Luật An Ninh Quốc Gia Cho Phép Dẫn Độ Nghi Phạm Từ Hồng Kông Sang Trung Quốc

--- Bài mới hơn ---

  • Ela: Hiệp Hội Luật Sư Dẫn Độ
  • Có Phải Việt Nam Đã “khước Từ Một Phần Chủ Quyền Quốc Gia” Khi Thi Hành Luật Dẫn Độ Việt
  • Trung Quốc Vừa Tiết Lộ : Luật Dẫn Độ Trung Quốc
  • Tìm Hiểu Luật Dẫn Độ Nhật Bản
  • Dẫn Độ Là Gì 2021? Trường Hợp Nào Được Dẫn Độ?
  • Nhiều hạ nghị sĩ Cộng hòa gặp riêng Tổng thống Donald Trump và Phó tổng thống Mike Pence bàn cách đảo ngược kết quả bầu cử khi đếm phiếu đại cử tri vào ngày 6.1.2021.

    Cơ quan tư pháp Mỹ truy tố một người đàn ông 70 tuổi bị cáo buộc đăng ký bỏ phiếu bầu cử Tổng thống Mỹ cho mẹ và mẹ vợ, dù 2 người này đã qua đời.

    Quân đội Hàn Quốc ngày 22.12 cho biết đã triển khai chiến đấu cơ ngăn chặn 19 máy bay quân sự của Nga và Trung Quốc xâm nhập vùng nhận diện phòng không của Hàn Quốc (KADIZ).

    Tổng thống Nga Vladimir Putin ngày 22.12 ký ban hành luật cho phép tổng thống sau khi mãn nhiệm có quyền trở thành thượng nghị sĩ trọn đời.

    Tàu khu trục USS John S. McCain của Mỹ ngày 22.12 có chuyến tuần tra nhằm “bảo vệ quyền tự do hàng hải” tại quần đảo Trường Sa.

    Đại dịch Covid-19 trong năm 2021 đã đem đến hàng loạt tin xấu, nhưng vẫn có những điều tích cực: tiêu thụ thú cưng tăng, tăng cường bảo vệ động vật, thậm chí chuối chín rục cũng không bị bỏ đi.

    Chính phủ Malaysia đang xúc tiến mua vắc xin Covid-19 từ Mỹ, Nga, Trung Quốc nhằm tiêm phòng cho hơn 80% dân số.

    Ngày 22.12, Đài Loan ghi nhận ca lây nhiễm Covid-19 trong cộng đồng đầu tiên kể từ tháng 4 và quy trách nhiệm cho một phi công nước ngoài.

    Bộ trưởng Tư pháp Mỹ Bill Barr cáo buộc Nga đứng sau vụ tấn công mạng hàng loạt hệ thống máy tính của các cơ quan chính phủ Mỹ, trong khi Tổng thống Donald Trump trước đó cho rằng Trung Quốc có thể là thủ phạm.

    Tổng cục An ninh Liên bang Nga (FSB) hôm 22.12 bác bỏ đoạn clip được nhân vật đối lập Alexei Navalny công bố nhằm tìm kiếm kẻ chủ mưu đằng sau vụ đầu độc bằng chất độc thần kinh Novichok, gọi đây là clip dàn dựng.

    Ngày nọ, năm 1967, một nhóm nhà phân tích tình báo Mỹ đã tập trung tại phòng Xanh lục của trụ sở CIA để giải mã các bức ảnh “giật gân” do vệ tinh do thám chụp được trên biển Caspi.

    Trung Quốc được cho là đã trộm dữ liệu cá nhân để bí mật theo dõi các điệp viên của Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) ở châu Phi và châu Âu, theo tạp chí Foreign Policy.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dự Luật Dẫn Độ Của Hong Kong Là Gì?
  • Tại Sao Dự Luật Dẫn Độ Hồng Kông Lại Kích Hoạt Biểu Tình?
  • Hong Kong Rút Dự Luật Dẫn Độ
  • Bộ Công An Đề Nghị Xây Dựng Luật Dẫn Độ
  • Hiệp Định Dẫn Độ Giữa Việt Nam Và Hàn Quốc
  • Ý Nghĩa Của Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Việc Bảo Vệ “một Nước, Hai Chế Độ” Ở Hong Kong

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Trẻ Em Có Bao Nhiêu Chương Và Luật Quy Định Trẻ Em Có Bao Nhiêu Quyền?
  • Không Có Giấy Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thì Bị Phạt Bao Nhiêu Tiền?
  • Chi Phí Làm Giấy Chứng Nhận An Toàn Thực Phẩm Là Bao Nhiêu?
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Sản Xuất Thực Phẩm
  • Quyền Và Nghĩa Vụ Của Tổ Chức, Cá Nhân Kinh Doanh Thực Phẩm
  • Theo tờ Global Times (Thời báo Hoàn cầu), ấn bản của Nhân dân Nhật báo – cơ quan ngôn luận của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ngày 30/6, Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Luật an ninh Quốc gia về Hong Kong. Luật này có hiệu lực từ 23 giờ đêm 30/6.

    Cả chính quyền trung ương lẫn xã hội Trung Quốc đều không muốn hủy bỏ nguyên tắc “một nước, hai chế độ” không có nghĩa là một số ít lực lượng cực đoan ở Hong Kong có thể thông đồng với Mỹ và các lực lượng bên ngoài khác để gây rối cho thành phố, cũng không cho phép các cuộc biểu tình bạo lực tồn tại ở Hong Kong. Luật an ninh quốc gia bảo vệ “một nước, hai chế độ” và sẽ ngăn Hong Kong trở thành thành phố hỗn loạn nhất châu Á. Bên trong rào cản này, dân chủ, tự do, đa nguyên và cởi mở sẽ không bị đàn áp. Thay vào đó, chúng sẽ được phát huy đầy đủ hơn.

    Global Times nhấn mạnh rằng cái gọi là “một nước, hai chế độ” là cáo buộc được đưa ra bởi các lực lượng cực đoan ở Hong Kong và Mỹ cùng các lực lượng bên ngoài khác. Trung Quốc Đại lục không có ý định như vậy. Tuy nhiên, có một kế hoạch độc hại để kéo Hong Kong từ Trung Quốc vào vòng tròn quyền lực của Mỹ và biến thành phố này thành điểm tựa để Washington kiềm chế Bắc Kinh. Một số lực lượng tại Hong Kong đã tích cực phối với một âm mưu như vậy.

    Các lực lượng này đã kéo Hong Kong ra khỏi con đường phát triển đúng đắn. Trong vài chục năm qua, khu tự trị này đột nhiên trở nên chính trị hóa và bạo lực cao độ, không quan tâm đến vị thế quý giá của nó như là một trung tâm tài chính quốc tế, biến thành một “con rối” của Mỹ và lạc đường. Nhiệm vụ cốt lõi của Luật an ninh quốc gia là “chữa lành” những thương tích chết người này cho Hong Kong.

    Vài giờ trước khi luật được thông qua vào ngày 30/6, một số nhóm ly khai ở Hong Kong tuyên bố giải tán, chỉ số chứng khoán Hang Seng tăng. Tất cả những điều này sẽ làm tăng sự tự tin của xã hội Hong Kong trong việc thực thi luật pháp.

    Trước khi Trung Quốc thông qua Luật an ninh quốc gia áp dụng đối với Hong Kong, Mỹ tuyên bố hủy bỏ chế độ ưu đãi đối với Hong Kong. Tuy nhiên, Mỹ chỉ đình chỉ hiệu lực các giấy phép xuất khẩu ngoại lệ và chấm dứt xuất khẩu thiết bị quốc phòng của Mỹ sang Hong Kong. Họ không đụng đến tình tràng của Hong Kong như một lãnh thổ hải quan riêng biệt. Do đó, dư luận quốc tế nói chung tin rằng tác động trực tiếp của việc đó sẽ vừa phải. Trung Quốc sẵn sàng đối phó với tình hình tồi tệ hơn và sự đe dọa từ Mỹ đất thất bại.

    Với sự hỗ trợ của Luật an ninh quốc gia, Hong Kong cần phải tăng cường ổn định và tập trung vào phát triển kinh tế, xã hội. Dựa vào nền kinh tế của Đại lục, vị thế cảu một trung tâm tài chính quốc tế của Hong Kong không thể bị mất đi.

    Luật an ninh quốc gia đối với Hong Kong không hồi tố và điều này khiến cho ngày 30/6/2020 trở thành một bước ngoặt. Những người nhận thức được tình hình hiện tại và thay đổi cách hành xử của họ sẽ được an toàn. Luật này có hình phạt tối đa là tù chung thân. Đặc biệt, thủ phạm chính sẽ phải đối mặt với hình phạt nghiêm khắc.

    Cân nhắc của Bắc Kinh trên hồ sơ Hong Kong

    Theo đài RFI, giới quan sát cho rằng việc mạnh tay và bằng mọi giá nhanh chóng giành lại quyền kiểm soát Hong Kong, Trung Quốc đã có nhiều tính toán cùng lúc. Một là vĩnh viễn dẹp các phong trào phản kháng âm ỉ từ mùa xuân năm ngoái với các cuộc xuống đường có khi huy động được hơn 1 triệu dân Hong Kong chống đối dự luật dẫn độ. Chính quyền Trung Quốc lo ngại làn sóng phản kháng này, một thứ “virus chính trị” trong con mắt Bắc Kinh, có nguy cơ lan tới Hoa Lục.

    Nhà báo Pierre Haski, nguyên phóng viên của báo Libération tại Bắc Kinh, cho rằng Luật an ninh quốc gia đối với Hong Kong có thể là dấu hiệu rõ rệt nhất cho thấy Trung Quốc đã “đủ mạnh và sẵn sàng thách thức phần còn lại của thế giới, mà đứng đầu là Mỹ.

    Có lẽ Bắc Kinh biết rõ đòn “giơ cao đánh khẽ” của chính quyền Trump, sự chia rẽ vì những lợi ích kinh tế và thương mại của các thành viên trong Liên minh châu Âu (EU), cũng như thế yếu của chính quyền London sau đại dịch COVID-19 và Brexit.

    Giới quan sát hy vọng là phe dân chủ Hong Kong đủ chín chắn để hiểu được rằng sẽ là một sai lầm nếu trông đợi vào sự yểm trợ của các nền dân chủ lâu đời phương Tây để cưỡng lại guồng máy an ninh của Hoa Lục.

