Kể Lại Truyện Lão Hạc Theo Lời Văn Của Em

--- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Lão Hạc
  • Tổng Hợp Các Đề Văn Về Tác Phẩm Lão Hạc Có Đáp Án
  • Số Phận Và Tính Cách Nhân Vật Lão Hạc Trong Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Phân Tích Nhân Vật Lão Hạc Trong Tác Phẩm Cùng Tên Của Nhà Văn Nam Cao
  • Đoạn Văn Nêu Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Lão Hạc
  • [Văn 8] Kể lại truyện Lão Hạc theo lời văn của em

    Đề: Nếu được chứng kiến cảnh Lão Hạc bán chó và câu chuyện của lão với ông Giáo, em sẽ kể lại câu chuyện đó như thế nào.

    Bài làm

    Nơi ” chôn nhau cắt rốn ” của tôi là một vùng quê nghèo bình dị, nơi đây chỉ có những ngôi nhà nhỏ xập xệ, những mảnh vườn xác xơ, tiêu điều, nghèo như chính chủ nhân của nó vậy. Đất hiền sinh ra con người cũng hiền…Những người nông dân quê tôi chất phác, chân thành, trọng nghĩa tình, sống có trước có sau…Tôi yêu mảnh đất quê hương mình qua từng bài thơ, câu hát:

    “Quê hương là chùm khế ngọt

    Cho con trèo hái mỗi ngày

    Quê hương là đường đi học

    Con về rợp bướm vàng bay…”.

    Tôi yêu thơ ca, yêu văn chương nhưng gia đình không có điều kiện để đi học. Đối với tôi, sách là một báu vật dù có sống cả một đời tôi cũng không thể mua nổi. May thay, tôi có một người chú làm ông giáo, tôi thường sang nhà chú chơi với hai em, sẵn tiện đọc cọp vài ba quyển sách hiếm hoi còn sót lại của chú…Một ngày như mọi ngày, tôi mò sang nhà chú vờ mang sang cho thím mấy con cá rô bắt được ở ngoài đồng nhưng mục đích chính là đọc tiếp quyển sách còn đọc dỡ hôm trước. Vô tình, tôi chứng kiến một chuyện hết sức cảm động: Lão Hạc đang kể chuyện bán cậu Vàng cho chú tôi nghe…

    Tôi đang nhẹ nhàng, cẩn thận giở từng trang sách như sợ nếu mạnh tay nó sẽ đau thì bất chợt thấy Lão Hạc thơ thẩn, chậm rãi đi vào sân. Tôi không lạ gì Lão Hạc, ông ấy là một người rất đáng thương. Tôi nghe mọi người kể lại: Lão Hạc rất nghèo, vợ ông đã mất từ lâu, anh con trai vì không lo nổi tiền thách cưới nên mất người yêu, buồn tình lên sở mộ phu kí giấy đi đồn điền cao su biền biệt năm sáu năm, bỏ lại lão một mình cô độc, tuổi già sức yếu không ai quan tâm, chăm sóc. Lão có mấy sào vườn nhưng dù có nghèo khổ, túng thiếu đến đâu vẫn nhất quyết không chịu bán. Lão sống rau cháo qua ngày nhờ vào tiền làm thuê, còn tiền bòn vườn lão để dành riêng ra sau này cho con trai cưới vợ hoặc cho vợ chồng nó chút vốn làm ăn…

    Đúng như dân gian hay nói “đã nghèo còn mắc cái eo“, Lão Hạc bị ốm, ốm một trận ” đúng hai tháng, mười tám ngày “. Thì ra, đây chính là lý do vì sao thời gian gần đây tôi không thấy lão xuất hiện. Hôm nay trông lão già đi nhiều, tiều tuỵ và hốc hác. Đôi mắt đã nhỏ nay lại càng trũng sâu vào trong, làn da xanh xao giờ chuyển sang xám ngắt…Lão yếu người đi nhiều, cả bước chân cũng không được vững vàng.

    Lão vừa thấy chú tôi đã cất tiếng ngay: ” Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!”. Chú tôi áy ngại nhìn Lão Hạc nghi hoặc: ” Cụ bán rồi?”. Lão cố tỏ ra vui vẻ, làm điệu bộ như không có chuyện gì xảy ra: ” Bán rồi! Họ vừa bắt xong“. Dường như câu nói ” Họ vừa bắt xong” đã chạm đến tận cùng tâm can của lão, lão không còn đủ sức gượng gạo làm vẻ mặt vui mà cười như mếu. Đôi mắt lão ầng ậng nước, mặt lão bỗng dưng co rúm lại, những nếp nhăn xô lại với nhau cố ép cho nước mắt chảy ra hệt như tôi vắt chanh…Đầu lão nghẹo sang một bên, từ từ chuyển sang mếu máo rồi khóc oà như một đứa trẻ: ” Khốn nạn… Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết! Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn ! Nó cứ làm in như nó trách tôi ; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng: “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này”. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó”. Nghe đến đây, tôi không còn tâm trí đâu chú ý đến quyển sách trên tay, tôi xếp nó lại rồi cẩn thật đặt vào chỗ cũ để nghe tiếp câu chuyện. Chú tôi lúng túng chẳng biết phải làm thế nào đành lựa lời an ủi: ” Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả biết đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt? Ta giết nó chính là hoá kiếp cho nó đấy, hoá kiếp để cho nó làm kiếp khác“. Lão Hạc ngẫm nghĩ giây lát rồi cay đắng thốt lên: ” Ông giáo nói phải! Kiếp cho chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn…“. Chú tôi lại một lần nữa phải khéo léo lựa lời nhưng cũng không thể giấu nỗi sự chua chát: ” Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng chúng tôi sung sướng hơn chăng?”. Lão Hạc bật lại một câu khiến tôi cũng bùi ngùi chạnh lòng: ” Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng?”. Nói rồi lão cười và ho sòng sọc. Chú tôi khi ấy đã bình tĩnh hơn, nói tránh sang chuyện khác để ông lão dịu lại: “Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… Thế là sướng“. Hình như phương pháp này đã có tác dụng phần nào, tâm trạng Lão Hạc đã ổn định, lão cười gượng nhưng tiếng cười đã lại đôn hậu: ” Vâng! Ông giáo dạy phải! Ðối với chúng mình thì thế là sung sướng“. Tôi thở phào nhẹ nhõm như vừa xem xong một vở kịch đầy kịch tính. Chú tôi hình như cũng vừa trút được một tảng đá trong lòng, đon đả mời: ” Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi đi luộc khoai, nấu nước”. Nhưng Lão Hạc từ chối ngay: ” Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác...”. Chú tôi hơi bất ngờ vì lời từ chối nhưng đã nhanh miệng: ” Việc gì còn phải chờ khi khác?… Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại cụ ơi. Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm!”. Không thể chối từ lời đề nghị chân thành từ chú tôi, lão Hạc đành ở lại. Với vẻ mặt nghiêm trang, lão bảo chủ tôi rằng: ” Ðã biết thế, cảm ơn bác, nhưng tôi còn muốn nhờ ông giáo một việc …”. Chú tôi hỏi đó là việc gì, ông lão bắt đầu nói bằng một giọng điệu nhỏ nhẹ. Chắc vì phải lựa lời nên lão nói rất dài dòng, tôi nghe rất nhọc nhằng, nhưng đại loại ý của lão Hạc nói về hai việc thế này: Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để làm ăn ở làng này. Chú của tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lý luận người ta kiêng nể, vậy lão muốn gửi nhờ ba sào vườn của thằng con lão, lão viết văn tự nhượng cho chú tôi để không ai còn tơ tưởng dòm nhó đến ; khi nào con lão về thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên chú tôi cũng được. Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào: con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được; để phiền cho hàng xóm thì chết không nhắm mắt: lão còn được hăm nhăm đồng bạc với năm đồng vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi thầy để lỡ có chết thì chú tôi sẽ đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả…”. Lão Hạc dặn dò, nhờ vả chú tôi những chuyện hệ trọng như thể sắp đi xa lắm…Cả một đời, lão sống thật thà, ngay thẳng, được lòng hàng xóm láng giềng, đến lúc chết cũng tính toán chu toàn, không để phiền hàng xóm…Thật đáng khâm phục! Ngồi nhấp với chú tôi vài ngụm chè thì Lão Hạc xin phép ra về. Nhìn cái dáng vẻ thất thểu, già nua đáng thương của lão tôi thấy chạnh lòng quá. Tại sao cuộc đời lại có thể đối xử tàn nhẫn với một người luơng thiện thế kia?

    Bản thân tôi cũng không có gì để giúp lão, tôi cũng còn quá nhỏ để có thể tinh tế như chú tôi khéo léo an ủi lão, động viên tinh thần lão…Cụôc trò chuyện của Lão Hạc với chú tôi ngày hôm nay tôi sẽ không thể nào quên được. Nó gieo vào tâm trí tôi những suy nghĩ ” vượt quá lứa tuổi” của một đứa trẻ – những suy nghĩ về phận người, về cuộc đời, về tình thương…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Giáo Án Ngữ Văn 8 Bài: Lão Hạc
  • Soạn Bài Lão Hạc Trang 38 Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1 (Siêu Ngắn)
  • Viết Đoạn Văn Từ 8 Đến 10 Câu Tóm Tắt Truyện “lão Hạc” Của Nam Cao
  • Hãy Chia Bố Cục Và Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Kể Lại Chuyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Kể Lại Văn Bản Thánh Gióng Bằng Lời Kể Của Em (Mở Bài Gián Tiếp ,kết Bài Mở Rộng Câu Hỏi 1204461
  • Cảm Nhận Của Em Về Truyện Thánh Gióng
  • Ý Nghĩa Của Truyện Thánh Gióng
  • Phân Tích Truyền Thuyết Thánh Gióng
  • Giải Vbt Ngữ Văn 6 Thánh Gióng
  • Bài làm

    Ngày xửa ngày xưa, vào thời vua Hùng Vương thứ mười sáu, có một đôi vợ chồng tuy đã già nhưng vẫn chẳng có lấy một mụn con. Hai ông bà lão nổi tiếng là người hiền lành, đôn hậu ở làng Gióng nhưng không hiểu sao lại chịu sự không may mắn như vậy. Cho đến một ngày, khi bà lão đi ra đồng thì chợt thấy một dấu chân to khổng lồ. Lấy làm ngạc nhiên, bà lão đưa chân mình vào ướm thử để đo xem dấu vết chân đó to đến cỡ nào. Thời gian thấm thoát trôi đi, bà lão chẳng còn nhớ đến vết chân ngày xưa nữa thì bỗng một ngày bà có thai. Hai vợ chồng bà lão mừng lắm, bà sinh ra một cậu bé khôi ngô, tuấn tú. Ấy thế mà đứa trẻ đó từ khi sinh ra lại chẳng biết nói, cũng không biết cười, không biết đi, chỉ đặt đâu thì nó nằm đấy. Hai ông bà từ mừng rỡ khi sinh được con đến lo lắng, buồn bã không hiểu sao lại như vậy.

    Lúc bấy giờ, giặc Ân tràn sang xâm lược nước ta. Chúng khiến cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, tình cảnh đất nước lúc này đang ở thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Nhà vua sai sử giả đi rao tin khắp nơi, nhằm tìm người tài đứng lên cứu giúp đất nước. Sứ giả đi rao tin cuối cùng cũng đến làng Gióng. Nghe tiếng sứ giả, cậu bé bỗng nhiên cất tiếng gọi mẹ: “Mẹ ơi, mẹ hãy mời sứ giả vào đây cho con”. Thấy đứa con mình suốt bao nhiêu ngày tháng không nói, không cười bỗng dưng hôm nay lại cất tiếng gọi mẹ, hai ông bà lão mừng lắm, liền mời sứ giả vào ngay.

    Vào vai Sơn Tinh kể lại truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh

    Khi sứ giả vào nhà, cậu bé đã ngay lập tức yêu cầu sứ giả hãy về chuẩn bị đủ những vũ khí để đi đánh giặc: Ngựa sắt, áo sắt và tấm giáp sắt để phá tan lũ giặc xâm lược. Sứ giả mừng rỡ vội về tâu lên cho nhà vua chuẩn bị. Nhà vua cũng đồng ý theo lời của cậu bé.Càng lạ lùng thay, Thánh Gióng từ khi gặp được sứ giả của nhà vua thì lớn nhanh như thổi, cơm cha mẹ thổi bao nhiêu cậu ăn cũng không đủ no, quần áo chẳng mấy chốc đều chật hết cả. Cậu bé chẳng mấy chốc hóa thành một chàng trai cao lớn, khỏe mạnh, khí thế ngút trời.

