【#1】Giải Giúp Mình Quy Luật Bằng Trắc Của Bài Khi Con Tu Hú 8 Với Câu Hỏi 197088

B. B. B. T. T. B

Lúa chiêm đang chín trái cây ngọt dần

T. B. B. T. T. B. B. B

Vườn râm dậy tiếng ve ngân

B. T. T. T. B. B

Bắp rây vàng hạt đầy sân nắng đào

T. B. B. T. B. B. T. B

Trời xanh càng rộng càng cao

B. B. B. T. B. B

Đôi con diều sáo lộn nhào từng không..

B. B. B. T. T. B. B. B

Ta nghe hè dậy bên lòng

B. B. B. T. B. B

Mà chân muốn đạp tan phòng , hè ôi.

B. B. T. T. B. B. B. B

Ngột làm sao, chết uất thôi

T. B. B. T. T. B

Con chim tu hú ngoài trời cứ kêu!

B. B. B. T. B. B. T. B

Câu 8 tiếng thứ 2- -4-6-8 là B-T-B-B

【#2】Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ

Luật bẳng trắc của thơ 8 chữ hơi khác thơ 7 chữ và là thể thơ tương đối tự do, không hoàn toàn gò bó vào luật bằng trắc như thơ bảy chữ. Luật bằng trắc chỉ áp dụng cho những câu liền mạch thông thường. Những câu ngắt thành nhiều cụm từ thì chỉ theo luật đôi chút hoặc đôi khi không theo luật bằng trắc gì cả.

Việc áp dụng luật bằng trắc nhiều hay ít còn tùy theo nội dung bài thơ, nghệ thuật biểu cảm của câu thơ, và tùy tài năng của nhà thơ. Những câu thơ không theo luật đôi khi là những câu thơ hay, có giá trị nghệ thuật cao, tạo nên những điểm nhấn thú vị, mang lại nét riêng cho bài thơ.

Là người học làm thơ, tôi nghĩ mình nên nên bắt đầu tìm hiểu về luật thơ 8 chữ, giống như học nhày, đầu tiên, ta phải đi những bước cơ bản, sau đó rồi mới học bước “făng” và “făng” nhiều hay ít là chuyện về sau, khi đã nhảy thành thạo.

Luật bằng trắc của một câu thơ 8 chữ tùy theo vần của chữ thứ 8. Nếu chữ thứ 8 vần trắc thì chữ thứ 3 trắc, chữ thứ 5 và 6 bằng. Ví dụ:

Em cứ HẸN nhưng EM ĐỪNG đến NHÉ (xxTxBBxT)

Nếu chữ thứ 8 vần bằng thì chữ thứ 3 bằng, chữ thứ 5 và 6 trắc. Ví dụ:

Để lòng BUỒN tôi DẠO KHẮP trong SÂN, (xxBxTTxB)

Thử ghi luật bằng trắc một số bài thơ của vài nhà thơ nổi tiếng để xem họ áp dụng luật bằng trắc như thế nào.

Trong bài Ân Tình Dạ Khúc của Đinh Hùng, đa phần (29/31 = 93,5%) câu áp dụng chính xác luật bằng trức của thơ 8 chữ.

Đa phần các câu trog bài NGẬP NGỪNG của Hồ Zếnh đều áp dụng nghiêm ngặt luật bằng trắc của thơ 8 chữ (15/18= 83%). Ba câu không áp dụng luật là những câu được ngắt thành 2 nhịp, có lẻ tác gỉa muốn diễn tả sự ngập ngừng, lững lơ, dang dở của một mối tình không biết rồi sẽ ra sao. (Có thể tác gỉa biết thế nào rồi cuộc tình của mình cũng đến hồi kết thúc nên muốn kéo dài càng lâu càng tốt? Hoặc những mối tình êm xuôi có thể sẽ không có được những bài thơ hay?)

Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân, (xxBxTTxB)

Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần… (xxBxTTxB)

Tôi nói khẽ: Gớm, làm sao nhớ thế? (xxTxBBxT)

Em tôi ơi! tình có nghĩa gì đâu ? (xxBxTTxB)

Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu ? (xxBxTTxB)

Thuở ân ái mong manh như nắng lụa. (xxTxBBxT)

Hoa bướm ngập ngừng cỏ cây lần lữa,

Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi, (xxBxTTxB)

Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi!

Tôi sẽ trách – cố nhiên! – nhưng rất nhẹ (xxTxBBxT)

Nếu trót đi, em hãy gắng quay về, (xxBxTTxB)

Tình mất vui khi đã vẹn câu thề, (xxBxTTxB)

Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở. (xxTxBBxT)

Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,

Cho nghìn sau … lơ lửng… với nghìn xưa … (xxBxTTxB)

Bài NHỚ RỪNG của Thế Lữ là bài thơ có nhiều câu ngắt thành từng cụm từ để tạo nhịp điệu riêng, manh mẽ hơn, để thể hiện một tâm sự u uất, chán nản và khát vọng tự do. Tuy nhiên, đa phần các câu còn lại (33/47 = 70%) vẫn theo luật bằng trắc nghiêm ngặt.

Thử ghi lại luật bằng trắc của bài thơ Nhớ Rừng. Câu nào không ghi cũng theo luật nhưng mềm hơn. Đa phần chữ không theo luật nằm vào chữ thứ 5 hoặc thứ 6. Ví dụ:

Ta nằm dài theo NGÀY tháng dần qua (xxBxBTxB). (Chữ NGÀY không theo luật)

Than ôi! Thời oanh liệt NAY còn đâu. (xxBxTBxB) (Chữ NAY không theo luật)

Đôi khi chữ thứ 3 cũng không theo luật. Ví dụ:

Ta đương THEO giấc MỘNG ngàn to lớn. (xxBxTBxT) , (THEO và MỘNG không theo luật)

Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm, (xxTxBBxT)

Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, (xxTxBBxT)

Với khi thét khúc trường ca dữ dội, (xxTxBBxT)

Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc, (xxTxBBxT)

Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, (xxTxBBxT)

– Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu, (xxBxTTxB)

Ghét những cảnh không đời nào thay đổi, (xxTxBBxT)

Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối: (xxTxBBxT)

Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm, (xxTxBBxT)

– Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi! (47)

Tóm lại, thơ 8 chữ cũng có luật bằng trắc của nó. Là người tập làm thơ, tôi tự rút ra bài học, hy vọng có ngày cũng làm được mấy câu để đọc cho cháu nội nghe.

【#3】Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ

Trong chương trình phổ thông ngày xưa, ta học thơ lục bát trong Lục Vân Tiên và Kiều, thơ đường của Bà Huyên Thanh Quan và Nguyễn Khuyến, hát nói của Nguyễn Công Trứ nhưng tôi không nhớ đã học tác giả thơ mới nào, và cũng chưa nghe thầy nào dạy cách làm một bài thơ, cho dù là thơ lục bát.

Có một thời từ cô thôn nữ đến cậu sinh viên đều thuộc nhiều bài thơ của những tác gỉa nổi tiếng trong phong trào thơ mới như Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên… vì thơ họ hay. Vậy thơ họ hay ở chỗ nào? Thơ họ hay trước hết vì họ diễn tả tình cảm cá nhân, đăc biệt là tình yêu đôi lứa, do đó, ai cũng cảm thấy nhà thơ đã nói hộ tâm trạng mình. Trong thơ họ, thí tứ phong phú, cảm xúc dạt dào, tình cảm nồng nàn, tha thiết, mãnh liệt, được diễn tả bằng từ ngữ bay bướm, sáng tạo, giàu nhạc tính, có vần điệu, nghe êm tai. Nói chung, thơ họ hay bởi họ có tài làm thơ, cái mà nhiều người khác không có được. Không chỉ có vậy, thơ họ hay còn nhờ họ hiểu cặn kẽ luật thơ và biết phá luật để tạo những câu thơ đẹp.

Dù không làm được thơ hay vì không có tài nhưng không ai cấm chúng ta viết đôi câu để chúc mừng lễ vu quy của cháu gái hay giải sầu khi vợ ốm phải nằm viện. Những lúc như thế, nếu viết được một vài câu dù chưa phải là thơ nhưng cũng đủ làm cuộc sống trở nên vui hơn, có ý nghĩa hơn, đỡ buồn, đỡ stressed, dễ thở hơn đôi chút. Nếu đọc cho bạn bè nghe thì cũng xuôi tai. Muốn vậy thì phải học làm thơ, đặc biệt là học các nhà thơ lớn, xem thử cái kỹ thuật tối thiểu trong thơ họ là gì.

Một bài được gọi là thơ theo dạng thơ mới (không nói đến thơ tự do) thì ai cũng biết là phải có vần, nhưng theo tôi, thứ quan trọng không kém là luật bằng trắc trong câu, mà rất nhiều người làm thơ nghiệp dư không chú ý đến lại là thứ mà những nhà thơ nổi tiếng ít ai không tuân thủ.

Trong nhạc có nhịp và phách, trong thơ (có vần) có câu và luật bằng trắc của mỗi từ trong mỗi câu. Trong nhạc, các nốt nhạc ở phách mạnh đầu nhịp là quan trọng, thì trong thơ 7 chữ, các từ thứ 2, 4 và 6 là những từ quan trọng.

Hãy nghiên cứu luật bằng trắc trong một vài bài thơ 7 chữ của các nhà thơ nổi tiếng.

Thử ghi luật bằng trắc của các từ thứ 2, 4 và 6 trong bài thơ Đậm Nhạt của Vũ Hoàng Chương.

Trong bài thơ này, tác giả hoàn toàn tuân thủ luật bẳng trắc của thơ Đường: Trong mỗi câu, từ thứ 2 luôn giống vần từ thứ 6: ví dụ từ thứ 2 vần bằng thì từ thứ 6 cũng vần bằng, từ thứ 4 vần trắc, chẳng khác gì thơ Đường. Về niêm cũng tương tự thơ Đường: Câu đầu và câu cuối giống nhau, các câu còn lại giống nhau từng cặp. Vần thì mỗi đọan thơ 4 câu giống với 4 câu đầu trong thơ Đường: Các từ cuối của các câu 1, 2 và 3 vần với nhau. Như vậy, bài Đậm Nhạt còn ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường về luật bằng trắc và niêm, chỉ không có đối và số câu nhiều hơn mà thôi.

