【#1】Công Ước Unclos Về Luật Biển 1982

Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), còn được gọi là Công ước về Luật biển hay Luật về biển, là thỏa thuận quốc tế có được từ Hội nghị Liên hiệp quốc về Luật biển (UNCLOS) III), diễn ra từ năm 1973 đến 1982.

Công ước Luật Biển xác định các quyền và trách nhiệm của các quốc gia đối với việc sử dụng các đại dương của thế giới, thiết lập các hướng dẫn cho các doanh nghiệp, môi trường và quản lý tài nguyên thiên nhiên biển. UNCLOS có hiệu lực vào năm 1994, một năm sau khi Guyana trở thành quốc gia thứ 60 phê chuẩn hiệp ước. Tính đến tháng 6 năm 2021, 167 quốc gia và Liên minh châu Âu đã tham gia Công ước.

Trước khi UNCLOS có hiệu lực, trên thế giới đã tồn tại một trường phái tư tưởng được gọi là tự do biển cả. Học thuyết này lần đầu tiên đi vào hoạt động trong thế kỷ 17. Theo luật này, không có giới hạn hay ranh giới nào được đặt ra cho khía cạnh của hoạt động kinh doanh và thương mại hàng hải. Khi công nghệ phát triển và nhu cầu của mọi người trên khắp thế giới phát triển, đã xuất hiện một vấn đề, đó là việc khai thác quá mức tài nguyên trên biển đã được cảm nhận vô cùng lớn vào giữa thế kỷ 20 và nhiều quốc gia bắt đầu cảm thấy cần phải đảm bảo bảo vệ tài nguyên biển của mình. Bên cạnh đó, việc sử dụng các khu bảo tồn biển thậm chí còn tăng cao hơn trong những năm 1960 và do các bệ phóng tên lửa cũng bắt đầu được đặt ở đáy đại dương, nên bắt buộc phải có một quy định cụ thể để đảm bảo sự bảo vệ và quyền tài phán đúng đắn của các khu bảo tồn biển.

Năm 1967, Hội nghị Liên hợp quốc về Luật biển lần thứ ba đã được triệu tập. Trong hội nghị này, đại sứ Liên Hợp Quốc từ Malta, ông Arvid Pardo đã yêu cầu một quyền lực hợp pháp có thể mang lại sự quản lý quốc tế đối với đáy và đáy đại dương. Một quyền lực hợp pháp như vậy cũng sẽ đảm bảo rằng sẽ không có bất kỳ vấn đề nào phát sinh giữa các quốc gia khác nhau trên đáy đại dương và không gian giường ngủ. Theo một cách chính yếu, chính UNCLOS III này đã mở đường cho luật hải lý hiện hành.

Mặc dù UNCLOS có 160 thành viên viên, Mỹ là quốc gia vẫn chưa phê chuẩn luật hang hải này. Lý do chính khiến Mỹ không xử phạt luật biển phát sinh chủ yếu là do sự bất đồng của họ về Phần XI của UNCLOS. Với sự trợ giúp của luật hải lý như UNCLOS, có thể nói rằng tài nguyên biển có thể được bảo vệ và bảo vệ, đặc biệt là trong thời hiện đại khi nhu cầu bảo vệ tài nguyên biển đã tăng lên nhiều hơn so với những năm 1960 và 70.

Tìm hiểu nội dung UNCLO ở đây: UNCLO 1982

【#2】Điều 121 Công Ước Luật Biển 1982

Điều 121 Công ước Luật Biển 1982, Văn Bản Công ước Luật Biển 1982, Toàn Văn Công ước Luật Biển Năm 1982, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Năm 1982, Điều 4 Luật Biển Việt Nam, Điều 8 Luật Biển Việt Nam, Quyết Định Số 1982 Ký Ngày 18/10, Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Và Biện Pháp Thi Hành Luật Khiếu Nại, Thong Tu 10 Cua Bo Cong An Ve Xu Ly Ky Luật Cong An Vi Pham Dieu Lệnh, Biên Bản Kiểm Tra Điều Lệ Công Đoàn, Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Cán Bộ Công Chức Và Luật Viên Chức, Biên Bản Kiểm Tra Điều Kiện Khởi Công, Biên Bản Vi Phạm Kỷ Luật Công Ty, Điều Luật Về Gây Rối Trật Tự Công Cộng, Điều 9 Luật Tiếp Công Dân, Điều 1 Luật Cán Bộ Công Chức, Điều 1 Luật Công Đoàn, Điều 14 Luật Công An Nhân Dân, Điều 8 Luật Cán Bộ Công Chức, Điều 9 Luật Cán Bộ Công Chức, Điều 5 Luật Công An Nhân Dân, Điều 4 Luật Công An Nhân Dân, Điều 188 Luat Cong Doan, Điều 4 Luật Cán Bộ Công Chức, Điều Luật Công An Nhân Dân, Điều 4 Luật Cán Bộ Công Chức 2008, Điều 1 Luật Công Đoàn 2012, Luật Doanh Nghiệp Điều Lệ Công Ty, Luật Doanh Nghiệp Và Điều Lệ Công Ty, Bộ Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Quả Công Tác Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật, Công Tác Tuyên Truyền Phổ Biến Và Giáo Dục Pháp Luật ở Địa Phương, Điều Lệ Công Ty Luật Doanh Nghiệp 2014, Điều Luật Chống Người Thi Hành Công Vụ, Điều 1 Luật Các Công Cụ Chuyển Nhượng Năm 2005, Điều Lệ Công Ty Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Điều Lệ Công Ty Theo Luật Doanh Nghiệp 2005, Chỉ Thị 15-ct/tw Về Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Công Tác Điều Tr, Điều Lệ Công Ty Cổ Phần Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Công Tác Điều Tra, Xử Lý Các Vụ án, ề Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Công Tác Điều Tra, Xử Lý Các Vụ án Và, ề Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Công Tác Điều Tra, Xử Lý Các Vụ án Và , Kế Hoạch Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Và Tuyên Truyền Kiến Thức Thống Kê, Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thống Kê Về Việc Quyết Định Kế Hoạch Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thống Kê Về Việc Quyết Định Kế Hoạch Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật , Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Đầu Tư Và Luật Doan, Bộ Luật Quốc Tế Về An Ninh Tàu Biển Và Cảng Biển, Báo Cáo Biện Pháp Thi Hành Luật Phổ Biến Giáo Dục, Điều 44 Điều 45 Luật Doanh Nghiệp Năm 2005, Điều 157 Và Điều 158 Của Luật Doanh Nghiệp 2005, Điều 58 Và Điều 63 Luật Giao Thông Đường Bộ, Điều 130 Đến Điều 140 Luật Doanh Nghiệp 2005, Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Giám Định Tư Pháp, Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Xử Lý Vi Phạm Hành C, Luật Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật, Điều 28 Điều 60 – Luật Doanh Nghiệp, Điều 4 Và Điều 43 Luật Doanh Nghiệp, Bộ Luật Dân Sự Và Luật Dân Sự Có Phạm Vi Điều Chỉnh Như Nhau, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật 2021, Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Xây Dựng, Biên Bản Kiểm Tra Biện Pháp Thi Công, Điều 4 Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật, Điều Luật Trong Bộ Luật Hình Sự, Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Giáo Dục Đại Học, Luật 125i Điều 3 Bộ Luật Hình Sự, Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Luật Sư, Điều 1 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam Khóa Xi, Điều 31 Chương V Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam, Điều 2 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam Năm 2011, Điều 21 Chương V Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Điều 4 Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam Khóa Ix, Điều 4 Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam Khóa Xi, Điều 715 Đến Điều 721 Bộ Luật Dân Sự Năm 2005, Điều 5 Và Điều 92 Luật Bảo Hiểm Xã Hội, Điều 4 Điều Lệ Hội Luật Gia Việt Nam, Điều 84 Điều 100 Bộ Luật Dân Sự Năm 2005, Chế Biến Hạt Điều, Điều 9 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Căn Cứ Điều 8 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Điều 7 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Điều 7 Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam, Điều 1 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Điều 8 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tờ Trình Về Công Bố Kết Quả Điều Tra Mẫu Tổng Điều Tra Dân Số Và Nhà ở, Điều 2 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Điều 4 Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam, Điều 2 Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam, Dieu 36 Dieu Le Cong Doàn Viet Nam, Điều 6 Điều Lệ Công Đoàn Việt Nam, Điều 3 Điều Lệ Đảng Cộng Sản Việt Nam, Điều Luật 60 Luật Bảo Hiểm Xã Hội, Luật Sửa Đổi, Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Cư Trú, Các Điều Luật Trong Bộ Luật Dân Sự, Biên Bản Giám Sát Điều Trị, Biên Bản Điều Chỉnh Hóa Đơn, Mẫu Biên Bản Điều Chỉnh Hóa Đơn, Biên Bản Kiểm Tra Máy Điều Hòa, Tải Mẫu Biên Bản Điều Chỉnh Hóa Đơn, Mau Bien Ban Banf Giao Cong Tac Ke Toan Cong Doan, Công Văn Đề Nghị Nâng Cấp Công Suất Trạm Biến áp,

Điều 121 Công ước Luật Biển 1982, Văn Bản Công ước Luật Biển 1982, Toàn Văn Công ước Luật Biển Năm 1982, Khái Niệm Về 5 Vùng Biển Năm 1982, Điều 4 Luật Biển Việt Nam, Điều 8 Luật Biển Việt Nam, Quyết Định Số 1982 Ký Ngày 18/10, Quy Định Chi Tiết Một Số Điều Và Biện Pháp Thi Hành Luật Khiếu Nại, Thong Tu 10 Cua Bo Cong An Ve Xu Ly Ky Luật Cong An Vi Pham Dieu Lệnh, Biên Bản Kiểm Tra Điều Lệ Công Đoàn, Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Cán Bộ Công Chức Và Luật Viên Chức, Biên Bản Kiểm Tra Điều Kiện Khởi Công, Biên Bản Vi Phạm Kỷ Luật Công Ty, Điều Luật Về Gây Rối Trật Tự Công Cộng, Điều 9 Luật Tiếp Công Dân, Điều 1 Luật Cán Bộ Công Chức, Điều 1 Luật Công Đoàn, Điều 14 Luật Công An Nhân Dân, Điều 8 Luật Cán Bộ Công Chức, Điều 9 Luật Cán Bộ Công Chức, Điều 5 Luật Công An Nhân Dân, Điều 4 Luật Công An Nhân Dân, Điều 188 Luat Cong Doan, Điều 4 Luật Cán Bộ Công Chức, Điều Luật Công An Nhân Dân, Điều 4 Luật Cán Bộ Công Chức 2008, Điều 1 Luật Công Đoàn 2012, Luật Doanh Nghiệp Điều Lệ Công Ty, Luật Doanh Nghiệp Và Điều Lệ Công Ty, Bộ Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Quả Công Tác Phổ Biến Giáo Dục Pháp Luật, Công Tác Tuyên Truyền Phổ Biến Và Giáo Dục Pháp Luật ở Địa Phương, Điều Lệ Công Ty Luật Doanh Nghiệp 2014, Điều Luật Chống Người Thi Hành Công Vụ, Điều 1 Luật Các Công Cụ Chuyển Nhượng Năm 2005, Điều Lệ Công Ty Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Điều Lệ Công Ty Theo Luật Doanh Nghiệp 2005, Chỉ Thị 15-ct/tw Về Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Các Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Công Tác Điều Tr, Điều Lệ Công Ty Cổ Phần Theo Luật Doanh Nghiệp 2014, Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Công Tác Điều Tra, Xử Lý Các Vụ án, ề Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Công Tác Điều Tra, Xử Lý Các Vụ án Và, ề Sự Lãnh Đạo Của Đảng Đối Với Cơ Quan Bảo Vệ Pháp Luật Trong Công Tác Điều Tra, Xử Lý Các Vụ án Và , Kế Hoạch Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật Và Tuyên Truyền Kiến Thức Thống Kê, Trong Thông Tin Liên Lạc Bằng Sóng Vô Tuyến, Người Ta Sử Dụng Cách Biến Điệu Biên Độ, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thống Kê Về Việc Quyết Định Kế Hoạch Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Thống Kê Về Việc Quyết Định Kế Hoạch Công Tác Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật , Dự Thảo Luật Sửa Đổi Bổ Sung Một Số Điều Của Luật Đầu Tư Và Luật Doan, Bộ Luật Quốc Tế Về An Ninh Tàu Biển Và Cảng Biển, Báo Cáo Biện Pháp Thi Hành Luật Phổ Biến Giáo Dục, Điều 44 Điều 45 Luật Doanh Nghiệp Năm 2005, Điều 157 Và Điều 158 Của Luật Doanh Nghiệp 2005,

