Top 17 # Xem Nhiều Nhất Giáo Trình Luật Kinh Doanh Ueh / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Athena4me.com

Tiểu Luận Môn Luật Kinh Doanh Ueh / 2023

Tiểu Luận Môn Luật Kinh Doanh Ueh, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2 Luật Doanh Nghiệp, Tiểu Luận Hộ Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Doanh, Tiểu Luận Đạo Đức Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận ý Tưởng Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Quán Lý Dự án Đầu Tư Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Về ý Tưởng Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Doanh Bảo Hiểm, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Rủi Ro Trong Kinh Doanh, Tiểu Luận ý Tưởng Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Doanh Quốc Tế, Tiểu Luận Mô Hình Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Tiểu Luận Kế Hoạch Kinh Doanh, Iểu Luận Luật Kinh Tế 2 Luật Doanh Nghiệp, Bài Tiểu Luận Về Nghiên Cứu Mô Hình Kinh Doanh Trà Sữa, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cà Phê, Tiểu Luận Kinh Doanh Quán Cafe, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, Tiểu Luận Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử, Khóa Luận Kế Toán Tiêu Thụ Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Tiểu Luận Giao Tiếp Trong Kinh Doanh, ài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, Bài Tiểu Luận Nhập Môn Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Doanh Nghiệp, Luận án Tốt Nghiệp Kế Toán Bán Hàng, Tiêu Thụ Và Xác Định Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Doanh Nghiệp 2014, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Luật Kinh Tế, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tré, Các Đề Tài Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1 Hubt, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2 Hubt, Tiểu Luận Luật Hình Sự Kinh Tế, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3 Hubt, Tiêu Chí Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ ở Việt Nam Về Vốn Đăng Kí Kinh Doanh Là, Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Ngh, Khóa Luận Tốt Nghiệp Kế Toán Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Bài Mẫu Khóa Luận Tốt Nghiệp Kế Toán Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh Theo Thông Tư , Bài Mẫu Khóa Luận Tốt Nghiệp Kế Toán Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh Theo Thông Tư, Phân Tích Các Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, “phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp”, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Nghiệp, Khóa Luận Tốt Nghiệp Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khóa Luận Kế Toán Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khóa Luận Doanh Thu Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Luận Văn Kế Toán Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Khóa Luận Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Luận Văn Doanh Thu Chi Phí Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Văn Bản Pháp Luật Dành Cho Học Phần Luật Kinh Doanh, Tiêu Chí Kinh Doanh, Tiểu Lập Cấm Kinh Doanh Mại Dâm, Tiểu Luận Vai Trò Của Kinh Tế Thị Trường Đối Với Việc Phát Triển Kinh Tế Xã Hội ở Việt Nam Hiện Nay, Kế Toán Tiêu Thụ Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Các Tiêu Chí Đánh Giá ý Tưởng Kinh Doanh, Bộ Luật Kinh Doanh, Luật Kinh Doanh, Luận Văn Kinh Doanh, Luận Văn Dự án Kinh Doanh, Luận Văn Lý Luận Về Tiêu Thụ Khoáng Sản Trong Các Doanh Nghiệp, Tiêu Chuẩn Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Doanh, Tiêu Chí Đánh Giá Nhân Viên Kinh Doanh, Pháp Luật Về Chủ Thể Kinh Doanh, Pháp Luật Và Chủ Thể Kinh Doanh, Bộ Luật Kinh Doanh Thương Mại, Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm, Văn Bản Pháp Luật Kinh Doanh, Pháp Luật Về Hộ Kinh Doanh, Luật Kinh Doanh Quốc Tế, Luật Bảo Hiểm Kinh Doanh, Luận Văn ý Tưởng Kinh Doanh, Bài Tham Luận Kinh Doanh, Luận Văn Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Bài Tham Luận Về Kinh Doanh, Luận Văn Kinh Doanh Bảo Hiểm, Luận Văn Quản Trị Kinh Doanh, Khóa Luận Báo Cáo Kết Quả Kinh Doanh, Báo Cáo Tham Luận Kinh Doanh, Luận án Quản Trị Kinh Doanh, Luận Văn Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Bài Thảo Luận Văn Hóa Kinh Doanh, Luận Văn Quản Lý Kinh Doanh, Bài Thảo Luận Tâm Lý Kinh Doanh, Tham Luận Kinh Doanh, Kế Hoạch Kinh Doanh Hang Tiêu Dùng Nhanh, Văn Bản Pháp Luật Quy Định Về Hộ Kinh Doanh, Điều 7 Luật Kinh Doanh Bảo Hiểm,