Đậm Nhạt – Vũ Hoàng Chương

Da thịt đìu hiu rợp bóng mây (TBT)

Sương lam mờ cỏ gió vàng cây (BTB)

Song sa nắng xế dần ân ái (BTB)

Lạnh cả mùa xưa nguyệt Mái Tây (TBT)

Nẻo ngắt chiêm bao nhịp rụng đều (TBT)

Tâm tư ngờ chạm bước hài thêu (BTB)

Tiền thân nửa gối vườn mưa lá (BTB)

Vết cũ phong sầu đậm nhạt rêu (TBT)

Tình chủng bơ vơ độc viễn hành (TBT)

Nàng Thôi thôi đã hết Oanh Oanh (BTB)

Gót sen chùa cổ đêm trăng ấy (BTB)

Vọng thấu luân hồi nhạc mỏng manh (TBT)

Mùa nhớ thương sang mộng nõn nà (TBT)

Tinh anh nghìn kiếp thoáng dư ba (BTB)

Hồn ai xác mới nghe thoi thóp (BTB)

Vang bóng hài xiêm chuyển thớ da (TBT)

Bài Hạnh Ngộ của Đinh Hùng đổi mới không nhiều. Luật bằng trắc trong mỗi câu vẫn giữ nguyên, chỉ có niêm là đôi chút thay đổi: Câu đầu và câu cuối không giống nhau, Câu 4 và câu 5 không giống nhau. Tất cả nhưng câu còn lại đều theo luật niêm của thơ Đường.

Bài Ca Hạnh Ngộ – Đinh Hùng

Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay, (BTB)

Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?(TBT)

Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ, (TBT)

Nửa như hoài vọng, nửa như say. (BTB) (4)

Em đến như mây, chẳng đợi kỳ, (TBT) (5)

Hương ngàn gió núi động hàng mi. (BTB)

Tâm tư khép mở đôi tà áo, (BTB)

Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi. (TBT)

Em muốn đôi ta mộng chốn nào? (TBT)

Ước nguyền đã có gác trăng sao. (BTB)

Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý, (BTB)

Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào. (TBT)

Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ. (TBT)

Nắng trong hoa, với gió bên hồ, (BTB)

Dành riêng em đấy. Khi tình tự, (BTB)

Ta sẽ đi về những cảnh xưa. (TBT)

Rồi buổi ưu sầu em với tôi (TBT)

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời. (BTB)

Vai kề một mái thơ phong nguyệt, (BTB)

Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười. (TBT)

Bài Mưa Xuân của Nguyễn Bính vẫn giữ nguyên luật bằng trắc nhưng niêm đã thay đổi khá nhiều. Một phần tư các cặp câu không theo luật niêm, nằm vào câu cuối đoạn thơ trước và câu đầu đoạn thơ sau, đó là các cặp câu 4-5, 12-13, 24-25, 28-29, 32-33,

Em là con gái trong khung cửi (BTB)

Dệt lụa quanh năm với mẹ già (TBT)

Lòng trẻ còn như cây lụa trắng (TBT)

Mẹ già chưa bán chợ làng xa. (BTB) (4)

Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay (TBT) (5)

Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy (BTB)

Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ (BTB)

Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”. (TBT)

Lòng thấy giăng tơ một mối tình (TBT)

Em ngừng thoi lại giữa tay xinh (BTB)

Hình như hai má em bừng đỏ (BTB)

Có lẽ là em nghĩ đến anh. (TBT) (12)

Bốn bên hàng xóm đã lên đèn (BTB) (13)

Em ngửa bàn tay trước mái hiên (TBT)

Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh (TBT)

Thế nào anh ấy chả sang xem! (BTB)

Em xin phép mẹ, vội vàng đi (BTB)

Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe. (TBT)

Mưa bụi nên em không ướt áo (TBT)

Thôn Đoài cách có một thôi đê. (BTB)

Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm (BTB)

Em mải tìm anh chả thiết xem (TBT)

Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh (TBT)

Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em. (BTB) (24)

Chờ mãi anh sang anh chẳng sang (TBT) (25)

Thế mà hôm nọ hát bên làng (BTB)

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn (BTB)

Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng! (TBT) (28)

Mình em lầm lũi trên đường về (BTB) (29)

Có ngắn gì đâu một dải đê! (TBT)

áo mỏng che đầu mưa nặng hạt (TBT)

Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya (BTB) (32)

Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay (TBT) (33)

Hoa xoan đã nát dưới chân giày (BTB)

Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ (BTB)

Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”. (TBT)

Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày (TBT)

Bao giờ em mới gặp anh đây? (BTB)

Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ (BTB)

Để mẹ em rằng hát tối nay? (TBT)

Trong bài Xuân của Chế Lan Viên, luật bằng trắc trong mỗi câu vẫn giữ nguyên, nhưng luật niêm đã nhạt. Chỉ có 2 cặp câu giống nhau về luật bằng trắc, những câu còn lại trong bài không có cặp nào giống nhau. Đoạn 1 và đoạn 4 giống khau về luật niêm, chẳng khác gì đoạn đầu và đoạn cuối của một ca khúc, có thể dụng ý nghệ thuật của tác giả muốn diễn tả hoàn cảnh không thay đổi của mình mặc dù mùa xuân có đến rồi đi.

Tôi có chờ đâu, có đợi đâu (TBT)

Đem chi xuân lại gợi thêm sầu? (BTB)

Với tôi, tất cả như vô nghĩa (BTB)

Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau! (TBT)

Ai đâu trở lại mùa thu trước (BTB)

Nhặt lấy cho tôi những lá vàng? (TBT)

Với của hoa tươi, muôn cánh rã, (TBT)

Về đây đem chắn nẻo xuân sang! (BTB)

Ai biết hồn tôi say mộng ảo (TBT)

Ý thu góp lại cản tình xuân? (BTB)

Có một người nghèo không biết tết (TBT)

Mang lì chiếc áo độ thu tàn! (BTB)

Có đứa trẻ thơ không biết khóc (TBT)

Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran! (BTB)

Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ! (BTB)

Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.(TBT)

Đến bài Đây Thôn Vỹ Dạ, chỉ có câu đầu không theo luật bẳng trắc (BBB), các câu còn lại vẫn giữ luật bằng trắc, nhưng niêm đã thay đổi đến 4/5. Chỉ có 1 cập câu giống nhau về luật bằng trắc (câu 10 và 11). Mỗi đoạn có một mẫu “niêm” khác nhau. Có thể đây là dụng ý nghệ thuật của tác giả muốn nói dù cảnh vật không thay đổi nhưng tình người có lẻ đã nhạt phai.

Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

Sao anh không về chơi thôn Vĩ? (BBB)

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, (TBT)

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc (BTB)

Lá trúc che ngang mặt chữ điền (TBT)

Gió theo lối gió, mây đường mây (BTB)

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…(TBT)

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, (BTB)

Có chở trăng về kịp tối nay? (TBT)

Mơ khách đường xa, khách đường xa, (TBT)

Áo em trắng quá nhìn không ra… (BTB) (10)

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh (BTB) (11)

Ai biết tình ai có đậm đà? (TBT)

Tóm lại, nếu có lúc nào đó ta hứng chí muốn viết một bài thơ 7 chữ để đọc vào tiệc rượu nào đó thì hãy nhớ kiểm tra xem các từ 2, 4 và 6 trong câu đã đúng luật bằng trắc hay chưa. Đừng xuê xoa luật này vỉ ngay cả Vũ Hoàng Chương cũng còn phải tuân thủ.

【#4】Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát

Người làm thơ Đường Luật phải biết và chấp nhận bó mình trong niêm luật vần đối của nó. Thơ lục bát chỉ có luật, vần nên thi sĩ không bị niêm, đối “kềm kẹp”. Trong bài viết ngắn này tôi chỉ bàn về luật.

Đọc xong chắc có người thắc mắc ” Sao tui đọc sách và những bài viết trên mạng thấy luật bằng trắc trong thơ lục bát cũng rườm rà, rắc rối lắm mà sao ông viết lại đơn giản quá vậy? Có ‘ăn bớt’ không đó cha nội?”

Sau một thời gian dài làm thơ lục bát nhiều thi sĩ đã “vượt rào”, phớt lờ luật tắc. Độc giả mới đầu còn thấy lạ lạ, kỳ kỳ. Đọc riết rồi thấy cũng “ổn” nên bảo nhau ” Không có gì mà ầm ĩ“. Dần dà một vài luật tắc rườm rà đó ” tuân theo cũng được mà phớt lờ cũng không sao “. Đó là quy luật tiến hóa của thi ca.

Vì thế ở đây tôi chỉ nói đến những điểm luật cốt yếu – ở thời điểm này mà không tuân thủ thì bài thơ sẽ bị chê là “mất tính lục bát”.

Chữ thứ 6 câu lục, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát phải là thanh bằng.

Chữ thứ 4 câu bát phải là thanh trắc.

Mười chữ còn lại thì tự do – bằng cũng được mà trắc cũng không sao.

Nếu chữ thứ 6 của câu bát thanh huyền (dấu huyền) (thí dụ 1) thì chữ thứ 8 phải thanh ngang (không dấu) và ngược lại (thí dụ 2).

Kêu con lên giúp đem về Hà Nam

Trong thí dụ này tôi “chơi nổi”, chọn 10 chữ còn lại toàn là thanh bằng. Nếu bạn không thích thì tự do thay đổi.

Để lại một mẫu chú Hương cất nhà

Ở đây tôi chọn 10 chữ còn lại là thanh trắc. Dĩ nhiên, bạn cũng có toàn quyền thay đổi.

Luật bằng trắc của lục bát chỉ có thế. Bạn chỉ cần để ý 4 chữ (in đậm) – 3 bằng một trắc – thì thơ lục bát của bạn luật sẽ vững như bàn thạch.

1/ Trong trang Lục Bát Việt Nam trên Facebook có bài thơ Nước Mắt Ngày Gặp Lại của Thanh Tu có 2 câu:

Hôm nay mình gặp lại nhau

Ôm chặt bạn mà nỗi đau nhói lòng

Với luật thơ lục bát hiện hành thì nó phạm luật (chữ “mà” phải chuyển thành chữ khác có thanh trắc mới đúng). Với con mắt người bình thơ như tôi thì bài thơ thất bại một cách oan uổng; ý tứ có hay tôi cũng ngoảnh mặt làm ngơ. Nhưng biết đâu mấy chục năm nữa cách nhìn nhận luật thơ phóng khoáng hơn, bài Nước Mắt Ngày Gặp Lại (hay những bài phạm lỗi tương tự) sẽ được bình phẩm một cách cởi mở hơn.

– Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi qua email ngày 14.08.2020.

– Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.

– Vui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi khi trích đăng lại.

【#5】Cách Gieo Vần, Nguyên Tắc Đối, Luật Bằng Trắc Và Cách Họa

Thơ Đường Luật còn có những tên gọi khác nhau như: Thơ Đường, Đường Thi, Thất Ngôn Bát Cú và Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật. Thơ Đường Luật có 2 loại: Tứ Tuyệt (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 4 câu) và Bát Cú (tức mỗi câu có 7 chữ và mỗi bài có 8 câu).

I- Cách Gieo Vần: Thơ Đường Luật có luật lệ nhất định của nó, bạn không thể biến chế một cách khác được. Cách gieo vần như sau:

– Suốt bài thơ chỉ gieo theo một vần mà thôi. Ví dụ: Vần ơi thì đi với ơi, vần tâm thì đi với tâm hoặc tầm.