【#3】Việt Nam Luôn Đề Cao Tôn Chỉ Và Mục Tiêu Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển 1982

Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 được thông qua vào ngày 10-12-1982 và có hiệu lực ngày 16-11-1994. Việt Nam là một trong 107 nước đầu tiên ký và sau đó phê chuẩn Công ước. Vì vậy, ngày 16-11-2019 đánh dấu 25 năm Công ước có hiệu lực, đồng thời là 25 năm Việt Nam làm thành viên của Công ước.

Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng khẳng định, với 320 Điều và 9 Phụ lục điều chỉnh mọi hoạt động trên biển và đại dương, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 được coi là “Hiến pháp về biển và đại dương”, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động sử dụng và hợp tác về biển ở cấp độ quốc gia, khu vực và thế giới.

Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Quốc Dũng cho biết, trong 25 năm qua, Việt Nam luôn đề cao tôn chỉ và mục tiêu của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, đồng thời có nhiều nỗ lực thực thi Công ước trên Biển Đông. Việt Nam đã hoàn thiện hệ thống pháp luật về quản lý và sử dụng biển trên cơ sở phù hợp với UNCLOS.

Trong đó, quan trọng nhất là Luật Biển Việt Nam năm 2012 – cơ sở pháp lý quan trọng để Việt Nam thực hiện quản lý, bảo vệ và phát triển kinh tế biển, đảo. Trên tinh thần thượng tôn pháp luật, Việt Nam chủ trương kiên trì giải quyết các bất đồng trên biển bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Thực hiện chủ trương này, Việt Nam đã tiến hành đàm phán và ký các điều ước quốc tế về phân định biển với các quốc gia láng giềng như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia. Hiện nay, Việt Nam cũng đang tích cực thúc đẩy đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc bộ với Trung Quốc, phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và phân định biển với các quốc gia láng giềng khác. Việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 là ý chí và hành động chung của Chính phủ, các bộ, ngành và chính quyền ở tất cả các cấp của Việt Nam.

Theo TTXVN

【#4】Các Vùng Biển Việt Nam Được Quy Định Thế Nào Trong Công Ước Luật Biển 1982?

Quốc gia ven biển như Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với 5 vùng biển là: Nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa được quy định rất rõ trong công ước Luật biển 1982.

Công ước Luật biển 1982 là văn bản pháp lý quốc tế quy định phạm vi điều chỉnh và chế độ pháp lý cho triển khai các hoạt động khai thác biển và đại dương phù hợp với xu thế phát triển chung, bảo đảm công bằng lợi ích cho các quốc gia có biển và không có biển.

Năm 1967 Liên hợp quốc đã bảo trợ tổ chức Hội nghị quốc tế về Soạn thảo công ước Luật biển theo sáng kiến khởi xướng của Đại sứ Arvid Pardo của Malta, một quốc gia ven biển nhỏ bé ở châu Âu, một luật gia có tầm nhìn sắc sảo và vượt trước thời đại. Sau 9 năm kiên trì đàm phán, ngày 30/4/1982 với sự tham gia của hơn 150 quốc gia nhiều tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ Hội nghị đã chính thức thông qua công ước của Liên Hợp quốc về Luật biển.

Sau khi Guyana (quốc gia thứ 60) phê chuẩn, Công ước Luật biển 1982 chính thức có hiệu lực từ tháng 11/1994. Đến nay đã có 164 quốc gia là thành viên của Công ước Luật biển 1982.

Công ước Luật biển 1982 là điều ước quốc tế yêu cầu các thành viên phải chấp nhận sự điều chỉnh cả gói. Điều này có nghĩa là các quốc gia thành viên có trách nhiệm thực hiện toàn bộ các quy định của Công ước và không được phép đưa ra các bảo lưu, trừ việc có những tuyên bố được quy định cụ thể trong Công ước.

Công ước Luật biển 1982 gồm 320 điều khoản và 9 phụ lục kế thừa từ các điều ước quốc tế có trước về biển và pháp điển hóa các quy định mang tính tập quán quốc tế tồn tại qua một thời gian dài trong thực tiễn của các quốc gia, cũng như các xu hướng phát triển mới trong thực tiễn khai thác, sử dụng biển và đại dường.

Công ước Luật biển 1982 đưa ra cách tiếp cận quản lý biển theo không gian lần đầu tiên trên thế giới. Theo đó, Công ước chia bề mặt biển và đại dương thành 5 vùng không gian biển khác nhau: Nội thủy, tiếp giáp lãnh hải, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và vùng biển công.

Dưới đáy biển và đại dương được chia thành hai vùng không gian: Thềm lục địa, đáy đại dương bao gồm lòng đất dưới đáy thềm lục địa và đại dương. Mỗi vùng không gian biển và đại dương như vậy được quản lý theo một chế độ pháp lý riêng.

Quốc gia ven biển như Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với 5 vùng biển là: Nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Ngoài ra, quốc gia ven biển còn được hưởng các quyền tự do trong vùng biển công và quyền khai thác nguồn lợi đáy đại dương trên cơ sở tuân thủ các quy định pháp luật quốc tế.

Căn cứ để phân chia các đường biển như vậy là đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải được Công ước xác định theo hai phương pháp: Đường cơ sở thẳng và đường cơ sở theo ngấn thủy triều thấp nhất ven bờ.

Vùng nước phía bên trong đường cơ sở là nội thủy, phía bên ngoài đường cơ sở ra biển đến 12 hải lý là lãnh hải. Trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển có chủ quyền đối với vùng nước, đáy biển, lòng đất đáy biển, vùng trời phía trên lãnh hải. Đồng thời quốc gia ven biển phải tôn trọng quyền đi qua và không gây hại trong lãnh hải của tàu thuyền nước ngoài.

Theo Công ước, quốc gia ven biển có quyền xác định vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý và vùng thềm lục địa tối thiểu là 200 hải lý, tối đa là 350 hải lý. Tại các vùng biển này, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền thăm dò, khai thác, bảo vệ tài nguyên; quyền tài phán đối với nghiên cứu khoa học biển, bảo vệ môi trường biển, lắp đặt và sử dụng các thiết bị, công trình. Các quốc gia cũng có quyền tự do hàng hải, hàng không, quyền tự do đặt cáp cũng như ống dẫn ngầm.

【#5】Vấn Đề Xác Định Đường Cơ Sở Cho Các Đảo Theo Công Ước Luật Biển 1982

Vấn đề xác định đường cơ sở cho các đảo và nhóm đảo theo Công ước Luật Biển 1982 – Phân tích thực tiễn đường cơ sở của Trung Quốc

TÓM TẮT

Ngày 12/12/2019, Trung Quốc gửi cho Liên hợp quốc Công hàm số CML/14/2019 với nội dung khẳng định các yêu sách của mình trên Biển Đông (được biết đến với tên gọi “yêu sách tứ sa”). Công hàm này là sự đáp lại việc đệ trình của Malaysia lên Ủy ban về Ranh giới thềm lục địa ngày 12/12/2019. Sự kiện này đã tạo ra một “cuộc chiến công hàm” phản đối lẫn nhau giữa các quốc gia hữu quan, bao gồm cả Hoa Kỳ, là một quốc gia có quyền lợi gián tiếp ở Biển Đông. Trong phạm vi bài viết này, tác giả chủ yếu tập trung phân tích các khía cạnh pháp lý của việc xác định đường cơ sở cho các đảo và nhóm đảo xa bờ theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982. Trên cơ sở đó, bài viết sẽ đối chiếu với trường hợp đường cơ sở thể hiện trong các tài liệu mà Trung Quốc công bố, bao gồm “yêu sách tứ sa” mà Trung Quốc trên Biển Đông để làm rõ tính “vô căn cứ” và “bất hợp pháp” của các yêu sách này.

Từ khóa: Biển Đông, Yêu sách tứ sa, đường cơ sở, Hoa Kỳ, Việt Nam.

1. Tổng quan

Ngày 12/12/2019, Trung Quốc gửi cho Liên quốc Công hàm số CML/14/2019 với nội dung khẳng định các yêu sách cừ mình trên Biển Đông (được biết đến với tên gọi “yêu sách tứ sa”). Công hàm này là sự đáp lại việc đệ trình của Malaysia lên ủy ban về Ranh giới thềm lục địa (CLCS) ngày 12/12/2019. Công hàm số CML/14/2019 đã khởi động một “cuộc chiến công hàm” theo như cách gọi của một số học giả, nhằm phản đối lẫn nhau về các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông. Về mặt nội dung, Công hàm số CML/14/2019 có 3 vấn đề chính: (1) Khẳng định chủ quyền của Trung Quốc đối với 4 nhóm đảo mà họ gọi chung là Nam Hải Chư Đảo, bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa, Trung Sa, Đông Sa. Khẳng định Trung Quốc có các vùng biển nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trên cơ sở Nam Hải Chư Đảo; và Khẳng định Trung Quốc có các quyền lịch sử ở Biển Đông.