    Nguồn: TKNB – 03/07/2020.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Biện Pháp Và Mục Đích Của Việc Đảm Bảo An Ninh Quốc Gia Là Gì?
  • Cập Nhật Luật An Ninh Quốc Gia Bổ Sung Sửa Đổi Cụ Thể Nhất
  • Hiệu Quả Sau 1 Năm Thực Hiện Luật An Ninh Mạng
  • Trung Quốc Chuẩn Bị Ra Mắt Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong
  • Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Dành Cho Hồng Kông
  • Cập Nhật Luật An Ninh Quốc Gia Bổ Sung Sửa Đổi Cụ Thể Nhất

    --- Bài mới hơn ---

  • Biện Pháp Và Mục Đích Của Việc Đảm Bảo An Ninh Quốc Gia Là Gì?
  • Ý Nghĩa Của Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Việc Bảo Vệ “một Nước, Hai Chế Độ” Ở Hong Kong
  • Luật Trẻ Em Có Bao Nhiêu Chương Và Luật Quy Định Trẻ Em Có Bao Nhiêu Quyền?
  • Không Có Giấy Vệ Sinh An Toàn Thực Phẩm Thì Bị Phạt Bao Nhiêu Tiền?
  • Chi Phí Làm Giấy Chứng Nhận An Toàn Thực Phẩm Là Bao Nhiêu?
  • Cập nhật sửa đổi chi tiết Luật an ninh quốc gia bổ sung mới nhất 2021

    LUẬT

    CỦA QUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ 32/20…/QH11 NGÀY 03 THÁNG 12 NĂM 20… VỀ AN NINH QUỐC GIA

    Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/20…/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 20…của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;

    Luật này quy định về an ninh quốc gia.

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

    Luật này quy định về chính sách an ninh quốc gia; nguyên tắc, nhiệm vụ, biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia.

    Điều 2. Đối tượng áp dụng

    Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định khác thì áp dụng theo điều ước quốc tế đó.

    Điều 3. Giải thích từ ngữ

    1. An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

    2. Bảo vệ an ninh quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

    3. Hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    4. Nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia là những nhân tố bên trong, bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có khả năng thực tế gây nguy hại cho an ninh quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    5. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia là cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và đơn vị nghiệp vụ thuộc lực lượng vũ trang nhân dân được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    6. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia là sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    7. Biện pháp nghiệp vụ là biện pháp công tác của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật.

    9. Nền an ninh nhân dân là sức mạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết và truyền thống dựng nước, giữ nước của toàn dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trong đó lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt.

    10. Thế trận an ninh nhân dân là việc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và các nguồn lực cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia.

    Điều 4. Chính sách an ninh quốc gia

    1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và cùng có lợi.

    2. Nhà nước có chính sách xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại vững mạnh, giữ vững ổn định chính trị để bảo đảm an ninh quốc gia.

    Điều 5. Nguyên tắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    2. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt.

    3. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; phối hợp có hiệu quả hoạt động an ninh, quốc phòng và đối ngoại.

    4. Chủ động phòng ngừa, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

    Điều 6. Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Nhà nước xây dựng lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xây dựng lực lượng công an xã, dân quân tự vệ, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp, bảo vệ dân phố, dân phòng tham gia hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Điều 7. Bảo đảm điều kiện cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

    Nhà nước bảo đảm ngân sách và cơ sở vật chất cho các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống, ưu tiên các địa bàn chiến lược, xung yếu, quan trọng về an ninh quốc gia; có chính sách huy động thành tựu khoa học và công nghệ phục vụ hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.

    Điều 8. Trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia

    Bảo vệ an ninh quốc gia là sự nghiệp của toàn dân. Cơ quan, tổ chức, công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Điều 9. Chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Nhà nước bảo vệ, giữ bí mật cho cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia và cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia có thành tích thì được khen thưởng, bị tổn hại về danh dự thì được khôi phục, bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù; người bị thương tích, tổn hại về sức khỏe, bị thiệt hại về tính mạng thì bản thân và gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

    Điều 10. Tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Cơ quan thông tin, tuyên truyền có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao ý thức bảo vệ an ninh quốc gia cho toàn dân.

    3. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, vận động công dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bảo vệ an ninh quốc gia.

    4. Giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia là một nội dung giáo dục quốc dân. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo có trách nhiệm đưa nội dung giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia vào chương trình dạy học trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác phù hợp với ngành học, cấp học.

    Điều 11. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia

    Điều 12. Chính sách xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia

    1. Mọi hành vi xâm phạm an ninh quốc gia đều phải bị xử lý nghiêm minh, kịp thời theo đúng quy định của pháp luật. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối thì bị nghiêm trị.

    2. Người bị ép buộc, lừa gạt, lôi kéo nhận làm việc cho tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia mà tự thú, thành khẩn khai báo thì được khoan hồng; nếu lập công thì được khen thưởng.

    3. Người nước ngoài có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xử lý theo pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định.

    Điều 13. Các hành vi bị nghiêm cấm

    1. Tổ chức, hoạt động, câu kết, xúi giục, khống chế, kích động, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo người khác nhằm chống chính quyền nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, chia cắt đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    2. Nhận nhiệm vụ của tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tham gia, giúp sức, cung cấp tài chính, vũ khí, phương tiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

    3. Thu thập, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng, tiết lộ, cung cấp, tán phát trái phép tin tức, tài liệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước.

    4. Xâm phạm mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

    5. Chống lại hoặc cản trở cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    6. Lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

    Điều 14. Nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Bảo vệ chế độ chính trị và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

    2. Bảo vệ an ninh về tư tưởng và văn hoá, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

    3. Bảo vệ an ninh trong các lĩnh vực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia.

    4. Bảo vệ bí mật nhà nước và các mục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

    5. Phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia.

    1. Các biện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm vận động quần chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang.

    2. Nội dung, điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục và trách nhiệm áp dụng các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này do pháp luật quy định.

    Điều 16. Xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân

    1. Vận động toàn dân tham gia phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; giáo dục, động viên cán bộ, công chức, người lao động và mọi công dân tham gia xây dựng địa phương, cơ quan, tổ chức vững mạnh; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

    2. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia gắn với xây dựng, củng cố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và kết hợp chặt chẽ với xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

    3. Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bảo vệ an ninh quốc gia.

    4. Xây dựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia vững mạnh; xây dựng các phương án và tổ chức, bố trí lực lượng, phương tiện cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống.

    Điều 17. Quyền và nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Tham gia lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    2. Tố cáo hành vi xâm phạm an ninh quốc gia, hành vi lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    3. Phát hiện, kiến nghị với chính quyền hoặc cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia khắc phục sơ hở, thiếu sót trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

    5. Thực hiện yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    6. Giúp đỡ, tạo điều kiện cho cơ quan và người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

    Điều 18. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật này và các quy định khác của pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, huy động sức mạnh của cơ quan, tổ chức để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; đưa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia vào chương trình, kế hoạch và các hoạt động chuyên môn của cơ quan, tổ chức.

    3. Giáo dục, động viên mọi thành viên của cơ quan, tổ chức mình và nhân dân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

    5. Thực hiện yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Điều 19. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong bảo vệ an ninh quốc gia

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, động viên nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia của tổ chức, cá nhân.

    Điều 20. Bảo vệ an ninh quốc gia khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh

    Khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh, việc bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh.

    Hội đồng quốc phòng và an ninh có trách nhiệm động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổ quốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao.

    Điều 21. Áp dụng một số biện pháp cần thiết khi có nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp

    1. Khi có nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp, Thủ tướng Chính phủ được quyết định áp dụng một số biện pháp sau đây:

    a) Tăng cường bảo vệ các mục tiêu quan trọng;

    b) Tổ chức các trạm canh gác để hạn chế hoặc kiểm soát người, phương tiện hoạt động vào những giờ nhất định, tại những khu vực nhất định;

    c) Thực hiện kiểm soát đặc biệt tại các cửa khẩu, các chuyến vận chuyển bằng đường hàng không, đường biển, đường thuỷ nội địa, đường sắt và đường bộ;

    d) Hạn chế hoặc tạm ngừng việc vận chuyển, sử dụng chất cháy, chất nổ, chất độc, hoá chất độc hại, chất phóng xạ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm soát chặt chẽ việc vận chuyển, sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ;

    đ) Cấm, giải tán hoặc hạn chế các cuộc tụ tập đông người và những hoạt động của cá nhân, tổ chức xét thấy có hại cho an ninh quốc gia;

    e) Hạn chế hoặc tạm ngừng hoạt động của nhà hát, rạp chiếu phim và nơi sinh hoạt công cộng khác;

    g) Kiểm soát việc sử dụng các phương tiện thông tin liên lạc tại một địa phương hay khu vực nhất định;

    h) Buộc người có hành vi gây nguy hại cho an ninh quốc gia rời khỏi các khu vực quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc không được rời khỏi nơi cư trú;

    i) Huy động nhân lực, vật lực để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải chấp hành các mệnh lệnh, quyết định của cơ quan và người thi hành các biện pháp quy định tại khoản 1 Điều này.

    3. Chương III

    CƠ QUAN CHUYÊN TRÁCH BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

    Điều 22. Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Các cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia bao gồm:

    a) Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và các đơn vị an ninh, tình báo, cảnh vệ Công an nhân dân;

    b) Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và các đơn vị bảo vệ an ninh quân đội, tình báo Quân đội nhân dân;

    c) Bộ đội biên phòng, cảnh sát biển là cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia ở khu vực biên giới trên đất liền và khu vực biên giới trên biển.

    2. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể, phạm vi trách nhiệm hoạt động và quan hệ phối hợp của các cơ quan quy định tại khoản 1 Điều này do pháp luật quy định.

    Điều 23. Nhiệm vụ của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật này.

    2. Các nhiệm vụ cụ thể của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia:

    a) Tổ chức thu thập thông tin, phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất các chủ trương, giải pháp, phương án bảo vệ an ninh quốc gia;

    b) Hướng dẫn, kiểm tra cơ quan, tổ chức và công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ bí mật nhà nước, xây dựng cơ quan, đơn vị an toàn, xây dựng phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc;

    c) Tổ chức, chỉ đạo công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;

    d) Nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ vào công tác bảo vệ an ninh quốc gia;

    đ) Thực hiện hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập trong phòng, chống hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

    1. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được quyền:

    a) Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật;

    d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức bưu chính, viễn thông, hải quan bóc mở hoặc giao thư tín, điện tín, bưu phẩm, bưu kiện, hàng hoá để kiểm tra khi có căn cứ xác định trong đó có thông tin, tài liệu, chất nổ, vũ khí, vật phẩm khác có nguy hại cho an ninh quốc gia;

    e) Trưng dụng theo quy định của pháp luật phương tiện thông tin, phương tiện giao thông, phương tiện khác và người đang sử dụng, điều khiển phương tiện đó trong trường hợp cấp bách để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia hoặc để ngăn chặn hậu quả thiệt hại cho xã hội đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra;

    g) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉ việc sử dụng phương tiện thông tin liên lạc hoặc các hoạt động khác trên lãnh thổ Việt Nam khi có căn cứ xác định các hoạt động này gây nguy hại cho an ninh quốc gia; yêu cầu ngừng các chuyến vận chuyển bằng các loại phương tiện giao thông của Việt Nam hoặc các phương tiện giao thông của nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam để bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm an toàn cho các phương tiện đó;

    h) Áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hại trong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia.

