Hữu với chiến khu Việt Bắc. Nhưng ở đây ta quan tâm đến cách gieo vần của bốn câu thơ này. Như ta thấy, câu thơ cuối của câu lục kết khúc là chữ “ta” thì trong câu thơ thứ tám của câu bát được hiệp vần bằng từ “tha”. Tương tự, câu bát kết thúc bằng vần “ông” thì câu cuối của câu lục lại được hiệp vần bằng từ “không”. Chính vì đảm bảo những quy tắc trên mà những câu thơ lục bát đọc lên rất dễ nhớ, dễ hiểu, dù đọc một lần thì người đọc cũng có thể có thể đọc lại.

    Về thanh điệu của bài thơ Lục bát ta có thể thấy, chữ thứu hai và chữu thứ sáu của câu bát thì đều là vần bằng, nhưng yêu cầu đặt ra ở đây là chúng không được cùng một thanh. Nếu thứ thứ sáu là thanh không có dấu, hay còn gọi là phù bình thì chữ thứ tám phải thuộc thanh trầm bình. Ví dụ cụ thể như trong bài ca dao sau:

    “Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

    TỪ KHÓA TÌM KIẾM THỂ THƠ LỤC BÁT THE THO LUC BAT THUYẾT MINH VỀ THỂ LỤC BÁT THƠ LỤC BÁT THƠ LỤC BÁT TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM Theo chúng tôi

    Như vậy, ta có thể thấy một cách khái quát về định nghĩa cũng như những đặc điểm, những luật lệ cơ bản trong một bài thơ lục bát. Qua đó ta cũng phần nào hiểu được cách mà các nhà thơ sáng tạo ra một tác phẩm văn chương, đó là cả một quá trình, vừa thể hiện được tài năng, vừa thể hiện được tư duy nhanh nhạy của các thi sĩ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Lớp 8, 2Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Ngắn Hay Nhất
  • Luật Thơ : Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Vần Điệu Trong Thơ Lục Bát
  • Đôi Điều Về Thơ Lục Bát
  • Luật Thơ Lục Bát Và Song Thất Lục Bát.

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thơ : Lục Bát & Song Thất Lục Bát
  • Quyền Thừa Kế Johnny Hallyday: Luật Mỹ Hay Luật Pháp Sẽ Thắng Thế ?
  • “thuế Tử Thần” Và Cái Chết Đắt Đỏ Của Các Tỷ Phú Mỹ
  • Người Nước Ngoài Có Được Nhận Thừa Kế Đất Đai Tại Việt Nam?
  • Luật Thương Mại 2005 Số 36/2005/qh11 Năm 2022
  • LUẬT THƠ LỤC BÁT

    Thơ Lục Bát ( thể thơ dân tộc truyền thống )

    a/- Lượng thơ :

    Dòng trên : sáu tiếng ( lục )

    Dòng dưới : tám tiếng ( bát )

    b/- Nhịp thơ :

    Nhịp chẵn là cơ sở theo kiểu :

    2/2/2

    2/2/2/2

    Ví dụ : Trăm năm / trong cõi / người ta

    Chữ tài / chữ mệnh / khéo là / ghét nhau

    Từ đó xuất hiện : Nhịp 2/4

    4/4

    Ví dụ : Con thuyền / rời bến sang Hiên

    Xuôi dòng sông cái / ngược triền sông Bung

    Rồi nhịp : 4/2

    2/6

    Ví dụ : Nắng chia nữa bãi / chiều rồi

    Vườn hoang / trinh nữ xếp đôi lá rầu

    Cũng có thể xuất hiện những nhịp lẻ : 3/3

    4/4

    Ví dụ : Người quốc sắc / kẻ thiên tài

    Tình trong như đã / mặt ngoài còn e

    Thậm chí đôi khi còn bắt gặp : 2/2/2

    3/3/2

    Ví dụ : Một mình / âm ỉ / đêm chày

    Đĩa dầu vơi / nước mắt đầy / năm canh

    Hoặc nhịp : 3/3

    3/3/2

    Ví dụ : Bắt phong trần / phải phong trần

    Cho thanh cao / mới được phần / thanh cao

    Hoặc nhịp : 1/3/2

    2/6

    Ví dụ : Thác / bao nhiêu thác / cũng qua

    Thênh thênh / là chiếc thuyền ta trên đời

    c/- Âm điệu : ( luật bằng trắc và cao thấp )

    Tiếng thứ hai, tư, sáu, tám của hai dòng lục và bát phải theo luật : Tiếng thứ hai bằng, tiếng thứ tư trắc, tiếng thứ sáu bằng, tiếng thứ tám bằng. Còn các tiếng ở vị trí số lẻ thì tự do

    Lưu ý : trong trường trường hợp dòng lục được chia thành hai đoạn cân xứng thì tiếng thứ hai có thể linh hoạt về mặt bằng – trắc

    Ví dụ : Mai cốt cách / tuyết tinh thần

    Mỗi người một vẻ / mười phân vẹn mười

    Bên cạnh luật phối hợp bằng – trắc ( tức là về mặt đường nét của thanh điệu ) còn có luật phối hợp cao – thấp ( tức là về mặt âm vực của thanh điệu ). Trong dòng bát tiếng thứ sáu và tiếng thứ tám đều mang thanh bằng nhưng phải khác nhau về âm vực ( nghĩa là nếu tiếng trước là bằng cao – không dấu – tiếng sau phải là bằng thấp – dấu huyền – hoặc ngược lại )

    Ví dụ : Trăm năm trong cõi người ta

    Trải qua một cuộc bể dâu

    d/- Vần thơ :

    Nếu bài thơ chỉ có một cặp lục bát thì bài thơ ấy mang một lần hiệp vần theo hình thức vần lưng ( yêu vận ) ở dòng lục bát.

