Liên Kết Trong Văn Bản Sbt Văn 7 Tập 1: Trang 10, 11 Hãy So Sánh Với Văn Bản Mẹ Tôi Và Cho Biết…

--- Bài mới hơn ---

  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn Lớp 7 Tập Một
  • Liên Kết Trong Văn Bản
  • Soạn Bài Liên Kết Câu Trong Văn Bản
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Ngữ Văn 7 Bài Mẹ Tôi
  • Đề Thi Học Kì 1 Văn Lớp 8: Văn Bản Chứa Đoạn Trích Trên Thuộc Thể Loại Nào Sau Đây ?
  • Soạn bài Liên kết trong văn bản SBT Ngữ Văn 7 tập 1. Giải câu 1, 2, 3, 4, 5 trang 10, 11 SBT Ngữ Văn 7 tập 1. Hãy so sánh với văn bản Mẹ tôi và cho biết, bản tóm tắt có những lỗi nào khiến cho nó lủng củng và khó hiểu..

    1. Bài tập 1, trang 18, SGK.

    Trả lời:

    Phần Ghi nhớ trong SGK đã nêu rõ, “để văn bản có tính liên kết” thì :

    – Nội dung của các câu (đoạn) phải thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau.

    – Các câu (đoạn) phải được nối với nhau bằng những từ (câu) thích hợp.

    Dựa vào đó, có thể dễ dàng tìm ra : thứ tự hợp lí của các câu được dẫn trong bài tập phải là (l)-(4)-(2)-(5)-(3).

    2. Bài tập 2, trang 19, SGK.

    Trả lời:

    Cần xét xem :

    – Vì sao SGK gợi ý : Về hình thức, các câu văn này có vẻ rất “liên kết” (câu sau có các từ nhắc lại những từ ngừ đã dùng trong câu,trước, hoặc có các từ dùng để nối với câu trước).

    3. Bài tập 5, trang 19, SGK.

    Trả lời:

    Dễ thấy rằng, để có một văn bản, ta cần phải :

    a) Có những câu (đoạn) thích hợp, tựa như anh trai cày trong truvện Cây tre trăm đốt, để có cây tre thì trước nhất, phải có những đốt tre (mà phải đúng là đốt của cây tre, có thể làm thành cây tre, chứ không thể là của một loài cây nào khác).

    b) Nhưng chỉ thế thôi chưa đủ. Trong truyện cổ, anh trai cày sẽ không thể có cây tre, nếu không được Bụt dạy cách hô “khắc nhập” để nối các đốt tre. Việc làm văn cũng thế. Người tạo lập văn bản phải biết cách làm cho các câu (đoạn) văn của mình nối liền với nhau, gắn chặt vào nhau, để trở thành một khối ý nghĩa thống nhất, rõ ràng, chặt chẽ, khiến người đọc (nghe) dễ dàng tiếp nhận về mặt đó, có thể thấy, việc nắm được phép liên kết văn bản cũng có tầm quan trọng tương tự như việc biết được phép màu làm cho các đốt tre rời rạc trở nên một cây tre thật sự tốt tươi.

    Trả lời:

    “Đến người viết những câu này cũng không hiểu mình nói gì nữa là người đọc” là một cách nói để chứng tỏ mấy “câu văn cộc lốc” ấy là vô cùng tối tăm, khó hiểu. Bởi theo nhà văn Nguyễn Công Hoan, các câu đó :

    – Thiếu một sợi dây tư tưởng để chúng có thể mang một nội dung ý nghĩa thống nhất. Nói cách khác, các câu đó không có sự liên kết về mặt nội dung.

    – Là các câu “cóc nhảy”, tức là đứt quãng, không liền mạch, không kết dính được với nhau. Giữa các câu đó không có cả sự liên kết về hình thức.

    5. Một bạn đã kể tóm tắt văn bản Mẹ tôi (Bài 1 – SGK) như sau :

    Em ấy đã có những lời nói thiếu lễ độ với mẹ mình. Người bố đã gửi cho con một bức thư. Tác giả Ét-môn-đô đơ A-mi-xi đã cho ta thấy hình ảnh một người phụ nữ sẵn sàng hi sinh hết thảy vì hạnh phúc của con mình. Bố của En-ri-cô rất giận En-ri-cô vì em đã dám xúc phạm một con người cao quý, một người rất thương yêu em. En-ri-cô bị buộc phải xin lỗi mẹ và hứa sẽ không bao giờ được làm như thế nữa.

    Hãy so sánh với văn bản Mẹ tôi và cho biết, bản tóm tắt có những lỗi nào khiến cho nó lủng củng và khó hiểu.

    Trả lời:

    Lời tóm tắt trên không sai nội dung văn bản Mẹ tôi trong SGK nhưng rất lủng củng, khó hiểu. Nguyên nhân chủ yếu là vì không có các từ ngữ thích đáng để liên kết các câu văn lại với nhau.

    Có thể thay đổi.một số từ ngữ trong bản tóm tắt đó để cho các câu văn liên kết được và bản tóm tắt trở nên hiểu được. Có thể tham khảo bản tóm tắt sau :

    Cậu bé En-ri-cô đã có những lời nói thiếu lễ độ với mẹ mình. Vì thế, bô’của En-ri-cô đã gửi cho em một bức thư. Bức thư của ông đã làm hiện lên hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, một người phụ nữ sẵn sàng hi sinh hết thảy vì hạnh phúc của con mình. Bố của En-ri-cô rất giận En-ri-cô vì em đã dám xúc phạm một con người cao quý đến thế một người thương yêu em đến thế. Ông buộc En-ri-cô phải xin lỗi mẹ và hứa sẽ không bao giờ được làm như thế nữa.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản (Chi Tiết)
  • Ngoi Ke Trong Van Ban Tu Su
  • Bài 14. Người Kể Chuyện Trong Văn Bản Tự Sự
  • Người Kể Chuyện Trong Văn Bản Tự Sự Tiet 70Nguoi Ke Chuyen Trong Van Ban Tu Su Ppt
  • Giáo Án Bài Mẹ Tôi
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi Và Những Người Mẹ Khác Trên Thế Gian 12
  • Nếu Là Người Chứng Kiến Cuộc Trò Chuyện Giữa Cậu Bé Hồng Và Bà Cô Trong Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Em Sẽ Ghi Lại Câu Chuyện Đó Như Thế Nào?
  • Cảm Nghĩ Về Người Mẹ Trong Mẹ Tôi
  • Bài Văn Mẫu Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Mẹ Tôi, Văn Mẫu Lớp 7 Ch
  • Nếu Là Người Chứng Kiến Cuộc Trò Chuyện Giữa Cậu Bé Hồng Và Bà Cô Trong Văn Bản Trong Lòng Mẹ, Em Sẽ
  • Đề bài

    Đề bài: Phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    Hướng dẫn giải

    Mẹ tôi là văn bản được trích trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi Những tấm lòng cao cả của Ét-môm-đô đơ A-mi-xi, đây đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Văn bản thể hiện tấm lòng cao cả của ngưởi mẹ đối với đứa con thân yêu của mình.

    Bức thư do bố En-ri-cô viết trong hoàn cảnh En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, người bố viết thư này giúp En-ri-cô suy nghĩ, nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của mình.

    Để En-ri-cô nhận ra lỗi lầm của mình trước hết người cha thể hiện thái độ đau buồn, giận dữ và có phần thất vọng. Thái độ đó được thể hiện rõ qua những lời văn gay gắt, từ ngữ mạnh mẽ: “con đã thiếu lễ độ với mẹ” “bố không thể nén cơn tức giận” . Trong đoạn đầu bức thư ông đã hết sức nghiêm khắc trước những lỗi lầm của con, thậm chí ông còn cảnh cáo: “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”. Lời lẽ nghiêm khắc, thái độ dứt khoát dù có đôi chút nặng nề nhưng đã tác động phần nào đến nhận thức của En-ri-cô.

