Sự Cần Thiết Khi Ban Hành Luật An Ninh Mạng

--- Bài mới hơn ---

  • Theo Bạn Vấn Đề Nào Là Cần Thiết Nhất Khi Ban Hành Luật An Ninh Mạng?
  • Phân Tích Khái Niệm An Ninh Mạng Để Chứng Minh Sự Phù Hợp Với Tình Hình Hiện Nay
  • Vietnam: 6 Điều Cần Lưu Ý Về Sử Dụng Mạng Xã Hội Khi Luật An Ninh Mạng Ban Hành
  • Đáp Án Câu Hỏi Cuộc Thi Viết ” Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng” Tỉnh Ninh Bình
  • Câu Hỏi Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng Năm 2022
  • Hỏi: Nguyễn Thu Trang (Hưng Yên) Trước khi Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 5 thông qua Luật An ninh mạng, có ý kiến còn băn khoăn rằng có nhất thiết phải ban hành luật này vì họ viện dẫn vấn đề an toàn thông tin, hiện chúng ta đã có Luật An toàn thông tin. Ngoài ra, một số hành vi được quy định tại Luật An ninh mạng đã được Bộ Luật Hình sự và một số văn bản Luật khác điều chỉnh. Tôi muốn quý Báo chỉ rõ những căn cứ cho thấy sự cần thiết phải ban hành luật này.

    Trả lời: Việc ban hành Luật An ninh mạng là cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu về bảo vệ an ninh mạng trong tình hình hiện nay, vì:

    1, Nước ta đang phải đối phó với hàng chục nghìn cuộc tấn công mạng với quy mô lớn, cường độ cao mỗi năm, đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội, gây tổn hại nặng nề về kinh tế.

    2, Không gian mạng và một số loại hình dịch vụ, ứng dụng trên không gian mạng đang bị các thế lực thù địch, phản động sử dụng để phát tán thông tin kêu gọi biểu tình, tụ tập trái phép, phá rối an ninh trật tự, kích động bạo loạn, khủng bố, lật đổ chính quyền nhân dân, xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia.

    3, Tình trạng đăng tải thông tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước, phá hoại mối đại đoàn kết dân tộc, xúc phạm tôn giáo; lan truyền thông tin sai sự thật, làm nhục, vu khống tổ chức, cá nhân… diễn ra tràn lan trên không gian mạng nhưng chưa có biện pháp quản lý hữu hiệu, dẫn tới nhiều hậu quả đáng tiếc về nhân mạng, tinh thần; hoạt động sử dụng không gian mạng để xâm phạm trật tự an toàn xã hội ngày càng gia tăng và phức tạp như: Đánh bạc, lừa đảo, đánh cắp tài khoản ngân hàng, rửa tiền, mại dâm, ma túy…

    4, Năng lực, tiềm năng quốc gia về an ninh mạng chưa có chính sách điều chỉnh phù hợp, kịp thời; sự phụ thuộc vào thiết bị công nghệ thông tin có nguồn gốc nước ngoài… đặt yêu cầu bức thiết phải xây dựng, hình thành nền công nghiệp an ninh mạng.

    5, Công tác quản lý nhà nước về an ninh thông tin, an ninh mạng tại các Bộ, Ban, Ngành, địa phương còn tồn tại những bất cập, hạn chế, thiếu đồng bộ, nhất quán do chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào điều chỉnh vấn đề này cho đến khi Luật An ninh mạng được ban hành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật An Ninh Mạng Góp Phần Bảo Đảm Tốt Hơn Quyền Con Người
  • Từ Hôm Nay, Google, Facebook Phải Lưu Dữ Liệu Người Dùng Tại Việt Nam
  • Hoàn Thiện Các Quy Định Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em Trong Dự Thảo Luật An Ninh Mạng
  • Luật An Ninh Mạng Quy Định Về Việc Bảo Vệ Quyền Con Người Như Thế Nào?
  • Tôn Trọng, Bảo Vệ Quyền Công Dân
  • Theo Bạn Vấn Đề Nào Là Cần Thiết Nhất Khi Ban Hành Luật An Ninh Mạng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Khái Niệm An Ninh Mạng Để Chứng Minh Sự Phù Hợp Với Tình Hình Hiện Nay
  • Vietnam: 6 Điều Cần Lưu Ý Về Sử Dụng Mạng Xã Hội Khi Luật An Ninh Mạng Ban Hành
  • Đáp Án Câu Hỏi Cuộc Thi Viết ” Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng” Tỉnh Ninh Bình
  • Câu Hỏi Tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng Năm 2022
  • Câu Hỏi Và Đáp Án Cuộc Thi Viết “tìm Hiểu Luật An Ninh Mạng” Năm 2022
  • 1. Luật An ninh mạng năm 2022, được Quốc hội ban hành bởi 6 lý do cơ bản sau đây:

    – Đáp ứng yêu cầu của công tác an ninh mạng trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội;

    – Phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ đe dọa an ninh mạng;

    – Thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về an ninh mạng;

    – Bảo đảm sự phù hợp với quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền cơ bản của công dân và bảo vệ Tổ quốc;

    – Bảo đảm sự phù hợp với thông lệ quốc tế.

    2. Trong 6 lý do ban hành Luật An ninh mạng nêu trên, theo tôi vấn đề Đáp ứng yêu cầu của công tác an ninh mạng trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội là quan trọng nhất, vì các lý do sau:

    – Thứ nhất, trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão hiện nay thì việc bảo vệ an ninh quốc gia đã có nhiều sự thay đổi lớn. Nếu như trước đây việc xâm phạm lãnh thổ, lật đổ chế độ chính trị của một nước thì chủ yếu dùng lực lượng quân sự tấn công trực tiếp. Lịch sử nước ta đã cho thấy các cuộc tấn công từ thế lực bên ngoài chủ yếu vào đường biển và đường biên giới đất liền. Tuy nhiên, trong thời đại ngày nay, với sẽ phát triển mạnh mẽ của intetnet, công nghệ thông tin thì an ninh quốc gia không chỉ bị đe dọa bởi các nguy cơ truyền thống mà còn bởi nguy cơ về tấn công an ninh mạng. Theo thống kê năm 2022 thì Việt Nam là nước bị tấn cộng mạng nhiều nhất trong khu vực với khoảng 15.000 cuộc tấn công mạng; 3000 cuộc tấn công lừa đảo, 6.500 cuộc tấn công phần mềm độc hại, 4.500 cuộc tấn công thay đổi giao diện, thiệt hại do virus gây ra đối với người dùng Việt Nam là 12.300 tỷ đồng, tương đương với số thu ngân sách của một tỉnh. 5 tháng đầu năm 2022 có 4.035 sự cố tấn công mạng và 6 tháng đầu năm 2022 có 3.159 cuộc tấn công.

    Trong các cuộc tấn công mạng vào Việt Nam bên cạnh tấn công lừa đảo, thay đổi giao diện… thì còn có nhiều cuộc tấn công vào mục đích chính trị như đánh cắp thông tin hoạt động của các cơ quan nhà nước (thông tin mật), can thiệp vào hoạt động điều hành của Chính phủ điện tử. Nếu như các thế lực bên ngoài kiểm soát được hệ thống thông tin hoạt động của Chính phủ, Bộ, Ngành, địa phương thì sẽ cực kỳ nguy hiểm, bọn chúng có thể làm giả thông tin, cắt đứt thông tin liên lạc…từ đó làm mất quyền kiểm soát của Đảng, Nhà nước đối với các hệ thống thông tin, ảnh hưởng đến hoạt động điều hành, quản lý, nguy cơ hơn nữa là làm tê liệt mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước. Chính vì vậy vần phải ban hành Luật An ninh mạng để tạo cơ sở pháp lý phòng ngừa, bảo vệ các hệ thống thông tin quan trọng an ninh quốc gia trước nguy cơ tấn công mạng ngày càng phổ biến và mức độ nguy hiểm càng cao.

