Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết 36A/nq

--- Bài mới hơn ---

  • Năm Năm Thực Hiện Nghị Quyết 36
  • Nghị Quyết 36: “Cơ Hội Vàng” Cho Cntt Việt Nam Phát Triển
  • Chi Tiết Bài Thu Hoạch Nghị Quyết Trung Ương 8 Khóa 12 Của Đảng, Giáo Viên
  • Một Số Vấn Đề Lý Luận Về Bồi Thường Thiệt Hại Ngoài Hợp Đồng Và Hướng Hoàn Thiện
  • Cuộc Đấu Tranh Để Giữ Gìn Lực Lượng Cách Mạng (1954
  • Thực hiện Nghị quyết 36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử, trong quý I, tỉnh tiếp tục chỉ đạo đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động cơ quan nhà nước, trong việc giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công trực tuyến; đôn đốc, nâng cao hiệu quả sử dụng các hệ thống thông tin của tỉnh đã được trang bị; hoàn thành kết nối, liên thông phần mềm quản lý văn bản đến tất cả các sở, ngành, đơn vị cấp huyện, cấp xã của tỉnh. Đến nay việc kết nối, liên thông với trục liên thông hệ thống quản lý văn bản của Văn phòng Chính phủ đã hoàn thiện. Phầm mềm Một cửa điện tử đã triển khai tới các cơ quan hành chính  nhà nước từ cấp tỉnh đến cấp huyện có cung cấp thủ tục hành chính (20/20 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và 13/13 UBND cấp huyện), hệ thống có khả năng cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3; 100% các sở, ngành và UBND cấp huyện đã có Cổng/Trang thông tin điện tử phục vụ cho hoạt động chỉ đạo điều hành, trao đổi thông tin và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Hệ thống thư điện tử công vụ của tỉnh được triển khai xây dựng và duy trì hoạt động ổn định. Hiện có hơn 3.000 tài khoản được cấp sử dụng trong hệ thống thư điện tử công vụ của tỉnh, phục vụ hoạt động gửi/nhận văn bản điện tử và trao đổi thông tin qua môi trường mạng của các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

    Giao diện Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng

    Triển khai xây dựng Kiến trúc Chính quyền điện tử tại địa phương; gắn kết ứng dụng công nghệ thông tin với công tác cải cách hành chính. Tăng cường trách nhiệm và vai trò giám sát của Hội đồng thẩm định chỉ số cải cách hành chính tỉnh Cao Bằng và cơ quan thường trực về công tác cải cách hành chính của tỉnh đối với hoạt động triển khai ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách hành chính. Đưa các chỉ tiêu về triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong bộ tiêu chí đánh giá, xếp hạng cải cách hành chính của tỉnh; lồng ghép các nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ thông tin trong Kế hoạch cải cách hành chính của tỉnh, giắn kết và đồng bộ mục tiêu triển khai ứng dụng công nghệ thông tin xây dựng chính quyền điện tử với mục tiêu cải cách hành chính và ngược lại; tiến hành kiểm tra, đôn đốc các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh thực hiện gắn kết hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin với công tác cải cách hành chính thông qua Kế hoạch số 4087/KH-UBND ngày 25/12/2917 của UBND tỉnh về Kiểm tra việc tổ chức thực hiện công tác cải cách hành chính năm 2022.

     

    Theo Cổng Thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chính Phủ Ban Hành Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 36
  • Tân Sơn: Chuyển Biến Nhờ Nghị Quyết 30A
  • Thông Qua 34 Nghị Quyết Quan Trọng
  • Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (Chairman Of The Board) Là Gì?
  • Tăng Cường Bảo Đảm Ttatgt Và Chống Ùn Tắc Giao Thông
  • Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/nq
  • Kế Hoạch Hành Động Của Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam (Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Thông Báo: Kế Hoạch Phát Động Phong Trào Thi Đua Chào Mừng Các Ngày Lễ Lớn, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Chủ Yếu Để Triển Khai Thực Hiện Tốt Nghị Quyết Số 29
  • Kế Hoạch Phát Động Phong Trào Thi Đua Chào Mừng Các Ngày Lễ Lớn Của Đất Nước Và Tổ Chức Công Đoàn, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW trên địa bàn huyện Như Xuân

    Sau 5 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN”, công tác giáo dục, đào tạo trên địa bàn huyện Như Xuân đã đạt được những kết quả đáng khích lệ.

    Ngay sau khi Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN” được triển khai, đặt yêu cầu nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và nhân dân các dân tộc trong huyện về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác giáo dục trong tình hình mới; nắm vững những quan điểm, mục tiêu và các giải pháp của Đảng về công tác giáo dục trong cả nước.

    Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn chỉ đạo, UBND huyện đã ban hành Kế hoạch số 98/KH-UBND, ngày 11/7/2014 về việc triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết; các địa phương, đơn vị trường học trên địa bàn huyện căn cứ để xây dựng kế hoạch thực hiện Nghị quyết theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, phù hợp với thực tế của địa phương, đơn vị, nhằm đảm bảo thực hiện đạt kết quả nhiệm vụ giáo dục được giao.

    Trong 5 năm, chất lượng giáo dục đại trà có nhiều chuyển biến đáng kể: Về hạnh kiểm: 98,14% học sinh đạt hạnh kiểm khá; tốt tăng 3,8%. Về học lực: 39,9% học sinh đạt học lực khá, giỏi, tăng 3,6%; tỷ lệ học sinh yếu, kém 6,1% giảm 1,7% so với năm 2013; tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS đạt từ 99 % trở lên.

    Quy mô, hệ thống trường, lớp được quy hoạch phù hợp, đảm bảo cho công tác nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục, đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân và tiêu chí xây dựng nông thôn mới. Toàn huyện có 54 trường , 710 nhóm lớp, 17.333 học sinh (tăng 19 lớp, 1.008 học sinh so với năm 2013). Trong 5 năm đã quy hoạch, sắp xếp giảm 5 điểm lẻ tại các trường mầm non, tiểu học; sáp nhập 01 Trung tâm Giáo dục Thường xuyên và Trung tâm Dạy nghề thành Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên; thành lập 01 trường THCS&THPT đáp ứng nhu cầu thực tiễn trong huyện.

    Công tác điều động, bổ nhiệm, bộ nhiệm lại trong các năm qua được thực hiện chặt chẽ, đảm bảo đúng quy định, quy trình. Thực hiện đảm bảo chế độ phụ cấp thâm niên đối với nhà giáo và các chế độ, chính sách khác theo đúng quy định. Trong 5 năm, đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên thường xuyên được rà soát, sắp xếp gắn với vị trí việc làm, đảm bảo sự cân đối, hợp lý về số lượng, chất lượng giữa các bậc học, giữa các đơn vị, trường học trên địa bàn toàn huyện. Hiện nay, cán bộ, giáo viên toàn ngành từ bậc mầm non đến THPT (biên chế 1.244, hợp đồng 130) Trong 5 năm, huyện đã bổ sung thêm 130 giáo viên (trong đó hợp đồng theo Quyết định 60 là 126 trường hợp; hợp đồng tỉnh 4 trường hợp giáo viên Tiếng Anh); điều động 58 giáo viên bậc THCS xuống dạy tiểu học; luân chuyển cân đối thừa thiếu giữa các đơn vị 83 trường hợp. Đến nay cơ bản đã giải quyết xong tình trạng giáo viên dôi dư trên địa bàn huyện.

    Đến nay, huyện có 54 trường học và cơ sở giáo dục và đào tạo. Chỉ tính riêng năm 2022- 2022, tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình tiểu học đạt 100%, tốt nghiệp THCS đạt 99,6%, tốt nghiệp THPT đạt 95,5%; học sinh đậu đại học chiếm tỷ lệ 27% học sinh đăng ký xét tuyển. Tham gia thi học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 9 cấp tỉnh xếp thứ 3/11 huyện miền núi, xếp hạng 15/24 huyện, thị, thành phố (có 3 huyện trùng hạng), tăng 8 bậc so với năm 2013 cơ bản đã giải quyết được tình trạng thừa, thiếu giáo viên ở các trường; tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn 100%, trên chuẩn 80,6%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia 52,8%.

    Qua 5 năm triển khai, thực hiện 9 nhiệm vụ, giải pháp và 7 quan điểm chỉ đạo, huyện Như Xuân đã cơ bản đạt được các mục tiêu đề ra: Mạng lưới trường lớp được quy hoạch đảm bảo tính hợp lý về quy mô; đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên có nhiều cố gắng trong công tác chuyên môn dạy học; cơ sở vật chất, trang thiết bị cho dạy và học được quan tâm đầu tư với quy mô lớn. Công tác xã hội hoá giáo dục phát triển mạnh mẽ, tạo được chuyển biến sâu sắc cả về nhận thức và hành động của toàn xã hội. Công tác xây dựng trường chuẩn quốc gia, phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục THCS, xây dựng nhà trường văn hoá được quan tâm chỉ đạo đồng bộ, đạt kết quả tốt. Chất lượng đại trà về văn hoá, hạnh kiểm hàng năm đều tăng; chất lượng học sinh giỏi có chuyển biến tiến. Công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập được đẩy mạnh, toàn xã hội đã chăm lo, quan tâm nhiều hơn đến giáo dục./.