    Để En-ri-cô nhận ra sự thiếu lễ độ với mẹ là hoàn toàn sai trái, bức thư đã gợi lên hình ảnh dịu dàng, hiền hậu của mẹ, một hình ảnh bình dị mà vô cùng lớn lao.

    Trước hết, mẹ của En-ri-cô có tình yêu thương con sâu sắc, cao cả. Bà tận tụy, lo lắng cho En-ri-cô suốt ngày đêm trong những ngày cậu ốm: “thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con” bà cũng giống như bao bà mẹ khác, luôn quan tâm, săn sóc và hết mình vì con. Thậm chí bà còn có thể hi sinh vì con “bỏ hết một năm hạnh phúc” để “tránh cho con một giờ đau đớn” hình ảnh tương phản kết hợp với “mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con” càng làm nổi bật rõ hơn sự hi sinh, tình yêu thương của bà dành cho đứa con yêu quý của mình.

    Không chỉ yêu thương con, mẹ còn có vị trí vô cùng quan trọng với con. Mẹ là điểm tựa, là sự cưu mang, che chở trong suốt cuộc đời con: “mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay đón vào lòng”, dù có khôn lớn trưởng thành thì cũng sẽ cảm thấy yếu đuối nếu không có mẹ ở bên che chở. Nỗi bất hạnh, đau đớn nhất đối với con là không còn mẹ: “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Bằng những lời lẽ vừa tha thiết, xúc động vừa nghiêm khắc, cảnh tỉnh người cha đã cho thấy vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi con người và “thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó” .

    Văn bản đã cho thấy chân dung của một người mẹ có tình yêu thương con tha thiết, sâu nặng. Qua hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, ta thấy người mẹ với tình yêu thương bao la, cao cả có vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ đối với mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Nội Dung Chính Và Đặt Nhan Đề Cho Mỗi Đoạn Văn Trên Của Văn Bản Những Tấm Lòng Cao Cả
  • 1/bài Tập 1: Đọc Đoạn Trích Sau Và Thực Hiện Các Yêu Cầu: Lần Lần, Mấy Năm Qua, Mấy Năm Sau, Bố Mỵ Chết. Nhưng Mỵ Cũng Không Còn Nghĩ Đến Mỵ Có Thể Ăn Lá Ngón
  • Viết Đoạn Văn 7 Câu Nêu Cảm Nhận Của Em Về Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Tình Mẫu Tử Qua Văn Bản “mẹ Tôi” Bằng 1 Đoạn Văn Ngắn Khoảng 10 Dòng, Trong Đó Có Sử Dụng Ít Nhất 1 Từ Láy Và 1 Đại Từ
  • Đề Thi Học Kì 1 Văn Lớp 8: Văn Bản Chứa Đoạn Trích Trên Thuộc Thể Loại Nào Sau Đây ?
  • Liên Kết Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Liên Kết Câu Trong Văn Bản
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Ngữ Văn 7 Bài Mẹ Tôi
  • Đề Thi Học Kì 1 Văn Lớp 8: Văn Bản Chứa Đoạn Trích Trên Thuộc Thể Loại Nào Sau Đây ?
  • Nêu Cảm Nhận Của Em Về Tình Mẫu Tử Qua Văn Bản “mẹ Tôi” Bằng 1 Đoạn Văn Ngắn Khoảng 10 Dòng, Trong Đó Có Sử Dụng Ít Nhất 1 Từ Láy Và 1 Đại Từ
  • Viết Đoạn Văn 7 Câu Nêu Cảm Nhận Của Em Về Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi
  • Liên kết trong văn bản

    I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

    1. Liên kết là một trong những tính chất quan trọng nhất của văn bản. Không văn bản nào lại không có tính liên kết. Chính nhờ liên kết mà các câu trong văn bản mới có mối quan hệ chặt chẽ, trở nên có nghĩa và dễ hiểu; việc giao tiếp mới đạt mục đích.

    Liên kết là mặt biểu hiện mang tính chất bề mặt, là sự thể hiện mang tính vật chất của sự thông nhất và hoàn chỉnh của văn bản.

    2. Muốn cho văn bản có tính liên kết, người nói (hoặc người viết) phải làm cho nội dung của các câu, các đoạn thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau bằng những phương tiện ngôn ngữ thích hợp.

    II – HƯỚNG DẪN TÌM HlỂU BÀI

    1. Tính liên kết của văn bản

    Đọc đoạn văn:

    Trước mặt cô giáo, con đã thiếu lễ độ với mẹ. Bố nhớ, cách đây mấy năm, mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nối lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mât con! Hãy nghĩ xem, En-ri-cô à! Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hanh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng đê cứu sống con! Thôi, trong một thời gian con đừng hôn bố.

    a) Nếu bố En-ri-cô chỉ viết mấy câu như vậy, thì En-ri-cô chưa thể hiểu điều bố định nói.

    b) En-ri-cô chưa hiểu ý bố, vì:

    – Có câu văn nội dung chưa rõ ràng.

    – Giữa các câu còn chưa có sự liên kết.

    c) Muốn cho đoạn văn có thể hiểu được thì các câu văn phải có nội dung rõ ràng và giữa các câu phải có sự liên kết.

    2. Phương tiện liên kết trong văn bản

    a) Trong đoạn văn trên, vì thiếu ý “sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy” sau hành vi En-ri-cô thiếu lễ độ với mẹ và “Nhớ lại điều ấy, bố không thể nén được cơn tức giận đối với con” mà nó trở nên khó hiểu.

    Muốn cho En-ri-cô hiểu được ý bố, phải bổ sung các ý trên.

    b) Đoạn văn:

    Một ngày kia, còn xa lắm, ngày đó con sẽ biết thế nào là không ngủ được. Giấc ngủ đến với con dễ dàng như uống một li sữa, ăn một cái kẹo. Gương mặt thanh thoát của đứa trẻ tựa nghiêng trên gối mềm, đôi môi hé mở và thỉnh thoảng chúm lại như đang mút kẹo.

    – Đoạn văn này thiếu liên kết vì giữa các câu không gắn bó gì với nhau.

    – Đây là đoạn văn được lấy từ văn bản cổng trường mở ra. Để cho đoạn văn có nghĩa, chỉ cần thêm cụm từ “Còn bây giờ” trước câu thứ hai và thay từ “đứa trẻ” bằng từ “con” ở câu thứ ba.

    c) Một văn bản có tính liên kết phải có điều kiện: Người nói (hoặc người viết) phải làm cho nội dung của các câu, các đoạn thống nhất và gắn bó chặt chẽ với nhau. Cùng với điều kiện ấy, các câu trong văn bản phải được kết nối với nhau bằng những phương tiện ngôn ngữ thích hợp (từ, cụm từ hoặc câu kết nối).

    III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    1. Dựa trên đặc điểm liên kết hình thức và nội dung, có thể sắp xếp lại các câu để thành đoạn văn như sau:

    Một quan chức của thành phố đã kết thúc buổi lễ phát thưởng như sau: “Ra khỏi đây, các con ạ, các con không được quên gửi lời chào và lòng biết ơn đến những người đã vì các con mà không quản bao mệt nhọc, những người đã hiến cả trí thông minh và lòng dũng cảm cho các con, những người sống và chết vì các con, và họ đây này!”. Nghe lời kêu gọi cảm động, hưởng ứng đúng biết bao nhiêu những tình cảm của mình, tất cả học sinh đều đứng dậy, dang tay về phía các thầy, các cô. Các thầy, các cô đều đứng dậy vẫy mũ, vẫy khăn đáp lại, tất cả đều xúc động về sự biểu lộ lòng mến yêu ấy của học sinh. 2. Tôi nhớ đến mẹ tôi “lúc người còn sống, tôi lên mười”. Mẹ tôi âu yếm dắt tay tôi dẫn đi trên con đường lảng dài vả hẹp. Sáng nay, lúc cô giáo đến thăm, tôi nói với mẹ có nhỡ thốt ra một lời thiếu lễ độ. Còn chiều nay, mẹ hiền từ của tôi cho tôi đi dạo chơi với anh con trai lớn của bác gác cổng.