– Trong bài thơ có 5 chữ vần được gieo ở cuối câu đầu (câu số 1) và ở cuối các câu chẵn (2, 4, 6 và 8). Ngoài việc các chữ cuối của câu 1,2,4,6,8 phải cùng một vần ra, cả 5 chữ mang vần đó phải khác nhau, trừ khi cùng chữ nhưng khác nghĩa (Ví dụ: dặm trường và mái trường or trái mơ và giấc mơ…)

– Gieo vần thì phải hiệp vận (tức cho đúng vận của nó). Ví dụ: hương, thương, trường… Nếu gieo vần thưa với thây thì bị lạc vận. Còn nếu gieo vần không hiệp với nhau thì gọi là cưỡng vận hay ép vận, chẳng hạn như: in với tiên.

II- Nguyên Tắc Đối: Các câu đối với nhau phải thật chỉnh, cả về ý, tình, và thể loại từ ngữ, v.v… Thể loại từ ngữ tức tính từ phải đối với tính từ, danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ, v.v…

Trong bài thơ có 4 phần: Đề (gồm có Phá đề và Thừa đề ) Thực hoặc Trạng, Luận, và Kết.

2. Thực hoặc trạng (câu thứ 3 và câu thứ 4): Hai câu này phải đối với nhau.

Ghi chú: Lom khom đối với lác đác (trạng tự ) và bằng đối với trắc. Tiều đối với chợ (danh từ ) và bằng đối với trắc. Chú đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng.

3. Luận (câu thứ 5 và câu thứ 6): Luận có nghĩa là luận bàn. Hai câu này bàn bạc

thêm về nội dung của bài thơ, về phong cảnh hay về tình cảm. Hai câu này phải đối với nhau.

Ghi chú: Nhớ đối với thương (động từ ) và trắc đối với bằng. Nước đối với nhà (danh từ ) và trắc đối với bằng. Đau lòng đối với mỏi miệng (trạng từ ) và bằng đối với trắc. Con quốc quốc đối với cái gia gia (danh từ ) và trắc đối với bằng.

4. Kết (câu thứ 7 và câu thứ 8): Hai câu kết không nhất thiết phải đối nhau, nhưng phải giữ luật bằng trắc.

Ghi chú: Dừng chân là vần bằng đối với một mảnh là vần trắc; đứng lại là vần trắc đối với tình riêng là vần bằng; nước là vần trắc đối với ta là vần bằng.

III- Luật Bằng Trắc: Luật Bằng Trắc gồm có Thanh, Luật, và Niêm.

1. Thanh: Gồm có Thanh Bằng và Thanh Trắc.

a) Thanh Bằng: là những tiếng hay chữ không có dấu (như: minh, lan, thanh, trinh…) và những tiếng hay chữ có dấu huyền (ví dụ như: mà, hoàng, thành, trình…)

b) Thanh trắc: Là những tiếng hay chữ có dấu sắc (‘) dấu hỏi (?) dấu ngã (~) và dấu nặng (.). Ví dụ: Nhớ, tưởng, lữ, vọng…

2. Luật: Thơ bát cú làm theo hai luật: Luật Bằng và Luật Trắc.

a) Luật Bằng: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Bằng. Ví dụ:

Luật Bằng Vần Bằng-Cách dùng mẫu tự và viết tắt như sau: B = Bằng, T = Trắc và V = Vần. Luật Bằng Vần Bằng như sau:

b) Luật Trắc: Chữ thứ hai ở câu đầu thuộc vần Trắc. Ví dụ:

Luật Trắc Vần Bằng-Luật Trắc Vần Bằng như sau:

Chú Thích: Những chữ IN HOA (chữ thứ 2, 4 và 6) đều phải theo đúng luật, còn những chữ khác (trừ chữ ở cuối câu) có thể không cần phải theo luật. Mẹo để nhớ:

Nhất (chữ thứ 1), tam (chữ thứ 3), ngũ (chữ thứ 5) bất luận

Nhị (chữ thứ 2), tứ (chữ thứ 4), lục (chữ thứ 6) phân minh

Nghĩa là chữ thứ nhất, thứ ba và thứ năm không kể (bất luận), tức không nhất thiết phải theo đúng luật; còn chữ thứ hai, thứ tư và thứ sáu thì bắt buộc phải theo luật (phân minh). Nếu không theo luật thì gọi là thất luật.

3. Niêm-Những chữ phải đi cặp với nhau và dính với nhau

Cũng có trường hợp nhà thơ làm sai luật, thay vì đang ở Luật Bằng thì lại đổi sang Luật Trắc. Vì Niêm không đi với nhau nên gọi là Thất Niêm.

Ví dụ: Dùng bài thơ Cảnh Làm Lẽ (Lấy Chồng Chung) của Hồ Xuân Hương (đúng niêm luật) để đổi sang thất niêm (xem chữ thứ 2 IN HOA):

Chú ý: Dù chỉ đặt sai có một câu (câu thứ 3) nhưng bị thất niêm toàn bài thơ. Thế mới biết luật thơ Đường khắt khe biết dường nào!

Khi làm thơ Đường Luật thì phải giữ cho đúng niêm luật. Nếu không, dù bài thơ của bạn có nội dung hay mấy đi nữa thì cũng không thể chấp nhận được.

Như đã nêu ra ở trên là các câu đối với nhau phải thật chỉnh. Có điều là không bắt buộc phải từng chữ một đối nhau mà có thể đối theo cụm từ. Nếu 3 chữ tạo thành nhóm danh từ (ở câu 3 chẳn hạng) thì ở câu 4 cũng dùng 3 chữ cùng nhóm để đối lại

(Trích “Xóm Tịnh Chiều Luyến Nhớ” -Vân Hạc)

Lối làm thơ tuyệt cú có thể tuân theo luật bốn câu đầu hoặc bốn câu cuối của ngũ ngôn hoặc thất ngôn. Ở thể cổ phong, thơ tuyệt cú càng rộng rãi hơn, các câu thơ không cần đối, không phụ thuộc luật bằng trắc, miễn là ý tứ sâu sắc, lời đẹp, giầu âm điệu …

【#6】Luật Bằng Trắc Trong Thơ Đường Luật

Chào mừng bạn đã đến với Diễn đàn Hoa Viên 1 (hoavien.forumvi.com). Chào mừng bạn đã đến với Diễn đàn Hoa Viên 2 (hoavien2.forumvi.com). Chào mừng bạn đã đến với Diễn đàn Hoa Viên 1 (hoavien.forumvi.com). Chào mừng bạn đã đến với Diễn đàn Hoa Viên 2 (hoavien2.forumvi.com). Chào mừng bạn đã đến với Diễn đàn Hoa Viên 1 (hoavien.forumvi.com). Chào mừng bạn đã đến với Diễn đàn Hoa Viên 2 (hoavien2.forumvi.com). Chào mừng bạn đã đến với Diễn đàn Hoa Viên 1 (hoavien.forumvi.com). Chào mừng bạn đã đến với Diễn đàn Hoa Viên 2 (hoavien2.forumvi.com).

Thống Kê

Hiện có 13 người đang truy cập Diễn Đàn, gồm: 0 Thành viên, 0 Thành viên ẩn danh và 13 Khách viếng thăm :: 2 Bots

Không

Số người truy cập cùng lúc nhiều nhất là 79 người, vào ngày Mon Oct 24 2021, 20:59