    2. Thủ trưởng cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia quyết định việc sử dụng các quyền hạn quy định tại khoản 1 Điều này theo thủ tục, thẩm quyền do Chính phủ quy định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.

    3. Cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm:

    a) Tiến hành các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của pháp luật;

    b) Tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân; trong trường hợp vì yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia phải hạn chế các quyền và lợi ích đó thì phải được người có thẩm quyền quyết định;

    c) Giữ bí mật về sự giúp đỡ của cơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia.

    Điều 25. Quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia trong khi thực hiện nhiệm vụ được quyền:

    a) Thực hiện các quyền quy định tại khoản 1 Điều 24 của Luật này theo quyết định của người có thẩm quyền của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia;

    b) Giữ bí mật về nhân thân, lai lịch, nhiệm vụ và phương tiện thực hiện nhiệm vụ;

    c) Miễn thủ tục hải quan đối với tài liệu, phương tiện nghiệp vụ mang theo khi nhập cảnh, xuất cảnh qua biên giới, cửa khẩu;

    d) Xuất trình giấy chứng minh an ninh trong trường hợp cần thiết để yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân giúp đỡ.

    2. Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này.

    3. Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, các quy tắc nghiệp vụ chuyên môn, kỷ luật của lực lượng vũ trang nhân dân và chịu trách nhiệm trước pháp luật về những việc làm của mình.

    Điều 26. Trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ của cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    Cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Điều 27. Chế độ quản lý thông tin, tài liệu, đồ vật về bảo vệ an ninh quốc gia

    2. Thông tin, tài liệu, đồ vật quy định tại khoản 1 Điều này có giá trị lịch sử, khoa học và công nghệ đã được công bố theo quy định của pháp luật thì có thể được chuyển giao cho cơ quan lưu trữ nhà nước quản lý.

    Điều 28. Chế độ, chính sách đối với cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    Cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo, được phong, thăng hàm, cấp lực lượng vũ trang nhân dân và hưởng chế độ, chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.

    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINH QUỐC GIA

    Điều 29. Nội dung quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, kế hoạch, phương án bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm điều kiện cần thiết cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

    3. Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia.

    4. Tổ chức bộ máy, trang bị phương tiện, đào tạo cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh quốc gia; bồi dưỡng kiến thức bảo vệ an ninh quốc gia cho cán bộ chủ chốt của các cơ quan, tổ chức; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về bảo vệ an ninh quốc gia; xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

    5. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.

    6. Hợp tác quốc tế về bảo vệ an ninh quốc gia.

    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Bộ Công an chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, các bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.

    Điều 31. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    Bộ Quốc phòng trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm trước Chính phủ phối hợp với Bộ Công an thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia; chỉ đạo các lực lượng thuộc quyền phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an nhân dân và chính quyền địa phương để bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Quốc phòng trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quy định.

    Điều 32. Trách nhiệm của Bộ Ngoại giao trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    Quy chế phối hợp giữa Bộ Công an với Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủ tướng Chính phủ quy định.

    Điều 33. Trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    Điều 34. Trách nhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 35. Hiệu lực thi hành

    Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2021.

    Những quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.

    Điều 36. Hướng dẫn thi hành

    Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 20…

    CHỦ TỊCH QUỐC HỘI

    Nguyễn Thị Kim Ngân

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hiệu Quả Sau 1 Năm Thực Hiện Luật An Ninh Mạng
  • Trung Quốc Chuẩn Bị Ra Mắt Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong
  • Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Dành Cho Hồng Kông
  • Bài Tập Luật Hình Sự
  • Tuyên Truyền, Phổ Biến Luật An Ninh Mạng
  • Trung Quốc Chuẩn Bị Ra Mắt Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong

    --- Bài mới hơn ---

  • Hiệu Quả Sau 1 Năm Thực Hiện Luật An Ninh Mạng
  • Cập Nhật Luật An Ninh Quốc Gia Bổ Sung Sửa Đổi Cụ Thể Nhất
  • Biện Pháp Và Mục Đích Của Việc Đảm Bảo An Ninh Quốc Gia Là Gì?
  • Ý Nghĩa Của Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Việc Bảo Vệ “một Nước, Hai Chế Độ” Ở Hong Kong
  • Luật Trẻ Em Có Bao Nhiêu Chương Và Luật Quy Định Trẻ Em Có Bao Nhiêu Quyền?
  • Kỳ họp thứ 3, khóa 13 của Đại hội Nhân dân toàn quốc Trung Quốc (NPC) sẽ tranh luận mở về vấn đề trên khi khai mạc vào ngày 22-5. Luật cơ bản, bộ luật được xem như hiến pháp thu nhỏ của Hong Kong, yêu cầu chính quyền thành phố phải đưa ra đạo luật an ninh, nhưng việc này vẫn chưa thể thực hiện được do vấp phải phản đối.

    Theo BBC, vấn đề trên đã được đề cập trong chương trình nghị sự của cuộc họp sắp tới với tiêu đề Thiết lập, cải thiện hệ thống pháp luật và cơ chế thực thi của Hong Kong. Kỳ họp sắp tới từng bị dời lại vì dịch bệnh từ virus corona chủng mới (COVID-19) bùng phát.

    Người phát ngôn của NPC, ông Trương Nghiệp Toại, ngày 21-5 cho biết Trung Quốc đang lên kế hoạch cải thiện chính sách “một quốc gia, hai chế độ” tại Hong Kong.

    “An ninh quốc gia là nền tảng cho sự ổn định của đất nước. Bảo vệ an ninh quốc gia phục vụ lợi ích cơ bản của tất cả người Trung Quốc, bao gồm cả đồng bào Hong Kong của chúng tôi”, ông Trương tuyên bố.

    Theo BBC, Bắc Kinh vốn luôn sở hữu quyền ban hành Luật an ninh quốc gia theo Luật cơ bản, nhưng tới nay vẫn kiềm chế sử dụng.

    Tuy nhiên, trong bối cảnh Hong Kong chuẩn bị kỳ bầu cử cho cơ quan lập pháp vào tháng 9, các dự luật mới có nguy cơ bị chặn lại nếu phía đối lập chiến thắng một lần nữa.

    Một nguồn tin từ đại lục nói với South China Morning Post rằng Bắc Kinh đã quyết định Hong Kong không được quyền thông qua luật an ninh riêng và trách nhiệm này thuộc về Quốc hội Trung Quốc.

    Cơ quan ngoại giao Trung Quốc tố ngoại trưởng Mỹ ‘đe dọa’ Hong Kong

    TTO – Cơ quan ngoại giao của Trung Quốc ở Hong Kong ngày 21-5 cáo buộc Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo đe dọa thành phố này, sau khi ông tuyên bố khó khăn khi xác định Hong Kong còn tính tự trị cao hay không.

    Tác giả: NGUYÊN HẠNH

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Dành Cho Hồng Kông
  • Bài Tập Luật Hình Sự
  • Tuyên Truyền, Phổ Biến Luật An Ninh Mạng
  • Bộ Công An Tổ Chức Hội Nghị Phổ Biến, Quán Triệt Luật An Ninh Mạng
  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Kiến Thức Quốc Phòng An Ninh Đối Tượng 4 Năm 2021
  • Luật An Ninh Quốc Gia Năm 2004 Số 32/2004/qh11

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật Quốc Phòng Năm 2021, Luật Số 22/2018/qh14 2021
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Quốc Phòng Năm 2021
  • Bài Thu Hoạch Bồi Dưỡng Kiến Thức Quốc Phòng An Ninh Đối Tượng 4 Năm 2021
  • Bộ Công An Tổ Chức Hội Nghị Phổ Biến, Quán Triệt Luật An Ninh Mạng
  • Tuyên Truyền, Phổ Biến Luật An Ninh Mạng
  • LUẬT

    CỦAQUỐC HỘI NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM SỐ 32/2004/QH11 NGÀY 03 THÁNG12 NĂM 2004 VỀ AN NINH QUỐC GIA

    Căn cứ vào Hiến pháp nướcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghịquyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ10;

    Luật này quy định về an ninh quốc gia.

    Chương 1:

    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Phạmvi điều chỉnh

    Luật này quy định về chính sáchan ninh quốc gia; nguyên tắc, nhiệm vụ, biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia;quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, công dân trong bảo vệ anninh quốc gia.

    Điều 2. Đốitượng áp dụng

    Luật này áp dụng đối với cơquan, tổ chức, công dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân, tổchức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoàxã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hộichủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập quy định khác thì áp dụng theo điều ướcquốc tế đó.

    Điều 3. Giảithích từ ngữ

    Trong Luật này, các từ ngữ dướiđây được hiểu như sau:

    1. An ninh quốc gia là sự ổnđịnh, phát triển bền vững của chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

    2. Bảo vệ an ninh quốc gia làphòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại các hoạt động xâm phạman ninh quốc gia.

    3. Hoạt động xâm phạm an ninhquốc gia là những hành vi xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền vănhoá, an ninh, quốc phòng, đối ngoại, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹnlãnh thổ của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    4. Nguy cơ đe doạ an ninh quốcgia là những nhân tố bên trong, bên ngoài lãnh thổ Việt Nam có khả năng thực tếgây nguy hại cho an ninh quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    5. Cơ quan chuyên trách bảo vệan ninh quốc gia là cơ quan chỉ đạo, chỉ huy và đơn vị nghiệp vụ thuộc lựclượng vũ trang nhân dân được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức,trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    6. Cán bộ chuyên trách bảo vệ anninh quốc gia là sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninhquốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thựchiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    7. Biện pháp nghiệp vụ là biệnpháp công tác của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiệntheo quy định của pháp luật.

    9. Nền an ninh nhân dân là sứcmạnh về tinh thần, vật chất, sự đoàn kết và truyền thống dựng nước, giữ nướccủa toàn dân tộc được huy động vào sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia, trong đólực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia làm nòng cốt.