    Chẳng bao lâu, nhà mua sai người đem đến đủ cả những thứ mà Gióng yêu cầu. Thánh Gióng lên đường đánh giặc ngay. Cậu đi đến đâu đánh bại quân giặc đến đấy. Khi kiếm gãy, Gióng liền nhổ một bụi cỏ bên đường, quật ngã bọn giặc ngoại xâm. Một hồi, ngựa của Thánh Gióng đã đến chân núi Sóc Sơn, Thánh Gióng liền cởi bộ giáp sắt đang mặc trên người ra mà bay thẳng lên trời.

    Để nhớ đến công lao của Thánh Gióng, nhà vua đã cho người lập đền thờ của vị tướng này tại quê nhà của ông là làng Gióng. Cho đến nay, vẫn còn rất nhiều dấu tích năm xưa còn lưu lại và cứ tháng 4 hằng năm, người ta vẫn thường đến đền thờ Phù Đổng Thiên Vương để tưởng nhớ ông.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Thánh Gióng (Siêu Ngắn)
  • Kể Sáng Tạo Truyện “thánh Gióng” Qua Lời Kể Của Mẹ Gióng
  • Kể Lại Truyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em
  • Bài Văn Kể Lại Truyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Bài 2 Thánh Gióng Ngữ Văn Lớp 6
  • Bài Văn Kể Lại Truyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Kể Lại Truyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em
  • Kể Sáng Tạo Truyện “thánh Gióng” Qua Lời Kể Của Mẹ Gióng
  • Soạn Bài Thánh Gióng (Siêu Ngắn)
  • Kể Lại Chuyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em
  • Hãy Kể Lại Văn Bản Thánh Gióng Bằng Lời Kể Của Em (Mở Bài Gián Tiếp ,kết Bài Mở Rộng Câu Hỏi 1204461
  • Đề bài: Kể lại chuyện Thánh Gióng bằng lời văn của em

    Kể lại truyền thuyết Thánh Gióng bằng sự tưởng tượng sáng tạo của em

    Bài làm:

    Trong chương trình Văn học lớp 6, em đã được học rất nhiều chuyên cổ. tích và truyền thuyết hay. Nhưng em thích nhất là truyện truyền thuyết Thánh Gióng. Câu chuyện đã kể về một người anh hùng đánh giặc giữ nước.

    Đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão nghèo. Họ rất chăm chỉ làm ăn nhưng lại hiếm con. Tuổi đã cao mà vẫn chưa có được một mụn con. Một hôm, bà vợ đi ra đồng, nhìn thấy một vết chân to, bà bèn đặt chân mình vào ướm thử. Nào ngờ, về nhà bà thụ thai. Đến tháng thứ mười hai, bà sinh được một cậu bé mặt mũi khôi ngô, tuấn tú. Hai vợ chồng vui mừng, đặt tên đứa bé là Gióng. Nhưng niềm vui của ông bà trở thành nỗi lo khi thấy Gióng lên ba tuổi mà vẫn chưa biết nói, biết cười, đặt đâu nằm đó.

    Bấy giờ có giặc n đến xâm phạm bờ cõi nước ta. Vua vô cùng lo lắng, cho sứ giả đi khắp nơi rao tìm người tài giỏi cứu nước. Vừa nghe thấy tiếng sứ giả loa truyền, chú bé Gióng bỗng cất tiếng nói đòi mẹ cho gọi sứ giả vào gặp. Mẹ Gióng thấy con mình cất tiếng nói thì vô cùng mừng rỡ, chạy đi mời sứ giả. Khi gặp sứ giả, Gióng bèn bảo sứ giả về tâu vua, làm cho một áo giáp sắt, một con ngựa sắt và một cái roi sắt. Nhà vua mừng rỡ, truyền cho thợ làm gấp ngày đêm.

    Kỳ lạ hơn, từ sau hôm gặp sứ giả, chú bé Gióng lớn nhanh như thổi. Ăn bao nhiêu cũng không thấy no. Cả làng cùng góp gạo nuôi Gióng. Ai cũng mong chú bé lớn nhanh, khỏe mạnh để giúp vua đánh gặp cứu nước. Giặc đã đến chân núi Trâu, thế nước rất nguy, ai cũng hoảng sợ, hoảng hốt. Đúng lúc đó, sứ giả đem những thứ Gióng yêu cầu đến. Chú bé vùng dậy, vươn vai trở thành tráng sĩ, nhảy lên lưng ngựa. Ngựa hí dài mấy tiếng vang dội, phun lửa, lao thẳng vào đám giặc. Quân giặc hoảng sợ. Tráng sĩ phi ngựa đến đâu, dẹp tan quân giặc đến đó. Roi sắt gãy, Gióng nhổ tre làm vũ khí. Lũ giặc giẫm đạp lên nhau mà chạy. Tráng sĩ đuổi đến chân núi Sóc. Đến đây, một mình một ngựa, tráng sĩ lên đỉnh núi, cởi bỏ áo giáp, cả người và ngựa bay về trời.

    Vua nhớ công ơn, phong Gióng làm Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ tại quê nhà. Những nơi ngựa phi qua để lại ao hồ. Rặng tre bị ngựa phun lửa cháy trở nên vàng óng còn có một làng bị ngựa phun lửa cháy được gọi là làng Cháy.

    Sau khi đã Kể lại chuyện Thánh Gióng bằng lời văn của em các em có thể đi vào Kể chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh bằng lời văn của em hoặc tham khảo Phát biểu cảm nghĩ về hình tượng Thánh Gióng nhằm củng cố kiến thức của mình.

    https://thuthuat.taimienphi.vn/ke-lai-chuyen-thanh-giong-bang-loi-van-cua-em-39051n.aspx

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Bài 2 Thánh Gióng Ngữ Văn Lớp 6
  • Tóm Tắt Truyện Thánh Gióng
  • 4 Bài Văn Tóm Tắt Truyện Thánh Gióng
  • Tóm Tắt Thánh Gióng Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • Em Hãy Kể Tóm Tắt Truyện Thánh Gióng
  • Kể Lại Truyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Kể Sáng Tạo Truyện “thánh Gióng” Qua Lời Kể Của Mẹ Gióng
  • Soạn Bài Thánh Gióng (Siêu Ngắn)
  • Kể Lại Chuyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em
  • Hãy Kể Lại Văn Bản Thánh Gióng Bằng Lời Kể Của Em (Mở Bài Gián Tiếp ,kết Bài Mở Rộng Câu Hỏi 1204461
  • Cảm Nhận Của Em Về Truyện Thánh Gióng
  • Văn mẫu lớp 6: Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời văn của em bao gồm dàn ý và các bài văn hay chọn lọc được VnDoc sưu tầm, tổng hợp giúp các em học sinh có thêm nhiều ý tưởng hoàn thiện cách làm bài văn kể chuyện lớp 6, chuẩn bị cho bài viết văn. Mời các em cùng tham khảo chi tiết.

    Dàn ý Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời văn của em

    A. Mở bài Thánh Gióng

    Giới thiệu truyền thuyết “Thánh Gióng”.

    B. Thân bài (Diễn biến sự việc)

    – Mở đầu

    – Đời vua Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng …

    – Thắt nút – Giặc Ân đến xâm phạm bờ cõi nước ta.

    – Phát triển

    – Nhà vua lo sợ, bèn sai sứ giả tìm người tài giỏi cứu nước.

    – Đứa bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con người sắt và một tấm áo giáp sắt”.

    – Mở nút

    – Chú bé vùng dậy, vươn vai một cái bỗng nhiên biến thành tráng sĩ.

    – Kết thúc

    – Tráng sĩ bèn nhổ những cụm tre cạnh đường quật vào giặc. Giặc tan vỡ.

    C. Kết bài Thánh Gióng

    – Ý nghĩa câu chuyện: Tinh thần đoàn kết chống giặc cứu nước.

    Kể chuyện Thánh Gióng – mẫu 1

    Ngày xửa ngày xưa, vào thời vua Hùng Vương thứ mười sáu, có một đôi vợ chồng tuy đã già nhưng vẫn chẳng có lấy một mụn con. Hai ông bà lão nổi tiếng là người hiền lành, đôn hậu ở làng Gióng nhưng không hiểu sao lại chịu sự không may mắn như vậy. Cho đến một ngày, khi bà lão đi ra đồng thì chợt thấy một dấu chân to khổng lồ. Lấy làm ngạc nhiên, bà lão đưa chân mình vào ướm thử để đo xem dấu vết chân đó to đến cỡ nào. Thời gian thấm thoát trôi đi, bà lão chẳng còn nhớ đến vết chân ngày xưa nữa thì bỗng một ngày bà có thai. Hai vợ chồng bà lão mừng lắm, bà sinh ra một cậu bé khôi ngô, tuấn tú. Ấy thế mà đứa trẻ đó từ khi sinh ra lại chẳng biết nói, cũng không biết cười, không biết đi, chỉ đặt đâu thì nó nằm đấy. Hai ông bà từ mừng rỡ khi sinh được con đến lo lắng, buồn bã không hiểu sao lại như vậy.

    Lúc bấy giờ, giặc Ân tràn sang xâm lược nước ta. Chúng khiến cho đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, tình cảnh đất nước lúc này đang ở thế “nghìn cân treo sợi tóc”. Nhà vua sai sử giả đi rao tin khắp nơi, nhằm tìm người tài đứng lên cứu giúp đất nước. Sứ giả đi rao tin cuối cùng cũng đến làng Gióng. Nghe tiếng sứ giả, cậu bé bỗng nhiên cất tiếng gọi mẹ: “Mẹ ơi, mẹ hãy mời sứ giả vào đây cho con”. Thấy đứa con mình suốt bao nhiêu ngày tháng không nói, không cười bỗng dưng hôm nay lại cất tiếng gọi mẹ, hai ông bà lão mừng lắm, liền mời sứ giả vào ngay.

    Khi sứ giả vào nhà, cậu bé đã ngay lập tức yêu cầu sứ giả hãy về chuẩn bị đủ những vũ khí để đi đánh giặc: Ngựa sắt, áo sắt và tấm giáp sắt để phá tan lũ giặc xâm lược. Sứ giả mừng rỡ vội về tâu lên cho nhà vua chuẩn bị. Nhà vua cũng đồng ý theo lời của cậu bé.Càng lạ lùng thay, Thánh Gióng từ khi gặp được sứ giả của nhà vua thì lớn nhanh như thổi, cơm cha mẹ thổi bao nhiêu cậu ăn cũng không đủ no, quần áo chẳng mấy chốc đều chật hết cả. Cậu bé chẳng mấy chốc hóa thành một chàng trai cao lớn, khỏe mạnh, khí thế ngút trời.

    Chẳng bao lâu, nhà mua sai người đem đến đủ cả những thứ mà Gióng yêu cầu. Thánh Gióng lên đường đánh giặc ngay. Cậu đi đến đâu đánh bại quân giặc đến đấy. Khi kiếm gãy, Gióng liền nhổ một bụi cỏ bên đường, quật ngã bọn giặc ngoại xâm. Một hồi, ngựa của Thánh Gióng đã đến chân núi Sóc Sơn, Thánh Gióng liền cởi bộ giáp sắt đang mặc trên người ra mà bay thẳng lên trời.

    Để nhớ đến công lao của Thánh Gióng, nhà vua đã cho người lập đền thờ của vị tướng này tại quê nhà của ông là làng Gióng. Cho đến nay, vẫn còn rất nhiều dấu tích năm xưa còn lưu lại và cứ tháng 4 hằng năm, người ta vẫn thường đến đền thờ Phù Đổng Thiên Vương để tưởng nhớ ông.

    Kể chuyện Thánh Gióng – mẫu 2

    Vào thời Hùng Vương có một đôi vợ chồng tuy đã già nhưng mãi chưa có con. Vào một buổi sáng sớm khi lên nương làm rẫy, chợt thấy một dấu chân rất to in trên mặt đất, bà sửng sốt kêu lên:

    – Ôi! Dấu chân của ai mà to thế này!

