Top 1 # Xem Nhiều Nhất Luật Bhxh Vn Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Athena4me.com

Bhxh Vn Công Bố Quyết Định Nghỉ Hưu

Thực hiện Nghị quyết của Ban Cán sự Đảng và Quyết định của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam, chiều ngày 04/10/2016, BHXH Việt Nam đã công bố và trao các Quyết định nghỉ hưu, quyết định điều động, bổ nhiệm cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý các đơn vị trực thuộc cơ quan BHXH Việt Nam ở Trung ương và Lãnh đạo BHXH tỉnh, thành phố.

Bí thư Ban Cán sự Đảng, Thứ trưởng, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam dự và trao các Quyết định. Cùng tham dự còn có các Phó Tổng Giám đốc Nguyễn Đình Khương, Nguyễn Minh Thảo; Phạm Lương Sơn; Đại diện Lãnh đạo các đơn vị trực thuộc BHXH Việt Nam; Giám đốc BHXH một số tỉnh, thành phố.

Tại buổi lễ, Tổng Giám đốc Nguyễn Thị Minh đã trao quyết định nghỉ hưu cho ông Chu Đức Hoài, Vụ trưởng Vụ Quản lý đầu tư quỹ nghỉ hưu và hưởng chế độ BHXH từ ngày 01/10/2016.

Từ ngày 01/9/2016, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam bổ nhiệm có thời hạn bà Nguyễn Hải Hồng, Quyền Tổng Biên tập Báo BHXH giữ chức vụ Tổng Biên tập Báo BHXH; ông Đàm Lực Sỹ, Phó Giám đốc, phụ trách BHXH tỉnh Sóc Trăng, giữ chức vụ Giám đốc BHXH tỉnh Sóc Trăng.

Từ ngày 01/10/2016, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam điều động và bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Vinh Quang, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Quản lý đầu tư quỹ; bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Tiến Thành, Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế; điều động và bổ nhiệm có thời hạn ông Hồ Minh Thế, Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư và Xây dựng Ngành BHXH giữ chức vụ Vụ trưởng Vụ kiểm toán nội bộ; điều động và bổ nhiệm có thời hạn ông Phạm Quốc Thái, Phó Vụ trưởng Vụ Kiểm toán nội bộ giữ chức vụ Giám đốc Ban Quản lý dự án Đầu tư và Xây dựng Ngành BHXH; điều động và bổ nhiệm có thời hạn ông Phạm Xuân Toan, Phó Trưởng Ban Sổ – Thẻ thuộc BHXH Việt Nam giữ chức vụ Giám đốc BHXH tỉnh Bình Thuận; điều động và bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Mạnh Tú, Phó Giám đốc BHXH tỉnh Khánh Hòa giữ chức vụ Giám đốc BHXH tỉnh Ninh Thuận.

Cũng từ ngày 01/10/2016, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam điều động và bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Hữu Thành, Phó Giám đốc BHXH tỉnh Thái Nguyên giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Kiểm toán nội bộ; điều động và bổ nhiệm có thời hạn ông Phan Đình Trinh, Phó Hiệu trưởng Trường Đào tạo nghiệp vụ BHXH giữ chức vụ Phó Giám đốc BHXH tỉnh Quảng Bình; bổ nhiệm có thời hạn bà Trần Thị Thu Trà, Trưởng phòng Tổng hợp – ASEAN thuộc Vụ Hợp tác quốc tế giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế; bổ nhiệm có thời hạn ông Nguyễn Hòa Bình, Trưởng phòng Thẩm định văn bản thuộc vụ Pháp chế giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế; điều động và bổ nhiệm có thời hạn bà Bùi Thanh Mai, Trưởng phòng Giải quyết khiếu tố thuộc Vụ Thanh tra – Kiểm tra giữ chức vụ Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế; điều động và bổ nhiệm có thời hạn bà Đinh Mai Hạnh, Trưởng phòng Quản lý chi bảo hiểm thuộc Vụ Tài chính – Kế toán giữ chức vụ Phó Trưởng Ban Sổ – Thẻ; điều động và bổ nhiệm có thời hạn ông Võ Thành Trung, Trưởng phòng Giám định BHYT thuộc BHXH tỉnh Bình Thuận giữ chức vụ Phó Giám đốc BHXH tỉnh Ninh Thuận; bổ nhiệm có thời hạn bà Nguyễn Thị Thanh Xuân, Trưởng phòng Giám định BHYT thuộc BHXH tỉnh Hậu Giang giữ chức vụ Phó Giám đốc BHXH tỉnh Hậu Giang; bổ nhiệm có thời hạn bà Lê Thị Bình, Trưởng phòng Giám định BHYT thuộc BHXH tỉnh Bến Tre giữ chức vụ Phó Giám đốc BHXH tỉnh Bến Tre.

Phát biểu tại buổi lễ trao quyết định, Thứ trưởng, Tổng Giám đốc trân trọng cảm ơn đồng chí Chu Đức Hoài, qua quá trình công tác, đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có nhiều đóng góp cho Ngành BHXH. Tổng Giám đốc mong muốn khi được nghỉ hưu hưởng chế độ BHXH, đồng chí Chu Đức Hoài tiếp tục có những đóng góp thiết thực cho ngành BHXH.

Với các đồng chí được điều động, bổ nhiệm, Thứ trưởng, Tổng Giám đốc Nguyễn Thị Minh bày tỏ sự tin tưởng vào năng lực, quá trình phấn đấu của các đồng chí.

Tổng Giám đốc nhấn mạnh, công tác của ngành luôn luôn gắn với dân, giải quyết chế độ chính sách cho nhân dân nên trên cương vị mới các đồng chí cần tiếp tục học hỏi không chỉ những kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ mà còn cả những kiến thức về pháp luật, nỗ lực phấn đấu, trau dồi kiến thức nghiệp vụ và kỹ năng quản lý để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, góp phần xây dựng Ngành BHXH ngày càng vững mạnh, phát triển.

