Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát

--- Bài mới hơn ---

  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật
  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ
  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ
  • Người làm thơ Đường Luật phải biết và chấp nhận bó mình trong niêm luật vần đối của nó. Thơ lục bát chỉ có luật, vần nên thi sĩ không bị niêm, đối “kềm kẹp”. Trong bài viết ngắn này tôi chỉ bàn về luật.

    Đọc xong chắc có người thắc mắc ” Sao tui đọc sách và những bài viết trên mạng thấy luật bằng trắc trong thơ lục bát cũng rườm rà, rắc rối lắm mà sao ông viết lại đơn giản quá vậy? Có ‘ăn bớt’ không đó cha nội?”

    Sau một thời gian dài làm thơ lục bát nhiều thi sĩ đã “vượt rào”, phớt lờ luật tắc. Độc giả mới đầu còn thấy lạ lạ, kỳ kỳ. Đọc riết rồi thấy cũng “ổn” nên bảo nhau ” Không có gì mà ầm ĩ“. Dần dà một vài luật tắc rườm rà đó ” tuân theo cũng được mà phớt lờ cũng không sao “. Đó là quy luật tiến hóa của thi ca.

    Vì thế ở đây tôi chỉ nói đến những điểm luật cốt yếu – ở thời điểm này mà không tuân thủ thì bài thơ sẽ bị chê là “mất tính lục bát”.

    Chữ thứ 6 câu lục, chữ thứ 6 và chữ thứ 8 câu bát phải là thanh bằng.

    Chữ thứ 4 câu bát phải là thanh trắc.

    Mười chữ còn lại thì tự do – bằng cũng được mà trắc cũng không sao.

    Nếu chữ thứ 6 của câu bát thanh huyền (dấu huyền) (thí dụ 1) thì chữ thứ 8 phải thanh ngang (không dấu) và ngược lại (thí dụ 2).

    Kêu con lên giúp đem về Hà Nam

    Trong thí dụ này tôi “chơi nổi”, chọn 10 chữ còn lại toàn là thanh bằng. Nếu bạn không thích thì tự do thay đổi.

    Để lại một mẫu chú Hương cất nhà

    Ở đây tôi chọn 10 chữ còn lại là thanh trắc. Dĩ nhiên, bạn cũng có toàn quyền thay đổi.

    Luật bằng trắc của lục bát chỉ có thế. Bạn chỉ cần để ý 4 chữ (in đậm) – 3 bằng một trắc – thì thơ lục bát của bạn luật sẽ vững như bàn thạch.

    1/ Trong trang Lục Bát Việt Nam trên Facebook có bài thơ Nước Mắt Ngày Gặp Lại của Thanh Tu có 2 câu:

    Hôm nay mình gặp lại nhau

    Ôm chặt bạn mà nỗi đau nhói lòng

    Với luật thơ lục bát hiện hành thì nó phạm luật (chữ “mà” phải chuyển thành chữ khác có thanh trắc mới đúng). Với con mắt người bình thơ như tôi thì bài thơ thất bại một cách oan uổng; ý tứ có hay tôi cũng ngoảnh mặt làm ngơ. Nhưng biết đâu mấy chục năm nữa cách nhìn nhận luật thơ phóng khoáng hơn, bài Nước Mắt Ngày Gặp Lại (hay những bài phạm lỗi tương tự) sẽ được bình phẩm một cách cởi mở hơn.

    – Cập nhật theo nguyên bản tác giả gửi qua email ngày 14.08.2020.

    – Bài viết không thể hiện quan điểm của trang Đặng Xuân Xuyến.

    – Vui lòng ghi rõ nguồn chúng tôi khi trích đăng lại.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Sản Xuất Thực Phẩm
  • Chi Phí Làm Giấy Chứng Nhận An Toàn Thực Phẩm Là Bao Nhiêu?
  • Không Có Giấy Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thì Bị Phạt Bao Nhiêu Tiền?
  • Luật Trẻ Em Có Bao Nhiêu Chương Và Luật Quy Định Trẻ Em Có Bao Nhiêu Quyền?
  • Đất Bcs Là Gì? Quy Định, Đặc Điểm Của Đất Bằng Chưa Sử Dụng Bcs Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Đức Phanxicô Đã Đúng Về Bao Cao Su Và Hiv
  • Tham Vọng ‘bao Cao Su’ Của Tq Ở Biển Đông Vô Lý Và Trái Luật
  • Những Chuyện Hài Hước Về Bao Cao Su
  • Nhà Nghỉ Được Phép Có Bao Cao Su
  • Kỹ Thuật Nhảy Cao Kiểu Bước Qua Dành Cho Những Người Mới Tập
  • Đất BCS là gì? Tiêu chuẩn để xác định loại đất đất bằng chưa sử dụng BCS là gì? Chia sẻ đặc điểm pháp lý và quy định sử dụng đất BCS theo luạt hiện hành.

    Đất BCS là gì? Hay đất bằng chưa sử dụng là gì? Có các loại đất BCS nào? Quy định pháp luật về đất BCS ra sao?… Đây chắc hẳn là thắc mắc của nhiều người đọc bản đồ địa chính khi thấy ký hiệu đất này.

    Nhiều người thường đặt câu hỏi ” Đất BCS là gì?”, “Đất BCS là đất gì?”, hay “Đất bằng chưa sử dụng là gì?”,…

    Thực tế, đất BCS hay đất bằng chưa sử dụng là một. Và chúng thuộc nhóm đất chưa sử dụng.

    Đất chưa sử dụng là loại đất chưa được xác định hoặc chưa đủ điều kiện để sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất nông nghiệp hay lâm nghiệp; chưa xác định đây là đất khu dân cư thành thị hay nông thôn; nên giao cho đối tượng nào (cá nhân, tổ chức, hộ gia đình) để sử dụng lâu dài.

    Đất bằng chưa sử dụng có các loại đất BCS như:

    • Vùng bằng phẳng ở đồng bằng
    • Thung lũng
    • Cao nguyên

    II. Quy định pháp luật về đất BCS

    Theo Điều 164 Luật đất đai 2013 quy định:

    • Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm quản lý, bảo vệ đất chưa sử dụng tại địa phương và đăng ký vào hồ sơ địa chính
    • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý đất chưa sử dụng tại các đảo chưa có người ở
    • Việc quản lý đất chưa sử dụng được thực hiện theo quy định của Chính phủ

    Theo Điều 165 Luật đất đai 2013 quy định:

    • Căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, ủy ban nhân dân các cấp có kế hoạch đầu tư, khai hoang, phục hóa, cải tạo đất để đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng
    • Nhà nước khuyến khích tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đầu tư để đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt
    • Đối với diện tích đất được quy hoạch sử dụng vào mục đích nông nghiệp thì ưu tiên giao cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại địa phương chưa được giao đất hoặc thiếu đất sản xuất

    2.2. Biện pháp đưa đất bằng chưa sử dụng vào sử dụng theo kế hoạch sử dụng đất

    Biện pháp đưa đất bằng chưa sử dụng vào sử dụng

    Theo Điều 59 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định:

    • Nhà nước có chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng đối với vùng biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng cao, vùng nhiều đất nhưng ít dân, vùng có điều kiện tự nhiên khó khăn để thực hiện kế hoạch đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng; có chính sách miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với trường hợp giao đất, cho thuê đất chưa sử dụng để đưa vào sử dụng
    • Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sử dụng nguồn kinh phí thu được từ nguồn thu khi cho phép chuyển mục đích đất chuyên trồng lúa nước sử dụng vào mục đích khác và các nguồn kinh phí hợp pháp khác để phục vụ việc khai hoang, cải tạo, đưa đất chưa sử dụng vào sử dụng

    Theo khoản 3 Điều 132 Luật đất đai, đất BCS sẽ được Ủy ban nhân dân cấp xã giao cho cá nhân, hộ gia đình thuê đất để nuôi trồng thủy hải sản, sản xuất nông nghiệp trong thời hạn không quá 5 năm dưới hình thức đấu giá đất.

    Tiền thu được từ việc cho thuê đất sẽ được nộp vào ngân sách nhà nước và chỉ được sử dụng cho nhu cầu công ích của xã, phường nơi có đất.

    Thời hạn sử dụng đất BCS tối đa là 5 năm

    Theo Điều 76 Luật đất đai 2013, các trường hợp không được bồi thường đất nhưng được bồi thường chi phí đầu tư vào đất bao gồm:

    • Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng đất
    • Đất được Nhà nước giao cho tổ chức thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được miễn tiền sử dụng đất
    • Đất được Nhà nước cho thuê trả tiền thuê đất hàng năm; đất thuê trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng
    • Đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn
    • Đất nhận khoán để sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối

    Do đó, đất BCS sẽ không được bồi thường nhưng sẽ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất.

    Ngoài chia sẻ những kiến thức hữu ích về đất đai, nếu bạn có nhu cầu mua đất nền đầu tư, đừng quên Tìm tin rao trên chúng tôi Đặc biệt, nếu bạn muốn rút ngắn thời gian tìm bất động sản phù hợp nhưng vẫn cho kết quả chuẩn xác, có thể trải nghiệm miễn phí ngay tính năng “Đăng ký nhận tin” của chúng tôi.

    Ann Tran – Ban biên tập Nhà Đất Mới

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 20 Cầu Thủ Thuận 2 Chân Trong Bóng Đá Hiện Tại
  • Format Text As Superscript Or Subscript
  • Cách Tì Đè Trong Bóng Đá Đúng Luật Và Hiệu Quả Cao
  • Vì Sao Người Mỹ Không Thích Bóng Đá?
  • Kỹ Thuật Đảo Chân Trong Bóng Đá
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Cách Gieo Vần Và Cac Loại Thể Thơ
  • Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học
  • Tiết 60: Làm Thơ Lục Bát A. Mục Tiêu Cần Đạt: Giúp Hs Kiến Thức
  • Thuyết Mình Về Thể Thơ Thất Ngôn Bát Cú Đường Luật
  • Cảm Nhận Về Bài Thơ Bạn Đến Chơi Nhà Của Nguyễn Khuyến: Bài Thơ Này Viết Theo Thể Thất Ngôn Bát Cú
  • Luật bẳng trắc của thơ 8 chữ hơi khác thơ 7 chữ và là thể thơ tương đối tự do, không hoàn toàn gò bó vào luật bằng trắc như thơ bảy chữ. Luật bằng trắc chỉ áp dụng cho những câu liền mạch thông thường. Những câu ngắt thành nhiều cụm từ thì chỉ theo luật đôi chút hoặc đôi khi không theo luật bằng trắc gì cả.

    Việc áp dụng luật bằng trắc nhiều hay ít còn tùy theo nội dung bài thơ, nghệ thuật biểu cảm của câu thơ, và tùy tài năng của nhà thơ. Những câu thơ không theo luật đôi khi là những câu thơ hay, có giá trị nghệ thuật cao, tạo nên những điểm nhấn thú vị, mang lại nét riêng cho bài thơ.

    Là người học làm thơ, tôi nghĩ mình nên nên bắt đầu tìm hiểu về luật thơ 8 chữ, giống như học nhày, đầu tiên, ta phải đi những bước cơ bản, sau đó rồi mới học bước “făng” và “făng” nhiều hay ít là chuyện về sau, khi đã nhảy thành thạo.

    Luật bằng trắc của một câu thơ 8 chữ tùy theo vần của chữ thứ 8. Nếu chữ thứ 8 vần trắc thì chữ thứ 3 trắc, chữ thứ 5 và 6 bằng. Ví dụ:

    Em cứ HẸN nhưng EM ĐỪNG đến NHÉ (xxTxBBxT)

    Nếu chữ thứ 8 vần bằng thì chữ thứ 3 bằng, chữ thứ 5 và 6 trắc. Ví dụ:

    Để lòng BUỒN tôi DẠO KHẮP trong SÂN, (xxBxTTxB)

    Thử ghi luật bằng trắc một số bài thơ của vài nhà thơ nổi tiếng để xem họ áp dụng luật bằng trắc như thế nào.

    Trong bài Ân Tình Dạ Khúc của Đinh Hùng, đa phần (29/31 = 93,5%) câu áp dụng chính xác luật bằng trức của thơ 8 chữ.

    Đa phần các câu trog bài NGẬP NGỪNG của Hồ Zếnh đều áp dụng nghiêm ngặt luật bằng trắc của thơ 8 chữ (15/18= 83%). Ba câu không áp dụng luật là những câu được ngắt thành 2 nhịp, có lẻ tác gỉa muốn diễn tả sự ngập ngừng, lững lơ, dang dở của một mối tình không biết rồi sẽ ra sao. (Có thể tác gỉa biết thế nào rồi cuộc tình của mình cũng đến hồi kết thúc nên muốn kéo dài càng lâu càng tốt? Hoặc những mối tình êm xuôi có thể sẽ không có được những bài thơ hay?)

    Để lòng buồn tôi dạo khắp trong sân, (xxBxTTxB)

    Ngó trên tay, thuốc lá cháy lụi dần… (xxBxTTxB)

    Tôi nói khẽ: Gớm, làm sao nhớ thế? (xxTxBBxT)

    Em tôi ơi! tình có nghĩa gì đâu ? (xxBxTTxB)

    Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu ? (xxBxTTxB)

    Thuở ân ái mong manh như nắng lụa. (xxTxBBxT)

    Hoa bướm ngập ngừng cỏ cây lần lữa,

    Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi, (xxBxTTxB)

    Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi!