    Thấy kì lạ, bà đưa chân mình vào ướm thử, về nhà bà liền có thai. Chẳng giống như bình thường, bà mang thai 12 tháng mới sinh ra một bé trai và đặt tên là Gióng. Gióng lên ba tuổi mà chẳng biết nói biết cười. Hàng xóm láng giềng xung quang bắt đầu dị nghị, lời ra tiếng vào, bàn tán về đứa trẻ kì lạ. Họ cho rằng bà thụ thai kì lạ nên đứa trẻ sinh ra cũng không được bình thường. Vào năm ấy, giặc Ân xâm lược nước ta. Quân giặc rất đông và hung hãn, đi đến đâu, chúng cướp bóc, tàn phá đến đấy. Quân của vua Hùng nhiều lần xuất trận nhưng không thể đánh thắng số lượng áp đảo của quân địch. Trước tình hình ấy, vua Hùng rất lo lắng, cử sứ thần đi khắp các vùng miền tìm người tài. Đến làng Phù Đổng, với lòng căm thù quân giặc sục sôi, ý chí bảo vệ đất nước mãnh liệt, người dân cả làng xin vua cho được đi đánh giặc. Không khí đánh giặc cứu nước lan tỏa khắp nơi nơi, mẹ Gióng vô cùng buồn rầu ao ước rằng giá như Gióng cũng bình thường như những người khác thì đã có thể xung quân đánh giặc. Lời ru của mẹ cất lên đầy tha thiết nhưng cũng đầy giục giã: “Làm trai đứng ở trên đời/ Sao cho xứng đáng giống nòi rồng tiên”. Những đứa trẻ khác thấy Gióng vẫn ngủ thì nói: “Gióng ơi dậy đi thôi! Cả làng Phù Đổng ta xin vua cho đi đánh giặc rồi đấy!”. Những lời nói ấy như có sức mạnh làm thức tỉnh con người ngủ quên trong Gióng, Gióng bỗng cất tiếng gọi mẹ xin cho đi đánh giặc: ” Mẹ ơi! Xin mẹ cho gọi sứ giả vào đây”. Mẹ Gióng vô cùng bất ngờ, chuyện quốc gia đại sự đâu phải trò đùa của trẻ con, nhưng Gióng vẫn cương quyết: ” Xin mẹ hãy tin con, con có thể ra trận đánh giặc “. Mẹ Gióng đến gặp trưởng làng và mời sứ thần đến gặp Gióng. Gióng nói với sứ giá bằng giọng rõ ràng, dứt khoát: “Xin hãy nói với nhà vua làm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một cái áo giáp sắt”. Sứ giả ban đầu cũng hoài nghi, dù sao Gióng cũng chỉ là một đứa trẻ. Nhưng lúc ấy, có một con rồng không biết từ đâu bay đến rồi vút cao lên trời xanh, biết là điểm báo của trời, vội vàng về tâu lại với nhà vua. Từ hôm ấy, Gióng bỗng lớn nhanh như thổi, ăn bao nhiêu cũng không đủ, vươn vai trở thành một chàng trai khỏe mạnh, khôi ngô, tuấn tú. Những vật dụng cần thiết được mang đến, Gióng cùng trai tráng làng Phù Đổng ra trận đánh giặc. Đánh đến đâu, quân giặc khiếp sợ bỏ chạy đến đấy. Khí thế đang mạnh mẽ thì ngờ đâu kiếm gãy, Gióng nhanh trí nhổ một bụi tre bên đường, quật vào quân giặc tới tấp. Tướng giặc cùng đường phải giơ tay xin hàng, chiến thắng thuộc về nhân dân của nước Văn Lang. Lúc bấy giờ ngựa Gióng đã tiến đến chân núi Sóc Sơn. Gióng bèn cởi toàn bộ giáp rồi cả người lẫn ngựa bay thẳng lên trời.

    Để tưởng nhớ công ơn của Gióng, vua Hùng cho lập đền thờ ở quê nhà và phong Gióng là Phù Đổng Thiên Vương. Hàng năm, nhân dân vẫn tổ chức lễ hội để du khách thập phương tìm về bái lễ.

    Kể chuyện Thánh Gióng – mẫu 3

    Vào đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức, nhưng lại không có con. Họ buồn lắm. Một hôm, bà lão ra đồng thấy một vết chân to khác thường. Thấy lạ, bà lão đặt bàn chân mình vào để ước chừng bàn chân mình nhỏ hơn bao nhiêu. Thấm thoát thời gian trôi đi, bà lão có thai, rồi mười hai tháng sau bà sinh được một bé trai khôi ngô tuấn tú. Hai vợ chồng già mừng lắm. Nhưng lạ thay, đứa bé đã lên ba mà không biết nói, không biết cười, không biết đi, đặt đâu thì nằm đấy. Vợ chồng ông lão đâm lo?

    Bấy giờ giặc Ân thế mạnh như chẻ tre tràn vào xâm lược nước ta. Nhà vua túng thế, bèn sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tiếng loa của sứ giả, bỗng cựa mình và cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc này”. Sứ giả lấy làm kinh ngạc và cũng tỏ ý vui mừng, vội về tâu với vua. Nhà vua chấp nhận và sai người ngày đêm làm đủ những vật mà chú bé yêu cầu.

    Từ hôm gặp sứ giả, chú bé bỗng lớn nhanh như thổi. Cơm ăn không biết no, áo vừa mới mặc đã chật. Hai vợ chồng làm lụng cực nhọc mà không đủ nuôi con. Bà con xóm làng thấy thế, bèn xúm vào kẻ ít người nhiều nuôi chú bé.

    Giặc Ân đã đến chân núi Trâu, tình thế đất nước như ngàn cân treo sợi tóc. Ai nấy đều lo lắng, sợ sệt. Vừa lúc, sứ giả mang đủ các thứ mà chú bé đã dặn. Chú bé vươn vai, trong phút chốc đã trở thành tráng sĩ thật oai phong, thật lẫm liệt. Tráng sĩ vỗ mạnh vào mông ngựa sắt, ngựa hí vang dội cả một vùng. Tráng sĩ mặc áo giáp cầm roi sắt nhảy lên lưng ngựa. Ngựa phi nước đại, phun lữa xông thẳng vào quân giặc hết kớp này đến lớp khác. Bỗng roi sắt bị gãy, tráng sĩ liền nhổ những bụi tre ven đường quất vào quân giặc. Thế giặc hỗn loạn, tan vỡ. Đám tàn quân dẫm đạp lên nhau mà tháo chạy. Tráng sĩ đuổi quân giặc đến chân núi Sóc (Sóc Sơn) thì dừng lại, rồi một mình, một ngựa lên đỉnh núi, cởi áo giáp sắt để lại ngựa sắt và tráng sĩ bay lên trời.

    Để tưởng nhớ người tướng sĩ có công đánh tan giặc Ân xâm lược. Nhà vua phong là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay tại quê nhà.

    Hiện nay vẫn còn dấu tích đền thờ ở làng Phù Đổng, tục gọi là làng Gióng. Hàng năm, đến tháng tư là làng mở hội tưng bừng để tưởng nhớ người tráng sĩ Thánh Gióng. Và để ngắm nhìn những dấu tích mà tráng sĩ và ngựa sắt đã đánh tan giặc Ân, đó là tre đằng ngà, những ao hồ liên tiếp…

    Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời văn của em mẫu 4

    Dưới thời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão hiền lành mà chưa có đứa con nào để nối dõi. Một hôm, bà lão ra đồng ướm thử bàn chân mình lên những vết chân lạ, về nhà mang thai đến mười hai tháng mới sinh hạ một đứa con trai khôi ngô. Nuôi đến ba tuổi, đứa bé vẫn nằm một chỗ, chưa biết đi đứng, cười nói.

    Gặp lúc giặc Ân quấy nhiễu, vua sai sứ giả đi rao khắp nơi tìm bậc hiền tài ra đánh giặc cứu dân. Nghe tin, cậu bé làng Gióng bỗng bật lên tiếng nói nhờ mẹ mời sứ giả vào. Cậu yêu cầu sứ giả xin vua đúc cho ngựa sắt, roi sắt áo giáp sắt để mình dẹp tan giặc dữ. Từ đó, cậu lớn nhanh, ăn mạnh đến nỗi dân làng phải rủ nhau góp cơm gạo đến giúp.

    Nhận được đủ lễ vua ban, cậu bé vươn vai trở thành một tráng sĩ oai nghi lẫm liệt. Nai nịt xong, chàng lên ngựa, vung roi vun vút. Ngựa phun lửa xong thẳng vào đội hình giặc khiến chúng ngã chết như rạ.

    Roi gãy, tráng sĩ nhổ những bụi tre bên đường. Quân giặc thua to, tan vỡ cả, đám sống sót tìm đường lẫn trốn. Tráng sĩ đuổi theo đến chân núi Sóc, cởi áo giáp bỏ lại, cả người lẫn ngựa bay vút lên trời.

    Vua Hùng nhớ ơn phong làm Phù Đổng Thiên Vương và cho lập đền thờ tại quê nhà. Từ đó hàng năm vào tháng tư, ở đây hội Gióng được mở ra tưng bừng, nô nức, thu hút người khắp nơi về tham dự.

    Từ thuở còn trong nôi, em đã được bà kể cho nghe nhiều câu chuyện lắm. Nhưng câu chuyện mà em nhớ nhất là truyện Thánh Gióng.

    Truyện kể rằng: Đời Hùng Vương thứ sáu, ở một làng kia có hai vợ chồng ông lão, chăm chỉ làm ăn lại có tiếng là phúc đức. Nhưng đến lúc sắp già mà vẫn chứa có nấy một mụn con. Một ngày kia bà vợ ra đồng trông thấy một bước chân to, bèn đặt chân mình vào ướm thử. Về nhà bà mang thai. Nhưng không ngờ, khác với người thường, đến mười hai tháng sau bà mới sinh ra một cậu bé mặt mũi khôi ngô. Cậu bé ra đời là niềm mơ ước cả đời của hai vợ chồng nên ông bà mừng lắm. Nhưng chẳng biết làm sao, dù đã ba tuổi nhưng cậu bé Gióng (tên cậu do ông bà đặt) vẫn chẳng biết nói, biết cười, cứ đặt đâu nằm đó. Ông bà buồn lắm.

    Cũng năm ấy, giặc Ân sang xâm lược bờ cõi nước ta. Chúng gây bao nhiêu tội ác khiến dân chúng vô cùng khổ sở. Thế giặc mạnh, nhà vua bèn sai người đi khắp nước cầu hiền tài. Đi đến đâu sứ giả cũng rao:

    – Ai có tài, có sức xin hãy ra giúp vua cứu nước.

    Nghe tiếng rao, cậu Gióng đang nằm trên giường bèn cất tiếng:

    – Mẹ ơi! Mẹ ra mời sứ giả vào đây cho con.

    (Ngày xưa khi để cho em nghe đến chỗ này, bao giờ bà cũng thêm vào: Tiếng nói đầu tiên của cậu Gióng là tiếng nói yêu nước đấy. Phải nhớ lấy cháu ạ!)

    – Nghe tiếng con, vợ chồng lão nông dân thấy lạ đành mời sứ giả vào nhà. Cậu Gióng liền yêu cầu sứ giả về chuẩn bị ngay: roi sắt, ngựa sắt, áo giáp sắt để cậu đi phá giặc.

    Càng lạ hơn, từ lúc cậu Gióng gặp sứ giả, cậu cứ lớn nhanh như thổi. Cơm ăn mấy cậu cũng không no, áo vừa mặc xong đã sứt chỉ. Vợ chồng ông bà nọ đem hết gạo ra nuôi mà không đủ bèn nhờ hàng xóm cùng nuôi cậu Gióng. Trong làng ai cũng mong cậu đi giết giặc cứu nước nên chẳng nề hà gì.

    Giặc đã đến sát chân núi Trâu. Người người hoảng sợ. Cũng may đúng lúc đó, sứ giả mang những thứ cậu Gióng đã đề nghị đến nơi. Cậu bèn vươn vai đứng dậy như một tráng sỹ, khoác vào áo giáp, cầm roi rồi nhảy lên ngựa phi thẳng tới trận tiền. Bằng sức mạnh như cả ngàn người cộng lại, chẳng mấy chốc cậu đã khiến lũ giặc kinh hồn bạt vía. Đang đánh nhau ác liệt thì roi sắt gãy, cậu bèn nhổ ngay từng bụi tre ở bên đường quật vào lũ giặc. Quân giặc bỏ chạy toán loạn nhưng rồi cũng bị tiêu diệt không sót một tên.