    Đoạn văn trên chưa có tính liên kết về nội dung, vì nhân vật “tôi” đã nhớ đến người mẹ “lúc người còn sống, tôi lên mười” thì không thể “sáng nay”, “chiều nay…” được nửa – mặc dù về hình thức, các câu văn này có vẻ rất “liên kết”.

    Bà ơi! Cháu thường về đây, ra vườn, đứng dưới gốc na, gốc ổi mong tìm lại hình bóng của (bà) và nhớ lại ngày nào (bà) trồng cây, (cháu) chạy lon ton bên bà. (Bà) bảo khi nào cây có quả (bà) sẽ dành quả to nhất, ngon nhât cho (cháu), nhưng cháu lại bảo quả to nhất, ngon nhất phải để phần bà. (Thế là) bà ôm cháu vào lòng, hôn cháu một cái thật kêu.

    3. Để đoạn văn có tính liên kết chặt chẽ, có thể điền vào các chỗ trống của các câu như sau:

    4. “Đêm nay mẹ không ngủ được. Ngày mai là ngày khai trường lớp Một của con “( Cổng trường mở ra – Lí Lan).

    Nếu chỉ có hai câu được đặt cạnh nhau như vậy, có thể gây cảm giác rằng sự liên kết giữa chúng không chặt chẽ. Nhưng đọc tiếp câu sau: “Mẹ sẽ đưa con đến trường, cầm tay con dắt qua cánh cổng, rồi buông tay mà nói: Đi đi con, hãy can đảm lên, thế giới này là của con, bước qua cánh cổng trường là một thế giới kì diệu sẽ mở ra” sẽ thây hai câu trên thực sự có liên kết.

    Mai Thu

    5. Câu chuyện Cây tre trăm đốĩ kể về một anh trai cày đã đẵn đủ trăm đốt tre nhưng không nhờ đến phép màu của Bụt thì ‘không sao có được cây tre trăm đốt. Câu chuyện đó giúp em hiểu thêm về vai trò của liên kết trong văn bản – đó là: Nêu không có liên kết, các câu sẽ tồn tại rời rạc với nhau, không thể trở thành một văn bản hoàn chỉnh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giúp Em Học Tốt Ngữ Văn Lớp 7 Tập Một
  • Liên Kết Trong Văn Bản Sbt Văn 7 Tập 1: Trang 10, 11 Hãy So Sánh Với Văn Bản Mẹ Tôi Và Cho Biết…
  • Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản (Chi Tiết)
  • Ngoi Ke Trong Van Ban Tu Su
  • Bài 14. Người Kể Chuyện Trong Văn Bản Tự Sự
  • Cảm Nhận Về Tấm Lòng Người Mẹ Trong Văn Bản “mẹ Tôi”

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Phân Tích Người Mẹ Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên H
  • Bài Văn Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Tôi Đi Học Của Tha
  • Đề Văn 7: Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Mẹ Tôi
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A
  • Dàn ý 1

    1. Mở bài cho đề phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    Giới thiệu tác giả, tác phẩm, khái quát nội dung văn bản: Văn bản “Mẹ tôi” là một đoạn trích trong tác phẩm, nói lên tấm lòng yêu thương cao cả, vô bờ bến của người mẹ dành cho đứa con của mình.

    2. Thân bài cho đề phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    – Hoàn cảnh bức thư của bố En-ri-cô: Hoàn cảnh tạo ra bức thư chính là khi En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, bố của En-ri-cô đã viết bức thư này.

    – Hình ảnh người mẹ trong bức thư: Bức thư còn là hình ảnh của người mẹ, mẹ En-ri-co hiện lên với sự dịu dàng, hiền hậu và bao dung, tuy rất bình dị nhưng ẩn sâu trong đó lại vô cùng lớn lao.

    3. Kết bài cho đề phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    Nhận thức về tình yêu thương của mẹ, công lao vĩ đại của cha mẹ: Văn bản đã phác họa cho người đọc một chân dung của người mẹ với tình yêu thương con tha thiết, sâu sắc và cao cả

    Dàn ý 2

    – Người mẹ có vai trò đặc biệt lớn lao đối với con cái.

    – Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất.

    – Bài văn Mẹ tôi trích từ cuốn Những tấm lòng cao cả của nhà văn Ét-môn-đô đờ A-mi-xi là bài học sâu sắc, thấm thìa về đạo làm con.

    + Ham chơi hơn ham học.

    + Thiếu lễ độ với mẹ khi cô giáo đến thăm nhà.

    * Thái độ của bố trước lỗi lầm của con trai:

    + Buồn bực vì cảm thấy sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim mẹ.

    + Tức giận vì đứa con trong phút nông nổi đã quên công lao sinh thành dưỡng dục của mẹ.

    + Nhắc lại cho con nhớ công lao to lớn và tình thương yêu, đức hi sinh cao cả của mẹ…

    + Muốn con hiểu ra lỗi lầm của mình và xin lỗi mẹ, hứa sẽ không bao giờ tái phạm.

    * Lời khuyên thấm thía của người cha:

    + Khuyên con hãy nhớ rằng không ai có thể thay thế được người mẹ đã sinh thành và nuôi dưỡng mình nên người.

    + Nhắc cho con nhớ: Tình thương yêu, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình cảm đó.

    + Yêu cầu con phải xin lỗi mẹ bằng thái độ thành khẩn và cầu xin mẹ hôn con để cho chiếc hôn ấy xóa đi dấu vết vong ân bội nghĩa trên trán con.

    + Khẳng định: Bố rất yêu con nhưng thà rằng bố không có con, còn hơn lá thấy con bội bạc với mẹ.

    – Văn bản được thể hiện dưới hình thức một bức thư bố gửi cho con. Giọng điệu vừa nghiêm khắc, vừa ân cần, tha thiết.

    – Văn bản cập đến đạo làm con. Kính yêu, biết ơn cha mẹ là biểu hiện cụ thể của lòng hiếu thảo, là thước đo phẩm giá của mỗi con người.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Về Nhân Vật Người Mẹ Trong Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Mở Bài Kết Bài Cho Tác Phẩm Vợ Nhặt
  • Mở Bài Trong Lòng Mẹ (Ngắn Gọn, Hay Nhất)
  • Cách Viết Mở Bài Môn Văn Lấy Lòng Giám Khảo Chấm Thi
  • Mở Bài Kết Bài Trong Lòng Mẹ Hay Nhất
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Bài : Phân Tích Đoạn Trích “trong Lòng Mẹ” Của Nguyên Hồng.
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Tóm Tắt Trong Lòng Mẹ Ngắn Nhất (6 Bài).
  • Giáo Án Ngữ Văn 8
  • Phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi của nhà văn A-mi-xi

    Văn bản Mẹ tôi đã tái hiện thành công và cảm động hình ảnh người mẹ với tấm lòng yêu thương, hết lòng vì con chỉ mong con khôn lớn. Em hãy vận dụng những hiểu biết của mình sau khi học xong đoạn trích Mẹ tôi, hãy phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi của nhà văn A-mi-xi.

    I. Dàn ý chi tiết cho đề bài phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    1. Mở bài cho đề phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    Giới thiệu tác giả, tác phẩm, khái quát nội dung văn bản: Văn bản “Mẹ tôi” là một đoạn trích trong tác phẩm, nói lên tấm lòng yêu thương cao cả, vô bờ bến của người mẹ dành cho đứa con của mình.