2. Quy định của Công ước Luật Biển về xác định đường cơ sở

Trước hết, chúng ta cần làm rõ một số vấn đề cơ bản về đường cơ sở theo quy định của Công ước Luật Biển. Những ai đã tìm hiểu và nghiên cứu về Luật Biển quốc tế đều biết rằng đường cơ sở (baselines) là một căn cứ quan trọng để xác định phạm vi và chiều rộng các vùng biển. Tuy vậy, trong quan hệ quốc tế, hiện vẫn tồn tại nhiều tranh cãi về đường cơ sở của các quốc gia, một phần là do cách hiểu và vận dụng luật biển không thống nhất hoặc các quốc gia cố ý hiểu sai để nhằm tư lợi. Theo quy định của Công ước Luật Biển, có 3 loại đường cơ sở: Đường cơ sở thông thường, đường cơ sở thẳng và đường cơ sở quần đảo.

Đường cơ sở thông thường (normal baselines) được xác định theo Công ước Luật Biển: “Trừ khi có quy định trái ngược của Công ước, đường cơ sở thông thường dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, như được thể hiện trên các hải đồ tỷ lệ lớn đã được quốc gia ven biển chính thức công nhận”. Trong thực tiễn quốc tế, đường cơ sở thông thường được áp dụng trong những trường hợp bờ biển bằng phẳng, không hoặc ít khúc khuỷu hay lồi lõm. Trong những điều kiện như thế, việc xác định “ngấn nước thủy triều thấp nhấp” sẽ thuận lợi và có tính chính xác cao hơn.

Đường cơ sở thẳng (straight baselines), theo quy định của Công ước Luật Biển: “Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”. Trong trường hợp bờ biển có đặc điểm châu thổ không ổn định, khúc khuỷu, lồi lõm hoặc có những chuỗi đảo chạy dọc bờ biển thì việc xác định đường cơ sở theo phương pháp thông thường sẽ phức tạp hơn và không đảm bảo độ chính xác. Chính vì vậy, đường cơ thẳng ra đời là một sự bổ sung cho các phương pháp xác định đường cơ sở, giúp cho các quốc gia có thêm sự lựa chọn để xác định căn cứ cho phạm vi và chiều rộng của các vùng biển. Trên thực tế, đường cơ sở thẳng đã tạo cho các quốc gia ven biển có nhiều ưu thế trong việc xác định và mở rộng các vùng biển của mình theo quy định của Công ước Luật Biển. Tuy nhiên, Công ước Luật Biển cũng đã đặt ra những điều kiện và tiêu chuẩn cho đường cơ sở thẳng nhằm ngăn ngừa những trường hợp quốc gia ven biển “lạm dụng” đường cơ sở thẳng để mở rộng các vùng biển quá mức cho phép, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của các quốc gia khác và cộng đồng quốc tế.

Chẳng hạn, khi vẽ đường cơ sở thẳng, các quốc gia phải đảm bảo tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa so với xu hướng chung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đất liền đủ đến mức đạt được chế độ nội thủy. Mặt khác, các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc chìm lúc nổi, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế. Ngoài ra, theo tinh thần của Công ước Luật Biển, các đảo sử dụng để vẽ đường cơ sở thẳng cho hệ thống đường cơ sở của quốc gia ven biển phải là những đảo gần bờ (nearshore hay coastal islands) – tức là cách bờ một khoảng không quá 24 hải lý. Những đảo xa bờ (offshore islands), nếu đảm bảo các tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 121 Công ước Luật Biển, sẽ xác định đường cơ sở riêng và có các vùng biển riêng.

Đường cơ sở quần đảo (archipelagic baselines) được quy định tại Điều 47 của Công ước Luật Biển: “Một quốc gia quần đảo có thể vạch các đường cơ sở thẳng của quần đảo nối liền các điểm ngoài cùng của các đảo xa nhất và các bãi đá lúc chìm lúc nổi của quần đảo, với điều kiện là tuyến các đường cơ sở này bao lấy các đảo chủ yếu và xác lập một khu vực mà tỷ lệ diện tích nước đó với đất, kể cả vành đai san hô, phải ở giữa tỷ lệ số 1/1 và 9/1”. Đường cơ sở quần đảo là một sự bổ sung hoàn chỉnh cho các phương pháp xác định đường cơ sở mà theo đó, các quốc gia quần đảo có thể sử dụng để xác định phạm vi các vùng biển của mình. Theo tinh thần của Công ước Luật Biển, chỉ có những quốc gia quần đảo mới có thể áp dụng đường cơ sở quần đảo và để làm rõ điều này, Công ước cũng đã đưa ra định nghĩa về quốc gia quần đảo (archipelagic State): “Quốc gia quần đảo là một quốc gia hoàn toàn được cấu thành bởi một hay nhiều quần đảo và có khi bởi một số hòn đảo khác nữa”. Hiện tại, Indonesia và Philippines là 2 quốc gia quần đảo lớn nhất trên thế giới và họ cũng đã áp dụng đường cơ sở quần đảo. Việt Nam và một số quốc gia khác ở khu vực Biển Đông như Trung Quốc, Hàn Quốc hay Bắc Triều Tiên cũng có nhiều đảo nhưng đây là những quốc gia lục địa, do đó không thể áp dụng đường cơ sở quần đảo. Hay nói cách khác, cho dù Việt Nam có được sở hữu các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chúng ta cũng không thể sử dụng đường cơ sở quần đảo để bao lấy các đảo trong các nhóm đảo này để tạo thành một thực thể thống nhất.

Về bản chất, đường cơ sở quần đảo cũng là đường cơ sở thẳng, nhưng áp dụng cá biệt cho quốc gia quần đảo. Việc thừa nhận đường cơ sở quần đảo đã tạo ra những lợi thế nhất định cho các quốc gia gia quần đảo trong việc mở rộng các vùng biển của mình. Tuy nhiên, nhằm đảm bảo hài hòa lợi ích quốc gia và quốc tế, đồng thời ngăn ngừa những trường hợp quốc gia quần đảo vượt quá giới hạn, Công ước Luật Biển cũng đã đưa ra những tiêu chuẩn và yêu cầu của đường cơ sở quần đảo. Chẳng hạn, khoản 2 và khoản 3 Điều 47 Công ước Luật Biển quy định chiều dài của các đường cơ sở này không vượt quá 100 hải lý; tuy nhiên có thể tối đa 3% của tổng số các đường cơ sở bao quanh một quần đảo nào đó có một chiều dài lớn hơn nhưng không quá 125 hải lý; và tuyến các đường cơ sở này không được tách xa rõ rệt đường bao quanh chung của quần đảo. Ngoài ra, tương tự như đường cơ sở thẳng, đường cơ sở quần đảo không được kéo đến hay xuất phát từ các bãi cạn lúc chìm lúc nổi, trừ trường hợp tại đó có xây đặt các đèn biển hay các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt biển hoặc trừ trường hợp toàn bộ hay một phần bãi cạn ở cách hòn đảo gần nhất một khoảng cách không vượt quá chiều rộng lãnh hải. Đồng thời, khoản 5 Điều 47 Công ước Luật Biển quy định, một quốc gia quần đảo không được áp dụng phương pháp kẻ các đường cơ sở khiến cho các lãnh hải của một quốc gia khác bị tách rời với biển cả hay với một vùng đặc quyền kinh tế. Mặt khác, trường hợp một phần của vùng nước quần đảo của một quốc gia quần đảo nằm giữa hai mảnh lãnh thổ của một quốc gia kế cận, thì các thuyền và mọi lợi ích chính đáng mà quốc gia kế cận này vẫn được hưởng theo truyền thống ở trong các vùng nước nói trên, cũng như tất cả các quyền nảy sinh từ các điều ước được ký kết giữa hai quốc gia, vẫn tồn tại và vẫn được tôn trọng.

Một trong nhtog nội dung được đề cập đến trong các Công hàm năm 2021 và Công thư năm 2021 của Hoa Kỳ nhằm phản đối các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông là việc xác định đường cơ sở cho các đảo và nhóm đảo. Cụ thể, Công hàm 2021 nhấn mạnh:

Tiếp đến, Công thư 2021 tiếp tục đề cập đến vấn đề này:

“… Hoa Kỳ nhắc lại sự phản đối trước đó của mình đối với bất kỳ yêu sách nào về vùng nước nội thủy giữa các đảo phân tán mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông, và bất kỳ yêu sách nào của Trung Quốc về các vùng biển có nguồn gốc từ việc coi các nhóm đảo ở Biển Đông là một thể thống nhất. Công ước quy định rõ ràng và toàn diện các trường hợp theo đó các quốc gia ven biển có thể đi chệch khỏi đường cơ sở thông thường. Điều 5 của Công ước quy định một cách rõ ràng và rành mạch rằng đường cơ sở thông thường được áp dụng trừ khi có quy định khác trong Công ước này. Không có điều khoản nào của Công ước thiết lập một ngoại lệ áp dụng cho đường cơ sở thông thường để cho phép Trung Quốc vẻ một hệ thống đường cơ sở thẳng để bao vây các quần đảo, các đảo phân tán và các thực thể khác mà Trung Quốc khẳng định chủ quyền ở Biển Đông”.

Tiếp đến, ngày 25/02/1992, Trung Quốc ban hành Luật về Lãnh hải và Tiếp giáp (sau đây gọi là Luật 1992), trong đó có nhắc lại việc Trung Quốc có thể sử dụng đường cơ sở thẳng để xác định các vùng biển của mình. Có lẽ xuất phát từ việc Tuyên bố 1958 và Luật 1992 thể hiện các nội dung quá chung chung về đường cơ sở, nên Hoa Kỳ, mặc dù theo rất sát các động thái của Trung Quốc trên Biển Đông, đã không có nhiều căn cứ để đánh giá và thể hiện quan điểm của họ về đường cơ sở của Trung Quốc. Ấn phẩm “Limits in the Seas “, số 43 nói trên chỉ tập trung phân tích các khía cạnh khác của Tuyên bố 1958 như vịnh Bột Hải (Gulf of Pohai), đồng bằng Châu Giang River Estuary), eo biển Quỳnh Châu (Hainan Strait), hay Bành Hồ (Taiwan and Penghu).

Sau đó, ngày 15/5/1996, Trung Quốc có tuyên bố xác định đường cơ sở của mình một cách chi tiết (sau đây gọi là Tuyên bố 1996) đối với phần lớn bờ biển và một số đảo, bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Tuyên bố 1996 đã xác định rất cụ thể (mặc dù chưa đầy đủ) đường cơ sở thẳng của Trung Quốc với những tọa độ cụ thể của các điểm cơ sở (basepoints). Ngay lập tức, Hoa Kỳ đã xuất bản ấn phẩm “Limite in the Seas “, số 117 vào ngày 09/6/1996 để phân tích và đánh giá về đường cơ sở của Trung Quốc xác định theo Tuyên bố 1996.