    Thí dụ : Thuyền ơi có nhớ bến chăng ?

    Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền !

    Ở đây, tiếng cuối cùng của câu lục hiệp vần với tiếng thứ sáu của câu bát.

    Nếu bài thơ gồm nhiều cặp lục bát liên kết, thì tiếng cuối của câu bát lại hiệp vần với tiếng cuối của câu lục dòng kế tiếp và như vậy có thêm vần chân ( cước vận ). ở cả hai dòng lục và bát.

    Thí dụ : Nắng chia nữa bãi chiều rồi

    Sợi buồn con nhện giang mau

    Em ơi ! hãy ngủ… anh hầu quạt đây ! …

    Cần lưu ý rằng trong câu lục bát, thường xuyên bắt gặp vần bằng. Hiện tượng gieo vần trắc theo kiểu sau đây chỉ là hãn hữu :

    Tò vò mà nuôi con nhện

    Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi

    e/- Bố cục :

    Sự kết hợp trên dưới theo từng cặp tạo nên một chỉnh thể ở những vần thơ lục bát hai dòng. Trong những bài thơ trên hai dòng, sự kết hợp đó, về mặt hình thức, vẫn mang tính độc lập tương đối gần như của một khổ thơ.

    Vần thơ thực hiện đúng những quy định nói trên được gọi là lục bát chính thể

    Nếu về căn bản tuân theo những quy định của lục bát, song đôi lúc lại thêm bớt một số tiếng hoặc xê dịch về cách hiệp vần, về luật bằng trắc… thì ta gọi là lục bát biến thể.

    Ví dụ : Trên trời mây trắng như bông

    Ở dưới cánh đồng, bông trắng như mây

    Hoặc : Yêu nhau tam tứ núi, cũng trèo

    Thất bát sông cũng lội, tam thập lục đèo cũng qua.

    LUẬT SONG THẤT LỤC BÁT

    Thể thơ song thất lục bát là thể thơ dân tộc truyền thống

    a/- Lượng thơ :

    Dòng 1 : bảy tiếng

    Dòng 2 : bảy tiếng

    Dòng 3 : sáu tiếng

    Dòng 4: Tám tiếng

    Ví dụ : Thuở trời đất nổi cơn gió bụi

    Khách má hồng nhiều nổi truân chuyên,

    Xanh kia thăm thẳm từng trên

    Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?

    b/- Nhịp thơ :

    Hai dòng bảy tiếng ngắt theo nhịp 3/4 theo thất ngôn đường luật.

    Hai dòng lục bát ngắt nhịp linh hoạt theo thơ lục bát

    Ví dụ : Thuở trời đất / nổi cơn gió bụi

    Khách má hồng / nhiều nổi truân chuyên,

    Xanh kia / thăm thẳm từng trên

    Vì ai gây dựng / cho nên nỗi này ?

    c/- Âm điệu ( luật bằng trắc và cao thấp):

    Hai dòng lục bát trong song thất lục bát theo những quy định của thơ lục bát.

    Vì vậy, chỉ trình bày âm điệu trong hai dòng bảy tiếng.

    – Ở dòng thất bên trên, tiếng thứ năm phải là bằng và tiếng thứ bảy phải là trắc.

    – Ở dòng bên dưới sẽ ngược lại.

    Có hay chàng ở đâu đây

    Thiếp xin chắp cánh mà bay theo chàng !

    d/- Vần thơ :

    – Tiếng cuối của dòng thất trên hiệp vần với tiếng thứ năm dòng dưới. Hai tiếng hiệp vần đều mang thanh trắc. Tiếng thứ bảy mang thanh bằng của dòng thất dưới hiệp vần với tiếng cuối cũng mang thanh bằng của dòng lục tiếp theo. Sau đó là cách hiệp vần theo quy định của lục bát.

    – Nếu bài thơ được liên kết bằng nhiều khổ song thất lcuj bát, thì tiếng cuối mang thanh bằng của dòng bát thuộc khổ trước lại hiệp vần với tiếng thứ năm cũng mang thanh bằng trên dòng thất thứ nhất của khổ thơ sau.

    Như vậy, mỗi khổ thơ hay một bài thơ bốn dòng song thất lục bát có một vần lưng trắc, một vần chân bằng và một vần lưng bằng

    Sự kết hợp song thất – lục bát theo thứ tự đang trình bày tạo nên một chỉnh thể ở những vần thơ song thất lục bát bốn dòng. Trong những bài thơ từ tám dòng trở lên, sự kết hợp đó về mặt hình thức vẫn mang tính độc lập tương đối của những khổ thơ.

    Cần lưu ý có trường hợp sự kết hợp trên có thay đổi về trình tự theo kiểu :

    lục bát + song thất + lục bát.

    Trong trường hợp này có lục bát gián nhất.

    Cuối cùng, giống như lục bát, song thất lục bát cũng tồn tại dưới hai hình thức : chính thể và biến thể.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật Trời Tập 35 (Tập Cuối), Thvl1 Việt Nam (2020)
  • Giới Thiệu Về Công Ty Usis
  • Chính Quyền Tổng Thống Donald Trump Và Những Ảnh Hưởng Lên Chương Trình Eb
  • Luật Sư José E. Latour
  • Nữ Sinh Viên Đối Diện Trục Xuất Sau 7 Năm Bị Bắt Do Lái Xe Không Bằng Lái
  • Thơ Lục Bát Là Gì, Cách Gieo Vần Thơ Lục Bát

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Làm Thơ Lục Bát
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát
  • ✅ Làm Thơ Lục Bát
  • Tản Mạn Về Những Vần Thơ Lục Bát
  • Lục Bát Và Những Vần Thơ Đau
  • Trong chương trình Ngữ Văn lớp 12 có đề cập đến luật thơ, sự hình thành luật thơ và một số thể thơ tiêu biểu. Trong đó có thể thơ lục bát. Vậy thể thơ lục bát là gì, cách gieo vần thế nào và cách làm một bài thơ lục bát ra sao? Tất cả sẽ được giải đáp trong bài viết chúng tôi cung cấp bên dưới.