    Tôi sẽ trách – cố nhiên! – nhưng rất nhẹ (xxTxBBxT)

    Nếu trót đi, em hãy gắng quay về, (xxBxTTxB)

    Tình mất vui khi đã vẹn câu thề, (xxBxTTxB)

    Đời chỉ đẹp những khi còn dang dở. (xxTxBBxT)

    Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ,

    Cho nghìn sau … lơ lửng… với nghìn xưa … (xxBxTTxB)

    Bài NHỚ RỪNG của Thế Lữ là bài thơ có nhiều câu ngắt thành từng cụm từ để tạo nhịp điệu riêng, manh mẽ hơn, để thể hiện một tâm sự u uất, chán nản và khát vọng tự do. Tuy nhiên, đa phần các câu còn lại (33/47 = 70%) vẫn theo luật bằng trắc nghiêm ngặt.

    Thử ghi lại luật bằng trắc của bài thơ Nhớ Rừng. Câu nào không ghi cũng theo luật nhưng mềm hơn. Đa phần chữ không theo luật nằm vào chữ thứ 5 hoặc thứ 6. Ví dụ:

    Ta nằm dài theo NGÀY tháng dần qua (xxBxBTxB). (Chữ NGÀY không theo luật)

    Than ôi! Thời oanh liệt NAY còn đâu. (xxBxTBxB) (Chữ NAY không theo luật)

    Đôi khi chữ thứ 3 cũng không theo luật. Ví dụ:

    Ta đương THEO giấc MỘNG ngàn to lớn. (xxBxTBxT) , (THEO và MỘNG không theo luật)

    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hãm, (xxTxBBxT)

    Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, (xxTxBBxT)

    Với khi thét khúc trường ca dữ dội, (xxTxBBxT)

    Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc, (xxTxBBxT)

    Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối, (xxTxBBxT)

    – Than ôi! thời oanh liệt nay còn đâu?

    Nay ta ôm niềm uất hận ngàn thâu, (xxBxTTxB)

    Ghét những cảnh không đời nào thay đổi, (xxTxBBxT)

    Những cảnh sửa sang, tầm thường, giả dối: (xxTxBBxT)

    Dăm vừng lá hiền lành không bí hiểm, (xxTxBBxT)

    – Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi! (47)

    Tóm lại, thơ 8 chữ cũng có luật bằng trắc của nó. Là người tập làm thơ, tôi tự rút ra bài học, hy vọng có ngày cũng làm được mấy câu để đọc cho cháu nội nghe.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ
  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật
  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật
  • Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 7 Chữ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tập Làm Thơ 7 Chữ
  • Tôi Học Làm Thơ: Luật Bằng Trắc Trong Thơ 8 Chữ
  • Cách Gieo Vần Và Cac Loại Thể Thơ
  • Thuyết Minh Về Một Thể Loại Văn Học
  • Tiết 60: Làm Thơ Lục Bát A. Mục Tiêu Cần Đạt: Giúp Hs Kiến Thức
  • Trong chương trình phổ thông ngày xưa, ta học thơ lục bát trong Lục Vân Tiên và Kiều, thơ đường của Bà Huyên Thanh Quan và Nguyễn Khuyến, hát nói của Nguyễn Công Trứ nhưng tôi không nhớ đã học tác giả thơ mới nào, và cũng chưa nghe thầy nào dạy cách làm một bài thơ, cho dù là thơ lục bát.

    Có một thời từ cô thôn nữ đến cậu sinh viên đều thuộc nhiều bài thơ của những tác gỉa nổi tiếng trong phong trào thơ mới như Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Chế Lan Viên… vì thơ họ hay. Vậy thơ họ hay ở chỗ nào? Thơ họ hay trước hết vì họ diễn tả tình cảm cá nhân, đăc biệt là tình yêu đôi lứa, do đó, ai cũng cảm thấy nhà thơ đã nói hộ tâm trạng mình. Trong thơ họ, thí tứ phong phú, cảm xúc dạt dào, tình cảm nồng nàn, tha thiết, mãnh liệt, được diễn tả bằng từ ngữ bay bướm, sáng tạo, giàu nhạc tính, có vần điệu, nghe êm tai. Nói chung, thơ họ hay bởi họ có tài làm thơ, cái mà nhiều người khác không có được. Không chỉ có vậy, thơ họ hay còn nhờ họ hiểu cặn kẽ luật thơ và biết phá luật để tạo những câu thơ đẹp.

    Dù không làm được thơ hay vì không có tài nhưng không ai cấm chúng ta viết đôi câu để chúc mừng lễ vu quy của cháu gái hay giải sầu khi vợ ốm phải nằm viện. Những lúc như thế, nếu viết được một vài câu dù chưa phải là thơ nhưng cũng đủ làm cuộc sống trở nên vui hơn, có ý nghĩa hơn, đỡ buồn, đỡ stressed, dễ thở hơn đôi chút. Nếu đọc cho bạn bè nghe thì cũng xuôi tai. Muốn vậy thì phải học làm thơ, đặc biệt là học các nhà thơ lớn, xem thử cái kỹ thuật tối thiểu trong thơ họ là gì.

    Một bài được gọi là thơ theo dạng thơ mới (không nói đến thơ tự do) thì ai cũng biết là phải có vần, nhưng theo tôi, thứ quan trọng không kém là luật bằng trắc trong câu, mà rất nhiều người làm thơ nghiệp dư không chú ý đến lại là thứ mà những nhà thơ nổi tiếng ít ai không tuân thủ.

    Trong nhạc có nhịp và phách, trong thơ (có vần) có câu và luật bằng trắc của mỗi từ trong mỗi câu. Trong nhạc, các nốt nhạc ở phách mạnh đầu nhịp là quan trọng, thì trong thơ 7 chữ, các từ thứ 2, 4 và 6 là những từ quan trọng.

    Hãy nghiên cứu luật bằng trắc trong một vài bài thơ 7 chữ của các nhà thơ nổi tiếng.

    Thử ghi luật bằng trắc của các từ thứ 2, 4 và 6 trong bài thơ Đậm Nhạt của Vũ Hoàng Chương.

    Trong bài thơ này, tác giả hoàn toàn tuân thủ luật bẳng trắc của thơ Đường: Trong mỗi câu, từ thứ 2 luôn giống vần từ thứ 6: ví dụ từ thứ 2 vần bằng thì từ thứ 6 cũng vần bằng, từ thứ 4 vần trắc, chẳng khác gì thơ Đường. Về niêm cũng tương tự thơ Đường: Câu đầu và câu cuối giống nhau, các câu còn lại giống nhau từng cặp. Vần thì mỗi đọan thơ 4 câu giống với 4 câu đầu trong thơ Đường: Các từ cuối của các câu 1, 2 và 3 vần với nhau. Như vậy, bài Đậm Nhạt còn ảnh hưởng sâu sắc của thơ Đường về luật bằng trắc và niêm, chỉ không có đối và số câu nhiều hơn mà thôi.

    Đậm Nhạt – Vũ Hoàng Chương

    Da thịt đìu hiu rợp bóng mây (TBT)

    Sương lam mờ cỏ gió vàng cây (BTB)

    Song sa nắng xế dần ân ái (BTB)

    Lạnh cả mùa xưa nguyệt Mái Tây (TBT)

    Nẻo ngắt chiêm bao nhịp rụng đều (TBT)

    Tâm tư ngờ chạm bước hài thêu (BTB)

    Tiền thân nửa gối vườn mưa lá (BTB)

    Vết cũ phong sầu đậm nhạt rêu (TBT)

    Tình chủng bơ vơ độc viễn hành (TBT)

    Nàng Thôi thôi đã hết Oanh Oanh (BTB)

    Gót sen chùa cổ đêm trăng ấy (BTB)

    Vọng thấu luân hồi nhạc mỏng manh (TBT)

    Mùa nhớ thương sang mộng nõn nà (TBT)

    Tinh anh nghìn kiếp thoáng dư ba (BTB)

    Hồn ai xác mới nghe thoi thóp (BTB)

    Vang bóng hài xiêm chuyển thớ da (TBT)

    Bài Hạnh Ngộ của Đinh Hùng đổi mới không nhiều. Luật bằng trắc trong mỗi câu vẫn giữ nguyên, chỉ có niêm là đôi chút thay đổi: Câu đầu và câu cuối không giống nhau, Câu 4 và câu 5 không giống nhau. Tất cả nhưng câu còn lại đều theo luật niêm của thơ Đường.

    Bài Ca Hạnh Ngộ – Đinh Hùng

    Bài thơ hạnh ngộ đã trao tay, (BTB)

    Ôi mộng nào hơn giấc mộng này?(TBT)

    Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ, (TBT)

    Nửa như hoài vọng, nửa như say. (BTB) (4)

    Em đến như mây, chẳng đợi kỳ, (TBT) (5)

    Hương ngàn gió núi động hàng mi. (BTB)

    Tâm tư khép mở đôi tà áo, (BTB)

    Hò hẹn lâu rồi – Em nói đi. (TBT)

    Em muốn đôi ta mộng chốn nào? (TBT)

    Ước nguyền đã có gác trăng sao. (BTB)

    Truyện tâm tình: dưới hoa thiên lý, (BTB)

    Còn lối bâng khuâng: ngõ trúc đào. (TBT)

    Em chẳng tìm đâu cũng sẵn thơ. (TBT)

    Nắng trong hoa, với gió bên hồ, (BTB)

    Dành riêng em đấy. Khi tình tự, (BTB)

    Ta sẽ đi về những cảnh xưa. (TBT)

    Rồi buổi ưu sầu em với tôi (TBT)

    Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời. (BTB)

    Vai kề một mái thơ phong nguyệt, (BTB)

    Hạnh phúc xa xa mỉm miệng cười. (TBT)

    Bài Mưa Xuân của Nguyễn Bính vẫn giữ nguyên luật bằng trắc nhưng niêm đã thay đổi khá nhiều. Một phần tư các cặp câu không theo luật niêm, nằm vào câu cuối đoạn thơ trước và câu đầu đoạn thơ sau, đó là các cặp câu 4-5, 12-13, 24-25, 28-29, 32-33,

    Em là con gái trong khung cửi (BTB)

    Dệt lụa quanh năm với mẹ già (TBT)

    Lòng trẻ còn như cây lụa trắng (TBT)

    Mẹ già chưa bán chợ làng xa. (BTB) (4)

    Bữa ấy mưa xuân phơi phới bay (TBT) (5)

    Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy (BTB)

    Hội chèo làng Đặng đi ngang ngõ (BTB)

    Mẹ bảo: “Thôn Đoài hát tối nay”. (TBT)

    Lòng thấy giăng tơ một mối tình (TBT)

    Em ngừng thoi lại giữa tay xinh (BTB)

    Hình như hai má em bừng đỏ (BTB)

    Có lẽ là em nghĩ đến anh. (TBT) (12)

    Bốn bên hàng xóm đã lên đèn (BTB) (13)

    Em ngửa bàn tay trước mái hiên (TBT)

    Mưa chấm bàn tay từng chấm lạnh (TBT)

    Thế nào anh ấy chả sang xem! (BTB)

    Em xin phép mẹ, vội vàng đi (BTB)

    Mẹ bảo xem về kể mẹ nghe. (TBT)

    Mưa bụi nên em không ướt áo (TBT)

    Thôn Đoài cách có một thôi đê. (BTB)

    Thôn Đoài vào đám hát thâu đêm (BTB)

    Em mải tìm anh chả thiết xem (TBT)

    Chắc hẳn đêm nay giường cửi lạnh (TBT)

    Thoi ngà nằm nhớ ngón tay em. (BTB) (24)

    Chờ mãi anh sang anh chẳng sang (TBT) (25)

    Thế mà hôm nọ hát bên làng (BTB)

    Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn (BTB)

    Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng! (TBT) (28)

    Mình em lầm lũi trên đường về (BTB) (29)

    Có ngắn gì đâu một dải đê! (TBT)

    áo mỏng che đầu mưa nặng hạt (TBT)

    Lạnh lùng thêm tủi với canh khuya (BTB) (32)

    Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay (TBT) (33)

    Hoa xoan đã nát dưới chân giày (BTB)

    Hội chèo làng Đặng về ngang ngõ (BTB)

    Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”. (TBT)

    Anh ạ! Mùa xuân đã cạn ngày (TBT)

    Bao giờ em mới gặp anh đây? (BTB)

    Bao giờ hội Đặng đi ngang ngõ (BTB)

    Để mẹ em rằng hát tối nay? (TBT)

    Trong bài Xuân của Chế Lan Viên, luật bằng trắc trong mỗi câu vẫn giữ nguyên, nhưng luật niêm đã nhạt. Chỉ có 2 cặp câu giống nhau về luật bằng trắc, những câu còn lại trong bài không có cặp nào giống nhau. Đoạn 1 và đoạn 4 giống khau về luật niêm, chẳng khác gì đoạn đầu và đoạn cuối của một ca khúc, có thể dụng ý nghệ thuật của tác giả muốn diễn tả hoàn cảnh không thay đổi của mình mặc dù mùa xuân có đến rồi đi.