Đến năm 2021, Trung Quốc đã gửi Công hàm số CML/14/2019 lên Liên hợp quốc nhằm khẳng định yêu sách của họ đối với các đảo và nhóm đảo ở Biển Đông (thường được biết đến với tên gọi “yêu sách tứ sa”). Với yêu sách tứ sa, Trung Quốc đã đơn phương thiết lập các đơn vị hành chính của mình trên Biển Đông bao gồm: quần đảo Đông Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa và quần đảo Nam Sa. Thực chất, đây là một sự thay đổi về chiến lược độc chiếm Biển Đông cà Trung Quốc: Chuyển từ yêu sách đường 9 đoạn sang yêu sách tứ sa. Lý do cơ bản là vì yêu sách đường 9 đoạn không có cơ sở pháp lý và đã bị Tòa trọng tài luật biển chính thức bác bỏ vào năm 2021 trong vụ kiện Biển Đông. Mặc dù một mực tuyên bố không thừa nhận thẩm quyền và phán quyết của Tòa trọng tài Luật Biển, trong thâm tâm Trung Quốc cũng rất lo sợ vì đây là lần đầu tiên trong lịch sử, có một phán quyết chính thức của một cơ quan tài phán quốc tế không thừa nhận tính pháp lý của yêu sách đường 9 đoạn. Đây cũng là một cơ sở để Hoa Kỳ gửi Công thư 2021 lên Liên hợp quốc, tiếp tục phản đối các yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông.

Vậy, đường cơ sở được xác định trong các tài liệu của Trung Quốc (bao gồm Luật 1992, Tuyên bố 1996 và Công hàm số CML/14/2019) cụ thể như thế nào? Và Hoa Kỳ phản đối đường cơ sở đó như thế nào và dựa vào căn cứ pháp lý nào? Chúng ta sẽ lần lượt phân tích để trả lời các câu hỏi này.

Nhìn một cách tổng thể, Tuyên bố 1996 xác định hai hệ thống đường cơ sở: (1) Hệ thống đường cơ sở ven bờ biển của Trung Quốc và (2) Hệ thống đường cơ sở bao quanh quần đảo Hoàng Sa (Paracels archipelagoes) của Việt Nam mà Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép từ năm 1974.

Hệ thống đường cơ sở ven bờ biển xác định theo Tuyên bố 1996 bao gồm 48 đoạn nối liền 49 điểm cơ sở được xác định cụ thể bắt đầu từ bán đảo Sơn Đông (điểm 1) và kết thúc ở điểm 49 nằm ở phía Tây đảo Hải Nam. Như vậy, có thể nhận thấy rằng đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Trung Quốc đã xác định một cách chi tiết các điểm cơ sở cho hệ thống đường cơ sở của mình. Tuy nhiên hệ thống đường cơ sở ven bờ biển này của Trung Quốc là chưa hoàn chỉnh bởi vì ở điểm khởi đầu, nó chưa giải quyết được đường cơ sở với Bắc Triều Tiên, và ở điểm kết thúc, nó chưa phân định rạch ròi đường cơ sở với Việt Nam ở khu vực đảo Hải Nam và vịnh Bắc Bộ. Mặt khác, theo khẳng định trong ấn phẩm “Limits in the Seas”, số 117 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, hầu hết bờ biển của Trung Quốc không đáp ứng các tiêu chí cho đường cơ sở thẳng (bờ biển khúc khuỷu, lồi lõm, có những chỗ ăn sâu vào đất liền, hoặc có những chuỗi đảo chạy dọc bờ biển). Có nghĩa là, với những đặc điểm của bờ biển Trung Quốc (từ bán đảo Sơn Đông cho đến đảo Hải Nam), nó chỉ thích hợp cho việc vẽ đường cơ sở theo phương pháp thông thường, tức là sử dụng ngấn nước thủy triều thấp nhất. Ngoài ra, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cũng khẳng định rằng, các khu vực gần bờ biển của Trung Quốc không đáp ứng điều kiện quy định tại khoản 4 Điều 7 của Công ước Luật Biển khi xác định đường cơ sở thẳng. Cụ thể, một số điểm cơ sở được chọn (trong số 49 điểm nói trên) của đường cơ sở xuất phát từ những thực thể lúc chìm lúc nổi, nhưng ở đó không có những công trình thường xuyên nổi lên khỏi mặt nước. Bên cạnh đó, cũng theo phân tích của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, hệ thống đường cơ sở gần bờ của Trung Quốc còn vi phạm Công ước Luật Biển về chiều dài của các đoạn, mà theo quan điểm của Hoa Kỳ, mỗi đoạn cơ sở không được vượt quá 24 hải lý.

Ở hệ thống đường cơ sở thứ 2 xác định trong Tuyên bố 1996 – đường cơ sở bao quanh quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, có 28 điểm cơ sở được xác định. Đây là vấn đề mà Hoa Kỳ phản đối mạnh mẽ nhất vì thực chất việc Trung Quốc vẽ đường cơ sở quần đảo bao quanh các đảo xa bờ rõ ràng vi phạm quy định của Công ước Luật Biển. Trước hết, Hoa Kỳ cho rằng các đảo và thực thể ở quần đảo Hoàng Sa không đáp ứng các tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 7 Công ước Luật Biển để vẽ đường cơ sở thẳng. Quan trọng hơn, Trung Quốc (hay bất kỳ một quốc gia lục địa nào) không thể sử dụng đường cơ sở quần đảo cho các đảo xa bờ của mình. Ở trường hợp quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc có ý định xem toàn bộ các đảo ở khu vực này là một thể thống nhất – một quốc gia quần đảo. Đây là một điều trái với quy định của pháp luật quốc tế mà điển hình là Công ước Luật Biển bởi Trung Quốc không phải là quốc gia quần đảo nên tất yếu không thể sử dụng đường cơ sở quần đảo. Phán quyết của Tòa trọng tài Luật Biển trong vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc năm 2021 cũng đã chỉ ra rất rõ rằng, việc vẽ đường cơ sở thẳng bao lấy toàn bộ các cấu trúc địa lý của quần đảo Trường Sa là không phù hợp với Công ước Luật Biển.

Không những thế, với Công hàm số CML/14/2019 (yêu sách tứ sa), Trung Quốc đã bước thêm một bước với ý định của mình là sử dụng đường cơ sở quần đảo cho tất cả 4 nhóm đảo mà Trung Quốc tuyên bố chủ quyền bao gồm: quần đảo Đông Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trung Sa và quần đảo Nam Sa (Trường Sa theo tiếng Việt). Trên cơ sở đó, ngoài vùng nước quần đảo nằm phía trong hệ thống đường cơ sở Trung Quốc sẽ mở rộng đầy đủ các vùng biển gồm lãnh hải, tiếp giáp, đặc quyền kinh tế và thềm lục địa xung quanh các quần đảo này. Đây thực chất là một sự lặp lại và phát triển cao hơn của các hành vi vi phạm pháp luật quốc tế nhằm mục đích phục vụ cho tham vọng độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Hiện tại, Công hàm số CML/14/2019 không xác định cụ thể các điểm cơ sở của hệ thống đường cơ sở cho các nhóm đảo ở quần đảo Đông Sa, quần đảo Trung Sa và quần đảo Nam Sa (như đã thực hiện với quần đảo Hoàng Sa trong Tuyên bố 1996). Tuy nhiên, theo dự đoán của nhiều chuyên gia nghiên cứu, chắc chắn đây là điều mà Trung Quốc đang tính toán và sẽ tiến hành trong thời gian tớ nhằm hiện thực hóa hệ thống đường cơ sở quần đảo bất hợp pháp của họ trên Biển Đông.

Mặt khác, nếu dựa vào ngôn ngữ của Công hàm số CML/14/2019, chúng ta cũng có thể hiểu được rằng Trung Quốc dự đinh sử dụng Nam Hải Chư Đảo như là một thực thể thống nhất bằng cách nối 4 quần đảo nói trên bằng một hệ thống đường cơ sở quần đảo.

Cụ thể, Công hàm số CML/14/2019 khẳng định: “Trung Quốc có vùng biển nội thủy, lãnh hải và vùng tiếp giáp, dựa trên cơ sở Nam Hải Chư Đảo; Trung Quốc có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa, dựa trên cơ sở Nam Hải Chư Đảo”. Bằng cách này, Trung Quốc đã gián tiếp “biến” Nam Hải Chư Đảo thành một “quốc gia quần đảo” với tư cách pháp lý ngang bằng với những quốc gia quần đảo khác như Indonesia hay Philippine. Hệ quả pháp lý của vấn đề này là gì? Mặc dù chưa được tính toán một cách chi tiết, nhưng chúng ta cũng có thể hình dung được rằng nếu sử dụng đường cơ sở quần đảo cho toàn bộ Nam Hải Chư Đảo, diện tích các vùng biển mà Trung Quốc dự định “tranh giành” một cách trái pháp luật chắc chắn không nhỏ hơn so với việc sử dụng đường 9 đoạn, tức là có thể lên đến hơn 80% diện tích Biển Đông.

Ở đây, có thể thấy rằng, mục đích và tham vọng của Tmng Quốc đối với Biển Đông là không thay đổi. Tuy nhiên, việc chuyển từ “yêu sách 9 đoạn” sang “yêu sách tứ sa” đã thể hiện sự bế tắc và vô căn cứ của Trung Quốc. Sau gần 75 năm (đường 9 đoạn lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1947) nghiên cứu, tìm kiếm, họ vẫn chưa lý giải được cơ sở pháp lý của đường 9 đoạn, và đã bị Tòa trọng tài Luật Biển bác bỏ trong vụ kiện Biển Đông. Thì bây giờ, việc sử dụng đường cơ sở quần đảo trong “yêu sách tứ sa” cũng không hề có một trọng lượng pháp lý nào và chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ phải đối mặt với một kiện mới trong tương lai gần. Không biết lúc đó liệu Tmng Quốc sẽ còn “chiêu bài” gì nữa cho tham vọng vô căn cứ của mình ở Biển Đông? Thực ra, giới học giả Trung Quốc cũng đã và đang làm việc rất cật lực để kiếm tìm các cơ sở pháp lý cho các yêu sách của Trung Quốc ở Biển Đông. Học giả Luật quốc tế Trần Hữu Duy Minh, trong một nghiên cứu của mình, đã chỉ ra rằng: “Giới học giả Trung Quốc cho rằng có quy định tập quán quốc tế cho phép vạch đường cơ sở bao quanh một quần đảo của một quốc gia lục địa tương tự như đường cơ sở quần đảo “. Tuy nhiên, tác giả này cũng khẳng định: “Nghiên cứu không cung cấp bằng chứng nào cho thấy có tồn tại một quy chế như thế trong luật tập quán quốc tế”. Đây là một minh chứng cho sự “bế tắc” của giới học giả Trung Quốc nói riêng, và của Chính phủ Trung Quốc nói chung trong việc xác định các căn cứ pháp lý cho các yêu sách của họ trên Biển Đông.