    Đoàn Đức Lưu, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Huyện ủy

    <

    --- Bài cũ hơn ---

  • Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/nq
  • Giáo Dục Thái Thụy Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Ban Hành Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Khảo Sát Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Giới Thiệu Một Số Vđ Của Nghị Quyết 29
  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 19 Nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Chính Sách Hợp Đồng Giáo Viên Mầm Non Trong Trường Mầm Non Công Lập Trên Địa Bàn Tỉnh, Nội Dung Hợp Đồng Giáo Viên Mầm Non Năm Học 2022
  • Cần Tránh Khuynh Hướng Cầu Toàn Hay Nóng Vội Trong Thực Hiện Nghị Quyết Số 18, 19 Của Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Khoá Xii
  • Báo Cáo Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 09
  • Triển Khai Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Số 19 Của Chính Phủ
  • Cục Thuế Tp Hà Nội: Tích Cực Triển Khai Nghị Quyết Số 19/nq
  • Ngay sau khi ban hành Kế hoạch Hành động, các đơn vị thuộc cơ quan Tổng cục Thuế cũng như các Cục Thuế đã đồng loạt hưởng ứng, kịp thời cụ thể hoá thành các công việc, nhiệm vụ và giao trực tiếp cho từng bộ phận, cán bộ triển khai thực hiện.

    Tiếp đến, ngày 19/8/2014, Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TCT chỉ đạo cơ quan Thuế các cấp tăng cường kỷ cương, kỷ luật, chấn chỉnh lề lối làm việc, thái độ, tác phong ứng xử của cán bộ thuế với người nộp thuế (NNT), tạo ra đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn bộ hệ thống, nhờ đó tạo bước chuyển biến căn bản trong chấp hành chế độ công vụ và phục vụ NNT của công chức thuế.

    Tổng cục Thuế đã chủ động rà soát và tham khảo các đánh giá của một số tổ chức quốc tế trong việc khảo sát, đánh giá thời gian kê khai, nộp thuế của doanh nghiệp để xác định số giờ kê khai nộp thuế, về tần suất khai, nộp thuế; về số lượng hồ sơ; về nội dung tờ khai; về phương thức khai, phương thức nộp tờ khai; nộp thuế…

    Tính đến thời điểm 1/1/2015, sau khi thực hiện các giải pháp thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tài chính, số giờ tuân thủ về thuế giảm được 370 giờ/năm. Với kết quả đã đạt được, năm 2022, Bộ Tài chính sẽ phải tiếp tục rà soát để cắt giảm 45,5 giờ, để đạt được mục tiêu cắt giảm thời gian làm thủ tục về thuế xuống còn 121,5 giờ trong năm 2022 theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 19/NQ-CP.

    Tổng cục Thuế đã phối hợp với các cơ quan thông tin đại chúng nhằm tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về thuế; đã tham mưu trình Bộ Tài chính phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và các hiệp hội doanh nghiệp (Hàn Quốc, Nhật Bản, EU…) tổ chức đối thoại với doanh nghiệp về thực hiện cải cách thủ tục hành chính, phổ biến các nội dung về quản lý thuế và chính sách thuế mới; giải đáp các vướng mắc, khó khăn cho doanh nghiệp về thuế. Mở rộng thực hiện khai thuế điện tử, đến hết 25/3/2015 đã có trên 97,5% số doanh nghiệp khai thuế điện tử (đầu năm 2014 là 65%). Đồng thời, đã phối hợp với 20 ngân hàng thương mại để triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử, tính đến 1/4/2015 đã triển khai tại 18/63 tỉnh/thành phố với 41.806 doanh nghiệp đăng ký nộp thuế điện tử.

    Dưới sự chỉ đạo quyết liệt, sát sao của các cấp, cùng với quyết tâm chính trị của toàn thể công chức, viên chức toàn hệ thống thuế trên cả nước, Tổng cục Thuế đã tích cực, chủ động triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 19/NQ-CP của Chính phủ, được cộng đồng doanh nghiệp hưởng ứng, đồng tình, được các tổ chức quốc tế ghi nhận và được Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành biểu dương, đánh giá cao góp phần cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thuế năm 2014.

    PV (Nguồn: Tổng cục Thuế)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kỳ Vọng Đột Phá Từ Nghị Quyết Số 19
  • Thực Hiện Nghị Quyết Số 19
  • Đồng Bộ, Toàn Diện Các Giải Pháp Cải Cách Hành Chính Trong Lĩnh Vực Thuế
  • Bộ Kh&cn Quyết Liệt Thực Hiện Nghị Quyết Số 19
  • Câu Hỏi Trắc Nghiệm Về Nghị Quyết Trung Ương 4
  • 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Kế Hoạch Hành Động Của Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam (Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Thông Báo: Kế Hoạch Phát Động Phong Trào Thi Đua Chào Mừng Các Ngày Lễ Lớn, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Chủ Yếu Để Triển Khai Thực Hiện Tốt Nghị Quyết Số 29
  • Kế Hoạch Phát Động Phong Trào Thi Đua Chào Mừng Các Ngày Lễ Lớn Của Đất Nước Và Tổ Chức Công Đoàn, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Ueh Tiếp Đoàn Khảo Sát Liên Ngành Của Ban Tuyên Giáo Trung Ương Do Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục Và Đào Tạo Làm Trưởng Đoàn
  • Từ kết quả, hạn chế, bài học kinh nghiệm sau 5 năm, những nhóm nhiệm vụ và giải pháp ưu tiên cũng được đưa ra nhằm tiếp tục triển khai hiệu quả đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT.

    Những yếu tố chủ chốt cho thành công của đổi mới

    Sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Quốc hội, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ và chính quyền các cấp, sự quan tâm, tham gia đóng góp của toàn dân đối với giáo dục là những yếu tố chủ chốt cho những thành công về đổi mới giáo dục trong thời gian qua.

    Đó là bài học kinh nghiệm đầu tiên được Bộ GD&ĐT đưa ra trong báo cáo sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW. Những bài học quan trọng khác là sự ổn định chính trị, những thành quả phát triển KT-XH, đời sống nhân dân được cải thiện và hội nhập quốc tế trong thời kỳ đổi mới đã tạo môi trường thuận lợi cho phát triển giáo dục.

    Sự cam kết của Quốc hội trong việc đầu tư cho sự nghiệp giáo dục khoảng 20% ngân sách nhà nước và giữ ổn định từ năm 2007 đến nay đóng vai trò vô cùng quan trọng cho sự thành công của công cuộc đổi mới GD&ĐT;

    Việc rà soát, loại bỏ các nội dung giáo dục trùng lặp và xây dựng các nội dung/chủ đề tích hợp, việc tăng cường sử dụng các phương pháp giáo dục tích cực, tổ chức các hoạt động dạy và học nhằm phát triển năng lực người học, việc tập trung kiểm tra, đánh giá khả năng vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn của người học,… trong quá trình thực hiện chương trình hiện hành là bước đi vững chắc, là sự chuẩn bị tâm thế sẵn sàng để triển khai hiệu quả chương trình phát triển năng lực trong giai đoạn tiếp theo.

    Trong một xã hội mà tâm lý “ứng thí”, “khoa cử”, “chuộng bằng cấp” của người dân không dễ gì xóa bỏ, việc xác định “đổi mới kiểm tra, đánh giá, thi là khâu đột phá” là hoàn toàn đúng đắn.

    Nếu đánh giá được sự phát triển năng lực người học và sự tiến bộ của người học theo thời gian, thì thể hiện được rõ ràng quan điểm nhân văn trong giáo dục “đánh giá không phải là điểm kết thúc của một giai đoạn mà là điểm khởi đầu cho một giai đoạn mới”. Khi đó đánh giá sẽ điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học, sẽ điều chỉnh, cải tiến chương trình và chính sách giáo dục.

    Một hệ thống giáo dục mở (liên thông giữa các cấp học và trình độ đào tạo; liên thông giữa các chương trình giáo dục; gắn kết giữa các yếu tố trong hệ thống giáo dục; gắn kết và tương tác giữa hệ thống giáo dục với các hệ thống chính trị, văn hóa, xã hội,…) là môi trường lý tưởng để mọi người dân đều có thể học tập suốt đời, từ đó quốc gia phát triền bền vững và phồn thịnh.

    Công tác quản lý giáo dục bảo đảm dân chủ; phân cấp quản lý giáo dục bảo đảm tăng quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình cho địa phương và cơ sở giáo dục; giám sát, thanh tra, kiểm tra tốt, kịp thời tháo gỡ những khó khăn cho cơ sở, sẽ giảm thiểu những tiêu cực và bức xúc trong giáo dục, từ đó sẽ giúp cho việc đổi mới theo đúng kế hoạch, lộ trình và có chất lượng, hiệu quả tốt.

    Bộ GD&ĐTcũng nhận định, ý thức trách nhiệm, sự nỗ lực của đội ngũ nhà giáo và quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục, của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục đã góp phần quan trọng vào việc thực hiện tốt 8 nhiệm vụ và giải pháp đổi mới giáo dục.

    Việc phân bổ, chi tiêu hợp lý ngân sách nhà nước cho GD&ĐT; việc huy động nhiều sự tham gia đóng góp của toàn xã hội cho phát triển giáo dục; việc gắn kết hiệu quả giữa nghiên cứu khoa học giáo dục, giảng dạy và đào tạo, ứng dụng nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh; việc mở rộng quan hệ hợp tác trong và ngoài nước về lĩnh vực giáo dục;… đã góp phần không nhỏ vào thành công của đổi mới GD&ĐT trong thời gian qua.

    9 nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên

    Tình hình kinh tế, chính trị khu vực và thế giới luôn có những diễn biến bất ngờ, phức tạp, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với công cuộc đổi mới GD&ĐT nước ta. Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra trên toàn cầu, làm thay đổi cấu trúc hầu hết các ngành công nghiệp, đòi hỏi sự chuyển đổi hệ thống sản xuất, quản lý và quản trị nhân lực, đòi hỏi sự thay đổi cung, cầu và cơ cấu lao động của mọi quốc gia, từ đó dẫn đến sự thay đổi của nền giáo dục tương ứng.

    Hội nhập và toàn cầu hóa vẫn là xu thế chủ đạo, trong đó cơ hội phát triển và cạnh tranh gay gắt luôn song hành. Đặc biệt, nhiều khu vực tiềm ẩn nguy cơ chiến tranh và bất ổn, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến hòa bình và hợp tác giữa các quốc gia và khu vực.