    Tóm lại, không gian mạng yên ổn thì chủ quyền an ninh quốc gia mới được đảm bảo trong thời đại intetnet phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Nếu an ninh quốc gia bị ảnh hưởng thì hoạt động của Đảng, Nhà nước sẽ bị ảnh hưởng, trật tự an toàn xã hội sẽ náo loạn, quyền con người, quyền công dân cũng sẽ bị tác động.

    Thứ hai, từ khi intetnet chính thức vào Việt Nam năm 1997, bên cạnh những mặt tích cực do mạng internet, mạng xã hội mang lại thì vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế của internet, mạng xã hội đối với trật tự an toàn xã hội.

    Theo thống kê thì năm 2022, Việt Nam có khoảng 3.000 cuộc tấn công lừa đảo qua mạng, hình thức lừa đảo ngày càng tinh vi đã làm cho nhiều người bị mắc lừa từ hàng trăm ngàn đến hàng trăm triệu đồng. Tình trạng tệ nạn xã hội diễn ra trên mạng ngày càng nhiều như mua bán dâm, các trang web có nội dung độc hại, vi phạm pháp luật ngày càng phổ biến, tác động tiêu cực tới lối sống, suy nghĩ, hành động của nhiều người, trong đó chủ yếu là giới trẻ, chủ nhân tương lai của đất nước.

    Rồi tình trạng chửi bới, xúc phạm, nói xấu lãnh đạo, nói xấu nhau trên mạng internet ngày càng diễn ra nhiều và phổ biến, nhiều vụ việc từ nói xấu nhau trên mạng mà dẫn đến đánh, giết nhau ngoài đời, để lại hậu quả đau lòng cho nhiều gia đình.

    (Tải Slide tuyên truyền Luật An ninh mạng và quy tắc ứng xử trên mạng xã hội)

    Bên cạnh đó, các thế lực thù địch bên ngoài, bọn phản động đang lợi dụng mạng internet, mạng xã hội để tuyên truyền, kích động người dân chống Đảng, chống Nhà nước. Điển hình như kích động, lôi kéo nhân dân biểu tình, đập phá trụ sở cơ quan chính quyền, công an ở tỉnh Bình Thuận vào tháng 6/2018 để phản đối thông qua Luật An ninh mạng và Luật Đơn vị hành chính kinh tế đặc biệt.

    Tóm lại, với những lý do như đã phân tích ở trên thì vấn đề Đáp ứng yêu cầu của công tác an ninh mạng trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội là quan trọng nhất.

    Phương Thảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Cần Thiết Khi Ban Hành Luật An Ninh Mạng
  • Luật An Ninh Mạng Góp Phần Bảo Đảm Tốt Hơn Quyền Con Người
  • Từ Hôm Nay, Google, Facebook Phải Lưu Dữ Liệu Người Dùng Tại Việt Nam
  • Hoàn Thiện Các Quy Định Về Bảo Vệ Quyền Trẻ Em Trong Dự Thảo Luật An Ninh Mạng
  • Luật An Ninh Mạng Quy Định Về Việc Bảo Vệ Quyền Con Người Như Thế Nào?
  • Ban Hành Luật An Ninh Mạng

    --- Bài mới hơn ---

  • Ban Hành Luật An Ninh Mạng Để Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia
  • Luật An Ninh Mạng Góp Phần Bảo Vệ Anqg, Ttatxh, Quyền Và Lợi Ích Hợp Pháp Của Tổ Chức, Cá Nhân
  • Báo Cáo Tổng Kết Luật An Ninh Quốc Gia
  • Báo Cáo Sơ Kết Luật An Ninh Quốc Gia
  • Báo Cáo Tổng Kết Luật An Ninh Quốc Gia 2004
  • Ban hành Luật An ninh mạng – hoàn thiện hành lang pháp lý bảo vệ an ninh quốc gia

    Ngày nay, vai trò của mạng, công nghệ thông tin trong đời sống xã hội ngày càng tăng. Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực vào đời sống xã hội, không gian mạng cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến an ninh quốc gia. Ngày 20/08, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã có một bài viết yêu cầu tăng cường an ninh mạng. Qua đây, ta có thể thấy, an ninh mạng có vai trò vô cùng quan trọng. Vì vậy, để quản lý tốt không gian mạng, bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia, việc ban hành Luật An ninh mạng là cần thiết.

    Nhắc đến an ninh quốc gia, nhiều người sẽ chỉ quan tâm đến chiến tranh xâm lược, xung đột vũ trang, quân sự nhưng ít ai biết rằng, thế giới mạng – thứ mà ta vẫn coi là thế giới “ảo” cũng là một bộ phận quan trọng của an ninh quốc gia. Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới, chủ động đón nhận, sẵn sàng giải quyết những yếu tố gây tác động tiêu cực đến an ninh quốc gia từ thế giới mạng, vào tháng 08/2017, Dự thảo Luật An ninh mạng đã được công bố, lấy ý kiến đóng góp trong toàn thể quần chúng nhân dân.

    Tại Hội thảo bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia ngày 25/8, Cục An ninh mạng (Bộ Công an) cho biết, chỉ trong 6 tháng đầu năm đã có hơn 4.600 vụ tấn công mạng hướng vào các trang, cổng thông tin điện tử của Việt Nam. Các vụ tấn công này đã gây ra thiệt hại lớn về mặt vật chất, đồng thời khiến cho hoạt động của nhiều cơ quan, tổ chức bị gián đoạn.

    Thế giới mạng đã trở thành “mảnh đất màu mỡ” cho các đối tượng chống phá nhà nước hoạt động. Các đối tượng trên lợi dụng thế giới mạng để phát tán, tuyên truyền những nội dung, luận điệu sai trái, vi phạm nghiêm trọng đạo đức, pháp luật. Thời gian qua, các lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta thường xuyên trở thành mục tiêu để các đối tượng hướng mũi nhọn vào công kích.

    Ngoài ra, nhiều thế lực từ bên ngoài đã lợi dụng Internet để thu thập thông tin, tiến hành các hoạt động tình báo, gián điệp. Cũng chính từ thế giới mạng mà nhiều bí mật nhà nước bị lộ, lọt ra bên ngoài. Từ đầu năm 2022 đến nay, Bộ Công an đã phát hiện và xử lý khoảng 100 vụ lộ, lọt bí mật Nhà nước trên không gian mạng. Đây là hoạt động vô cùng nguy hiểm, là nguy cơ lớn gây mất an ninh quốc gia. Do đó, có thể khẳng định, thế giới mạng đang ảnh hưởng trực tiếp, mật thiết đối với an ninh quốc gia của chúng ta.

    Luật An ninh mạng, hành lang pháp lý bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng

    Nhận thức được xu hướng phát triển của thời đại, tình hình hoạt động của tội phạm cũng như âm mưu, thủ đoạn của các loại tội phạm trong thời kỳ mới, chúng ta đã xây dựng và hoàn thiện nhiều quy định của pháp luật để phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với các hoạt động lợi dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia. Cụ thể như: năm 2022, ta đã ban hành Luật An toàn thông tin mạng, Bộ Luật Tố tụng hình sự 2022, ta đã quy định dữ liệu điện tử là một nguồn của chứng cứ,… Tuy nhiên, để giải quyết tận gốc vấn đề, tạo hành lang pháp lý thực sự hoàn thiện, đủ sức mạnh nhằm bảo đảm an ninh mạng thì việc xây dựng, ban hành một văn bản pháp luật chuyên về an ninh mạng là vô cùng cần thiết.

    Thứ nhất, trong hoạt động phòng ngừa

    Với việc nhận thức rõ các hành vi xâm phạm an ninh mạng đã kể trên, một mặt ta giúp mọi người hiểu vấn đề, từ đó chủ động đối phó với những hoạt động trên. Mặt khác, trên cơ sở đó, các cơ quan quản lý cũng có căn cứ pháp luật để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đặc biệt trong việc phát hiện các hành vi sai phạm, có dấu hiệu sai phạm khi thực hiện công tác chuyên môn.