    Thơ lục bát là thể loại thơ nằm trong thể loại thơ dân tộc của Việt Nam.

    Thơ lục bát là thể loại thơ dân gian gồm các cặp câu thơ kết thành một bài. Thường thì câu đầu là 6 chữ, câu sau là 8 chữ, cứ nối tiếp cho tới hết bài.

    Thơ lục bát có nguồn gốc từ rất lâu. Cho tới ngày nay nó vẫn được kế thừa và phát huy, giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nguồn văn học dân gian của dân tộc. Ở Việt Nam, thơ lục bát tồn tại dưới nhiều hình thức. Chúng ta thường được nghe những bài ca dao, dân ca, những bài đồng dao thấm đượm tình cảm và nồng nàn hồn quê con người. Thơ lục bát vì vậy mà trở thành thể loại đặc trưng trong những sáng tác của người dân quê.

    Người dân lao động làm việc vất vả, để quên đi mệt nhọc họ trở thành những nhà sáng tác thơ. Thể thơ trong các sáng tác của họ thường là lục bát. Vì vậy nó chân chất, giản dị, diễn tả đúng tâm trạng và các cung bậc cảm xúc trong tâm hồn người dân lao động. Thể loại thơ của dân tộc này còn có nguồn gốc từ những câu ru hời của bà, của mẹ nồng nàn tình cảm thương yêu; những bài đồng dao đi vào lòng người.

    – Số tiếng trong bài thơ lục bát: mỗi cặp lục bát gồm có 2 dòng (lục: 6; bát: 8). Bài thơ lục bát là sự kế tiếp của các cặp như thế. Số câu trong bài không giới hạn.

    – Nhịp: nhịp chẵn dựa vào tiếng có thanh không đổi (trừ 2,4,6), nhịp 2/2/2 tạo sự hài hòa, nhịp nhàng cho các cặp lục bát trong bài.

    – Hài thanh:

    + Có sự đối xứng luân phiên B – T – B ở các tiếng 2,4,6 trong dòng thơ, đối lập âm vực trầm bổng ở tiếng thứ 6 và thứ 8 dòng bát.

    Ví dụ:

    (Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    Trong cặp lục bát trên có sự đối xứng nhau trong các thanh ở các tiếng 2,4,6. Câu lục là B – T – B “năm – cõi – ta”; câu bát là B – T – B – B “tài – mệnh – là – nhau”

    + Thơ lục bát có sự chặt chẽ về cách phối thanh: tiếng thứ 4 bắt buộc là trắc, các tiếng 2,6,8 phải là bằng. Trong đó trong câu bát tiếng thứ 6 và 8 cùng là bằng nhưng phải khác dấu, nghĩa là tiếng thứ 6 là dấu huyền thì tiếng thứ 8 phải không có dấu hoặc ngược lại.

    Ví dụ:

    (Trích Kiều thăm mộ Đạm Tiên – Nguyễn Du)

    Các từ “qua – cuộc – dâu/ điều – thấy – đau – lòng” tuân thủ luật B – T – B

    Ta thấy câu bát tiếng 6 và 8 đều là vần bằng nhưng có sự ngược nhau: tiếng 6 thanh bằng, tiếng 8 thanh huyền.

    Cách gieo vần thơ lục bát

    Thơ 6 – 8 cũng có quy định nghiêm ngặt về cách gieo vần: hiệp vần ở tiếng thứ 6 của 2 dòng và giữa tiếng thứ 8 của dòng bát với tiếng thứ 6 của dòng lục.

    + Vần bằng: là các vần có thanh huyền và thanh ngang (không dấu)

    Ví dụ: “Hoa cười ngọc thốt đoan trang

    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”.

    “Trang – da” là vần bằng các tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

    + Vần trắc: là các vần có các dấu còn lại: sắc, hỏi, nặng, ngã

    Ví dụ: “Tò vò mà nuôi con nhện

    Ngày sau nó lớn nó quện nhau đi”

    “Nhện – quện” là vần trắc.

    + Vần chân: hiệp vần ở tiếng thứ 6 câu lục và tiếng thứ 8 câu bát.

    Ví dụ: “Nao nao dòng nước uốn quanh

    Nhịp cầu nho nhỏ cuối ghềnh bắc ngang”

    (Trích Truyện Kiều – Nguyễn Du)

    “Quanh – ngang” là vần chân cuối các câu lục và bát.

    + Vần yêu: là vần ở cuối câu lục hiệp với tiếng thứ 6 câu lục.

    Ví dụ: “Thanh minh trong tiết tháng Ba

    Lễ là tảo mộ, hội đạp thanh”

    “Ba – là” gọi là vần yêu hiệp ở tiếng thứ 6 của 2 dòng.

    Thơ lục bát là loại thơ đơn giản, dễ làm. Người làm thơ cần tuân thủ đúng luật thơ về hài thanh và cách gieo vần là đã hoàn thành một bài thơ lục bát. Câu đầu 6 tiếng, câu sau 8 tiếng tạo thành một cặp lục – bát.