    Ở trong nước, tình hình chính trị và xã hội ổn định, tăng trưởng kinh tế ngày càng nhanh, vị thế đất nước ngày càng được nâng lên, môi trường đầu tư kinh doanh ngày càng được cải thiện, chính sách khởi nghiệp được Chính phủ quan tâm,… đã tạo điều kiện thuận lợi cho những ý tưởng đột phá về phát triển kinh triển kinh tế, xã hội.

    Tuy nhiên, đất nước ta đang phải đối mặt những khó khăn, thách thức không nhỏ như năng suất lao động và sức cạnh tranh thấp, mức độ sẵn sàng thích ứng với yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 thấp, nhu cầu đầu tư phát triển lớn trong khi nguồn lực hạn hẹp,…

    Trong bối cảnh này, Đảng và Nhà nước vẫn đặc biệt quan tâm và dành ngân sách thỏa đáng cho công cuộc phát triển GD&ĐT. Vì vậy, ngành giáo dục cùng các bộ, ngành, địa phương tiếp tục tập trung thực hiện 9 nhóm nhiệm vụ và giải pháp trong Nghị quyết 29, trong đó xác định ưu tiên cho một số vấn đề cụ thể.

    Các nhiệm vụ và giải pháp được Bộ GD&ĐT đưa ra là: Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sự phối hợp các bộ, ngành, địa phương trong đổi mới GD.

    Đổi mới hiệu quả các yếu cơ bản của GD&ĐT theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất và năng lực người học. Thực hiện phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan.

    Tiếp tục hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tiếp tục đổi mới công tác quản lý; đẩy mạnh việc thực hiện tự chủ trong các cơ sở đào tạo; cơ sở GD nghề nghiệp; coi trọng quản lý chất lượng – đây là giải pháp đột phá trong giai đoạn tới. Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT.

    Tiếp tục đổi mới chính sách, cơ chế tài chính nâng cao hiệu quả đầu tư; đẩy mạnh xã hội hóa đối với GD&ĐTvà giáo dục nghề nghiệp. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ. Tích cực, chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục.

    Theo Hiếu Nguyễn (GD&TĐ)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/nq
  • Giáo Dục Thái Thụy Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Ban Hành Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Khảo Sát Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Số 31/2017/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Đoàn Thanh Niên Công An Tỉnh: Tổ Chức Học Tập, Quán Triệt Về Các Nghị Quyết, Chủ Trương Của Đảng; Nghị Quyết, Kết Luận, Chương Trình Của Đoàn Cho Đoàn Viên Thanh Niên
  • Cuộc Thi “Tìm Hiểu Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xi, Nhiệm Kỳ 2022 – 2025” – Bệnh Viện Đa Khoa Long An
  • Đưa Nghị Quyết Của Đảng Vào Cuộc Sống: Khí Thế Mới, Quyết Tâm Mới
  • Họp Đại Hội Đồng Cổ Đông
  • Hủy Nghị Quyết Đại Hội Đồng Cổ Đông – Tình Huống Không Ngờ Đối Với Cổ Đông Lớn
  • Ngày 24/10/2017, HĐND tỉnh Vĩnh Phúc ban hành Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng; Ngày 18/12/1018 HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng. Đây là một chính sách hỗ trợ, động viên kịp thời cho những người thôi việc tự nguyện ổn định cuộc sống nhằm góp phần thực hiện thành công Đề  án số 01 của  BTV Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2022-2021. 

    Để góp phần tinh giản biên chế, giải quyết một bộ phận công chức, viên chức, người lao động dôi dư trong quá trình các cơ quan, đơn vị sắp xếp lại tổ chức bộ máy, sắp xếp lại nhân sự để thực hiện chế độ tự chủ hoặc do cơ cấu lại đội ngũ theo vị trí việc làm, HĐND tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND ngày 24/10/2017 về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng. Ngày 18/12/1018 HĐND tỉnh ban hành Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 31/2017/NQ-HĐND về việc hỗ trợ công chức, viên chức, lao động hợp đồng thôi việc theo nguyện vọng, theo đó, bổ sung đối tượng là cán bộ thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý; công chức trong các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội từ cấp tỉnh đến cấp xã”.

    Nghị quyết triển khai thực hiện đã đem lại lợi ích cho công chức, viên chức và người lao động khi có nguyện vọng thôi việc đồng thời góp phần thực hiện thành công đề án số 01 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cơ quan, đơn vị. Những người thôi việc theo quy định của nghị quyết đã đánh giá cao tính nhân văn, kịp thời thể hiện sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền đối với cán bộ công chức, viên chức và người lao động đã có thời gian làm việc, cống hiến cho sự phát triển của địa phương.

    Nghị quyết 31/2017/NQ-HĐND, Nghị quyết số 37/2018/NQ-HĐND  có vai trò ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do đó các cấp ngành địa phương cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện để nghị quyết tiếp tục đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả tích cực góp phần xây dựng bộ máy nhà nước trên địa bàn tỉnh ngày càng tinh gọn hiệu quả./.

    Đức Thiện

    --- Bài cũ hơn ---

  • Triển Khai Quy Định Chế Độ Hỗ Trợ Nạn Nhân Mua Bán Người
  • Hội Đồng Nhân Dân Quận Lấy Phiếu Tín Nhiệm Đối Với 17 Người Giữ Chức Vụ Do Hội Đồng Nhân Dân Bầu Hoặc Phê Chuẩn Tại Kỳ Họp Thứ Bảy
  • Hoàn Thiện Các Quy Định Của Pháp Luật Về Bỏ Phiếu Tín Nhiệm Đổi Với Người Giữ Chức Vụ Do Quốc Hội Bầu Hoặc Phê Chuẩn
  • Đại Hội Thi Đua Yêu Nước Tỉnh Lào Cai Lần Thứ V
  • Công An Trà Vinh: 02 Cá Nhân Đạt Giải Cuộc Thi Viết Tìm Hiểu Nghị Quyết 35/nq
  • Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/nq
  • Kế Hoạch Hành Động Của Công Đoàn Giáo Dục Việt Nam (Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Thông Báo: Kế Hoạch Phát Động Phong Trào Thi Đua Chào Mừng Các Ngày Lễ Lớn, Triển Khai Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Các Nhiệm Vụ Và Giải Pháp Chủ Yếu Để Triển Khai Thực Hiện Tốt Nghị Quyết Số 29
  • Công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên được quan tâm triển khai đồng bộ ở tất cả các cấp

    Đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục tăng mạnh về số lượng, chất lượng

    Hiện nay, về cơ bản, đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục ở các cấp học đã đạt chuẩn, trên chuẩn trình độ đào tạo. Tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn, trên chuẩn với mầm non là 96,6%, tiểu học: 99,7%, THCS: 99%, THPT: 99,6%, ĐH: 82,7%, tạo tiền đề để Bộ GD&ĐT đề xuất nâng chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên trong sửa đổi Luật Giáo dục.

    Hầu hết CBQL, giáo viên yêu nghề, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, có ý chí vươn lên, tích cực học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Năng lực sư phạm của phần lớn nhà giáo được nâng lên, đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục.

    Đội ngũ CBQL giáo dục đã tham mưu tích cực, hiệu quả cho cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp trong xây dựng các chính sách cán bộ, giáo viên, học sinh phù hợp với điều kiện KT-XH địa phương.

    Bộ GD&ĐT đã trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo và CBQL cơ sở giáo dục đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông giai đoạn 2022 – 2022, định hướng đến năm 2025.

    Đề án được Bộ GD&ĐT, địa phương tích cực triển khai thực hiện. Công tác bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho CBQL, giáo viên, nhân viên theo yêu cầu chuẩn nghề nghiệp được địa phương quan tâm triển khai qua nhiều hình thức khác nhau.

    Một số địa phương liên kết với các cơ sở uy tín ở nước ngoài trong công tác bồi dưỡng đội ngũ; tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, bồi dưỡng giáo viên qua nghiên cứu bài học. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên ở nước ngoài tiếp tục được quan tâm đầu tư thông qua các đề án đào tạo bằng ngân sách Nhà nước, học bổng Hiệp định và chương trình học bổng khác…

    Chỉ tính từ năm 2022 – 2022, các cơ sở dạy nghề đã tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho 7.917 lượt nhà giáo. Trong đó, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm là 300 nhà giáo; bồi dưỡng kỹ năng nghề 850 nhà giáo; bồi dưỡng tiếng Anh chuyên ngành cho 440 nhà giáo; nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho 6.200 nhà giáo; đào tạo, bồi dưỡng ở nước ngoài cho 127 nhà giáo.

      Đội ngũ giáo viên đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học

    Bộ GD&ĐT cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, CBQL các cơ sở giáo dục ĐH và các trường CĐSP đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT giai đoạn 2022 – 2030.

    Bộ GD&ĐT cũng đã ban hành văn bản quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên, chuẩn hiệu trưởng theo định hướng cập nhật, đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn mới; xây dựng khung năng lực giáo viên phổ thông các môn học đặc thù; xây dựng chuẩn nghề nghiệp giảng viên sư phạm; xây dựng tiêu chuẩn và quy trình lựa chọn giảng viên sư phạm chủ chốt, giáo viên và CBQL trường phổ thông cốt cán; xây dựng cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý với trường sư phạm và trường phổ thông trong bồi dưỡng nhà giáo, CBQL giáo dục; nghiên cứu các nội dung cần thiết để đề xuất sửa đổi các nội dung về nhà giáo trong quá trình sửa Luật Giáo dục, Luật Giáo dục ĐH; rà soát, sửa đổi, bổ sung chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên, CBQL giáo dục các cấp học theo chuẩn.

    Bộ GD&ĐT đồng thời đã rà soát mạng lưới, quy mô, phương thức đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên; triển khai Chương trình phát triển các trường sư phạm để nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên, CBQL cơ sở giáo dục phổ thông (ETEP); khảo sát nhu cầu sử dụng giáo viên của địa phương làm căn cứ xác định chỉ tiêu đào tạo giáo viên, nâng cao chất lượng đầu ra sư phạm.