    Tôi có chờ đâu, có đợi đâu (TBT)

    Đem chi xuân lại gợi thêm sầu? (BTB)

    Với tôi, tất cả như vô nghĩa (BTB)

    Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau! (TBT)

    Ai đâu trở lại mùa thu trước (BTB)

    Nhặt lấy cho tôi những lá vàng? (TBT)

    Với của hoa tươi, muôn cánh rã, (TBT)

    Về đây đem chắn nẻo xuân sang! (BTB)

    Ai biết hồn tôi say mộng ảo (TBT)

    Ý thu góp lại cản tình xuân? (BTB)

    Có một người nghèo không biết tết (TBT)

    Mang lì chiếc áo độ thu tàn! (BTB)

    Có đứa trẻ thơ không biết khóc (TBT)

    Vô tình bỗng nổi tiếng cười ran! (BTB)

    Chao ôi! Mong nhớ! Ôi mong nhớ! (BTB)

    Một cánh chim thu lạc cuối ngàn.(TBT)

    Đến bài Đây Thôn Vỹ Dạ, chỉ có câu đầu không theo luật bẳng trắc (BBB), các câu còn lại vẫn giữ luật bằng trắc, nhưng niêm đã thay đổi đến 4/5. Chỉ có 1 cập câu giống nhau về luật bằng trắc (câu 10 và 11). Mỗi đoạn có một mẫu “niêm” khác nhau. Có thể đây là dụng ý nghệ thuật của tác giả muốn nói dù cảnh vật không thay đổi nhưng tình người có lẻ đã nhạt phai.

    Đây thôn Vĩ Dạ – Hàn Mặc Tử

    Sao anh không về chơi thôn Vĩ? (BBB)

    Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên, (TBT)

    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc (BTB)

    Lá trúc che ngang mặt chữ điền (TBT)

    Gió theo lối gió, mây đường mây (BTB)

    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…(TBT)

    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó, (BTB)

    Có chở trăng về kịp tối nay? (TBT)

    Mơ khách đường xa, khách đường xa, (TBT)

    Áo em trắng quá nhìn không ra… (BTB) (10)

    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh (BTB) (11)

    Ai biết tình ai có đậm đà? (TBT)

    Tóm lại, nếu có lúc nào đó ta hứng chí muốn viết một bài thơ 7 chữ để đọc vào tiệc rượu nào đó thì hãy nhớ kiểm tra xem các từ 2, 4 và 6 trong câu đã đúng luật bằng trắc hay chưa. Đừng xuê xoa luật này vỉ ngay cả Vũ Hoàng Chương cũng còn phải tuân thủ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đặc Điểm Nghệ Thuật Cuat Thơ Đường Luật
  • Vài Ý Kiến Trao Đổi Về Niêm Luật Của Thơ Tứ Tuyệt Đường Luật
  • Luật Bằng Trắc Trong Thơ Lục Bát
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Sản Xuất Thực Phẩm
  • Luật Pháp Là Gì? Tìm Hiểu Về Luật Pháp Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Hoạt Động Áp Dụng Pháp Luật
  • Các Biện Pháp Nhằm Nâng Cao Hiệu Quả Của Hoạt Động Thực Hiện Pháp Luật
  • Phổ Biến, Giáo Dục Pháp Luật
  • #1 Vai Trò Của Pháp Luật Trong Công Tác Bảo Vệ Môi Trường Ở Việt Nam
  • 【Havip】Bản Chất Của Pháp Luật Là Gì?
  • 1 – Luật Pháp là gì?

    “Luật pháp” “những quy chuẩn giúp con người sống chuẩn mực”, có nguyên tắc và tuân theo để tạo nên một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

    2 – Pháp Luật được xây dựng và thực thi như thế nào?

    • Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý.
    • Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia.Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp.
    • Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.
    • Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.
    • Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan thực thi, bao gồm các cơ quan như Công an (cảnh sát), tòa án, Việc kiểm sát, thi hành án. Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội và đến một mức độ cần thiết mới có thể bị đưa ra Toà án.

    Hình 2: Pháp Luật được xây dựng và thực thi như thế nào?

      Về cơ bản, luật pháp được thực thi thông qua các biện pháp hành chính là nhiều hơn cả, ví dụ như: cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm, thanh tra xây dựng thanh tra và xử phạt vi phạm.

    Trong xã hội dân dự, mặc dù Toà án vừa đóng vai trò là cơ quan thực thi nhưng cũng vừa là một người trọng tài để đưa ra các phán xét của mình về tính hợp pháp của hành vi.

      Tuy vậy, ở Việt Nam và đại đa số các nước Châu Á nói chung, việc đưa vụ việc đến Toà án chưa trở thành một thói quan và văn hoá pháp luật. Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp.

    Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ.

      Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án, dự thảo các văn bản pháp lý hay đưa ra các tư vấn pháp lý.

    3 – Bản chất của Luật Pháp là gì?

      Nếu không luật pháp sẽ bi chống đối. Luật pháp có tính dân tộc, nghĩa là phù hợp với truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong đất nước.

    Hình 3: Bản chất của Luật Pháp là gì?

    4 – Thuộc tính của Luật Pháp là gì?

    Về mặt nội dung, luật pháp có tính quy phạm phổ biến. Luật pháp là do Nhà nước đặt ra, nên đối tượng điều chỉnh của nó phổ biến hơn (rộng rãi hơn) các quy phạm xã hội khác. Về mặt hình thức, luật pháp có tính chặt chẽ. Để dân chúng biết được và phải biết ý chí của Nhà nước, thì ý chí này phải được thể hiện dưới các hình thức chặt chẽ.

    Có 3 hình thức luật pháp cơ bản, đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm pháp luật. Luật pháp được đảm bảo bằng Nhà nước. Sau khi đặt ra luật pháp, Nhà nước đưa luật pháp vào đời sống thông qua các cơ quan Nhà nước, các thiết chế chính trị, các cán bộ, nguồn lực tài chính, các phương pháp quản lý đặc biệt là phương pháp cưỡng chế.

    5 – Các hệ thống Pháp Luật là gì?

    6 – Các bộ phận của Luật Pháp là gì?

    7 – Kết luận

    “Luật pháp” “những quy chuẩn giúp con người sống chuẩn mực”, có nguyên tắc và tuân theo để tạo nên một xã hội công bằng, bình đẳng và văn minh. Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Cần Biết Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Quy Phạm Pháp Luật Và Văn Bản Qppl Là Gì?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì ? Quy Định Về Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Có Mấy Loại?
  • Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Là Gì?
  • Lệnh Giới Nghiêm Là Gì? Thiết Quân Luật Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lệnh Giới Nghiêm Và Thiết Quân Luật
  • Học Luật Quốc Tế Ra Làm Gì? Ngành Luật Quốc Tế Có Phù Hợp Với Bạn?
  • Pháp Luật Trong Quản Lý Nội Bộ Doanh Nghiệp Theo Quy Định Mới
  • Bản Quyền Tác Giả (Copyright) Là Gì ? Lịch Sử Phát Triển Của Bản Quyền Như Thế Nào ?
  • Đăng Ký Bản Quyền Tác Giả
  • Lệnh giới nghiêm là việc thi hành những phương pháp nghiêm cấm đặc biệt để duy trì an ninh trật tự tại một khu vực nào đó trong trường hợp xảy ra những tình huống khẩn cấp.

    Thiết quân luật là việc áp đặt sức mạnh quân sự tại những vùng được chỉ định dựa trên tình huống khẩn cấp. Theo đó, một hệ thống các quy định sẽ có hiệu lực khi quân đội nắm quyền kiểm soát quyền quản lý tư pháp bình thường.

    Lệnh giới nghiêm và Thiết quân luật theo Sắc lệnh số 77 ngày 29 tháng 5 năm 1945:

    Sắc lệnh số 77 ngày 29 tháng 5 năm 1945 nói về việc thiết quân luật và lệnh giới nghiêm: hai phương pháp này có nhiều tính cách khác nhau, nên cần phải giải thích cho rõ ràng để việc áp dụng đạo sắc lệnh kể trên khỏi sai lạc.

    – Thiết quân luật và lệnh giới nghiêm đều là những phương pháp bất thường chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt.

    Nhưng thiết quân luật có tính cách quan hệ hơn lệnh giới nghiêm.

    Phương pháp này chỉ mang dùng khi nào sự an toàn của quốc gia có thể bị đe dọa vì một cuộc ngoại xâm hay một cuộc nổi loạn to.

    – Lệnh giới nghiêm là một phương pháp để duy trì trật tự, ở các phố xá trong một địa phương khi nào những việc trộm cướp, thủy tặc, hỏa tai xảy ra.

    Vì mục đích khác nhau, nên thủ tục thi hành và hiệu lực của hai phương pháp đó khác nhau.

    A) Thiết quân luật

    I.

    – Chỉ riêng có Chủ tịch Chính phủ Dân chủ Cộng hòa mới có quyền ký sắc lệnh thiết quân luật. Sắc lệnh này phải kể rõ ràng:

    1. – những nơi (tỉnh, phủ, huyện, châu, thành phố, thị xã) thiết quân luật;

    2. – thời hạn thiết quân luật là bao nhiêu.

    II.

    – Ở những nơi nào thiết quân luật thì cơ quan hành chánh phải lập tức giao hết quyền hành cho cơ quan quân sự. Tất cả những việc phạm pháp về khinh tội hay trọng tội sẽ giao tòa án quân sự xử. Tòa án chuyên môn có quyền xử những việc hộ và những việc phạm pháp về vi cảnh. Còn đối với việc phạm pháp về khinh tội hay trọng tội mà tòa án quân sự không đòi truy tố và xử lý thì tòa án chuyên môn cứ việc điều tra và xử như thường. Nói tóm lại, tóa án quân sự bất cứ lúc nào muốn xét xử và xử một việc phạm pháp nào thì toàn án chuyên môn phải giao hồ sơ ngay. Nếu tòa án quân sự không đòi hỏi gì thì ông Biện lý cứ theo lệ thường cho điều tra và truy tố tất cả các việc phạm pháp.

    Sở dĩ có sự giao phó quyền cai trị và quyền xử án khinh tội và trọng tội cho các nhà chức trách về quân đội này là vì muốn trừ khử ngoại xâm hay tiêu diệt nội loạn cho dễ dàng. Những nhà chức trách quân sự nào có quyền điều khiển bộ máy cai trị sẽ do bộ Nội vụ và Bộ Quốc phòng ra nghị định chung để định rõ ràng sự cộng tác giữa hai cơ quan trong thời kỳ thiết quân luật.

    III.

    – Cũng vì lẽ vừa kể trên, các nhà nhà chức trách về quân đội còn được quyền hạn chế quyền công dân như:

    a) Bất cứ nhật dạ khám xét nhà công chúng. Những cấp chỉ huy nào có quyền ra lệnh khám xét sẽ do ông Bộ trưởng bộ Quốc phòng quy định.

    b) Trục xuất những thành tích bất hảo.

    c) Bắt các tư gia phải nộp súng đạn tịch thu những súng đạn của tư gia không tuân lệnh nộp.

    d) Ngăn cấm các cuộc hội họp biểu tình, báo chí có tính cách nguy hiểm cho sự an toàn chung.

    B) Lệnh giới nghiêm

    I.

    – Vì chỉ có tính cách địa phương nên Chủ tịch Ủy ban hành chánh phủ huyện, châu, thành phố, thị xã hoặc xã được quyền ra lệnh giới nghiêm. Lệnh ấy phải viết vào giấy, chỉ rõ lệnh giới nghiêm sẽ thi hành ở những nơi nào, thời hạn là bao nhiêu giờ vì thời hạn lệnh giới nghiêm dài nhất là 24 giờ. Giấy ấy phải mang yết thị ở các công sở và Ủy ban hành chánh phải dùng đủ cách để báo cáo cho dân chúng biết.

    II.

    – Lệnh giới nghiêm chỉ có hiệu lực ở ngoài đường phố thôi. Sự đi lại ở ngoài phố và ở các nơi công cộng (rạp hát, chớp bóng, cao lâu), có thể bị hạn chế, còn trong nhà các tư gia không hạn chế một tí nào cả.

    Hết thời hạn định trong giấy yết thị, thì lệnh giới nghiêm sẽ hết hiệu lực. Nếu Ủy ban hành chánh xét cần phải gia thêm hạn thì mỗi lần gia thêm một hạn là 24 giờ phải ký một lệnh khác và phải cho yết thị cùng loan báo cho công chúng biết lại.

    III.

    – Quyền công dân không bị hạn chế: thí dụ muốn khám nhà bắt người phải có lệnh viết của thẩm phán viên.

    IV.

    – Cơ quan hành chánh cao nhất và tòa án chuyên môn không có sự thay đổi gì.

    Thông tin chi tiết:

    Thiết quân luật

    Thiết quân luật là việc áp đặt sức mạnh quân sự tại những vùng được chỉ định dựa trên tình huống khẩn cấp. Theo đó, một hệ thống các quy định sẽ có hiệu lực khi quân đội nắm quyền kiểm soát quyền quản lý tư pháp bình thường.