    Thứ hai, trong việc điều tra, thu thập chứng cứ

    Một trong những thách thức lớn khi đấu tranh với các tội phạm có hành vi lợi dụng mạng để xâm phạm an ninh quốc gia là việc thu thập, củng cố chứng cứ. Đơn cử như trong đấu tranh với đối tượng Nguyễn Hữu Vinh, việc làm sao chứng minh các tài liệu được đăng trên Facebook, Blog (được cho) là của đối tượng đã là một vấn đề hết sức đau đầu. Bởi suy cho cùng, trên thế giới mạng, việc xác định tài khoản được cho là của đối tượng có thực sự do đối tượng trên thực tế lập ra, quản lý và đăng tải thông tin hay không là rất khó. Rõ ràng hiện nay, việc một ông A sử dụng thông tin, hình ảnh của bà D để lập tài khoản trên mạng và sử dụng nó là rất dễ dàng.

    Ngoài ra, việc xác định nội dung nào là chống đối, nội dung nào là phản động cũng không thực sự rõ ràng. Do đó, các đối tượng rất có thể lợi dụng việc tự do ngôn luận để đăng tải thông tin tiêu cực, đả kích chính quyền, chống đối Nhà nước.

    Trước yêu cầu thiết thực của cuộc đấu tranh, việc Luật An ninh mạng nếu được thông qua sẽ giúp ta có đủ sức mạnh, công cụ để thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm từ đó đấu tranh có hiệu quả với các tội phạm. Trong đó, các biện pháp có thể nhắc đến là biện pháp nghiệp vụ an ninh mạng, biện pháp tác chiến trên không gian mạng (Điều 6, Luật An ninh mạng). Đây là hai biện pháp có tính chuyên biệt, đáp ứng các yêu cầu trong điều tra, làm rõ, đấu tranh, ngăn chặn với tội phạm lợi dụng mạng xâm phạm an ninh quốc gia.

    Thứ ba, trong đấu tranh ngăn chặn

    Trên cơ sở điều tra, làm rõ các hành vi vi phạm, chúng ta có tài liệu, chứng cứ để xử lý các đối tượng theo quy định của Bộ Luật hình sự. Tuy nhiên, bên cạnh các biện pháp ngăn chặn, chế tài răn đe với kẻ thực hiện hành vi phạm tội, đối với các thông tin đã được lan truyền trên mạng, chúng ta cũng cần xử lý triệt để. Trong Dự thảo Luật An ninh mạng, các biện pháp xử lý đã được đưa ra. Như yêu cầu gỡ bỏ thông tin, bài viết; rút giấy phép hoạt động của trang web, cổng thông tin điện tử,… Nếu được thông qua, đây sẽ là căn cứ pháp luật để chúng ta đấu tranh với hành động xuyên tạc nhà nước ta không có tự do thông tin của các thế lực thù địch.

    Ngoài ra, công tác phối hợp lực lượng trong đấu tranh với các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia xảy ra trên không gian mạng cũng được quy định rõ. Điều này tạo ra sự nhịp nhàng giữa các cơ quan, đơn vị khi giải quyết vấn đề, bảo đảm yêu cầu của cuộc đấu tranh: nhanh chóng, mạnh mẽ, triệt để.

    Ở trên là một số nội dung chính của Dự thảo Luật An ninh mạng, với tư cách là một người nghiên cứu luật, tôi thấy việc ban hành Luật này là cần thiết. Vấn đề ở đây là các nhà lập pháp cần nghiên cứu kỹ, tiếp thu ý kiến của các chuyên gia để tránh những lỗi về kỹ thuật lập pháp. Mặt khác, nếu được thông qua, việc áp dụng luật cần tiến hành nghiêm túc, tránh tình trạng có luật nhưng lại dùng…”luật rừng”.

    Sưu tầm

    --- Bài cũ hơn ---

  • Luật An Ninh Mạng Xuất Phát Từ Yêu Cầu Cấp Thiết Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Luật An Ninh Mạng: Bảo Vệ Chủ Quyền Quốc Gia Trên Không Gian Mạng
  • Bảo Đảm An Toàn Trên Không Gian Mạng Là Việc Cần Làm Của Mọi Quốc Gia.
  • Luật An Ninh Mạng Bảo Vệ Lợi Ích Quốc Gia
  • Dự Luật An Ninh Quốc Gia Hong Kong Là Gì Và Vì Sao Lại Gây Tranh Cãi Lớn?
  • Những Hành Vi Nào Bị Cấm Khi Luật An Ninh Mạng Được Thông Qua?

    --- Bài mới hơn ---

  • * Nếu Thông Qua Dự Thảo Luật An Ninh Mạng?
  • Luật An Ninh Mạng Được Thông Qua
  • Các Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Về Bảo Mật, An Toàn Và An Ninh Mạng Ban Hành Năm 2022
  • Bộ Công An Giải Đáp Thắc Mắc Về Việc Kiểm Soát Cá Nhân Trên Mạng
  • Toàn Văn Luật An Ninh Mạng Trình Quốc Hội Thông Qua
  • Những điều luật gây tranh cãi trong dự thảo Luật An ninh mạng được chỉnh sửa thế nào trước khi thông qua?

    Hơn 86% ĐBQH bấm nút thông qua Luật An ninh mạng

    Sáng 12/6, với hơn 86% ĐBQH tán thành, Quốc hội đã bỏ phiếu thông qua Luật An ninh mạng. Luật An ninh mạng có 7 chương, 43 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/ 2022.

    Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

    1. Sử dụng không gian mạng để thực hiện hành vi sau đây:

    a) Hành vi quy định tại khoản 1 Điều 18 của Luật này;

    b) Tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

    c) Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc;

    d) Thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

    đ) Hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng;

    e) Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

    2. Thực hiện tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, tấn công, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

    3. Sản xuất, đưa vào sử dụng công cụ, phương tiện, phần mềm hoặc có hành vi cản trở, gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông; phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.

    4. Chống lại hoặc cản trở hoạt động của lực lượng bảo vệ an ninh mạng; tấn công, vô hiệu hóa trái pháp luật làm mất tác dụng biện pháp bảo vệ an ninh mạng.

    5. Lợi dụng hoặc lạm dụng hoạt động bảo vệ an ninh mạng để xâm phạm chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân hoặc để trục lợi.

    6. Hành vi khác vi phạm quy định của Luật này.

    Điều 15. Ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia

    1. Hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia bao gồm:a) Phát hiện, xác định sự cố an ninh mạng;b) Bảo vệ hiện trường, thu thập chứng cứ;c) Phong tỏa, giới hạn phạm vi xảy ra sự cố an ninh mạng, hạn chế thiệt hại do dự cố an ninh mạng gây ra;d) Xác định mục tiêu, đối tượng, phạm vi cần ứng cứu;đ) Xác minh, phân tích, đánh giá, phân loại sự cố an ninh mạng;e) Triển khai các phương án xử lý, khắc phục sự cố an ninh mạng;g) Xác minh nguyên nhân và truy tìm nguồn gốc;h) Điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

    2. Chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia xây dựng phương án ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin do mình quản lý; triển khai phương án ứng phó, khắc phục khi sự cố an ninh mạng xảy ra và kịp thời báo cáo với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có thẩm quyền.

    3. Điều phối hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được quy định như sau: a) Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an chủ trì điều phối hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng xảy ra đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, trừ trường hợp quy định tại điểm b và điểm c khoản này; tham gia ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia khi có yêu cầu; thông báo cho các chủ quản hệ thống thông tin khi phát hiện có tấn công mạng, sự cố an ninh mạng;b) Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Quốc phòng chủ trì điều phối hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quân sự;c) Ban Cơ yếu Chính phủ chủ trì điều phối hoạt động ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính phủ.

    4. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tham gia ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia khi có yêu cầu của lực lượng chủ trì điều phối.