    Các trường sư phạm đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông và xây dựng mới 50 chương trình đào tạo. Các trường/khoa sư phạm là đơn vị chủ đạo trong công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho các ngành nghề khác…

    Bằng nhiều giải pháp đồng bộ, quyết liệt, đội ngũ nhà giáo, CBQL giáo dục đã tăng mạnh về số lượng, chất lượng và ngày càng đồng bộ về cơ cấu trong 5 năm qua, từng bước đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục của đất nước. Sự bất hợp lý trong cơ cấu đội ngũ nhà giáo theo cấp, bậc học, theo chuyên môn, ngành nghề và vùng miền ở những năm đầu thực hiện Nghị quyết đã dần được khắc phục.

    Đời sống nhà giáo ngày càng được quan tâm

    Hiện nay, nhà giáo, CBQL cơ sở giáo dục công lập được hưởng các chế độ, chính sách theo các quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP. Ngoài lương được hưởng theo quy định trên, nhà giáo và CBQL giáo dục còn được hưởng thêm 2 loại phụ cấp, đó là phụ cấp ưu đãi (với các mức từ 25% đến 70%); phụ cấp thâm niên (được tính gia tăng theo thời gian công tác). Khảo sát, đánh giá gần đây cho thấy, phụ cấp ưu đãi bình quân toàn ngành khoảng 36%, phụ cấp thâm niên toàn ngành khoảng 18%.

    Như vậy, thu nhập bình quân tăng thêm giáo viên toàn ngành khoảng 54%. Mức này cao hơn đối với những công chức hành chính (chỉ có phụ cấp công vụ 25%), nhưng đang thấp hơn mức lương, phụ cấp của một số ngành như: Công chức thanh tra có phụ cấp thâm niên (như giáo viên), phụ cấp ưu đãi (15%; 20%; 25%) và phụ cấp công vụ (25%); công chức chuyên trách Đảng, Đoàn thể chính trị xã hội có 25% phụ cấp công vụ và 30% phụ cấp chuyên trách.

    Tại các tỉnh miền núi, nhà giáo, CBQL giáo dục ở các trường PTDTNT, PTDTBT được hưởng phụ cấp trách nhiệm bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung. Giáo viên dạy lớp ghép ở tiểu học được hưởng phụ cấp dạy lớp ghép từ 50% – 75%.

    Giáo viên dạy tiếng dân tộc thiểu số được hưởng phụ cấp trách nhiệm công việc bằng 0,3 so với mức lương tối thiểu chung. Ngoài ra, tùy điều kiện cụ thể, một số địa phương cũng có chính sách riêng đối với nhà giáo, CBQL giáo dục công tác tại vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo.

    Trong những năm gần đây, Chính phủ đã quan tâm nâng mức thu nhập cho giáo viên như: Phụ cấp ưu đãi, phụ cấp thâm niên nghề, mở rộng tiêu chuẩn, tiêu chí nâng lương trước thời hạn cho giáo viên, nhân viên… Điều đó góp phần nâng cao đời sống giáo viên, nhưng thực tế lương nhà giáo chưa đúng với chủ trương của Đảng nêu tại Nghị quyết T.Ư 2 khóa VIII, Nghị quyết số 29-NQ/TW và cũng chưa thực sự đảm bảo được đời sống so với biến động về giá hàng hóa, tình hình KT-XH hiện nay.

    Tính đến thời điểm ngày 15/8/2018, số lượng đội ngũ giáo viên mầm non, phổ thông hiện có như sau: Toàn quốc có 1.161.143 giáo viên mầm non, phổ thông (công lập 858.772, ngoài công lập 23.691). Trong đó, mầm non 309.770 (công lập 262.155, ngoài công lập 47.615); tiểu học: 395.848 (công lập 390.873, ngoài công lập 4.975); THCS: 305.815 (công lập 300.990, ngoài công lập 4825); THPT: 149.710 (công lập 135.819, ngoài công lập 13.891).

    Với chính sách lương như hiện hành khó thu hút được người tài vào làm việc trong các cơ sở giáo dục, Phòng GD&ĐT, Sở GD&ĐT; hoặc có người tài nhưng chưa toàn tâm, toàn ý tập trung vào thực thi nhiệm vụ, dẫn đến chất lượng công việc có phần bị hạn chế; chưa góp phần thu hút, giữ chân người tài vào sư phạm.

    Thực tế, có rất nhiều người tâm huyết với nghề dạy học, thậm chí mong muốn đóng góp công việc chung của đất nước, tuy nhiên mức lương như hiện nay khiến họ chưa yên tâm công hiến cho ngành… Các chế độ chính sách về lương cũng như các khoản thu nhập khác có tác động rất lớn đến cơ cấu, chất lượng chuyên môn.

    Nếu mức thu nhập đảm bảo đời sống thì nhà giáo sẽ yên tâm công tác, đi sâu vào phát triển chuyên môn; ngược lại sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu, chất lượng giáo dục.

    Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 27-NQ/TW về cải cách chính sách tiền lương, trong đó có chính sách ưu đãi phù hợp của Nhà nước về GD-ĐT.

    Thực hiện Nghị quyết này, Bộ GD&ĐT đang nghiên cứu đề xuất hệ thống thang bảng lương riêng được xác định theo các vị trí việc làm, trả lương trên cơ sở mức độ phức tạp và chất lượng hiệu quả của công việc. Trong đó, lương nhà giáo được thực hiện đúng chủ trương của Đảng được nêu tại Nghị quyết số 29-NQ/TW.

    Bên cạnh đó, hàng năm, Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo địa phương và cơ sở giáo dục tổ chức hoạt động, chương trình tri ân, tôn vinh nhà giáo có cống hiến xuất sắc, tâm huyết với ngành. Đồng thời, phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tổ chức tôn vinh, tri ân các nhà giáo công tác ở những vùng đặc biệt khó khăn và các nhà giáo đạt thành tích xuất sắc, tiêu biểu.

      Các chính sách dành cho nhà giáo ngày càng được chú trọng

    Thu hút học sinh giỏi vào sư phạm

    Trong những năm qua, Bộ GD&ĐT đã phối hợp triển khai các chính sách, chế độ đối với nhà giáo, CBQL cơ sở giáo dục nhằm thu hút học sinh thi vào các trường sư phạm, như: Đào tạo trình độ tiến sĩ theo Đề án 911; miễn học phí với sinh viên sư phạm; chế độ phụ cấp đứng lớp với nhà giáo; chính sách thâm niên cho nhà giáo đang giảng dạy; ban hành các thông tư về tiêu chuẩn chức danh nhà giáo; chế độ ưu đãi đối với các nhà giáo dạy ở vùng dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn…

    Các giải pháp để nâng cao chất lượng đào tạo sư phạm cũng được đưa ra như: Tăng chế độ ưu đãi đối với sinh viên sư phạm và nhà giáo, CBQL giáo dục; đề xuất thực hiện chế độ thâm niên đối với CBQL giáo dục các cấp. Chỉ đạo địa phương nghiêm túc thực hiện tinh giản biên chế đối với cán bộ, viên chức làm việc trong ngành Giáo dục nhằm thanh lọc, nâng cao chất lượng đội ngũ, tạo điều kiện cho sinh viên sư phạm có năng lực, phẩm chất tốt vào công tác trong ngành Giáo dục.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giáo Dục Thái Thụy Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Ban Hành Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Khảo Sát Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Giới Thiệu Một Số Vđ Của Nghị Quyết 29
  • Ke Hoach Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Khảo Sát Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29

    --- Bài mới hơn ---

  • Ban Hành Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Giáo Dục Thái Thụy Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Sau 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/nq
  • Kết Quả 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 29/nq
  • Quan cảnh buổi làm việc. Ảnh: Nguyễn Hoàng

    Ngày 10-5-2018, Đoàn khảo sát của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy do Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nguyễn Văn Trung làm trưởng đoàn đã khảo sát 5 năm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” tại huyện Giồng Trôm.

    Huyện ủy Giồng Trôm đã xây dựng Kế hoạch số 78-KH/HU, ngày 27-12-2013 về tổ chức học tập, quán triệt thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI, trong đó có Nghị quyết số 29-NQ/TW cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên và quần chúng nhân dân trên địa bàn huyện.

    Qua 5 năm triển khai và thực hiện, chất lượng giáo dục và đào tạo từng bước được củng cố và có bước phát triển vững chắc, toàn diện hơn. Công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên trong các trường học, trong đội ngũ giáo viên được quan tâm (toàn ngành giáo dục hiện có 67/67 chi bộ độc lập, đạt tỷ lệ 100%; tổng số đảng viên 969, tăng 4,73% so với năm 2013, Chi bộ Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện có 19 đảng viên chiếm tỷ lệ 70,37%).

    Huyện tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; tăng cường các hoạt động thực hành, chú trọng giáo dục đạo đức, giá trị sống, rèn luyện kỹ năng sống cho học sinh. Nhiều hoạt động trải nghiệm sáng tạo được tổ chức trong nhà trường ở các cấp học.

    Đến nay, giáo viên dạy lớp 1.406/1.406 đạt chuẩn về chuyên môn, trong đó trên chuẩn 1.311/1.406; 89 giáo viên có trình dộ ngoại ngữ B1 trở lên.

    Huyện tập trung xây dựng cơ sở vật chất theo Đề án kiên cố hóa trường lớp, chương trình đầu tư công trung hạn, vận động nguồn lực xã hội hóa giáo dục để chuẩn bị tốt các điều kiện cho việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông theo yêu cầu Nghị quyết 29-NQ/TW.