    Thiết quân luật thường được áp dụng tạm thời khi chính quyền dân sự không hoạt động hiệu quả (ví dụ trong việc duy trì trật tự và an ninh hoặc cung cấp các dịch vụ thiết yếu). Trong trường hợp thiết quân luật ở mức độ cao nhất, sĩ quan quân đội cấp cao nhất sẽ tiếp quản hoặc nhậm chức, hoặc ở vai trò như thống đốc quân đội hoặc ở vai trò là người đứng đầu chính phủ, theo đó tước hết mọi quyền lực từ nhà điều hành, lập pháp và tư pháp của chính phủ trước đó.

    Thiết quân luật có thể được chính quyền sử dụng để áp đặt người dân thực thi theo luật lệ của họ. Tình huống như vậy có thể xảy ra sau một cuộc đảo chính (như đảo chính tại Thái Lan năm 2006); hoặc xảy ra khi bị đe dọa bởi cuộc biểu tình của nhân dân (như cuộc biểu tình Thiên An Môn năm 1989 tại Trung Quốc); hoặc để đàn áp phe đối lập chính trị (như tại Ba Lan vào năm 1981); hoặc để ổn định những cuộc nổi dậy (như cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1970 tại Canada). Tuyên bố thiết quân luật cũng có thể được đưa ra trong trường hợp thiên tai lớn. Tuy nhiên, hầu hết các nước sử dụng một hình thức pháp lý khác gọi là “Tình trạng Khẩn cấp“.

    Thiết quân luật cũng đã được áp đặt trong khi diễn ra các cuộc xung đột, chiến tranh và tại các khu vực bị chiếm đóng, nơi việc không có chính quyền dân sự là tiền đề cho tình trạng người dân bất ổn định. Điển hình của hình thức cai trị quân sự này là ở khoảng thời gian tái thiết sau Thế chiến thứ II tại Đức và Nhật Bản, cũng như việc tái thiết miền Nam sau cuộc Nội chiến Hoa Kỳ.

    Thông thường, việc áp dụng thiết quân luật đi kèm với lệnh giới nghiêm, đình chỉ pháp luật dân sự, giảm các quyền dân sự thông thường của công dân, giới hạn độ dài thời gian quá trình xét xử (còn gọi là quyền bảo hộ nhân thân) và quy định nhiều hình phạt nghiêm khắc hơn luật bình thường, đồng thời áp dụng luật quân sự mở rộng hoặc tư pháp quân sự đối với dân thường. Công dân bất tuân thiết quân luật có thể bị đưa ra tòa án quân sự. Tại nhiều quốc gia, thiết quân luật quy định hình phạt tử hình đối với một số tội phạm nhất định, dù cho luật bình thường không quy định tội phạm hay hình phạt đó trong hệ thống của pháp luật.

    Phân biệt giữa Thiết quân luật và Tình trạng khẩn cấp

    – Trong trường hợp Thiết quân luật quân đội điều hành chính quyền, trong khi trong tình trạng khẩn cấp chính quyền dân sự vẫn nắm quyền. Trình trạng khẩn cấp thường có những giới hạn được ghi trong hiến pháp, hoặc có những quy định những quyền công dân nào có thể được đình chỉ và khi nào tài sản có thể bị tịch thu. Thiết quân luật cho phép quân đội trên căn bản làm những gì họ muốn và đình chỉ hầu hết các luật dân sự và cả hiến pháp.

    – Tình trạng khẩn cấp thường được ban hành trong những thiên tai lớn như bão lụt, mặc dù dân chúng ổn định. Thiết quân luật, ngược lại, thường được tuyên bố khi một người trung bình có thể vi phạm luật vì thiếu một chính phủ dân sự làm chủ tình hình.

    – Thường thì Thiết quân luật được ban hành không giới hạn thời gian và được hủy bỏ rất chậm, những người có rất ít quyền lực chính trị, bất thình lình lên điều hành cả một vùng hay cả một nước. Tình trạng khẩn cấp thường có tính cách địa phương, và những người điều hành là những người đang nắm quyền như thống đốc hay lực lượng cảnh sát địa phương. Thêm nữa, Tình trạng khẩn cấp thường được hoạch định để chấm dứt nhanh chóng, trở về tình trạng nguyên thủy trước thảm họa.

    Theo quốc gia

    Ai Cập

    Tại Ai Cập, Tình trạng Khẩn cấp đã có hiệu lực gần như liên tục từ năm 1967. Sau vụ ám sát Tổng thống Anwar el-Sadat vào năm 1981, Tình trạng Khẩn cấp đã được tuyên bố suốt đến nay. Kể từ khi được áp dụng, Quốc hội Ai Cập mỗi ba năm lại gia hạn thiết quân luật. Năm 2003, tình trạng này gia hạn kéo dài đến năm 2006. Nhiều kế hoạch cũng được đặt ra để thay thế Tình trạng Khẩn cấp bằng các bộ luật chống khủng bố mới. Nhưng sau các vụ đánh bom Dahab vào tháng 4 năm đó, Tình trạng Khẩn cấp lại được gia hạn thêm hai năm nữa. Năm 2008, tình trạng này được cho phép kéo dài đến năm 2010. Năm 2010, Tình trạng Khẩn cấp lại tiếp tục được gia hạn, mặc dù theo lời hứa từ chính phủ là nó chỉ được áp dụng duy nhất đối với các nghi phạm ‘khủng bố và ma túy’.

    Thiết quân luật tại Ai Cập: một chốt chặn ra vào bằng xe tăng của quân đội trong cuộc Cách mạng Ai Cập 2011.

    Dưới chế độ thiết quân luật, nguồn gốc của quyền lực không phải là ở người dân, không phải là ở quốc hội hay hiến pháp, mà nằm trong tay hội đồng tối cao của quân đội. Quân đội đã tuyên bố trong thông cáo thứ ba rằng sẽ “kết thúc Tình trạng Khẩn cấp ngay sau khi trật tự được khôi phục ở Ai Cập”. Trước khi áp đặt thiết quân luật, dựa trên hiến pháp, Quốc hội Ai Cập có thẩm quyền dân sự để tuyên bố Tình trạng Khẩn cấp. Khi thiết quân luật được tuyên bố, quân đội được nắm mọi quyền hạn của nhà nước, bao gồm cả giải tán quốc hội và đình chỉ hiến pháp như quân đội đã làm trong thông cáo thứ năm. Dưới chế độ thiết quân luật, khuôn khổ pháp lý duy nhất trong lãnh thổ Ai Cập là những thông cáo được đánh số mà quân đội đưa ra. Những thông cáo này có thể lập tức đưa bất kỳ luật dân sự nào trở lại có hiệu lực. Các thông cáo quân sự là hiến pháp và khuôn khổ pháp lý thực quyền hiện hành trên lãnh thổ Ai Cập. Điều này có nghĩa là mọi sự vụ của nhà nước đều bị ràng buộc bởi Công ước Geneva.

    Canada

    Tại Canada, thiết quân luật đã được áp dụng ba lần: trong Thế chiến thứ I, Thế chiến thứ II và trong cuộc khủng hoảng tháng 10 năm 1970. Năm 1988, thiết quân luật (hay Đạo luật Biện pháp Chiến tranh) được thay thế bởi Đạo luật Tình trạng Khẩn cấp.

    Trước năm 1837, thiết quân luật được công bố và áp đặt trên lãnh thổ của tỉnh Quebec trong cuộc xâm lược của quân đội của Quốc hội Lục địa Hoa Kỳ vào Canada từ 1775-1776. Nó cũng đã được áp dụng hai lần trên lãnh thổ của Hạ Canada trong cuộc nổi dậy 1837-1838.

    Đài Loan

    Sau Thế chiến thứ II, Đài Loan trở thành Trung Hoa Dân Quốc, sau đó mở đầu giai đoạn thiết quân luật dài nhất trong lịch sử hiện đại vào thời điểm đó. Nối tiếp những hậu quả của vụ thảm sát 28 tháng 2 năm 1947, thiết quân luật được ban bố vào năm 1948 bất chấp nền dân chủ đã hứa hẹn trong Hiến pháp của Trung Hoa Dân Quốc. Sau khi chính quyền theo chủ nghĩa quốc gia dân tộc của Trung Hoa Dân Quốc đánh mất quyền kiểm soát lãnh thổ của mình ở Trung Quốc đại lục vào tay Đảng Cộng sản Trung Quốc, rút về Đài Loan vào năm 1949, do nhận thức về nhu cầu cần ngăn chặn cộng sản và Phong trào độc lập Đài Loan, thiết quân luật đã không được dỡ bỏ cho đến 1987.

    Ngày nay, vẫn có hai hệ thống thiết quân luật với độ dài tồn tại vượt qua Đài Loan như tại Syria (kể từ cuộc đảo chính Syria 1963) hoặc ở Bờ Tây (từ Chiến tranh Sáu ngày với Israel năm 1967).

    Iran

    Một trường hợp điển hình của hình thức thiết quân luật toàn diện trong lịch sử cận đại diễn ra tại Iran vào năm 1978. Vào ngày 7 tháng 9, vua Iran là Mohammad Reza Pahlavi bổ nhiệm tham mưu trưởng quân đội làm thống đốc quân sự của thủ đô Tehran. Các sư đoàn quân đội chiếm giữ vị trí tại các trọng điểm trong thành phố. (Thiết quân luật cũng được tuyên bố tại một số thành phố khác). Ngày 8 tháng 9, quân đội nổ súng vào người biểu tình, giết chết từ 300 đến 4000 người (số liệu ước tính theo các nguồn khác nhau). Ngày diễn ra sự kiện đó gọi là Ngày thứ Sáu Đen tối. Không thể kiểm soát tình trạng bất ổn, ngày 6 thágn 11, vua Iran giải tán chính quyền dân sự của Thủ tướng Jafar Sharif-Emami, và bổ nhiệm tướng Gholam Reza Azhari làm thủ tướng. Chính quyền quân sự của Azhari cũng thất bại trong việc mang lại trật tự cho đất nước. Trong nỗ lực cuối cùng khi chuẩn bị rời khỏi đất nước, vua Iran giải thể chính quyền quân sự và bổ nhiệm Shapour Bakhtiar, một người phê phán sự cai trị của ông, thành thủ tướng mới vào ngày 4 tháng 1 năm 1979. Chính quyền Bakhtiar bị lật đổ vào ngày 11 tháng 2, và cùng với nó, lịch sử hơn hai ngàn năm chế độ quân chủ ở Iran đã chấm dứt.

    Israel

    Chính quyền hành chính quân đội có hiệu lực từ 1949-1966 tại một số khu vực có nhiều người Ả Rập của Israel, chủ yếu là ở Negev, Galilee và khu tam giác. Cư dân của các khu vực này là đối tượng của một số biện pháp kiểm soát đưa tới việc áp dụng thiết quân luật. Quân đội Israel thực thi các quy tắc cư trú nghiêm ngặt. Bất kỳ người Ả Rập nào không được đăng ký trong cuộc điều tra dân số tháng 11 năm 1948 đều bị trục xuất. Một người muốn di chuyển xa hơn khoảng cách cho phép từ nơi đăng kí cư trú của người đó cần có sự cho phép của thống đốc quân đội. Lệnh giới nghiêm, giam giữ hành chính và trục xuất diễn ra thường xuyên. Mặc dù chính quyền quân đội có quyền hạn lên toàn khu vực địa lý và quyền lực này không phân biệt dân tộc nào, nhưng những hạn chế rất ít khi được thực thi đối với cư dân Do Thái tại những khu vực này. Trong những năm 1950, thiết quân luật không còn có hiệu lực đối với những công dân Ả Rập sống ở các thành phố chủ yếu là người Do Thái, nhưng vẫn tồn tại hiệu lực ở tất cả địa phương Ả Rập tại Israel cho đến năm 1966.

    Trong cuộc chiến Lebanon năm 2006, Bộ trưởng Quốc phòng Amir Peretz tuyên bố thiết quân luật tại phía bắc Israel. Lực lượng Quốc phòng Israel đã được cấp thẩm quyền ban hành các chỉ thị cho dân thường, đóng cửa văn phòng, trường học, trại và các nhà máy ở các thành phố được xem là có nguy cơ bị đe dọa tấn công, đồng thời áp đặt lệnh giới nghiêm vào các thành phố ở phía bắc.

    Chỉ thị của Bộ Tư lệnh Hậu phương Israel là bắt buộc dưới chế độ thiết quân luật, chứ không phải chỉ đơn thuần là đề nghị.

    Philippines

    Trong Thế chiến thứ II, Tổng thống Philippines Jose P. Laurel của nền Cộng hòa Philippines thứ hai (một nhà nước phục vụ cho đế quốc Nhật Bản) đặt Philippines trong tình trạng thiết quân luật thông qua Công bố số 29, có hiệu lực từ ngày 22 tháng 9 năm 1944. Công bố số 30 được ban hành ngày 23 tháng 9, tuyên bố tình trạng chiến tranh giữa Philippines với Hoa Kỳ và Vương quốc Anh.