    Điều 16. Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế

    1. Thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm:a) Tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân;b) Chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lược, chia rẽ, gây thù hận giữa các dân tộc, tôn giáo và nhân dân các nước;c) Xúc phạm dân tộc, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc.

    2. Thông tin trên không gian mạng có nội dung kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng bao gồm:a) Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chia rẽ, tiến hành hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực nhằm chống chính quyền nhân dân;b) Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức gây mất ổn định về an ninh, trật tự.

    3. Thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm:a) Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác;b) Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

    4. Thông tin trên không gian mạng có nội dung xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bao gồm:a) Thông tin bịa đặt, sai sự thật về sản phẩm, hàng hóa, tiền, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc và các loại giấy tờ có giá khác;b) Thông tin bịa đặt, sai sự thật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, chứng khoán.

    5. Thông tin trên không gian mạng có nội dung sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

    6. Chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm triển khai biện pháp quản lý, kỹ thuật nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, gỡ bỏ thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này trên hệ thống thông tin thuộc phạm vi quản lý khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng.

    7. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp quy định tại các điểm h, i và l khoản 1 Điều 5 của Luật này để xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.

    8. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet, các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng và chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm phối hợp chặt chẽ với cơ quan chức năng xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này.

    9. Tổ chức, cá nhân soạn thảo, đăng tải, phát tán thông tin trên không gian mạng có nội dung quy định tại khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này phải gỡ bỏ thông tin khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

    2. Đối tượng kiểm tra an ninh mạng bao gồm:a) Hệ thống phần cứng, phần mềm, thiết bị số được sử dụng trong hệ thống thông tin;b) Thông tin được lưu trữ, xử lý, truyền tải trong hệ thống thông tin;c) Các biện pháp bảo vệ bí mật nhà nước, phòng, chống lộ, mất bí mật nhà nước qua các kênh kỹ thuật.

    3. Chủ quản hệ thống thông tin có trách nhiệm thông báo cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng trên hệ thống thông tin do mình quản lý.

    4. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an tiến hành kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này.

    5. Trước thời điểm tiến hành kiểm tra, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thông báo bằng văn bản cho chủ quản hệ thống thông tin ít nhất 12 giờ.Trong thời hạn 30 ngày kể từ khi kết thúc kiểm tra, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thông báo kết quả kiểm tra và đưa ra yêu cầu đối với chủ quản hệ thống thông tin trong trường hợp phát hiện điểm yếu, lỗ hổng bảo mật; hướng dẫn hoặc tham gia khắc phục khi có đề nghị của chủ quản hệ thống thông tin.

    6. Kết quả kiểm tra an ninh mạng được bảo mật theo quy định của pháp luật.

    7. Chính phủ quy định trình tự, thủ tục kiểm tra an ninh mạng quy định tại Điều này.

    Điều 26. Bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng

    1. Trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử hoặc chuyên trang trên mạng xã hội của cơ quan, tổ chức, cá nhân không được cung cấp, đăng tải, truyền đưa thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 của Luật này và các thông tin khác có nội dung xâm phạm an ninh quốc gia.

    2. Doanh nghiệp trong và ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm sau đây:

    a) Xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng;

    b) Ngăn chặn việc chia sẻ thông tin, xóa bỏ thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 của Luật này trên dịch vụ hoặc hệ thống thông tin do cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông và lưu nhật ký hệ thống để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng trong thời gian theo quy định của Chính phủ;

    c) Không cung cấp hoặc ngừng cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng cho tổ chức, cá nhân đăng tải trên không gian mạng thông tin có nội dung quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 16 của Luật này khi có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông.

    3. Doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.

    Doanh nghiệp nước ngoài quy định tại khoản này phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

    4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này.

    Điều 29. Bảo vệ trẻ em trên không gian mạng

    1. Trẻ em có quyền được bảo vệ, tiếp cận thông tin, tham gia hoạt động xã hội, vui chơi, giải trí, giữ bí mật đời sống riêng tư và các quyền khác khi tham gia trên không gian mạng.

    2. Chủ quản hệ thống thông tin, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng có trách nhiệm kiểm soát nội dung thông tin trên hệ thống thông tin hoặc trên dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp không để gây nguy hại cho trẻ em, xâm phạm đến trẻ em, quyền trẻ em; ngăn chặn việc chia sẻ và xóa bỏ thông tin có nội dung gây nguy hại cho trẻ em, xâm phạm đến trẻ em, quyền trẻ em; kịp thời thông báo, phối hợp với lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an để xử lý.

    3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động trên không gian mạng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong bảo đảm quyền của trẻ em trên không gian mạng, ngăn chặn thông tin mạng gây nguy hại cho trẻ em theo quy định của Luật này và pháp luật về trẻ em.

    5. Lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng và các cơ quan chức năng phải áp dụng biện pháp để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm trẻ em, quyền trẻ em.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Facebook, Google Chưa Có Ý Kiến Gì Về Luật An Ninh Mạng
  • Luật An Ninh Mạng: Việt Nam Có Nên Áp Dụng Giống Trung Quốc?
  • Mỹ: Hệ Thống Pháp Luật Đa Tầng
  • Luật An Ninh Mạng Thông Qua Ảnh Hưởng Gì Đến Cộng Đồng Marketing?
  • Bộ Luật Lao Đông 2012 Thuvienphapluat
  • Cần Thiết Ban Hành Luật An Ninh Mạng

    --- Bài mới hơn ---

  • Kỳ Họp Thứ 4, Quốc Hội Khóa Xiv: Bảo Vệ Bí Mật Nhà Nước Và An Ninh Mạng
  • Luật An Ninh Mạng Và An Toàn “thông Tin” Người Dùng
  • Luật An Ninh Mạng Bảo Vệ Quyền, Lợi Ích Hợp Pháp Của Công Dân
  • Luật An Ninh Mạng: Tin Giả … Trách Nhiệm Thật
  • Các Hành Vi Bị Nghiêm Cấm Về An Ninh Mạng
  • Trình bày Tờ trình Dự án Luật An ninh mạng, Thượng tướng Tô Lâm – Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, tình hình an ninh mạng nước ta đang ngày càng diễn biến phức tạp.

    Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, phát triển công nghệ thông tin, đặc biệt là cuộc cách mạng công nghệ 4.0, thực trạng, tình hình diễn ra trên không gian mạng đã đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với công tác an ninh mạng trong bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trậ tự an toàn xã hội. Vì thế, việc ban hành Luật An ninh mạng là hết sức cần thiết.

    Bộ trưởng Tô Lâm cũng cho biết, trong quá trình soạn thảo Dự án Luật An ninh mạng hiện đang có 2 luồng ý kiến trái chiều. Luồng ý kiến thứ nhất cho rằng, Luật này chỉ nên tập trung vào an ninh quốc gia; tuy nhiên cũng có luồng ý kiến rằng Luật An ninh mạng không chỉ tập trung vào bảo vệ an ninh quốc gia mà phải bảo đảm được trật tự an toàn xã hội.

    Do đó về vấn đề này, Chính phủ cho rằng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ hiện nay, việc sử dụng không gian mạng để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật có thể được tiến hành không giới hạn về không gian, thời gian và có thể xảy ra trên mọi lĩnh vực. Do vậy, yêu cầu bảo vệ an ninh mạng cũng được đặt ra đối với mọi lĩnh vực, hoạt động mà không gian mạng đang bao phủ…

    Theo Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng – an ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt, đa số ý kiến tán thành với sự cần thiết ban hành Luật An ninh mạng như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ. Việc ban hành luật này không chỉ xây dựng cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia mà còn thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong việc thực hiện các cam kết quốc tế đã ký kết hoặc tham gia.

    Đồng thời, cần xác định rõ vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an trong Dự thảo Luật An ninh mạng.

    Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển đặt vấn đề: “Chúng ta phải bảo vệ, phòng thủ trước. Tuy nhiên, hiện chúng ta sử dụng công nghệ thông tin chủ yếu trên hạ tầng của nước ngoài như Mỹ, Nga. Do đó vấn đề đặt ra là chúng ta có thể làm chủ được khi có vấn đề về tấn công mạng xảy ra hay không?”.

    Còn Chủ nhiệm Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh cũng cho rằng: Luật An ninh mạng có đề cập đến gián điệp mạng, vậy có đề cập đến tình báo mạng hay không? Đây cũng là vấn đề cần xem xét.

    Trong khi đó, theo Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Vũ Hồng Thanh, trong Dự thảo Luật An ninh mạng có nhiều quy định còn trùng lặp, chồng chéo với Luật An ninh quốc gia, Luật An toàn thông tin mạng. Cho nên cần rà soát lại để tránh trùng lặp.

    Giải trình trước các vấn đề được các đại biểu đặt ra, Bộ trưởng Tô Lâm cho rằng, dù đã có nhiều nỗ lực, cố gắng nhưng qua góp ý của Thường vụ Quốc hội, nhân dân cho thấy còn có những lĩnh vực mà Luật này chưa bao trùm đến được, Ban soạn thảo sẽ tiếp thu để tiếp tục hoàn thiện.

    Lực lượng làm công tác an ninh mạng hiện còn rất khó khăn. “Đây là cuộc đấu tranh mà chúng ta phòng thủ, bảo vệ là chính. Hiện nhiều nước đã, đang chạy đua vũ trang trên mạng, việc này đòi hỏi rất tốn kém, trong khi điều kiện của chúng ta còn rất khó khăn. Còn phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin mạng của nước ngoài, cụ thể là vào hệ thống máy chủ ở Mỹ thì không chỉ Việt Nam mà rất nhiều nước cũng vậy. Về tình huống khẩn cấp trong an ninh mạng, đây là cuộc chiến tranh không có tuyên bố nhưng chúng ta phải tính toán, tiên lượng”- Bộ trưởng Tô Lâm cho hay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quốc Hội Nghe Tờ Trình, Báo Cáo Thẩm Tra Dự Án Luật Sửa Đổi Và Dự Án Luật An Ninh Mạng
  • “không Gian Mạng Trở Thành Môi Trường Lý Tưởng Cho Âm Mưu “diễn Biến Hòa Bình”
  • Dự Án Luật An Ninh Mạng: Tăng Cường An Ninh Quốc Gia
  • Đức Siết Chặt An Ninh Mạng Vì Lợi Ích Cộng Đồng
  • Bàn Về Luật An Ninh Mạng Của Đức
  • Ban Hành Luật An Ninh Mạng Là Cần Thiết

    --- Bài mới hơn ---

  • Sự Cần Thiết Của Luật An Ninh Mạng
  • Bộ Ngoại Giao: ‘xây Dựng Luật An Ninh Mạng Là Hết Sức Cần Thiết’
  • Việt Nam Ban Hành Luật An Ninh Mạng Là Tất Yếu
  • Luật An Ninh Mạng Là Xu Thế Tất Yếu Trong Thời Đại Toàn Cầu Hóa
  • Ban Hành Luật An Ninh Mạng Là Đòi Hỏi Tất Yếu Trong Giai Đoạn Hiện Nay
  • Theo Báo cáo thẩm tra dự án Luật An ninh mạng do Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng và An ninh của Quốc hội Võ Trọng Việt cho biết: “Đa số ý kiến tán thành với sự cần thiết ban hành Luật; Một số ý kiến không tán thành với việc ban hành Luật, vì cho rằng, an ninh mạng là một bộ phận của an ninh quốc gia (ANQG) nên phải quán triệt và thực hiện đầy đủ các quy định của Luật ANQG”…

    Một số ý kiến không tán thành cho rằng “việc bảo vệ thông tin mạng đã được quy định trong Luật an toàn thông tin mạng (ATTTM). Do đó, đề nghị ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện Luật ANQG, Luật ATTTM hoặc sửa đổi hai luật này để bổ sung những nội dung mới về an ninh mạng.

    Ủy ban QPAN nhất trí với Tờ trình của Chính phủ và nhấn mạnh: Trong tình hình hiện nay, an ninh mạng là vấn đề quan tâm của toàn cầu, có tác động mạnh mẽ, toàn diện đến các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đã có nhiều quốc gia ban hành các đạo luật, đưa ra các chính sách phát triển công nghệ thông tin, nâng cao năng lực phòng ngừa, phòng thủ, ngăn chặn, tấn công trên không gian mạng nhằm bảo vệ các giá trị, lợi ích, an ninh của đất nước.

    Ở nước ta, các thế lực thù địch, một số loại tội phạm, một số đối tượng khác đã và đang sử dụng không gian mạng để thực hiện các hành vi phá hoại, trục lợi hoặc xâm phạm, đe dọa xâm phạm đến quốc phòng, ANQG, trật tự, an toàn xã hội, tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân, nhất là trong điều kiện hệ thống cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ, công tác quản lý còn nhiều sơ hở, hệ thống chính sách chưa đồng bộ.

    Một số ý kiến đề nghị đổi tên Luật thành “Luật bảo vệ ANQG trên không gian mạng”, “Luật bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng”, “Luật an ninh, an toàn mạng” hoặc “Luật bảo vệ an ninh thông tin trên không gian mạng”. Song Ủy ban ANQP cho rằng tên “Luật An ninh mạng” vừa ngắn gọn, vừa bao quát, phù hợp với phạm vi, đối tượng điều chỉnh của dự thảo Luật; đồng thời, tên gọi này đã được Quốc hội quyết định tại Nghị quyết số 22/2016/QH14 và Nghị quyết số 64/2017/QH14 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.

    Có ý kiến cho rằng, các hành vi bị nghiêm cấm còn quy định chung chung, nhất là quy định tại khoản 1 và khoản 6, đề nghị quy định cụ thể hơn để bảo đảm tính khả thi; có ý kiến đề nghị rà soát các hành vi phạm tội đã được quy định trong Bộ luật hình sự đưa vào quy định cấm trong Luật này, trong đó: có hành vi trực tiếp xâm phạm đến lĩnh vực công nghệ thông tin, viễn thông; có hành vi sử dụng công nghệ thông tin, viễn thông để phạm tội.

    Tuy nhiên, có ý kiến đề nghị chỉ quy định các hành vi bị nghiêm cấm ngoài các hành vi đã được bộ luật hình sự quy định. Ủy ban QPAN cơ bản tán thành với các ý kiến trên và đề nghị nghiên cứu, tiếp thu cho phù hợp.

    Ủy ban QPAN đánh giá việc ban hành Luật An ninh mạng là cần thiết, vừa để bảo vệ ANQG, đồng thời thể hiện trách nhiệm của Việt Nam trong hợp tác giải quyết các vụ việc sử dụng không gian mạng để khủng bố, phá hoại an ninh, hòa bình thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tấn Công, Bôi Nhọ, Lừa Đảo Trên Mạng… Gây Thiệt Hại Hàng Nghìn Tỷ Đồng/năm
  • Lừa Đảo Để Nhận Tiền Của Người Khác Qua Mạng Thì Bị Xử Lý Như Thế Nào?
  • Lừa Đảo Qua Mạng: Nạn Nhân Chẳng Biết Kêu Ai?
  • Quy Định Của Pháp Luật Về Hành Vi Lừa Đảo Qua Mạng Internet ? Tố Cáo Lừa Đảo Ở Đâu ?
  • Theo Luật An Ninh Mạng, Công Dân Được Bảo Vệ Như Thế Nào?
  • Luật An Ninh Mạng Nghiêm Cấm Các Hành Vi Nào

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Hành Vi Nghiêm Cấm Khi Sử Dụng Không Gian Mạng Theo Luật An Ninh Mạng 2022
  • Các Hành Vi Bị Nghiêm Cấm Và Việc Xử Lý Vi Phạm Pháp Luật Về An Ninh Mạng
  • Tài Liệu Tuyên Truyền: Luật An Ninh Mạng
  • Một Số Vấn Đề Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng
  • Tướng Nguyễn Thanh Hồng: ‘dự Luật An Ninh Mạng Ưu Tiên Lợi Ích Toàn Cục’
  • Sáng 12/6/2018 với 86,86% đại biểu có mặt tán thành, Quốc hội đã biểu quyết thông qua luật an ninh mạng có hiệu lực từ 1/1/2019

    Điều 8 của Luật An ninh mạng “nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam; Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc”.