    10. Thế trận an ninh nhân dân làviệc tổ chức, bố trí lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia và các nguồn lực cầnthiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia.

    Điều 4. Chínhsách an ninh quốc gia

    1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam thực hiện chính sách hòa bình, hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợptác với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹnlãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng vàcùng có lợi.

    2. Nhà nước có chính sách xâydựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoahọc, công nghệ, an ninh, quốc phòng, đối ngoại vững mạnh, giữ vững ổn địnhchính trị để bảo đảm an ninh quốc gia.

    Điều 5. Nguyêntắc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Tuân thủ Hiến pháp, pháp luật,bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    2. Đặt dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản Việt Nam, sự quản lý thống nhất của Nhà nước; huy động sức mạnh tổnghợp của hệ thống chính trị và toàn dân tộc, lực lượng chuyên trách bảo vệ anninh quốc gia làm nòng cốt.

    3. Kết hợp chặt chẽ giữa nhiệmvụ bảo vệ an ninh quốc gia với nhiệm vụ xây dựng, phát triển kinh tế, văn hoá,xã hội; phối hợp có hiệu quả hoạt động an ninh, quốc phòng và đối ngoại.

    4. Chủ động phòng ngừa, chủ độngđấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

    Điều 6. Xâydựng lực lượng bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Nhà nước xây dựng lực lượngchuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bướchiện đại làm nòng cốt thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Cơ quan, tổ chức trong phạmvi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm xây dựng lực lượng công an xã,dân quân tự vệ, bảo vệ cơ quan, doanh nghiệp, bảo vệ dân phố, dân phòng thamgia hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Điều 7. Bảođảm điều kiện cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia

    Nhà nước bảo đảm ngân sách và cơsở vật chất cho các hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống, ưutiên các địa bàn chiến lược, xung yếu, quan trọng về an ninh quốc gia; có chínhsách huy động thành tựu khoa học và công nghệ phục vụ hoạt động bảo vệ an ninhquốc gia.

    Điều 8. Tráchnhiệm, nghĩa vụ bảo vệ an ninh quốc gia

    Bảo vệ an ninh quốc gia là sựnghiệp của toàn dân. Cơ quan, tổ chức, công dân có trách nhiệm, nghĩa vụ bảo vệan ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Điều 9. Chếđộ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động bảo vệ an ninhquốc gia

    1. Nhà nước bảo vệ, giữ bí mậtcho cán bộ, chiến sĩ thuộc lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia và cơquan, tổ chức, cá nhân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhântrong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia có thành tích thì được khen thưởng, bịtổn hại về danh dự thì được khôi phục, bị thiệt hại về tài sản thì được đền bù;người bị thương tích, tổn hại về sức khỏe, bị thiệt hại về tính mạng thì bảnthân và gia đình được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật.

    Điều 10. Tuyêntruyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Chính phủ, các bộ, cơ quanngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tổchức, chỉ đạo công tác tuyên truyền, giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Cơ quan thông tin, tuyêntruyền có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật và nâng cao ýthức bảo vệ an ninh quốc gia cho toàn dân.

    3. Cơ quan, tổ chức trong phạmvi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, giáo dục, vận độngcông dân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bảo vệ an ninh quốc gia.

    4. Giáo dục bảo vệ an ninh quốcgia là một nội dung giáo dục quốc dân. Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục vàđào tạo có trách nhiệm đưa nội dung giáo dục bảo vệ an ninh quốc gia vào chươngtrình dạy học trong nhà trường và các cơ sở giáo dục khác phù hợp với ngànhhọc, cấp học.

    Điều 11. Hợptác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ an ninh quốc gia

    Điều 12. Chínhsách xử lý các hành vi xâm phạm an ninh quốc gia

    1. Mọi hành vi xâm phạm an ninhquốc gia đều phải bị xử lý nghiêm minh, kịp thời theo đúng quy định của phápluật. Người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối thì bị nghiêm trị.

    2. Người bị ép buộc, lừa gạt,lôi kéo nhận làm việc cho tổ chức, cá nhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốcgia mà tự thú, thành khẩn khai báo thì được khoan hồng; nếu lập công thì đượckhen thưởng.

    3. Người nước ngoài có hành vixâm phạm an ninh quốc gia của Việt Nam ở ngoài lãnh thổ Việt Nam có thể bị xửlý theo pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợpđiều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập cóquy định.

    Điều 13.Các hành vi bị nghiêm cấm

    1. Tổ chức, hoạt động, câu kết,xúi giục, khống chế, kích động, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo người khác nhằmchống chính quyền nhân dân, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam,chia cắt đất nước, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

    2. Nhận nhiệm vụ của tổ chức, cánhân để hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tham gia, giúp sức, cung cấptài chính, vũ khí, phương tiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động xâm phạm anninh quốc gia.

    3. Thu thập, tàng trữ, vậnchuyển, mua bán, sử dụng, tiết lộ, cung cấp, tán phát trái phép tin tức, tàiliệu, vật phẩm thuộc bí mật nhà nước.

    4. Xâm phạm mục tiêu quan trọngvề an ninh quốc gia.

    5. Chống lại hoặc cản trở cơquan, tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    6. Lợi dụng việc thực hiện nhiệmvụ bảo vệ an ninh quốc gia để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    7. Hành vi khác xâm phạm an ninhquốc gia được quy định tại Bộ luật hình sự và các văn bản pháp luật có liênquan.

    Chương 2:

    BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

    Điều 14. Nhiệmvụ bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Bảo vệ chế độ chính trị vàNhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thốngnhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

    2. Bảo vệ an ninh về tư tưởng vàvăn hoá, khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,tổ chức, cá nhân.

    3. Bảo vệ an ninh trong các lĩnhvực kinh tế, quốc phòng, đối ngoại và các lợi ích khác của quốc gia.

    4. Bảo vệ bí mật nhà nước và cácmục tiêu quan trọng về an ninh quốc gia.

    5. Phòng ngừa, phát hiện, ngănchặn, đấu tranh làm thất bại và loại trừ các hoạt động xâm phạm an ninh quốcgia, nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia.

    Điều 15. Cácbiện pháp cơ bản bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Các biện pháp cơ bản bảo vệan ninh quốc gia bao gồm vận động quần chúng, pháp luật, ngoại giao, kinh tế,khoa học – kỹ thuật, nghiệp vụ, vũ trang.

    2. Nội dung, điều kiện, thẩmquyền, trình tự, thủ tục và trách nhiệm áp dụng các biện pháp quy định tạikhoản 1 Điều này do pháp luật quy định.

    Điều 16. Xâydựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân

    1. Vận động toàn dân tham giaphong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc; giáo dục, động viên cán bộ, công chức, ngườilao động và mọi công dân tham gia xây dựng địa phương, cơ quan, tổ chức vữngmạnh; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao đời sống vật chất vàtinh thần của nhân dân.

    2. Xây dựng và tổ chức thực hiệnchiến lược, chính sách, kế hoạch bảo vệ an ninh quốc gia gắn với xây dựng, củngcố hệ thống chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, đối ngoại và kếthợp chặt chẽ với xây dựng nền quốc phòng toàn dân.

    3. Tăng cường pháp chế xã hộichủ nghĩa, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia;xác định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan, tổchức, cá nhân trong bảo vệ an ninh quốc gia.

    4. Xây dựng lực lượng bảo vệ anninh quốc gia vững mạnh; xây dựng các phương án và tổ chức, bố trí lực lượng,phương tiện cần thiết để chủ động bảo vệ an ninh quốc gia trong mọi tình huống.

    Điều 17. Quyềnvà nghĩa vụ của công dân trong bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Tham gia lực lượng bảo vệ anninh quốc gia và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định củapháp luật.

    2. Tố cáo hành vi xâm phạm anninh quốc gia, hành vi lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc giaxâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    3. Phát hiện, kiến nghị vớichính quyền hoặc cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia khắc phục sơ hở,thiếu sót trong việc thực hiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

    5. Thực hiện yêu cầu của cơ quanchuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    6. Giúp đỡ, tạo điều kiện cho cơquan và người có trách nhiệm tiến hành các biện pháp phòng ngừa, phát hiện,ngăn chặn, đấu tranh với hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.

    Điều 18. Tráchnhiệm của cơ quan, tổ chức trong bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Cơ quan, tổ chức trong phạmvi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụquy định tại Điều 14 của Luật này và các quy định khác của pháp luật về bảo vệan ninh quốc gia.

    2. Thực hiện các biện pháp bảovệ an ninh chính trị nội bộ, huy động sức mạnh của cơ quan, tổ chức để thựchiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia; đưa nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia vàochương trình, kế hoạch và các hoạt động chuyên môn của cơ quan, tổ chức.

    3. Giáo dục, động viên mọi thànhviên của cơ quan, tổ chức mình và nhân dân tham gia bảo vệ an ninh quốc gia.

    5. Thực hiện yêu cầu của cơ quanchuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Điều 19. Tráchnhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trongbảo vệ an ninh quốc gia

    Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cáctổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệmtuyên truyền, động viên nhân dân xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc,nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia; giám sát việc thựchiện pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia của tổ chức, cá nhân.

    Điều 20. Bảovệ an ninh quốc gia khi có tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh

    Khi có tình trạng khẩn cấp, tìnhtrạng chiến tranh, việc bảo vệ an ninh quốc gia được thực hiện theo quy địnhcủa pháp luật về tình trạng khẩn cấp, tình trạng chiến tranh.

    Hội đồng quốc phòng và an ninhcó trách nhiệm động viên mọi lực lượng và khả năng của đất nước để bảo vệ Tổquốc; thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt do Quốc hội giao.