Theo nguồn: http://www.baohiemxahoi.gov.vn/

Tham khảo đăng ký chữ ký số VNPT.

Thẩm Quyền Quyết Định Nâng Bậc Lương Thường Xuyên Đối Với Công, Viên Chức Và Người Lao Động Thuộc Bhxh Vn

Xin chào Ban biên tập, tôi là Anh Kiệt, tôi hiện đang sống và làm việc tại Bình Định. Tôi hiện đang tìm hiểu về việc nâng bậc lương đối với công chức, viên chức trong hệ thống BHXH. Vậy Ban biên tập cho tôi hỏi ai có thẩm quyền quyết định nâng bậc lương thường xuyên đối với công, viên chức và người lao động thuộc BHXH VN? Vấn đề này được quy định cụ thể tại văn bản nào? Mong Ban biên tập giải đáp giúp tôi. Chân thành cảm ơn và chúc sức khỏe Ban biên tập.

Thẩm quyền quyết định nâng bậc lương thường xuyên đối với công, viên chức và người lao động thuộc hệ thống BHXH Việt Nam được quy định tại Điều 4 Quy chế nâng bậc lương thường xuyên và nâng bậc lương trước thời hạn đối với công, viên chức và người lao động thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành kèm theo Quyết định 1377/QĐ-BHXH năm 2013 như sau:

1. Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định nâng bậc lương thường xuyên đối với:

a) Trưởng ban, Phó Trưởng ban; Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng; Viện trưởng, Phó Viện trưởng; Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng; Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm; Tổng biên tập, Phó Tổng biên tập; Trưởng đại diện, Phó Trưởng đại diện; Giám đốc, Phó Giám đốc Ban quản lý dự án (sau đây gọi chung là Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam); công chức, viên chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương thuộc các tổ chức giúp việc Tổng Giám đốc, các đơn vị sự nghiệp trực thuộc và các đơn vị trực thuộc khác (sau đây gọi chung là các đơn vị trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam).

b) Giám đốc, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Bảo hiểm xã hội tỉnh); công chức, viên chức ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh.

2. Trưởng Ban Tổ chức cán bộ quyết định nâng bậc lương thường xuyên đối với: Trưởng phòng và tương đương trở xuống; viên chức ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống; người lao động thuộc các đơn vị trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam (trừ các đơn vị sự nghiệp trực thuộc).

3. Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp trực thuộc Bảo hiểm xã hội Việt Nam quyết định nâng bậc lương thường xuyên đối với Trưởng phòng và tương đương trở xuống; viên chức ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống; người lao động thuộc đơn vị.

4. Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh quyết định nâng bậc lương thường xuyên đối với Trưởng phòng, Giám đốc Bảo hiểm xã hội huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Bảo hiểm xã hội huyện) trở xuống; viên chức ngạch chuyên viên chính và tương đương trở xuống; người lao động thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh.

Trân trọng!

Luật Bhxh Mới Nhất Năm 2022

1. Chế độ thai sản đối với nam

Từ ngày 01/01/2016, Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội khi vợ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản như sau:

– 05 ngày làm việc với trường hợp sinh thường;

– 07 ngày làm việc với trường hợp sinh phẫu thuật, sinh con dưới 32 tuần tuổi;

– Trường hợp sinh đôi thì được nghỉ 10 ngày làm việc, từ sinh 3 trở lên cứ thêm mỗi con thì nghỉ thêm 3 ngày làm việc;

– Trong trường hợp sinh đôi trở lên mà phải phẫu thuật thì được nghỉ 14 ngày làm việc.

Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ này được tính trong khoảng thời gian 30 ngày đầu kể từ ngày vợ sinh con.

Nội dung trên được quy định tại Luật Bảo hiểm xã hội 2014.

2. Chính sách mới về bảo hiểm xã hội một lần

Từ 01/01/2016, Nghị quyết 93/2015/QH13 về thực hiện chính sách hưởng BHXH một lần đối với người lao động sẽ có hiệu lực. Theo đó:

– Người lao động được bảo lưu thời gian đóng BHXH để đủ điều kiện hưởng lương hưu nhằm bảo đảm cuộc sống khi hết tuổi lao động.

– Trường hợp người lao động tham gia BHXH bắt buộc sau 01 năm nghỉ việc, người tham gia BHXH tự nguyện sau 01 năm không tiếp tục đóng BHXH mà chưa đủ 20 năm đóng BHXH khi có yêu cầu thì được nhận BHXH một lần.

Bên cạnh đó Nghị quyết 93/2015/QH13 cũng quy định mức hưởng BHXH một lần đối với người đóng BHXH bắt buộc và tự nguyện, cụ thể cứ mỗi năm được tính như sau:

– 1,5 tháng mức bình quân tiền lương tháng hoặc thu nhập tháng đóng BHXH cho những năm đóng trước năm 2014.

– 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng hoặc thu nhập tháng đóng BHXH cho những năm đóng từ năm 2014 trở đi.

3. Hướng dẫn điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH

Nghị định 115/2015/NĐ-CP hướng dẫn điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH như sau:

Nghị định 115/2015/NĐ-CP hướng dẫn điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH như sau:

– Đối với người lao động (NLĐ) thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định:

+ Đối với NLĐ bắt đầu tham gia BHXH trước ngày 01/01/2016: Được điều chỉnh theo mức lương cơ sở tại thời điểm hưởng chế độ.

+ Đối với NLĐ bắt đầu tham gia BHXH từ 01/01/2016 trở đi: Thực hiện tương tự trường hợp NLĐ theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định.