    + Làm câu lục trước tuân thủ luật thơ ở các tiếng 2,4,6 là B – T -B, các tiếng còn lại tự do

    + Tiếp đến câu bát: cân chỉnh cho có sự đối xứng ở các tiếng 2,4,6 là B – T – B – B, các tiếng còn lại tự do

    + Cách gieo vần: sau khi hoàn chỉnh 2 câu thơ thì xem lại cách hiệp vần trong cặp câu. Để ý tiếng thứ 6 của 2 dòng xem đã hiệp vần chưa nếu chưa thì đổi lại đảm bảo cùng là vần bằng. Hoặc cách hiệp vần ở cuối mỗi câu.

    + Đọc lại hai câu thơ đảm bảo nhịp 2/2/2 hoặc 3/3 cho cân đối và nhịp nhàng.

    + Nếu thấy chưa hài hòa về mặt từ ngữ lúc này mới tìm các từ tương ứng có thể thay thế được để câu thơ được tự nhiên, tránh gò ép về cách hiệp vần.

    Thể song thất lục bát (gián thể, song thất)

    – Số tiếng: cặp song thất và cặp lục bát luân phiên kế tiếp nhau trong toàn bài.

    – Vần: hiệp vần ở mỗi cặp, cặp song thất có vần trắc, cặp lục bát có vần bằng. Giữa cặp song thất và cặp lục bát có vần liền.

    – Nhịp: 3/4 ở hai câu thất và 2/2/2 ở cặp lục bát.

    – Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng hoặc trắc nhưng không bắt buộc; cặp lục bát sự đối xứng B – T chặt chẽ hơn.

    Các thể ngũ ngôn đường luật

    – Gồm: ngũ ngôn tứ tuyệt (5 tiếng, 4 dòng) và ngũ ngôn bát cú (5 tiếng, 8 dòng)

    – Bố cục: 4 phần đề, thực, luận, kết

    – Số tiếng: 5 tiếng, số dòng: 8 dòng (4 dòng)

    – Vần: 1 vần, gieo vần cách

    – Nhịp lẻ: 2/3

    – Hài thanh: có sự luân phiên B – T hoặc niêm B – B, T – T ở tiếng thứ hai và thứ tư

    Các thể thất ngôn đường luật

    Gồm:

    Thất ngôn tứ tuyệt

    – Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 4 dòng

    – Vần: vần chân, độc vận, gieo vần cách

    – Nhịp: 4/3

    Thất ngôn bát cú

    – Số tiếng: 7 tiếng, số dòng: 8 dòng ( chia 4 phần: đề, thực, luận, kết)

    – Vần: vần chân, độc vận

    – Nhịp: 4/3

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bổ Sung Quy Hoạch Vùng Trời Vào Dự Án Luật Quy Hoạch
  • Giới Hạn Vùng Trời Của Một Quốc Gia
  • Vùng Trời Cho Hoạt Động Hàng Không Chung
  • Các Vùng Trời: Vùng Trời Quốc Gia, Không Phận Quốc Tế, Vùng Thông Báo Bay (Fir) Và Vùng Nhận Dạng Phòng Không (Adiz)
  • ‘luật Trời’: Ngọc Lan Sợ Bị Ông Chủ Đuổi Khỏi Nhà Vì Âm Mưu Chiếm Đoạt Gia Sản
  • Sức Sống Của Thể Thơ Lục Bát Trong Thơ Ca Việt Nam Hiện Đại

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Thương Mại Năm 2005, Luật Số 36/2005/qh11
  • Luật Thương Mại Quốc Tế Những Vấn Đề Quan Trọng Bạn Cần Biết
  • Lưu Trữ Luật Thương Mại Quốc Tế
  • Bài Giảng Luật Thương Mại Quốc Tế Ts. Bùi Quang Xuân
  • Về Bộ Luật Thương Mại Năm 2022!
  • Lục bát là một trong những thể thơ truyền thống của dân tộc. Lục bát có ảnh hưởng lớn đối với văn học viết nói chung, thơ ca nói riêng. Lục bát thể hiện rõ sức sống của nó trong diễn ngôn thơ ca hiện đại. Kết hợp góc nhìn văn hóa học với góc nhìn ký hiệu học, bài viết khảo sát Tuyển tập Thơ Việt Nam thế kỷ XX nhằm làm rõ những hằng thể và biến thể của thể thơ lục bát trong thơ ca Việt Nam hiện đại.

    XX 1. Không nghi ngờ gì nữa khi nói: lục bát là thể thơ bắt rễ sâu nhất vào cơ tầng văn hóa Việt. Nếu coi văn học dân gian như chiếc nôi êm ái thì lục bát ca dao như dòng sữa mát lành đối với văn học viết nói chung, thơ ca nói riêng. Được nuôi dưỡng từ những trầm tích thâm sâu như thế nên đến thơ ca hiện đại, ít có nhà thơ nào không một lần “dan díu” với lục bát. Khởi nguồn từ ca dao, sau bao “dâu bể”, lục bát vẫn trở về với cái “Giận thì giận, thương càng thương” trong tâm tình dân tộc. Kết hợp góc nhìn văn hóa học với góc nhìn ký hiệu học, bài viết khảo sát Tuyển tập Thơ Việt Nam thế kỷ (trơ trữ tình) , Biện Thị Quỳnh Nga cũng qua sự thống kê với những con số để đi đến kết luận: “Trong cuộc “cạnh tranh” giành vị thế và đáp ứng yêu cầu của độc giả hiện đại so với các thể loại khác của Thơ mới, lục bát vẫn khẳng định được khả năng tồn tại và sức hấp dẫn mạnh mẽ của mình với hơn 148 tác phẩm, chiếm 13,82% (số liệu được thống kê từ cuốn Thơ mới 1932 -1945, tác giả và tác phẩm, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội)”. 13,83% đối với tuyển tập Thơ mới đã tăng lên thành 22,42% đối với tuyển tập thơ thế kỷ XX (trong đó có Thơ mới) đã nói với chúng ta về sự hồi sinh của lục bát, cũng đồng nghĩa với việc các nhà thơ ngày càng trở về nhiều hơn với thể thơ mang tính căn cốt, cội nguồn dân tộc này.