    Dẹp giặc xong, cậu Gióng không quay về kinh để nhận công ban thưởng mà thúc ngựa đến núi Sóc, bỏ lại áo giáp sắt, một người một ngựa bay thẳng về trời. Nhiều đời sau người ta còn kể, khi ngựa thét lửa, lửa đã thiêu trụi một làng nay làng ấy gọi là làng Gióng. Những vết chân ngựa ngày xưa nay đã thành những ao hồ to nhỏ nối tiếp nhau.

    Câu chuyện về người anh hùng Thánh Gióng đã không chỉ còn là niềm yêu thích của riêng em, mà nó đã là niềm say mê của bao thế hệ học trò.

    Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời văn của em mẫu 6

    Đó là vào thời Vua Hùng thứ sáu. Đất nước thật thanh bình, mọi người đều hưởng ấm no hạnh phúc. Thế nhưng vợ chồng già chúng tôi chứ cui cút trong gian nhà tranh vắng tiếng trẻ con. Một hôm, tôi đi ra đồng thấy một dấu chân khác lạ. Phần thì tò mò, phần thì vừa thấy thần báo mộng trong đêm, tôi đặt chân ướm thử. Không ngờ về nhà thụ thai.

    Chờ hết chín tháng mười ngày vẫn chưa sanh, ông nhà tôi lo quá. Nhưng đến tháng mười hai thì vợ chồng tôi đã có con. Chao ôi, một đứa bé mặt mũi khôi nhô như một tiên đồng. Chúng tôi mừng lắm. Nhưng chăm chút hoài mà thằng bé vẫn cứ như lúc lọt lòng. Đã ba năm tuổi mà nó không biết đi, không biết nói, biết cười.

    Rồi một hôm loa sứ giả truyền tin giặc Ân đã đến xâm phạm bờ cõi, vua Hùng đang kén chọn người tài giỏi ra công giết giặc. Thằng bé nhà tôi bỗng níu tay áo, và nó cất tiếng: “Mẹ ơi, mẹ ra mời sứ giả vô đây cho con”. Hai vợ chồng tôi bàng hoàng nhìn nhau, tôi vội chạy ra mời sứ giả vào nhà. Thằng bé mắt long lanh và nói sang sảng như phán truyền: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt, áo giáp sắt, ta sẽ phá tan giặc!”. Sứ giả sửng sốt rồi kính cẩn chào chúng tôi ra về. Tôi và chồng tôi chạy lại ôm con mà mừng khôn xiết. Từ đó thằng bé lớn nhanh như thổi, cơm ăn mấy cũng không no, áo vừa mặc xong đã đứt chỉ. Bà con lối xóm biết chuyện họ rất phấn khởi ngày đêm tấp nập nấu cơm, đội cà, may vá cho thằng bé rất chu đáo. Ai cũng hi vọng Gióng sớm ra giết giặc trừ họa cho mọi người.

    Giặc đã đến chân núi Châu Sơn. Mọi người hoảng hốt nhìn Gióng như cầu cứu. Cũng may nhà vua đã cho đưa đến con ngựa sắt, áo giáp sắt và roi sắt. Thằng bé bỗng đứng dậy vươn vai một cái, nó to lớn và mạnh mẽ khác thường. Nó mặc giáp sắt, cầm roi sắt và leo lên ngựa sắt. Nó vỗ vào mông ngựa, ngựa hét vang phun một luồng bão lửa về phía trước. Trông thằng Gióng giờ đây oai phong lẫm liệt như tướng nhà Trời. Nó khẽ gật đầu chào mọi người rồi phi như bay ra nơi có giặc.

    Mọi người đã lập đền thơ ngay trong làng. Và vua Hùng cũng phong cho tôi là Phù Đổng Thiên Vương.

    Nghe nói ở Gia Bình có những bụi tre đằng ngà màu vàng óng. Chính ngựa Gióng đã phun lửa mà nó cháy sém như vậy đấy.

    Và bà con có biết không? Những ao hồ chi chít ở địa phương ta là dấu chân của con ngựa sắt ghê gớm mà Gióng cưỡi đấy. Tôi cũng muốn lưu ý mọi người cái làng Cháy hiện nay sở dĩ có tên gọi như vậy là do ngựa Gióng phun lựa và đốt trụi cả một làng. Cũng may là bà con đã chạy giặc hết rồi không thì thật là thảm họa.

    Vợ chồng ta rất tự hào vì đã có một đứa con dũng cảm giết giặc bảo vệ cuộc sống ấm no cho mọi người. Chúng tôi thật tự hào bởi mỗi lúc ra đường mọi người đều kính nể và nói: “Hai người ấy là cha mẹ của Phù Đổng Thiên Vương đó”. Đó bà con hãy chờ coi, thằng Gióng nhà tôi trước lúc bay về trời có nhắm rằng khi nào cha mẹ già yếu nó sẽ trở lại chăm sóc chúng tôi. Chúng tôi đang chờ và cái ngày ấy rồi sẽ đến thôi phải không bà con?

    Bài tập Ngữ văn 6 – Thánh Gióng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Kể Lại Truyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Bài 2 Thánh Gióng Ngữ Văn Lớp 6
  • Tóm Tắt Truyện Thánh Gióng
  • 4 Bài Văn Tóm Tắt Truyện Thánh Gióng
  • Tóm Tắt Thánh Gióng Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • Kể Lại Sự Tích Hồ Gươm Bằng Lời Văn Của Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Mẫu Lớp 6: Đóng Vai Lê Lợi Kể Lại Truyện Sự Tích Hồ Gươm
  • Soạn Văn: Sự Tích Hồ Gươm Lớp 6
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm
  • Soạn Bài Sự Tích Hồ Gươm (Siêu Ngắn)
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Sự Tích Hồ Gươm Ngắn Gọn Hay & Đúng Nhất
  • Bấy giờ ở nước ta đang bình yên thì giặc Minh ở phương Bắc kéo quân sang đô hộ làm nước ta lâm vào cảnh chiến tranh, cuộc sống của nhân dân ta cũng bị giặc xâm chiếm hoành hành. Không một người dân nào có thể sống yên với lũ giặc, chúng luôn muốn giết người và cướp bóc tài sản cũng như lương thực của nhân dân ta. Thời ấy, ở vùng Lam Sơn, có một nghĩa quân đang nổi dậy, nhưng lực lượng còn rất yếu nên quân ta cũng khó lòng đánh thắng. Tuy nhiên, do không thể chịu được cảnh lầm than của nhân dân ta mà nghĩa quân dù thế còn yếu, lực chưa đủ nhưng cũng không hề nản lòng mà vẫn quyết tâm đánh giặc.

    Cũng trong thời gian ấy, có một người dân làng chài tên là Lê Thận ở vùng Thanh Hóa đang đêm đi đánh dậm, kéo vó và thả lưới. Khi mới quăng lưới xuống, anh ta thấy kéo được một một casci gì đang động đậy ở dưới mặt nước, tưởng đó là một con cá to. Anh ta chắc mẩm cơ may đang đến với mình nhưng khi khéo lên, anh ta lại thấy một thanh sắt mắc vào lưới. Vì không thể làm gì với thanh sắt đó, Lê Thận bèn vứt xuống sông rồi lại đi nơi khác thả lưới. Ở lần thả này, ah lại thấy lưới nặng trĩu, trong lòng nghĩ: ” Mình đã đi xa như thế rồi nên chắc không phải là thanh sắt kia đâu”. Nhưng khi kéo lên thì vẫn là thanh sắt đó. Lê Thận lại ném xuống sông. Đến lần thứ 3, anh vẫn kéo phải thanh sắt đó, trong lòng anh nghĩ có điều kỳ lạ gì đó ở trong thanh sắt này bèn vớt lên rồi quan sát thật kĩ. Đến lúc này anh mừng rỡ vì phát hiện đó không phải là một thanh sắt bỏ đi mà lại là một thanh kiếm. Sau đó, nghĩa quân đi chiêu mộ người tài cùng nhau hợp sức cứu nước, lúc này Lê Thận bèn gia nhập nghĩa quân.

    Trong những trận chiến đối đầu với quân địch, Lê Thận không hề tỏ ra sợ hãi mà ngược lại còn chiến đấu rất dũng cảm, không sợ hiểm nguy. Trong nghĩa quân, Lê Lợi được suy tôn thành chủ tướng, trong những đêm bàn mưu kế để đánh giặc, Lê Lợi và các tướng sĩ thường đến nhà Lê Thận để bàn bạc. Trong khi mọi nơi ở căn nhà đều tối om chỉ có ánh đèn nơi bàn việc thì trong một góc nhỏ, đột nhiên thanh gươm lại sáng rực lên, thấy lạ, Lê Lợi bèn đến gần và cầm gươm lên xem. Ông thấy trên gươm có hai chữ “thuận thiên” nhưng rồi sau đó do không thấy gì lạ nên Lê Lợi bèn đặt gươm về vị trí cũ. Nhưng việc đánh giặc của nghĩa quân không hề đơn giản và thuận việc, những trận chiến, những cuộc khởi nghĩa đều bị thất bại. Quân sĩ ngày càng tỏ ra chán nản.

    Trong một trận chiến, nghĩa quân của ta bị thất trận, Lê Lợi và các tướng sĩ, quân lính đều phải rút chạy vào trong rừng. Trong khi đi sâu vào trong rừng, đột nhiên Lê Lợi thấy chói mắt bởi một thứ ánh sáng kỳ lạ trên một ngọn cây. Khi trèo lên thì ông mới phát hiện đó chính là chiếc chuôi gươm nạm ngọc. Theo suy tính của Lê Lợi, ông đã nghĩ ngay đến chiếc gươm của nhà Lê Thận, Lê Lợi nhanh chóng về nhà Lê Thận.

    Quả đúng như suy tính, khi đem thanh gươm ướm vào chuôi thì vừa như in. Lúc này, Lê Thận bèn lấy gươm rồi dâng đưa cho Lê Lợi. Cũng từ đó, sau khi biết đó là gươm thần, nghĩa quân ta ngày càng một tràn đầy nhuệ khí. Quân ta ra trận nào, thắng trận đấy, bách chiến bách thắng không để một tên giặc nào có thể thoát được. Tiếng tăm của nghĩa quân ngày càng được vang xa, binh lực của quân ta cũng được tăng lên gấp bội. Ta đánh đâu thắng đấy, chiếm phá được nhiều kho lương thực để phân phát cho người dân và cũng là để nuôi quân cứu nước. Cứ như thế mà quân ta đã nhanh chóng quét sạch quân thù để đất nước trở nên thái bình và những người dân sẽ được hưởng cuộc sống no ấm, hạnh phúc/

    Sau khi chiến thắng quân giặc, Lê Lợi lên làm vua. Trong một lần ngự thuyền đi quanh hồ Tả Vọng, Long Quân đã sai rùa vàng nên đòi lại thanh gươm thần. Khi thuyền đang đi ra hồ, Rùa vàng nhô lên và nhà vua thấy thanh gươm bên mình tự nhiên lay động, lúc đó, Rùa vàng bèn nói:

    “Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân”

    Nhà vua bèn hiểu ý bèn trao lại gươm cho Rùa vàng. Rùa ngậm gươm rồi lặn xuống nước, ánh sáng mà chiếc gươm thần vẫn còn le lói dưới dòng nước trong xanh. Từ đó trở đi, hồ Tả Vọng đã mang tên là Hồ Gươm hay còn gọi là Hồ Hoàn Kiếm.

    “;

    --- Bài cũ hơn ---

  • Văn Mẫu Lớp 6: Em Hãy Đóng Vai Rùa Vàng Để Kể Lại Truyền Thuyết “sự Tích Hồ Gươm”
  • Bài Số 13: Trong Vai Lê Lợi Kể Lại Truyện Sự Tích Hồ Gươm
  • Bài 4. Sự Tích Hồ Gươm Presentation2 Pptx
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Sự Tích Hồ Gươm
  • Giáo Án Ngữ Văn 6 Tuần 4 Tiết 13 Giáo Án Bài Sự Tích Hồ Gươm
  • Hãy Kể Lại Truyện Thạch Sanh Bằng Lời Văn Của Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Kể Lại Một Truyện Cổ Tích Thạch Sanh Bằng Lời Văn Của Em
  • Bài Văn Mẫu Lớp 6: Kể Truyện Thạch Sanh Bằng Lời Văn Của Em
  • Kể Lại Một Truyện Đã Biết (Cổ Tích) Bằng Lời Văn Của Em: Thạch Sanh
  • Hãy Kể Lại Câu Chuyện Thạch Sanh Ngắn Gọn Và Đầy Đủ Nhất
  • Kể Truyện Thạch Sanh Bằng Lời Văn Của Em
  • Đã từ rất xưa có đôi vợ chồng tuy đã già nhưng chưa có con, họ rất tốt bụng, nhân ái khi hãy giúp đỡ người khác. Thấy thương cảm Ngọc Hoàng phái Thái tử đầu thai làm con của họ với tên gọi Thạch Sanh, hai vợ chồng tuổi cao sức yếu đã sớm qua đời chỉ còn Thạch Sanh trở thành trẻ mồ côi sống một mình cạnh gốc đa hành nghề kiếm củi.