4. Kết luận

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Nguyễn Thị Lan (2018), “Tứ Sa – Chiến thuật pháp lý mới của Trung Quốc ở Biển Đông” – Nghiên cứu Biển Đông tại địa chỉ: http://nghiencuubiendong.vn/nghien-cuu-vietnam/6990-tu-sa-chien-thuat-phap-ly-moi-cua-trung-quoc-o-bien-dong
  • Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (1972), “Straight Baselines: People’s Republic of China” – Limits in the Seas, No. 43, tại địa chỉ: https://2009-2017.state.gov/documents/ organization/58832.pdf
  • Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (1996), “Sfraight Baselines Claim: China ” – Limits in the Seas, No. 117, tại địa chỉ: https://2009-2017.state.gov/documents/organization/57692.pdf
  • Bình Giang (2020), “Cuộc chiến công hàm về Biển Đông ở Liên hợp quốc “, tại địa chỉ: https://www.tienphong.vn/the-gioi/cuoc-chien-cong-ham-ve-bien-dong-o-lien-hop-quoc-1668175 .tpo
  • Trần Hữu Duy Minh (2019), “Vạch đường cơ sở cho các quần đảo thuộc quốc gia lục địa” – Luật pháp quốc tế, tại địa chỉ: https://iuscogens-vie.org/2019/12/15/vach-duong-co-so-cho-cac-quan-dao-thuoc-quoc-gia-luc-dia/
  • Trần Hữu Duy Minh (2017), “Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển – Đường cơ sở” – Luật pháp quốc tế tại địa chỉ: https://iuscogens-vie.org/2017/03/20/08/
  • Tòa trọng tài Luật Biển, “Phán quyết ngày 12/7/2016 trong vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc”, tại địa chỉ: https://pcacases.com/web /sendAttach/2086
  • Nguyễn Hồng Thao (2020), “Biển Đông: Mỹ tham gia cuộc chiến công hàm” -Dự án đại sự ký Biển Đông tại địa chỉ: https://dskbd.org/2020/06/12/bien-dong-my-tham-gia-cuoc-chien-cong-

Tác giả: Hồ Nhân Ái – TS. Giảng viên Khoa Luật Quốc tế, Trường Đại học Luật, Đại học Huế.

Nguồn: Tạp chí Pháp luật và thực tiễn số 44/2020.

【#6】Công Ước Luật Biển 1982

(Thethaovanhoa.vn) – Được ký kết ngày 10/12/1982 và chính thức có hiệu lực từ ngày 16/11/1994, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) ra đời, đã đáp ứng sự kỳ vọng của cộng đồng quốc tế về việc thiết lập một trật tự pháp lý mới trên biển, đồng thời dung hòa được quyền và lợi ích giữa các quốc gia. Sau 35 năm hình thành và phát triển, UNCLOS thể hiện vai trò như một bản “Hiến pháp” của đại dương trong việc điều chỉnh quy chế pháp lý các vùng biển, cũng như đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của các quốc gia trong khai thác và sử dụng biển.

Sau khi Công ước Luật Biển 1982 ra đời và có hiệu lực, các quốc gia ven biển đã ra các tuyên bố để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình đối với những vùng biển được mở rộng theo quy định của Công ước. Lưu thông hàng hải qua vùng lãnh hải và các dải hẹp giờ đây dựa trên các nguyên tắc pháp lý…

Là quốc gia nằm bên bờ Tây của Biển Đông, biển có một ý nghĩa đặc biệt với Việt Nam trên nhiều phương diện. Đến nay, UNCLOS đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vô cùng quan trọng cho Việt Nam, trong việc xác lập cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phù hợp với quy định của luật quốc tế. Trong bối cảnh phức tạp như hiện nay, UNCLOS còn là một công cụ pháp lý chính thống và hữu hiệu trong việc kiềm chế, quản lý các mối đe dọa với an ninh, an toàn ở Biển Đông cũng như bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên biển.

Chính vì vậy, sau khi Công ước Luật Biển 1982 được thông qua ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay (Jamaica). Ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển”.

Quốc hội khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.

Tham gia Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam-quốc gia ven biển được thừa nhận có vùng lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý và có thể mở rộng tới 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà Việt Nam được hưởng theo quy định của Công ước khoảng gần một triệu km2, rộng gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.

Tại trụ sở Liên hợp quốc ở New York ngày 5/12, Đại hội đồng LHQ khóa 72 đã họp phiên toàn thể về đề mục thứ 77 trong chương trình nghị sự về Đại dương và Luật biển.

【#7】Báo Cáo Việt Nam Thực Thi Công Ước Luật Biển 1982

Việc 107 quốc gia cùng ký vào Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển tại Montego Bay (Jamaica) 30 năm trước là một thành quả hết sức quan trọng của Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật Biển.

Sự ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (Công ước Luật Biển 1982) đã đáp ứng nguyện vọng và mong đợi của cộng đồng quốc tế về một chuẩn mực pháp lý quốc tế công bằng mang tính toàn cầu đối với tất cả các vấn đề về biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển.

Quá trình xây dựng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đã diễn ra nhiều năm với sự nỗ lực của trên 150 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế, kể cả các tổ chức quốc tế phi chính phủ. Đến nay, thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982 đã lên tới 164 quốc gia.

Công ước Luật Biển 1982 không chỉ quy định về quyền, nghĩa vụ của quốc gia ven biển mà còn đề cập đến quyền được tiếp cận với biển của các quốc gia không có biển, do vậy Công ước Luật Biển 1982 được nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia không có biển, cùng chấp nhận.

Là một quốc gia ven biển có bờ biển dài trên 3.260km, Việt Nam có nhiều lợi ích lớn gắn liền với biển.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển cả, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng xây dựng Công ước Luật Biển năm 1982 và có nhiều nỗ lực trong việc thực thi Công ước Luật Biển 1982; luôn đề cao tôn chỉ và mục tiêu của Công ước, đồng thời có những hành động thiết thực vào việc thực hiện Công ước.

Với Tuyên bố này, Việt Nam cũng như các nước Kenya, Myanmar, Cuba, Yemen, Dominica, Guatemala, Ấn Độ, Pakistan, Mexico, Seychelles được coi như những nước đi tiên phong trong việc đưa khái niệm vùng đặc quyền kinh tế trở thành khái niệm có giá trị tập quán và sau này trở thành một nội dung quan trọng của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982.

2. Việt Nam là quốc gia tham gia Hội nghị lần thứ 3 của Liên hợp quốc về Luật Biển tại Montego Bay (Jamaica). Ngay sau khi Công ước Luật Biển 1982 được thông qua, ngày 30/4/1982, Việt Nam là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước.

Trước khi Công ước có hiệu lực, ngày 23/6/1994, Quốc hội Việt Nam đã ra Nghị quyết về việc phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Điểm 1 trong Nghị quyết nêu rõ: “Bằng việc phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982, nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.”

Nghị quyết phê chuẩn khẳng định chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước Luật Biển 1982 và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.

3. Vận dụng các quy định của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo môi trường pháp lý cho công tác quản lý biển và các hoạt động kinh tế biển, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Ngày 21/06/2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật biển Việt Nam. Luật biển Việt Nam được xây dựng trên cơ sở các quy định của Công ước Luật Biển 1982, có tham khảo các thông lệ quốc tế và thực tiễn của các nước.

Luật biển Việt Nam gồm 7 chương với 55 điều, đề cập đến các nguyên tắc quản lý và sử dụng biển; phạm vi và quy chế các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa; quy chế các đảo, quần đảo; các hoạt động trong các vùng biển Việt Nam; tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ; bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; phát triển kinh tế biển; tuần tra kiểm soát trên biển; hợp tác quốc tế về biển.

Với việc thông qua Luật biển, Việt Nam đã làm cho các quy định của luật pháp về biển của mình hài hoà với các quy định của Công ước Luật Biển 1982. Việc Luật biển Việt Nam khẳng định chủ trương giải quyết các tranh chấp biển, đảo bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982 càng khẳng định rõ Việt Nam là một thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tôn trọng và tuân thủ luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982, thể hiện quyết tâm của Việt Nam phấn đấu vì hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển của khu vực và trên thế giới.

4. Căn cứ vào các quy định của Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam đã và đang tiến hành quản lý có hiệu quả và triển khai các hoạt động kinh tế biển trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của mình phục vụ phát triển kinh tế đất nước, nâng cao đời sống nhân dân. Chính phủ Việt Nam luôn bảo vệ những lợi ích hợp pháp của các đối tác nước ngoài trong hợp tác kinh tế, quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên biển phù hợp với các quy định của Công ước 1982.

5. Với chủ trương nhất quán thông qua các biện pháp hòa bình giải quyết tranh chấp, bất đồng trên biển, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc áp dụng có hiệu quả Công ước Luật Biển 1982 giải quyết các tranh chấp về phân định biển với các nước láng giềng, trong đó luôn đề cao nguyên tắc công bằng để tìm ra giải pháp hợp lý, cụ thể là: Việt Nam đã ký với Thái Lan Hiệp định về Phân định biển ngày 09/8/1997; ký với Trung Quốc Hiệp định về Phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định Hợp tác Nghề cá trong Vịnh Bắc Bộ ngày 25/12/2000; ký với Indonesia Hiệp định về Phân định Thềm lục địa ngày 26/6/2003.

Việt Nam đang đàm phán phân định khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, đàm phán phân định vùng đặc quyền kinh tế với Indonesia và đang chuẩn bị đàm phán về vấn đề trên biển với các nước láng giềng khác.

Thực tiễn đàm phán, ký kết các văn kiện phân định biển của Việt Nam với các nước láng giềng đã thể hiện sự vận dụng sáng tạo các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đóng góp và làm phong phú thêm luật pháp quốc tế về phân định biển. Kết quả đàm phán giải quyết phân định giữa Việt Nam với Thái Lan và Trung Quốc góp phần khẳng định xu thế không thể phủ nhận của việc sử dụng đường trung tuyến hoặc cách đều làm xuất phát điểm để đi tới một giải pháp phân định công bằng và xu thế sử dụng đường phân định đơn nhất cho phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.

Mặt khác, Việt Nam luôn tích cực đấu tranh bảo vệ luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Luật Biển 1982.

Với nỗ lực của Việt Nam, nội dung “căn cứ luật pháp quốc tế, Công ước Luật Biển 1982 để tìm ra giải pháp cơ bản lâu dài cho các tranh chấp tại Biển Đông” đã được đưa vào vào Thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc ký ngày 11/10/2011. Điều đó cho thấy Việt Nam không chỉ chủ động thực hiện nghiêm túc các quy định của Công ước Luật Biển 1982 mà còn luôn có ý thức thúc đẩy việc tôn trọng và thực hiện đầy đủ các nội dung của Công ước.