Latest topics

” Tím Hoàng Hôn

by Nguyễn Thành Sáng Sat Dec 19 2021, 12:26

” Nên Vui Bởi Em Có…

by Nguyễn Thành Sáng Sat Dec 19 2021, 12:25

” Em Hãy Quên…Trở Về Đi

by Nguyễn Thành Sáng Fri Dec 18 2021, 19:44

” Xót Xa Nỗi Niềm

by Nguyễn Thành Sáng Fri Dec 18 2021, 19:42

” Sợ Là Phù Vân

by Nguyễn Thành Sáng Fri Dec 18 2021, 19:41

” vụ đông ở làng

by Lê Hải Châu Thu Dec 17 2021, 19:17

” Trăn Trở Nhớ Nhung

by Nguyễn Thành Sáng Mon Dec 14 2021, 21:24

” Ký Ức Năm Xưa

by Nguyễn Thành Sáng Mon Dec 14 2021, 21:23

” Trời Nam Thương Nhớ

by Nguyễn Thành Sáng Mon Dec 14 2021, 21:23

” thương nhau

by Lê Hải Châu Mon Dec 14 2021, 14:33

” ĐÃ NỬ MÙA ĐÔNG

by Lê Hải Châu Sun Dec 13 2021, 06:52

” Nhăn Mặt La Bởi Anh Giận Anh

by Nguyễn Thành Sáng Sat Dec 12 2021, 19:14

” Nỗi Niềm Thương Nhớ

by Nguyễn Thành Sáng Sat Dec 12 2021, 19:12

” Thương Nhớ Quá

by Nguyễn Thành Sáng Sat Dec 12 2021, 19:11

” nắng quái chiều hôm

by Lê Hải Châu Fri Dec 11 2021, 18:39

” Trăn Trở Lúc Vắng Em

by Nguyễn Thành Sáng Thu Dec 10 2021, 19:15

” Nỗi Niềm & Vương Vấn

by Nguyễn Thành Sáng Thu Dec 10 2021, 19:14

” Thu Bóng Âm Thầm

by Nguyễn Thành Sáng Thu Dec 10 2021, 19:13

” mùa này nướccanj

by Lê Hải Châu Thu Dec 10 2021, 14:58

” Phũ Phàng Dâu Bể Do Tim

by Nguyễn Thành Sáng Tue Dec 08 2021, 13:56

” Tặng Nhớ Trọn Hồn Thi

by Nguyễn Thành Sáng Tue Dec 08 2021, 13:55

” Chỉ Mối Tơ Vương

by Nguyễn Thành Sáng Tue Dec 08 2021, 13:54

” tát nước đêm trăng

by Lê Hải Châu Tue Dec 08 2021, 08:37

” tát nước đêm trăng

by Lê Hải Châu Tue Dec 08 2021, 08:37

” Dòng Thơ Bảy Chữ Tám Câu – Nguyễn Thành Sáng

by Nguyễn Thành Sáng Mon Dec 07 2021, 15:45

” cảm tác mùa đông

by Lê Hải Châu Mon Dec 07 2021, 14:53

” Lần Nữa Cháy Tim Tôi

by Nguyễn Thành Sáng Sun Dec 06 2021, 17:06

” Đá Vàng Son Sắt

by Nguyễn Thành Sáng Sun Dec 06 2021, 17:05

” Đau Đớn Nào Hơn

by Nguyễn Thành Sáng Sun Dec 06 2021, 17:03

” Cũng Tạm Gọi Là…

by Nguyễn Thành Sáng Fri Dec 04 2021, 22:33

” Đợi Chờ Hồn Yêu

by Nguyễn Thành Sáng Fri Dec 04 2021, 22:32

” Nỗi Niềm Thương Nhớ

by Nguyễn Thành Sáng Fri Dec 04 2021, 22:31

” Phơi Nghìn Xác Rụng

by Nguyễn Thành Sáng Wed Dec 02 2021, 21:33

” Có Nhau Chia Sẻ

by Nguyễn Thành Sáng Wed Dec 02 2021, 21:29

” Vẫn Còn An Ủi

by Nguyễn Thành Sáng Wed Dec 02 2021, 21:28

” cánh đồng vụ đông

by Lê Hải Châu Wed Dec 02 2021, 09:24

” Tâm Sự Ta Với Nàng

by Nguyễn Thành Sáng Mon Nov 30 2021, 19:15

” Thôi Đã Hết Rồi

by Nguyễn Thành Sáng Mon Nov 30 2021, 19:14

” Tâm Sự Trên Du Thuyền

by Nguyễn Thành Sáng Mon Nov 30 2021, 19:13

” cố hương

by Lê Hải Châu Mon Nov 30 2021, 10:13

” Một Thoáng Từ Ký Ức

by Nguyễn Thành Sáng Sun Nov 29 2021, 11:53

” Bến Hẹn Mai Nầy

by Nguyễn Thành Sáng Sun Nov 29 2021, 11:52

” Mối Tơ Tình

by Nguyễn Thành Sáng Sun Nov 29 2021, 11:50

” Tặng Em Khúc Nhạc Đàn

by Nguyễn Thành Sáng Sat Nov 28 2021, 19:12

” Mây Khói

by Nguyễn Thành Sáng Sat Nov 28 2021, 19:10

” Một Thoáng Ta Về Nơi Bến Mơ

by Nguyễn Thành Sáng Sat Nov 28 2021, 19:09

” Ôi! Một Mối Tình!

by Nguyễn Thành Sáng Fri Nov 27 2021, 18:14

” Lần Về Tiềm Thức

by Nguyễn Thành Sáng Fri Nov 27 2021, 18:12

” Giây Phút Ngỡ Ngàng

by Nguyễn Thành Sáng Fri Nov 27 2021, 18:11

” Tình Yêu Trong Nỗi Đợi

by Nguyễn Thành Sáng Thu Nov 26 2021, 17:20

” Nương Đây Mà…

by Nguyễn Thành Sáng Thu Nov 26 2021, 17:18

” Phải Vậy Không Mình

by Nguyễn Thành Sáng Thu Nov 26 2021, 17:16

” gái làng

by Lê Hải Châu Wed Nov 25 2021, 18:26

” Ngần Ngại Nhưng Trong Lòng

by Nguyễn Thành Sáng Wed Nov 25 2021, 13:29

” Bàn Tay Đậm Đà

by Nguyễn Thành Sáng Wed Nov 25 2021, 13:28

” Em Cứ Đi Đi

by Nguyễn Thành Sáng Wed Nov 25 2021, 13:27

” Lời Tự Tình…Oan Cho Tui

by Nguyễn Thành Sáng Tue Nov 24 2021, 19:08

” Họa Khúc Buồn

by Nguyễn Thành Sáng Tue Nov 24 2021, 19:07

” Nghĩa Đá Vàng

by Nguyễn Thành Sáng Tue Nov 24 2021, 19:01

” cửa ngõ mùa đông

by Lê Hải Châu Tue Nov 24 2021, 10:40

” Nếu Như Tình Chết

by Nguyễn Thành Sáng Mon Nov 23 2021, 22:28

” Người Đến Muộn

by Nguyễn Thành Sáng Mon Nov 23 2021, 22:27

” Đượm Mãi Dẫu Chưa Tên

by Nguyễn Thành Sáng Mon Nov 23 2021, 22:24

” người dưng

by Lê Hải Châu Sun Nov 22 2021, 12:51

” Mộng Và Nỗi Đợi

by Nguyễn Thành Sáng Sun Nov 22 2021, 12:38

” Ở Lại Cũng Buồn

by Nguyễn Thành Sáng Sun Nov 22 2021, 12:37

” Thao Thức Nhớ Em

by Nguyễn Thành Sáng Sun Nov 22 2021, 12:35

” Nỗi Buồn Mênh Mông

by Nguyễn Thành Sáng Sat Nov 21 2021, 13:02

” Gặp Lại Em

by Nguyễn Thành Sáng Sat Nov 21 2021, 13:01

” Tiếng Lòng

by Nguyễn Thành Sáng Sat Nov 21 2021, 13:00

Tác giả Thông điệp

Ntd Hoa Viên

Tiêu đề: LUẬT BẰNG TRẮC TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT Sun May 27 2012, 10:02

3- Bảng Luật Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, luật Bằng Vần Bằng: 5- Bảng luật thơ Thất ngôn Bát cú Đường Luật, luật Bằng vần Bằng:

Một Số Điều Cần Biết Về Thơ Đường Luật

(Bài viết được sưu tầm và hiệu chỉnh, nếu có gì sơ sót, mong các bạn châm chước, hoặc có bổ sung gì; thì xin vào mục Góp Ý – Thắc Mắc).

Để tạo điều kiện thuận tiện cho các thành viên của diễn đàn muốn tìm hiểu thêm về thơ Đường Luật, xin post vào đây những học hỏi, sưu tầm được. Nếu trong việc ghi chép lại có gì sơ sót, nhầm lẫn thì xin các bạn đóng góp cho. Xin cảm ơn.

BẢNG CHÍNH LUẬT CÁC THỂ THƠ ĐƯỜNG

1- Bảng Luật Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, luật Trắc Vần Bằng:

T – T – B – B – T – T – B (vần)

B – B – T – T – T – B – B (vần)

B – B – T – T – B – B – T

T – T – B – B – T – T – B (vần)

2- Bảng Luật Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật, luật Trắc Vần Trắc:

T – T – B – B – B – T – T

B – B – T – T – T – B – B (vần)

B – B – T – T – B – B – T

T – T – B – B – T – T – B (vần)

B – B – T – T – T – B – B (vần)

T – T – B – B – T – T – B (vần)

T – T- B – B – B – T – T

B – B – T – T – T – B – B (vần)

4- Bảng luật thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật luật Bằng vần Trắc:

B – B – T – T – B – B – T

T – T – B – B – T – T – B (vần)

T – T – B – B – B – T – T

B – B – T – T – T – B – B (vần)

B – B – T – T – T – B – B (vần)

T – T – B – B – T – T – B (vần)

T – T – B – B – B – T – T (đối câu 4)

B – B – T – T – T – B – B (đối câu 3) (vần)

B – B – T – T – B – B – T (đối câu 6)

T – T – B – B – T – T- B (đối câu 5) (vần)

T – T – B – B – B – T – T

B – B – T – T – T – B – B (vần)

6- Bảng luật thơ Thất ngôn Bát cú Đường Luật, luật Trắc, vần Bằng:

T – T – B – B – T – T – B (vần)

B – B – T – T – T – B – B (vần)

B – B – T – T – B – B – T (đối câu 4)

T – T – B – B – T – T – B (đối câu 3) (vần)

T – T – B – B – B – T – T (đối câu 6)

B – B – T – T – T – B – B (đối câu 5) (vần)

B – B – T – T- B – B – T

T – T – B – B – T – T- B (vần)

7- Ngoài ra còn có thể thơ Ngũ Ngôn Bát Cú và Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt mà chúng ta ít gặp được lấy từ bản chính luật thể Thất Ngôn bỏ đi 2 từ đầu tiên mà thành.

Ví dụ:

Bảng Luật Thơ Thất Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật luật Trắc Vần Bằng:

T – T – B – B – T – T – B (vần)

B – B – T – T – T – B – B (vần)

B – B – T – T – B – B – T

T – T – B – B – T – T – B (vần)

Sau khi bỏ hai từ đầu, sẽ được chuyển thành:

Bảng Luật Thơ Ngũ Ngôn Tứ Tuyệt Đường Luật luật Bằng Vần Bằng:

B – B – T – T – B (vần)

T – T – T – B – B (vần)

T – T – B – B – T

B – B – T – T – B (vần)

Và các bảng khác cũng lượt bỏ tương tự.

8- Theo sự phát triển, thơ Đường Luật về sau được sử dụng rộng rãi hơn ở dạng Biến Thể, đơn giản hơn một chút về luật B – T, người ta thường gọi: “Nhất, Tam, Ngũ bất luận; Nhị, Tứ, Lục phân minh”.

Tức chỉ chú trọng luật B – T ở từ thứ 2, 4, 6 và 7, xin tham khảo ở phần đã có.

Nhờ vào sự phát triển đó, các thể thơ Đường Luật được đa dạng hơn mà nếu dùng bản Chính Luật thì không thể có được. Ví như các thể: Thủ Nhất Thanh, Thuận – Nghịch Độc…

LUẬT BẰNG TRẮC TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT

Trang 1 trong tổng số 1 trang

Permissions in this forum:

Bạn không có quyền trả lời bài viết

【#7】Nguyên Tắc Áp Dụng Pháp Luật Trong Trường Hợp Các Văn Bản Do Cùng Một Chủ Thể Ban Hành Có Quy Định Khác Nhau Về Cùng Một Vấn Đề

Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tóm tắt: Pháp luật ở một số nước, đặc biệt là pháp luật ở các nước theo hệ thống dân luật (Civil law – truyền thống pháp điển hóa) đều quy định nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung” . Việc duy trì và kết nối giữa hai nguyên tắc này để bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật được các nước áp dụng rất chặt chẽ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích hai nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung” và “ưu tiên áp dụng luật được ban hành sau”, từ đó rút ra những gợi mở cho việc sửa đổi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021.

Từ khóa: Nguyên tắc áp dụng pháp luật, hiệu lực pháp luật, luật chuyên ngành, văn bản quy phạm pháp luật.

Abstract: In a number of countries, especially the ones using the civil law, it is often stipulated a principle of “special law repeals general laws (Lex specialis derogat legi generali)” and a principle of “a later law repeals an earlier law (in the case of legal documents issued by the same subject ( L ex posterior derogat legi priori ))”. The maintenance and combination between the two principles to ensure the consistency of the legal system is strictly applied in several countries. Under this article, it is focused on the analysis of the two principles of “special law repeals general laws” and “a later law repeals an earlier law”, thereby on recommendations for amendments of the Law on Promulgation of Legal Documents of 2021.

Keywords: Principles of law application; legal effectiveness; specific law; legal documents.

1. Nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật được ban hành sau” và nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật chuyên ngành trước luật chung” trong áp dụng pháp luật ở một số nước

(1) Nguyên tắc “ưu tiên áp dụng luật được ban hành sau” là nguyên tắc cơ bản trong áp dụng pháp luật ở các nước theo truyền thống pháp điển hóa (Dân luật), có nguồn gốc từ Luật La Mã ( lex posterior derogat legi priori). Chẳng hạn, Bộ luật Dân sự (BLDS) của Nhật Bản quy định, nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy phạm có thời điểm ban hành sau (khi cùng một quan hệ được điều chỉnh bởi hai quy phạm pháp luật có nội dung khác nhau ở trong hai văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý ngang nhau, thì ưu tiên áp dụng quy phạm của văn bản được ban hành sau). Nguyên tắc này được quy định trong hệ thống pháp luật ở nhiều nước, đặc biệt trong pháp luật dân sự và luật điều ước quốc tế, cụ thể:

– Nhật Bản: nguyên tắc ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành: khi một quan hệ pháp luật được điều chỉnh bởi cả quy định của đạo luật chung và đạo luật chuyên ngành thì ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành. Pháp luật Nhật Bản coi đối tượng điều chỉnh của các đạo luật là tiêu chí để phân định một luật là luật chuyên ngành hay là luật chung. BLDS được coi là luật chung, các quy định của pháp luật dân sự được coi là các quy định của luật chung, còn các quy định điều chỉnh các quan hệ giữa các chủ thể bình đẳng về địa vị pháp lý (các quan hệ của luật tư) trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội có tính đặc thù như thương mại, bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, dịch vụ… được coi là các quy định của luật chuyên ngành. Về kỹ thuật lập pháp, luật được coi là luật chuyên ngành phải bao hàm điều khoản quy định, luật này sẽ được ưu tiên áp dụng trước luật chung.

Luật Thương mại Nhật Bản cũng ghi nhận thứ tự ưu tiên áp dụng quy định của Luật để điều chỉnh các giao dịch kinh doanh, thương mại… trừ khi có quy định ở luật khác. Trường hợp Luật này không quy định, thì áp dụng tập quán thương mại, sau đó là quy định của BLDS.

– BLDS Trung Quốc, Vương quốc Campuchia “. Tương tự, ở đa số các nước khác, khi giữa các quy định pháp luật được xem xét áp dụng có xung đột, toà án đóng vai trò là cơ quan giải thích và lựa chọn quy phạm để áp dụng.

3. Nguyên tắc áp dụng pháp luật trong pháp luật Việt Nam

– Nhật Bản: Pháp luật Nhật Bản quy định nguyên tắc theo thứ tự ưu tiên như sau: (1). Ưu tiên áp dụng quy định của văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn; (2) Ưu tiên áp dụng quy định của luật chuyên ngành trước quy định của luật chung; (3) Ưu tiên áp dụng quy định của văn bản luật ban hành sau.

Trong hệ thống pháp luật nước ta hiện nay, việc diễn đạt nguyên tắc pháp luật chuyên ngành có ưu thế trước luật chung còn được thể hiện dưới hình thức: “ưu tiên áp dụng pháp luật”. Ví dụ, Luật Đầu tư năm 2014, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP).

Thứ ba, còn diễn ra tình trạng một số bộ, ngành lạm dụng nguyên tắc “ưu tiên áp dụng pháp luật” để ban hành nhiều quy định đặc thù có lợi cho bộ, ngành, lĩnh vực quản lý của mình, dễ tạo ra nguy cơ hệ thống pháp luật chồng chéo, không thống nhất.

Thứ tư, hoạt động rà soát, thẩm định, thẩm tra văn bản trong quá trình xây dựng luật còn bất cập dẫn đến một số trường hợp không phát hiện và sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản mâu thuẫn, chồng chéo Lex specialis derogat legi generali.

Khoản 3 Điều 30 Công ước Viên năm 1969 về Luật Điều ước quốc tế cũng nghi nhận nguyên tắc này.

Điều 11 Luật Các quy định chung về pháp luật dân sự năm 2021 của Trung Quốc quy định: Trường hợp các luật khác nhau có quy định riêng về quan hệ dân sự thì quy định riêng được ưu tiên áp dụng”.

Điều 1 BLDS Vương quốc Campuchia quy định: ” Bộ luật này quy định về các quan hệ pháp luật dân sự cơ bản. Trường hợp, các quan hệ tài sản và quan hệ gia đình không được quy định trong luật chuyên ngành, thì áp dụng quy định của Bộ luật này “.

Disagreements concerning the continued applicability of law as federal law shall be resolved by the Federal Constitutional Court.

Article 92 of the Law on Lesgislation.

Khoản 2 Điều 4 Luật Đầu tư năm 2014 quy định: ” 2. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh, ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư thì thực hiện theo quy định của Luật này, trừ trình tự, thủ tục đầu tư kinh doanh theo quy định tại Luật Chứng khoán, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Dầu khí.”

Khoản 2 và khoản 3 Điều 4 Dự thảo Luật Đầu tư ( sửa đổi) quy định:

“2. Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và luật khác về ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh hoặc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thì thực hiện theo quy định của Luật này.

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 07 (407), tháng 04/2020.)

Xử lý mâu thuẫn trong nguyên tắc áp dụng pháp luật – Nhật An – Báo đại biểu nhân dân 19/3/2020.

[22] Chẳng hạn: rất nhiều quy định trong Luật Thương mại đã trở nên “lỗi thời” nhưng không hề bị bãi bỏ và đang có tình trạng một số luật và Luật Thương mại quy định khác nhau về cùng một vấn đề.

【#8】Hợp Đồng Hành Chính Vô Hiệu Theo Quy Định Của Luật Công

Bài viết: Hợp đồng hành chính vô hiệu theo quy định của luật công

  • Tác giả: Võ Trí Hảo*
  • Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 09(94)/2015 – 2021, Trang 57-63

TÓM TẮT

ABSTRACT:

Administrative contract is a special kind of contract. It is an agreement, therefore it must obey most of valid conditions of a civil contract; but it also to bear “public value” because administrative contract is related to public service and somehow related to state power. Therefore, in designing principles to annul an administrative contract, law makes should follow other public law principles beside principle of private contract. These are principles of legal peace, protecting good belief of citizens, ensuring the right to access to justice. Under the influence of the above mentioned principles, there are a lot of exceptional cases in considering the validity of administrative contract in comparison with that of civil contract. These exceptional cases are grouped in intensified exceptions and exempt exceptions.

TỪ KHÓA:

1. Những nguyên tắc, giá trị đặc thù khi thiết kế, xem xét hợp đồng hành chính vô hiệu

1.1. Tính ổn định của trật tự pháp luật

Việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu sẽ dẫn tới khôi phục lại trật tự ban đầu, hay nói cách khác sẽ diễn ra hiện tượng hồi tố. So với hợp đồng dân sự thương mại, việc khôi phục lại trật tự ban đầu hay hồi tố đối với HĐHC có thể gây ra hậu quả rất lớn, bởi bốn đặc thù:

– Thứ nhất, HĐHC, đặc biệt là dạng hợp đồng hợp tác công tư (Public – Private Partner hay còn gọi là PPP) thường có thời gian kéo dài 30-50 năm. Vì vậy, khi hồi tố, thì khoảng thời gian giật lùi rất dài, gần bằng ½ đời người sẽ gây ra sự thay đổi rất lớn, thậm chí không có khả năng hồi tố.

– Thứ ba, HĐHC cũng thường được sử dụng trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng. Cả một khu phố được xây lên căn cứ vào một HĐHC. Nếu muốn tuyên bố vô hiệu và khôi phục lại trật tự ban đầu, có nghĩa cả khu phố phải biến mất. Đây là sự thay đổi ghê gớm và thường gặp sự chống đối của cư dân và phản ứng của công chúng nói chung, khiến các nhà chính trị e ngại. Bởi vậy, họ phải tìm lối thoát, tìm căn cứ cho việc cho phép một HĐHC tuy trái luật, nhưng vẫn có hiệu lực và được phép tiếp tục tồn tại.

Chính vì những tác động nêu trên, khi thiết kế chế tài tuyên bố vô hiệu đối với HĐHC, nhà làm luật phải tìm được điểm cân bằng giữa một bên là tính ổn định của hoạt động hành chính và một bên là cái giá phải trả khi hồi tố xới tung lên các quan hệ xã hội, trật tự pháp luật đã được thiết lập ổn định hàng chục năm.

Bởi vậy, nguyên tắc chung là khi xem xét một HĐHC vô hiệu hay không, yếu tố bảo đảm sự ổn định pháp luật (Rechtsicherheit) có sức nặng rất lớn.

1.2. Quyền tiếp cận công lý khi cho rằng bị cơ quan công quyền xâm phạm lợi ích

Một yêu cầu của nhà nước pháp quyền là bất kỳ khi nào công dân cho rằng quyền lợi ích của mình đang bị cơ quan công quyền xâm phạm thì họ đều có quyền khởi kiện ra trước tòa án hay nói cách khác quyền tiếp cận tòa án, tiếp cận công lý của công dân phải được bảo đảm. Bởi vậy, khi bên đối tác tư nhân hay bên thứ ba thấy rằng HĐHC (với tư cách là một hình thức quản lý nhà nước) đang ảnh hưởng đến lợi ích của mình, theo yêu cầu nêu trên, họ có quyền khởi kiện HĐHC ra tòa án, trong đó có quyền yêu cầu tuyên bố HĐHC trái luật và vô hiệu. Điều này có nghĩa, nhà lập pháp và tòa án không thể chỉ dựa vào mục tiêu ổn định của trật tự pháp luật, hay chỉ dựa vào quyền tiếp cận công lý để thiết kể giải pháp cho HĐHC; mà họ phải tìm ra điểm cân bằng của hai giá trị xung đột này; và tìm ra giải pháp vừa bảo đảm quyền lợi của người dân, vừa bảo đảm tính ổn định của trật tự pháp luật.

Thông thường nhà nước sẽ chủ động đứng ra lãnh phần thiệt hại về lợi ích cho một trong hai bên của HĐHC khi xảy ra xung đột giữa quyền tiếp cận công lý và yêu cầu giữ ổn định của trật tự pháp luật dẫn tới tình huống không thể dung hòa.

1.3. Bảo vệ niềm tin công dân

Nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân như là hệ quả của một mức phát triển cao của nhà nước pháp quyền khẳng định khía cạnh: luật pháp và việc áp dụng luật pháp phải mang lại kết quả công bằng. Nói cách khác, pháp luật phải phục vụ người dân, khi không đạt được mục đích đó thì việc áp dụng pháp luật không còn ý nghĩa. Nguyên tắc này không phải do các nhà lập pháp nghĩ ra mà là sự phát triển từ bản án E9, 251 của Tòa hành chính tối cao (tiểu bang) Berlin vào tháng 10 năm 1957.

Thuật ngữ “hợp đồng hành chính phụ thuộc” chỉ loại hợp đồng trong đó một bên có địa vị thượng phong và một bên yếu thế; hay nói cách khác giữa hai bên có mối quan hệ phụ thuộc, quyền lực đàm phán không tương xứng với nhau, mặc dầu tại thời điểm ký kết, hai chủ thể vẫn bắt buộc được công nhận là “cùng một mặt bằng”.