    2. Thân bài cho đề phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    • Hoàn cảnh bức thư của bố En-ri-cô: Hoàn cảnh tạo ra bức thư chính là khi En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, bố của En-ri-cô đã viết bức thư này.
    • Thái độ của người bố trước sai lầm của con: bố của En-ri-cô trước lỗi lầm của con đã bộc lộ thái độ giận dữ, nhưng ẩn sau đó là sự đau buồn và nỗi thất vọng của mình.
    • Hình ảnh người mẹ trong bức thư: Bức thư còn là hình ảnh của người mẹ, mẹ En-ri-co hiện lên với sự dịu dàng, hiền hậu và bao dung, tuy rất bình dị nhưng ẩn sâu trong đó lại vô cùng lớn lao.

    3. Kết bài cho đề phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    Nhận thức về tình yêu thương của mẹ, công lao vĩ đại của cha mẹ: Văn bản đã phác họa cho người đọc một chân dung của người mẹ với tình yêu thương con tha thiết, sâu sắc và cao cả

    II. Bài tham khảo cho đề phân tích hình ảnh người mẹ trong văn bản Mẹ tôi

    Cuốn truyện dành cho thiếu nhi “Những tấm lòng cao cả” của tác giả Ét-nôm-đô đơ A-mi-xi là một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông, văn bản “Mẹ tôi” là một đoạn trích trong tác phẩm, nói lên tấm lòng yêu thương cao cả, vô bờ bến của người mẹ dành cho đứa con của mình.

    Hoàn cảnh tạo ra bức thư chính là khi En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, bố của En-ri-cô đã viết bức thư này, nhằm giúp cho En-ri-cô nhận ra được lỗi sai của mình và biết sửa lỗi lầm mình đã gây ra. Và để làm được điều đó đối với những đứa trẻ là điều không hề dễ dàng, bố của En-ri-cô trước lỗi lầm của con đã bộc lộ thái độ giận dữ, nhưng ẩn sau đó là sự đau buồn và nỗi thất vọng của mình. Cụ thể những thái độ đó được biểu hiện rất cụ thể qua giọng văn lên án gay gắt, từ ngữ mạnh mẽ, đanh thép như: “con đã thiếu lễ độ với mẹ”. “bố không thể nén cơn tức giận”.

    Đoạn đầu của bức thư, bố En-ri-co đã có những lời nói vô cùng nghiêm khắc trước lỗi lầm của En-ri-cô và đưa ra những lời cảnh cáo đối với con “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”. Chính nhờ những lời lẽ thể hiện sự nghiêm khắc đã có phần tác động vào nhận thức của En-ri-co. Bức thư còn là hình ảnh của người mẹ, mẹ En-ri-co hiện lên với sự dịu dàng, hiền hậu và bao dung, tuy rất bình dị nhưng ẩn sâu trong đó lại vô cùng lớn lao. Khi En-ri-co ốm, người mẹ đã luôn tận tụy, sốt sắng lo lắng ngày đêm, chăm sóc cho cậu bé “thức suốt đêm, chông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con”.

    Đây cũng là hỉnh ảnh thân quen của tất cả những bà mẹ khác, những người mẹ cao cả, hi sinh và yêu thương con vô bờ bến “bỏ hết một năm hạnh phúc” để có thể “tránh cho con một giờ đau đớn”, hay là “mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”. Tất cả những người mẹ nói chung và mẹ của En-ri-co nói riêng đều mang một ý nghĩa và vai trò đặc biệt sâu sắc, mẹ chính là cội nguồn sinh thành, là sự cưu mang, che chở, lớn lên rồi mẹ lại là điểm tựa bên cạnh con trong cuộc đời “mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay đón vào lòng”. Dù chúng ta có lớn lên, mạnh mẽ bao nhiêu thì cũng sẽ cảm thấy yếu đuối khi không còn mẹ, và có lẽ đối với mỗi người con, nỗi bất hạnh và đau khổ nhất chính là không còn mẹ nữa. “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”.

    Văn bản đã phác họa cho người đọc một chân dung của người mẹ với tình yêu thương con tha thiết, sâu sắc và cao cả. Bức thư của người cha nói về mẹ của En-ri-cô nhưng qua đó chúng ta lại thấy được người mẹ – người phụ nữ tuyệt vời đều mang những vai trò cực kì quan trọng đối với cuộc sống của chúng ta. Chính vì vậy, những người con cần phải biết kính trọng, hiếu thảo và cố gắng đền đáp công lao sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Mẹ Tôi
  • Đề Văn 7: Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi
  • Bài Văn Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Tôi Đi Học Của Tha
  • Bài Văn Phân Tích Người Mẹ Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên H
  • Cảm Nhận Về Tấm Lòng Người Mẹ Trong Văn Bản “mẹ Tôi”
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Mẹ Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Mẹ Tôi Ngắn Nhất
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Tác Phẩm Mẹ Tôi
  • Giới Thiệu Về Đoạn Trích Mẹ Tôi Của Tác Giả A
  • Vb Mẹ Tôi Me Toi Ppt
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 2
  • Hướng dẫn Soạn bài Mẹ tôi chi tiết. Với bản soạn văn 7 này các bạn sẽ được trả lời toàn bộ các câu hỏi trong phần Đọc- hiểu và Luyện tập chi tiết nhất, qua đó nắm vững nội dung bài học

    Tìm hiểu chung tác phẩm Mẹ tôi

    Câu 1. Lý do đặt nhan đề

    Câu 1. Thái độ người bố với con? Lý do

    Đối diện với việc đứa con trai yêu quí của mình có hành vi thiếu lễ độ với mẹ, người bố có rất nhiều suy nghĩ và cảm xúc nhưng chủ yếu vẫn là những cảm xúc tiêu cực

    – Buồn đau: Chứng kiến cảnh con mình xúc phạm thân mẫu của nó cũng là “nhát dao đâm vào tim”. Nhát dao ấy quá mạnh và dứt khoát đến mức người bố khó thể chống đỡ trong giây lát.

    – Tức giận: người bố không quên khi chứng kiến sự buồn khổ của mẹ khi chứng kiến con mình nằm giữa ranh giới sinh tử mong manh. Bố nhắc nhở về sự đánh đổi của mẹ để dành lại sự sống cho con. Vậy mà đứa con đó lại dùng thái độ vô ơn để trả lại ân tình của mẹ.

    – Nghiêm khắc nhắc nhở con

    + Ngày đau buồn nhất trong tất cả những ngày đau buồn mà con có thể sẽ phải trải qua là ngày mất mẹ.

    + Ngày con lớn khôn, trưởng thành và có thể tự làm chủ cuộc sống, lúc ấy điều con mong cầu sẽ không là gì hết ngoại trừ được trở lại giai đoạn thơ dại được mẹ lo lắng, chở che. Lúc không còn được ở bên mẹ, hình ảnh mẹ tổn thương do hành vi khiếm nhã của con sẽ khiến con thấy tội lỗi hơn bội phần. Niềm day dứt ấy chính là bản án lương tâm mà cả đời con không thể xóa tội.

    – Đưa ra hình phạt nhắc nhở con: từ bây giờ con không cần hôn bố trong khoảng thời gian. Điều này không phải bố hết thương con mà bố muốn nhấn mạnh rằng những điều con làm với mẹ đã tạo cho cả bố vết thương lòng.

    Câu 3. Hình ảnh người mẹ

    Người mẹ không phải nhân vật trực tiếp nhưng không khó để khắc họa. Mẹ của En-ri-cô là đại diện cho vô số người mẹ trên thế giới này với những đức tính tiêu biểu như:

    – Thương con hết mực, đau đớn khi thấy con bị bệnh và lo sợ trước nỗi đau mất con, sẵn sàng đánh đổi thanh xuân và sức khỏe để con mình có thể lớn lên khỏe mạnh và bình an

    – Hi sinh hết mình: thức suốt đêm để chăm sóc con,…

    Những lý do được đề cập ở câu a, c, d và e chính là lý do tại sao E-ri-cô vô cùng xúc động khi em đọc được thư của bố mình. Qua đó thấy được rằng bản chất của Enrico là đứa trẻ lương thiện. Em rất ngoan và luôn kính trọng, yêu thương bố mẹ mình.