    Điều 21. Ápdụng một số biện pháp cần thiết khi có nguy cơ đe doạ an ninh quốc gia nhưngchưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp

    1. Khi có nguy cơ đe doạ an ninhquốc gia nhưng chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp, Thủ tướng Chính phủđược quyết định áp dụng một số biện pháp sau đây:

    a) Tăng cường bảo vệ các mụctiêu quan trọng;

    b) Tổ chức các trạm canh gác đểhạn chế hoặc kiểm soát người, phương tiện hoạt động vào những giờ nhất định,tại những khu vực nhất định;

    c) Thực hiện kiểm soát đặc biệttại các cửa khẩu, các chuyến vận chuyển bằng đường hàng không, đường biển,đường thuỷ nội địa, đường sắt và đường bộ;

    d) Hạn chế hoặc tạm ngừng việcvận chuyển, sử dụng chất cháy, chất nổ, chất độc, hoá chất độc hại, chất phóngxạ thuộc quyền sử dụng hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; kiểm soát chặtchẽ việc vận chuyển, sử dụng các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ;

    đ) Cấm, giải tán hoặc hạn chếcác cuộc tụ tập đông người và những hoạt động của cá nhân, tổ chức xét thấy cóhại cho an ninh quốc gia;

    e) Hạn chế hoặc tạm ngừng hoạtđộng của nhà hát, rạp chiếu phim và nơi sinh hoạt công cộng khác;

    g) Kiểm soát việc sử dụng cácphương tiện thông tin liên lạc tại một địa phương hay khu vực nhất định;

    h) Buộc người có hành vi gâynguy hại cho an ninh quốc gia rời khỏi các khu vực quan trọng về chính trị,kinh tế, an ninh, quốc phòng hoặc không được rời khỏi nơi cư trú;

    i) Huy động nhân lực, vật lực đểthực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Cơ quan, tổ chức, cá nhânphải chấp hành các mệnh lệnh, quyết định của cơ quan và người thi hành các biệnpháp quy định tại khoản 1 Điều này.

    Chương 3:

    CƠ QUAN CHUYÊN TRÁCH BẢOVỆ AN NINH QUỐC GIA

    Điều 22. Cáccơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Các cơ quan chuyên trách bảovệ an ninh quốc gia bao gồm:

    a) Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy vàcác đơn vị an ninh, tình báo, cảnh vệ Công an nhân dân;

    b) Cơ quan chỉ đạo, chỉ huy vàcác đơn vị bảo vệ an ninh quân đội, tình báo Quân đội nhân dân;

    c) Bộ đội biên phòng, cảnh sátbiển là cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia ở khu vực biên giới trênđất liền và khu vực biên giới trên biển.

    2. Tổ chức bộ máy, nhiệm vụ,quyền hạn cụ thể, phạm vi trách nhiệm hoạt động và quan hệ phối hợp của các cơquan quy định tại khoản 1 Điều này do pháp luật quy định.

    Điều 23. Nhiệmvụ của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Cơ quan chuyên trách bảo vệan ninh quốc gia thực hiện nhiệm vụ quy định tại Điều 14 của Luật này.

    2. Các nhiệm vụ cụ thể của cơquan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia:

    a) Tổ chức thu thập thông tin,phân tích, đánh giá, dự báo tình hình và đề xuất các chủ trương, giải pháp,phương án bảo vệ an ninh quốc gia;

    b) Hướng dẫn, kiểm tra cơ quan,tổ chức và công dân thực hiện quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm bảo vệ an ninh quốcgia, bảo vệ bí mật nhà nước, xây dựng cơ quan, đơn vị an toàn, xây dựng phongtrào bảo vệ an ninh Tổ quốc;

    c) Tổ chức, chỉ đạo công tácphòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninhquốc gia;

    d) Nghiên cứu, ứng dụng khoa họcvà công nghệ vào công tác bảo vệ an ninh quốc gia;

    đ) Thực hiện hợp tác với cácnước, các tổ chức quốc tế theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩaViệt Nam ký kết hoặc gia nhập trong phòng, chống hoạt động xâm phạm an ninhquốc gia.

    Điều 24. Quyềnhạn, trách nhiệm của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Cơ quan chuyên trách bảo vệan ninh quốc gia được quyền:

    a) Sử dụng các biện pháp nghiệpvụ theo quy định của pháp luật;

    c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức tàichính, kho bạc, ngân hàng kiểm tra, phong toả tài khoản, nguồn tài chính liênquan đến hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia;

    d) Yêu cầu cơ quan, tổ chức bưuchính, viễn thông, hải quan bóc mở hoặc giao thư tín, điện tín, bưu phẩm, bưukiện, hàng hoá để kiểm tra khi có căn cứ xác định trong đó có thông tin, tàiliệu, chất nổ, vũ khí, vật phẩm khác có nguy hại cho an ninh quốc gia;

    e) Trưng dụng theo quy định củapháp luật phương tiện thông tin, phương tiện giao thông, phương tiện khác vàngười đang sử dụng, điều khiển phương tiện đó trong trường hợp cấp bách để thựchiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia hoặc để ngăn chặn hậu quả thiệt hại choxã hội đang xảy ra hoặc có nguy cơ xảy ra;

    g) Tạm đình chỉ hoặc đình chỉviệc sử dụng phương tiện thông tin liên lạc hoặc các hoạt động khác trên lãnhthổ Việt Nam khi có căn cứ xác định các hoạt động này gây nguy hại cho an ninhquốc gia; yêu cầu ngừng các chuyến vận chuyển bằng các loại phương tiện giaothông của Việt Nam hoặc các phương tiện giao thông của nước ngoài trên lãnh thổViệt Nam để bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảm an toàn cho các phương tiện đó;

    h) Áp dụng các biện pháp cầnthiết để bảo vệ người cộng tác, người tố giác, người làm chứng, người bị hạitrong các vụ án xâm phạm an ninh quốc gia.

    2. Thủ trưởng cơ quan chuyêntrách bảo vệ an ninh quốc gia quyết định việc sử dụng các quyền hạn quy địnhtại khoản 1 Điều này theo thủ tục, thẩm quyền do Chính phủ quy định và chịutrách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.

    3. Cơ quan chuyên trách bảo vệan ninh quốc gia có trách nhiệm:

    a) Tiến hành các hoạt động bảovệ an ninh quốc gia trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theoquy định của pháp luật;

    b) Tuân thủ các quy định củapháp luật về bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổchức, cá nhân; trong trường hợp vì yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia phải hạn chếcác quyền và lợi ích đó thì phải được người có thẩm quyền quyết định;

    c) Giữ bí mật về sự giúp đỡ củacơ quan, tổ chức, cá nhân đối với công tác bảo vệ an ninh quốc gia.

    Điều 25. Quyềnhạn, trách nhiệm của cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    1. Cán bộ chuyên trách bảo vệ anninh quốc gia trong khi thực hiện nhiệm vụ được quyền:

    a) Thực hiện các quyền quy địnhtại khoản 1 Điều 24 của Luật này theo quyết định của người có thẩm quyền của cơquan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia;

    b) Giữ bí mật về nhân thân, lailịch, nhiệm vụ và phương tiện thực hiện nhiệm vụ;

    c) Miễn thủ tục hải quan đối vớitài liệu, phương tiện nghiệp vụ mang theo khi nhập cảnh, xuất cảnh qua biêngiới, cửa khẩu;

    d) Xuất trình giấy chứng minh anninh trong trường hợp cần thiết để yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân giúp đỡ.

    2. Chính phủ quy định cụ thểtrình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này.

    3. Cán bộ chuyên trách bảo vệ anninh quốc gia có trách nhiệm chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, cácquy tắc nghiệp vụ chuyên môn, kỷ luật của lực lượng vũ trang nhân dân và chịutrách nhiệm trước pháp luật về những việc làm của mình.

    Điều 26. Trang bị và sử dụng vũkhí, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ của cán bộ, chiến sĩ cơquan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    Cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyêntrách bảo vệ an ninh quốc gia được trang bị và sử dụng vũ khí, phương tiện kỹthuật nghiệp vụ, công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc giatheo quy định của pháp luật.

    Điều 27. Chế độ quản lý thôngtin, tài liệu, đồ vật về bảo vệ an ninh quốc gia

    2. Thông tin, tài liệu, đồ vậtquy định tại khoản 1 Điều này có giá trị lịch sử, khoa học và công nghệ đã đượccông bố theo quy định của pháp luật thì có thể được chuyển giao cho cơ quan lưutrữ nhà nước quản lý.

    Điều 28. Chế độ, chính sách đốivới cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia

    Cán bộ, chiến sĩ cơ quan chuyêntrách bảo vệ an ninh quốc gia được tuyển chọn, bồi dưỡng, đào tạo, được phong,thăng hàm, cấp lực lượng vũ trang nhân dân và hưởng chế độ, chính sách ưu đãitheo quy định của pháp luật.

    Chương 4:

    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ AN NINHQUỐC GIA

    Điều 29. Nộidung quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    1. Xây dựng và tổ chức thực hiệnchiến lược, chính sách, kế hoạch, phương án bảo vệ an ninh quốc gia và bảo đảmđiều kiện cần thiết cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia; ban hành và tổ chứcthực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia.

    3. Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiệncác biện pháp bảo vệ an ninh quốc gia.

    4. Tổ chức bộ máy, trang bịphương tiện, đào tạo cán bộ làm công tác bảo vệ an ninh quốc gia; bồi dưỡngkiến thức bảo vệ an ninh quốc gia cho cán bộ chủ chốt của các cơ quan, tổ chức;xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục về bảo vệ an ninh quốc gia;xây dựng và thực hiện chế độ, chính sách đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thamgia bảo vệ an ninh quốc gia.

    5. Kiểm tra, thanh tra, giảiquyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia.

    6. Hợp tác quốc tế về bảo vệ anninh quốc gia.

    Điều 30. Thốngnhất quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    1. Chính phủ thống nhất quản lýnhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.

    2. Bộ Công an chịu trách nhiệmtrước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Bộ Ngoại giao, các bộ, cơquan ngang bộ thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia.

    Điều 31. Tráchnhiệm của Bộ Quốc phòng trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    Bộ Quốc phòng trong phạm vinhiệm vụ, quyền hạn của mình chịu trách nhiệm trước Chính phủ phối hợp với BộCông an thực hiện quản lý nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia; chỉ đạo các lựclượng thuộc quyền phối hợp chặt chẽ với lực lượng Công an nhân dân và chínhquyền địa phương để bảo vệ an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.

    Quy chế phối hợp giữa Bộ Công anvới Bộ Quốc phòng trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủtướng Chính phủ quy định.

    Điều 32. Tráchnhiệm của Bộ Ngoại giao trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    Quy chế phối hợp giữa Bộ Công anvới Bộ Ngoại giao trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia do Thủtướng Chính phủ quy định.

    Điều 33. Tráchnhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    Điều 34. Tráchnhiệm của Uỷ ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về an ninh quốc gia

    Chương 5:

    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 35. Hiệulực thi hành

    Luật này có hiệu lực thi hành từngày 01 tháng 7 năm 2005.

    Những quy định trước đây tráivới Luật này đều bãi bỏ.