6. Căn cứ vào khuyến nghị trong Điều 74 và Điều 83 của Công Luật Biển 1982, Việt Nam luôn sẵn sàng cùng các bên hữu quan tiến hành hợp tác cùng phát triển ở những khu vực thực sự có tranh chấp, phù hợp với các quy định của Công ước Luật Biển 1982. Năm 1992, Việt Nam đã ký với Malaysia Thỏa thuận về việc hợp tác khai thác tài nguyên khoáng sản khu vực thềm lục địa chồng lấn và thỏa thuận này đang được triển khai có hiệu quả. Hiện nay, Việt Nam đang cùng Thái Lan-Malaysia đàm phán về hợp tác tại khu vực biển chồng lấn 3 bên Việt Nam-Thái Lan-Malaysia.

7. Thực hiện quyền và nghĩa vụ của quốc gia ven biển theo quy định của Công ước Luật Biển 1982, sau gần 3 năm nỗ lực (từ 2007 đến 2009), Việt Nam đã hoàn thành Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa bảo đảm chất lượng, xác định một cách có cơ sở khoa học và pháp lý phạm vi thềm lục địa mở rộng của Việt Nam ở Biển Đông theo đúng tiêu chuẩn, quy định của Ủy ban Thềm lục địa Liên hợp quốc.

Đầu tháng 5/2009, Việt Nam đã trình lên Liên hợp quốc Báo cáo xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Bắc và Báo cáo chung xác định ranh giới ngoài thềm lục địa khu vực phía Nam với Malaysia theo đúng thời hạn quy định của Liên hợp quốc. Trong các ngày 27 và 28/8/2009, Việt Nam đã trình bày hai bản Báo cáo này tại Ủy ban Thềm lục địa Liên hợp quốc, đồng thời đề nghị Uỷ ban Thềm lục địa Liên hợp quốc sớm thành lập các Tiểu ban để xem xét Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo đúng các quy định của Công ước Luật Biển 1982 cũng như Quy tắc hoạt động của Ủy ban Thềm lục địa. Việc làm này khẳng định rõ quyết tâm của Việt Nam trong việc thực thi Công ước Luật Biển 1982.

8. Việt Nam đã tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế được thành lập theo Công ước Luật Biển 1982. Việt Nam là thành viên của Hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương và đã từng được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về Đáy Đại dương.

Công ước quốc tế về tiêu chuẩn huấn luyện, cấp chứng chỉ chuyên môn và trực ca cho thuyền viên (STCW 78/95), Công ước quốc tế về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải (SUA 88) và Nghị định thư về ngăn ngừa các hành vi bất hợp pháp chống lại an toàn hàng hải đối với các dàn khoan cố định ở thềm lục địa; Công ước quốc tế về giới hạn trách nhiệm dân sự của chủ tàu đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu (CLC 1992 – Việt Nam tham gia ngày 1 tháng 7 năm 2003 và Công ước có hiệu lực với Việt Nam từ 1 tháng 7 năm 2004); Công ước về Tạo thuận lợi trong giao thông đường biển (FAL); Công ước về Tìm kiếm, cứu nạn (SAR 79).

Là một quốc gia gắn liền với biển, Việt Nam luôn đi đầu và không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện Công ước Luật Biển 1982. Việt Nam tin tưởng chắc chắn rằng, nếu các quốc gia ven biển đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định bởi Công ước Luật Biển 1982 thì nhân loại không những sẽ tránh được những căng thẳng, xung đột trên biển mà sẽ có điều kiện tốt hơn để khai thác biển và đại dương phục vụ lợi ích con người.

Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục hành động theo mục tiêu, tôn chỉ và các quy định của Công ước Luật Biển 1982, đồng thời yêu cầu, kêu gọi các quốc gia khác tuân thủ nghĩa vụ này.

【#8】Việt Nam Với Công Ước Của Liên Hợp Quốc Về Luật Biển 1982

(HNM) – Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) là công cụ pháp lý quan trọng để Việt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông. Đáp ứng nhu cầu thông tin của đông đảo bạn đọc về UNCLOS, Báo Hànộimới xin giới thiệu Công ước này mà Việt Nam đã ký kết.

Được ký kết ngày 10-12-1982, nên còn gọi UNCLOS 1982 và có hiệu lực từ ngày 16-11-1994. Đến nay đã có 157 quốc gia và Cộng đồng châu Âu (EC) tham gia UNCLOS.

UNCLOS gồm 17 phần với 320 điều khoản, 9 phụ lục với hơn 100 điều khoản và 4 nghị quyết kèm theo. Đây là một bộ các quy định về sử dụng biển và đại dương trên thế giới (chiếm 70% diện tích bề mặt trái đất). Sau Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ), UNCLOS là văn kiện pháp lý đa phương quan trọng nhất trong lịch sử của LHQ, với việc đã thiết lập được một cách cụ thể và rõ ràng khái niệm, quy chế cũng như phạm vi các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia của các nước.

UNCLOS quy định: “Vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng này, quốc gia ven biển có quyền thuộc chủ quyền về thăm dò, khai thác, bảo tồn và quản lý các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật, của vùng nước bên trên đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế… Trong vùng đặc quyền kinh tế, nước ngoài có quyền tự do hàng hải và đường không, tuân theo sự kiểm soát của quốc gia ven biển. Nước ngoài cũng có thể đặt các đường ống ngầm và cáp ngầm… nhưng phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển”.

UNCLOS nêu rõ: “Thềm lục địa là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia này cho đến bờ ngoài của rìa lục địa hoặc đến cách đường cơ sở 200 hải lý nếu như rìa ngoài của bờ lục địa ở khoảng cách gần hơn. Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục địa kéo dài tự nhiên vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa theo sự kéo dài tự nhiên đó nhưng cũng không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2.500m một khoảng cách không quá 100 hải lý. Tại đây, quốc gia ven biển thực hiện các quyền thuộc chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình; quyền này là đặc quyền và đương nhiên tồn tại không phụ thuộc vào việc có chiếm hữu hay tuyên bố hay không …”.

Việt Nam là một trong 130 nước bỏ phiếu thông qua và sau đó cùng 118 nước khác ký UNCLOS năm 1982 tại Vịnh Montego (Jamaica). Ngày 23-6-1994, Quốc hội Việt Nam đã chính thức phê chuẩn và trở thành thành viên thứ 63 của UNCLOS. Nằm ven Biển Đông và là một trong những quốc gia có bờ biển dài trong khu vực (khoảng 3.260km), theo các quy định của UNCLOS, Việt Nam được mở rộng chủ quyền, các quyền thuộc chủ quyền và quyền tài phán của mình ra các vùng biển và thềm lục địa rộng khoảng 1 triệu kilômét vuông. Là thành viên UNCLOS, Việt Nam có nghĩa vụ phải giải quyết các tranh chấp theo các quy định của UNCLOS. Cụ thể, Việt Nam có quyền xác định các vùng biển và thềm lục địa theo UNCLOS nhưng đồng thời cũng có nghĩa vụ tiến hành phân định các vùng biển và thềm lục địa ở những khu vực chồng lấn với các nước láng giềng.

Để thực hiện quyền này của UNCLOS, Việt Nam xây dựng Báo cáo quốc gia trình Ủy ban Ranh giới ngoài thềm lục địa của LHQ để bảo đảm quyền lợi của quốc gia, bảo vệ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa vượt quá 200 hải lý; đồng thời có cơ sở khoa học để đưa ra các quy định về ranh giới ngoài vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam.

Đầu tháng 5-2009, Việt Nam nộp báo cáo chung với Malaysia về khu vực thềm lục địa mở rộng ở phía Nam và báo cáo riêng của Việt Nam về khu vực thềm lục địa ở khu vực phía Bắc. Quan điểm pháp lý cơ bản trong Báo cáo quốc gia của Việt Nam là khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển và thềm lục địa theo quy định của UNCLOS…

Thời gian qua, đặc biệt sau khi UNCLOS có hiệu lực, Việt Nam đã giải quyết được một loạt vấn đề về phân định biển với các quốc gia láng giềng. Việt Nam đã phân định ranh giới biển với Thái Lan năm 1997; phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc năm 2000; phân định ranh giới thềm lục địa với Indonesia năm 2003. Ngoài ra, Việt Nam cũng đã thỏa thuận tiến hành hợp tác khai thác chung thềm lục địa chồng lấn với Malaysia năm 1992; vùng nước lịch sử với Campuchia năm 1982.

【#9】Việt Nam Và 25 Năm Tham Gia Công Ước Luật Biển 1982

Năm 2021 đánh dấu 25 năm ngày Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 chính thức có hiệu lực. Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển được thông qua ngày 30/4/1982 đánh dấu kết quả của 9 năm đàm phán của Hội nghị Luật Biển.

Được coi như “Hiến pháp về biển và đại dương”, Công ước Luật Biển 1982 ra đời đánh dấu sự hình thành một khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia trong sử dụng biển, quản lý các nguồn tài nguyên biển và bảo tồn các nguồn tài nguyên này cho thế hệ mai sau.

Kế thừa các điều ước quốc tế về biển trước đó, đồng thời pháp điển hóa các quy định mang tính tập quán quốc tế, Công ước đã đặt ra cơ sở để xác định các vùng biển và căn cứ cho các quốc gia xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán trên biển.

Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (United Nations Convention on the Law of the Sea hay UNCLOS) năm 1982, được thông qua ngày 30/4/1982.

Công ước bắt đầu có hiệu lực từ năm 1994.

Công ước Luật Biển năm 1982 gồm 17 phần, 320 điều và 9 phụ lục.

Các cơ quan tài phán quốc tế theo quy định của Công ước:

Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa án Luật Biển quốc tế (ITLOS, cơ quan được thành lập bởi Công ước), Tòa trọng tài, Tòa trọng tài đặc biệt…

Theo quy định tại Phần XV của Công ước, khi phát sinh tranh chấp, các quốc gia cần giải quyết một cách hòa bình, bằng các biện pháp do các bên lựa chọn như đối thoại, đàm phán, hòa giải…

Nếu các biện pháp trên không đem lại giải pháp, các bên có thể thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại các cơ quan tài phán quốc tế như Tòa án Công lý quốc tế (ICJ), Tòa án Luật Biển quốc tế (ITLOS, cơ quan được thành lập bởi Công ước) hoặc Tòa trọng tài, Tòa trọng tài đặc biệt.

Là thành viên Công ước Luật Biển 1982, Việt Nam được quyền có lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế rộng 200 hải lý, thềm lục địa rộng ít nhất 200 hải lý. Diện tích các vùng biển và thềm lục địa mà tại đó Việt Nam được hưởng những quyền lợi đối với vùng biển và tài nguyên theo quy định của Công ước là khoảng gần 1 triệu km2, gấp ba lần diện tích lãnh thổ đất liền.