    Câu 5. Lý do chọn hình thức viết thư

    Người bố không trực tiếp giáo dục hay mắng mỏ con mà lại chọn viết thư là bởi những lý do sau;

    – Nếu trực tiếp nói chuyện thì có thể xảy ra hiện tượng người bố tức giận mà mắng mỏ, xúc phạm và đánh đập con mình con mình. Hành vi này sẽ không đạt được điều gì ngoài nỗi đau thể xác với con và sự chai lì của một đứa trẻ.

    – Ngược lại nếu lựa chọn hình thức viết thư, bố có thể bình tâm suy xét việc gì nên nói và việc gì không nên. Cậu bé sẽ đủ bình tĩnh để đọc và thấm thía được những gì bố muốn dạy dỗ và nhắc nhở mình.

    Soạn bài Cổng trường mở ra Luyện tập

    Câu 1. Phân tích về hình ảnh người mẹ trong bài Mẹ Tôi

    Mẹ tôi là văn bản được trích trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi Những tấm lòng cao cả của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, đây đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Văn bản thể hiện tấm lòng cao cả của người mẹ đối với đứa con thân yêu của mình.

    Bức thư do bố En-ri-cô viết trong hoàn cảnh En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, người bố viết thư này giúp En-ri-cô suy nghĩ, nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của mình.

    Để En-ri-cô nhận ra lỗi lầm của mình trước hết người cha thể hiện thái độ đau buồn, giận dữ và có phần thất vọng. Thái độ đó được thể hiện rõ qua những lời văn gay gắt, từ ngữ mạnh mẽ: “con đã thiếu lễ độ với mẹ”, “bố không thể nén cơn tức giận”. Trong đoạn đầu bức thư ông đã hết sức nghiêm khắc trước những lỗi lầm của con, thậm chí ông còn cảnh cáo: “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”. Lời lẽ nghiêm khắc, thái độ dứt khoát dù có đôi chút nặng nề nhưng đã tác động phần nào đến nhận thức của En-ri-cô.

    Để En-ri-cô nhận ra sự thiếu lễ độ với mẹ là hoàn toàn sai trái, bức thư đã gợi lên hình ảnh dịu dàng, hiền hậu của mẹ, một hình ảnh bình dị mà vô cùng lớn lao.

    Trước hết, mẹ của En-ri-cô có tình yêu thương con sâu sắc, cao cả. Bà tận tụy, lo lắng cho En-ri-cô suốt ngày đêm trong những ngày cậu ốm: “thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con” bà cũng giống như bao bà mẹ khác, luôn quan tâm, săn sóc và hết mình vì con. Thậm chí bà còn có thể hi sinh vì con “bỏ hết một năm hạnh phúc” để “tránh cho con một giờ đau đớn” hình ảnh tương phản kết hợp với “mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con” càng làm nổi bật rõ hơn sự hi sinh, tình yêu thương của bà dành cho đứa con yêu quý của mình.

    Không chỉ yêu thương con, mẹ còn có vị trí vô cùng quan trọng với con. Mẹ là điểm tựa, là sự cưu mang, che chở trong suốt cuộc đời con: “mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay đón vào lòng”, dù có khôn lớn trưởng thành thì cũng sẽ cảm thấy yếu đuối nếu không có mẹ ở bên che chở. Nỗi bất hạnh, đau đớn nhất đối với con là không còn mẹ: “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Bằng những lời lẽ vừa tha thiết, xúc động vừa nghiêm khắc, cảnh tỉnh người cha đã cho thấy vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi con người và “thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó” .

    Văn bản đã cho thấy chân dung của một người mẹ có tình yêu thương con tha thiết, sâu nặng. Qua hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, ta thấy người mẹ với tình yêu thương bao la, cao cả có vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ đối với mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Đề Văn Bản Nhật Dụng
  • Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Người Bố Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của A
  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Người Bố Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A
  • Soạn Bài Mẹ Tôi Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Mẹ Tôi (Siêu Ngắn)
  • Đề Văn 7: Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Mẹ Tôi
  • Phân Tích Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A
  • Đề Bài : Phân Tích Đoạn Trích “trong Lòng Mẹ” Của Nguyên Hồng.
  • Đề Kiểm Tra 15 Phút Môn Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Văn Lớp 8 Bài Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn Hay Nhất
  • 1. Mở bài

      Đoạn trích Mẹ tôi trích từ cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Những tấm lòng cao cả của nhà văn thiên tài người Ý Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, đã cho độc giả thấy được hình ảnh một người mẹ rất đỗi hiền từ, yêu thương con vô bờ bến, đại diện cho tất cả các bà mẹ trên thế giới này, thông qua lời của người bố, một người đàn ông từng trải, yêu thương gia đình hết mực.

    2. Thân bài

    • Tổng quan:
      • Hình ảnh người mẹ hiện lên thông qua lời kể và cảm nhận của người bố.
      • Không được đặc tả diện mạo, xuất thân, không có lời thoại, hình ảnh bà hiện lên thông qua những tình cảm, sự hi sinh dành cho con.
    • Là người yêu thương con vô bờ bến:
      • “Mẹ đã phải thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con,…”
      • Hình ảnh người mẹ hiện lên thật thật tội nghiệp, đó là một người mẹ đang đau khổ, đang trằn trọc lo lắng đến mất ăn mất ngủ cho đứa con bé bỏng, và có lẽ rằng con đau một nhưng có khi mẹ còn đau gấp trăm lần con.
    • Sẵn sàng hy sinh tất cả vì con:
      • “Người mẹ sẵn sàng bỏ một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn, người mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hy sinh tính mạng để cứu sống con”.
      • Con chính là hạnh phúc là niềm tin là ánh sáng của cuộc đời người mẹ, mất con dường như cả thế giới tối lại. Vì con mẹ có thể hy sinh tất cả, dẫu điều đó có khiến mẹ đau đớn, mệt mỏi.

    3. Kết bài

    • Lá thư là một bài học cảm động của người cha dành cho con về việc đối xử với mẹ mình.
    • Thông qua đó hình ảnh một người mẹ bao dung, yêu thương con vô bờ bến, thậm chí có thể hy sinh tất cả vì con hiện lên thật sâu sắc và cảm động.

    Phần hay nhất, cảm động nhất trong bức thư là người bố nói với con về hình ảnh thương yêu, về đức hi sinh cao cả và tình thương mênh mông của người mẹ hiền.

    Bố nhắc lại một kĩ niệm không bao giờ có. thể quên là cách đây mấy năm, En-ri-cồ bị ốm nặng, mẹ đã “thức suốt đêm” sàn sóc con, “cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con”. Người mẹ lo âu, đau đớn “quằn quại vì nồi sợ, khốc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con”.

    Cổ ngữ có câu: “Mẫu tử tình thâm”. Tình mẹ thương con là mênh mông bao la. Mẹ có thể hi sinh tất cả vì con. “Đứa con là hạt máu cắt đôi của mẹ” (tục ngữ).