    Đất nước được đặt dưới thiết quân luật một lần nữa từ 1972 đến 1981 dưới sự cai trị độc tài của Ferdinand Marcos. Công bố số 1081 (công bố tình trạng thiết quân luật tại Philippines) có hiệu lực vào ngày 21 tháng 9 năm 1972 – tròn 28 năm sau công bố tương tự của Tổng thống Laurel. Lý do chính thức đằng sau việc thiết quân luật được tuyên bố là để ngăn chặn những xung đột dân sự tăng dần và các mối đe dọa về nguy cơ cộng sản chiếm quyền sau một loạt các vụ đánh bom (bao gồm cả sự cố Plaza Miranda) và nỗ lực ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Juan Ponce Enrile, mà sau này công khai tiết lộ là do chính phủ dàn dựng.

    Đài tưởng niệm nạn nhân thiết quân luật tại thủ đô Manila.

    Có lời đồn rằng Tổng thống Gloria Macapagal-Arroyo đã lên kế hoạch áp đặt thiết quân luật để chấm dứt âm mưu đảo chính quân sự, sự bất mãn dâng cao của lòng dân và những lời chỉ trích về tính hợp pháp của ông dựa trên kết quả bầu cử không rõ ràng. Thay vào đó, Tình trạng Khẩn cấp quốc gia được áp đặt vào năm 2006 từ ngày 24 tháng 2 đến ngày 3 tháng 3 để đè bẹp một âm mưu đảo chính và giải quyết những người chống đối.

    Thái Lan

    Tại Thái Lan, nhiều cuộc đảo chính đã diễn ra từ những năm 1930, nhưng nhiều trong số đó đã thất bại. Trong năm 2004, Thủ tướng Chính phủ Thái Lan, Thaksin Shinawatra, tuyên bố tình trạng thiết quân luật ở các tỉnh Pattani, Yala và Narathiwat nhằm đối phó với cuộc nổi dậy đang leo thang ở miền Nam Thái Lan. Ngày 19 tháng 9 năm 2006, quân đội Thái Lan tuyên bố thiết quân luật sau một cuộc đảo chính quân sự không đổ máu ở thủ đô Bangkok, tuyên bố được đưa ra trong khi Thủ tướng Shinawatra đang tham gia cuộc họp với Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc ở New York. Tướng Sonthi Boonyaratglin tước quyền kiểm soát của chính phủ và nhanh chóng bàn giao chức Thủ tướng cho cựu tổng tư lệnh lục quân Thái Lan, Surayud, còn Sonthi giữ chức chủ tịch Hội đồng Cải cách Hành chính.

    Tháng 1 năm 2007, tình trạng thiết quân luật được bãi bỏ, nhưng chính quyền vẫn tiếp tục kiểm duyệt báo chí và bị cáo buộc vi phạm nhân quyền. Họ cũng cấm các hoạt động và hội họp chính trị cho tới tháng 5 năm 2007.

    Thổ Nhĩ Kỳ

    Từ khi nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ thành lập vào năm 1923, quân đội tiến hành ba cuộc đảo chính và công bố thiết quân luật. Thiết quân luật từ năm 1978 đến năm 1983 đã được thay thế bằng Tình trạng Khẩn cấp ở một số địa phương giới hạn, kéo dài cho đến tháng 11 năm 2002.

    Triều Tiên

    Tháng 10 năm 1946, Chính phủ Quân đội Hoa Kỳ tại Triều Tiên đã tuyên bố thiết quân luật đối với cuộc nổi dậy mùa thu tại Daegu. Ngày 17 tháng 11 năm 1948, chế độ Tổng thống Lý Thừa Vãn tuyên bố thiết quân luật để dập tắt cuộc khởi nghĩa Jeju. Ngày 19 tháng 4 năm 1960, chính phủ Lý Thừa Vãn tuyên bố thiết quân luật để đàn áp cuộc cách mạng tháng Tư.

    Tháng 3 năm 1993, vài ngày sau khi rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân, Triều Tiên tuyên bố thiết quân luật và yêu cầu quân đội sẵn sàng chiến tranh. Từ ngày 29 tháng 1 năm 2013, Triều Tiên lại được đặt dưới thiết quân luật, Kim Jong-un kêu gọi “tất cả mọi đơn vị ở mặt trận và trung ương cần sẵn sàng chiến tranh”.

    Cuộc nổi dậy ở Dushanbe, tháng 2 năm 1990 tại Liên bang Xô Viết. Thiết quân luật được áp dụng trong thành phố.

    Quân đội Nga đóng trên đường phố Warsaw trong thời thiết quân luật năm 1861.

    Thiết quân luật được áp dụng tại Tokyo sau Sự cố 26 tháng 2 năm 1936.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dự Án Ppp Là Gì?
  • Xây Dựng Luật Ppp Chặt Chẽ, Đồng Bộ Với Hệ Thống Pháp Luật
  • Tìm Hiểu Về Phương Thức Đầu Tư Ppp Theo Quy Định Của Pháp Luật
  • Hình Thức Đầu Tư Ppp Là Gì
  • Định Luật Okun Công Thức
  • Ngành Luật Thương Mại Là Gì? Ngành Luật Dân Sự Là Gì?

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Luật Dân Sự 1995 44
  • Bộ Luật Dân Sự Năm 1995, Luật Dân Sự Số 44
  • Phân Loại Hợp Đồng Dân Sự Theo Bộ Luật Dân Sự 2022
  • Mức Bồi Thường Thiệt Hại Năm 2022 Sẽ Thay Đổi Thế Nào?
  • Hợp Đồng Dân Sự? Mẫu Hợp Đồng Dân Sự Năm 2022
  • Sinh viên tốt nghiệp ngành luật thương mại có thể làm cán bộ tư vấn pháp luật, cán bộ kinh doanh trong các cơ quan kinh tế, các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, Sở Thương mại, Cục hải quan, Sở kế hoạch – Đầu tư…Hoặc làm chuyên viên ơ các cơ quan cấp huyện như Ủy ban Nhân dân, Phòng Kinh tế, Phòng thuế. Hoặc cũng có thể công tác ở các Toà án kinh tế, Viên Kiểm sát hoặc trở thành luật sư chuyên về lĩnh vực kinh tế thương mại…

    Ngành luật dân sự trang bị cho sinh viên những kiến thức về chuyên ngành luật dân sự như: Hợp đồng Dân sự, Hợp đồng lao động, Thừa kế, thủ tục tố tụng dân sự, luật hôn nhân gia đình, các vấn đề về sở hữu công nghiệp . . .

    Tốt nghiệp, sinh viên có thể làm việc ở các công ty tư vấn pháp luật, Toà dân sự, Viện kiểm sát nhân dân, hoặc trở thành luật sư chuyên về dân sự như trang chấp nợ, đất đai, tranh chấp tài sản, hôn nhân gia đình…; làm ở các Phòng, Sở tư Pháp, cơ quan Công an, các Trung tâm tư vấn hôn nhân gia đình, các đơn vị kinh doanh bất động sản, bộ phận pháp luật ở ngân hàng.

    Ngành luật hành chính là gì?

    Ngành luật hành chính cung cấp cho sinh viên những kiến thức chuyên sâu về lý luận Nhà nước và pháp luật, kiến thức về cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về khoa học quản lý nhà nước và điều hành công sở, về công tác kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo …

    Sinh viên tốt nghiệp có thể làm chuyên viên ở các Ủy ban nhân dân phường xã, các Ủy ban nhân dân quận, huyện hoặc cấp tỉnh, hoặc cơ quan khác như: Hải quan, cơ quan thuế, các cửa khẩu, sân bay. Bạn cũng có thể làm ở các Toà hành chính, Viện kiểm sát nhân dân, trở thành luật sư chuyên về lĩnh vực hành chính hoặc làm việc ở các công ty tư vấn pháp luật

    Email: [email protected]

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự Là Gì? Phân Loại Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự?
  • Khái Niệm, Đặc Điểm, Thành Phần Của Quan Hệ Pháp Luật Dân Sự
  • Pháp Luật Dân Sự Là Gì? Vị Trí Công Việc Liên Quan Đến Luật Dân Sự
  • Bộ Luật Dân Sự, Tố Tụng Dân Sự 2022 Tiếng Anh: Code Of Civil Procedure
  • The Civil Code Law No. 91/2015/qh13
  • Luật Sư Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Sư Là Gì? Những Điều Cần Biết Trong Nghề Luật Sư
  • Luật Sư Là Gì? Điều Kiện, Quy Trình Để Trở Thành Luật Sư?
  • Đại Diện Theo Pháp Luật Tiếng Anh Là Gì? Định Nghĩa Theo Luật !
  • Luật Xây Dựng (50/2014/qh13)
  • Bộ Xây Dựng Và Những Thông Tư.
  • 1. Khái niệm nghề luật sư:

    1.1- Quan niệm hoạt động luật sư như một nghề nghiệp trong xã hội không phải đã được thừa nhận trong hệ thống pháp luật thực định ở nước ta trong suốt một thời gian dài cho đến trước thời điểm ban hành Pháp lệnh luật sư năm 2001. Thực tế này có căn nguyên về mặt lịch sử và từ quan niệm chung của xã hội, nhất là khi nước ta trải qua một quá trình lịch sử dài lâu đấu tranh giành độc lập dân tộc. Về mặt khoa học, khái niệm nghề luật nói chung và nghề luật sư nói riêng chưa xuất hiện phổ biến trong các tác phẩm khoa học pháp lý, trong các văn bản pháp quy và đời sống xã hội. Thực tế, khi đánh giá cả một quá trình lịch sử, thời gian gần đây có ý kiến nhận định ở Việt Nam, nghề luật cũng được coi trọng, nhất là từ sau năm 1945 và hệ thống văn bản về nghề và hành nghề luật đã tương đối hoàn chỉnh1. Ý kiến này tuy có cơ sở lịch sử của nó, nhưng chưa phản ánh được bản chất và nội hàm hoàn chỉnh của khái niệm nghề luật sư. Chỉ vào cuối năm 2001, khi ban hành Pháp lệnh luật sư mới, Trường Đào tạo các chức danh tư pháp thuộc Bộ Tư pháp mới mở khóa đầu tiên chính thức đào tạo luật sư. Khi bàn tới khái niệm nghề luật sư, về phương diện lý luận, cần đặt nó trong bối cảnh so với các nghề nghiệp khác của xã hội, các giá trị, chuẩn mực nghề nghiệp và vị trí, vai trò của nó trong sự phát triển của xã hội.

    Tuy nhiên, xác định hoạt động luật sư như là một nghề cao quý không thể thiếu trong xã hội và cơ chế pháp lý điều chỉnh hoạt động nghề nghiệp này như thế nào vẫn đang là những vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý cần nghiên cứu thấu đáo nhằm đưa ra các giải pháp cho sự hoàn thiện và phát triển của nghề luật sư. Trước hết, hiện nay trong một số văn kiện của Đảng và pháp luật của Nhà nước, hoạt động luật sư được coi là hoạt động “bổ trợ tư pháp” . Quan niệm này xuất phát từ thực tiễn là hành nghề của luật sư thường gắn rất chặt với hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án. Vì thế, tổ chức nghề nghiệp của luật sư (Đoàn, Hội luật sư) thường được thành lập trong phạm vi thẩm quyền tài phán của một Tòa án địa phương theo công thức: Tòa án địa phương/ Đoàn luật sư địa phương/ luật sư địa phương. Cũng vì lý do đó mà nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam đã coi luật sư là một hoạt động “bổ trợ tư pháp”5. Trong hệ thống các quy định pháp luật về tố tụng, luật sư được xác định là “người tham gia tố tụng”, có địa vị pháp lý hoàn toàn khác so với những người tiến hành tố tụng. Trong khi đó, xét về bản chất thì chức năng bào chữa tồn tại độc lập và đối trọng với chức năng công tố như là một tất yếu khách quan tự thân của tranh tụng hình sự. Xét ở một bình diện khác, một quan điểm rất đáng chú ý là trong luật tố tụng hình sự thực định hiện hành, chức năng bào chữa không chỉ thuộc về bên bào chữa mà còn thuộc về cả bên buộc tội và cơ quan xét xử nữa6.

    Vì thế, xếp hoạt động luật sư vào khuôn khổ của các hoạt động “bổ trợ tư pháp” vô hình trung đã làm giảm nhẹ đi ý nghĩa sâu xa và các giá trị xã hội mà hoạt động này mang lại cho sự phát triển của dân chủ nói chung và hoạt động tư pháp nói riêng. Thực tế cho thấy khi giải quyết tranh chấp giữa cá nhân và cá nhân hay giữa cá nhân với cơ quan Nhà nước, hầu hết các nước trên thế giới đều có thành lập 3 định chế: Một là công tố nghiêng về buộc tội; hai là ngọn đèn khách quan soi sáng sự thật dưới mọi khía cạnh để cho cơ quan xét xử thực hành thiên chức của mình một cách công bằng. Định chế thứ ba bắt buộc phải là định chế luật sư, độc lập với cơ quan buộc tội và cơ quan xét xử. Tính chất độc lập này không thể chỉ giới hạn trong phạm vi tranh tụng tại phiên tòa, mà còn mở rộng đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngay như ở Nhật Bản, một nước châu Á, chỉ đến 5 năm gần đây, trong nhận thức của giới tư pháp đã bắt đầu có những cải cách thật sự khi xác định luật sư là một chức danh tư pháp và chế định về luật sư được coi là một trong ba chiếc cánh nâng đỡ nền tư pháp Nhật Bản. Trong điều kiện phát triển của xã hội hiện nay và yêu cầu của chiến lược cải cách tư pháp, một điều dễ nhận thấy là luật sư đã được nhìn nhận như là một chủ thể độc lập và quan trọng trong quá trình tranh tụng, là những người hành nghề chuyên nghiệp về pháp luật. Theo các quy định của Pháp lệnh luật sư năm 2001, họ còn được đào tạo nghề nghiệp và phải qua kỳ thi và thời gian tập sự mới được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư. Xét về vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, họ còn có sứ mạng bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm việc thực thi pháp luật được đúng đắn, bảo vệ công bằng và chính nghĩa. Có thể khẳng định rằng, giá trị của hoạt động nghề nghiệp luật sư không khác gì với những người làm công tác giám sát và thực thi pháp luật khác. Nếu như chúng ta đưa ra các tiêu chí như luật sư không được coi là “công chức”, hay họ không phải là người được Nhà nước trả lương và các khoản bảo hiểm xã hội khác, hoặc bản chất nghề nghiệp không tạo ra cho họ thứ “quyền lực” mà các nhân viên điều tra, kiểm sát viên hay thẩm phán đã có để làm căn cứ phân biệt tính chất nghề nghiệp luật sư thì hoàn toàn không đúng cả về phương diện lý luận và thực tiễn.