    Các phong trào thi đua của ngành như phong trào “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo”, phong trào thi đua xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” gắn với việc “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” được phát động trở thành nhiệm vụ thường xuyên đối với các cơ sở giáo dục. Công tác phối hợp giữa ngành giáo dục với Hội Khuyến học, Hội Cựu giáo chức các cấp chặt chẽ, có tác dụng tích cực trong việc huy động các nguồn lực xã hội cùng chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục.

    Phát biểu tại buổi làm việc, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Nguyễn Văn Trung đánh giá cao việc tổ chức thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ở Giồng Trôm. Đồng chí Trung đề nghị các cấp quản lý giáo dục, tùy theo nhiệm vụ cần làm tốt vai trò tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác xã hội hóa giáo dục.

    Huyện Giồng Trôm cần đẩy mạnh hơn nữa việc quán triệt, phổ biến sâu rộng đến toàn bộ cán bộ, công chức, viên chức và học sinh về Nghị quyết số 29-NQ/TW nhằm tạo sự thống nhất cao trong nhận thức và hành động về đổi mới giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh việc “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” cùng các phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “Dạy tốt – học tốt” và quan tâm giáo dục kỹ năng sống, đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay.

    Nguyễn Hoàng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Một Số Vđ Của Nghị Quyết 29
  • Ke Hoach Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Thành Phố Tuy Hòa Đánh Giá Kết Quả 01 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 29
  • Trường Nơi Địa Bàn Vùng Cao Chuẩn Bị Cho Thực Hiện Chương Trình, Sách Giáo Khoa Mới
  • Tinh Gọn Bộ Máy, Tăng Hiệu Quả Hoạt Động
  • Kết Quả Tổng Kết 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 759/2014/nq

    --- Bài mới hơn ---

  • Nghị Quyết 759/2014/ubtvqh13: Quy Định Chi Tiết Về Hoạt Động Tiếp Công Dân Của Các Cơ Quan Của Quốc Hội, Đại Biểu Quốc Hội, Hội Đồng Nhân Dân Và Đại Biểu Hội Đồng Nhân Dân Các Cấp
  • Sau 4 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 32: Còn Không Ít Việc Phải Làm
  • Tăng Cường Bảo Đảm Ttatgt Và Chống Ùn Tắc Giao Thông
  • Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị (Chairman Of The Board) Là Gì?
  • Thông Qua 34 Nghị Quyết Quan Trọng
  • Trang chủCông tác tiếp công dân

    KẾT QUẢ TỔNG KẾT 4 NĂM THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT SỐ 759/2014/NQ-UBTVQH13 QUY ĐỊNH CHI TIẾT VỀ HOẠT ĐỘNG TIẾP CÔNG DÂN CỦA ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI VÀ ĐẠI BIỂU HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CÁC CẤP 

    I.

    CÔNG TÁC TRIỂN KHAI NGHỊ QUYẾT VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM TIẾP CÔNG DÂN.

    1. Việc triển khai Nghị quyết 759/2014/NQ – UBTVQH 13

    Cụ thể từ năm 2014 đến tháng 6 năm 2022 Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh phối hợp tổ chức 08 hội nghị tuyên truyền với khoảng gần 1000 lượt người tham gia, đồng thời tăng cường sự phối hợp với các cơ quan Báo Quảng Bình, Đài Phát thanh – Truyền hình Quảng Bình; Sở Tư pháp, hội Luật gia tham gia công tác tuyên truyền qua các hình thức như; kết hợp trong các hội nghị tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, tham gia viết bài đăng trên các phương tiện truyền thông… Ngoài ra các huyện, thị xã, thành phố còn tổ chức tuyên truyền, phổ biến qua hội nghị, tuyên truyền trên hệ thống truyền thanh cơ sở, tiếp công dân và nhiều hình thức tuyên truyền khác.

    2. Công tác chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 759/ 2014/NQ – UBTVQH 13

    Tiếp công dân là một trong những hoạt động quan trọng được các ĐBQH và Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình hết sức quan tâm và chú trọng thực hiện. Đặc biệt, từ khi có Nghị quyết 759 đến nay, hoạt động tiếp công dân của Đoàn ĐBQH tỉnh có nhiều đổi mới, ngày càng được cải tiến về hình thức và nội dung, mang lại hiệu quả thiết thực. Việc ban hành các văn bản để chi đạo, hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 759 đã Đoàn đại biểu Quốc hội quan tâm như ban hành quy định về tiếp công dân.

    3. Về công tác tổ chức, phân công nhiệm vụ tiếp công dân

    Từ chương trình công tác hàng năm, trên cơ sở phân công của Trưởng đoàn  và theo kế hoạch đầu năm, Đoàn ĐBQH có trách nhiệm tổ chức cho các đại biểu trong Đoàn được tham gia tiếp công dân. Việc tiếp công dân được Đoàn sắp xếp lịch và bố trí nơi tiếp cho các đại biểu Quốc hội thực hiện nhiệm vụ của mình.

    Các trường hợp công dân yêu cầu được gặp đại biểu Quốc hội để trình bày khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh, đại biểu Quốc hội đã có trách nhiệm sắp xếp thời gian tiếp công dân theo yêu cầu, qua đó cử tri được thể hiện tâm tư, nguyện vọng của mình đến đại biểu Quốc hội mà mình tin tưởng. Nhìn chung các đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân đều được quan tâm trả lời, giải quyết đúng tiến độ, có chất lượng và được công dân đồng thuận cao; đặc biệt, tất cả các kiến nghị thuộc thẩm quyền của các cơ quan địa phương đều được trả lời, giải quyết. Ngoài ra Đoàn phân công đồng chí Phó Trưởng Đoàn chuyên trách cùng chuyên viên Văn phòng Đoàn thực hiện tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở làm việc của Đoàn.

    Phân công đại biểu Quốc hội và chuyên viên Văn phòng Đoàn tham gia tiếp công dân vào ngày 15 hàng tháng tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh; đồng thời yêu cầu ĐBQH thực hiện bảo đảm nhiệm vụ tiếp công dân tại nơi cư trú. Công tác phối hợp với các cơ quan tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh được duy trì thường xuyên và có hiệu quả.

     

     

    4. Công tác tham mưu, giúp việc của Văn phòng Đoàn ĐBQH tỉnh

    Thực hiện chức năng nhiệm vụ được quy định tại Nghị quyết 1097/2015/ UBTVQH 13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 13; Ngoài chức năng, nhiệm vụ chung là tham mưu, phục vụ các hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội theo quy định thì Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh có nhiệm vụ tham mưu cho Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội trong hoạt động tiếp công dân;

    Tham mưu việc xử lý chuyển đơn khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh đến cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo đề nghị của đại biểu Quốc hội trong Đoàn. Văn phòng cũng đã tham mưu, phục vụ Đoàn ĐBQH thực hiện tốt công tác tiếp công dân tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh, do đó hoạt động tiếp công dân luôn thuận lợi, công tác phục vụ cũng như tổng hợp các phản ánh, kiến nghị, đơn thư khiếu nại, tố cáo luôn chất lượng và kịp thời, đảm bảo yêu cầu và đúng quy định của pháp luật.

    II. KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN

    1. Công tác tổ chức tiếp công dân của Đoàn đại biểu Quốc hội.

    Đoàn ĐBQH tỉnh phối hợp với Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND, UBMTTQ Việt Nam tỉnh cùng các ban ngành cấp tỉnh tiếp công dân định kỳ vào ngày 15 hàng tháng tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh được thực hiện theo Quyết định số 858/QĐ-TTg ngày 14/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ ban hµnh Đề án đổi mới công tác tiếp công dân. Ngoài ra, thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại, Luật tố cáo và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội, Đoàn ĐBQH tỉnh đều thực hiện việc tiếp dân trong giờ hành chính tại trụ sở làm việc của cơ quan. Nội dung chủ yếu tập trung vào việc kiến nghị giải quyết đền bù giải phóng mặt bằng, bồi thường nhà ở bị nứt, lún, thiệt hại do thi công thực hiện Dự án mở rộng nâng cấp Quốc lộ 1A, bồi thường, hỗ trợ do ô nhiễm môi trưởng biển, các chế độ, chính sách của thương binh, bệnh binh và các đối tượng khác…

    Nhìn chung, công tác trực tiếp công dân của Đoàn ĐBQH tỉnh tại Trụ sở làm việc của Đoàn cũng như việc tiếp công dân định kỳ tại Trụ sở tiếp công dân của tỉnh đều bảo đảm thường xuyên, thực hiện đúng quy định của pháp luật; diễn biến bình thường; thực tế vẫn có một số công dân tỏ thái độ bức xúc, phản ứng tương đối gay gắt, gây áp lực, nhưng không có vấn đề nghiêm trọng, phức tạp xảy ra; trật tự, an toàn vẫn luôn được bảo đảm.

    Sau mỗi tháng, quý, năm đều có báo cáo tổng hợp của Đoàn ĐBQH về công tác tiếp dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; đồng thời thường xuyên liên hệ với Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh để nắm thêm thông tin về công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân trong toàn tỉnh. Do vậy công tác tiếp dân, công tác giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân luôn được theo dõi chặt chẽ, thường xuyên.

    (có số liệu tại phụ lục về tiếp công dân kèm theo báo cáo)

     2. Công tác tổ chức tiếp công dân của đại biểu Quốc hội.

    Thực hiện Quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn ĐBQH, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình đã phân công đại biểu tiếp công dân cùng lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và các ban ngành cấp tỉnh định kỳ hàng tháng tại Trụ sở tiếp công dân chung của tỉnh. Ngoài ra, đại biểu Quốc hội chuyên trách thực hiện việc tiếp công dân thường xuyên tại Trụ sở của Đoàn khi công dân có yêu cầu; đồng thời Văn phòng giúp việc cử 1 chuyên viên làm đầu mối tiếp nhận đơn thư và tham mưu việc giải quyết đơn thư KNTC của công dân.