    Con mà lại xúc phạm đến mẹ là vô đạo, vì “Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn”. Một năm so với một giờ đã có đứa con nào tính được, nghĩ đến? Người mẹ có quản gì vất vả, chịu khổ sở đói rét “đi ăn xin để nuôi con”. To lớn hơn, vĩ đại hơn là người mẹ có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”. Công cha nghĩa mẹ thật vô cùng sâu nặng:

    “Công cha như núi ngất trời,

    Nghĩa mẹ như nước ở ngoài biển Đông”

    hay

    “Ơn cha nặng lắm ai ơi ỉ

    Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang”

    (Ca dao)

    Cảm động nhất là khi bố chỉ cho con thấy nỗi bất hạnh “buồn thảm nhất” của một đời người là “ngày mà con mất mẹ”. Mồ côi mẹ là nỗi đau khổ nhất của tuổi thơ. Cho dù khi đã lớn khôn, trưởng thành, dũng cảm,… đứa con vẫn không bao giờ tìm lại được bóng dáng yêu thương của mẹ hiền. Một tiếng nói dịu hiền của mẹ. Một cử chỉ thân thương của mẹ “được mẹ dang tay ra đón vào lòng”. Nỗi cô đơn của đứa con (dù lớn khôn, khỏe mạnh) không thể nào kể xiết, vì thiếu tình thương ấp ủ của mẹ hiền, “con sẽ vẫn tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở the”. Lúc ấy, “con sẽ cay đắng…”, “con sẽ không thể sống thanh thản”, “con sẽ không một phút nào yên tĩnh”) vì lương tâm cắn rứt, con nhở lại “những lúc đã làm cho mẹ đau lòng”, “đã làm cho mẹ buồn phiền”. Lúc ấy dù có “hối hận”, dù con có “cầu xin linh hồn mẹ tha thứ” thì cũng chỉ vô ích mà thôi, vì mẹ đã mất từ lâu rồi. Một nỗi đau ghê gớm là thời gian năm tháng sẽ không bao giờ làm nguôi quên những hình ảnh, những kỉ niệm vui, buồn về người mẹ hiền yêu quý, “lương tâm con sẽ không một phút nào yên tĩnh”. Và lúc ấy, “hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ sẽ làm tâm hồn con như bị khổ hình”.

    “Mẹ hiền như chuối ba hương – Như xôi nếp mật, như đường mía lau”. Đó là ca dao của nhân dân ta. ở đây, từ hình ảnh người mẹ hiền trong tâm hồn đứa con, người bố đã viết một câu thật hay nói về lòng hiếu thảo, về đạo làm con; lời khuyên con càng trở nên sâu xa, thấm thìa: “Tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả”. Bởi lẽ, lòng hiếu thảo là cái gốc của đạo làm người; những kẻ bất hiếu “thật đáng xấu hổ và nhục nha ‘ vì đã “trà đạp lên tình yêu đó”.

    Qua bức thư của người bố gửi En-ri-cô, ta thấy lời giáo huấn không hề khô khan mà vô cùng xúc động, chứa chan tình phụ – từ, tình mầu – tử. Bố vừa giận vừa thương con; bố đã dạy con bài học về lòng hiếu thảo, biết kính trọng và biết ơn cha mẹ. Lòng mẹ bao la và mênh mông. Con không được vô lễ, không được vong ân bội nghĩa với mẹ cha. Chúng ta cảm thấy mình “lớn lên” cùng trang nhật ký của En-ri-cô.

    Tóm lại bài “Mẹ tôi” là một bài ca tuyệt đẹp của “Những tấm lòng cao cả”. Đơ A-mi-xi đã để lại trong lòng ta hình ảnh cao đẹp thân thương của người mẹ hiền, đã giáo dục chúng ta bài học hiếu thảo của đạo làm con.

    Mẹ tôi là văn bản được trích trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi Những tấm lòng cao cả của Ét-môm-đô đơ A-mi-xi, đây đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Văn bản thể hiện tấm lòng cao cả của người mẹ đối với đứa con thân yêu của mình.

    Bức thư do bố En-ri-cô viết trong hoàn cảnh En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, người bố viết thư này giúp En-ri-cô suy nghĩ, nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của mình.

    Để En-ri-cô nhận ra lỗi lầm của mình trước hết người cha thể hiện thái độ đau buồn, giận dữ và có phần thất vọng. Thái độ đó được thể hiện rõ qua những lời văn gay gắt, từ ngữ mạnh mẽ: “con đã thiếu lễ độ với mẹ” “bố không thể nén cơn tức giận” . Trong đoạn đầu bức thư ông đã hết sức nghiêm khắc trước những lỗi lầm của con, thậm chí ông còn cảnh cáo: “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”. Lời lẽ nghiêm khắc, thái độ dứt khoát dù có đôi chút nặng nề nhưng đã tác động phần nào đến nhận thức của En-ri-cô.

    Để En-ri-cô nhận ra sự thiếu lễ độ với mẹ là hoàn toàn sai trái, bức thư đã gợi lên hình ảnh dịu dàng, hiền hậu của mẹ, một hình ảnh bình dị mà vô cùng lớn lao.

    Trước hết, mẹ của En-ri-cô có tình yêu thương con sâu sắc, cao cả. Bà tận tụy, lo lắng cho En-ri-cô suốt ngày đêm trong những ngày cậu ốm: “thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con” bà cũng giống như bao bà mẹ khác, luôn quan tâm, săn sóc và hết mình vì con. Thậm chí bà còn có thể hi sinh vì con “bỏ hết một năm hạnh phúc” để “tránh cho con một giờ đau đớn” hình ảnh tương phản kết hợp với “mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con” càng làm nổi bật rõ hơn sự hi sinh, tình yêu thương của bà dành cho đứa con yêu quý của mình.

    Không chỉ yêu thương con, mẹ còn có vị trí vô cùng quan trọng với con. Mẹ là điểm tựa, là sự cưu mang, che chở trong suốt cuộc đời con: “mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay đón vào lòng”, dù có khôn lớn trưởng thành thì cũng sẽ cảm thấy yếu đuối nếu không có mẹ ở bên che chở. Nỗi bất hạnh, đau đớn nhất đối với con là không còn mẹ: “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Bằng những lời lẽ vừa tha thiết, xúc động vừa nghiêm khắc, cảnh tỉnh người cha đã cho thấy vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi con người và “thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào trà đạp lên tình yêu thương đó” .

    Văn bản đã cho thấy chân dung của một người mẹ có tình yêu thương con tha thiết, sâu nặng. Qua hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, ta thấy người mẹ với tình yêu thương bao la, cao cả có vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ đối với mình.

    Bố nhắc lại một kỉ niệm không bao giờ có thể quên là cách đây mấy năm, En-ri-cô bị ốm nặng, mẹ đã “thức suốt đêm” săn sóc con, “cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con”. Người mẹ lo âu, đau đớn “quằn quại vì nỗi sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con”.Cổ ngữ có câu: “Mẫu tử tình thâm”. Tình mẹ thương con là mênh mông bao la. Mẹ có thể hi sinh tất cả vì con. “Đứa con là hạt máu cắt đôi của mẹ” (tục ngữ).

    Con mà lại xúc phạm đến mẹ là vô đạo, vì “Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn”. Một năm so với một giờ đã có đứa con nào tính được, nghĩ đến? Người mẹ có quản gì vất vả, chịu khổ sở đói rét “đi ăn xin để nuôi con”. To lớn hơn, vĩ đại hơn là người mẹ “có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con”.

    Cảm động nhất là khi bố chỉ cho con thấy nỗi bất hạnh “buồn thảm nhất” của một đời người là “ngày mà con mất mẹ”. Mồ côi mẹ là nỗi đau khổ nhất của tuổi thơ. Cho dù khi đã lớn khôn, trưởng thành, dũng cảm,… đứa con vẫn không bao giờ tìm lại được bóng dáng yêu thương của mẹ hiền. Một tiếng nói dịu hiền của mẹ. Một cử chỉ thân thương của mẹ “được mẹ dang tay ra đón vào lòng”. Nỗi cô đơn của đứa con (dù lớn khôn, khỏe mạnh) không thể nào kể xiết, vì thiếu tình thương ấp ủ của mẹ hiền, “con sẽ vẫn tự thấy mình chỉ là một đứa trẻ tội nghiệp, yếu đuối và không được chở che”. Lúc ấy, “con sẽ cay đắng…”, “con sẽ không thể sống thanh thản”, “con sẽ không một phút nào yên tĩnh”) vì lương tâm cắn rứt, con nhớ lại “những lúc đã làm cho mẹ đau lòng”, “đã làm cho mẹ buồn phiền”. Lúc ấy dù có “hối hận”, dù con có “cầu xin linh hồn mẹ tha thứ” thì cũng chỉ vô ích mà thôi, vì mẹ đã mất từ lâu rồi. Một nỗi đau ghê gớm là thời gian năm tháng sẽ không bao giờ làm nguôi quên những hình ảnh, những kỉ niệm vui, buồn về người mẹ hiền yêu quý, “lương tâm con sẽ không một phút nào yên tĩnh”. Và lúc ấy, “hình ảnh dịu dàng và hiền hậu của mẹ sẽ làm tâm hồn con như bị khổ hình”.