– Đối với NLĐ theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quy định thì tiền lương đã đóng BHXH để làm căn cứ tính mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH được điều chỉnh theo công thức sau:

Tiền lương tháng đóng BHXH sau điều chỉnh của từng năm = Tiền lương tháng đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định của từng năm x Mức điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH của năm tương ứng

Nghị định 115/2015/NĐ-CP có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 trừ Điểm b Khoản 1 Điều 2 Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

4. Bổ sung tài khoản kế toán cho DN bảo hiểm nhân thọ

Từ ngày 01/01/2016, kế toán áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, doanh nghiệp tái bảo hiểm (gọi tắt là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ) sẽ áp dụng theoThông tư 199/2014/TT-BTC.Theo đó:

– Bổ sung các tài khoản kế toán so với chế độ kế toán hiện hành để áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như: tài khoản 337, 416, 624, tài khoản cấp 2 của TK 128, 244…

– Đổi tên một số tài khoản kế toán đã ban hành tại chế độ kế toán hiện hành để áp dụng cho doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ như: tài khoản 531, 532…

– Không sử dụng một số tài khoản kế toán đã ban hành tại chế độ kế toán hiện hành như: tài khoản 154, 155, 157, 158…

Ngoài ra, Thông tư còn quy định về nguyên tắc, phương pháp hạch toán, mẫu báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp này.

Những nội dung kế toán không hướng dẫn trong Thông tư này thì thực hiện theo quy định tại chế độ kế toán doanh nghiệp hiện hành.

5. 62 loại bệnh chỉ cần xin giấy chuyển tuyến 1 lần/năm

Từ ngày 01/01/2016, 62 loại bệnh Quy định tại Thông tư 40/2015/TT-BYT chỉ cần xin giấy chuyển tuyến 1 lần/năm.

Thông tư 40/2015/TT-BYT thay thế cho Thông tư 37/2014/TT-BYT.

6. Quy định về mẫu sổ BHXH từ năm 2016

Theo Quyết định 1035/QĐ-BHXH về mẫu sổ BHXH và hướng dẫn ghi sổ BHXH đối với cơ quan BHXH, người sử dụng lao động và người tham gia BHXH.

Nhìn chung, mẫu sổ BHXH năm 2016 sẽ không có nhiều thay đổi về phôi sổ, màu sắc sổ, kích thước, chất liệu giấy.

Về nội dung các tiêu thức quản lý người tham gia BHXH có một số điểm mới như:

– Phải ghi quốc tịch của người tham gia.

– Về trường hợp ghi Số Chứng minh nhân dân: Trường hợp người tham gia vừa có chứng minh nhân dân, hộ chiếu, thẻ căn cước thì ghi theo thứ tự ưu tiên chứng minh nhân dân, hộ chiếu, thẻ căn cước.

– Sổ BHXH mới không cần các thông tin về Hộ khẩu thường trú; tên đơn vị và địa chỉ nơi đóng BHXH.

Sổ BHXH đã cấp theo mẫu quy định tại các Quyết định 1443/LĐTBXH, Quyết định 3339/QĐ-BHXH và Quyết định 1518/QĐ-BHXH tiếp tục được sử dụng để giải quyết các chế độ BHXH.

Quyết định 1035/QĐ-BHXH có hiệu lực từ 01/01/2016 và thay thế Quyết định 1518/QĐ-BHXH năm 2011; Quyết định 3339/QĐ-BHXH năm 2008.

7. Quy định mới về mã số ghi trên thẻ bảo hiểm y tế

Ngày 16/11/2015, Bảo hiểm xã hội Việt Nam ban hành Quyết định 1351/QĐ-BHXH về mã số ghi trên thẻ bảo hiểm y tế (BHYT) thay thế Quyết định 1314/QĐ-BHXH năm 2014.

Theo đó, mã số ghi trên thẻ BHYT có một số thay đổi như sau:

– Mã thẻ BHYT gồm 15 ký tự, được chia thành 04 ô:

Ô thứ nhất là mã đối tượng tham gia BHYT.

Ô thứ 2 là mức hưởng BHYT.

Ô thứ 3 là mã tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nơi phát hành thẻ BHYT.

Ô thứ 4 là số định danh cá nhân của người tham gia BHXH, BHYT quy định tạiQuyết định 1263/QĐ-BHXH năm 2014.

– Mã nơi đối tượng sinh sống, gồm 02 ký tự ký hiệu vừa bằng chữ vừa bằng số, trong đó:

Đối tượng có ký hiệu là QN, CA, CY đang công tác hoặc cư trú (thường trú hoặc tạm trú) thường xuyên tại vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn hoặc xã đảo, huyện đảo, được ghi mã nơi đối tượng sinh sống tương ứng với ký hiệu K1, K2, K3 tại Quyết định này.

Quyết định 1351/QĐ-BHXH có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.

8. Quy định về thu tiền lãi chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN

Theo Quyết định 60/2015/QĐ-TTg thì việc thu tiền lãi chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN như sau:

– Trường hợp chậm đóng BHYT từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu bằng 02 lần mức lãi suất thị trường liên ngân hàng kỳ hạn 9 tháng do Ngân hàng NNVN công bố năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng.

Trường hợp lãi suất liên ngân hàng năm trước liền kề không có kỳ hạn 9 tháng thì áp dụng theo mức lãi suất của kỳ hạn liền trước kỳ hạn 9 tháng.

– Trường hợp trốn đóng, chậm đóng, chiếm dụng tiền đóng, hưởng BHXH, BHTN từ 30 ngày trở lên, số tiền lãi phải thu bằng 02 lần mức lãi suất đầu tư quỹ BHXH, BHTN bình quân của năm trước liền kề tính trên số tiền, thời gian chậm đóng.