    Tại các buổi tiếp công dân, ĐBQH đã lắng nghe tâm tư nguyện vọng, ý kiến phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân; căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được quy định, ĐBQH đã giải thích, hướng dẫn cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật; tiếp nhận đơn, thư của công dân để xem xét, xử lý chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền đề nghị xem xét, giải quyết, trả lời công dân; đồng thời theo dõi, đốn đốc quá trình giải quyết.

    Từ đầu năm 2014 đến tháng 6/2017, ĐBQH tỉnh tiếp công dân khi công dân đến tại trụ sở của Đoàn, tổng số lượt người đã tiếp là 726 lượt, với 808 vụ việc (có một số vụ việc mặc dù đã được các cơ quan chức năng giải quyết, thậm chí đã có quyết định của Tòa án nhưng công dân vẫn không đồng ý và thường xuyên đến trụ sở Đoàn hoặc trụ sở tiếp công dân của tỉnh để đề đạt nguyện vọng hoặc tiếp tục thưa, kiện…).

    Nhìn chung, ĐBQH tỉnh đã làm tốt công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư KNTC của công dân nên nay đã hạn chế hiện tượng đoàn khiếu kiện đông người, có tính chất gay gắt, có tổ chức hay phần tử xấu lôi kéo, xúi giục.

    3. Kết quả xử lý nội dung khiếu nại, tố cáo qua hoạt động tiếp công dân

    Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình đã nghiên cứu và xử lý tất cả các đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh nói trên (xem phụ lục). Trong đó:

    – Số đơn, thư chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết: 244 đơn; đồng thời làm công văn báo tin cho công dân. Có 57 đơn kiến nghị được xem xét, tổng hợp vào ý kiến kiến nghị của cử tri gửi Ban Dân nguyện Ủy ban thường vụ Quốc hội và UBND tỉnh để chuyển đến cơ quan thẩm quyền xem xét, giải quyết.

    – Số đơn, thư đã ban hành văn bản trả lời, hướng dẫn công dân gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết: 431 đơn.

    – Số đơn, thư xếp lưu: 178 đơn, thư. Các đơn, thư được xếp lưu là do nhiều nguyên nhân khác nhau: Không rõ địa chỉ; ngày, tháng, năm ghi trong đơn đã cũ; đơn có nội dung không rõ ràng, trùng lắp đã được hướng dẫn nhưng vẫn gửi lại; đơn có chữ ký photocopy; đơn đã gửi đến đúng cơ quan chức năng có thẩm quyền; đặc biệt là các đơn của công dân các tỉnh, thành phố khác tiếp tục tố cáo, khiếu nại hoặc phản ánh, kiến nghị đối với những vụ việc đã được các cơ quan chức năng các tỉnh và Trung ương giải quyết.

    – Số đơn, thư đến thời hạn báo cáo còn đang xử lý: Không có.

     Nhìn chung, Đoàn ĐBQH tỉnh đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành về việc xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

     Đoàn ĐBQH tỉnh thống nhất trong việc xem xét, xử lý đơn thư của công dân để bảo đảm tính chính xác và hiệu quả. Đơn, thư từ các nguồn, kể cả gửi trực tiếp cho Trưởng Đoàn, các đại biểu Quốc hội tỉnh làm việc ở các cơ quan Trung ương đều được chuyển về Văn phòng Đoàn tham mưu, giúp việc để vào sổ lưu theo dõi, sau đó chuyển đến lãnh đạo Đoàn ĐBQH nghiên cứu, chỉ đạo bộ phận tham mưu phối hợp tìm biện pháp xử lý; do vậy, đại biểu không trực tiếp chuyển đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

    Thời gian qua, số đơn ĐBQH nhận sau đó chuyển đến Đoàn ĐBQH tỉnh xử lý, chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền giải quyết chiếm tỷ lệ khoảng trên 20%; chủ yếu đại biểu tiếp nhận từ công dân qua các đợt tiếp xúc cử tri trước và sau các kỳ họp; trong đó một số thư kiến nghị, phản ánh đã được xử lý tổng hợp vào báo cáo tổng hợp kiến nghị của cử tri, còn lại các đơn khiếu nại, tố cáo và những đơn, thư kiến nghị mang tính chất cá nhân, không thể tập hợp vào kiến nghị của cử tri, Đoàn nghiên cứu, xử lý chuyển đến cơ quan có thẩm quyền. Số đơn, thư còn lại (gần 80%) công dân gửi đến Đoàn ĐBQH tỉnh qua đường bưu điện, không gửi riêng cho ĐBQH.

    – Xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo đông người

    Thời gian qua Đoàn ĐBQH tỉnh tiếp nhận được 31 đơn tố cáo, khiếu nại đông người.

    Đối với những vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người khi Đoàn ĐBQH tỉnh tham gia tiếp công dân chung tại trụ sở Tiếp công dân cấp tỉnh, Đoàn không trực tiếp nhận đơn mà chỉ giám sát, theo dõi, tham gia ý kiến và đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh – cơ quan chủ trì tiếp công dân nghiên cứu, chỉ đạo giải quyết.

    Nội dung cơ bản của các đơn, thư:

    4. Kết quả theo dõi, giám sát việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo cụ thể

    Trong tổng số 808 đơn mà Đoàn ĐBQH tỉnh nhận được từ 01/7/2014 đến 30/6/2017, Đoàn đã phân loại, xử lý chuyển đến các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết đối với 244 đơn .

    – Số đơn, thư (vụ việc) đã được cơ quan có thẩm quyền trả lời là 186/244  đơn, thư đã chuyển; đạt tỷ lệ 76%.

    Trong đó:

    + Số đơn trả lời là đang giải quyết: 15 đơn

    + Số đơn trả lời là không có cơ sở để xem xét, giải quyết: 64 đơn

    + Số đơn trả lời là đã giải quyết xong: 165 đơn

    + Số đơn trả lời là đã giải quyết nhưng Đoàn ĐBQH tỉnh không nhất trí với kết quả giải quyết, đã ban hành văn bản kiến nghị xem xét lại: Không có.

    + Số đơn được kiến nghị xem xét lại, đã nhận được văn bản trả lời nhưng Đoàn ĐBQH, ĐBQH không nhất trí với nội dung trả lời, đã làm văn bản báo cáo Ủy ban thường vụ Quốc hội: Không có.

    Qua giám sát cho thấy, ngoài việc tiếp nhận và giải quyết đơn, thư do Đoàn ĐBQH tỉnh chuyển đến, các cơ quan chức năng trên địa bàn tỉnh đã quan tâm tích cực và tăng cường đẩy mạnh việc giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo được chuyển đến từ các nguồn khác nhau, nhiều vụ việc đã được giải quyết kịp thời, dứt diểm; số lượng đơn, thư khiếu nại, tố cáo kéo dài giảm nhiều; chất lượng giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh của công dân ngày càng được nâng cao.

    – Giám sát vụ việc cụ thể: Từ năm 2014 đến 30/6/2017, Đoàn đã tổ chức giám sát đối với vụ việc khiếu nại, tố cáo cụ thể nào mà đã thực hiện việc giám sát chung về tình hình chấp hành pháp luật trong công tác giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo trên địa bàn tỉnh; không có vụ việc nào sau giám sát đề nghị Ủy ban thường vụ Quốc hội giám sát.

    5. Kết quả thực hiện công tác phối hợp

    Đoàn ĐBQH phối hợp với Tỉnh ủy, Ban Nội chính và Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh, UBMTTQVN tỉnh để thực hiện tốt công tác tiếp công dân. Hoạt động tiếp công dân ngày càng hoàn thiện về thủ tục hành chính, tạo điều kiện tốt nhất cho công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo; công dân được gặp, trao đổi, đối thoại với người đứng đầu cơ quan dân cử cũng như cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương như đại biểu Quốc hội, HĐND tỉnh, UBND tỉnh. Các vấn đề công dân phản ánh tại các cuộc tiếp công dân được lãnh đạo các cơ quan lắng nghe, tiếp thu theo chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan, phân công xem xét giải quyết những vấn đề mà công dân phản ánh.

    Việc phối hợp công tác tiếp công dân đã tránh được sự chồng chéo trong việc tiếp nhận, chỉ đạo thực hiện của nhiều cơ quan khác nhau, qua đó đã thể hiện được vai trò giám sát của đại biểu Quốc hội đối với việc tiếp dân nói riêng và việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân nói chung đối với các cơ quan có thẩm quyền tại địa phương, góp phần giảm bớt thủ tục hành chính trong lĩnh vực này.

    Quan tâm xem xét bố trí đủ cán bộ tham mưu cho chính quyền các cấp trong việc giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân; tăng cường cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thanh tra cấp huyện, thành phố đủ sức gánh vác nhiệm vụ. Đề nghị các cấp, các ngành trong tỉnh phân công lãnh đạo tham gia tiếp công dân theo định kỳ; tham gia tiếp xúc cử tri để nắm bắt tình hình và trả lời những kiến nghị của cử tri; trực tiếp đối thoại với công dân; chỉ đạo giải quyết dứt điểm các vụ mới phát sinh hoặc các vụ việc tồn đọng, kéo dài và kiên quyết xử lý các sai phạm thuộc phạm vi trách nhiệm của mình.

    III. ĐÁNH GIÁ CHUNG

    1. Những kết quả đạt được

    Qua 4 năm thực hiện Nghị quyết 759/2014/NQ-UBTVQH 13, Đoàn ĐBQH tỉnh nhận thấy, công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời gian qua trên địa bàn tỉnh thường xuyên có sự chỉ đạo sát sao của các cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các cơ quan bảo vệ pháp luật, công tác kiểm tra Đảng, Mặt trận, các đoàn thể và sự cố gắng vượt bậc của các ngành chuyên môn, thủ trưởng các cấp, các ngành về cơ bản đã thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình trong việc tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo nên phần lớn các vụ việc đều được các cơ quan chức năng xem xét giải quyết thấu tình, đạt lý và trả lời thỏa đáng đối với công dân. Vì vậy, tình hình khiếu nại tố cáo của công dân trong thời gian qua của tỉnh Quảng Bình không có nhiều vụ việc gây bức xúc, giảm những vụ việc có tính chất phức tạp; không có trường hợp công dân tụ tập đông người tại trụ sở các cơ quan nhà nước gây rối mất trật tự.