    Điều 36. Hướngdẫn thi hành

    Chính phủ quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03tháng 12 năm 2004.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Quốc Tuyên Bố Áp Đặt Dự Luật An Ninh Mới Với Hong Kong Bằng Mọi Giá
  • Hệ Thống Quan Trọng Về An Ninh Quốc Gia Theo Quy Định Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Vì Sao Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong?
  • Trung Quốc Chính Thức Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Cho Hong Kong
  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong
  • Vì Sao Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hệ Thống Quan Trọng Về An Ninh Quốc Gia Theo Quy Định Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Trung Quốc Tuyên Bố Áp Đặt Dự Luật An Ninh Mới Với Hong Kong Bằng Mọi Giá
  • Luật An Ninh Quốc Gia Năm 2004 Số 32/2004/qh11
  • Luật Quốc Phòng Năm 2021, Luật Số 22/2018/qh14 2021
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Quốc Phòng Năm 2021
  • “Luật bảo vệ an ninh quốc gia Khu hành chính đặc biệt Hong Kong” (Gọi tắt là Luật an ninh quốc gia với Hong Kong) được thông qua chỉ một ngày trước lễ kỷ niệm 23 năm ngày Anh trao trả Hong Kong cho Trung Quốc.

    “Một quốc gia, hai chế độ”

    Hong Kong là một tập hợp các đảo và bán đảo giáp với thành phố Thâm Quyến, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc.

    Giữa thế kỷ 19, nơi đây là thuộc địa của đế quốc Anh.Năm 1898, Trung Quốc – dưới triều đại nhà Thanh đã ký hợp đồng cho Anh thuê 99 năm.Sau chiến tranh thế giới thứ II, dưới quyền kiểm soát của Anh, Hong Kong phát triển rất nhanh chóng, từ một thuộc địa nhỏ trở thành một trong bốn “Con rồng Châu Á”, một trong những trung tâm tài chính và cảng thương mại quan trọng nhất thế giới.

    Trong thời kỳ cải cách mở cửa của Trung Quốc, bắt đầu từ năm 1978, Hong Kong đã trở thành một nguồn đầu tư nước ngoài chủ yếu cho Đại lục. Thành công của Đặc khu kinh tế Thâm Quyến, tấm gương sáng trong giai đoạn đầu cải cách mở cửa cũng như nhiều khu vực khác của Trung Quốc không thể tách rời sự đóng góp của Hong Kong. Nền kinh tế của Hong Kong đã dần dần từ ngành dệt may và chế tạo được thay thế bằng dịch vụ.Khi các lĩnh vực tài chính và ngân hàng đã trở nên chiếm ưu thế, Hong Kong đóng vai trò thúc đẩy phát triển không chỉ đối với Trung Quốc mà đối với cả châu Á và toàn cầu.

    Theo hợp đồng ký kết giữa nhà Thanh với Vương quốc Anh, đến năm 1997 hết thời hạn cho thuê.Ngày 01-7-1997, Anh chính thức trao trả Hong Kong cho Trung Quốc.Trước thời điểm trao trả, giữa Trung Quốc và Anh đã mất một thời gian khá dài đàm phán về quy chế của Hong Kong sau khi trở về với Trung Quốc.Năm 1984, hai bên đạt được thỏa thuậnchung, Thủ tướng Trung Quốc Triệu Tử Dương và Thủ tướng Anh Margaret Thatcher thay mặt hai Chính phủ ký Tuyên bố chung Trung-Anh về vấn đề Hong Kong.Năm 1990, Quốc hội Trung Quốc thông qua Luật cơ bản về Khu hành chính đặc biệt Hong Kong (gọi tắt là Đặc khu hành chính Hong Kong).

    Cả hai văn kiện trên (Tuyên bố chung Trung-Anh và Luật cơ bản về Hong Kong) đều thể hiện phương châm “Một quốc gia, hai chế độ” của Trung Quốc.

    Cụ thể là trong vòng 50 năm kể từ khi trở về với Trung Quốc, Hong Kong thực hiện chế độ tự trị mức độ cao, được hưởng quyền quản lý hành chính, quyền lập pháp, quyền tư pháp độc lập và quyền phán quyết cuối cùng. Hong Kong không thực hiện chế độ và chính sách xã hội chủ nghĩa như Đại lục, giữ nguyên chế độ tư bản chủ nghĩa 50 năm không thay đổi.Tóm lại, ngoại trừ quốc phòng và ngoại giao, tất cả mọi lĩnh vực khác đều độc lập với chính quyền Trung ương.

    Tại sao lúc này Trung Quốc lại phải ban bố luật mới về Hong Kong?

    Ngày 30/6/2020, chỉ một ngày trước lễ kỷ niệm 23 năm ngày Anh trao trả Hong Kong cho Trung Quốc, Trung Quốc thông qua “Luật bảo vệ an ninh quốc gia Khu hành chính đặc biệt Hong Kong” (Gọi tắt là Luật an ninh quốc gia với Hong Kong) và có hiệu lực ngay trong ngày hôm sau. Đây là một sự kiện gây xôn xao dư luận thế giới và Đặc khu Hong Kong.

    Muốn biết nguyên nhân tại sao, cần phải nhìn lại tình hình chính trị – xã hội Hong Kong 23 năm qua.Người ta thấy rằng đó là một xứ sở không thật ổn định. Một bộ phận không nhỏ dân Hong Kong, đặc biệt là giới trẻ, cảm thấy không hài lòng với quyền tự do dân chủ mà họ được hưởng trên thực tế. Họ cho rằng chính quyền Hong Kong đã chịu sự chỉ đạo của chính quyền trung ương và không thực hiện đúng quyền tự do dân chủ mà Chính phủ Trung Quốc đã cam kết. Các cuộc biểu tình đã diễn ra.

    Gần đây nhất các cuộc biểu tình phản đối Dự luật dẫn độ của chính quyền Đặc khu kéo dài suốt nửa năm 2021.Tình trạng này diễn ra liên tục từ ngày này qua ngày khác trong thành phố đông đúc chật chội này không chỉ làm đình trệ mọi hoạt động của thành phố mà còn kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng khác.

    Một trung tâm kinh tế tài chính quan trọng của khu vực và thế giới thành một xứ sở bất ổn định;một cái cớ để đối thủ bên ngoài công kích, kìm hãm Trung Quốc. Đặc biệt ý tưởng của Trung Quốc xây dựng Hong Kong thành một hình ảnh đẹp, một tấm gương sáng cho tương lai của Đài Loan với chủ trương thống nhất Đài Loan cũng theo phương châm “một quốc gia, hai chế độ” trở nên khó khăn hơn. Nhưng, có lẽ nguy hiểm hơn tất cả là sự bất ổn này kéo dài có xu hướng dẫn đến chủ nghĩa ly khai, tức người Hong Kong đòi độc lập với Đại lục, điều mà luật pháp Trung Quốc và Luật cơ bản về Hong Kong tuyệt đối cấm kỵ.

    Đó là lý do Trung Quốc ban hành luật mới, Luật an ninh quốc gia với Hong Kong.

    Mục đích ban hành luật này là đề phòng, ngăn chặn, trừng trị 4 loại hành vị phạm tội, gồm chia rẽ đất nước, lật đổ chính quyền nhà nước, tổ chức thực hiện các hoạt động khủng bố và câu kết với các thế lực nước ngoài gây nguy hại an ninh quốc gia.

    Theo các điều khoản quy định trong Luật, chính quyền Trung ương có quyền trực tiếp xử lý tất cả các hành vi nêu trên. Theo đó, ngoài hệ thống bảo vệ an ninh quốc gia do chính quyền Đặc khu Hong Kong thiết lập, sẽ có thêm một cơ quan bảo vệ an ninh quốc gia của Trung ương đóng tại Hong Kong.

    Đó là Văn phòng Bảo vệ An ninh Quốc gia tại Hong Kong là cơ quan do chính quyền trung ương Trung Quốc biệt phái, không thuộc quyền quản lý của chính quyền đặc khu hành chính này. Văn phòng trên có nhiệm vụ đánh giá tình hình an ninh ở Hong Kong; đưa ra những đề xuất về chính sách cũng như chiến lược quan trọng trong việc duy trì an ninh; đồng thời có thẩm quyền trong các trường hợp nghiêm trọng và vượt ngoài tầm xử lý của chính quyền Hong Kong.

    Đằng sau những phản ứng trái chiều

    Chính quyền Hong Kong khẳng định luật mới đã khắc phục được những lỗ hổng trong việc bảo vệ an ninh quốc gia ở Đặc khu, thể hiện quyết tâm của chính quyền trung ương trong việc duy trì vững chắc chính sách “Một quốc gia, hai chế độ”, cũng như sự ổn định lâu dài và thịnh vượng của Hong Kong.

    Chính phủ Trung Quốc cho rằng, Hong Kong là một bộ phận không thể tách rời của Trung Quốc, công việc của Hong Kong là công việc nội bộ của Trung Quốc, các nước không có quyền can thiệp.

    Mỹ và một số nước phương Tây phản đối và đe dọa áp dụng một số biện pháp cứng rắn trừng phạt Trung Quốc. Các ý kiến cho rằng, như vậy Trung Quốc đã không tôn trọng những cam kết với người dân Hong Kong và cộng đồng quốc tế về quyền tự trị của Hong Kong 50 năm cho đến năm 2047. Các cam kết đó được ghi trong Tuyên bố chung Trung-Anh năm 1984 và đã được đăng ký với Liên hợp quốc năm 1985, văn kiện này được coi như một hiệp ước song phương quốc tế. Luật cơ bản về Đặc khu Hong Kong thông qua năm 1990 cũng có nội dung tương tự và được coi là “Hiến pháp” của Đặc khu.

    Mặc dù Luật mới quy định nhằm vào 4 tội danh cụ thể, nhưng một số nước vẫn quan ngại rằng chính quyền Trung Quốc sẽ có lý do can thiệp và kiểm soát các lĩnh vực khác của Hong Kong. Nhiều nhà tư bản Hong Kong không chấp nhận sự kiểm soát của Đại lục có thể ra đi. Tình hình đó sẽ khiến làm ảnh hưởng đến vai trò trung tâm kinh tế tài chính của châu Á và thế giới của Hong Kong. Nếu tình huống này xẩy ra chắc chắn ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều nước khác.

    Cũng cần tính đến một lý do khác khiến Mỹ có thái độ cứng rắn với Trung Quốc về vấn đề Hong Kong là nó diễn ra trong bối cảnh cuộc cạnh tranh chiến lược hai nước đang ở giai đoạn khá gay gắt, cuộc tranh cử Tổng thống ở Mỹ đang đi vào giai đoạn đầy kịch tính.