– Trong thời hạn 15 ngày đầu của tháng 01 hằng năm, BHXHVN phải có văn bản thông báo mức lãi suất bình quân theo tháng trên cơ sở mức lãi suất bình quân quy định nêu trên gửi cơ quan BHXH trực thuộc, BHXH Bộ Quốc phòng, BHXH Bộ Công an để thống nhất thực hiện.

Quyết định 60/2015/QĐ-TTg có hiệu lực thi hành từ ngày 15/01/2016 và áp dụng từ năm ngân sách năm 2016.

9. Chi phí quản lý BHXH, BHTN

Ngày 16/12/2015, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết 1083/2015/UBTVQH13 về chi phí quản lý BHXH, BHTN giai đoạn 2016 – 2018 và việc ngân sách nhà nước chuyển kinh phí vào quỹ bảo hiểm xã hội.

Theo đó, Chi phí quản lý BHXH, BHTN giai đoạn 2016 – 2018 được thực hiện như sau:

– Mức chi phí quản lý BHXH hằng năm bằng 2,3% dự toán thu, chi BHXH, được trích từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư từ quỹ BHXH;

– Mức chi phí quản lý BHTN hằng năm bằng 2,3% dự toán thu, chi BHTN, được trích từ quỹ BHTN.

Nghị quyết này có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.

Dân Ca Dân Nhạc Vn

Chào các bạn,

Tiếp theo ” Hát Chèo”, hôm nay mình giới thiệu đến các bạn bộ môn “Ca Trù”, một bộ môn dân ca cổ truyền lâu đời cũng độc đáo không kém với các bộ môn dân ca khác trong Dân ca Dân nhạc Việt Nam.

Ca Trù, còn được gọi là: Hát Ả Đào, Hát Cô Đầu, Hát Nhà Trò, Hát Cửa Đình, Hát Cửa Quyền, Hát Nhà Tơ, là bộ môn nghệ thuật mang tính hàn lâm, được nuôi dưỡng giữ gìn trong dân gian suốt 10 thế kỷ qua. Nhiều làng quê ở các tỉnh, thành thuộc đồng bằng Bắc bộ như Hà Nội (Phường Thái Hà), Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc… là những cái nôi của các làn điệu Ca Trù. Làng Lỗ Khê (Đông Anh – Hà Nội) dân cả làng làm nghề hát Ca Trù, kể cả khu vực Bắc miền Trung là làng Cổ Đạm – Hà Tỉnh.

Thưởng thức Ca Trù là thưởng thức Thơ và Nhạc. Trong lối hát Ca Trù, cả người hát, người đàn, người thưởng thức đều tham gia cuộc hát. Họ phối hợp ăn ý với nhau và cũng làm cho Nhạc và Thơ hoà quyện vào nhau, đưa cuộc hát đạt đến sự hoàn hảo, tao nhã, trang trọng.

Ca Trù là một lối hát cổ truyền của người Việt. Tên gọi Ca Trù cũng đã được tài liệu cổ ghi nhận. Trên các tài liệu Hán Nôm chữ ” Trù” trong ” Ca Trù” đều dùng chữ ” Trù“. Theo đó “Trù” là thẻ làm bằng tre, trên thẻ có ghi số tiền (hoặc quy định ngầm với nhau là mỗi thẻ tương ứng với một khoản tiền), dùng để thưởng cho đào và kép ngay trong khi biểu diễn thay cho việc thưởng bằng tiền mặt; cuối chầu hát sẽ căn cứ vào số thẻ mà tính tiền trả cho đào và kép hoặc giáo phường. Người quyết định việc thưởng này chính là vị quan viên (khách nghe hát), sử dụng Trống Chầu (gọi là Cầm Chầu). Đó là nguồn gốc của tên gọi Ca Trù; cũng là thuật ngữ sử dụng trong chuyên khảo này. Tuy nhiên Ca Trù, với ý nghĩa là một lối hát có dùng thẻ để thưởng như đã nói ở trên thì chỉ có ở hát Ca Trù ở đình đền, tức là Hát Thờ.

Ca Trù sử dụng ba nhạc khí đặc biệt (không chỉ về cấu tạo mà còn về cách thức diễn tấu) là đàn đáy, phách và trống chầu. Về mặt văn học Ca Trù làm nảy sinh một thể loại văn học độc đáo là Hát Nói. Đây là một bộ môn nghệ thuật ca nhạc “thính phòng” được hình thành trên nền tảng âm nhạc dân gian Bắc Bộ, người nghe cũng tham gia vào cuộc hát bằng việc Cầm Chầu. Ca Trù còn có những cái tên khác như: Hát Cửa Đình, Hát Nhà Trò (hát ở đình, đền, miếu), Hát Cửa Quyền (trong cung phủ), Hát Nhà Tơ (hát ở dinh quan, tư gia các gia đình quyền quý), Hát Ả Đào, Hát Cô Đầu (hát ở các ca quán)…

Nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định Ca Trù là một bộ môn nghệ thuât lâu đời, độc đáo và có ý nghĩa đặc biệt trong kho tàng ca nhạc của người Việt Nam. Ca Trù gắn liền với lễ hội, phong tục, tín ngưỡng, văn chương, âm nhạc, tư tưởng, triết lý sống của người Việt. Do vậy nghiên cứu Ca Trù cũng là góp phần vào việc nghiên cứu các giá trị truyền thống trong văn hóa Việt Nam.