    TS.

    Nhìn từ cội nguồn thể thơ, lục bát hiện đại đã có nhiều sự biến thiên. Lục bát từ ca dao đi vào văn học viết đã có sự mở rộng về dung lượng thể loại rất lớn. Trong văn học viết, không có những bài thơ được cấu tạo từ một cặp lục bát như ca dao. Sự mở rộng này cũng không theo chiều tăng dần từ văn học trung đại đến văn học hiện đại mà “co duỗi” bất định tùy theo hệ hình, tư duy thể loại,… của mỗi phạm trù/ thời kỳ văn học. Dài có thể lên đến 3254 câu như Truyện Kiều, ngắn cũng phải bốn dòng, ngang với một bài thơ tứ tuyệt, như Chăn trâu đốt lửa của Đồng Đức Bốn, Ngã ba của Hồng Quang . Các thi nhân bình dân dùng lục bát để sáng tác ca dao phổ biến đến mức khiến chúng ta mặc định rằng lục bát là “thể thơ bản quyền” của ca dao. Chức năng, đồng thời là đặc trưng bản chất nhất của ca dao là trữ tình. Nếu tục ngữ thuộc phương thức luận lý, thì ca dao thuộc phương thức trữ tình. Từ xuất phát điểm ấy, tục ngữ sử dụng câu chữ dài ngắn khác nhau rất cơ động; trong khi, ca dao thường gắn chặt với thể thơ lục bát. Đôi khi, chúng ta cũng thấy một số câu tục ngữ được viết bằng thể thơ lục bát nhưng những trường hợp này rất ít và đều thuộc dạng mượn yếu tố trữ tình để phục vụ cho chức năng luận lý, kiểu như Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước thì thương nhau cùng. Như vậy, có thể thấy: ca dao, lục bát, trữ tình là những yếu tố luôn luôn đi liền, luôn luôn gắn bó mật thiết với nhau. Phần lớn các bài ca dao Việt đều được cấu thành từ đơn vị là một cặp lục bát. Ca dao than thân, trách phận hay ca dao tình nghĩa, ca dao tình yêu hay ca dao trào phúng, phản kháng… đều được cấu trúc theo lối này. Ít có những bài ca dao được viết “dài hơi” theo kiểu Tát nước đầu đình, Trèo lên cây bưởi hái hoa… Như vậy, xét ở mức độ phổ biến, tiêu biểu; một bài ca dao Việt Nam (14 tiếng) còn nhỏ gọn hơn thể thơ vốn lâu nay được coi là ngắn nhất thế giới như haiku của Nhật Bản; càng kiệm lời hơn một thể thơ được coi là bức tranh khảm trai hàm súc của Trung Hoa như thể thất ngôn tứ tuyệt (28 tiếng). Do đó, có khi ca dao mới là thể loại/ thể thơ “nhỏ gọn” nhất thế giới. Rất khả dĩ nhưng đó không phải là vấn đề để bàn tới trong bài viết này.

    XX, xét theo chiều lịch đại, cũng giống như những người đã từng đi tới bao chân trời xa lắc nay quay trở về với “bến quê”. Kế thừa khả năng trữ tình của ca dao, lục bát hiện đại chất chứa cả một cuốn “bách khoa ngàn tâm trạng”, nhưng đó là những tình cảm mang đậm dáng nét tâm hồn Việt Nam; những tâm tình thuộc về hồn làng, hồn quê – thuộc về “hương đồng gió nội”. Đến với lục bát, các thi nhân như tìm lại được tất cả những gì nồng ấm nhất, thân quen nhất trong hữu thức lẫn vô thức của cá nhân mình. Qua 139 bài lục bát của tuyển tập thơ, các tác giả đã đi đến từng ngõ ngách tâm tư của đời sống hôm nay. Ở đây, chúng ta thấy quan hệ hai chiều của sự lựa chọn thẩm mĩ: thi nhân có nhu cầu bộc lộ những tình cảm gần gũi nhất trong nguồn mạch trữ tình dân tộc sẽ tìm đến thể thơ lục bát; và ngược lại, lục bát như một kí hiệu quyển tiềm tàng trong hữu thức lẫn vô thức của nhà thơ, để khi cần, lục bát cũng “đi tìm” để đến với nhà thơ.