    Trước đó Mỹ đã ban hành “Luật dân chủ và nhân quyền Hong Kong”, nay lại sắp thông qua dự luật trừng phạt Trung Quốc về vấn đềHong Kong. Đồng thời Mỹ cũng bắt đầu loại bỏ quy chế đặc biệt dành cho Hong Kong, dừng xuất khẩu thiết bị quân sự và hạn chế việc tiếp cận các sản phẩm công nghệ cao đối với Hong Kong, vì lý do an ninh, không để các thiết bị quân sự và sản phẩm công nghệ cao rơi vào tay Trung Quốc.

    Ngoài Mỹ ra, một số nước phương Tây cũng đã đưa ra các biện pháp cứng rắn,chủ trương hỗ trợ người Hong Kong đến tỵ nạn v.v…Chắc chắn Trung Quốc đã tiên lượng được điều này nhưng không tìm ra sự lựa chọn khác.

    Theo luật định, còn 27 năm nữa mới có thể xóa bỏ ranh giới giữa Hong Kong với Đại lục. Nhưng nếu tất cả mọi lĩnh vực (trừ quốc phòng và ngoại giao) để cho chính quyền Đặc khu tự quản lý, liệu Hong Kong có phát triển được theo chiều hướng Trung Quốc mong muốn hay không?

    Một Hong Kong mất ổn định về kinh tế, về xã hội, và nguy hiểm hơn nữa là một Hong Kong đang quen với lối sống dân chủ phương Tây rất có thể nổi lên tư tưởng ly khai, đòi độc lập với Đại lục. Một Hong Kong như vậy sẽ là một gánh nặng đối với Đảng Cộng sản Trung Quốc và ranh giới giữa Đặc khu với cả nước đến bao giờ mới xóa được? Trung Quốc biết rằng, cái giá phải trả hôm nay dù thế nào cũng sẽ thấp hơn lợi ích thu được từ việc kiểm soát vững chắc Đặc khu này. Nói cách khác, giữa hai kịch bản xấu, người ta phải lựa chọn kịch bản đỡ xấu hơn.

    Nhà Ngoại giao Nguyễn Vinh Quang -Nguyên Vụ trưởng Vụ Trung Quốc – Đông Bắc Á, Ban Đối ngoại Trung ương; Nguyên Công sứ Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc. Ông có nhiều năm nghiên cứu về các vấn đề của Trung Quốc. Hiện nay là Cố vấn cao cấp Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và Phát triển quan hệ quốc tế (CSSD). * Mời quý độc giả theo dõi các chương trình đã phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trên TV Online!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Trung Quốc Chính Thức Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Cho Hong Kong
  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong
  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Dự Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong
  • Châu Âu Phản Đối Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong
  • Đằng Sau Luật An Ninh Quốc Gia Mới Của Trung Quốc
  • Trung Quốc Chính Thức Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Cho Hong Kong

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong?
  • Hệ Thống Quan Trọng Về An Ninh Quốc Gia Theo Quy Định Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Trung Quốc Tuyên Bố Áp Đặt Dự Luật An Ninh Mới Với Hong Kong Bằng Mọi Giá
  • Luật An Ninh Quốc Gia Năm 2004 Số 32/2004/qh11
  • Luật Quốc Phòng Năm 2021, Luật Số 22/2018/qh14 2021
  • Đại biểu Hong Kong tại hai cơ quan lập pháp hàng đầu Trung Quốc sẽ họp tại Văn phòng liên lạc Bắc Kinh tại Hong Kong trong chiều cùng ngày.

    Luật an ninh quốc gia của Trung Quốc cho Hong Kong sẽ chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7.

    Ủy ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc bắt đầu phiên họp đặc biệt vào ngày 28/6. Phiên họp kéo dài 3 ngày và việc bỏ phiếu thông qua được tiến hành vào ngày cuối cùng.

    Tân Hoa xã sẽ đăng tải chi tiết về bộ luật vừa được phê duyệt trong chiều 30/6. Đây là lần đầu tiên dư luận Trung Quốc đại lục lẫn Hong Kong được thông tin đầy đủ về luật an ninh mới.

    Luật an ninh quốc gia của Trung Quốc cho Hong Kong nghiêm cấm các hành động ly khai, lật đổ, khủng bố và thông đồng với lực lượng nước ngoài đe dọa an ninh quốc gia.

    Mức án tối đa đã được nâng lên tù chung thân, thay vì giới hạn 10 năm tù như các thông tin ban đầu.

    Chỉ một số đại biểu Hong Kong đã được coi dự thảo luật trước khi thông qua. Điều này làm dấy lên nhiều tranh cãi trong dư luận về tính minh bạch của luật mới, đặc biệt khi nó sẽ kéo theo nhiều hệ quả sâu rộng.

    Luật an ninh mới chính thức có hiệu lực vào ngày 1/7, đúng vào dịp kỷ niệm 23 năm Hong Kong được trao trả cho Trung Quốc.

    Luật an ninh mới đang là một trong các điểm nóng trong quan hệ Mỹ – Trung. Washington chỉ trích bộ luật sẽ làm suy yếu đáng kể nguyên tắc “một quốc gia, hai chế độ” và mức độ tự trị cùng các quyền tự do của đặc khu với Trung Quốc đại lục.

    Giới chức Mỹ đã cảnh báo sẽ tước tư cách thương mại đặc biệt dành cho Hong Kong, đồng thời hạn chế thị thực đối với những quan chức Trung Quốc làm suy yếu quyền tự trị và các quyền tự do của đặc khu này.

    Thanh Danh/ZNS

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong
  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Dự Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong
  • Châu Âu Phản Đối Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong
  • Đằng Sau Luật An Ninh Quốc Gia Mới Của Trung Quốc
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Quốc Gia
  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong

    --- Bài mới hơn ---

  • Trung Quốc Chính Thức Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Cho Hong Kong
  • Vì Sao Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong?
  • Hệ Thống Quan Trọng Về An Ninh Quốc Gia Theo Quy Định Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Trung Quốc Tuyên Bố Áp Đặt Dự Luật An Ninh Mới Với Hong Kong Bằng Mọi Giá
  • Luật An Ninh Quốc Gia Năm 2004 Số 32/2004/qh11
  • Ngày 30/6, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã chính thức thông qua Luật an ninh quốc gia đối với Đặc khu hành chính Hong Kong của nước này.

    Quốc kỳ Trung Quốc (trái) và cờ của Đặc khu hành chính Hong Kong. Ảnh: SCMP

    Báo Bưu điện Hoa Nam Buổi sáng và truyền hình nhà nước Trung Quốc đưa tin Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Trung Quốc đã thông qua Luật an ninh quốc gia đối với Hong Kong.

    Dự kiến Luật an ninh quốc gia đối với Hong Kong sẽ được công bố toàn văn chiều cùng ngày và có hiệu lực từ ngày 1/7 tới.

    Ông Lật Chiến Thư, Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc (Nhân đại – Quốc hội Trung Quốc), chủ trì phiên họp toàn thể.

    Trước đó, Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường ngày 28/5 khẳng định luật an ninh đối với Hong Kong sẽ có lợi cho sự ổn định lâu dài và thịnh vượng của Đặc khu hành chính này.

    Phát biểu tại cuộc họp báo ở thủ đô Bắc Kinh , Thủ tướng Lý Khắc Cường cho biết luật an ninh Hong Kong được xây dựng để “duy trì vững chắc chính sách ‘một nước, hai chế độ’ cũng như sự ổn định lâu dài và thịnh vượng của Hong Kong”.

    Vịnh Victoria ở Hong Kong. Ảnh: China Daily

    Thủ tướng Trung Quốc nhấn mạnh mô hình “một nước, hai chế độ” và mức độ tự chủ cao từ lâu đã là một phần quan trọng trong chính sách của Trung Quốc và được thực hiện đầy đủ ngay từ đầu.

    Ông khẳng định luật an ninh Hong Kong không đồng nghĩa với việc Bắc Kinh đã từ bỏ mô hình “một nước, hai chế độ” với đặc khu này mà nhằm đảm bảo sự ổn định lâu dài cho mô hình này.

    Phát biểu trên được Thủ tướng Lý Khắc Cường đưa ra sau khi Kỳ họp thứ ba Quốc hội Trung Quốc khóa XIII thông qua cơ chế chấp hành an ninh quốc gia bảo vệ Đặc khu Hành chính Hong Kong, còn gọi là luật an ninh quốc gia về Hong Kong.

    Luật an ninh mới sẽ cấm các hành vi và hoạt động ly khai, lật đổ, khủng bố và can thiệp nước ngoài ở đặc khu. Luật cũng có thể cho phép các cơ quan an ninh và tình báo Trung Quốc thiết lập cơ sở trong thành phố.

    Trưởng Khu hành chính đặc biệt Hong Kong (Trung Quốc) Lâm Trịnh Nguyệt Nga phát biểu tại một cuộc họp báo. Ảnh: THX/TTXVN

    Bà Lâm Trịnh Nguyệt Nga nhấn mạnh người dân Hong Kong có thể bày tỏ ý kiến tới chính quyền đặc khu hoặc Văn phòng Liên lạc Chính phủ Nhân dân Trung ương tại Hong Kong. Theo bà, an ninh quốc gia là ưu tiên hàng đầu không chỉ của Trung Quốc, mà còn là của Đặc khu hành chính Hong Kong và hơn 7 triệu dân của đặc khu.

    Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu từ Nhà Trắng. Ảnh: BBC

    Tuyên bố trên được đưa ra 1 ngày sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đã có cuộc họp báo chưa từng có tiền lệ, trong đó ông công bố một số điều chỉnh trong quan hệ với Trung Quốc.

    Trong cuộc họp báo từ Vườn Hồng ở Nhà Trắng, Tổng thống Trump tuyên bố chấm dứt qui chế đặc biệt dành cho Đặc khu hành chính Hong Kong. Theo đó, Washington sẽ xóa bỏ những qui chế ưu đãi đặc biệt về kinh tế-thương mại đối với vùng lãnh thổ này.

    Theo ông chủ Nhà Trắng, chính quyền Washington thời gian tới sẽ hạn chế cấp thị thực cho các sinh viên và nghiên cứu sinh Trung Quốc. Tổng thống Trump cho rằng nhà chức trách Trung Quốc sử dụng một số sinh viên và nghiên cứu sinh tốt nghiệp tại Mỹ để thu thập thông tin về về tài sản trí tuệ của nước này.

    Trung Quốc tuyên bố đáp trả mọi hành động của Mỹ

    Trung Quốc cho biết sẽ thực hiện mọi biện pháp đối phó nếu Mỹ can thiệp vấn đề nội bộ cũng như đáp trả luật an ninh Hong Kong.