Ca Trù là một DI SẢN VĂN HÓA ĐẶC SẮC của Việt Nam. Đặc sắc ở sự phong phú làn điệu, thể cách, cả không gian, thời gian biểu diễn và phương thức thưởng thức; đặc sắc còn vì từ cội nguồn nó gắn bó mật thiết với lễ nghi, phong tục, với sinh hoạt cộng đồng. Ca Trù làm người ta nhớ tới những tao nhân mặc khách với lối chơi ngông, chơi sang, rất tinh tế và giàu cá tính sáng tạo của những danh nhân như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Chu Mạnh Trinh, Tản Đà… Và cùng với đó là mối quan hệ giữa văn nhân (nhà thơ, nhà báo, họa sĩ) với Ả đào – mối quan hệ quan trọng nhất của lối thưởng thức Ca Trù. Bởi quá trình tham gia sinh hoạt Ca Trù là quá trình văn nhân sáng tạo, thể nghiệm và thưởng thức các tác phẩm của mình.

Sau năm 1945, trong một thời gian khá dài sinh hoạt Ca Trù vốn tao nhã và sang trọng trước đây đã bị hiểu lầm và đánh đồng với các sinh hoạt thiếu lành mạnh ở một số ca quán đô thị khiến cho xã hội chối bỏ và quyết loại sinh hoạt Ca Trù ra khỏi đời sống văn hóa. Ca Trù đã không được nuôi dưỡng và phát triển một cách tự nhiên, không được tôn vinh đúng mức, phải chịu tồn tại thiếu sinh khí và tàn lụi. Nhiều nghệ nhân, nghệ sĩ đã phải cố quên đi nghiệp đàn hát và giấu đi lai lịch của mình.

Khoảng chục năm trở lại đây dư luận xã hội và các cơ quan thông tấn báo chí đã từng lên tiếng về nguy cơ thất truyền của Ca Trù. Nguy cơ mai một dần và vĩnh viễn mất đi Ca Trù là một nguy cơ có thực, đòi hỏi chúng ta phải nhanh chóng sưu tầm, nghiên cứu, bảo tồn Ca Trù như một vốn quý văn hóa của dân tộc. Do vậy việc cung cấp những hiểu biết sâu hơn và có căn cứ về một số vấn đề của Ca Trù, không những góp phần đáp ứng yêu cầu cấp thiết ấy mà còn góp phần vào việc phục hồi và chấn hưng nghệ thuật và sinh hoạt Ca Trù.

Tiếp theo mình có: 1 clip “Giới thiệu nghệ thuật Ca Trù”, 4 clips xuất sắc tiêu biểu của cụ Quách Thị Hồ, và 10 clips “Ca Trù” của Viện Âm Nhạc VN, do các nghệ nhân trẻ điêu luyện hiện nay trình diễn để các bạn tiện việc tham khảo và thưởng thức.

Trong các clips mình giới thiệu đến các bạn có clip của NSND Thanh Hoài trình diễn bài “Tống Biệt” của Tản Đà trong phim “Mê Thảo Thời Vang Bóng” tuyệt hay nên mình kèm theo clip phim này để các bạn cùng xem cho vui.

Mời các bạn.

Túy Phượng

(Theo Viện âm nhạc VN và vietsciences.org)

P.S. Tháng 10. 2009 cùng với “Hát Quan Họ”, “Ca Trù” được UNESCO công nhận là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”.

Giải Nghĩa Một Số Khái Niệm Trong Hát Ca Trù (Nguyễn Đức Mậu)

(VHNA): Xứ Nghệ tự hào là một cái nôi của hát Ca trù – di sản phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp theo xác định của UNESCO. Cổ Đạm(Nghi Xuân – Hà Tĩnh đã nổi tiếng với tư cách là nơi phát tích của Ca trù. Nguyễn Công Trứ cũng là một người Nghệ đã trở thành nghệ sỹ tài danh muôn đời vì đã làm cho Ca trù sang trọng và sáng láng trí tuệ trong không gian thẩm mỹ tinh tế và thăng hoa. Thế nhưng không phải đã có nhiều người có được những hiểu biết cơ bản về nó. VHNA giới thiệu các khái niệm cơ bản trong/của hát Ca trù để có thể giúp ích cho những người chưa có điều kiện biết vì như chúng ta đã biết: Ca trù đã từng bị phũ phàng và mai một khá lâu…

Đại Việt sử kí tòan thư, ghi về năm 1025, rằng “khi ấy có con hát là Đào thị, giỏi nghề hát, thường được ban thưởng. Người bấy giờ hâm mộ tiếng của Đào thị, phàm các con hát đều gọi là đào nương”[1]

Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ cũng nói rằng thời Lý thái tổ (1010-1028) có người ca nhi tên là Đào Thị tài giỏi, hát hay được vua ban thưởng, từ đó về sau những người đi hát được gọi là đào nương (tức ả đào), nhưng Công dư tiệp ký lại nói, vào một thời điểm muộn hơn, cuối nhà Hồ (1400-1407) một ca nhi họ Đào( cũng là họ Đào), ở làng Đào Đặng, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, giết được nhiều giặc Minh, về sau dân làng ở đây lập đền thờ, gọi thôn của nàng là thôn ả Đào, và cũng từ đó ca nhi được gọi là ả đàọ Về sau, quãng cuối thế kỷ XIX, đặc biệt là nửa đầu thế kỷ XX, ả đào thường được gọi là cô đầu.

Ca trù

Ca trù là một khái niệm chỉ một lối hát mà trong nó có rất nhiều điệu hát( theo thống kê của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề thì ca trù có 46 điệu): thét nhạc, non mai, hồng hạnh, hát nói,…Trong cách hiểu thông thường, khái niệm ca trù có thể được thay thế bằng các khái niệm khác như hát ả đào, hát nhà trò, hát cô đầu, hát nhà tơ,…mà nội dung của chúng không thay đổi và vẫn được hiểu như nhaụ ở Thanh Hóa ca trù còn được gọi là hát ca công, hát gõ. Về nghiã chữ thì ca trù xưa nay được giải thích là hát thẻ. Thẻ gọi là trù.Thẻ làm bằng tre và dùng để thưởng cho đào hát thay cho trả tiền mặt trực tiếp. Khi ả đào hát, quan viên thị lễ, một bên đánh trống,một bên đánh chiêng, trống đánh chát và chiêng đánh một tiếng khi thấy hát hay thì thưởng cho đào một thẻ trù, xong tiệc hát đào, kép ứng theo số thẻ đã được thưởng mà tính tiền, nhận tiền đúng theo quy định. Một số văn bia thế kỷ XVI, XVII ghi rõ qui định nàỵ Khái niệm ca trù sớm nhất hiện biết là thế kỷ XVI trong bài Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn của Lê Đức Mao.