Bởi vậy, trong trường hợp này, nếu áp dụng các biện pháp bảo vệ bên yếu thế thông thường như đối với hợp đồng dân sự thương mại sẽ không có hiệu quả, mà cần phải yêu cầu cơ quan hành chính tuân thủ nguyên tắc dưới luật, tuân thủ các giá trị công như thể là các bên đang ở trong quan hệ ban hành QĐHC.

a. Hợp đồng hành chính phụ thuộc vô hiệu khi nội dung của QĐHC tương ứng bị vô hiệu

HĐHC xuất phát từ QĐHC, dùng để thay thế QĐHC, nên hợp đồng hành chính phụ thuộc có thể bị tuyên bố vô hiệu nếu nội dung của QĐHC tương ứng (quyết định mà HĐHC hướng tới thay thế) bị vô hiệu theo pháp luật hành chính, dù HĐHC đáp ứng đủ các yêu cầu của luật dân sự. Sự vô hiệu có thể xuất hiện khi HĐHC vi phạm các quy định của thủ tục hành chính chung, ví dụ thủ tục ban hành quyết định quản lý nhà nước, hoặc có thể xuất hiện khi vi phạm các quy định của luật hành chính chuyên ngành như quản lý đất đai, môi trường, tài nguyên…

b. Hợp đồng hành chính phụ thuộc bị vô hiệu khi không tuân thủ đúng hình thức và thủ tục của quyết định hành chính và các bên của hợp đồng hành chính biết điều đó

Luật dân sự không đặt ra vấn đề các bước ký kết hợp đồng và không đặt ra vấn đề vô hiệu tương ứng. Tuy nhiên, đối với QĐHC thì ngược lại, thủ tục ban hành thường được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ. Khi ký kết HĐHC phụ thuộc, các bên phải tuân theo các thủ tục này như khi đang ban hành một QĐHC.

Mặt khác, đối tác tư nhân khi tham gia hợp đồng thường không có nhiều hiểu biết về thủ tục ban hành QĐHC tương ứng và họ cũng thường quan niệm: đối tác tư nhân không chịu sự ràng buộc của các giá trị công. Bởi vậy, HĐHC phụ thuộc trong trường hợp này chỉ bị tuyên bố vô hiệu khi hai bên đều ý thức được sự vi phạm về thủ tục ký kết nhưng vẫn cố tình.

2.1.2. Ngoại lệ gia cường đối với hợp đồng bù trừ. Bởi vậy, pháp luật áp dụng chế tài tuyên bố vô hiệu đối với hợp đồng bù trừ giả tạo. Hợp đồng bù trừ giả tạo diễn ra khi lý do dẫn tới bù trừ không có thực, tranh chấp pháp lý không có thực, sự bất định, rủi ro không có thực; hoặc những yếu tố này là có trong thực tế nhưng lại không giống như những nội dung mà HĐHC hướng tới. Sự bịa đặt này có thể nhằm che đậy một QĐHC. Nếu QĐHC bị che đậy là hợp pháp, thì HĐHC bù trừ và giả tạo bị vô hiệu, nhưng nội dung QĐHC mà nó che đậy có thể vẫn có hiệu lực. Nếu bản thân QĐHC bị che đậy là bất hợp pháp, thì HĐHC giả tạo và QĐHC được che đậy đều vô hiệu và HĐHC giả tạo không mang lại một hiệu ứng pháp lý nào. Quy phạm phổ biến thường thấy là “người được đại diện khi có thái độ tạo nên cho bên thứ ba tin tưởng một cách hợp lý rằng người đại diện có quyền hành động vì lợi ích của người được đại diện sẽ không thể viện dẫn bất lợi cho bên thứ ba về việc người đại diện không có đủ thẩm quyền, vì vậy, bị ràng buộc bởi hành vi của người đại diện”. Người thứ ba chỉ có thể viện dẫn học thuyết “thẩm quyền hiển nhiên” và buộc người được đại diện phải chịu sự ràng buộc khi chứng minh được hai điều kiện: một là, người được đại diện đã có lỗi khi tạo ra thẩm quyền đại diện bên ngoài của người đại diện và hai là, người thứ ba hành động một cách thiện chí, ngay tình.

Như vậy, đối với HĐHC, khi người người ký kết không phải là người đại diện theo pháp luật của cơ quan hành chính, sẽ không tự động dẫn đến vô hiệu như trong hợp đồng dân sự, thương mại.

2.2.2. Vi phạm điều kiện về tính tự nguyện của cơ quan nhà nước

Hợp đồng dân sự, thương mại khi vi phạm điều kiện về tính tự nguyện, như có yếu tố nhầm lẫn, đe dọa sẽ bị coi là vô hiệu. Trong HĐHC, nếu bên đối tác tư nhân không được bảo đảm tính tự nguyện, bị nhầm lẫn, đe dọa, thì HĐHC sẽ bị tuyên bố vô hiệu theo yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, tính tự nguyện của đối tác cơ quan nhà nước được mặc nhiên suy đoán. Bên đại diện cho quyền lực nhà nước tham gia HĐHC, là bên nhân danh quyền lực nhà nước sẽ không được nại ra lý do bị đe dọa, nhầm lẫn để yêu cầu hủy bỏ HĐHC. Bởi, cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước, nhân danh quyền lực nhà nước bảo vệ người dân chống lại mọi sự đe dọa trái pháp luật, thì chính họ sẽ mất đặc quyền này. Nói cách khác, nếu vì sự tắc trách của công chức, mà có thể diễn ra sự nhầm lẫn, hay không có tính tự nguyện từ cơ quan nhà nước, thì HĐHC vẫn có hiệu lực, đặc biệt đối với HĐHC nhằm hướng tới trợ cấp xã hội, cứu đói – người dân đã tiêu hết tiền, ăn hết gạo, thì không thể tuyên HĐHC vô hiệu để đòi lại gạo tiền được, mà buộc phải chấp nhận HĐHC có hiệu lực, mặc cho có tì vết về ý chí từ phía cơ quan nhà nước.

2.2.3. Vi phạm điều kiện hình thức hợp đồng, HĐHC vẫn có thể có hiệu lực

Trong một số vụ án, những cam kết của cơ quan nhà nước không được văn bản hóa, không thỏa mãn điều kiện hình thức của HĐHC. Tuy nhiên, cuối cùng, cam kết đó được tòa án thừa nhận hiệu lực pháp lý và bảo đảm thực thi bởi nguyên tắc nhà nước pháp quyền và nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân.

Kết luận

CHÚ THÍCH

Tiếng Đức gọi là Subordinationsrechtliche Vertraege. Tiếng Anh gọi là Subordination contracts.

Trong khi HĐHC ngang hàng không cần thiết phải bảo vệ mức cao như vậy.

Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 94.

Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 95.

Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 96.

Matthias Werner, sđd, 2008, tr. 97.

Võ Trí Hảo – Hà Thu Thủy, “Nguyên tắc bảo vệ niềm tin công dân trong hệ thống pháp luật Đức”, Tạp chí Nghề luật, 8/2007, số 3, tr. 60 – 64.

[15] Đáng tiếc, ở Việt Nam, lý luận về nguyên tắc bảo vệ niềm tin, ngoại diên khái niệm HĐHC chưa đủ rộng, dẫn tới phủ nhận giá trị pháp lý của các thỏa thuận được xác lập trong quá trình đối thoại trong giải quyết khiếu nại. Kết cục đã xảy ra những vụ việc đau lòng như vụ án Đoàn Văn Vươn.

【#9】Ban Hành Văn Bản Quy Định Chi Tiết Luật, Nghị Quyết Của Quốc Hội

Phó Vụ trưởng Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp THS. TRẦN VIỆT ĐỨC Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp.

Tóm tắt: Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021 (Luật năm 2021), việc giao và ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện bởi nhiều chủ thể với nhiều hình thức văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) khác nhau. Trong đó, Quốc hội là một trong những chủ thể có thẩm quyền giao quy định chi tiết. Thực tiễn cho thấy, việc giao quy định chi tiết trong luật, nghị quyết của Quốc hội và việc ban hành văn bản quy định chi tiết của các chủ thể được Quốc hội ủy quyền vẫn còn một số hạn chế, bất cập cần được tiếp tục hoàn thiện.

Từ khóa: ủy quyền lập pháp, lập pháp ủy quyền, văn bản quy định chi tiết.

Abstract: According to the provisions of the Law on Promulgation of Legal Documents of 2021, the developments and issuance of detailed regulations are made by several authorized bodies with different modalities of the legal normative documents. In particular, the National Assembly is one of the authorized bodies, that possesses the authority to assign other entities to provide the detailed regulations. The practical performance shows that the assigned authority to provides the detailed provisions in laws, resolutions of the National Assembly and the issuance of detailed regulations by the bodies authorized by the National Assembly still have a number of drawbacks and shortcomings that need to be reviewed for further improvements.

Keywords: legislative authorization, authorised legislation, detailed legal documents.

1. Khái niệm ủy quyền lập pháp và các trường hợp được coi là ủy quyền lập pháp ở Việt Nam

Khái niệm ủy quyền lập pháp (legislative delegation) được hiểu phổ biến hiện nay, là việc cơ quan lập pháp của quốc gia ủy quyền, hay nói cách khác là cho phép một chủ thể khác ở bên trong hoặc bên ngoài bộ máy nhà nước được ban hành pháp luật, dưới hình thức VBQPPL. Pháp luật được ban hành theo cách thức ủy quyền lập pháp cũng có hiệu lực bắt buộc đối với các chủ thể chịu tác động giống như (mặc dù không phải là ngang bằng), với pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành; điều đó có nghĩa là pháp luật được ban hành theo ủy quyền lập pháp cũng có thể chứa đựng các nghĩa vụ hay hạn chế pháp lý buộc các chủ thể mà trước tiên là người dân phải thực hiện và việc không thực hiện hoặc thực hiện sai có thể đem lại hậu quả pháp lý bất lợi do cơ quan tư pháp áp dụng.

Ở một số nước trên thế giới, Hiến pháp Cộng hòa Kyrgyzstan (Constitution of the Kyrgyz Republic), Luật lập pháp của nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2021 (Legislation Law of the People’s Republic of China (2015 Amendment) .

Trường hợp thứ hai, Quốc hội giao Chính phủ ban hành nghị định để quy định vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội (loại nghị định này trước khi ban hành phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội).

Thực tiễn xây dựng, ban hành VBQPPL tại Việt Nam cho thấy, việc Quốc hội giao cho các cơ quan khác ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội đã và đang diễn ra tương đối phổ biến tại hầu hết các văn bản luật, nghị quyết do Quốc hội ban hành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc giao ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện thiếu sự kiểm soát chặt chẽ cả về nội dung và chủ thể được giao ban hành. Thực trạng này đã phần nào làm giảm vai trò của Quốc hội với chức năng là cơ quan thực hiện quyền lập pháp. Bên cạnh đó, thời gian qua, hoạt động ban hành văn bản quy định chi tiết được thực hiện bởi các cơ quan được Quốc hội ủy quyền cũng còn nhiều hạn chế, bất cập. Do vậy, trong thời gian tới, vấn đề ủy quyền quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội và việc ban hành văn bản quy định chi tiết theo ủy quyền cần được tiếp tục nghiên cứu, đánh giá toàn diện cả về lý luận và thực tiễn.