    Phát biểu tại cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm nay, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên cho biết nước này đã giao thiệp chính thức với Mỹ, Anh, Canada và Australia để đáp lại tuyên bố chung của 4 nước chỉ trích Bắc Kinh vi phạm các nghĩa vụ quốc tế với Hong Kong.

    Ông Triệu cho biết Trung Quốc sẵn sàng thực hiện bất cứ biện pháp cần thiết nào nếu Mỹ khăng khăng can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nước này và hành động đáp trả dự luật an ninh Hong Kong đã được quốc hội Trung Quốc (NPC) phê chuẩn.

    Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên trong cuộc họp báo ở Bắc Kinh hôm 24/2. Ảnh: Reuters.

    Chính quyền Hong Kong cũng cảnh báo Mỹ không can thiệp vào luật an ninh quốc gia do chính phủ trung ương đưa ra, thêm rằng việc Washington hủy “trạng thái đặc biệt” của đặc khu có thể gây bất lợi cho nền kinh tế đôi bên.

    “Bất kỳ lệnh trừng phạt nào cũng là con dao hai lưỡi. Nó sẽ không chỉ tổn hại cho lợi ích của Hong Kong mà còn gây thiệt hại đáng kể với chính phủ Mỹ”, chính quyền đặc khu ra tuyên bố hôm 28/5.

    Từ năm 2009 đến 2021, thặng dư thương mại của Mỹ và đặc khu Hong Kong là 297 tỷ USD, cao nhất trong tất cả các đối tác thương mại của Washington. Khoảng 1.300 công ty Mỹ cũng đặt trụ sở tại Hong Kong.

    Năm 2021, Mỹ ban hành luật Dân chủ và Nhân quyền Hong Kong, yêu cầu Ngoại trưởng Mỹ hàng năm có trách nhiệm xác nhận Hong Kong còn duy trì quyền tự chủ hay không, để đặc khu được hưởng ưu đãi thương mại từ Mỹ.

    Hong Kong hưởng những ưu đãi như được mua các công nghệ nhạy cảm, đảm bảo trao đổi tự do giữa đồng đô Mỹ và đô Hong Kong, đàm phán các thỏa thuận thương mại và đầu tư độc lập với Bắc Kinh. Trạng thái đặc biệt còn giúp cư dân Hong Kong tránh các hạn chế về thị thực áp dụng cho cư dân Trung Quốc đại lục.

    Tổng thống Mỹ Donald Trump cảnh báo sẽ có phản ứng mạnh mẽ với luật an ninh Hong Kong và công bố biện pháp trong tuần này. Ông chủ Nhà Trắng là người quyết định có tước “tình trạng đặc biệt” Hong Kong đang được hưởng hay không.

    Luật an ninh Hong Kong cấm các hành vi và hoạt động ly khai, lật đổ, khủng bố và can thiệp nước ngoài ở đặc khu. Các cơ quan an ninh và tình báo Trung Quốc cũng có thể thiết lập cơ sở trong thành phố. Bộ Công an Trung Quốc đã cam kết “hướng dẫn và hỗ trợ” cảnh sát Hong Kong sau khi quốc hội thông qua nghị quyết xây dựng luật an ninh.

    Thủ tướng Lý Khắc Cường khẳng định luật an ninh Hong Kong được xây dựng để duy trì vững chắc nguyên tắc “một quốc gia, hai chế độ” cũng như sự ổn định lâu dài và thịnh vượng của đặc khu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Dự Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong
  • Châu Âu Phản Đối Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong
  • Đằng Sau Luật An Ninh Quốc Gia Mới Của Trung Quốc
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Quốc Gia
  • Ngày Đầu Áp Dụng Luật An Ninh Mới, Hàng Chục Người Bị Bắt Ở Hong Kong
  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Dự Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong
  • Trung Quốc Chính Thức Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Cho Hong Kong
  • Vì Sao Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong?
  • Hệ Thống Quan Trọng Về An Ninh Quốc Gia Theo Quy Định Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Trung Quốc Tuyên Bố Áp Đặt Dự Luật An Ninh Mới Với Hong Kong Bằng Mọi Giá
  • TGVN. Ngày 28/5, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua dự luật an ninh quốc gia dành cho Hong Kong, bất chấp làn sóng biểu tình phản đối rầm rộ tại đặc khu hành chính này.

    Quốc hội Trung Quốc đã thông qua dự luật an ninh quốc gia dành cho Hong Kong bất chấp làn sóng biểu tình phản đối rầm rộ tại Đặc khu hành chính này. (Nguồn: Getty Images)

    Cụ thể, Quốc hội Trung Quốc đã thông qua việc áp đặt luật an ninh quốc gia dành cho Hong Kong để đối phó vấn đề ly khai, lật đổ, khủng bố và can thiệp từ nước ngoài.

    Chiều cùng ngày, Kỳ họp thứ ba Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Nhân Đại, tức Quốc hội) Trung Quốc Khóa XIII đã bế mạc sau một tuần làm việc.

    Kỳ họp Quốc hội năm nay xem xét và thông qua nhiều nghị trình quan trọng, được cho là sẽ ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao của Trung Quốc, trong đó đáng chú ý là việc thông qua Bộ luật dân sự, Quyết định của Quốc hội về xây dựng kiện toàn chế độ pháp luật và cơ chế chấp hành an ninh quốc gia bảo vệ đặc khu hành chính Hong Kong, còn gọi là luật an ninh quốc gia về Hong Kong.

    Muốn triệu tập HĐBA về vấn đề Hong Kong, Mỹ-Trung Quốc đấu khẩu

    TGVN. Mỹ và Trung Quốc đang bất đồng về vấn đề Hong Kong tại Liên hợp quốc (LHQ) sau khi Bắc Kinh phản đối đề …

    Tổng thống Trump đang ‘vô cùng bực mình’, cân nhắc trừng phạt nhiều quan chức Trung Quốc

    TGVN. Ngày 26/5, Cố vấn Nhà Trắng Larry Kudlow cho biết, Tổng thống Donald Trump vô cùng “bực mình” với Bắc Kinh về dịch bệnh …

    --- Bài cũ hơn ---

  • Châu Âu Phản Đối Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong
  • Đằng Sau Luật An Ninh Quốc Gia Mới Của Trung Quốc
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Quốc Gia
  • Ngày Đầu Áp Dụng Luật An Ninh Mới, Hàng Chục Người Bị Bắt Ở Hong Kong
  • Luận Văn: Các Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia Ở Việt Nam
  • Châu Âu Phản Đối Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong

    --- Bài mới hơn ---

  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Dự Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong
  • Quốc Hội Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Đối Với Hong Kong
  • Trung Quốc Chính Thức Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Cho Hong Kong
  • Vì Sao Trung Quốc Thông Qua Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong?
  • Hệ Thống Quan Trọng Về An Ninh Quốc Gia Theo Quy Định Của Luật An Ninh Mạng .công An Tra Vinh
  • Quan chức cấp cao của Anh và Liên minh châu Âu bày tỏ sự lo ngại và phản đối khi Trung Quốc chính thức thông qua luật an ninh quốc gia Hong Kong trong ngày 30/06.

    Ông Dominic Raab cho biết, quyết định này của Trung Quốc không chỉ làm tổn hại đến vị thế của Hong Kong như một trung tâm tài chính, thương mại lớn của châu Á mà còn đe doạ các quyền của người dân Hong Kong và vi phạm tuyên bố chung Trung-Anh về quy chế của Hong Kong khi được Anh trao trả về cho Trung Quốc năm 1997.

    Ngoại trưởng Anh Dominic Raab nói nước Anh “quan ngại sâu sắc” việc Trung Quốc thông qua Luật an ninh quốc gia với Hong Kong – Ảnh: DPA

    Tuy nhiên, trong một phát biểu chừng mực hơn, Thủ tướng Anh Boris Johnson cho biết, dù rất lo ngại về các tác động đến Hong Kong của luật an ninh quốc gia mới mà Trung Quốc ban hành, nước Anh sẽ chờ đợi để xem xét kỹ nội dung của luật này mới có phản ứng tiếp theo.

    “Chúng tôi sẽ xem xét luật này một cách rất thận trọng. Chúng tôi muốn tìm hiểu kỹ lưỡng để xem liệu nó có mâu thuẫn với Tuyên bố chung giữa Anh và Trung Quốc hay không, và sau đó sẽ xác định phản ứng phù hợp. Chúng tôi tất nhiên sẽ không bỏ quên nghĩa vụ của mình với các công dân Anh hải ngoại (BNO) tại Hong Kong.”, Thủ tướng Anh Boris Johnson nói.

    Đối với chính quyền Anh của Thủ tướng Boris Johnson, việc Trung Quốc ban hành luật an ninh quốc gia Hong Kong được xem là một thách thức ngoại giao lớn nhất từ sau sự cố ngoại giao với Nga tháng 3/2018. Do Hong Kong từng là thuộc địa của Vương quốc Anh nên chính quyền Anh phản ứng rất mạnh trước động thái của Trung Quốc.

    Ngoại trưởng Anh Dominic Raab tháng trước tuyên bố nước Anh có thể cấp quốc tịch Anh cho hàng triệu người Hong Kong đang sở hữu hộ chiếu hải ngoại của Anh, đồng thời đe doạ sẽ lập ra một liên minh quốc tế để phản đối sự can thiệp của Trung Quốc vào quy chế tự trị của Hong Kong.

    Cũng trong chiều 30/06, phía Liên minh châu Âu cũng đã đưa ra phản ứng. Chủ tịch Hội đồng châu Âu, Charles Michel cho biết lấy làm tiếc vì quyết định của Trung Quốc.

    Chủ tịch Uỷ ban châu Âu, bà Ursula von der Leyen thì cho rằng, luật này không chỉ làm xói mòn mức độ tự trị của Hong Kong mà còn ảnh hưởng đến danh tiếng của chính Trung Quốc.

    Người đứng đầu Ủy ban châu Âu Ursula von der Leyen lên án việc Trung Quốc thông qua Luật an ninh quốc gia với Hong Kong – Ảnh: AFP

    Quang Dũng/VOV-Paris

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đằng Sau Luật An Ninh Quốc Gia Mới Của Trung Quốc
  • Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Quốc Gia
  • Ngày Đầu Áp Dụng Luật An Ninh Mới, Hàng Chục Người Bị Bắt Ở Hong Kong
  • Luận Văn: Các Tội Xâm Phạm An Ninh Quốc Gia Ở Việt Nam
  • Hướng Dẫn Thi Hành Luật An Ninh Quốc Gia
  • Tin tức online tv