Cầm chầu

Đánh trống cho ả đào hát gọi là cầm chầu. Dùi trống, làm bằng gỗ quý, gọi là roi chầu. Cầm chầu là tham gia vào ban nhạc, nghĩa là cũng có khổ, có tiếng trống khoan, trống mau như đàn và phách. Người quan viên cầm chầu ngoài chức năng tham gia ban nhạc với vai trò cầm quyền âm nhạc, còn có nhiệm vụ quan trọng là chấm thưởng mỗi khi đào nương hát hay hoặc hát đến câu văn hay, chữ hay, ý hay và còn chấm cả đàn hay, phách hay… Các khái niệm thưởng chữ, thưởng hơi, thưởng ý, thưởng đàn, thưởng phách xuất hiện vì những lý do như vậỵ Người cầm chầu đánh “cắc” là chấm thưởng. Tiếng trống thể hiện tính cách và khả năng âm nhạc, văn học của người cầm chầu. Điểm thưởng phải tinh, phải đích xác, không thưởng sai, không thưởng liều. Trước khi vào hát dùng ba khổ trống sơ cổ, tòng cổ, trung cổ; khi chuẩn bị hát, để dục đào, kép vào hát, thì dùng thôi cổ, khi hát dùng các khổ song châu, liên châu, xuyên tâm, chính diện, phi nhạn, lạc nhạn, quán châu.

Cô đầu nòi

Theo Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề thì “những con hát ở trong họ truyền thống gọi là Cô đầu nòi. Người ngoài muốn học nghề hát phải làm con nuôi một người trong họ truyền thống (nhà nòi) mới được giáo phường công nhận” [2]

Cô đầu rượu

Quãng cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX xuất hiện khái niệm “cô đầu rượu” để chỉ các cô gái đến hầu khách, tiếp rượu hoặc uống rượu để mua vui cho khách nhưng không biết hát. Khái niệm này được dùng với thái độ phê phán.

Đàn đáy

Đàn đáy là một nhạc cụ đặc trưng cho lối hát ca trù, còn gọi là vô để cầm, nghĩa là đàn không đáy. Đàn có ba dây, 11 phím, thùng vuông, thân đàn dài. Tiếng đàn phải theo tiếng hát, hát cao thì đàn cao, hát thấp thì đàn thấp. Đàn có hai cách là đàn khuôn và đàn hàng hoa. Theo Sự tích tổ cô đầu (theo VNCTBK) thì truyền thuyết kể rằng Đinh Lễ, thời Lê, quê Cổ Đạm, Hà Tĩnh, chế tạo ra đàn đáy. Bộ sử lớn là Đại Việt sử ký toàn thư, trong danh sách được liệt kê, không thấy có đàn đáy trong khi có nhiều loại đàn khác, có thể thời kỳ này chưa có đàn đáy hoặc đã có nhưng chưa được chú ý đến.

Đầu thưởng, vai thưởng, nách thưởng.

Khái niệm này ít được các sách nói đến. Xuân Lan trong bài Nói về phép đi hát và phép đánh trống, in trong cuốn Ca trù thể cách, xuất bản năm 1922, viết: ” Hát có địa thế, như câu rằng: ” Minh quân lương tể tao phùng dị”, lại như là: ” Trương Lương bản vị hàn cừu xuất“. Những câu ấy, chữ nào chữ nấy phải hát cho rõ ràng, đứng đắn, vuông tròn, không khoan, không gấp, không cách nhỡ, mấy la hảo địa bộ, thời cũng nên thưởng. Thưởng những câu ấy, thời ca công gọi là đầu thưởng.

Hát cũng có tiếp tục, như câu rằng: “ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy cũng buồn cười, thôi công đâu chuốc lấy sự đời, tiêu khiển một vài chung lếu láo. Thế thời, Cảnh phù du, ba chữ ấy là chốn tiếp, thôi công đâu, ba chữ ấy là chốn tục. Những chữ ấy bắt cho khéo và hay thời cũng nên thưởng; mà thưởng vào chốn tiếp thời ca công gọi là vai thưởng; gọi vào chốn tục gọi là nách thưởng “.

Đủ khổ, dôi khổ, thiếu khổ

Một bài hát nói gồm ba khổ: khổ đầu, khổ giữa, khổ xếp. Khổ đầu và khổ giữa mỗi khổ có 4 câu, khổ xếp nằm ở vị trí cuối bài có 3 câu. Cấu trúc một bài hát nói đầy đủ 11 câu, trừ phần mưỡu, gọi là một bài hát đủ khổ, trên 11 câu là dôi khổ, chưa đủ 11 câu gọi là thiếu khổ. Hai khổ đầu, khổ xếp luôn luôn giữ nguyên, dôi hay thiếu khổ chỉ xảy ra ở khổ giữa.