    Thực hiện Nghị quyết 759, Đoàn ĐBQH tỉnh và các vị ĐBQH luôn thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ tiếp công dân. Từ thực tiễn hoạt động tiếp công dân của Đoàn ĐBQH, cử tri tỉnh Quảng Bình có niềm tin sâu sắc vào các vị đại biểu Quốc hội – Người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Thông qua hoạt động tiếp công dân, các đại biểu Quốc hội lắng nghe công dân trình bày ý kiến, kiến nghị của mình và tiếp thu. Đồng thời, thông qua việc tiếp công dân, các vị đại biểu Quốc hội tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; kiến nghị các cơ quan chức năng giải quyết các ý kiến, kiến nghị cũng như khiếu nại, tố cáo của công dân.

    Tăng cường công tác phối hợp với Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực HĐND, UBND, Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh trong việc thực hiện công tác tiếp công dân định kỳ để lắng nghe, tiếp thu và xử lý kịp thời các khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân.

    2. Hạn chế, tồn tại

    Qua việc thực hiện Nghị quyết 759 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong thời gian qua, Đoàn ĐBQH tỉnh nhận thấy, bên cạnh những kết quả đạt được đã nêu trên vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, khó khăn, vướng mắc chưa được khắc phục, gây khó khăn trong hoạt động của Đoàn. Cụ thể

    – Chương trình giám sát hằng năm của Đoàn ĐBQH tỉnh trên nhiều lĩnh vực nhưng chưa tổ chức được nhiều cuộc giám sát trong hoạt động tiếp dân, theo dõi xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. ĐBQH đa phần kiêm nhiệm, chỉ có một ĐBQH chuyên trách ở địa phương nên còn khó khăn trong việc bố trí ĐBQH tham gia các cuộc tiếp công dân và trong công tác giám sát.

    – Chưa có chế tài đủ mạnh để xử lý các trường hợp cơ quan chức năng chậm trễ giải quyết, giải quyết qua loa, né tránh trách nhiệm hoặc chậm giải quyết đơn thư khi Đoàn ĐBQH tỉnh chuyển đến.

    – Công tác phối hợp giải quyết một số nội dung bức xúc trên các lĩnh vực về đất đai, bồi thường giải phóng mặt bằng, tài chính, xây dựng cơ bản, bồi thường ô nhiễm môi trường biển… giữa UBND các huyện, thị xã, thành phố với UBND cấp tỉnh, giữa UBND phường, xã với UBND các huyện, thị xã, thành phố có lúc chưa kịp thời, thiếu thống nhất dẫn đến chậm trễ trong giải quyết một số vụ việc làm nảy sinh khiếu kiện kéo dài, vượt cấp.

    3. Nguyên nhân

    * Nguyên nhân của kết quả đạt được

    – Đoàn ĐBQH tỉnh nhận được sự quan tâm chỉ đạo thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả của Ủy ban thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội trong công tác tiếp công dân và xử lý đơn, thư, trong hoạt động giám sát việc giải quyết đơn, thư.

    – Đoàn ĐBQH tỉnh có được sự quan tâm lãnh đạo sát sao của Thường vụ Tỉnh ủy; sự tham gia phối hợp thực hiện đồng bộ của UBMTTQVN, UBND, các ban, ngành cấp tỉnh và các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương.

    – Đoàn ĐBQH tỉnh còn được sự hỗ trợ, tham mưu đắc lực của đội ngũ cán bộ, chuyên viên Văn phòng Đoàn trong quá trình theo dõi công tác tiếp công dân, tiếp nhận, phân loại, tham mưu xử lý đơn, thư và giám sát việc giải quyết đơn, thư.

    * Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế

    + Công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật về khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương, cơ sở chưa được quan tâm đúng mức.

    + Công tác hòa giải, công tác giải quyết đơn, thư của chính quyền, đoàn thể của cấp cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế, không có cán bộ chuyên trách nên chưa kịp thời giải quyết tốt các vụ việc khiếu nại, tố cáo phát sinh từ cơ sở, dẫn đến đơn, thư vượt cấp.

    + Một số cơ quan, địa phương chỉ chú trọng giải quyết hết thẩm quyền, xong trách nhiệm mà chưa quan tâm để có biện pháp giải quyết dứt điểm vụ việc; thiếu theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện các quyết định giải quyết trên thực tế.

    – Về phía công dân: Nhận thức của một số công dân còn thấp, cố chấp, luôn muốn được lợi từ phía mình, không nhận rõ đúng, sai đã dẫn đến việc một số vụ việc đã được giải quyết thỏa đáng, đúng pháp luật, thấu tình, đạt lý, nhưng công dân không chấp nhận, vẫn thường xuyên khiếu nại, tố cáo.

    – Về phía Đoàn ĐBQH tỉnh và bộ phận cán bộ, chuyên viên giúp việc của Đoàn: Mặc dù đã có nhiều cố gắng, ý thức, tinh thần trách nhiệm cao nhưng do chỉ có 01 đại biểu chuyên trách, còn lại là các đại biểu kiêm nhiệm, trong đó đã có 02 đại biểu làm việc ở các cơ quan trung ương; bộ phận tham mưu giúp việc mỏng; khối lượng công việc nhiều; trong lúc đó, số lượng công dân, số lượng đơn, thư cần xử lý nhiều nên khó khăn trong quá trình thực hiện.

    4. Bài học kinh nghiệm

    – Thường xuyên tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn về KNTC cho công dân; phát huy trách nhiệm của đại biểu trong công tác tiếp công dân, xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo.

    – Duy trì tốt mối quan hệ phối kết hợp với Thường trực Tỉnh ủy, Thường trực HĐND tỉnh, Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh và UBND tỉnh trong việc thực hiện công tác tiếp công dân.

    – Tăng cường công tác giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại địa phương; kịp thời phát hiện và kiến nghị những vấn đề còn bất cập về chính sách, pháp luật trong giải quyết khiếu nại, tố cáo.

    – Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động giám sát việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.

    IV. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ

    Từ thực tiễn hoạt động, Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Bình có một số kiến nghị đối với Ban Dân nguyện Ủy ban thường vụ Quốc hội như sau:

    – Trong thời gian qua, Đoàn ĐBQH tỉnh vẫn tiếp tục nhận được khá nhiều đơn, thư khiếu nại, tố cáo của công dân ở một số tỉnh, thành phố khác, trong đó khá nhiều vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan trung ương. Vì vậy, đề nghị Ban Dân nguyện xem xét, tham mưu đề xuất Ủy ban thường vụ Quốc hội yêu cầu Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, các cơ quan có thẩm quyền ở trung ương quan tâm xem xét, giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị từ các địa phương nói trên để hạn chế việc công dân các nơi tiếp tục gửi đơn đến Đoàn.

    – Đề nghị Ban Dân nguyện nghiên cứu, phối hợp với Văn phòng Chính phủ trang bị cho các Đoàn ĐBQH các tỉnh, thành phố phần mềm “Quản lý đơn, thư khiếu nại tố cáo” như các cơ quan hành chính nhà nước để thuận lợi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ xử lý và theo dõi, giám sát việc giải quyết đơn, thư của các cơ quan chức năng.

    – Đề nghị Chính phủ chỉ đạo việc ban hành các văn bản dưới luật ngay sau khi các văn bản Luật đã được Quốc hội thông qua, Chủ tịch nước công bố và có hiệu lực thi hành; tránh tình trạng để kéo dài làm các địa phương, cơ sở áp dụng một cách tùy tiện không thống nhất, dễ dẫn đến việc thực hiện không đúng chủ trương, chính sách, là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh khiếu nại, tố cáo./.

          (Theo Báo cáo s116/BC-ĐĐBQH ngày 18 tháng 8 năm 2022của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình, thực hiện theo yêu cầu            của Ban Dân nguyện Ủy ban thường vụ Quốc hội tại Công văn số 507/BDN ngày 26/7/2017 về việc tổng kết 04 năm thực hiện Nghị quyết số 759/2014/NQ-UBTVQH13)

    [Trở về]

    Các tin đã đăng

    • KẾT QUẢ THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT 228/1999/NQ-UBTVQH VỀ VIỆC ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI TIẾP CÔNG DÂN; TIẾP NHẬN, CHUYỂ ĐƠN, ĐÔN ĐỐC, THEO DÕI VIÊC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO, KIẾN NGHỊ CỦA CÔNG DÂN 
    • KẾT QUẢ TIẾP CÔNG DÂN; XỬ LÝ ĐƠN, THƯ VÀ GIÁM SÁT VIỆC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO CỦA CÔNG DÂN TỪ 15/8/2016 ĐẾN 15/8/2017 
    • Giấy mời tiếp Công dân tháng 02 năm 2012 

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam Tổng Kết 10 Năm Cải Cách Hành Chính
  • Cải Cách Hành Chính Tạo Thuận Lợi Để Dịch Chuyển Sang Phát Triển Chính Phủ Số
  • Thực Hiện Nghị Quyết 30C Của Chính Phủ: Nhiều Chuyển Biến Trong Cải Cách Hành Chính
  • Nhìn Lại 10 Năm Thực Hiện Cải Cách Hành Chính Nhà Nước Giai Đoạn 2011
  • Từ Vựng Tiếng Trung Chủ Đề Từ Ghép
  • Lai Châu: Hiệu Quả Thực Hiện Nghị Quyết 29

    --- Bài mới hơn ---

  • Kon Tum: Thực Hiện Nghị Quyết 29
  • Hội Nghị Trực Tuyến Triển Khai Nghị Quyết Số 35
  • Bài Thu Hoạch Nghị Quyết 55
  • Bảo Vệ Vững Chắc Nền Tảng Tư Tưởng Của Đảng
  • Sự Cần Thiết Ban Hành Nghị Quyết Số 04
  • Giáo viên Trường THPT Thành phố Lai Châu hướng dẫn học sinh ôn tập.