    1.2- Về mặt ngữ nghĩa, khái niệm nghề luật sư bao gồm hai cụm từ: Nghề với tính chất là một nghề nghiệp và luật sư chỉ những người đủ điều kiện hành nghề luật sư theo quy định của pháp luật về luật sư. Theo Từ điển tiếng Việt, nghề là “công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội” hoặc hiểu theo nghĩa thứ hai là “thành thạo trong một công việc nào đó”. Nghề nghiệp được hiểu là “nghề nói chung”, còn nghề tự do có nghĩa là “nghề tự mình làm để sinh sống, không thuộc tổ chức, cơ quan nào7. Nếu theo giải thích của Từ điển tiếng Việt nêu trên, cách hiểu nghề luật sư như một nghề tự do lại không hoàn toàn phản ánh đầy đủ bản chất và đặc trưng của nghề nghiệp này. Luật sư hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật và cùng với việc được cấp chứng chỉ hành nghề, phải đăng ký hoạt động trong một tổ chức hành nghề luật sư nhất định và sinh hoạt trong một tổ chức xã hội nghề nghiệp nhất định nơi địa phương mình cư ngụ. Mặt khác, khái niệm “nghề tự do” nói trên mới đặt nặng khía cạnh “kiếm sống” mà không bao hàm được vị trí, vai trò của nghề nghiệp trong sự phát triển của xã hội. Trong luật thực định của một số nước, luật sư được coi là một chủ thể độc lập trong hoạt động tư pháp, nhưng họ quan niệm tính chất của nghề nghiệp là tự do. Theo quan điểm của chúng tôi, hiện nay về mặt lý luận, chúng ta chưa làm rõ được tính chất “tự do” của nghề nghiệp và luật sư là người hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, bởi đây là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Nói tới tính chất là nói tới thuộc tính cơ bản của một sự vật, trong trường hợp này, luật sư là chủ thể độc lập trong hoạt động tư pháp, là người thực thi và truyền bá pháp luật của Nhà nước nên không thể nói tính chất của nghề nghiệp này là nghề tự do. Tính chất độc lập cần phải được coi là thuộc tính của nghề nghiệp luật sư, còn nói tới tự do là nói tới phương thức hành nghề tự do của luật sư, như có thời gian và không gian hoạt động tự do, có quyền tự do lựa chọn khách hàng, không bị những hạn chế, bó buộc như một công chức Nhà nước.

    Từ những phân tích, kiến giải nêu trên, lần đầu tiên chúng tôi khái quát hóa và định nghĩa khái niệm nghề luật sư như sau: “Nghề luật sư là một nghề luật, trong đó các luật sư bằng kiến thức pháp luật của mình, độc lập thực hiện các hoạt động tư vấn pháp lý và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp, nhằm mục đích phụng sự công lý, góp phần tích cực bảo vệ pháp chế và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa”.

    2- Đặc điểm của nghề luật sư:

    Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của luật sư và phương thức tự do trong hành nghề luật sư . Nhiều ý kiến quan niệm nghề luật sư có những điểm tương đồng với nghề bác sỹ. Nghề luật sư cần có kiến thức pháp luật, thông thạo nghề nghiệp để chăm sóc những “con bệnh pháp luật” của mình. Có tác giả quan niệm: “Nghề luật sư đòi hỏi tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cao, tương tự như nghề y. Luật sư mang trên vai gánh nặng niềm tin mà xã hội và khách hàng ủy thác cho họ. Nếu như người bệnh tin tưởng, phó thác sức khỏe và cuộc sống của mình vào người bác sỹ vì người bệnh hy vọng rằng chính bác sỹ mới là người có đủ khả năng cứu giúp họ thì cũng tương tự như vậy, khách hàng đặt quyền lợi vật chất hoặc cao hơn nữa là sinh mạng chính trị, tự do, danh dự, nhân phẩm…của mình vào người luật sư”8. Cách nhìn và so sánh như trên được nhiều người tán đồng. Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, cũng cần chỉ ra sự khác biệt rất quan trọng của hai nghề này, phương thức “tác động” của nghề nghiệp đối với khách hàng của mình khác nhau: Bác sỹ có thể chủ động và chịu trách nhiệm về số phận của bệnh nhân, thông qua hành vi, thao tác mổ xẻ, điều trị trực tiếp; còn luật sư giúp đỡ cho khách hàng của mình về phương diện pháp lý, nhưng nhiều trường hợp, số phận của khách hàng lại không phụ thuộc vào sự trợ giúp của luật sư, mà chịu sự định đoạt của pháp luật.

    Đã có một số tác giả đề cập đến các đặc trưng của nghề luật nói chung, nhưng đối với nghề luật sư, việc xác định các đặc điểm riêng có cần phải xuất phát từ bản chất, vị trí, vai trò của nghề luật sư trong toàn bộ các định chế chính trị và tư pháp ở thượng tầng kiến trúc và các quan niệm mang tính phổ biến được hình thành trong lịch sử thế giới và ở Việt Nam.

    Theo quan niệm đó, có thể xem xét các đặc điểm của nghề luật sư trên các bình diện sau đây:

    Tính chất dịch vụ của nghề luật sư không phải đã được thừa nhận rộng rãi. Nhiều người quan niệm không nên đề cập đến tính chất dịch vụ như một trong những đặc điểm của nghề luật sư bởi sự cao quý của nghề nghiệp này. Hơn nữa, hiểu dịch vụ như là “đổi trao, mua bán” thứ hàng hóa là “kiến thức – kỹ năng pháp luật” sẽ hạ thấp vai trò của luật sư trong việc thúc đẩy sự phát triển dân chủ trong hoạt động tư pháp và xã hội nói chung.

    Tính chất dịch vụ của nghề luật sư là một loại dịch vụ đặc biệt, khác với quan niệm về dịch vụ thông thường. Theo Điều 5.5 Luật Thương mại, dịch vụ thương mại được hiểu gồm những dịch vụ gắn với việc mua bán hàng hóa. Trong Hiệp định thương mại Việt- Mỹ, lại xuất hiện khái niệm thương mại dịch vụ, được định nghĩa là việc cung cấp một dịch vụ (a) từ lãnh thổ của một bên vào lãnh thổ bên kia; (b) tại lãnh thổ của một bên cho người sử dụng dịch vụ của bên kia và (c) bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một bên, thông qua sự hiện diện của các thể nhân của một bên tại lãnh thổ của bên kia. Trong Bộ luật dân sự Việt Nam, hợp đồng dịch vụ được hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên làm dịch vụ thực hiện một công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền công cho bên làm dịch vụ. Đối tượng của hợp đồng dịch vụ phải là công việc có thể thực hiện được, không bị pháp luật cấm, không trái đạo đức xã hội. Theo Điều 527 Bộ luật dân sự, “bên thuê dịch vụ phải trả tiền công theo thỏa thuận, khi công việc đã hoàn thành; nếu không thỏa thuận về mức tiền công, thì mức tiền công là mức trung bình đối với công việc cùng loại tại thời điểm và địa điểm hoàn thành công việc”.

    << Tác giả bài viết (Bên trái)

    Có thể nói, nghề luật sư, cũng như các nghề luật khác, từ bao đời nay được coi là một nghề nghiệp gắn bó với số phận của con người. Đồng chí Lê Duẩn từng căn dặn cán bộ ngành KS,TA,CA: “Lý tưởng của chúng ta là chống áp bức, bóc lột, một lòng một dạ vì nhân dân mà phục vụ. Phải thấu suốt lý tưởng đó, kiên quyết không dung thứ những điều oan ức và không làm điều oan cho bất cứ một ai. Một người bị tội oan, chẳng những người ấy đau khổ, mà gia đình con cái họ càng đau khổ hơn. Làm điều oan cho một người nào đó thì chúng ta không còn lẽ sống nữa, bởi vì chúng ta là những người cộng sản. Cán bộ các ngành CA,TA,KS phải thấy hết trách nhiệm cao cả và nặng nề của mình” (phát biểu tại Hội nghị toàn ngành Kiểm sát tháng 3-1967).

    Phần nhiều các ý kiến đều quan niệm luật sư có nhiệm vụ bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo đồng thời với nhiệm vụ bảo vệ pháp chế XHCN, tôn trọng sự thật và pháp luật. Hai nhiệm vụ trên không mâu thuẫn với nhau, trái lại gắn bó hữu cơ và mật thiết với nhau. Tuy nhiên, có tác giả lại quan niệm sứ mạng cao cả và thiêng liêng của luật sư là bênh vực và bảo vệ kẻ yếu. “Kẻ yếu” ở đây được hiểu là “người dân trong quan hệ với cơ quan công quyền, người kém hiểu biết hơn và nghèo hơn trong quan hệ với người hiểu biết hơn và giàu hơn…Kẻ yếu, để làm tăng sức mạnh của mình thì có một cách tốt là sử dụng luật sư”10. Quan niệm như trên không phải là một quan niệm đúng cả về phương diện lịch sử và bản chất nghề nghiệp luật sư. Không thể quan niệm quyền lợi người dân như là “kẻ yếu” chỉ vì họ kém hiểu biết hoặc nghèo hơn người khác. Phải nhìn nhận rằng, dân chủ và nhân đạo là bản chất của chế độ XHCN. Nhà nước ta coi trọng quyền của con người. Những quyền này được Hiến pháp quy định (Điều 70): “Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, tài sản, danh dự và nhân phẩm”. Quyền này được nêu thành nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật TTHS và được xếp lên hàng đầu. Sự gắn bó của nghề nghiệp luật sư với số phận của con người, bất luận trong trường hợp nào, cũng được coi là sự kết nối tự nhiên, mang tính bản chất. Đối tượng của nghề nghiệp luật sư, vì thế không đơn thuần mang tính dịch vụ và chỉ nghĩ đến việc kiếm lời từ dịch vụ đó, mà trước hết chính là nhằm đáp ứng nhu cầu chính đáng của người dân cần được sự trợ giúp về mặt pháp lý.

    Cũng như bất cứ hoạt động nghề nghiệp nào khác, nền tảng hoạt động của nghề luật sư phải dựa trên pháp luật và các quy chế trách nhiệm nghề nghiệp. Pháp luật về luật sư được coi là hệ thống các quy phạm pháp luật xác định vị trí, vai trò của luật sư trong xã hội, quy định các quyền và nghĩa vụ của luật sư trong hành nghề, phạm vi quản lý Nhà nước đối với hoạt động luật sư và tính tự quản trong tổ chức nghề nghiệp luật sư; xử lý vi phạm trong hoạt động nghề nghiệp… Tuy nhiên, khi nói tới quy chế trách nhiệm nghề nghiệp như chuẩn mực nền tảng đạo đức và kỷ luật của hoạt động luật sư thì cũng không có nghĩa là quy chế này “chi phối luật sư cả trong công việc và đời sống riêng của họ” như có tác giả đã đề cập. Ở đây, chúng ta chỉ có thể nói đến sự chi phối trong hoạt động nghề nghiệp và những tác động của hành vi ứng xử của luật sư trong cuộc sống riêng có thể làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của luật sư.