    2.2. Mở rộng dung lượng trước hết bắt nguồn từ đòi hỏi của nội dung. Nhưng người Nhật Bản vẫn bằng lòng với thể thơ chỉ có 17 tiếng, người Trung Hoa vẫn rất nghiêm ngặt về số từ, số câu với thể thơ 28 tiếng. Việc mở rộng biên độ về dung lượng của lục bát ca dao rõ ràng phát xuất từ nhu cầu trữ tình: chính nhu cầu trữ tình đã dẫn đến việc phá vỡ khuôn khổ dung lượng nhỏ gọn của ca dao. Thực tế lịch sử văn học Việt Nam cho thấy, lục bát là thể thơ đa năng: có thể sử dụng để tự sự, để trữ tình, để trào phúng, châm biếm, để giải trí, mua vui,… Trong thơ ca trung đại, chức năng tự sự của lục bát được phát huy khi mà sứ mệnh chủ yếu của hệ hình văn học này là chở đạo, minh đạo. Thế nhưng, đến thơ ca hiện đại, lục bát đã trở về với chức năng trữ tình cố hữu của lục bát ca dao. Khảo sát tuyển tập thơ nói trên, chúng tôi nhận thấy, các thi nhân sử dụng lục bát theo hai hướng chủ yếu là: tự sự và trữ tình. Song, xu hướng lục bát trữ tình “lấn át” tuyệt đối so với lục bát tự sự. Trong 139 bài thơ lục bát, chỉ có vài chục bài “ngả sang” hướng lục bát tự sự. Thế nhưng, ở đây ranh giới giữa tự sự và trữ tình là hết sức mong manh. Với những bài thơ nằm ở số ít trên, tự sự cũng chỉ là nền tảng, là bệ đỡ để đôi cánh trữ tình được bay bỗng, thăng hoa. Hơn thế, nếu “nhìn sang” các thể thơ khác sẽ thấy, trong cuốn tuyển tập những bài thơ trữ tình Việt Nam thế kỷ Lục bát hiện đại vẫn bảo tồn những đặc tính của lục bát ca dao như tông nhịp chậm (tĩnh, âm tính), mềm mại, uyển chuyển,… Nhưng như đã thấy, lục bát hiện đại có xu hướng mở rộng về dung lượng khá lớn. Điều này do nhu cầu, đòi hỏi của việc biểu đạt nội dung. Nhiều bài lục bát không chỉ nhằm diễn tả một trạng thái, một cảm xúc mà là cả một dòng trạng thái, dòng cảm xúc; một số trường hợp, tác phẩm dung chứa nhiều trạng thái cảm xúc đan xen nhau. Đã là con người trong cõi đời thì ai cũng nằm trong vòng “ái, ố, hỷ, nộ…”, song, chính thể thơ mang tính thủ thỉ tâm tình như lục bát lại ưu trội hơn trong việc chuyển tải những thông điệp tình cảm của con người Việt Nam. Bên cạnh điều ấy, chúng ta cũng thấy nét riêng của lục bát hiện đại trong cách thức thực hiện chức năng trữ tình. Haiku của Nhật Bản, thất ngôn tứ tuyệt của Trung Hoa có dung lượng ngắn và cách lập ngôn khác biệt. Haiku không mô tả cảm xúc mà chủ yếu ghi lại sự việc xảy ra trước mắt, “luôn đón bắt những khoảnh khắc độc sáng để trong một hạt cát nhỏ xíu có thể bao hàm cả nhật nguyệt”. Do vậy, tác giả thường ít sử dụng tính từ và trạng từ. Haiku sáng tạo theo nguyên lý mùa và tính tương quan hình ảnh: một hình ảnh lớn (vũ trụ) tương quan với một hình ảnh nhỏ (đời thường). Thất ngôn bát cú cũng dựa vào tương quan: động – tĩnh, sáng – tối, gần – xa,…; đồng thời chủ yếu dựa vào sức gợi của hình ảnh, hình tượng. Lục bát hiện đại không lập ngôn theo các tương quan trên mà hoặc trực tiếp giãi bày hoặc bằng các phương tiện nghệ thuật rất gần gũi trong văn hóa dân tộc: so sánh, ẩn dụ, lối nói luyến láy, đối đáp giao duyên,… Bằng cách trên, cách trữ tình của lục bát rất uyển chuyển, mềm mại, tinh tế, do vậy mà cũng rất dân tộc. Như vậy là, sự bảo tồn những mã văn hoá của lục bát hiện đại được bộc lộ qua cả hai phương diện: nội dung thể hiện lẫn cách thức thể hiện.

    Lê Quốc Hán trong Bài thơ thời gian mở đầu bằng lối so sánh: Thời gian như chuyến tốc hành/ Mang theo lá đỏ và anh trở về. Ngay sau đó, cảm xúc bàng hoàng xen lẫn niềm tiếc nuối lại được trao gửi bằng lối ẩn dụ và hoán dụ đầy gợi cảm: Tóc xanh vừa lỗi lời thề/ Thoắt thành mây trắng cuối hè bay ngang. Tinh tế hơn khi cái muộn màng đến lỡ làng cả một mối duyên tình lại được biểu đạt bằng: Ngu ngơ chạm phải ao làng/Sen chưa kịp hái đã tàn trên tay. Các hình ảnh ao làng, hoa sen tự nó đã chạm vào tình cảm dân tộc; Lê Quốc Hán qua các phép tu từ cũng rất dân tộc đã thổi hồn thơ khắc khoải của mình vào tứ thơ. Ở một bài thơ khác, chỉ từ một tiếng ếch kêu trong “Đêm làng” đã mở ra bao suy tư về: quá khứ và hiện tại, mơ và tỉnh, phận mình và phận người,…

    Ngọn đèn quán nước liêu xiêu 2.3. Việc trở về với thể thơ lục bát của các nhà thơ Việt Nam thế kỷ

    Mặt hồ rau muống cánh bèo nổi trôi

    Có gì da diết bồi hồi

    Tiếng hoang dã, tiếng đầy vơi, tiếng buồn.

    Chính việc sử dụng từ láy, âm hưởng, cách ngắt nhịp cũng đã thể hiện những giai điệu rất dân tộc cho bài thơ. Đêm mưa của Tô Hoàn lại là một trường hợp đặc biệt về dung lượng, bài thơ chỉ có ba cặp lục bát. Thế nhưng, chính Nguyễn Bùi Vợi cũng nhắc đến khả năng trữ tình của thi phẩm: “Bài thơ này ít câu ít chữ nhưng đầy ắp nỗi niềm, viết như không vì tâm trạng người viết có sự dồn nén tình cảm lớn”

    Ở một đất nước mà chiến tranh đã gây ra bao nhiêu vết thương dai dẳng; lục bát có sở trường trong việc diễn tả những thổn thức của người ở lại:

    “Ra sông giặt áo cho chồng

    Vắt vai cả một dòng sông mang về”

    (Ra sông giặt áo cho chồng – Hồ Anh Tuấn)

    Cả những tình cảm vốn khó nói như chuyện “Chồng chị, chồng em”, Đoàn Thị Lam Luyến cũng tỏ bày được nhờ vào khả năng trữ tình của lục bát:

    “Gần được ấm, xa được êm

    Biết thì ruộng hóa cũng nên mùa màng …

    Chị thản nhiên mối tình đầu

    Thản nhiên em nhận bã trầu về têm…

    Ấy là tôi nói ngày xưa

    Mẹ tôi tái giá – đò đưa theo dòng

    Không mưa cũng thể phập phồng

    Lừa tôi ngõ trước, mẹ vòng lối sau.