    Một hôm tên bán rượu tên là Lí Thông vô tình biết Thạch Sanh là người khỏe mạnh, sức khỏe hơn người nên đã kết thân làm anh em kết nghĩa. Thạch Sanh từ đứa trẻ mồ côi này có thêm người anh em vô cùng vui mừng, cảm động.

    Thời xưa hoang vu, ít người còn nhiều loại quái vật, hung tinh chuyện ăn thịt người, nổi lên đó là Chằn Tinh, nhiều lần giao chiến nhưng quân triều đình vẫn không thể hạ được nó. Mỗi năm phải cúng mạng người để nó không tác oai tác quái. Lần này đến lượt Lí Thông nộp mạng, Lí Thông dụ Thạch Sanh đi canh miếu thờ thay vì hắn có việc bận không đi được.

    Thạch Sanh nhận lời đi thay, đến đêm thì Chằn Tinh xuất hiện, 2 bên đã giao chiến với nhau. Bằng tài nghệ của mình Thạch Sanh hạ dễ dàng con quái vật, chặt đầu Chằn Tinh mang về còn thân xác biến thành cây cung bằng vàng. Lí Thông thấy vậy liền cướp công Thạch Sanh, nhà vua vui mừng phong chức Quận công.

    Công chúa bị đại bàng bắt, Thạch Sanh lấy cung bắn đại bàng bị thương phải chạy trốn. Lý Thông lại một lần nữa cầu cứu Thạch Sanh giết đại bàng và cứu công chúa. Khi cứu được công chúa Lí Thông sai người lấp hang để cướp công lần nữa. Về phần Thạch Sanh chàng được quý nhân cứu mạng đó là con vua Thủy Tề, nhà vua tặng cho cây đàn thần.

    Hồn chằn tinh và đại bàng tìm cách hại Thạch Sanh bằng cách ăn cắp của cải mang đến gốc đa, chàng bị bắt vào ngục.

    Công chúa khi được giải thoát về cung bỗng bị câm, nhà vua vô cùng lo lắng nhưng chưa biết cách chữa trị. Trong ngục tối Thạch Sanh lấy đàn ra gảy công chúa lập tức khỏi bệnh, chàng được minh oan, mẹ con Lý Thông được vua tha về quê nhưng trên đường về bị sét đánh hóa thành thạch sùng.

    Lễ cưới công chúa và Thạch Sanh diễn ra tại hoàng cung, các nước chư hầu thấy thế rất tức giận sai quân đến đánh. Thạch Sanh mang đàn được tặng ra đánh, tạm thời đẩy lùi được quân 18 nước chư hầu mà còn đãi cơm trong niêu thần ăn mãi vẫn không hết cơm.

    Nhà vua thời gian những ngày cuối đời nhường ngôi vị cho Thạch Sanh, chàng và công chúa sống hạnh phúc bên nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 1) Viết 1 Đoạn Văn (5
  • Phân Tích Truyện Cổ Tích Thạch Sanh
  • Bài 9. Thứ Tự Kể Trong Văn Tự Sự Thu Tu Ke Trong Van Tu Su Ppt
  • Em Hãy Tóm Tắt Các Sự Việc Trong Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh , Thạch Sanh Cho Biết Các Sự Việc Trong Truyện Được Kể Theo Thứ Tự Nào ? Kể Theo Thứ Tự Đó Tạo Nên H
  • Giáo Án Bài Giao Tiếp, Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt
  • Kể Lại Chuyện Bánh Chưng Bánh Giầy Bằng Lời Văn Của Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Cảm Nhận Khi Đọc Bài Ca Côn Sơn Của Nguyễn Trãi.
  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Ca Côn Sơn
  • Mẫu Văn Bản Rút Kinh Nghiệm
  • Mẫu Văn Bản Rút Kinh Nghiệm Tháng Đầu
  • Báo Cáo Rút Kinh Nghiệm
  • Vua Hùng Vương thứ sáu mở cuộc thi chọn người nối ngôi. Vua ra điều kiện: trong lễ tế Tiên vương, ai làm vua hài lòng, người đó sẽ được truyền ngôi. Các lang liền toả đi khắp nơi tìm bạc vàng, châu báu, của ngon vật lạ để dâng lên. Thấy thế, Lang Liêu rất bối rối. Là con trai nhà vua nhưng chàng rất nghèo, không thể tìm được những đồ quý hiếm. Chàng băn khoăn, trằn trọc suy nghĩ…

    Thế là sắp đến ngày lễ Tiên vương rồi. Ngày kia trong triều sẽ mở đại tiệc. Hẳn các lang anh đã chuẩn bị được nhiều của ngon vật lạ lắm. Nào là nem công chả phượng, nào là yến huyết, vi cá… Vua cha rồi sẽ khen nức nở, chỉ việc chọn món nào ngon nhất mà thôi. Mình không ham gì ngôi cao, chỉ mong ước được sống bình yên như thế này. Nhưng, dẫu sao cũng là tấm lòng, giá như mình có một món gì đó thật ý nghĩa tế lên Tiên vương và cũng là để thể hiện lòng thành kính đối với vua cha thì tốt quá.

    Lang Liêu ngủ thiếp đi, trong mơ chàng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ chống gây đến nói:

    – Lang Liêu ạ, ta biết con tuy nghèo nhưng rất có hiếu. Con chỉ muốn có một món quà gì đó để dâng lên Tiên vương và cũng để tỏ lòng hiếu thảo đối với vua cha phải không? Vậy ta hỏi con: Con làm nghề nông, trên đời cái gì cao nhất?

    – Dạ, trời ạ!

    – Thế cái gì gần gũi và quý nhất?

    – Dạ, đất ạ!

    – Vậy con hãy lấy những sản vật do chính tay con trồng cấy và nuôi nấng để làm ra món ăn gì đó vừa tượng hình được cho trời vừa tượng hình cho đất. Đó chính là món quà quý nhất con có thể dâng lên Tiên vương.

    Cụ già nói xong liền hoá thành một làn khói mỏng bay đi. Lang Liêu giật mình tỉnh dậy. Nhớ lại giấc mơ vừa qua, chàng vô cùng mừng rỡ.

    Sáng hôm sau, Lang Liêu nhờ mẹ lấy cho ít lá vẫn dùng làm bánh. Chàng chọn thứ gạo ngon nhất, trắng nhất, mổ một con lợn béo lấy những miếng thịt ngon nhất. Sau đó chàng lấy lá gói thành thứ bánh vuông vức như mặt đất bao la. Xong xuôi chàng cho vào nồi luộc. Qua mấy canh giờ, mùi bánh chín bốc lên thơm nức cả làng xóm. Ai đi qua cũng ghé vào xem, khen rằng chưa từng có ai gói được thứ bánh thơm như thế. Cũng thứ cơm nếp thơm ngon ấy, chàng giã mịn, nặn thành thứ bánh tròn vành vạnh như bầu trời buổi sớm.

    Sáng hôm sau, mẹ Lang Liêu đội mâm bánh tròn đi trước, Lang Liêu đội mâm bánh vuông theo sau. Hai mẹ con vào đến trong cung thì mọi người đã về tựu đông đủ.

    Lỗ Tiên vương xong, vua cùng các quan đại thần đi một vòng qua các mâm cỗ nếm thử. Đến mâm nào Người cũng chỉ nếm qua một miếng, tỏ vẻ không vui. Như: gan hùm, tay gấu, tim voi, đến cả vi cá mập,…. Người cũng vẫn thường ăn hàng ngày, có gì lạ đâu? Người buồn vì thấy trước một thử thách như thế, các lang không nghĩ được cái gì có ý nghĩa, chỉ biết có mỗi cách là đi các nơi tìm của ngon vật lạ.

    Đến hai mâm bánh cùa Lang Liêu, nhà vua bỗng dừng lại, ngẫm nghĩ. Từ hai mâm bánh bình dị toát lên mội thứ mùi vị thật nồng nàn, thân thuộc. Mùi của nếp mới quyện trong sương sớm, của rơm tươi vừa gặt toả ra ngan ngát. Trong làn hương thoang thoảng, thấp thoáng bóng những người nông dân cặm cụi trốn đồng, những cánh cò mải miết, phảng phất phía xa những làn khói lam chiều…

    Người sai lấy dao cắt bánh rồi chia cho mỗi người một miếng. Ai ăn cũng tấm tắc khen ngon. Nhà vua hỏi Lang Liêu:

    – Ai bày cho con làm hai thứ bánh này? Chúng có ý nghĩa như thế nào?

    Lang Liêu vội quỳ xuống thưa:

    – Muôn tâu vua cha, thứ bánh hình tròn này chính là tượng cho bầu trời cao xa, nơi có đức Ngọc Hoàng cùng Tiên vương ngự trị, còn thứ bánh hình vuông này là tượng cho mặt đất rông lớn, nơi có vua cha đang cai quản, gìn giữ nên thái bình muôn thuở. Bánh được làm từ gạo nếp, đỗ xanh, thịt ngon do chính bàn tay con làm ra. Chính tấm lòng kính yêu của con đối với vua cha đã mách bảo cho con đấy ạ!

    Vua đỡ Lang Liêu đứng dậy. Nhìn thẳng vào mắt chàng, Người nói:

    – Con không những là một đứa con có hiếu mà còn là một người rất yêu lao động, biết quý trọng những gì do bàn tay lao động làm ra.

    Rồi trước đông đủ văn võ bá quan, Người tuyên bố:

    – Như ta đã nói từ trước, người nối ngôi ta phải nối được chí ta. Chí ta là muốn lo cho muôn dân được hưởng thái hình muôn thuở, ngày càng no đủ, sung túc. Muốn làm được điều đó, người đứng đầu thiên hạ phải hiểu được nghĩa lí của trời đất, phải biết yêu lao động, trân trọng từng hạt gạo do người nông dân đã phải một nắng hai sương, lam lũ vất vả làm ra. Lang Liêu tuy không phải là con trưởng, xưa nay cũng không mấy khi được ta quan tâm săn sóc nhưng nó lại là người gần ta và hiểu được ta hơn ai hết. Từ hôm nay, ta tuyên bố, Lang Liêu chính là người sẽ thay ta trị vì thiên hạ.

    Mọi người nhất loạt quỳ xuống, hô vang:

    – Đức vua vạn tuế! Vạn vạn tuế!

    Nhà vua nói tiếp:

    – Ta cũng tuyên bố, từ nay trở đi sẽ lấy hai thứ bánh này để cúng tổ tiên. Thứ bánh vuông này gọi là bánh chưng, bánh tròn gọi là bánh giầy…

    Triều vua Hùng Vương thứ bảy đã được lập ra như thế đó. Và hai thứ bánh chưng, bánh giầy ngày ấy cùng với phong tục cúng lễ tổ tiên ngày tết, vẫn còn được lưu truyền cho mãi đến bây giờ.

    Kể lại chuyện Bánh chưng bánh giầy bằng lời văn của em – Bài làm 3

    Vua Hùng thứ 6 có 20 hoàng tử. Nhà vua ngày một già yếu. Việc truyền ngôi cho thế tử biết chọn ai bây giờ? Nhà vua băn khoăn lo nghĩ mãi: “Giặc ngoài đã dẹp yên, giặc trong phải đề phòng; dân ấm no, ngai vàng mới vững…”.

    Một hôm nhà vua triệu các hoàng tử đến và phán: “Ta đã già. Người nối dõi không nhất thiết là con trưởng mà phải là người nối chí ta. Lễ Tiên Vươn ạ sắp tới, hễ con nào làm vữa V ta, ta tríivêiì IIÍỊÔÌ cho, có Tiên Vương chứng giám”.

    Các ông Lang tưng bừng chuẩn bị, ai cũng muốn ngôi báu về mình. Riêng Lang Liêu là con thứ 18, mẹ mất sớm chịu nhiều thiệt thòi, lâu nay chỉ biết trồng lúa, trồng khoai… Nhẩm lại lời vua cha, Lang Liêu buồn lắm. Đêm đó, nằm mộng, ông thấy thần đến bảo:

    “Gạo là thứ quý nhất trên đời. Ăn mãi không chán, lại do người làm ra… Hãy lấy gạo làm bánh, làm như thế… như thế… mà lễ Tiên Vương…”.