“Số lượng các quốc gia thành viên Công ước Luật Biển 1982 đã lên đến 168 quốc gia và tổ chức quốc tế. Đương nhiên với bất kỳ quốc gia nào, việc tham gia vào Công ước cũng có ý nghĩa rất quan trọng và đem lại những lợi ích. Vì trong Công ước quy định các quyền và nghĩa vụ của các quốc gia. Với việc tham gia vào Công ước, các quốc gia sẽ có cơ sở pháp lý vững chắc để ban hành các văn bản pháp luật trong nước để quy định vè quyền, về quy chế pháp lý các vùng biển.

“Hơn nữa khi Công ước quy định quyền và bình đẳng cho các nước, nhưng với các nước nhỏ, thì việc chúng ta dựa vào pháp luật để đấu tranh và bảo vệ lợi ích cũng sẽ đem lại lợi ích rõ ràng và thiết thực hơn, trong khi các nước lớn thì ngoài việc dựa vào khung pháp luật, họ có thể có những ưu thế khác nữa”, TS. Phạm Lan Dung cho biết.

Vấn đề tranh chấp Biển Đông, luôn luôn là một vấn đề nóng, nếu không phải những “cơn sóng dữ” sẽ là những “đợt sóng ngầm” luôn thường trực, thu hút sự quan tâm của dư luận thế giới như vụ việc Giàn khoan Hải Dương 981 vào năm 2014 hay Phán quyết về vụ kiện giữa Phillipines và Trung Quốc năm 2021. Công ước Luật biển LHQ đã đóng vai trò như thế nào đối với những vấn đề này?

Trả lời câu hỏi trên, TS. Phạm Lan Dung cho hay: “Vào năm 2014, khi Trung Quốc đưa Giàn khoan 981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Việt Nam cũng như các nước trên thế giới đều soi xét các tính chất pháp lý của vụ việc này dưới ánh sáng của Công ước Luật Biển. Trước tiên, các nước sẽ nhìn nhận xem vị trí mà Giàn khoan 981 triển khai các hoạt động của mình ở đâu.

Theo như Công ước Luật Biển, vị trí Giàn khoan 981 nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lúc địa của Việt Nam nhưng cũng nằm trong vùng đặc quyền kinh tế tính từ đảo Hải Nam của Trung Quốc. Đây là vùng đặc quyền kinh tế mà chưa phân định. Theo quy định của Luật biển quốc tế, các nước không được tiến hành khai thác đơn phương ở những vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chưa được phân định”.

“Vụ việc Phillipines và Trung Quốc có ý nghĩa rất quan trọng. Trong vụ việc này, không những toà đã dựa trên Công ước Luật Biển 1982 để giải quyết những vấn đề được nêu ra trong đơn kiện mà quyết định của toà còn có ý nghĩa như án lệ làm sáng tỏ những quy định của Công ước Luật Biển 1982. Những vấn đề lớn mà phán quyết đạt được theo quy định của Công ước đó là yêu sách “đường lưỡi bò” của Trung Quốc hoàn toàn không có cơ sở pháp lý dựa trên cơ sở Công ước Luật Biển 1982, luật biển quốc tế cũng như luật pháp quốc tế nói chung.

Thành công thứ hai của phán quyết là đã xác định được quy chế pháp lý của các thực thể trong phạm vi mà Phillipines đưa ra nằm trong quần đảo Trường Sa. Tòa trọng tài đưa ra kết luận không có một thực thể nào, một cấu trúc địa lý nào trong phạm vi mà Philippines đưa ra có thể có vùng biển rộng hơn 12 hải lý. Tòa cũng nêu rõ là các bãi chìm thì không thể là đối tượng yêu sách chủ quyền riêng rẽ và các bãi chìm nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước nào thì thuộc quyền chủ quyền của nước đó”.

Đối với diễn biến phức tạp trên Biển Đông thời gian qua, trước bất cứ hành vi nào xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên các vùng biển được xác định phù hợp với Công ước Luật Biển 1982, chủ trương nhất quán của Việt Nam là kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982.

Mới đây nhất, đầu tháng 7/2019 nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc đã có những hoạt động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực bãi Tư Chính.

Trong khuôn khổ Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN lần thứ 52 cuối tháng 7 năm 2021 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh cũng đã bày tỏ quan ngại sâu sắc về những diễn biến trên thực địa, trong đó có hoạt đôṇg của Tàu khảo sát HD-08 của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Các hành động như vậy, theo Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh, đe dọa nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các quốc gia ven biển, làm xói mòn lòng tin, gia tăng căng thẳng, không có lợi cho hòa bình và ổn định ở khu vực. Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh khẳng định lại lập trường nguyên tắc của ASEAN về tầm quan trọng của tăng cường lòng tin, không quân sự hóa, kiềm chế, không có hoạt động làm gia tăng căng thẳng và phức tạp tình hình; tuân thủ nghiêm túc luâṭ pháp quốc tế trong đó có UNCLOS 1982, sớm hoàn tất Bộ Quy tắc COC hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế.

T.S Phạm Lan Dung cho rằng trong vụ việc tàu khảo sát Hải Dương 8 của Trung Quốc vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam thời gian vừa qua, có những dấu hiệu của việc tàu khảo sát Trung Quốc đã vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam về thăm dò tài nguyên ở cùng đặc quyền kinh tế. Bởi lẽ, với công nghệ hiện nay, chỉ với việc đi lại trong vùng đặc quyền kinh tế của một nước khác đã có thể thực hiện việc thăm dò.

Tuy nhiên để đưa ra những đánh giá từ góc độ pháp lý của các vụ việc như vậy thì cần phải xem xét nhiều yếu tố: “Thứ nhất, chúng ta cần phải tìm hiểu vị trí xảy ra hoạt động của tàu khảo sát là ở đâu.

Theo tuyên bố của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam nêu rõ, khu vực này là khu vực hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Như vậy, hoạt động tàu khảo sát hoàn toàn nằm trong khu vực 200 hải lý tính từ đường bờ biển của Việt Nam và không chồng lấn với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của quốc gia nào”.

“Việc người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc tuyên bố nước này có chủ quyền với các bãi san hô ngầm ở khu vực Nam Biển Đông cũng hoàn toàn không có cơ sở pháp lý và vi phạm quyền chủ quyền của Việt Nam ở vùng EEZ và thềm lục địa. Bởi theo quy định UNCLOS thì các bãi san hô ngầm không phải đối tượng để yêu sách chủ quyền riêng rẽ.

Và cũng theo quy định của Công ước, bãi san hô ngầm nằm trong vùng EEZ và thềm lục địa nước nào sẽ thuộc quyền chủ quyền của nước đó. Vậy phạm vi nào của bãi san hô ngầm nằm trong vùng EEZ và thềm lục địa của VN thuộc quyền chủ quyền của Việt Nam”, bà Phạm Lan Dung phân tích.

Công ước Luật biển 1982 cũng như Hiến chương LHQ và các quy định khác của luật pháp quốc tế đã nêu rất rõ rằng các quốc gia phải có nghĩa vụ giải quyết các tranh chấp quốc tế bằng các biện pháp hoà bình. Trong Công ước Luật biển 1982 cũng nêu rõ biện pháp đầu tiên các quốc gia cần sử dụng, đó là biện pháp đàm phán, trao đổi quan điểm. Công ước còn nêu rõ, để các quốc gia có thể sử dụng biện pháp tư pháp, có thể đưa ra toà thì các quốc gia phải đảm bảo đã thực hiện trao đổi quan điểm, đàm phán và không có hiệu quả.

Theo TS. Phạm Lan Dung, phản ứng các quốc gia trên thực địa cũng rất quan trọng. Bởi khi xảy ra những vụ việc tương tự trong vụ nhóm tàu Hải Dương 8 của Trung Quốc có những hoạt động xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam ở khu vực bãi Tư Chính, lực lượng chấp pháp các quốc gia sẽ thực hiện chức năng của mình là yêu cầu tàu khảo sát của nước ngoài ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình và ngừng các hoạt đọng thăm dò.

Trong trường hợp tàu khảo sát và hộ tống có hành vi chống đối, gây hấn lại, thì theo quy định của luật quốc tế, tàu chấp pháp của quốc gia ven biển có thể thực hiện các biện pháp vừa tự vệ vừa thực hiện chức năng của mình. Tuy nhiên Luật quốc tế cũng yêu cầu là những biện pháp của cơ quan chấp pháp phải phù hợp với luật quốc tế, phải đáp ứng được mưc độ cần thiết và tính tương xứng.

“Sau khi các quốc gia đã thực hiện đầy đủ các biện pháp đàm phán trao đổi quan điểm, các biện pháp phù hợp với luật ở thực địa thì các quốc gia ven biển có thể lựa chọn các biện pháp quy định trong Công ước”, bà Phạm Lan Dung cho biết thêm.

Đối với Việt Nam, khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo quy định trong Công ước nhưng quyền và lợi ích ở các vùng biển của Việt Nam vẫn bị vi phạm thì lúc đó có thể xem xét và xác định những vấn đề nào nằm trong những phạm vi các cơ chế, quy định mà Công ước cho phép. Ở đây, chúng ta nói đến Tòa trọng tài theo Phụ lục 7.

“Khả năng thứ 2 là Việt Nam có thể đưa ra trước các cơ quan tài phán về việc giải quyết những tranh chấp trong trường hợp mà quyền và nghĩa vụ hợp pháp của Việt Nam ở những vùng biển không có tranh chấp bị vi phạm. Đây cũng là một cách tiếp cận đem lại nhiều khả năng tòa sẽ quyết định là có thẩm quyền xét xử”.

Việt Nam cũng như bất kỳ quốc gia nào của Công ước Luật Biển đều phải cân nhắc rất cẩn trọng khi áp dụng các biện pháp tư pháp, bởi trong đó có cả những yếu tổ có thể ảnh hưởng tới lợi ích quốc gia. Nhìn vào kinh nghiệm của các nước giải quyết tranh chấp ở trong khu vực cũng như quốc tế thì thấy rằng những vụ việc như vậy thường kéo dài rất nhiều năm. Các quốc gia bị kiện cũng có thể có những hành vi gây sức ép. Những thay đổi ngay trong nội bộ của quốc gia mà chủ động kiện trong khoảng thời gian kéo dài nhiều năm có thể ảnh hưởng đến mức độ cam kết, cũng như quyết tâm chính trị. Sự đồng thuận trong nước là điều vô cùng quan trọng. Tất nhiên những yếu tố như sự chuẩn bị, đội ngũ chuyên gia pháp lý, việc phân công những cơ quan nào là cơ quan chịu trách nhiệm chính, những cơ quan phối hợp như nào… đều là những yếu tố cần phải chuẩn bị rất kỹ càng. Trong giải quyết tranh chấp, biện pháp đàm phán bao giờ cũng được coi là biện pháp hiệu quả nhất, nên được ưu tiên sử dụng nhất.