2. Ban hành văn bản quy định chi tiết theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2021

Luật năm 2021, tuy chưa trực tiếp quy định vấn đề ủy quyền lập pháp trong xây dựng pháp luật, nhưng một số quy định của Luật đã thể hiện khá rõ tư tưởng, tinh thần của ủy quyền lập pháp. Những quy định này có thể coi là tiền đề cho việc xem xét, áp dụng ủy quyền lập pháp ở Việt Nam.

Về việc giao và ban hành văn bản quy định chi tiết, khoản 1 và khoản 2 Điều 11 của Luật năm 2021 quy định:

(i) Quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 11 đã thể hiện tương đối rõ một số nguyên tắc quan trọng của ủy quyền lập pháp, đó là (1) việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội chỉ có thể được thực hiện trong trường hợp được Quốc hội giao; (2) cơ quan được giao quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp; (3) văn bản ban hành theo ủy quyền lập pháp chỉ được quy định những nội dung được giao, không được quy định vượt quá phạm vi nội dung được giao trong văn bản ủy quyền lập pháp (văn bản được quy định chi tiết).

(iii) Về chủ thể thực hiện ủy quyền lập pháp: dù không quy định trực tiếp tại Điều này nhưng căn cứ thẩm quyền, nội dung VBQPPL được quy định tại các Điều 19, 24, 27 và 28 của Luật năm 2021, chúng ta có thể thấy, các chủ thể được giao nhiệm vụ quy định chi tiết gồm: Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND cấp tỉnh (trong một số ít trường hợp, một nhóm chủ thể có thẩm quyền ban hành VBQPPL cũng có thể được giao liên tịch ban hành văn bản quy định chi tiết). Về nguyên tắc, cơ quan có thẩm quyền quy định chi tiết phải được xác định rõ ngay tại điều, khoản, điểm có nhu cầu ủy quyền lập pháp. Mỗi nội dung ủy quyền lập pháp chỉ trao cho một chủ thể có thẩm quyền ban hành VBQPPL để thực hiện.

(iv) Về hình thức ủy quyền lập pháp: (1) việc ủy quyền lập pháp phải được nêu rõ trong luật, bộ luật hoặc nghị quyết của Quốc hội; (2) văn bản để thực hiện ủy quyền lập pháp (văn bản quy định chi tiết) phải được ban hành đúng thẩm quyền và đúng hình thức VBQPPL mà chủ thể nhận ủy quyền lập pháp có thẩm quyền ban hành.

(v) Về kiểm soát ủy quyền lập pháp: Luật năm 2021 bổ sung quy định ” Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh” đồng thời, kế thừa quy định của Luật Luật năm 2008 về việc yêu cầu văn bản quy định chi tiết “phải được ban hành để có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết.”. Cùng với đó, việc kiểm soát hiệu lực của văn bản quy định chi tiết khi văn bản được quy định chi tiết hết hiệu lực được quy định rõ tại khoản 4 Điều 154 của Luật năm 2021, theo đó “Văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực thì văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết thi hành, văn bản đó cũng đồng thời hết hiệu lực”.

Do vậy, có thể thấy rằng, tuy chưa xác lập được một cách đầy đủ, rõ ràng cơ chế kiểm soát ủy quyền lập pháp, nhưng xét ở một khía cạnh nào đó, quy định nêu trên đã cho thấy tư tưởng kiểm soát việc ủy quyền ban hành văn bản quy định chi tiết, cụ thể là: kiểm soát nội dung văn bản quy định chi tiết ngay trong quá trình soạn thảo dự án luật, dự thảo nghị quyết (thông qua việc trình đồng thời dự thảo văn bản quy định chi tiết khi trình hồ sơ dự án luật) và kiểm soát thời điểm có hiệu lực và thời điểm hết hiệu lực của văn bản quy định chi tiết (phải có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật hoặc điều, khoản, điểm được quy định chi tiết và đồng thời hết hiệu lực khi đạo luật giao quy đinh chi tiết đó hết hiệu lực).

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, quy định của Luật năm 2021 về việc giao ban hành và ban hành văn bản quy định chi tiết dưới góc độ ủy quyền lập pháp vẫn còn một điểm bất cập sau:

Một là, chủ thể được ủy quyền lập pháp còn khá rộng. Theo đó, vẫn còn quá nhiều văn bản có thể được xếp vào nhóm các văn bản ủy quyền lập pháp. Thực tế, việc quá nhiều chủ thể được ủy quyền ban hành văn bản quy định chi tiết là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu đồng bộ, khó kiểm soát trong ban hành VBQPPL. Nói cách khác, việc ủy quyền lập pháp cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, đặc biệt một số trường hợp ủy quyền cho chính quyền địa phương quy định chi tiết có thể tác động tiêu cực đến tính thống nhất trong tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước.

Hai là, chưa có giới hạn rõ ràng về phạm vi những vấn đề giao quy định chi tiết. Với quy định Quốc hội có thể ủy quyền “những nội dung khác cần quy định chi tiết” (khoản 1 Điều 11) có thể dẫn đến cách hiểu là bất cứ vấn đề nào thuộc thẩm quyền của Quốc hội, trừ 33 nội dung mà Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định là phải “do luật định”, “theo luật định” hoặc “theo quy định của luật” thì đều có thể được ủy quyền lập pháp. Cách hiểu này sẽ dẫn đến tình trạng tùy tiện của cơ quan lập pháp trong việc xác định nội dung cần giao quy định chi tiết. Đồng thời, việc ủy quyền quá nhiều cho cơ quan hành pháp sẽ làm tăng gánh nặng, sức ép cho các cơ quan này trong việc ban hành văn bản quy định chi tiết. Do vậy, nếu thiếu sự giám sát chặt chẽ, rất có thể các cơ quan nhận ủy quyền lập pháp sẽ thực hiện quyền được trao đó không theo đúng cách thức, mục đích, yêu cầu mà Quốc hội mong muốn.

Ba là, quy định “văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật” chưa hợp lý vì 02 lý do chính sau đây: (1) trong quá trình soạn thảo dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, hầu hết các cơ quan chủ trì soạn thảo mới chỉ dự kiến được những nội dung để đề xuất Quốc hội giao quy định chi tiết, trong khi đó việc quyết định nội dung nào sẽ được giao quy định chi tiết và chủ thể nào có thẩm quyền ban hành văn bản quy định chi tiết lại hoàn toàn do Quốc hội xem xét, quyết định; (2) về lý thuyết và trên thực tế đã xảy ra trường hợp dự án luật, dự thảo nghị quyết do một bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì soạn thảo nhưng trong dự thảo lại có quy định giao cho bộ, cơ quan ngang bộ khác, thậm chí địa phương ban hành văn bản quy định chi tiết. Trong những tình huống như vậy, cơ quan chủ trì soạn thảo sẽ rất khó khăn trong việc chuẩn bị các dự thảo văn bản quy định chi tiết.

Bốn là, Luật năm 2021 chưa xác định rõ ” văn bản quy định chi tiết” là những văn bản nào. Do vậy, sẽ không dễ dàng để phân biệt rạch ròi giữa nội dung được giao quy định chi tiết với nội dung hướng dẫn thi hành, nhất là khi các nội dung này được quy định “lẫn lộn” trong cùng một văn bản với tên gọi là “nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành …”. Cùng với đó, cách thức thiết kế quy định về ủy quyền ban hành văn bản trong các VBQPPL hiện hành cũng rất khác nhau, như: “Chính phủ hướng dẫn thực hiện quy định này”, “thực hiện theo quy định của Chính phủ”, “quy định cụ thể vấn đề này tại nghị định của Chính phủ”, “Chính phủ quy định cụ thể vấn đề này”...

3. Thực tiễn việc giao nội dung quy định chi tiết và việc ban hành văn bản quy định chi tiết luật, nghị quyết của Quốc hội

Thứ nhất, số lượng điều, khoản, điểm được giao quy định chi tiết trong các luật, nghị quyết của Quốc hội thời gian qua vẫn rất lớn.

Từ ngày 01/7/2016 đến ngày 30/6/2019 (tại các kỳ họp thứ 2, 3, 4, 5, 6 và 7 của Quốc hội khóa XIV) ]; vẫn có trường hợp nội dung giao quy định chi tiết là những vấn đề mới, khó và phức tạp ].

Bên cạnh đó, qua rà soát một số dự án luật được xây dựng, ban hành theo quy định của Luật năm 2021, về cơ bản, các cơ quan trình dự án luật đã tuân thủ quy định về việc trình đồng thời dự thảo văn bản quy định chi tiết. Tuy nhiên, hầu hết nội dung của dự thảo văn bản quy định chi tiết mới chỉ là ý chí chủ quan của cơ quan chủ trì soạn thảo. Do vậy, một số trường hợp giữa nội dung của dự thảo văn bản quy định chi tiết được trình kèm hồ sơ dự án luật với nội dung của văn bản quy định chi tiết được cơ quan có thẩm quyền ban hành sau khi luật, nghị quyết được Quốc hội xem xét, thông qua còn có sự khác biệt khá lớn.

Ví dụ: đối với dự án Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, Chính phủ trình kèm hồ sơ dự án Luật 01 nghị định quy định chi tiết (dự thảo gồm 33 Điều) ]; tổng số điều của 04 Nghị định này là 190 Điều Tô Văn Hòa và Nguyễn Hải Ninh (2017), Ủy quyền lập pháp – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, tr. 30, 31.

Xem Điều 80, https://www.btg-bestellservice.de/pdf/80201000.pdf.

Xem Điều 6, https://www.legislationline.org/documents/id/16732.

Hiến pháp năm 2013 chỉ có quy định về việc Quốc hội ủy quyền cho Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành pháp lệnh (khoản 2 Điều 74).

Xem khoản 3 Điều 19 của Luật Ban hành VBQPPL năm 2021.

]http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_DUTHAO_LUAT/View_Detail.aspx?ItemID=1241&TabIndex=2&TaiLieuID=2867.

] Nghị định 34/2018/NĐ-CP ngày 08/3/2018 của Chính phủ về việc thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sáng tạo; Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; Nghị định 39/2019/NĐ-CP ngày 10/5/2019 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.

[[19]] Lê Thị Thiều Hoa, Đánh giá chung thực trạng ủy quyền lập pháp tại Việt Nam hiện nay, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ủy quyền lập pháp tại Việt Nam hiện nay”, Hà Nội (2018).

(Nguồn tin: Bài viết được đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 22 (398), tháng 11/2019.)