    Các hành vi thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng bị nghiêm cấm.

    Điều 8 cũng nghiêm cấm các hành vi sử dụng không gian mạng để hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng; Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

    Ngoài ra, hành vi bị nghiêm cấm còn bao gồm các hành vi tấn công mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; sản xuất, sử dụng công cụ, phần mềm hoặc phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.

    Điều 16 của Luật An ninh mạng quy định các thông tin tuyên truyền chống phá Nhà nước, kích động gây bạo loạn, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế gồm: Thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Thông tin chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lược, chia rẽ, gây thù hận giữa các dân tộc, tôn giáo và nhân dân các nước; Thông tin xúc phạm dân tộc, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc.

    Thông tin trên không gian mạng có nội dung kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng bao gồm: Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chia rẽ, tiến hành hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực nhằm chống chính quyền nhân dân; Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức gây mất ổn định về an ninh, trật tự.

    Thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm: Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác; Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

    Thông tin trên không gian mạng có nội dung xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bao gồm: Thông tin bịa đặt, sai sự thật về sản phẩm, hàng hóa, tiền, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc và các loại giấy tờ có giá khác; Thông tin bịa đặt, sai sự thật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, chứng khoán.

    Thông tin trên không gian mạng có nội dung sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

    Luật An ninh mạng quy định​ tại Điều 26​ về bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng. Theo đó, các trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử hoặc chuyên trang trên mạng xã hội của cơ quan, tổ chức, cá nhân không được cung cấp, đăng tải, truyền đưa thông tin có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước ​CHXHCN Việt Nam; Kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; Làm nhục, vu khống; Xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

    Doanh nghiệp trong và ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng ​Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; Bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; Cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng.

    Chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông, các doanh nghiệp phải ngăn chặn việc chia sẻ thông tin, xoá bỏ các thông tin có nội dung vi phạm.

    Doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam. Dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ tại Việt Nam.​

    Người nào có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Hành Vi Bị Nghiêm Cấm Trên Không Gian Mạng
  • Những Hiểu Biết Về Luật An Ninh Mạng
  • Bài 2. Một Số Hiểu Biết Về Nền Quốc Phòng Toàn Dân, An Ninh Nhân Dân
  • Ðể Luật An Ninh Mạng Đi Vào Cuộc Sống
  • Hiệu Quả Của Luật An Ninh Mạng Sau Hơn 1 Năm Đi Vào Cuộc Sống
  • Luật An Ninh Mạng Nghiêm Cấm Những Hành Vi Nào

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật An Ninh Mạng Cấm Những Hành Vi Nào Từ Năm 2022?
  • Luật An Ninh Mạng Có Hiệu Lực 1.1.2019: Những Nhóm Hành Vi Nào Bị Cấm?
  • Những Luận Điệu Xuyên Tạc Luật An Ninh Mạng Của Trần Quốc Việt
  • Luật An Ninh Mạng Ở Các Nước Châu Âu Và Mỹ
  • Sắc Lệnh Mới Bảo Vệ An Ninh Mạng Của Mỹ
  • Các hành vi bị nghiêm cấm trong Luật an ninh mạng

    Các hành vi vi phạm Luật an ninh mạng

    Luật an ninh mạng là gì

    Luật An ninh mạng Việt Nam được giao cho Bộ Công an chủ trì, soạn thảo để khắc phục những tồn tại, hạn chế cơ bản trong công tác an ninh mạng để góp phần bảo vệ an ninh quốc gia. Luật này được Quốc hội Việt Nam khóa XIV (2016-2021) biểu quyết thông qua vào sáng ngày 12 tháng 6 năm 2022.

    An ninh mạng được định nghĩa là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

    Bảo vệ an ninh mạng là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm trong lĩnh vực này.

    Các hành động bị cấm trong Luật an ninh mạng

    Điều 8 của Luật An ninh mạng “nghiêm cấm việc sử dụng không gian mạng để tổ chức, hoạt động, cấu kết, xúi giục, mua chuộc, lừa gạt, lôi kéo, đào tạo, huấn luyện người chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam; Xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xúc phạm tôn giáo, phân biệt đối xử về giới, phân biệt chủng tộc”.

    Các hành vi thông tin sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân cũng bị nghiêm cấm.

    Điều 8 cũng nghiêm cấm các hành vi sử dụng không gian mạng để hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng; Xúi giục, lôi kéo, kích động người khác phạm tội.

    Ngoài ra, hành vi bị nghiêm cấm còn bao gồm các hành vi tấn công mạng, gián điệp mạng, tội phạm mạng; gây sự cố, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt hoặc phá hoại hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; sản xuất, sử dụng công cụ, phần mềm hoặc phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác.

    Điều 16 của Luật An ninh mạng quy định các thông tin tuyên truyền chống phá Nhà nước, kích động gây bạo loạn, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế gồm: Thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; Thông tin chiến tranh tâm lý, kích động chiến tranh xâm lược, chia rẽ, gây thù hận giữa các dân tộc, tôn giáo và nhân dân các nước; Thông tin xúc phạm dân tộc, quốc kỳ, quốc huy, quốc ca, vĩ nhân, lãnh tụ, danh nhân, anh hùng dân tộc.

    Thông tin trên không gian mạng có nội dung kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng bao gồm: Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, gây chia rẽ, tiến hành hoạt động vũ trang hoặc dùng bạo lực nhằm chống chính quyền nhân dân; Kêu gọi, vận động, xúi giục, đe dọa, lôi kéo tụ tập đông người gây rối, chống người thi hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức gây mất ổn định về an ninh, trật tự.

    Thông tin trên không gian mạng có nội dung làm nhục, vu khống bao gồm: Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác; Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

    Thông tin trên không gian mạng có nội dung xâm phạm trật tự quản lý kinh tế bao gồm: Thông tin bịa đặt, sai sự thật về sản phẩm, hàng hóa, tiền, trái phiếu, tín phiếu, công trái, séc và các loại giấy tờ có giá khác; Thông tin bịa đặt, sai sự thật trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, thương mại điện tử, thanh toán điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn, kinh doanh đa cấp, chứng khoán.

    Thông tin trên không gian mạng có nội dung sai sự thật gây hoang mang trong nhân dân, gây thiệt hại cho các hoạt động kinh tế – xã hội, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc người thi hành công vụ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

    Luật An ninh mạng quy định​ tại Điều 26​ về bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng. Theo đó, các trang thông tin điện tử, cổng thông tin điện tử hoặc chuyên trang trên mạng xã hội của cơ quan, tổ chức, cá nhân không được cung cấp, đăng tải, truyền đưa thông tin có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước ​CHXHCN Việt Nam; Kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; Làm nhục, vu khống; Xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

    Doanh nghiệp trong và ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có trách nhiệm xác thực thông tin khi người dùng đăng ký tài khoản số; Bảo mật thông tin, tài khoản của người dùng; Cung cấp thông tin người dùng cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an khi có yêu cầu bằng văn bản để phục vụ điều tra, xử lý hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng.

    Chậm nhất là 24 giờ kể từ thời điểm có yêu cầu của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an hoặc cơ quan có thẩm quyền của Bộ Thông tin và Truyền thông, các doanh nghiệp phải ngăn chặn việc chia sẻ thông tin, xoá bỏ các thông tin có nội dung vi phạm.

    Doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng Internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam phải đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam. Dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ tại Việt Nam.​

    Người nào có hành vi vi phạm quy định của Luật này thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Luật không kiểm soát và làm lộ thông tin của công dân

    Lực lượng chuyên trách bảo vệ An ninh mạng chỉ được phép tiếp cận thông tin cá nhân của người sử dụng có hoạt động vi phạm pháp luật, với trình tự, thủ tục nghiêm ngặt (bằng văn bản), được các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

    Các hành vi như chiếm đoạt, mua bán, thu giữ, cố ý làm lộ, xóa, làm hư hỏng, thất lạc, thay đổi, đưa lên không gian mạng những thông tin thuộc bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và đời sống riêng tư của người khác mà chưa được phép của người sử dụng hoặc trái quy định của pháp luật sẽ bị xử lý.

    Lực lượng chuyên trách bảo vệ An ninh mạng nếu lạm dụng, làm lộ thông tin cá nhân của người sử dụng sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

    Bộ Công an cũng khẳng định Luật không cấm người dân truy cập Facebook, Google, YouTube. Người dân VN vẫn được tự do truy cập vào các trang mạng này hay bất kỳ trang MXH nào khác ở trong và ngoài nước.

    Ngược lại, Luật An ninh mạng quy định các biện pháp bảo vệ về An ninh mạng cho người dân khi tham gia hoạt động trên các trang MXH như Facebook, Google…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Hành Vi Bị Cấm Trong Luật An Ninh Mạng
  • Luật An Ninh Mạng Nghiêm Cấm Những Hành Vi Nào?
  • Luật An Ninh Mạng Chính Thức Có Hiệu Lực Từ Ngày 01/01/2019
  • Luật An Ninh Mạng Vừa Được Quốc Hội Thông Qua Có Hiệu Lực Thi Hành Từ Ngày Nào?
  • Luật An Ninh Mạng Có Hiệu Lực Từ Ngày 1/1/2019
  • Ban Hành Luật An Ninh Mạng Để Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia

    --- Bài mới hơn ---

  • Luật An Ninh Mạng Góp Phần Bảo Vệ Anqg, Ttatxh, Quyền Và Lợi Ích Hợp Pháp Của Tổ Chức, Cá Nhân
  • Báo Cáo Tổng Kết Luật An Ninh Quốc Gia
  • Báo Cáo Sơ Kết Luật An Ninh Quốc Gia
  • Báo Cáo Tổng Kết Luật An Ninh Quốc Gia 2004
  • Báo Cáo Tổng Kết Luật An Ninh Quốc Gia Năm 2004
  • (VnMedia) – Thường trực Ủy ban Quốc phòng an ninh của Quốc hội đánh giá, việc xây dựng, ban hành Luật An ninh mạng là cần thiết; tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, rà soát các nội dung trong dự thảo Luật để tránh quy định chồng chéo…

    Theo báo cáo của Ủy ban Quốc phòng An ninh của Quốc hội (UBQPAN), quá trình thẩm tra sơ bộ dự án Luật An ninh mạng cho thấy, đa số ý kiến tán thành với sự cần thiết ban hành Luật an ninh mạng như đã nêu tại Tờ trình của Chính phủ và nhấn mạnh việc các đối tượng phản động, chống đối, các loại tội phạm lợi dụng không gian mạng để thực hiện các hành vi phá hoại, trục lợi hoặc xâm phạm, đe dọa đến quốc phòng, a ninh quốc gia (ANQG), trật tự, an toàn xã hội (TTATXH), tài sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức và cá nhân.

    “Thường trực UBQPAN tán thành với phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật do Chính phủ trình, vì cho rằng các thế lực, đối tượng phản động, chống đối, các loại tội phạm luôn lợi dụng không gian mạng để tiến hành các hoạt động tấn công, phá hoại hệ thống thông tin mạng, xâm phạm độc lập, chủ quyền, ANQG, TTATXH, quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân. Do đó, Luật An ninh mạng cần phải điều chỉnh về hoạt động bảo vệ ANQG trên không gian mạng, bảo vệ các hệ thống thông tin quan trọng; đồng thời, có điều chỉnh về hoạt động tác chiến mạng, giữ gìn TTATXH, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trên không gian mạng để bảo đảm cơ sở pháp lý cần thiết, linh hoạt cho các hoạt động này trong thực tế.” – UBQPAN nêu quan điểm.

    Về biện pháp bảo vệ an ninh mạng trong dự thảo Luật, Thường trực UBQPAN cho rằng, quy định về các biện pháp bảo vệ an ninh mạng và quy định về nhiệm vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong bảo vệ an ninh mạng là cơ bản phù hợp. Tuy nhiên, đề nghị Ban soạn thảo rà soát để bổ sung đầy đủ các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, bao quát các nhóm hoạt động được điều chỉnh trong dự thảo Luật (như các giải pháp về tác chiến mạng, giải pháp bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, giải pháp về bảo đảm TTATXH, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trên không gian mạng). Đối với các biện pháp bảo vệ an ninh mạng mang tính nghiệp vụ, bí mật như các biện pháp bảo vệ ANQG, các biện pháp nghiệp vụ an ninh mạng, các biện pháp tác chiến mạng… thì chỉ nêu có tính nguyên tắc và giao cấp có thẩm quyền quy định chi tiết cho phù hợp.

    Về các tình huống an ninh mạng (từ Điều 27 đến Điều 33), Thường trực UBQPAN nhận thấy, việc quản lý, điều hành đất nước, việc giải quyết các tình huống về QPAN (như tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, nguy cơ đe dọa ANQG chưa đến mức ban bố tình trạng khẩn cấp) được thực hiện theo quy định của pháp luật về các tình huống đó. Đối với các tình huống xảy ra trên môi trường mạng mang tính đặc thù, khác với các tình huống QPAN nêu trên, do đó đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu quy định cho phù hợp, tránh chồng chéo, nhầm lẫn, khó phân định trách nhiệm.

    Về phát triển nguồn nhân lực an ninh mạng (Chương IV), một số ý kiến đề nghị cần có quy định về chế độ, chính sách ưu đãi đặc thù đối với lực lượng an ninh mạng; Có ý kiến đề nghị quy định chặt chẽ điều kiện đối với những người đang làm và thôi làm công tác an ninh mạng.

    Thường trực UBQPAN tán thành với các ý kiến trên, nhưng đề nghị Ban soạn thảo nghiên cứu, xây dựng điều luật bảo đảm phù hợp với điều kiện của đất nước hiên nay, không phát sinh thêm tổ chức, biên chế.

    Trong khi đó, Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ đánh giá, dự án Luật An ninh mạng cơ bản đủ điều kiện để trình Quốc hội cho ý kiến trong kỳ họp sắp tới. Tuy nhiên, theo ông, đây là dự án Luật rất khó, nhiều nội dung phức tạp nên cần nghiên cứu kỹ, lựa chọn kinh nghiệm của các nước để xây dựng. Phó Chủ tịch Quốc hội Đỗ Bá Tỵ cho rằng, điều quan trọng nhất trong dự án Luật này là phải phân định được nội hàm an ninh mạng và an toàn thông tin mạng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ban Hành Luật An Ninh Mạng
  • Luật An Ninh Mạng Xuất Phát Từ Yêu Cầu Cấp Thiết Bảo Vệ An Ninh Quốc Gia, Trật Tự An Toàn Xã Hội
  • Luật An Ninh Mạng: Bảo Vệ Chủ Quyền Quốc Gia Trên Không Gian Mạng
  • Bảo Đảm An Toàn Trên Không Gian Mạng Là Việc Cần Làm Của Mọi Quốc Gia.
  • Luật An Ninh Mạng Bảo Vệ Lợi Ích Quốc Gia
  • Ban Hành Luật An Ninh Mạng Là Rất Cần Thiết