Đặc biệt, có lẽ yếu tố phải lưu ý, nhất là với đông đảo người dân, đó là việc quản trị kỳ vọng. Vì nếu hiểu luật biển thật kỹ thì chúng ta biết rằng phạm vi vấn đề được đưa ra cơ chế tài phán không phải là tất cả. Vấn đề chủ quyền rất khó để đơn phương đưa ra cơ chế giải quyết tranh chấp quốc tế. Vì vậy phải quản trị kỳ vọng và xác định với tinh thần thượng tôn pháp luật.

Các phán quyết của Tòa quốc tế dựa trên UNCLOS sẽ không kèm theo chế tài, cơ chế để thi hành. Tuy nhiên, việc một quốc gia đưa ra tuyên bố không tuân thủ một phán quyết của tòa quốc tế không làm mất đi tính ràng buộc và hiệu lực pháp lý của phán quyết đó. Đây cũng là nguyên tắc nền tảng của hệ thống pháp luật quốc tế.

“Trên thực tế, các quốc gia cân nhắc rất kỹ lưỡng, và rất hiếm trường hợp các quốc gia thực tế vi phạm các quy định của cơ quan tài phán quốc tế. Vì họ hiểu rất rõ việc không tuân thủ phán quyết ảnh hưởng như thế nào đến vị thế, uy tín của quốc gia trên trường quốc tế. Với những nguyên tắc nền tảng của hệ thống pháp luật quốc tế là phải tận tâm, thiện chí thực hiện các cam kết quốc tế, khi đã là một bên của tranh chấp, theo như quy định của Công ước mà quốc gia đó là thành viên, thì phải có nghĩa vụ thực hiện phán quyết. Việc không thực hiện phán quyết thách thức nền tảng pháp lý của trật tự quốc tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến ổn định trong quan hệ quốc tế, và ảnh hưởng ngược lại tới lợi ích của quốc gia.

Chính vì vậy, Việt Nam cũng như tất cả các quốc gia thành viên công ước thì đều ý thức được rất rõ ý nghĩa của việc tuân thủ các phán quyết này. Đây sẽ là nền tảng đảm bảo hòa bình và ổn định”, TS. Phạm Lan Dung nói.

Trong bối cảnh tranh chấp phức tạp hiện nay ở Biển Đông, việc tôn trọng và tuân thủ đầy đủ các quy định của Công ước Luật Biển 1982 càng có vai trò quan trọng trong duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở khu vực.

【#10】Vừa Chạy Vừa Xếp Hàng Ký Luật Biển 1982

Phản đối Trung Quốc đưa giàn khoan đến vùng biển của VNTàu cá Trung Quốc liên tục ép tàu cá Việt NamĐường phố Tokyo vang tiếng phản đối Trung Quốc

Những phiên họp nóng về biển

Trích hồi ký Thanh thản một cuộc đời của cựu đại sứ Võ Anh Tuấn

Năm 1973, hội nghị về Luật biển lần thứ ba được tổ chức. Đây là hội nghị kỷ lục của Liên Hiệp Quốc vì nó kéo dài đến năm 1982 mới kết thúc thành công. Thời kỳ đầu, VN vẫn đang trong tình trạng tập trung chiến tranh nên chưa thể tham gia ngay được, mặc dù là quốc gia có bờ biển dài. Đến khóa họp thứ 6 của hội nghị ở New York từ ngày 23-5 đến 15-7-1977, VN mới bắt đầu tham dự.

Hồi tưởng những ngày tham gia các phiên họp nội dung Luật biển quốc tế, ông Tuấn tâm sự đó là một trong những lần hiếm hoi vào thời kỳ ấy hội nghị quốc tế không phân biệt “phe ta, phe họ”. Trước đây, VN đi họp quốc tế thường nhìn vào “khối xã hội chủ nghĩa” để tìm sự hậu thuẫn của bạn đối với mình hoặc ngược lại. Nhưng lần này, quyền lợi chính đáng của quốc gia đã được đặt lên trên hết. Không còn phía cộng sản, tư bản gì nữa, các “nhóm quyền lợi” mới xuất hiện với các quốc gia ven biển như VN, Ấn Độ, Pháp…, nhóm quốc gia quần đảo như Nhật Bản, Indonesia, Philippines…, nhóm quốc gia không biển như Lào, Mông Cổ, Nepal…, các quốc gia có thềm lục địa rộng như Mỹ, Canada, Sri Lanka…

Bên hành lang phiên họp, đoàn còn phải tranh thủ tìm hiểu thái độ và vận động các nước khác. Tình hình VN lúc ấy rất phức tạp, khi quốc gia láng giềng là Trung Quốc từ bạn bè trở thành đối đầu với chiến tranh biên giới ác liệt. Ở Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc tranh thủ bảo vệ mình và tìm mọi cách xuyên tạc, ngăn chặn quyền lợi của chúng ta. Tuy nhiên, lúc ấy VN tuy là nước nhỏ nhưng lại đang ở thế lớn, được nhiều nước quan tâm lắng nghe, vì vừa chiến đấu và chiến thắng những đối thủ nặng ký nhất thế giới…

Ngày ký kết lịch sử

“Năm 1977 cũng là lần đầu tôi công tác ở Mỹ, đối mặt với nhiều cái khó, từ tiền bạc đến cả vấn đề an ninh, bảo mật” – ông Tuấn cười kể thời làm đại sứ ở quốc gia thân thiện như Cuba, ngoại giao đoàn VN được bạn bao cấp tất cả. Nhưng qua Mỹ, tất cả đều phải móc tiền túi trong khi đất nước đang khan hiếm ngoại tệ. Cán bộ đi nước ngoài phải tính toán tiết kiệm từng đồng. Thậm chí, có lần ông Tuấn đi trình quốc thư mà chỉ đi một mình để tiết kiệm. Chi phí ở Mỹ lại đắt đỏ, đoàn VN chỉ dám thuê vài phòng khách sạn đàng hoàng một chút để ở ghép. Khi có người trong nước qua họp hành phải nhồi người thêm. Chật chội quá thì kiếm khách sạn hạng rẻ hơn để thuê thêm vài phòng. Mọi người lúc nào cũng ăn mặc tươm tất, nhưng đâu ai biết họ đã tranh thủ mua đồ giảm giá ở vỉa hè.

An ninh ở quốc gia vừa mới chạm súng trên chiến trường cũng là vấn đề của đoàn VN. Thời kỳ đầu, phái đoàn VN bị giới hạn đi lại trong bán kính 25 dặm tính từ tòa nhà Liên Hiệp Quốc ở New York. Muốn đi xa hơn phải xin phép cụ thể.

Trải qua nhiều phiên họp căng thẳng, cuối cùng hội nghị Luật biển cũng kết thúc thành công. VN là một trong những nước đầu tiên ký Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982. Nó hoàn toàn phù hợp với đặc điểm và yêu cầu chính đáng của đất nước, bác bỏ hoàn toàn những tranh chấp chủ quyền bất hợp pháp sau này.

“Anh em ngoại giao đoàn chúng tôi đặt bút ký kết được Luật biển 1982 mà thở phào nhẹ nhõm vì cảm thấy mình đã hoàn thành trách nhiệm với Tổ quốc! Nó chính là cơ sở pháp lý được thế giới công nhận, để chúng ta bảo vệ chủ quyền chính đáng biển đảo, thềm lục địa hiện nay của mình” – ông Võ Anh Tuấn xúc động kết thúc câu chuyện.

VN đã nghiêm túc hành xử chủ quyền biển, thềm lục địa của mình đúng với những nội dung đã phê chuẩn, ký kết. Còn Trung Quốc mặc dù cũng tham gia ngay từ đầu các hội nghị, đàm phán, phê chuẩn, ký kết Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển 1982, nhưng lại đã và đang tranh chấp biển, tiến hành những đòi hỏi chủ quyền bất hợp lý, đặc biệt hoàn toàn không dựa trên công ước quốc tế này.

Tiến sĩ Nguyễn Toàn Thắng, Khoa Luật Quốc tế trường Đại học Luật Hà Nội:

Chính phủ Việt Nam có thể đứng đơn khởi kiện Trung Quốc ra Tòa án La Haye

Việt Nam và Trung Quốc đều là thành viên của Công ước Luật biển 1982. Và tuân thủ Công ước Luật biển 1982, VN đã tận tâm, thiện chí áp dụng biện pháp hòa bình thông qua trao đổi quan điểm, đàm phán với Trung Quốc để giải quyết các vấn đề phát sinh trên biển Đông.

Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận thông qua đàm phán, các bên có thể lựa chọn, theo hình thức tuyên bố bằng văn bản, một hay nhiều cơ quan tài phán sau để giải quyết tranh chấp: Tòa án luật biển quốc tế, Tòa công lý quốc tế, Tòa trọng tài, Tòa trọng tài đặc biệt. Nếu các bên không đưa ra tuyên bố lựa chọn thì được coi là chấp nhận thẩm quyền của Tòa án trọng tài.

Tuy nhiên, cả VN và Trung Quốc đều không có tuyên bố lựa chọn cơ quan tài phán nên được xác định là chấp nhận thẩm quyền của Tòa trọng tài thành lập theo phụ lục VII của công ước. Vì vậy, VN có thể khởi kiện Trung Quốc theo thủ tục trọng tài quy định.

Hiện nay, nhiều vụ tranh chấp theo phụ lục VII của Công ước Luật biển 1982 được giải quyết dưới sự bảo trợ của Tòa trọng tài thường trực La Haye (Permanent Court of Arbitration – PCA). Vì vậy trong trường hợp khởi kiện, VN có thể yêu cầu Tòa trọng tài thường trực La Haye thành lập hội đồng trọng tài để giải quyết tranh chấp.

Công ước Luật biển 1982 giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, do vậy quốc gia (với đại diện là chính phủ) mới có quyền khởi kiện. Trong trường hợp khởi kiện, VN phải có thông báo và tuyên bố khởi kiện gửi Chính phủ Trung Quốc, đồng thời yêu cầu bằng văn bản gửi Tòa trọng tài thường trực La Haye (nếu VN yêu cầu tòa thành lập hội đồng trọng tài để giải quyết vụ việc).

Ngày 25-8-2006, Trung Quốc đưa ra tuyên bố về việc sử dụng các ngoại lệ nêu trên. Vì vậy, trong trường hợp khởi kiện Trung Quốc, VN có thể tập trung vào một số yêu cầu chủ yếu sau:

* Các quyền Trung Quốc yêu sách thiết lập ở biển Đông phải tuân thủ Công ước Luật biển 1982, vì vậy yêu sách đường “lưỡi bò” là vi phạm các quy định của công ước (phần III, V, VI về lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa).

* Trung Quốc vi phạm các quy định của công ước khi hạ đặt giàn khoan và thăm dò trái phép tài nguyên trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của VN (điều 56, 60, 77).

* Trung Quốc đã vi phạm pháp luật quốc tế khi cản trở tàu thuyền của VN thực hiện quyền tài phán hợp pháp trên vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của VN.

HOÀNG ĐIỆP ghi

* Trung Quốc có trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra đối với tàu thuyền và công dân VN.