    Qua bức thư của người bố gửi En-ri-cô, ta thấy lời giáo huấn không hề khô khan mà vô cùng xúc động, chứa chan tình phụ – tử, tình mẫu – tử. Bố vừa giận vừa thương con; bố đã dạy con bài học về lòng hiếu thảo, biết kính trọng và biết ơn cha mẹ. Lòng mẹ bao la và mênh mông. Con không được vô lễ, không được vong ân bội nghĩa với mẹ cha. Chúng ta cảm thấy mình “lớn lên” cùng trang nhật ký của En-ri-cô.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Cảm Nhận Về Hình Ảnh Người Mẹ Trong Văn Bản Tôi Đi Học Của Tha
  • Bài Văn Phân Tích Người Mẹ Trong Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên H
  • Cảm Nhận Về Tấm Lòng Người Mẹ Trong Văn Bản “mẹ Tôi”
  • Suy Nghĩ Về Nhân Vật Người Mẹ Trong Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Mở Bài Kết Bài Cho Tác Phẩm Vợ Nhặt
  • Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Liên Kết Trong Văn Bản Lớp 7
  • Soạn Bài: Văn Bản Đề Nghị (Lớp 7)
  • Thể Thức Văn Bản Của Đảng Năm 2022
  • Triển Khai Các Văn Bản Mới Của Đảng Về Công Tác Dân Vận
  • Soạn Bài Mẹ Tôi Ngắn Gọn
  • Soạn bài Liên kết trong văn bản

    I. Liên kết và phương tiện liên kết trong văn bản

    1. Tính liên kết của văn bản

    a, Nếu bố En-ri-cô chỉ viết mấy câu như vậy thì En-ri-cô không thể hiểu được điều bố định nói

    b, En-ri-cô chưa hiểu ý bố vì:

    – Có câu văn nội dung chưa rõ ràng

    – Giữa các câu còn chưa có sự liên kết

    c, Muốn cho đoạn văn có thể hiểu được thì các câu văn phải rõ ràng, nội dung phải có tính liên kết

    2. Phương tiện liên kết trong văn bản

    a, Trong đoạn văn trên thiếu ý:

    + Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố

    + Nhớ lại điều ấy bố không thể nén được cơn tức giận đối với con

    ⇒ Điều này khiến đoạn văn tối nghĩa và khó hiểu

    b, Đoạn văn thiếu tính liên kết vì không có gì gắn bó với nhau

    – Để đoạn văn trở nên hợp lý, có nghĩa cần phải thêm cụm từ “Còn bây giờ” trước câu thứ hai và thay từ “đứa trẻ” bằng từ “con” ở câu ba

    c, Một văn bản có thiếu tính liên kết phải có điều kiện: Người nói và người viết phải làm thống nhất, gắn bó chặt chẽ nội dung với nhau. Các câu trong văn bản phải được liên kết hợp lí

    II. Luyện tập

    Bài 1 (trang 18 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Trình tự hợp lý: câu (1)→ (4) → (2) → (5) → (3)

    Bài 2 (trang 18 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Về mặt hình thức tưởng chừng đoạn văn có tính liên kết, nhưng phần nội dung hoàn toàn phi logic:

    + Khi nhân vật “tôi” đang nhớ tới mẹ “lúc còn sống, tôi lên mười” thì không thể kể chuyện “sáng nay”, “chiều nay” được nữa

    Bài 3 (trang 18 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Bà ơi! Cháu thường về đây, ra vườn, đứng dưới gốc na, gốc ổi mong tìm lại hình bóng của bà và nhớ lại ngày nào bà trồng cây, cháu chạy lon ton bên bà. Bà bảo khi nào có quả bà sẽ dành quả to nhất, ngon nhất cho cháu nhưng cháu lại bảo quả to nhất, ngon nhất phải để phần bà. Thế là bà ôm cháu vào lòng, hôn cháu một cái thật kêu.

    Bài 4 (Trang 18 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    – Hai câu trên đặt cạnh nhau tạo cảm giác không có sự liên kết chặt chẽ giữa chúng nhưng đọc tiếp câu sau: “mẹ sẽ đưa con đến trường… một thế giới kì diệu sẽ mở ra” sẽ tạo được tính liên kết chặt chẽ cho đoạn văn

    Bài 5 (Trang 19 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Thông qua chuyện Cây tre trăm đốt, chúng ta hiểu vai trò của liên kết đối với văn bản:

    Nếu không có liên kết, các câu sẽ tồn tại rời rạc nhau, không thể tạo thành chỉnh thể hoàn chỉnh

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mùa Xuân Của Tôi( Văn Bản Lớp 7)
  • Phân Tích Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga
  • Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga
  • Đọc Hiểu Văn Bản ” Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga”
  • Soạn Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga
  • Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản (Chi Tiết)
  • Giáo Án Văn 8 Bài Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Soạn Bài: Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản
  • Soạn Bài Liên Kết Các Đoạn Văn Trong Văn Bản Trang 50 Sgk Ngữ Văn 8 Tậ
  • Soạn Bài Xây Dựng Đoạn Văn Trong Văn Bản Lớp 8
  • Câu 1. Hai đoạn văn sau đây có mối liên hệ gì không? Tại sao?

    Ngữ liệu SGK trang 51

      Hai đoạn văn trên không có quan hệ với nhau. Mối quan hệ về nội dung giữa hai đoạn này lỏng lẻo, không liển mạch. Đoạn đầu tả cảnh sân trường trong ngày tựu trường hiện tại. Đoạn sau nêu cảm giác của nhân vật “tôi” một lần ghé qua thăm trường trước đây.

    Câu 2: Đọc đoạn văn của Thanh Tịnh và trả lời câu hỏi

    Câu a: Cụm từ trước đó mấy hôm bổ sung ý nghĩa gì cho đoạn văn thứ hai

      Cụm từ “Trước đó mấy hôm” làm rõ về ý nghĩa thời gian cho đoạn văn thứ hai, để nói lên sự khác biệt của sân trường Mĩ Lí mấy hôm trước và sân trường Mĩ Lí ngày hôm nay (ngày khai trường), làm cho ý của văn bản liền mạch, hợp lí.

    Câu b: Theo em, với cụm từ trên, hai đoạn văn đã liên hệ với nhau như thế nào?

      Cụm từ “Trước đó mấy hôm” làm cho hai đoạn văn liên hệ với nhau về mặt thời gian : quá khứ – hiện tại.

    Câu c: Cụm từ trước đó mấy hôm là phương tiện liên kết đoạn. Hãy cho biết tác dụng của việc liên kết đoạn trong văn bản

      Tác dụng của việc liên kết đoạn trong văn bản: Khi kết thúc đoạn văn này chuyển sang đoạn văn khác, người viết phải chú ý sử dụng các phương tiện liên kết để thể hiện liên hệ ý nghĩa giữa chúng. Các phương tiện này có tác dụng liên kết ý nghĩa giữa các đoạn văn với nhau tạo nên một văn bản chặt chẽ, liền mạch.

    Câu a. Đọc hai đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới.