    --- Bài mới hơn ---

  • Có Hiệu Lực Từ Hôm Nay 1.1, Luật An Ninh Mạng Bảo Vệ Trẻ Em Thế Nào?
  • Luật An Ninh Mạng Quy Định Thế Nào Về Bảo Vệ Trẻ Em, Bí Mật Cá Nhân?
  • Việt Nam Tăng Cường Pháp Luật Về Bảo Vệ Trẻ Em Trên Môi Trường Mạng
  • Tôn Trọng, Bảo Vệ Quyền Công Dân
  • Luật An Ninh Mạng Quy Định Về Việc Bảo Vệ Quyền Con Người Như Thế Nào?
  • Ngoài ra, Chủ nhiệm Võ Trọng Việt cũng cho hay, có một số ý kiến đề nghị không quy định về tác chiến trên không gian mạng và lược bỏ quy định về phòng, chống chiến tranh mạng, vì cho rằng thuộc lĩnh vực quốc phòng, là nhiệm vụ của quân đội. Về các ý kiến này, Chủ nhiệm Võ Trọng Việt nêu rõ: Chiến tranh mạng là tình huống đặc biệt xảy ra trên không gian mạng, không những xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, mà còn gây ra những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội. Nhiều nước trên thế giới đã có các quy định khác nhau về chiến tranh mạng, nhưng trong hệ thống pháp luật Việt Nam chưa có quy định về vấn đề này. Do vậy, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị cho giữ lại quy định về chiến tranh mạng và cho chỉnh lý như Điều 20 dự thảo Luật đã chỉnh lý. Theo đó, Bộ Quốc phòng chủ trì phòng, chống chiến tranh mạng.

    Ban hành luật đáp ứng nhu cầu của thực tiễn

    Đại biểu Bùi Mậu Quân (Hải Dương) nêu lên thực tiễn những năm gần đây, ngày càng xảy ra nhiều các hoạt động vi phạm pháp luật trên không gian mạng, gây bức xúc trong xã hội. Đó là các hoạt động lợi dụng không gian mạng để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, như là hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chống phá Nhà nước, hoạt động gián điệp, lấy cắp dữ liệu Nhà nước, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, trật tự an toàn xã hội; nổi lên là các hoạt động lừa đảo, trộm cắp, cờ bạc, cá độ…qua mạng, lấy cắp thông tin cá nhân, làm nhục, vu khống người khác qua mạng; tấn công mạng, chiếm quyền điều khiển hay chiến tranh mạng…

    Đại biểu Bùi Mậu Quân phát biểu ý kiến.

    “Những thực trạng nêu trên đang là vấn đề bức xúc, nhức nhối đang diễn ra song việc xử lý còn rất bị động, lúng túng và hiệu quả không cao vì hệ thống pháp luật hiện chưa có hành lang pháp lý quy định đầy đủ, rõ ràng về các hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng, về giải pháp phòng ngừa, đấu tranh cũng như chế tài xử lý nghiêm khắc để xử lý hiệu quả những hành vi vi phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, vi phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trên không gian mạng, nhiều vụ để lại hậu quả rất nặng nề”, đại biểu phân tích.

    “Nếu hệ thống mạng máy chủ của các hãng hàng không quốc gia, hệ thống tài chính, ngân hàng, hay hệ thống thông tin điện tử của Đảng, Chính phủ… bị tấn công, chiếm quyền điều khiển thì hậu quả sẽ như thế nào?”, đại biểu đặt câu hỏi và nhấn mạnh sự cần thiết phải ban hành dự luật để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi cấp thiết của tình hình thực tiễn.

    Đại biểu Nguyễn Minh Sơn phát biểu ý kiến.

    Quan tâm đến chính sách của Nhà nước về an ninh mạng (Điều 3), đại biểu đề nghị nghiên cứu bổ sung thêm một khoản về ưu tiên đào tạo phát triển nguồn nhân lực về an ninh mạng chất lượng cao, ưu tiên nghiên cứu phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng. Bởi lẽ, theo đại biểu các đối tượng có trình độ cao về công nghệ thông tin có thể sử dụng siêu máy tính hoặc hệ thống máy tính để tấn công mạng có chủ đích, tấn công mạng phá hoại hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin, tấn công mạng từ chối dịch vụ phân tán hoặc trong trường hợp chiến tranh mạng xảy ra…. Do đó, “việc ưu tiên đào tạo phát triển nguồn nhân lực về an ninh mạng chất lượng cao là nhằm bảo vệ vững chắc an ninh mạng của nước ta”, đại biểu nhấn mạnh.

    Có nên bỏ quy định đặt máy chủ tại Việt Nam?

    Đại biểu Phạm Thị Thanh Thủy (Thanh Hóa) cũng tán thành sự cần thiết xây dựng dự luật trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin và thích ứng với cách mạng công nghiệp 4.0. Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần cân nhắc một số điều khoản để tránh sự chồng chéo không cần thiết về quản lý Nhà nước, tránh đặt ra quá nhiều rào cản, đặt thêm gánh nặng tuân thủ cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ, làm cản trở sự sáng tạo, hạn chế sự thụ hưởng lợi ích, dịch vụ chính đáng của người dân.

    Theo đó, đại biểu tỉnh Thanh Hóa cho rằng việc yêu cầu các cơ quan, tổ chức ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tại Việt Nam phải đặt trụ sở hoặc văn phòng đại diện được quy định tại Việt Nam (Điều 26) là khó khả thi, không phù hợp với thực tiễn, làm gia tăng chi phí của doanh nghiệp, gây khó khăn cho các hoạt động tiếp cận thông tin của người dân Việt Nam trong trường hợp các doanh nghiệp nước ngoài không thực hiện việc đặt trụ sở hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam.

    Đại biểu phân tích: Hiện nay, các máy chủ của một số dịch vụ mà người Việt Nam hay sử dụng thường xuyên như Google, Facebook đều được đặt tại nước ngoài… Từ thực tiễn này, đại biểu cho rằng việc quy định như trên tại Điều 26 nhằm quản lý máy chủ, quản lý dữ liệu người sử dụng tại Việt Nam là khó khả thi. Nếu các doanh nghiệp nước ngoài không tuân thủ quy định này thì có thể không được phép cung cấp dịch vụ tại Việt Nam, ảnh hưởng đến sự truy cập thông tin của người dân. Mặt khác, quy định này cũng không phù hợp với các cam kết mà Việt Nam đã ký kết. Do đó, đại biểu cho rằng vấn đề đặt ra phải là việc quản lý và chế tài ra sao; điều này cần được nghiên cứu và thiết kế trong dự luật.

    Không đồng tình với quan điểm trên, đại biểu Nguyễn Hồng Vân (Phú Yên) cho rằng, việc yêu cầu các cơ quan, tổ chức ngoài nước khi cung cấp dịch vụ trên không gian mạng tại Việt Nam phải đặt trụ sở hoặc văn phòng đại diện được quy định tại Việt Nam là cần thiết. Thực tế, Facebook đã đặt văn phòng đại diện tại khoảng 80 nước, hay Google cũng đã đặt văn phòng đại diện ở 70 địa điểm trên thế giới… Việc này ảnh hưởng đến chủ quyền của quốc gia, do đó, đại biểu cho rằng, việc quy định các nhà cung cấp thiết bị phải đặt trụ sở hay văn phòng đại diện tại Việt Nam sẽ bảo đảm chủ quyền của đất nước ta, đồng thời việc quản lý thông tin, dữ liệu sẽ được hiệu quả hơn.

    THẢO NGUYÊN

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sự Cần Thiết Ban Hành Luật An Ninh Mạng Trong Tình Hình Hiện Nay
  • Chuyên Gia Phân Tích Những Bất Cập Trong Dự Luật An Ninh Mạng
  • Lo Ngại Chồng Chéo Giữa Luật An Ninh Mạng Và Luật An Toàn Mạng
  • Đã Có Luật An Toàn Thông Tin, Việt Nam Có Cần Luật An Ninh Mạng?
  • Đề Xuất Tích Hợp Nội Dung Luật An Ninh Mạng Vào Luật An Toàn Mạng 2022
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100