    Sau 5 năm thực hiện Nghị quyết, tỉnh Lai Châu đạt được kết quả đáng khích lệ; có 11/11 lĩnh vực đạt và vượt chỉ tiêu đề ra, năm 2022 tỉnh được công nhận phổ cập giáo dục mầm non trẻ em 5 tuổi. Năm học 2022-2018, trẻ 3-5 tuổi ra lớp ở thành thị đạt 99,8% (tăng 1,6% so với năm 2012-2013); ở khu vực nông thôn, vùng đặc biệt khó khăn đạt 99,7% (tăng 6,9% so với năm 2012-2013). Năm học 2022-2017, công tác huy động học sinh tốt nghiệp THCS vào học lớp 10 ở khu vực thành thị đạt 67,2% (tăng 0,22% so năm học 2012-2013); ở khu vực nông thôn đạt 65,74% (tăng 0,64% so với năm học 2012-2013). Tỷ lệ tốt nghiệp Trung học Phổ thông Quốc gia năm học 2022- 2022 (tính đến ngày 15/7/2018), ở khu vực thành thị đạt 99,32% (tăng 3,08% so với năm học 2012-2013); ở nông thôn đạt 98,50% (tăng 10,82% so với năm học 2012-2013).

    Công tác đào tạo nghề được cấp ủy, chính quyền các cấp thường xuyên quan tâm chỉ đạo thực hiện; chương trình đào tạo nghề được gắn kết với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Các ngành nghề được đào tạo cơ bản phù hợp với nhu cầu của người lao động, đã phát huy, vận dụng kiến thức trong lao động sản xuất, tăng thu nhập và cải thiện cuộc sống góp phần giảm nghèo. Giai đoạn 2013-2017, toàn tỉnh thực hiện đào tạo cho 28.964 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật đạt 44,46%, trong đó tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề tăng từ 12,8% (năm 2013) lên 32,5% (năm 2022).

    Đội ngũ nhà giáo và quản lý giáo dục tiếp tục được hoàn thiện xây dựng, bồi dưỡng đạt chuẩn theo các quy định hiện hành, đồng thời từng bước nâng cao chuẩn hóa trình độ đào tạo, nâng cao chất lượng toàn diện, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, vững vàng về tư tưởng chính trị, mẫu mực về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Năm học 2022-2018, tỷ lệ nhà giáo có trình độ đào tạo đạt chuẩn trở lên đạt 99,4% (tăng 1,0% so với năm học 2012-2013); nhà giáo có trình độ đào tạo trên chuẩn đạt 59,6% (tăng 21,9% so với năm học 2012-2013); trường học có chi bộ độc lập đạt 100% (tăng 4,2% so với năm học 2012-2013).

    Ngành Giáo dục đã tăng cường tổ chức cuộc thi khoa học kỹ thuật cho học sinh. Cuộc thi khoa học kỹ thuật năm 2022, có 70 sáng kiến, tăng 21 sáng kiến so với năm 2012. Cuộc thi đã giúp học sinh phát huy năng lực sáng tạo và niềm đam mê nghiên cứu khoa học, qua đó góp phần đổi mới phương pháp dạy học, phát triển năng lực của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn của cuộc sống. Học sinh, sinh viên được tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, lý tưởng cách mạng nhằm góp phần xây dựng thế hệ trẻ Lai Châu giàu lòng yêu nước; có đạo đức trong sáng, ý thức tuân thủ pháp luật; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khỏe, tri thức, kỹ năng lao động, tích cực tham gia vào sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa của tỉnh, của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; 100% học sinh, sinh viên được xếp loại đạt yêu cầu trở lên về giáo dục thể chất, giáo dục quốc phòng, an ninh.

    Tuy nhiên việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh vẫn còn một số khó khăn như việc thực hiện các yếu tố thúc đẩy đổi mới giáo dục còn chậm nhất là các giải pháp về phát triển và nâng cao năng lực, phẩm chất của người học ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Năng lực của một số nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế; chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Số lượng giải trong kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp quốc gia tuy ổn định nhưng chất lượng giải chưa cao. Các trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục thường xuyên, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp đều giảm quy mô và số lượng tuyển sinh và chưa gắn công tác đào tạo với nghiên cứu khoa học và sản xuất, kinh doanh. Công tác hướng nghiệp để thu hút học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông vào học trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề chưa được đẩy mạnh…

    Với mục tiêu tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, thời gian tới tỉnh Lai Châu tiếp tục huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, sự phối kết hợp của các lực lượng, các cơ quan, tổ chức và toàn dân để thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, khắc phục các bất cập trong hoạt động giáo dục và đào tạo. Cấp ủy, chính quyền các cấp quyết liệt trong công tác lãnh, chỉ đạo; phát huy vai trò chủ trì về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh. Ngành Giáo dục và Đào tạo tiếp tục nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và quản lý; chú trọng đến việc sắp xếp quy mô, mạng lưới trường, lớp đối với giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh…/.

    Phạm Oanh – TP Lai Châu

    --- Bài cũ hơn ---

  • Vcci Góp Ý Dự Thảo Nghị Quyết Hướng Dẫn Áp Dụng Pháp Luật Tính Lãi Suất, Lãi Nợ Quá Hạn Và Phạt Vi Phạm
  • Hướng Dẫn Áp Dụng Quy Định Của Pháp Luật Về Lãi Suất, Phạt Vi Phạm
  • Nghị Quyết 01/2019 Hướng Dẫn Áp Dụng Quy Định Về Lãi, Lãi Suất, Phạt Vi Phạm
  • Tand Tối Cao Hướng Dẫn Áp Dụng Một Số Quy Định Của Pháp Luật Về Lãi, Lãi Suất, Phạt Vi Phạm
  • Tập Huấn Trực Tuyến Chuyên Đề Áp Dụng Nghị Quyết Của Hội Đồng Thẩm Phán Tandtc Về Lãi, Lãi Suất
  • Đoàn Công Tác Liên Ngành Khảo Sát Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết 29

    --- Bài mới hơn ---

  • Đổi Mới Phương Pháp Dạy Học, Phát Triển Toàn Diện Phẩm Chất, Năng Lực Người Học
  • Hđnd Tỉnh Ban Hành Chính Sách Khuyến Khích Phát Triển Sản Xuất Nông Nghiệp Hàng Hóa Trên Địa Tỉnh.
  • Tổng Kết Thực Hiện Quy Định Số 29
  • Quy Định Chi Tiết Thi Hành Nghị Quyết 29/2012/qh13 Về Ban Hành Một Số Chính Sách Thuế Nhằm Tháo Gỡ Khó Khăn Cho Tổ Chức Và Cá Nhân
  • Nghị Quyết 36 – Nỗi Ám Ảnh Của Cờ Vàng
  • Thực hiện Công văn số 4885 ngày 31/7/2018 của Ban Tuyên giáo trung ương về việc khảo sát kết quả sau 05 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, ngày 06/8/2018, Ban Tuyên giáo trung ương đã tổ chức đoàn công tác liên ngành do Đ/c Phùng Xuân Nhạ, Ủy viên Ban Chấp hành trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo làm Trưởng đoàn đến khảo sát tại Trường ĐHCT. Đón tiếp và làm việc với đoàn có Đảng ủy-Ban Giám hiệu, đại diện lãnh đạo các đơn vị, đoàn thể trong trường.

    Buổi làm việc với Đoàn công tác liên ngành Khảo sát kết quả thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW tại Hội trường Nhà điều hành

    Tại buổi làm việc, đại diện lãnh đạo Trường ĐHCT đã báo cáo tóm tắt tình hình 05 năm thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW của Ban Chấp hành trung ương Đảng về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”.

    Báo cáo đã nêu kết quả thực hiện, đánh giá ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực hiện 09 nhiệm vụ và giải pháp được nêu trong Nghị quyết gồm: Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước về đổi mới giáo dục và đào tạo; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả đào tạo, bảo đảm trung thực, khách quan; hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập; đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo, coi trọng quản lý chất lượng; phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo; đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo; nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý; chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo.

    Báo cáo cũng đã đưa ra những nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục thực hiện Nghị quyết, đồng thời, đề xuất, kiến nghị lên Chính phủ và các bộ, ngành nhằm tạo điều kiện thuận lợi để Nhà trường tiếp tục thực hiện thành công Nghị quyết.

    GS.TS. Hà Thanh Toàn, Hiệu trưởng Trường ĐHCT, báo cáo kết quả 05 năm thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW

    GS.TS. Phùng Xuân Nhạ phát biểu kết luận buổi làm việc

    (Tin, ảnh: Trung tâm Thông tin và Quản trị mạng)

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Quỳ Hợp: Quán Triệt Nghị Quyết 29, 30 Của Bộ Chính Trị Và Hội Nghị Báo Cáo Viên Định Kỳ
  • Quán Triệt Nghị Quyết 29, Nghị Quyết 30 Của Bộ Chính Trị Về “Chiến Lược Bảo Vệ Tổ Quốc Trên Không Gian Mạng” Và “Chiến Lược An Ninh Mạng Quốc Gia”
  • Học Tập, Quán Triệt Và Triển Khai Nghị Quyết 29
  • Kết Hợp Phát Triển Kinh Tế Số Với Bảo Vệ Tổ Quốc Trên Không Gian Mạng
  • Nghị Quyết Số 29/2019, Ngày 09/9/2019 Của Hđnd Tỉnh Cao Bằng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100