Giáo phường

Giáo phường là một tổ chức của hát ca trù gồm nhiều họ. Cô đầu và kép từng vùng đều có một tên họ riêng, đào, kép ở họ nào mang tên họ ấy kèm theo tên của mình. Các tác giả Việt Nam ca trù biên khảo nói rằng giáo phường trước kia có những họ như họ Tam, họ Ngàn, họ Thông, họ Thiên và tên họ đứng trước tên người, ví dụ, tên là Thuận thuộc họ Thông thì gọi Thông Thuận. Người đứng đầu trong giáo phường gọi là ông trùm. Đứng đầu các trùm là các quản giáp. Giáo phường có hệ thống quy ước mà các thành viên phải thực hiện. Hằng năm tế tổ vào ngày 11 tháng Chạp, sau ngày lễ tế tổ thì ông trùm giải quyết những công việc nảy sinh trong giáo phường. Nơi lễ tế tổ không cố định, có thể làm ở nhà thờ, hoặc mượn đình của xã để làm lễ. Khi làm lễ có đủ mặt các đào nương, kép hát, hát đủ các điệu và đặt tiệc mời khách quí chứng giám, thường gọi là đám thánh sự. Giáo phường còn được hiểu là nơi dạy những người đi hát. Các tỉnh đều có giáo phường. Thăng Long ngày xưa có thôn Giáo Phường thuộc tổng Tả Nghiêm (sau đổi là Kim Liên). Cũng có thể cho rằng giáo phường là một tổ chức nghề nghiệp vừa có tính chất phường hội.

Hãm

Hãm là điệu hát của ca trù, hát ngâm hãm để chuốc rượu chúc mừng trong các tiệc vui hoặc tiệc mừng thọ. Khúc hát hãm có từ một mừng đến mười mừng. Cô đầu hát hãm để mời khách uống rượu, đặt quan viên vào tình thế phải uống. Nội dung và tiếng hát, câu hát trong tiệc mừng thọ phải mang tính chất vui và trang trọng và trong các cuộc vui với khách phong lưu phải có nét tình tứ.

Hát ả đào

Cũng như khái niệm ca trù, hát ả đào là tên gọi chung của rất nhiều điệu hát và có thể thay thế các khái niệm như ca trù, hát cô đầu, hát nhà trò,…Đó là những tên gọi khác nhau của cùng một nội dung. Thời điểm xuất hiện các tên gọi khác nhau có thể xuất phát từ những lý do lịch sử khác nhaụ Theo các thư tịch hiện biết thì khái niệm hát ả đào sớm nhất so với các khái niệm ca trù, nhà trò, cô đầu,…Các sách Việt sử tiêu án của Ngô Thời Sỹ, Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề tuy nói khác nhau về thời gian xuất hiện khái niệm hát ả đào mấy thế kỷ(nhà Lý và nhà Hồ) nhưng đều nói đến một lý do giống nhau là có một ca nhi họ Đào được ái mộ nên về sau những người ca hát được gọi là ả đàọ Thông tin về sự xuất hiện khái niệm được biết như thế nhưng các điệu hát thời đó như thế nào thì vẫn chưa có tư liệu nào cung cấp cho chúng ta, kể cả sự hiện diện dưới hình thức dấu hiệu ở một vài tư liệu hiện có. Thành tựu nghiên cứu cho đến nay vẫn chưa có cách giải thích khác về khái niệm ả đào.

Hát cô đầu

Hai khái niệm hát ả đào và hát cô đầu là cùng một nghĩa, một nội dung. Đào và đầu là hiện tượng chuyển hóa ngữ âm giữa tiếng Hán Việt sang tiếng Hán Việt Việt hóa, hay còn được gọi là thuần Việt. (Âm đầu Ao-au, âu như đào sẽ thành đầu, tạo sẽ thành tậu,… Hay ai- ay như trai thành chay, trái thành vay, hài thành giày,…)

Khái niệm hát cô đầu được dùng nhiều vào cuối thế kỉ XIX, đầu XX.

Hát cửa đình

Hát cửa đình là cuộc hát được tổ chức tại đình làng hàng năm.Thời điểm tổ chức là vào ngày mở hội tế thần, tế thành hoàng làng. Luật lệ hát rất chặt chẽ, nghiêm khắc, nghi lễ hát linh thiêng trọng thể. Khi hát ả đào phải nhịp theo các tiết mục hành lễ và các động tác của người tế. Ả đào phải hát đúng cửu khúc như Nguyên hòa khúc, Thái hoà khúc,… Các bài hát cửa đình gồm giáo trống, giáo hương, dâng hương, thét nhạc, hát giai,… Đặc điểm của hát cửa đình là uy nghi, nghiêm kính,thiêng liêng.

Hát cửa quyền

Hát cửa quyền xưa nay được hiểu là hát ở trong cung vua, nghĩa là nơi hát, địa điểm hát góp phần tạo tên gọi lối hát. Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút (mục Bàn về âm nhạc) mô tả sự khác nhau giữa hát ở cửa quyền và hát ngoài giáo phường: “Hát ở trong cung, tục gọi là hát cửa quyền, giọng hát uyển chuyển, dịu dàng, thanh nhã hơn giọng hát ở ngoài chốn giáo phường. Nhưng âm luật cũng không khác mấy”. Hát cửa quyền, theo nhiều sách thì, ngày xưa có quan chuyên trách, có các quy định, phép tắc, sau đó bỏ dần và pha lẫn với hát ngoài giáo phường.

Hát nhà tơ

Hát nhà tơ là tên gọi khác của hát ca trù, hát ả đào,… So với các khái niệm khác, trong các tư liệu hiện đang lưu hành, thì khái niệm hát nhà tơ vào loại ít được dùng đến. Nghĩa là tính phổ biến của nó không rộng. Chúng ta cũng chưa có tư liệu để xác định thời điểm ra đời của khái niệm nàỵ Các tác giả Việt Nam ca trù biên khảo nói rằng ngày xưa các quan khi yến tiệc trong dinh, trong ty thì mời ả đào về hát. Ty theo ông nghĩa là tơ và hát nhà tơ là hát trong ty (VNCTBK, Nxb, Tp HCM.1994, tr.44). Khác với nhiều khái niệm khác, ở khái niệm này các tác giả chỉ giải thích mà không dẫn sách.