    Lời ca dao xưa và lời thổn thức bây giờ hô ứng liên hoàn làm một, hòa quyện đến mức khó mà phân tách được. Không biết mưa của ngày xưa hay mưa của hôm nay, chỉ biết một màn mưa mù mịt hòa vào cơn mưa nước mắt của mẹ vì phải “vòng lối sau” để tránh đi sự níu kéo khi nhìn thấy mặt con. Khổ thơ tiếp theo, nhân vật trữ tình trực tiếp thổ lộ sự tác động của những câu ca dao đến nỗi niềm của người hiện tại:

    Ấy là tôi nói ca dao

    Con chuồn chuồn ớt đậu vào đời tôi

    Bà đừng ru nữa bà ơi

    Vít thêm ngọn nắng mồng tơi giậu nhà

    Ở những bài thơ này, tâm tình của hôm qua và hôm nay đã tạo nên sự giao hòa, để từ giao điểm đó, chủ thể thữ tình mở ra những lối suy tư của riêng mình. Đặng Nguyệt Anh trong Lục bát tuổi năm mươi đã van nài con tạo “Cất giùm tôi tuổi năm mươi” đặng quay về với cái thời “lúng liếng đong đưa”: “Để tôi về sống lại thời ngày xưa”. Một lần quay về như thế, nhà thơ bắt gặp được biết bao lời dân ca:

    Dẫu rằng không hát trúc xinh

    Mà ai cứ đứng sân đình đợi ai

    Khoảnh khắc ngày xưa chỉ trở về trong hồi ức nên bài thơ kết thúc trong dư ba của sự tiếc nuối:

    Có còn lúng liếng đong đưa?

    Có còn cậu ấm. Ngày xưa có còn?

    Chính sự khép mở của những hình ảnh lục bát ca dao đã làm cho Lục bát ngày mưa của Phạm Ngọc Cảnh thêm mịt mù tâm trạng:

    Bếp nhà ai đốt nùn rơm

    Tàu lăn qua ngọn khói thơm quê nghèo

    Khói lan xanh cả ruộng bèo

    Con cò mở cánh dập dìu muốn bay.

    2.4. Trong 139 bài lục bát, một điều thú vị là nhiều nhà thơ hiện đại lấy chính hình tượng lục bát làm nguồn cảm hứng, làm thi tứ cho tác phẩm của mình: Lục bát tuổi mười lăm – Đặng Nguyệt Anh, Lục bát ngày mưa – Phạm Ngọc Cảnh, Lục bát Tiên Điền – Yến Thanh, Nghe câu hát cũ – Phan Trọng Dật, Mưa – Nguyễn Ngọc Ly,… Đó là chưa kể đến các bài thơ được gợi hứng từ một điệu lý, từ một câu ca dao, một bài dân ca,… Có thể gọi những bài thơ này là “siêu lục bát”. Nơi những áng “siêu lục bát” trên, luôn có sự gặp gỡ, nối kết, tương liên giữa tâm hồn nhà thơ với lục bát truyền thống. Từ góc độ lý thuyết tiếp nhận, chúng ta nói đến mức độ tiếp nhận ký thác, tri âm. Từ góc độ liên văn bản, chúng ta nhìn thấy sự cộng hưởng hình tượng rất lớn. Bài Mưa của Nguyễn Ngọc Ly lấy hai câu ca dao rất nổi tiếng “Trời mưa bong bóng phập phồng/ Mẹ đi lấy chồng con ở với ai” làm đề từ để nối kết với tâm trạng của chủ thể trữ tình khi người mẹ một lần nữa sang đò:

    Lục bát hiện đại đi vào những cảm xúc tế vi nhưng không phải là không thể hiện được những suy tư rộng lớn vượt lên các dòng tâm trạng “nhỏ nhặt” đời thường. Khi cần, các thi nhân vẫn gói trong những vần thơ mềm mại, uyển chuyển kia bao triết lý về cõi siêu hình, về kiếp phù sinh. Đây là nét mới, là biến thể về nội dung của lục bát thế kỷ XX so với lục bát ca dao:

    Đưa tay dắt gió vào đêm

    Linh hồn ta ngỡ bỏ quên cuối trời

    Dấu chân xin cát chớ vùi

    Cho ta lại được luân hồi kiếp sau

    (Qua hoàng hôn – Mai Văn Phấn)

    Vẫn là dấu vết trong cõi miền tâm linh người Việt, thi sĩ Bùi Giáng dùng lục bát để gói ghém thành công bao tâm tình khác của cõi đời:

    Bỏ trăng gió lại cho đời

    Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa

    Bỏ người yêu, bỏ bóng ma

    Bỏ hình hài của tiên nga trên trời

    Bây giờ riêng đối diện tôi

    Còn hai con mắt, khóc người một con.