【#10】Luật Lệ Quanh Ta (57) Luật Lao Động Úc

Thời gian gần đây,đài ABC thực hiện nhiều phóng sự tiết lộ tình trạng làm việc tồi tệ của nhiều người làm thuê tại các nông trại của Úc. Họ bị so sánh như những nô lệ thời hiện đại, bị bóc lột, phân biệt đối xử, thậm chí hãm hiếp.

Trái cây mà chúng ta ăn hàng ngày mua tại các siêu thị Coles hay Woolworth đến từ những nông trại thuê mướn các lao động ngoại quốc này.

Bên cạnh đó, 7 Eleven đứng trước cơn bão công luận khi các ký giả phanh phui một cửa hàng buộc nhân viên phải rút tiền mặt trả cho chủ sau khi nhận lương.

Đài ABC vừa thực hiện một phóng sự, quay lén cho thấy cảnh nhân viên của một cửa hàng 7 Eleven bị buộc phải rút tiền mặt từ lương của mình ra để trả lại cho chủ nhân.

Cụ thể, chủ nhân của họ trả lương một cách “hợp pháp” qua tài khoản ngân hàng và” đóng thuế” cho nữ nhân viên này là $21/h lao động. Thế nhưng cô này phải rút tiền ra để trả lại một nửa tiền lương cho chủ. Thực tế, nữ nhân viên này chỉ nhận $11/h mà thôi.

Bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2010 các tiểu bang gồm có NSW, Queensland, Nam Úc và Tasmania đã chuyển giao quyền làm luật và giám sát quan hệ lao tư cho chính quyền liên bang. Luật lao động liên bang gọi là Fair Work Act 2009 nay được áp dụng trên toàn quốc.

Ngoại trừ tại Tây Úc thì Fair Work Act chỉ áp dụng cho công nhân làm việc cho các công ty thương mại vì Hiến Pháp Úc trao quyền giám sát công ty thương mại cho chính quyền liên bang. Công nhân làm việc cho chính quyền tiểu bang hoặc các hội đồng thành phố vẫn tiếp tục nằm dưới đạo luật quan hệ lao tư tại các tiểu bang và lãnh thổ.

Ngoài ra, một số đạo luật tại các tiểu bang vẫn tiếp tục có tầm ảnh hưởng đến quan hệ lao tư ví dụ như các đạo luật chống kỳ thị tại nơi làm việc, long service leave, bảo hiểm công nhân (workers compensation), hưu bỗng, huấn nghệ, được phép nghỉ làm để thi hành trách nhiệm tham gia bồi thẩm đoàn và các điều lệ an toàn nơi làm việc.

Dưới Đạo luật liên bang Fair Work Act thì có 3 cơ quan công quyền giám sát quan hệ lao tư: Fair Work Australia (FWA), Fair Work Ombudsman (FWO) và Toà án Liên bang. FWA là cơ quan thay thế các ủy hội quan hệ lao tư (Industrial Relation Commissions) có quyền giải quyết các tranh chấp ví dụ như ấn định số tiền bồi thường khi cho công nhân cho nghỉ việc (redundancy pay).

FWA cũng có quyền xét xử các vụ kiện sa thải bất công (unfair dismissal) và giám sát để bảo đảm các cuộc đình công nằm trong khuôn khô luật định và nếu cần ra lệnh đình trệ hoặc chấm dứt các cuộc đình công bất hợp pháp. Ngoài ra, FWA cũng có trách nhiệm theo dõi, giám sát và ấn định mức lương tối thiểu (hiện tại là $16.37 một tiếng hoặc $622.20 một tuần cho người lớn).

FWO là một cơ quan độc lập được hình thành dưới Đạo luật Fair Work Act. Tổ chức này có trách nhiệm cố vấn và cung cấp thông tin về quyền hạn và trách nhiệm của chủ nhân và công nhân dưới luật lao động liên bang. Họ cũng có thể xúc tiến điều tra nếu có người khiếu nại về các trường hợp vi luật và nếu cần tiến hành truy tố phạm nhân hoặc các công ty không tuân thủ luật lao động.

Là công nhân hay nhà thầu độc lập

Ngày càng có nhiều công ty muốn biến công nhân của họ thành những nhà thầu độc lập (independent contractor) để bớt tốn kém và tránh né trách nhiệm pháp lý.

Ví dụ như trong kỹ nghệ xây cất, những người thợ hồ, lót gạch, thợ điện, ống nước…trước đây làm công cho các công ty xây cất thì bây giờ phải thành lập công ty có ABN riêng. Tương tự như vậy, những người lái xe truck cho các công ty giao thông vận tải giờ đều tự làm chủ và gửi hóa đơn tính tiền sau mỗi vụ chuyên chở. Nếu là nhân công thì chủ nhân phải chịu trách nhiệm pháp lý cho họ (vicarious liability).

Ví dụ như khi họ bất cẩn gây ra tai nạn làm tổn hại đến người khác thì chủ nhân phải chịu trách nhiệm bồi thường. Ngoài ra, thuê mướn người tốn kém nhiều hơn vì chủ nhân phải đóng tiền hưu bỗng, bảo nhiểm công nhân, trả annual leave, sick leave, long service leave…Nếu là nhà thầu độc lập thì chủ nhân không chịu trách nhiệm pháp lý và không phải đóng những số tiền vừa kể.

Không phải lúc nào cũng dễ dàng phân biệt được giữa công nhân và nhà thầu độc lập. Để trả lời câu hỏi này thì tòa án dựa vào một số tiêu chuẩn gồm có:

  1. Điều khoản hợp đồng giữa hai bên thế nào?
  2. Chủ nhân có kiểm soát tiến trình hoặc công tác làm việc hay không?
  3. Cách thức trả lương thế nào, hàng giờ, hàng tuần hoặc sau khi công việc đã xong?
  4. Chủ nhân có cung cấp dụng cụ để thi hành công tác hay không?
  5. Có mặc đồng phục của công ty không?
  6. Công nhân có thể thuê người làm phụ hoặc thế hay không?
  7. Công nhân có cơ hội kiếm lời hoặc nguy cơ bị lỗ hay không?
  8. Công nhân có quyền nhận thêm việc của người khác hay không?
  9. Ai chịu trách nhiệm đóng bảo hiểm?

Mỗi trường hợp phụ thuộc vào những yếu tố riêng biệt. Ví dụ như một người lái xe đạp giao hàng (bicycle courier) được trả lương dựa trên số lượng hàng giao nhưng phải mặc đồng phục công ty và tính lệ phí giao hàng theo sự chỉ định của công ty thì được xem là người làm công.

Trong khi đó,người khác lái xe truck giao hàng nhưng phải tự sắm xe truck và có thể mướn người khác lái giùm thì được coi là nhà thầu độc lập. Một người thợ hồ làm việc cho một công ty xây cất được trả lương dựa theo số ngày làm việc là một công nhân nhưng một người thợ điện vừa làm chỗ này vừa làm chỗ khác và có mướn thêm nhân viên phụ việc thì được coi là nhà thầu độc lập.

10 tiêu chuẩn lao động

Đạo luật FairWork Act 2009 đặt ra 10 tiểu chuẩn lao động được áp dụng trên toàn quốc. Thứ nhất, thời gian làm việc của công nhân toàn thời tối đa là 38 tiếng một tuần nhưng chủ nhân có thể yêu câu làm overtime một cách vừa phải và hợp lý. Công nhân nào đã làm việc trên 12 tháng và có con nhỏ thì có thể xin chủ nhân cho phép làm việc trong giờ giấc thuận tiện (flexible working hours).

Nói về quyền lợi lao động thì thông thường không có sự phân biệt giữa công nhân làm việc toàn thời và bán thời ngoại trừ công nhân bán thời thì được hưởng theo tỷ lệ. Riêng công nhân làm việc bất thường (casual employees) thì không được hưởng những quyền lợi nêu trên.Để bù lại, luật pháp ấn định họ được trả thêm tiền phụ trội (casual loading) khoảng 25%.

Trong thời gian gần đây thì có sự xuất hiện của các công ty chuyên cung cấp công nhân (labour hire agency). Chủ nhân không có trách nhiệm trực tiếp với công nhân ngoại trừ trách nhiệm bảo đảm an toàn nơi làm việc. Mối quan hệgiữa labour hire agency và công nhân có thể là chủ nhân/ công nhân hoặc có thể là independent contractor. Đa số labour hire agency đều thuê mướn công nhân dưới dạng bất thường để tránh né trách nhiệm và giảm thiểu chi phí tốn kém.

Sa thải bất công

Bất cứ ai khi bị đuổi việc đều có quyền đệ đơn khiếu kiện nếu họ cho rằng đã bị sa thải bất công. Thời hạn làm việc của họ phải hội đủ tiêu chuẩn tức là trên 12 tháng nếu chủ nhân là tiểu thương và 6 tháng trong mọi trường hợp khác.Tiểu thương được định nghĩa là các doanh nghiệp có không quá 15 công nhân bao gồm cả công nhân làm việc bán thời và bất thường. Luật sa thải bất công chỉ áp dụng cho công nhân có mức lương dưới mức lợi tức cao (high income threshold) hiện tại khoảng $130,000.

Để quyết định là sự sa thải có bất công hay không thì FWA cứu xét những yếu tố gồm có:

  1. Có lý do chính đáng để sa thải công nhân hay không ví dụ như đương sự có tạo xáo trộn hay làm ảnh hưởng đến môi trường làm việc an toàn của những công nhân khác hay không?
  2. Công nhân bị sa thải có được thông báo trước hay không?
  3. Công nhân có cơ hội giải thích hoặc trả lời lý do bị sa thải hay không?
  4. Nếu quyết định sa thải dựa trên tiêu chuẩn hoặc hiệu quả việc làm thì công nhân có được cảnh báo trước hay chưa?

Quyết định sa thải sẽ được chấp nhận nếu dựa trên những dữ kiện và bằng chứng rõ ràng chớ không phải là những thành kiến hoặc có yếu tố kỳ thị. Trừ khi công nhân có những hành vi sai trái nghiêm trọng thì FWA cho rằng họ nên được có cơ hội sửa đổi.

Đối với các công nhân người Việt nam thì đôi khi cũng bị một số thiệt thòi trước hết là ngôn ngữ.Hoặc có lúc gặp phải một người foreman, supervisor hoặc manager có máu kỳ thị.Tuy là luật pháp ấn định một số biện pháp bảo vệ nhưng nếu mướn luật sư để kiện ra tòa thì không tránh được tốn kém về thời gian, tiền bạc và ảnh hưởng không ít đến đời sống hàng ngày. Nếu công nhân gia nhập làm thành viên của nghiệp đoàn thì sẽ có lợi vì nghiệp đoàn có thể đứng ra đại diện và can thiệp. Khi gặp trở ngại nơi làm việc, công nhân nên tránh có những phản ứng nóng nảy có thể dẫn đến hậu quả không tốt hoặc bị sa thải mà hãy tìm đến sự giúp đỡ của những cơ quan như nghiệp đoàn hoặc Fair Work Ombudsman để không bị đối xử bất công và trái luật tại nơi làm việc.