    Ngữ liệu SGK trang 51

    • Hai đoạn văn trên liệt kê hai khâu của quá trình lĩnh hội và cảm thụ tác phấm văn học. Đó là những khâu nào?
        Hai đoạn văn nói về hai khâu của quá trình lĩnh hội tác phẩm đó là khâu tìm hiểu và khâu cảm thụ.
    • Tìm các từ ngữ liên kết trong hai đoạn văn trên
        Từ ngữ liên kết : Bắt đầu là… sau khâu tìm hiểu là…
    • Để liên kết các đoạn có quan hệ liệt kê, ta thường dùng các từ ngữ có tác dụng liệt kê. Hãy kể tiếp các phương tiện liên kết có quan hệ liệt kê (trước hết, đầu tiên,…)
        Các phương tiện liên kết có quan hệ liệt kê : Thứ nhất – thứ hai, trước hết – sau đó, bắt đầu – tiếp theo, đầu tiên-sau là…

    Câu b: Đọc lại đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu nêu dưới.

    Ngữ liệu SGK trang 51, 52

    • Phân tích quan hệ ý nghĩa giữa hai đoạn văn trên.
        Cả hai đoạn văn đều nói về cảm xúc về ngôi trường Mĩ Lí của nhân vật “tôi” trước đó mấy hôm và trong hiện tại. Hai câu cảm xúc hoàn toàn trái ngược nhau.
    • Tìm từ ngữ liên kết trong hai đoạn văn đó
    • Để liên kết hai đoạn văn có ý nghĩa đối lập, ta thường dùng từ ngữ biểu thị ý nghĩa đối lập. Hãy kể các phương tiện liên kết đoạn có ý nghĩa đối lập (nhưng, trái lại,…)
        Các phương tiện liên kết có ý nghĩa đối lập: nhưng, trái lại, ngược lại, vậy mà…

    Câu c: Đọc lại hai đoạn văn ở mục I.2 trang 50 – 51 và cho biết đó thuộc từ loại nào. Trước đó là khi nào?

    Chỉ từ, đại từ cũng được dùng làm phương tiện liên kết đoạn. Hãy kể tiếp các từ có tác dụng này ( đó, này,….)

    • Từ đó thuộc loại chỉ từ. Trước đó là ngày mà nhân vật “tôi” đi qua làng Hòa An bẫy quyên.
    • Các đại từ, chỉ từ được dùng làm phương tiện liên kết: đó, này, kia.

    Câu d: Đọc hai đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu bên duới

    Ngữ liệu SGK trang 52

    • Phân tích mối quan hệ ý nghĩa giữa hai đoạn văn trên
        Mối quan hệ: Đoạn đầu nêu ý cụ thể, đoạn sau nêu ý khái quát.
    • Tìm từ ngữ liên kết trong hai đoạn văn đó
    • Để liên kết đoạn có ý nghĩa cụ thể với đoạn có ý nghĩa tổng kết, khái quát, ta thường dùng các từ ngữ có ý nghĩa tổng kết, khái quát sự việc. Hãy kể tiếp các phương tiện liên kết mang ý nghĩa tổng kết, khái quát (tóm lại, nhìn chung,…)
        Các phương tiện liên kết có ý nghĩa khái quát: tóm lại, nhìn chung, có thể nói rằng, có thể khẳng định rằng, kết luận lại…
      Tìm câu liên tiếp giữa hai đoạn văn sau. Tại sao câu đó lại có tác dụng liên kết?

    Ngữ liệu SGK trang 52

    • Câu “Ai dà, lại còn chuyện đi học nữa cơ đấy!” là câu có tác dụng liên kết
    • Câu đó lại có tác dụng liên kết vì: nó khép lại ý đoạn trên, chuyển sang ý đoạn dưới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Kiểm Tra Học Kì Ii Môn Ngữ Văn 10 (Hệ Bán Công)
  • Giáo Án Dự Giờ Tin Học 6 Tiết 48, Bài 17: Định Dạng Đoạn Văn Bản
  • Định Dạng Văn Bản Thần Tốc Trong Microsoft Word Với Chức Năng “styles”
  • Hướng Dẫn Định Dạng Văn Bản Trong Microsoft Word Phần 02
  • Tin Học 6. Chủ Đề 12 Định Dạng Kí Tự Trong Văn Bản
  • Cách Liên Kết Đoạn Văn Trong Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Ghi File Trong C
  • File Là Gì ? Khái Niệm Và Cấu Trúc Của File Như Thế Nào
  • Phần Mở Rộng File Là Gì?
  • Hướng Dẫn Mở Và Lưu Văn Bản Word
  • Tạo, Mở, Lưu Văn Bản Trong Microsoft Word.
  • Khái niệm liên kết câu là gì?

    Liên kết câu là sử dụng những từ như và, nếu, nhưng, hoặc… để liên kết các câu với nhau, giúp các câu gắn kết và mang một ý nghĩa thống nhất, không rời rạc.

    Bất kỳ một câu có nghĩa nào cũng đều chứa các từ liên kết

    Ví dụ: Hôm nay trời mưa nên Nam không cần tưới nước cho vườn hoa nhà mình.

    Từ liên kết được sử dụng là từ nên. Nếu không sử dụng từ liên kết này thì 2 câu Hôm nay trời mưa và Nam không cần tưới nước cho vườn hoa nhà mình là 2 câu độc lập và không mang ý nghĩa gì.

    Khái niệm liên kết đoạn trong văn bản

    Tác dụng của liên kết đoạn trong văn bản

    • Nhờ vào sự liên kết giữa các đoạn với nhau sẽ tạo thành một bài văn hoàn chỉnh về mặt bố cục của văn bản. Các đoạn ngắn trở nên liền mạch về ý nghĩa và hoàn chỉnh về hình thức.
    • Một bài văn cho dù có nhiều chữ, sử dụng đúng ngữ pháp, bố cục trong văn bản, các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hóa… nhưng thiếu sự liên kết về nội dung và không liền mạch thì bài văn đó không mang nhiều ý nghĩa.
    • Giúp người đọc hiểu và cảm nhận toàn bộ bài văn mà tác giả đã viết.
    • Có thể mở rộng nội dung, nhân vật và câu chuyện khi sử dụng hợp lí các cách liên kết đoạn.

    Cách liên kết đoạn trong văn bản

    Để thực hiện đúng việc liên kết các đoạn văn ngắn trong văn bản chúng ta cần thực hiện theo cách sau:

    • Khi chuyển từ đoạn văn này sang đoạn văn khác cần sử dụng các phương tiện liên kết giúp thể hiện quan hệ ý nghĩa giữa các đoạn văn đó.
    • Sử dụng các phép liên kết là phép thế, phép lặp, phép liên tưởng và phép nối.
    • Sử dụng các từ có chứng năng liên kết đoạn văn.
    • Sử dụng biện pháp quan hệ từ.

    Ví dụ minh họa

    Đoạn trích của nhà văn Lê Trí Viễn có đoạn:

    “Bắt đầu là tìm hiểu. Tìm hiểu phải đặt bài văn vào hoàn cảnh lịch sử của nó. Thế là cần đến khoa học, lịch sử, lịch sử dân tộc, có khi cả lịch sử thế giới.

    Sau khâu tìm hiểu là khâu cảm thụ. Hiểu đúng bài văn đã tốt. Hiểu đúng cũng bắt đầu thấy nó hay, nhưng chưa đủ.”

    Những từ ngữ liên kết trong đoạn văn trên gồm: đó, này, ấy, vậy, thể.

    Kết luận: Cách liên kết đoạn trong văn bản là việc bạn cần nắm vững để thực hiện các bài tập làm văn hiệu quả nhất.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thế Nào Là Đoạn Văn ?
  • Tin Học 6 Bài 17: Định Dạng Đoạn Văn Bản
  • Http Là Gì ? Giao Thức Truyền Siêu Văn Bản Tạo Nên Mạng Internet
  • Cách Nhanh Nhất Để Đọc Từng Dòng Tệp Văn Bản Là Gì?
  • 7.5 Dạng Văn Bản (P1)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100