    (Mắt buồn)

    Mở rộng khảo sát ra ngoài tuyển tập thơ trên, chúng tôi nhận thấy: một số thi phẩm, bên cạnh việc “thừa hưởng” những mã thẩm mĩ của lục bát ca dao, nhà thơ có sự gia công thêm về hình thức thể thơ. Ở các thi phẩm này, “hồn cốt” lục bát được ẩn dưới một chiếc áo mới nhờ việc thay đổi cách ngắt dòng. Các biến thể theo hình thức trên chính là phương thức/ cách thế để lục bát trường tồn cùng trường diễn ngôn của thời đại:

    Tháng ngày chạng vạng cơn mê

    Oán ân chạng vạng

    Bốn bề đong đưa

    Đôi khi chạng vạng vần thơ

    Làm sao soi đến bến bờ tương lai

    Xin trăng sáng trọn đêm dài

    Vén

    Màng chạng vạng

    Phủ dày hồn tôi.

    (Chạng vạng – Nguyễn Văn Phương)

    XX vẫn chung thủy với việc dùng cách thức riêng của người Việt để thể hiện tình cảm riêng của người Việt. Điểm mạnh, điểm yếu đều lộc lộ ở điều này. Cùng với lục bát trong quá khứ, lục bát hiện đại đã tạo nên một giá trị của văn hóa Việt. Nếu thi nhân đương đại biết kết hợp chiều sâu tâm tình vốn là “gene trội” trong văn hóa dân tộc với tính hàm súc cao độ của những hình tượng đa nghĩa, mang tính triết lý, thì lục bát sẽ còn ghi dấu ấn đậm hơn nữa không chỉ đối với văn học dân tộc mà còn có thể lan tỏa đối với văn học nhân loại.

    Tài liệu than khảo:

    1. Michel Gresset (1985), Intertextuality in Faulkner, Univ Pr of Mississippi.

    2.5. Trong thơ ca hiện đại, lục bát ca dao vừa có sự biến đổi về mặt nội dung vừa có sự biến đổi về hình thức thể thơ. Chính trong những biến thể này, chúng ta càng thấy rõ sức sống, sức ảnh hưởng của lục bát dân tộc. Lục bát truyền thống lúc này sẽ trở thành kí hiệu quyển cho các thi nhân đương đại thi triển những ý tưởng sáng tạo của mình. 2. Nguyễn Xuân Kính (1992), Thi pháp ca dao, Khoa học Xã hội, tr.118.

    3. Nhiều tác giả (2014), Văn học và ngôn ngữ – những góc nhìn mới, Nhiều tác giả, Nxb Đại học Vinh, tr.103-118

    4. Biện Thị Quỳnh Nga (2007), “Vị thế và đặc trưng thi pháp thể loại lục bát trong Thơ mới 1932-1945”, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Vinh, Tập , Số 2B, tr. 29 – 36.

    5. Bùi Văn Nguyên, Hà Minh Đức (1971), Thơ ca Việt Nam, hình thức và thể loại, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội.

    6. Phan Diễm Phương (1998), Lục bát và song thất lục bát, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.

    7. Chu Văn Sơn (2004), “Về bản sắc dân tộc và một hướng tìm kiếm trong thơ”, Tạp chí Văn học, số 11, 2004, tr. 41.

    8. Nguyễn Bùi Vợi (chủ biên) (2015), Thơ Việt Nam thế kỷ (Thơ trữ tình), NXB Giáo dục, Hà Nội.

    9. http://m.nguoiduatin.vn/. 3. Vậy là, trải qua hàng ngàn năm, lục bát cũng “chìm nổi” theo những quy luật vận động riêng của văn học. Điều đáng mừng là, với nền thơ ca Việt Nam hiện đại, lục bát vẫn khẳng định được chỗ đứng của mình trong lòng dân tộc. Từ thời Thơ mới đến nay, lục bát có sự gia tăng về số lượng, nghĩa là ngày càng có nhiều nhà thơ “duyên nợ” với lục bát. Ca dao – dân ca vốn đi từ trái tim lên miệng. Lục bát đã thừa hưởng toàn bộ gia sản này của ca dao để từ đó bộc lộ tâm tình của nhà thơ trước cuộc sống hôm nay. Nhu cầu bộc lộ càng lớn và những điều kiện đi kèm càng thuận lợi thì lục bát càng có xu hướng nới rộng về dung lượng. Mở rộng dung lượng cũng xuất phát từ chính nhu cầu trữ tình, nhu cầu biểu đạt những tình cảm trong hằng số văn hóa dân tộc. Điểm chung đó đã dẫn đến sự gặp nhau, sự đồng vọng giữa lục bát hiện đại và lục bát dân gian. Lục bát hiện đại trở về với nguồn cội là một thể thơ dùng để tâm tình. Các thi nhân sáng tác bằng lục bát cũng sử dụng tương quan nhưng lại là một chiều tương quan khác: tương quan của lối đối đáp giao duyên; lối so sánh ví von; lối ẩn dụ, hoán dụ,… để tạo nên cái tinh tế, cái mềm mại, cái ngọt ngào trong cách trữ tình. Tâm tình thì thời nào, nền văn học nào cũng có nhu cầu thổ lộ. Nhưng lục bát hiện đại có thiên hướng rõ trong việc lưu giữ những kí ức thuộc tâm tình dân tộc, đồng thời viết tiếp những dòng ký ức mới để tết dệt nên một nét đẹp giàu bản sắc của văn chương Việt. Các thi nhân của nền thơ ca thế kỷ NXB XXXVI XX

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Thể Thơ Lục Bát Của Dân Tộc
  • Thuyết Minh Về Đặc Điểm Của Thể Thơ Lục Bát
  • Bài Văn Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Lớp 8, 2Bài Văn Mẫu Hay Nhất
  • Thuyết Minh Về Thể Thơ Lục Bát Ngắn Hay Nhất
  • Luật Thơ : Lục Bát Và Song Thất Lục Bát
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100