Hát nhà trò

Hát nhà trò thường được gọi để thay thế các tên gọi khác như ca trù, ả đào, nhà tơ,… Lý do lịch sử của sự xuất hiện của khái niệm này, cũng như thời điểm ra đời của nó, hiện nay chưa được nghiên cứu rõ.Thời điểm hình thành khái niệm và sử dụng nó một cách phổ biến có thể muộn hơn các khái niệm ca trù, hát cửa đình, nhưng phải trước thế kỷ XIX. Vào cuối thế kỷ XIX Trương Vĩnh Ký có một bài viết là Hát nhà trò. Làng Cổ Đạm thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, nơi có truyền thuyết là tổ quê ca trù, hiện còn nền đất của một ngôi nhà xưa kia được dùng để hát nhà trò, nhân dân ở đây thường gọi là Nền Nhà Trò. Tại Nghệ An có một quả núi mang tên Rú Nhà Trò. Như vậy nhà trò đã là tên gọi khá phổ biến một thời ở xứ Nghệ. Khái niệm nhà trò, trong các tài liệu thành văn, được dùng ít hơn các khái niệm ca trù, hát ả đào,… Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề giải thích: “Khi ả đào hát ở cửa đền có bỏ bộ, miệng hát tay múa uốn éo lên xuống, làm bộ điệu người điên, người say rượu, người đi săn,… Vì vừa hát vừa làm trò nên gọi là hát nhà trò.” (VNCTBK, Nxb. T.p HCM 1994. -trang 44). Cách giải thích đó có thể chỉ mới là cách giải thích truyền khẩu được ghi lại.

Lạc nhạn, xuyên tâm, thùy châu

Các khái niệm này chỉ khổ nhạc của đánh trống, đàn, phách. Nó được chia thành 5 khổ, theo thứ tự: Chính diện(dùng vào những câu bằng phẳng); xuyên tâm có xuyên thưa, xuyên mau; lạc nhạn( dùng vào những câu trầm ngâm) hay còn gọi là trầm ngư, hạ mã; quán châu( dùng vào các khổ thơ); thượng mã( dùng vào khổ dồn, xếp) còn gọi là đoạt châu, phi nhạn, phi ngư, tranh tiên. Ba tiếng trống vào giữa câu thứ 11 gọi là thùy châu hoặc câu thứ 10, tùy theo đặc điểm từng câu. Thùy châu thường dùng vào những câu thơ bâng khuâng, mơ màng.

Lễ mở xiêm áo

Đào hát khi học hát đã thành thục, xin trình trầu cau với giáo phường. Việc trình trầu cau này được thông báo và lễ lạt của đào nương được nhận, sau khi đã sát hạch chuyên môn thành công. Khi được công nhận, đào nương chọn ngày tốt rồi làm lễ Cáo tổ, sau đó mới một quan viên có danh vọng đến nghe buổi ra mắt nàỵ Trong buổi ra mắt có tiệc mừng và có lễ mừng. Giáo phương gọi lễ này là Lễ mở xiêm áo.

Quan viên

Khái niệm quan viên trong ca trù dùng để gọi những người tham gia nghe hát. Trong một cuộc hát ca trù, quan viên cũng có thể tham gia cầm chầu. Họ có thể vừa là công chúng thưởng thức và cũng có thể là thành viên của ban nhạc.

Xuyên thưa

Là ba tiếng trống (đánh khoan thai) vào đầu câu thứ tư, xuyên mau là ba tiếng trống (đánh gấp) vào đầu câu thứ 8.

Phách

Phách là một bộ phận nhạc cụ của hát ả đào, dùng cho ả đào gõ nhịp khi hát. Nó không phải là nhạc cụ của nhạc công mà là nhạc cụ của ả đào, của người hát. Vũ trung tùy bút, mục Nhạc biện, viêt: ” Đào nương trong tay cầm một đốt phách, tục gọi là sênh, loại phách có xâu tiền, tục gọi là sênh tiền, thường án phách để đỡ tiếng ca “. Cũng có ý kiến cho rằng phách và sênh là hai bộ phận làm thành một nhạc cụ. Phách được làm bằng gỗ. Khi hát ả đào gõ hai cái phách vào cái sênh. Sênh được làm bằng tre hoặc bằng gỗ. Tuy là hai bộ phận bình đẳng nhưng thông thường người ta chỉ gọi phách như là tiếng đủ để đại diện cho sênh, phách.

Tiếng phách có vai trò rất quan trọng đối với hát ca trù.. Phách có bốn khổ: Khổ sòng, khổ đơn, khổ rải, khổ lá đầu. Nhịp của phách đẻ ra các khái niệm khác như phách rung, phách dóc, phách thưa, phách mau.

Quản giáp

Quản giáp là kép hát, có thể là tên gọi ban đầu của kép hát, không nên hiểu quản giáp như một chức trách. Đại Việt sử kí tòan thư viết: “..Lại đổi chức hỏa đầu làm chính thủ, chỉ con hát mới gọi là quản giáp“[3]. Như vậy tên gọi quản giáp cũng có sự biến đổi. Có ý kiến xem quản giáp có vai trò nào đấy trong giáo phường.

Ty giáo phường

Ty giáo phường là một sự liên kết, tập hợp của các giáo phường các địa phương các xã, các giáp, các họ. Ty giáo phường mang hình thức phường hộ.

Trù tiền

Tức tiền trù, còn được gọi là tiền xướng trù (xướng trù tiền). Đây là số tiền được trả cho giáo phường hay thành viên khi tham gia hát. Tiền được trả theo quy ước, thỏa thuận.

(Nguyễn Đức Mậu biên soạn) [1] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1983, tr 251. [2] Việt Nam ca trù biên khảo, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1994, tr 52. [3] Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, H.1983, tr 251.

oOo