    Tỉnh mộng, Lang Liêu mừng thầm. Ông chọn thứ gạo nếp thơm ngon nhất đem ngâm, vo thật sạch. Lấy đậu xanh đãi sạch vỏ, lấy thịt lợn làm nhân, dùng lá dong đùm thành hình vuông, nấu một ngày một đêm thành bánh. Một nửa số gạo nếp đã vo sạch còn lại, đem đồ lên, giã nhuyễn, nặn hình tròn.

    Đến ngày lễ Tiên Vương, các hoàng tử mang cỗ đến với bao sơn hào hải vị, nem công chả phượng… Còn Lang Liêu chỉ có 2 mâm đầy với hai loại bánh bình dị ấy. Vua Hùng đi xem xét từng mâm cỗ một. Nhà vua dừng lại rất lâu trước hai mâm bánh của Lang Liêu rồi gật đầu, vui lòng lắm. Vua cho gọi Lang Liêu lại hỏi. Vị hoàng tử thứ 18 kể lại giấc mộng gặp thần linh… Vua cha ngẫm nghĩ rồi chọn hai mâm bánh ấy đặt lên bàn thờ, nơi cao nhất để lễ Tiên Vương. Lễ xong, vua ban bánh cho quần thần và các hoàng tử. Ai cũng tấm tắc khen ngon. Vua nói với họ:

    “Thứ bánh hình tròn, trắng tinh khiết này tượng Trời, đặt tên là bánh giầy. Thứ bánh hình vuông là tượng Đất; thịt mỡ, đậu xanh, lá dong làtượng cầm thú, cây cỏ muôn loài, đặt tên là bánh chưng. Lá xanh bọc ngoài, mĩ vị để trong là ngụ ý đùm học nhau…”. Ngập ngừng một lát, nhà vua kính cẩn nhìn lên bàn thờ Tiên Vương, nghiêm trang nhìn quần thần và các hoàng tử rồi phán:

    “Lang Liêu đã dânglễ phẩm hợp ý tua Lang Liêu sẽ nối ngôi ta, kính xin Tiên Vương chứng giám”.

    Từ đó, nghề nông ở nước ta càng được mở mang và phát triển. Ngày Tết có tục làm bánh chưng, bánh giầy. Bánh chưng, bánh giầy là hương vị tết cổ truyền dân tộc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bánh Chưng Bánh Giầy Lớp 6 Ngắn Gọn
  • Dàn Ý Phân Tích Truyện Bánh Chưng Bánh Giày, Chi Tiết, Dễ Hiểu
  • Soạn Văn Bài: Văn Bản Báo Cáo
  • Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Báo Cáo
  • Hướng Dẫn Đọc Và Phân Tích Báo Cáo Tài Chính (2021)
  • Kể Lại Truyện Con Rồng Cháu Tiên Bằng Lời Văn Của Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Lớp 6: Con Rồng Cháu Tiên
  • Soạn Bài Cô Tô Của Nguyễn Tuân, Ngữ Văn Lớp 6 Trang 88 Sgk Tập 2
  • Soạn Bài Cô Tô (Chi Tiết)
  • Soạn Bài : “cô Tô” Của Nguyễn Tuân
  • Soạn Bài Cô Tô (Siêu Ngắn)
  • Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em mà em đã học bao gồm các bài văn hay chọn lọc được VnDoc sưu tầm, tổng hợp. Các bài văn mẫu lớp 6 thuộc bài viết số 1 này sẽ giúp các em học sinh có thêm nhiều ý tưởng hoàn thiện cách làm bài văn kể chuyện lớp 6. Mời các em cùng tham khảo chi tiết.

    Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em lớp 6 mẫu 1

    Mỗi chúng ta, ai sinh ra cũng mang trong mình niềm tự hào dân tộc sâu sắc. Người Việt Nam ngay từ những ngày còn thơ bé đã vô cùng tự hào về giống nòi tổ tiên mình qua lời kể của bà, của mẹ từ truyền thuyết “Con Rồng cháu Tiên”. “Con Rồng cháu Tiên” không chỉ là một truyền thuyết tiêu biểu trong lịch sử Việt Nam mà còn là câu chuyện giải thích nguồn cội cha ông đầy vẻ vang của đất nước ta, là truyền thuyết mà mãi đến muôn đời sau vẫn còn lưu truyền.

    Truyền thuyết kể lại rằng: Thuở xưa, ở vùng đất Lạc Việt Lạc Việt – bây giờ chính là vùng Bắc Bộ nước ta, có một vị thần tên là Lạc Long Quân, con trai của thần Long Nữ. Thần mình Rồng, sức khỏe phi thường và có nhiều phép lạ. Thần sinh sống dưới thuỷ cung, thỉnh thoảng lên cạn, giúp nhân dân diệt trừ yêu quái như Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh và dạy nhân dân cách trồng trọt, chăn nuôi.

    Cũng khi ấy, ở vùng núi cao phương Bắc, có một nàng tiên cực kì xinh đẹp, thuộc dòng dõi Thần Nông, tên gọi là Âu Cơ. Nàng thích ngao du đây đó, thích đến những nơi có phong cảnh đẹp. Nghe nói vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng liền tìm đến thăm. Tại đây, Âu Cơ và Lạc Long Quân tình cờ gặp nhau. Hai người yêu nhau rồi nên vợ nên chồng. Họ sống trong cung điện Long Trang.

    Ít lâu sau, Âu Cơ mang thai. Nhưng thật kì lạ, đến kì sinh nở, nàng lại sinh ra một cái bọc trăm trứng, trăm trứng nở ra trăm người con trai trắng trẻo, hồng hào, khôi ngô tuấn tú. Cả một trăm người con cứ lớn nhanh như thổi, chẳng cần bú mớm mà vẫn lớn nhanh như thổi, khỏe mạnh như thần.

    Một thời gian sau, Lạc Long Quân vì không quen sống trên cạn và nhớ biển cả nên chàng trở về thuỷ cung, để lại Âu Cơ cùng đàn con trên cạn. Ngày qua ngày, Âu Cơ chờ mãi chờ mãi, nàng sốt ruột trông ngóng chồng với tâm trạng buồn tủi. Cuối cùng, nàng gọi chồng lên mà than thở:

    – Sao chàng nỡ bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi dạy các con?

    Lạc Long Quân nghe vậy, đành phải nói với Âu Cơ rằng:

    – Ta vốn nòi Rồng, quen sống ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên, quen sống ở chốn non cao. Kẻ trên cạn người dưới nước, tính tình tập quán khác nhau, khó lòng nào mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chúng ta chia nhau cai quản các phương. Kẻ trên miền núi, người dưới miền biển, khi có việc gì khó khăn thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn.

    Âu Cơ nghe theo, từ biệt chồng, đưa năm mươi người con lên núi, đến vùng đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, lập ra nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (vùng Bạc Hạc, Lâm Thao, Phú Thọ ngày nay). Triều đình có quan văn, quan võ (Lạc tướng, Lạc hầu). Con trai của vua gọi là lang, con gái vua gọi là mị nương. Vua cha chết thì con trai trưởng sẽ nối ngôi. Mười tám đời vua kế tiếp nhau đều lấy hiệu Hùng Vương. Nhân dân ta từ đó luôn hết lòng đoàn kết, yêu thương nhau, cùng nhau bảo vệ đất nước, đứng lên đánh đuổi nhiều lần giặc ngoại xâm.

    Cho đến hôm nay, khi nhiều thập kỉ đã qua đi, truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên vẫn được lưu giữ trong nhân dân ta, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Truyền thuyết không chỉ giải thích nguồn gốc cao quý của tổ tiên mà còn khẳng định nhân dâm Việt Nam đều là anh em một nhà, phải đoàn kết yêu thương lẫn nhau, sống xứng đáng với cội nguồn con cháu Rồng Tiên của mình.

    Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em mẫu 2

    Thuở xưa ở vùng đất Lạc Việt có vị thần tên là Lạc Long Quân, con trai của thần Long Nữ sống ở dưới biển Đông. Thần hình rồng, sức khỏe phi thường và có nhiều phép lạ. Thỉnh thoảng thần lên sống trên cạn, giúp dân diệt trừ các loài yêu quái như Ngư Tinh, Hồ tinh, Mộc Tinh. thần còn dạy dân cách trồng trọt và sinh sống.

    Âu Cơ là một tiên nữ dòng dõi Thần Nông ở vùng núi cao phương Bắc. Nàng thích ngao du đây đó, những nơi có phong cảnh đẹp. Bên trai tài, bên gái sắc, họ yêu nhau rồi kết thành vợ chồng.

    Ít lâu sau, Âu Cơ sinh ra cái bọc trăm trứng, nở ra một trăm người con khôi ngô tuấn tú lạ thường. Chẳng cần bú mớm mà đàn con lớn nhanh như thổi, khỏe mạnh như thần.

    Một hôm, nhớ biển cả và cảm thấy mình không thể sống lâu trên cạn được, Lạc Long Quân đành từ biệt Âu Cơ để trở về chốn thủy cung. Âu Cơ một mình nuôi con. Ngày lại ngày qua, nàng sốt ruột trông ngóng chồng với tâm trạng buồn tủi. Cuối cùng, nàng gọi chồng lên mà than thở:

    – Sao chàng nỡ bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con?!

    Lạc Long Quân ân cần giải thích:

    – Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là dòng tiên ở chốn non cao. Kẻ trên cạn người dưới nước, tính tình tập quán khác nhau, khó lòng mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì khó khăn thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn.

    Âu Cơ nghe theo đưa năm mươi người con lên đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, lập ra nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu (vùng Bạc Hạc, Lâm Thao, Phú Thọ ngày nay). Triều đình có quan văn, quan võ (Lạc tướng, Lạc hầu). Con trai của vua gọi là lang, con gái vua gọi là mị nương. Vua cha chết, con trai trưởng nối ngôi. Mười tám đời vua kế tiếp nhau đều lấy hiệu Hùng Vương.

    Từ sự tích này mà dân tộc Việt Nam thường nhắc đến nguồn gốc cao quý của mình là con Rồng cháu Tiên. Tất cả các dân tộc sống trên đất nước Việt Nam đều là anh em cùng chung một bọc sinh ra (đồng bào). Các dân tộc đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước.

    Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em mẫu 3

    Ngày xưa ở vùng đất Lạc Việt – bây giờ chính là vùng Bắc Bộ nước ta – có một vị thần tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, là con trai thần Long Nữ. Thần sống dưới thuỷ cung, thỉnh thoảng hiện lên giúp dân diệt trừ yêu quái và dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi. Ở vùng núi cao phương Bắc khi ấy có một nàng tiên cực kì xinh đẹp, thuộc họ Thần Nông, tên gọi Âu Cơ. Nghe nói vùng đất Lạc Việt nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng liền đến thăm. Tại đây, nàng gặp Lạc Long Quân. Hai người yêu nhau rồi nên vợ nên chồng. Họ sống trong cung điện Long Trang.

    Ít lâu sau, Âu Cơ có thai. Thật kì lạ, đến kì sinh nở, nàng sinh ra một bọc trăm trứng, sau trăm trứng nở ra trăm người con trai khôi ngô tuấn tú. Đàn con cứ lớn nhanh như thổi, chẳng cần bú mớm gì. Lạc Long Quân, vì không quen sống trên cạn nên một thời gian sau trở về thuỷ cung, bỏ lại Âu Cơ cùng đàn con trên cạn. Chờ mãi, chờ mãi mà chẳng thấy chồng về, Âu Cơ bèn gọi chồng lên than thở. Lạc Long Quân đành phải nói với Âu Cơ rằng, hai người không thể tiếp tục cùng nhau chung sống vì tập quán, nơi sinh… khác nhau. Âu Cơ cùng Lạc Long Quân chia đàn con, năm mươi người con theo cha xuống biển, năm mươi người con theo mẹ lên rừng, cùng cai quản bốn phương.

    Người con trai trưởng của Âu Cơ lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Theo tục cha truyền con nối, mười tám đời vua Hùng đều lấy hiệu là Hùng Vương. Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta – các con cháu vua Hùng – khi nhắc đến nguồn gốc của mình thường xưng là con Rồng, cháu Tiên.