    Tuy đối tượng và phạm vi điều chỉnh của pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư có khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ mật thiết và chi phối lẫn nhau. Pháp luật về luật sư có tác dụng như “hành lang”, “khuôn mẫu chung” cho luật sư hoạt động với các quyền và nghĩa vụ cụ thể trước pháp luật, còn quy chế trách nhiệm nghề nghiệp luật sư lại chủ yếu điều chỉnh hành vi ứng xử của luật sư trong hoạt động nghề nghiệp và trong xã hội, tuy không hoàn toàn mang tính bắt buộc nhưng cũng đòi hỏi phải được sự tôn trọng từ phía các luật sư. Trong nhiều trường hợp, đối với nghề nghiệp luật sư, các quy tắc ứng xử thuộc về phạm trù đạo đức lại chi phối và có tác động lớn lao đến uy tín, danh dự của luật sư và ảnh hưởng chi phối rất nhiều đến chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Sự cộng hưởng qua lại giữa pháp luật và quy tắc trách nhiệm nghề nghiệp trong hoạt động của luật sư là một trong những minh chứng cho mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chúng tôi nhiên, điều chúng tôi muốn bàn thêm chính là ở chỗ, khi xem xét mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức nói chung, người ta không thể không đề cập đến một vấn đề lý luận rất quan trọng là với sự trùng khớp về nội hàm của hai khái niệm này trong mục đích điều chỉnh hành vi của xã hội, cần phải nhìn thấy “tính pháp lý” của các quy phạm đạo đức và “tính đạo đức” của các quy phạm pháp luật. Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về bảo đảm quyền bào chữa của công dân, về luật sư nói riêng, đã có một giai đoạn khá dài trong lịch sử, nhiều quan hệ xã hội được điều chỉnh chủ yếu bằng các hương ước, luật tục và trong nhiều trường hợp, tính “vượt trội” của thứ lệ làng này cao hơn phép nước. Các quy phạm xã hội như hương ước, luật tục đã không chỉ tồn tại dưới dạng truyền khẩu, bất thành văn, mà đã được nâng lên một bước với việc được in ấn dưới nhiều hình thức khác nhau. Nói cách khác, các quy phạm xã hội này được “luật hóa” thông qua việc thể hiện bằng các văn bản mang tính chế ước, có tác dụng cưỡng chế nhất định, thứ cưỡng chế không xuất phát từ quyền lực Nhà nước. Ở chiều ngược lại, nhiều quy phạm pháp luật lại mang tính định hướng, giáo dục hơn là răn đe, trừng phạt.

    Vấn đề này có ý nghĩa lý luận to lớn ở chỗ, không chỉ đôi khi các giá trị đạo đức có ý nghĩa ràng buộc trách nhiệm công dân lớn hơn pháp luật, mà thật sự nền tảng phát triển của pháp luật trong đời sống sẽ có một “dung môi” tốt hơn nếu tính tự giác và ý thức pháp luật được hình thành từ đạo lý, từ bề dày lịch sử truyền thống văn hóa của dân tộc. Bất luận trong trường hợp nào, vấn đề cốt lõi là làm sao cho người dân nhận ra được nhu cầu về dịch vụ pháp lý một cách trung thực và lựa chọn được hình thức dịch vụ thích hợp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

    Tính chất quốc tế của hoạt động nghề nghiệp luật sư hình thành cùng với sự phát triển của nghề luật sư trong lịch sử. Cùng với sự phát triển của các hình thái kinh tế- xã hội của loài người, các cuộc chiến tranh liên miên đã kéo theo sự xê dịch của các nền văn hóa và pháp lý. Ngày nay, cùng với sự phát triển kinh tế và chủ động hội nhập đời sống quốc tế, luật sư các nước trên thế giới đã mở rộng phạm vi và lĩnh vực hoạt động ra khỏi biên giới quốc gia, đóng một vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy các quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội giữa các nước. Người ta đã quen với hình ảnh bên cạnh các doanh nghiệp quốc tế đến làm ăn tại Việt Nam có một đội ngũ luật sư giúp tư vấn và soạn thảo hợp đồng, tham gia giải quyết tranh chấp. Các hiệp ước song phương và đa phương ký kết giữa các nước có sự tham gia soạn thảo của các luật sư giàu kinh nghiệm. Trong điều kiện đất nước chủ động tham gia tiến trình hội nhập quốc tế, Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp quy điều chỉnh hoạt động hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, theo đó các luật sư nước ngoài chỉ được tư vấn về pháp luật nước ngoài, pháp luật quốc tế trong lĩnh vực đầu tư, kinh doanh, thương mại, không được tư vấn pháp luật Việt Nam, không tham gia tố tụng trước Tòa án Việt Nam. Nhiều luật sư Việt Nam đã tham gia giải quyết các vụ kiện tranh chấp có yếu tố nước ngoài tại các Tòa án, trọng tài quốc tế…

    Pháp lệnh luật sư năm 2001 đã cho phép các Văn phòng luật sư, Công ty luật hợp danh được thuê luật sư nước ngoài, hợp tác với tổ chức luật sư nước ngoài theo quy định của pháp luật về hành nghề của luật sư nước ngoài tại Việt Nam; đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài theo quy định của Chính phủ. Nghị định số 94/2001/NĐ-CP ngày 12-12-2001 của Chính phủ đã quy định chi tiết các điều kiện mà tổ chức hành nghề luật sư được đặt cơ sở hành nghề ở nước ngoài, cũng như cử luật sư thực hiện dịch vụ pháp lý ở nước ngoài. Các quy định pháp lý nêu trên đã mở ra khả năng to lớn cho việc nâng cao sức cạnh tranh của đội ngũ luật sư Việt Nam trên trường quốc tế.

    Tài liệu tham khảo 1 TS. Phan Hữu Thư, Nghề và nghề luật, Đặc san Nghề luật, Trường Đào tạo các chức danh tư pháp, Số 1/2001, tr. 4. 2 TS. Hà Hùng Cường, Pháp lệnh về hành nghề luật sư ở Việt Nam, Bài giảng vào ngày 26-6-2002 tại Khóa I Lớp đào tạo nguồn luật sư các tỉnh phía Nam tổ chức tại TPHCM. 3 Trường Đào tạo các chức danh tư pháp, Kỹ năng hành nghề luật sư, tập I, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2001, tr. 11-12. 4 TS. Nguyễn Đình Lộc, Về Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Số chuyên đề về Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Bộ Tư pháp và Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr. 6. 5 TS. Hà Hùng Cường, Pháp lệnh luật sư năm 2001 với việc đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới, Số chuyên đề về Pháp lệnh Luật sư năm 2001, Sđd, tr. 23. 6 TS. Phạm Hồng Hải, Về chức năng bào chữa trong tố tụng hình sự, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 2 (85), 1994, tr.27. 7 Nguyễn Như Ý (chủ biên), Đại từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin, Hà Nội, 1999, tr. 1192. 8 TS. Hà Hùng Cường, Pháp lệnh luật sư năm 2001 với việc đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới, Sđd, tr. 19. 9 Lê Hồng Sơn- Dương Thu Phương, Hành nghề tư vấn pháp luật của luật sư nước ngoài tại Việt Nam, Số chuyên đề về Pháp lệnh luật sư năm 2001, Sđd, tr. 107-111. 10 Nguyễn Tiến Lập, Tham luận tại Hội thảo Đạo đức nghề nghiệp luật sư, Bộ Tư pháp, TPHCM 3/2001.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đạo Luật Lacey Act Là Gì ?
  • Đạo Luật Coppa Là Gì? Và Sẽ Ảnh Hưởng Thế Nào Đến Các Kênh Youtube Dành Cho Trẻ Em?
  • Luật, Bộ Luật Và Đạo Luật Cái Nào Có Giá Trị Cao Hơn?
  • Phân Biệt Luật Gia Và Luật Sư
  • Luật Gia Là Gì Và Liệu Luật Gia Có Giống Với Luật Sư Hay Không?
  • Luật Tục Là Gì ?

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Tục Với Quản Lý, Phát Triển Xã Hội Cấp Cơ Sở Vùng Đồng Bào Dân Tộc Thiểu Số Tây Nguyên
  • Luật Tục Trong Đời Sống Đồng Bào Các Dân Tộc Thiểu Số Những Giá Trị Cần Bảo Tồn, Phát Huy Những Hủ Tục Cần Loại Bỏ
  • Doanh Nghiệp Tư Nhân Là Gì?
  • Sự Khác Nhau Căn Bản Giữa Luật Công Và Luật Tư
  • Hợp Đồng Đối Tác Công Tư Là Gì Theo Quy Định Của Pháp Luật?
  • Có thể đưa một định nghĩa về Luật tục như sau: Đó là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương, được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường và ứng xử xã hội, đã được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực hành sản xuất và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hoà các quan hệ xã hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên. Những chuẩn mực ấy của luật tục được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện, tạo nên sự thống nhất và cân bằng xã hội của mỗi cộng đồng.

    Ở mỗi dân tộc có tên gọi luật tục riêng, ví như Hương ước (Việt), Hịt khỏng (Thái), Phat kđi (Êđê), Phat Ktuôi (M’nông), N’ri (Mạ)…

    Một điều dễ nhận biết là Luật tục vừa mang một số yếu tố của Luật pháp, như quy định các hành vi phạm tội, các tội phạm, bằng chứng, việc xét xử và hình phạt …, lại vừa mang tính chất của lệ tục, phong tục, như các quy ước, lời răn dạy, khuyên răn mang tính đạo đức, hướng dẫn hành vi cá nhân, tạo dư luận xã hội để điều chỉnh các hành vi ấy. Như vậy, Luật tục như là hình thức phát triển cao của phong tục, tục lệ và là hình thức phát triển sơ khai, hình thức tiền luật pháp.

    Với sự hiểu biết hiện nay, có thể phân chia các luật tục của các dân tộc ở Việt Nam theo các dạng tồn tại khác nhau:

    – Luật tục được cố định dướng dạng lời nói vần (văn vần) được truyền miệng từ đời này sang đời khác, ví dụ như; Luật tục Êđê, M’nông, Mạ, Stiêng, Bana, Giarai.

    – Luật tục đã được cố định và ghi chép bằng văn tự, đó là hương ước của người Việt, Hịt khỏng bản mường của người Thái, lệ tục của người Chăm.

    – Luật tục hay Lệ tục đã tương đối định hình, những chưa cố định thành lời văn vần hay thành văn bản, mà vẫn chỉ là sự ghi nhớ và thực thi của cộng đồng. Loại này phổ biến ở hầu hết các tộc người, rất khó phân biệt nó với phong tục và lệ tục cổ truyền.

    Dù tồn tại dưới hình thức nào thì hiện nay luật tục của các dân tộc cũng đang đứng trước sự mai một, phá hoại bởi thời gian và con người.

    Nhiều cuốn luật tục (Hịt khỏng) của người Thái bị đốt hay mất mát, thất lạc; nhiều bộ luật truyền miệng của các dân tộc Tây Nguyên bị quên lãng, thất truyền. Nhiệm vụ của chúng ta hiện nay là phải cứu lấy di sản quý báu đó.

    Tuỳ theo các tộc người, nội dung luật tục đề cập tới nhiều khía cạnh rộng hẹp khác nhau, như các quan hệ xã hội, quan hệ kinh tế, phong tục – nghi lễ, an ninh xã hội, quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên … Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi đề cập tới khía cạnh, giá trị Luật tục của các tộc người ở Tây Nguyên.

    1. Là một tấm gương phản chiếu sát thực xã hội tộc người, do vậy là nguồn tư liệu gốc, quý hiếm để nghiên cứu tộc người

    Luật tục đề cập đến hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sống tộc người, từ môi trường thiên nhiên, việc bảo vệ môi trường đến sản xuất, quan hệ sở hữu, tổ chức và quan hệ xã hội, hôn nhân và gia đình, tín ngưỡng và phong tục, lễ nghi … Đó là các chuẩn mực ứng xử đã được hình thành và định hình trong quá trình lịch sử lâu dài của tộc người, nó được mọi người chấp nhận và tự giác tuân theo như một thói quen, một tập quán. Nó không như luật pháp nhà nước phong kiến chế định, luật pháp đó nhiều khi mang tính áp đặt đối với làng xã, để nhiều khi luật pháp với lệ làng có độ chênh theo kiểu phép vua thue lệ làng. Trong khi đó, luật tục phản ánh sát thực xã hội các tộc người.

    b) Cơ cấu xã hội cơ bản các tộc người ở Tây Nguyên là làng (Plây, buôn, bon) do vậy làng bon là khung xã hội cơ bản cho việc hình thành và vận hành của luật tục. Trong luật tục, từ các quy định thưởng phạt, các lời khuyên răn … đều gắn liền với phạm vi và cơ cấu tổ chức làng bon. Và hình phạt nặng nhất đối với kẻ phạm tội là đuổi ra khỏi cộng đồng làng bon.

    Trong làng bon, người thủ lĩnh và quan hệ giữa thủ lĩnh với làng bon là nhân tố quyết định sự tồn tại và ổn định của cộng đồng. Đó không phải là mối quan hệ giữa kẻ thống trị với những người bị trị như ở xã hội có giai cấp, mà là quan hệ tôn trọng, ràng buộc bởi quyền lợi và trách nhiệm giữa cộng đồng và thủ lĩnh của họ. Thủ lĩnh ở đây phải là người có đức độ và tài năng, được cả cộng đồng tôn trọng, bảo vệ, giúp đỡ, người đó phải chịu sự ràng buộc và có nghĩa vụ với các thành viên của làng bon, thậm chí làm những điều sai trái có thể bị cộng đồng trừng phạt theo luật tục. Đây là nét đẹp truyền thống mà chúng ta có thể học hỏi trong việc xây dựng quy chế dân chủ ở cơ sở, các quan hệ giữa người cán bộ lãnh đạo với nhân dân hiện nay.

    c) Quan hệ xã hội cơ bản của làng bon là quan hệ cộng đồng. Cộng đồng ở đây với nhiều phạm vi và mức độ khác nhau nhưng chúng không hề đối lập nhau. Trong phạm vi nhỏ là cộng đồng gia tộc, mà ở các tộc người Tây Nguyên còn tồn tại tàn dư của gia tộc lớn mẫu hệ. Ngôi nhà dài với các căn phòng có kho lúa và bếp lửa cho từng đôi vợ chồng. Rộng hơn và cơ bản hơn đó là cộng đồng làng bon đan kết giữa quan hệ huyết thống và quan hệ láng giềng.