    Câu chuyện đến đây là kết thúc. Bằng trí tưởng tượng phong phú, truyện “Con Rồng cháu Tiên” đã giải thích, suy tôn nguồn gốc giống nòi và thể hiện ý nguyện đoàn kết, thống nhất của cộng đồng người Việt.

    Tác giả: Dương Hoài Phương (Trường THCS Dịch Vọng)

    Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em mẫu 4

    Các bạn có biết vì sao ta luôn tự hào là “Con Rồng cháu Tiên” không? Câu chuyện Con Rồng cháu Tiên tôi kể sau đây sẽ giúp các bạn hiểu thêm về điều đó.

    Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, tên gọi Lạc Long Quân, con trai của thần Long Nữ. Thần có sức khoẻ vô địch, thường lên cạn để dạy dân cách ăn ở, giúp dân diệt trừ yêu quái.

    Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ là con của thần Nông – vị thần giúp dân trồng trọt lúa ngô,… Nghe nói vùng đất Lạc Việt nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng Âu Cơ xin phép vua cha cho tới thăm. Ở đó, nàng gặp Lạc Long Quân. Hai người yêu nhau và nên duyên chồng vợ, cùng sống ở cung điện Long Trang.

    Thời gian sau, Âu Cơ có mang. Đủ ngày đủ tháng, nàng sinh ra một cái bọc có trăm trứng. Lạ thay, trăm trứng lại nở ra trăm người con trai đẹp đẽ, hồng hào. Chúng không cần bú mớm gì mà vẫn lớn nhanh khoẻ mạnh như thần.

    Sống với nhau một thời gian, cảm thấy mình không thể tiếp tục cuộc sống trên cạn, Lạc Long Quân đành từ biệt vợ con trở về Long cung.

    Lại nói về Âu Cơ. Ngày đêm nàng buồn tủi chờ mong Lạc Long Quân trở về. Không chịu được, nàng gọi chồng lên, bảo:

    – Sao chàng lại bỏ thiếp mà đi, không ở lại cùng thiếp nuôi dạy các con?

    Lạc Long Quân nắm tay vợ, bùi ngùi nói:

    – Ta ở miền nước thẳm, nàng ở chốn non cao, ta là Rồng còn nàng là Tiên. Rồng và Tiên không thể sống mãi cùng nhau. Nay, ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, cùng nhau cai quản bốn phương, bảo vệ đất nước, có việc gì thì giúp đỡ nhau, đừng quên lời hẹn.

    Âu Cơ nghe theo, từ biệt chồng lên đường. Người con lớn của Âu Cơ theo mẹ lên núi, được tôn làm vua. Chàng đóng đô ở đất Phong Châu, lấy hiệu là Hùng Vương. Mười tám đời vua Hùng đã nối tiếp nhau. Từ đó, dân tộc ta dù ở khắp mọi nơi nhưng vẫn gọi nhau là đồng bào. Mỗi khi gặp giặc ngoại xâm vẫn cùng nhau đứng lên giữ nước. Mỗi khi nơi nào gặp khó khăn, các nơi khác lại cùng nhau giúp đỡ.

    Câu chuyện tôi kể chắc đã giải thích suy tôn nguồn gốc giống nòi dân tộc Việt và cũng gửi gắm ước mơ thống nhất cộng đồng người Việt của dân ta đấy các bạn ạ.

    Tác giả: Trương Thụy Anh (Trường THCS Lê Quý Đôn)

    Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em – Ngữ văn 6 mẫu 5

    Ngày xửa ngày xưa, đã lâu lắm rồi, ở miền đất Lạc Việt, bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần mình rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Với sức khoẻ vô địch của giống rồng cùng những phép thần thông biến hoá mà cha mẹ dạy cho, chàng hay lên cạn giúp dân diệt trừ yêu quái và dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi…

    Cùng lúc ấy, ở vùng núi cao phương Bắc có một tiên nữ xinh đẹp tuyệt trần, tên là Âu Cơ, thuộc dòng họ Thần Nông. Nghe nói vùng đất Lạc Việt đất đai màu mỡ, vạn vật phong phú tốt tươi, nhiều hoa thơm cỏ lạ, nàng bèn đến thăm. Tại đây, nàng gặp Lạc Long Quân và hai người nên duyên chồng vợ. Họ sống với nhau rất hạnh phúc ở cung điện Long Trang.

    Không lâu sau, Âu Cơ có mang. Mọi người mừng rỡ chờ ngày nàng nở nhụy khai hoa. Nhưng thật kì lạ, đến kì sinh nở, nàng sinh ra một bọc trăm trứng, sau trăm trứng lại nở ra trăm người con hồng hào bụ bẫm. Đàn con chẳng cần bú mớm, lớn nhanh như thổi, đứa nào đứa nấy mặt mũi khôi ngô, sức khoẻ vô địch.

    Một ngày nọ, Lạc Long Quân bỗng nhớ biển cồn cào, chàng bèn về thuỷ cung, để lại Âu Cơ và đàn con đêm ngày nhớ mong buồn tủi. Mãi rồi một hôm, Âu Cơ đành phải gọi Lạc Long Quân lên, nàng than thở:

    – Sao chàng lại bỏ thiếp mà đi, không ở lại cùng thiếp nuôi dạy con cái?

    Lạc Long Quân rầu rĩ:

    – Cả đời ta gắn với biển sâu, nàng lại là tiên nữ chốn non cao. Người dưới nước, kẻ trên cạn thì một cuộc biệt li chắc không tránh khỏi. Vả lại, ta còn cha già mẹ yếu nơi biển sâu không ai chăm sóc, công việc ở đó không ai gánh vác thay ta. Thôi, ta đem năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương, mỗi khi khó khăn hoạn nạn thì phải giúp đỡ lẫn nhau.

    Không còn cách nào khác, Âu Cơ đem năm mươi người con lên núi. Người con trưởng của Âu Cơ được tôn làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở đất Phong Châu. Trong triều có tướng văn, tướng võ, con trai vua gọi là Lang, con gái vua gọi là Mị Nương. Tục truyền rằng, mười mấy đời vua đều không thay đổi hiệu – Hùng Vương.

    Cũng bởi sự tích này mà về sau, nhân dân ta rất tự hào vì mình là con Rồng cháu Tiên.

    Tác giả: Nguyễn Thuỳ Dương (Trường THCS Nguyễn Huy Tưởng)

    Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em mẫu 6

    Ngày xưa ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, sức khoẻ vô địch và có nhiều phép lạ. Thần thường sống dưới nước, thỉnh thoảng lên cạn diệt trừ yêu quái giúp dân và dạy dân chăn nuôi trồng trọt…

    Bấy giờ ở vùng núi cao phương Bắc có nàng Âu Cơ thuộc dòng dõi Thần Nông. Biết vùng Lạc Việt nhiều hoa thơm cỏ lạ nên nàng đến thăm. Tại đây, nàng gặp Lạc Long Quân. Họ yêu nhau, kết duyên đôi lứa, sống tại cung điện Long Trang trên cạn.

    Ít lâu sau, Âu Cơ có mang. Kì lạ làm sao, đến kì sinh nở, nàng sinh ra một bọc trăm trứng, sau trăm trứng đó nở thành trăm người con trai đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà vẫn lớn nhanh như thổi, sức khoẻ như thần. Âu Cơ và Lạc Long Quân mừng vui khôn xiết.

    Nhưng Lạc Long Quân vốn quen sống dưới nước. Một hôm, chàng đành từ biệt vợ con trở về thuỷ cung. Âu Cơ một mình vò võ nuôi con trong chờ mong buồn tủi. Một hôm, nàng gọi chồng lên than thở:

    – Sao chàng lại bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con?

    Lạc Long Quân ngậm ngùi:

    – Ta thuộc nòi rồng, quen sống dưới vùng nước thẳm, nàng là tiên nữ, quen sống chốn non cao. Kẻ trên cạn, người dưới nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở với nhau lâu dài được. Nay ta đem năm mươi người con xuống biển, nàng đem năm mươi người con lên núi, chia nhau cai quản đất đai, khi có việc cần thì giúp đỡ nhau.

    Âu Cơ mang năm mươi người con lên rừng. Người con trưởng của Âu Cơ lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu. Triều đình có đủ tướng văn tướng võ. Con trai được gọi là Lang, con gái gọi là Mị Nương. Khi cha chết, ngôi báu được truyền cho con trưởng. Cứ thế, mười mấy đời vua Hùng đã thay nhau trị vì đất nước, không hể thay đổi hiệu Hùng Vương.

    Kể từ đó, dân Việt Nam, con cháu các vua Hùng, đều tự coi mình là con Rồng, cháu Tiên.

    Đấy là truyền thuyết giải thích nguồn gốc của dân tộc ta. Truyền thuyết cũng cho ta hiểu rõ hơn hai tiếng thiêng liêng “đồng bào” (cùng trong một bọc). Chúng ta tự hào hơn về nòi giống Tiên Rồng của mình. Tự hào hơn về tình đoàn kết của các dân tộc anh em trên đất Việt.

    Tác giả: Nguyễn Thu Hương (Trường THCS Quảng An)

    Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em mẫu 7

    Ngày xưa có một người con trai thần Long Nữ tên là Lạc Long Quân thuộc giống rồng. Thân ở dưới nước và ở cả trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ. Thần giúp dân trừ yêu quái, dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và ăn ở.

    Ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng hạ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nàng đến thăm vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lại. Hai người gặp nhau, yêu nhau và trở thành vợ chồng.

    Ít lâu sau Âu Cơ mang thai và sinh ra một cái bọc trăn trứng, nở ra trăm người con, người nào cũng đều hoàn hảo, đẹp lạ thường.

    Lạc Long Quân vì nhớ mẹ và không quen ở trên cạn nên đành từ biệt Âu Cơ và đàn con trở về Thuỷ Cung.

    Âu Cơ ở lại nuôi đàn con, tháng ngày chờ đợi Lạc Long Quân trở lại, nhưng nỗi nhớ chồng khiến nàng buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên than thở:

    – Sao chàng đành bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi đàn con nhỏ?

    Lạc Long Quân nói:

    – Ta vốn ở miền nước thẳm, nàng thì ở chốn núi cao, nhiều điều khác nhau, khó mà ở cùng nhau một nơi được lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Khi có việc gì cần giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn, đây là giao ước của vợ chồng, con cái.

    Âu Cơ ưng thuận. Trước khi đưa năm mươi con lên núi, nàng nói với chồng:

    – Thiếp xin nghe lời chàng. Vợ chồng ta đã sống với nhau thắm thiết, nay phải chia hai, lòng thiếp thật là đau xót.

    Lạc Long Quân cũng cố nén nỗi buồn trong buổi chia li, chàng khuyên giải vợ:

    – Tuy xa nhau nhưng tình cảm đôi ta không hề phai nhạt, khi nào cần chúng ta lại gặp nhau.

    Âu Cơ vẫn quyến luyến, rồi buồn bã nói:

    – Thiếp rất nhớ chàng và thương các con, biết đến khi nào chúng ta mới gặp nhau.

    Lạc Long Quân nắm chặt tay vợ, an ủi:

    – Nàng đừng làm mủi lòng ta. Xa nàng và các con lòng ta cũng đau lắm! Âu cũng là mệnh trời, mong nàng hiểu và cảm thông cùng ta.

    Âu Cơ và các con nghe theo lời cùng nhau chia tay lên đường.

    Lạc Long Quân và các con về nơi biển cả, Âu Cơ đưa các con về đất Phong Châu. Người con trưởng được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt tên nước là Văn Lang.

    Cũng bởi sự tích này mà người Việt Nam ta đều luôn tự hào mình là dòng dõi con Rồng cháu Tiên, coi tổ tiên mình là vua Hùng.

    Kể lại truyện Con Rồng cháu Tiên bằng lời văn của em mẫu 8

    Thuở sơ khai, vùng đất Lạc Việt thần Long Nữ có người con trai tài giỏi đó là Lạc Long quân. Với sức mạnh phi thường và sư tài giỏi thần đã giúp tiêu diệt nhiều yêu quái trong vùng và giúp nhân dân trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt…

    Ở vùng núi cao phương Bắc có nàng Âu Cơ vô cùng xinh đẹp là con của Thần Nông. Nghe nói vùng đất Lạc Việt có nhiều hoa thơm cỏ lạ, vạn vật đều sinh sôi, nảy nở bèn đến chơi. Tại đây Âu Cơ gặp được Lạc Long Quân, họ kết duyên thành vợ chồng và cùng nhau sống ở cung điện Long Trang.

    Không lâu sau, Âu Cơ có mang, thật kỳ lạ nàng hạ sinh một bọc trăm trứng, từ trăm trứng sinh ra trăm người con. Điều kỳ lạ là những người con của Âu Cơ không cần bú mớm vẫn lớn nhanh, đẹp đẽ lạ thường. Cả hai vợ chồng ai nấy đều vui mừng, hạnh phúc.

    Sống lâu trên cạn Lạc Long Quân không quen nên đã từ biệt vợ con để trở về với biển cả. Trước khi đi Lạc Long Quân bàn bạc với vợ chia đôi 50 đứa con theo cha trở về biển cả, 50 đứa con theo mẹ lên nương cùng nhau cai quản các phương. Khi có việc cần giúp đỡ vẫn không quên nhau.

    Con trai trưởng theo mẹ được tôn làm vua, lấy hiệu Hùng Vương, đóng đô Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Mấy đời truyền ngôi vẫn lấy niên hiệu là Hùng Vương.

    Từ truyền thuyết này mà những người con Việt Nam mỗi khi nhớ về nguồn cội đều tự xưng mình là “Con Rồng cháu Tiên”.

    Mặc dù chỉ là truyền thuyết nhưng nó đã lý giải về nguồn cội và đề cao sức mạnh đoàn kết, đùm bọc nhau của người con nước Việt. Đồng thời lý giải về sự phân bố dân cư của nước ta.

    Kể lại truyện “Con Rồng cháu Tiên” bằng lời kể của em bao gồm 8 bài văn mẫu hay và chọn lọc cho các em học sinh tham khảo, củng cố làm bài văn kể chuyện lớp 6, ôn tập phần tập làm văn lớp 6, chuẩn bị cho các bài viết số 1 lớp 6 trên lớp đạt kết quả cao. Ngoài ra, các em học sinh tham khảo các bài giải SGK môn Toán lớp 6, Môn Ngữ văn 6, Môn Vật lý 6, môn Sinh Học 6, Lịch sử 6, Địa lý 6….. chi tiết mới nhất trên VnDoc.com.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Con Rồng Cháu Tiên Hay, Ngắn Nhất (5 Mẫu).
  • Tóm Tắt Truyện Con Rồng Cháu Tiên
  • Tóm Tắt Truyện Cây Bút Thần
  • Soạn Bài Lớp 6: Con Hổ Có Nghĩa
  • Soạn Văn Lớp 6 Bài Con Hổ Có Nghĩa Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Kể Lại Truyện Thánh Gióng Bằng Lời Văn Của Em Lớp 6

    --- Bài mới hơn ---

  • Kể Tóm Tắt Truyện Thánh Gióng
  • Tiết 5: Thánh Gióng Thanhgiong1 Ppt
  • Giúp Mình Với Soạn Văn Lớp 6 Thánh Gióng Tiết 1 Câu Hỏi 12804
  • Soạn Bài Thánh Gióng Trang 22 Sgk Văn 6
  • Soạn Bài Ngôi Kể Trong Văn Tự Sự (Chi Tiết)
  • Đề bài: Kể lại truyện Thánh Gióng bằng lời kể của em.

    Vào đời vua Hưng năm thứ 6, tại làng Gióng 2 vợ chồng chăm chỉ làm ăn và phúc đức, nhưng họ lại không có con. Một hôm nọ bà đi ra đồng thấy có dấu chân to trên cánh đống, thấy lạ bèn ướm thử chân mình vào, về sau bà mang bầu. 12 tháng sau sinh ra một cậu bé sáng sủa thông minh đặt tên là Gióng.

    Thánh Gióng kỳ lạ cậu bé đã đến 3 tuổi vẫn không biết nói, chỉ nằm im, một chữ cũng không thốt ra làm mẹ của Gióng lo lắng và sốt ruột lắm.

    Thời thế nước nhà bị giật Ân xâm lược, nhà vừa sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài giỏi cứu nước. Đứa bé nghe tiếng loa của sứ giả, bỗng cất tiếng nói: “Mẹ ra mời sứ giả vào đây”. Sứ giả vào, đứa bé bảo: “Ông về tâu với vua sắm cho ta một con ngựa sắt, một cái roi sắt và một tấm áo giáp sắt, ta sẽ phá tan lũ giặc Ân”. Sứ giả lấy làm kinh ngạc và vui mừng, vội về tâu với vua. Nhà vua chấp nhận và sai lính làm những vật dụng mà cậu bé yêu cầu trong thời gian ngắn nhất.

    Từ ngày biết nói, Gióng lớn nhanh, ăn bao nhiêu cũng không đủ, quần áo mặc vào lại rách. Dân làng cùng với nhau góp cơm góp gạo nuôi Gióng. Chỉ thời gian ngắn một cậu bé trở thành chàng trai khỏe mạnh vạm vỡ cường tráng, sức mạnh làm liệt.

    Khi sứ giả hoàn thành xong yêu cầu như giáp sắt, cưỡi ngựa sắt, cầm roi sắt vun vút lao vào quân giặc. Giặc dữ chống lại quyết liệt lao về phía Gióng. Gióng cưỡi ngựa sắt uy mãnh lao vun vút, ngựa đi đến đâu phun lửa giết giặc đến đó, xác quân cháy thành tro bụi.

    Trận chiến đang quyết liệt bỗng roi sắt bị gãy, Gióng bèn nhổ luôn bụi tre đằng ngà gần đó quật vào quân giặc, quân giặc tan tác, tháo chạy không kịp. Tráng sĩ đuổi quân giặc đến chân núi Sóc dừng lại, lên núi và cởi áo giáp sắt để lại ngựa sắt và tráng sĩ bay lên trời.

    Hòa bình đã trở lại, đất nước đã thoát khỏi kiếp nạn xâm lăng, công lao của người anh hùng Thánh Gióng vẫn còn mãi. Để tưởng nhớ công lao to lớn đó, dân làng lập đền thờ Gióng, hiện nay vẫn còn đền thờ ở làng Phù Đổng, làng Gióng. Hàng năm, đến tháng tư làng mở hội tưng bừng để tưởng nhớ người anh hùng dân tộc Thánh Gióng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Quát Giá Trị Nội Dung Và Nghệ Thuật Của Văn Bản Thánh Gióng
  • Hãy Cho Biết Ý Nghĩa Truyện Thánh Gióng
  • Lập Dàn Ý Truyện Thánh Gióng
  • Dàn Ý Và Bài Văn Kể Lại Câu Chuyện Thánh Gióng Rất Hay
  • Lập Dàn Ý: Kể Lại Câu Chuyện Thánh Gióng Lớp 6
  • Kể Lại Truyền Thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh Bằng Lời Văn Của Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Văn Kể Chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh Bằng Lời Văn Của Em
  • Đề Bài: Kể Lại Câu Chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh Bằng Lời Văn Của Em
  • Văn Mẫu Lớp 6 : Kể Lại Câu Chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh Bằng Lời Văn Của Em
  • Soạn Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh (Siêu Ngắn)
  • Tóm Tắt Truyện & Ý Nghĩa Hình Tượng Sơn Tinh Thủy Tinh Lớp 6
  • Kể lại truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh bằng lời văn của em – Hướng dẫn lập dàn ý

    A. Mở bài

    Giới thiệu truyền thuyết “Sơn Tinh, Thủy Tinh”.

    B. Thân bài (diễn biến sự việc)

    + Mở đầu:

    – Vua Hùng Vương có con gái tên Mị Nương.

    + Thắt nút

    – Vua tìm gả chồng cho con.

    + Phát triển

    – Sơn Tinh, Thủy Tinh đến tranh tài.

    + Mở nút

    – Sơn Tinh đến trước lấy được Mị Nương.

    + Kết thúc

    – Thủy Tinh đánh Sơn Tinh.

    C. Kết bài.

    – Ý nghĩa câu chuyện: hiện tượng lũ lụt.

    Kể lại truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh bằng lời văn của em – Bài làm

    “Âm… ầm…ầm”. Từng đợt sóng biển đập vào vách đá gợi cho em nhớ đến cuộc giao tranh ác liệt giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh. Đây là một truyện rất hay mà em luôn nhớ từ thuở ấu thơ. Câu chuyện này đã được bà ngoại em kể vào những đêm trăng sáng khi mọi người ngồi xúm xít trước sân nhà.

    Bà ke rằng vào thuở xa xưa, thời vua Hùng Vương thứ mười tám, vua có một người con gái tên là Mị Nương sắc đẹp như tiên giáng trần. Nhà vua rấtl thương con nên muốn tìm gả cho nàng một người chồng tài ba, tuấn tú

    Lệnh vua vừa ban ra, các chàng trai từ khắp nơi đều đổ về cầu hôn. Trong số đó, nổi bật nhất là hai chàng trai Sơn Tinh và Thủy Tinh. Sơn Tinh dời núi Ba Vì. Chàng vừa tuấn tú lại vừa tài giỏi khác thường: chỉ tay về phía đông, phía đông biến thành đồng lúa xanh; chỉ tay về phía tây, phía tây mọc lên hàng dãy núi. Còn Thủy Tinh ở tận miền biển Đông, tài giỏi cũng không kém: gọi gió, gió đến; hô mưa, mưa về. Cả hai cùng ngang sức ngang tài và đều xứng đáng với Mị Nương.

    Vua Hùng rất băn khoăn không biết chọn ai, bỏ ai. Vua liền triệu tập các quan vào bàn bạc nhưng cũng chẳng có ai nghĩ ra một kế gì hay. Cuối cùng, vua nghĩ ra được một cách và cho vời hai chàng trai vào mà phán rằng:

    – Ta đều vừa ý cả hai người nhưng ta chỉ có một người con gái. Vậy vào rạng sáng ngày mai ai mang lễ vật đến trước thì ta gả con gái cho. Lễ cưới phải có đủ: một trăm ván cơm nếp, hai trăm tệp bánh chưng voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao.

    Mới sáng sớm tinh mơ, Sơn Tinh đã đem đầy đủ lễ vật đến trước. Vua Hùng giữ đúng lời hứa liền gả Mị Nương cho Sơn Tinh và hai vợ chồng đưa nhau về núi.

    Thủy Tinh mang lễ vật đến sau nên không cưới được vợ. Tức giận vô cùng, Thủy Tinh liền đùng đùng mang quân đuổi theo quyết cướp dược Mị Nương. Khi thây vợ chồng Sơn Tinh lên núi, Thủy Tinh hô mưa, gọi gió, làm thành giông bão, sấm sét rung chuyển cả đất trời, dâng nưởc sông lên cuồn cuộn. Nước ngập lúa ngập đồng, ngập nhà, ngập cửa..

    Sơn Tinh không nao núng một chút nào. Một mặt, chàng dùng phép bốc cao từng quả đồi, dời từng dẫy núi để ngăn chặn dòng nước lũ. Nước dâng cao bao nhiêu, Sơn Tinh lại làm cho đồi núi mọc cao lên bấy nhiêu. Mặt khác, chàng tung ra đội quân sư tử, voi, cọp báo… để chống lại đoàn quân thuồng luồng, cá, tôm, cua… của Thủy Tinh. Hai bên đánh nhau ác liệt hết ngày này qua ngày khác ròng rã suốt mấy tháng liền. Thiệt hại người và của vô số kể. Cuối cùng, Thủy Tinh cũng đành thua trận rút quân về biển.

    Với lòng hận thù triền miên nên từ đó về sau không năm nào Thủy Tinh không làm mưa bão, dâng nước lên để đánh Sơn Tinh, gây nên cảnh lụt lội, phá hoại nhà cửa, mùa màng của nước ta. Song, lần nào cũng vậy, Thủy Tinh lua thua trận và đành phải rút lui.

    Kể xong câu chuyện, bà âu yếm xoa đầu em và nói: “Cuộc chiến giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh thật ác liệt phải không các cháu? Hình ảnh này đã giải thích hiện tượng bão lụt xảy ra hằng năm suốt mùa mưa ở khăp vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài ra, truyện còn nói lên ước mơ của ngươi dân muốn chiến thắng bão lụt để bảo vệ cuộc sống lao dộng của mình. Các cháu có hiểu không?”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tiếng Việt Lớp 2 Tập Đọc: Sơn Tinh, Thủy Tinh
  • Bài 4. Sự Tích Hồ Gươm
  • Bài 1. Giao Tiếp, Văn Bản Và Phương Thức Biểu Đạt
  • Giáo Án Bài Sơn Tinh, Thủy Tinh
  • Bài 3. Sơn Tinh, Thuỷ Tinh
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100