    Nếu nói luật tục là hệ thống các quy ước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, thì hệ thống đó thấm đậm ý thức cộng đồng, chi phối toàn bộ các lĩnh vực xã hội, các mối quan hệ xã hội khác nhau. Có thể nói cộng đồng, ý thức cộng đồng là cái gì đó rất tự nhiên, là lẽ phải, là quy luật, ai đó làm gì trái với ý thức cộng đồng sẽ bị cộng đồng hoặc là khuyên răn, giáo dục hoặc trừng phạt.

    Ý thức cộng đồng không chỉ thể hiện ở các điều trong chương nói về quan hệ cộng đồng, mà ở những mức độ khác nhau nó còn thể hiện ở các phần nói về quan hệ với thủ lĩnh, về phong tục tập quán, về sở hữu, về vi phạm thân thể, về hôn nhân và gia đình… Đó là quan hệ một vì tất cả và tất cả vì một, là quan hệ bình đẳng, tương trợ, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Đó là điều kiện đưa tới cho mọi người trong cộng đồng tư tưởng bình quân. ý thức cộng đồng, tư tưởng bình quân đó là một truyền thống, vừa là sức mạnh, động lực, nưhng mặt nào đó cũng là cái cản trở, hạn chế sự phát triển hiện nay.

    d) Quan hệ cộng đồng của làng bon hình thành trên cơ sở một nền sản xuất nương rẫy còn ở trình độ lạc hậu trong môi trường tự nhiên là rừng núi hoang sơ, trên cơ sở xã hội mà công hữu về tư liệu sản xuất còn là quan hệ thống thị, xã hội đó chưa có sự phân hoá giai cấp, chưa có sự áp bức – bóc lột giữa người và người. Trong luật tục cũng như trong xã hội các tộc người Tây Nguyên thường nhắc tới một loại người là Dik. Một lần nữa xin nhắc lại rằng, Dik không phải là “nô lệ” như khái niệm của xã hội có giai cấp, mà đó chỉ là “con ở” trong một số gia đình khá giả, được người chủ đối xử khá tử tế như con cháu trong gia đình. Việc buôn bán Dik đã được luật tục ngăn cấm, coi như là một tội lỗi.

    e) Trình độ sản xuất và sự phát triển xã hội như vậy đã quyết định trình độ tư duy của người Tây Nguyên. Đó là tư duy cụ thể, kinh nghiệm và mang màu sắc thần bí. Trong luật tục, các phạm trù cái thiện – ác, đúng – sai đều được quy về một cái gì đó rất cụ thể.

    Mầu sắc thần bí trong tư duy là nét nổi trội đối với các tộc người còn ở trình độ phát triển thấp. Trong luật tục, mọi tội lỗi đều quy về việc xúc phạm với thần linh, khiến thần linh tức giận mà gây tai hoạ cho cộng đồng. Do vậy, trong việc xử kiện, từ hình thức nhẹ tới hình thức nặng đều có nghi lễ “rửa tội” để tẩy sạch tội lỗi, tạ lỗi với thần linh. Thậm chí, đối với một số lĩnh vực để phân biệt đúng sai, người ta phải mượn tới phương pháp thần bí, mê tín.

    Luật tục còn cung cấp cho người đọc bức tranh văn hoá dân tộc người khá độc đáo và đa dạng. Hiếm có một luật tục hay tập quán pháp nào lại quy định tỉ mỉ những tập quán về làm rẫy, trồng trỉa, về chăn nuôi gia súc, săn bắn, đánh cá, tục lệ ăn uống, mặc, trang sức … Đây là những tư liệu quý để nghiên cứu bản sắc và sắc thái văn hoá tộc người.

    2. Luật tục là di sản văn hoá tộc người

    Ngoài giá trị tư liệu để nghiên cứu xã hội tộc người, luật tục Tây Nguyên còn có giá trị về văn hoá. Có thể nói rằng, cùng với sử thi, luật tục là di sản văn hoá quý báu và độc đáo của các tộc người Tây Nguyên đóng góp vào di sản chung của văn hoá các dân tộc Việt Nam và thế giới.

    Trước hết, luật tục thật sự là một tác phẩm văn học dân gian truyền miệng có giá trị về nội dung và nghệ thuật.

    Với việc sưu tầm bước đầu hiện nay, luật tục M’nông ở Đắc Nông có 215 điều với khoảng 7.000 câu. Luật tục Êđê gồm 236 điều với khoảng trên dưới 8.000 câu. Xét riêng về khối lượng, đây là một tác phẩm thuộc loại lớn, nhất là với một tác phẩm truyền miệng dân gian. Đây mới chỉ là điều tra bước đầu, trong tương lai nếu có điều kiện bổ sung thì độ dài của luật tục chắc chắn sẽ tăng lên, nội dung sẽ phong phú hơn.

    Luật tục diễn đạt theo thể văn vần, số chữ trong một câu không tuân theo quy luật nhất định. Cấu tạo vần theo kiểu vần cuối câu trước hợp vần với chữ đầu hay vần lưng của câu sau. Trong luật tục cũng như trong sử thi, người ta hay sử dụng hình thức lời nói vần có nét nào đó giống như thành ngữ và tục ngữ của người Việt. Nói cách khác, đó là thứ ngôn từ nằm giữa ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ thơ ca. Lời nói vần đã lưu tích được trong nó tri thức và trí tuệ của dân chúng.

    Ngôn ngữ trong luật tục là ngôn ngữ giầu hình tượng. Họ mượn cái hình tượng của đời sống hàng ngày, của tự nhiên và của xã hội để diễn đạt các quan niệm mang tính luật pháp. Thí dụ, để nói tính khách quan của người xử kiện, luật tục M’nông mượn hình ảnh:

    “Hai bên hòn đá, cá trê đứng giữa

    Hai bên cây lúa, cây nêu đứng giữa,

    Bên gió, bên bão, chiếc diều đứng giữa”

    Cho đến nay, chúng ta chưa có thể trả lời dứt khoát luật tục Tây Nguyên hình thành và định hình vào thời kỳ nào. Tuy nhiên, một tác phẩm văn học truyền miệng được phát hiện, trong đó chứa đựng nội dung và các tri thức đa dạng về đời sống xã hội tộc người, các hình thức tư duy và ngôn ngữ biểu đạt mang sắc thái độc đáo …, xứng đáng là một di sản quý của nền văn hoá tộc người mà ngày nay chúng ta có nhiệm vụ bảo tồn và phát huy nhằm phục vụ cho sự nghiệp phát triển dân tộc theo hướng hiện đại hoá.

    3. Luật tục là một kho tàng tri thức dân gian phong phú

    Có thể nói, luật tục như bộ sách bách khoa về mọi mặt của đời sống tộc người, chứa đựng những tri thức dân gian vô cùng phong phú, đúc rút ra từ kinh nghiệm sống của nhiều thế hệ. Đó là những tri thức về môi trường tự nhiên, tri thức về sản xuất nương rẫy, hái lượm, săn bắt, đánh cá, tri thức về xã hội và ứng xử giữa người với người, tri thức về đời sống văn hoá, nghi lễ, phong tục về quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên… Những tri thức này đã định hình và trở thành các nguyên tắc sống, lẽ sống của con người trong cộng đồng.

    Trước nhất, luật tục là tri thức về quản lý cộng đồng của bon làng. Đó là tri thức về sự kết hợp giữa quản lý và tự quản, kết hợp giữa giáo dục và trừng phạt, kết hợp giữa ý thức cá nhân và dự luận xã hội, kết hợp giữa các nguyên tắc của tập quán pháp – một hình thức của luật pháp sơ khai – với các quan niệm về tâm linh, tín ngưỡng để giải quyết các xung đột xã hội… Đó là vốn tri thức quý báu của ông cha đã tích luỹ và truyền lại để ngày nay chúng ta có thể học hỏi, vận dụng.

    Luật tục còn chứa đựng những tri thức về quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên thông qua việc luật tục xác định các quan hệ sở hữu của cộng động và cá nhân đối với các tài nguyên thiên nhiên, thông qua việc “thiêng hoá” những tài nguyên, thông qua việc nêu ra các điều luật cụ thể ngăn chặn các hành động phá hoại tài nguyên …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hệ Thống Pháp Luật Common Law Và Civil Law
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Lý Luận Nhà Nước Và Pháp Luật (Có Đáp Án)
  • Trắc Nghiệm Gdcd 12 Bài 2 (Có Đáp Án): Thực Hiện Pháp Luật (Phần 5).
  • Bộ Đề Trắc Nghiệm Pháp Luật Đại Cương
  • 226 Câu Trắc Nghiệm Môn Pháp Luật Đại Cương Có Đáp Án
  • Quản Lý Xã Hội Là Gì? Làm Thế Nào Để Quản Lý Xã Hội Bằng Pháp Luật

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài 1 Pháp Luật Và Đời Sống
  • Bộ Trưởng Bộ Tư Pháp Thăm Tòa Soạn Báo Đời Sống Và Pháp Luật
  • Báo Đời Sống & Pháp Luật Tuyển Dụng Phóng Viên
  • Hướng Dẫn Cách Vẽ Sơ Đồ Tư Duy Bằng Tay
  • Báo Đời Sống Và Pháp Luật Tặng Gần 50 Suất Quà Tết Cho Người Dân Nghèo Hà Tĩnh
  • Xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng, một xã hội hiện đại và phát triển phụ thuộc rất nhiều vào công tác quản lý. Nói cách khác, quản lý xã hội trở thành vấn đề cấp thiết trong thời đại hiện nay.

    Quản lý xã hội là gì?

    Khi xã hội loài người được hình thành, hoạt động tổ chức, quản lý đã được quan tâm hàng đầu và trở thành phương tiện để nhà nước giám sát mọi mặt của đời sống. Vậy, quản lý xã hội là gì?

    Quản lý xã hội là quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội thông qua hệ thống các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật,… của Đảng và nhà nước nhằm đạt được mục tiêu chung, góp phần tăng trưởng, phát triển xã hội về mọi mặt. Hoạt động quản lý xã hội thực chất bắt nguồn từ sự phân công nguồn lực con người nhằm đạt được hiệu quả cao hơn.

    Làm thế nào để quản lý xã hội bằng pháp luật

    Ngày nay, pháp luật là công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo đảm và bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc. Quản lý xã hội bằng pháp luật nghĩa là nhà nước ban hành luật pháp và tổ chức thực hiện trên quy mô toàn xã hội, đưa pháp luật vào đời sống. Tuy nhiên, quản lý xã hội bằng pháp luật có thực sự hiệu quả hay không cần đảm bảo các nội dung cơ bản sau:

    Thứ nhất, nhà nước phải có trách nhiệm làm cho nhân dân hiểu pháp luật, hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Phải công bố, công khai, kịp thời các văn bản luật, văn bản quy phạm pháp luật, chủ trương đường lỗi của Đảng và nhà nước; tiến hành nhiều biện pháp thông tin; phổ biến; giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện báo, đài, truyền hình; đưa việc giáo dục luật pháp vào nhà trường, xây dựng chương trình phổ biến pháp luật ở xã, phường, thị trấn, các cơ quan, trường học,… để “dân biết” và “dân làm” theo pháp luật.

    – Thứ hai, nhà nước ta khẳng định pháp luật là công cụ quản lý xã hội, là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng và có nhiệm vụ điều chỉnh quan hệ xã hội. Vậy nên, nếu pháp luật phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần thúc đẩy quá trình phát triển quan hệ kinh tế và làm tăng trưởng kinh tế – xã hội. Ngược lại, nếu pháp luật lạc hậu sẽ kìm hãm sự phát triển của quốc gia, gây ra các tệ nạn xã hội, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân.

    – Thứ ba, pháp luật là quan trọng, tuy nhiên nếu chỉ có pháp luật cũng không thể thành công trong việc ổn định trật tự an ninh xã hội. Chính vì vậy bộ máy quản lý nhà nước cần phải được củng cố và tăng cường; nâng cao tinh thần, trách nhiệm trong công việc; đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; chấp hành nghiêm chỉnh kỉ cương, pháp luật nhà nước;…

    Như vậy, xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng việc quản lý xã hội trở thành vấn đề cấp bách trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tăng Cường Đưa Pháp Luật Vào Cuộc Sống Của Người Dân Các Buôn Làng Tây Nguyên
  • Cần Nhiều Giải Pháp Để Pháp Luật Đi Vào Cuộc Sống
  • Phap Luat 24H, Tin Tức Pháp Luật, Báo Pháp Luật Và Đời Sống
  • Trắc Nghiệm Bài 1 Pháp Luật Và Đời Sống Gdcd Lớp 12 (Có Đáp Án)
  • Hướng Tới Kỷ Niệm 15 Năm Báo Đời Sống & Pháp Luật Xuất Bản Số Đầu Tiên
  • Web hay
  • Links hay
  • Guest-posts
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100