Tiểu Luận Môn Luật Kinh Doanh Ueh, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2 Luật Doanh Nghiệp, Tiểu Luận Hộ Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Doanh, Tiểu Luận Đạo Đức Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận ý Tưởng Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Quán Lý Dự án Đầu Tư Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Về ý Tưởng Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Doanh Bảo Hiểm, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh, Tiểu Luận Rủi Ro Trong Kinh Doanh, Tiểu Luận ý Tưởng Kinh Doanh, Tiểu Luận Kinh Doanh Quốc Tế, Tiểu Luận Mô Hình Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Tiểu Luận Kế Hoạch Kinh Doanh, Iểu Luận Luật Kinh Tế 2 Luật Doanh Nghiệp, Bài Tiểu Luận Về Nghiên Cứu Mô Hình Kinh Doanh Trà Sữa, Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cà Phê, Tiểu Luận Kinh Doanh Quán Cafe, Bài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, Tiểu Luận Kế Hoạch Kinh Doanh Thương Mại Điện Tử, Khóa Luận Kế Toán Tiêu Thụ Và Xác Định Kết Quả Kinh Doanh, Tiểu Luận Giao Tiếp Trong Kinh Doanh, ài Tiểu Luận Lập Kế Hoạch Kinh Doanh Quán Cafe, Bài Tiểu Luận Nhập Môn Ngành Quản Trị Kinh Doanh, Bài Tiểu Luận Phương Pháp Nghiên Cứu Trong Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Doanh Nghiệp, Luận án Tốt Nghiệp Kế Toán Bán Hàng, Tiêu Thụ Và Xác Định Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh, Tiểu Luận Luật Doanh Nghiệp 2014, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Luật Kinh Tế, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3, Đề Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tré, Các Đề Tài Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế, Bài Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2, Tiểu Luận Môn Luật Kinh Tế 1, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 1 Hubt, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 2 Hubt, Tiểu Luận Luật Hình Sự Kinh Tế, Tiểu Luận Luật Kinh Tế 3 Hubt, Tiêu Chí Doanh Nghiệp Vừa Và Nhỏ ở Việt Nam Về Vốn Đăng Kí Kinh Doanh Là, Tiêu Chí Đánh Giá Hiệu Quả Kinh Doanh Của Doanh Nghiệp, Phân Tích Quy Định Của Pháp Luật Về Điều Kiện Kinh Doanh Khi Thành Lập Doanh Ngh,

Quá Trình Một Buổi Bảo Vệ Luận Văn Cao Học Quản Trị Kinh Doanh Tại Ueh / 2023

Đây là lần đầu tiên nên có chút hơi bất ngờ so với suy nghĩ của ad. Được chủ tịch hội đồng bảo vệ dẫn vào xem nên ad có thể dễ dàng vào trong và qua đó ad thấy có nhiều cái đúng nhưng cũng chưa đúng như với tưởng tượng của Ad.

Mục đích của viết bài này giúp bản thân ad và các bạn biết diễn biến một buổi báo cáo luận văn cao học quản trị kinh doanh tại UEH như thế nào và đưa ra 15 “khuyến nghị” từ kinh nghiệm của các thầy trong trong buổi báo cáo luận văn cao học.

1. Phòng báo cáo luận văn cao học QTKD UEH

Phòng nơi diễn ra buổi báo cáo là một phòng khá nhỏ, phải nói là rất nhỏ, tầm 3mx4m. Ad đảm bảo với các bạn là nó nhỏ hơn cái phòng tôi ở. Điều này khiến ad khá bất ngờ vì ở trình độ đại học thôi ở trường tôi cũng rất hoành tráng rồi.

Ad vào phòng mà không tin vào mắt mình, may mà có ông thầy dẫn vào nếu không cũng chả biết, nhìn vào bên trong lại càng khó tin vì rất lèo tèo 😀

Không, nhưng đơn giản thế ad lại rất thích, đỡ gây áp lực cho học viên.

2. Thời lượng buổi báo cáo luận văn cao học tại UEH dành cho mỗi học viên

Thời lượng theo lịch phân công cho mỗi phiên báo cáo là 1 tiếng. Thời gian này phân bổ như tôi xem 3 rounds của mấy thầy đưa xem tham khảo như sau :

15 phút đầu tiên: Học viên báo cáo luận văn và không vượt qua thời gian này

15 phút tiếp theo: Thầy cô nhận xét và đặt câu hỏi. Mỗi thầy cô đặt câu hỏi thường từ 1-3 câu và không phải ai cũng đặt câu hỏi.

30 phút cuối: trong 30 phút này học viên có thể chuẩn bị cho phần trả lời (5 phút). Việc trả lời các câu hỏi đã nêu ra song song với phản biện từng câu. Chi tiết các vấn đề hay bị hỏi trong buổi báo cáo ad sẽ trình bày chi tiết ở phần sau.

3. Trang phục của mọi người tham gia

Trước kia ad cũng nghĩ báo cáo là hoành tráng lắm, mọi người ăn mặc rất nghiêm trang như chào cờ. Nhưng không hẳn thế, thí sinh báo cáo ăn mặc cũng chưa chau chuốt lắm (quần jeans, áo ngắn tay…)

4. Trình bày luận văn cao học UEH

Điều này tưởng chừng rất đơn giản, nhưng luận văn nào cũng bị bắt lỗi phần trình bày như: tên bảng đặt sai hay chưa đặt, header, thụt đầu dòng… hay kể cả cách dùng từ một cách hơi bình dân cũng cần cẩn trọng.

Ví dụ hôm nay coi báo cáo 1 chị rất hay, nhưng trong luận văn lại dùm cụm từ “các ngân hàng sử dụng nhiều chiều trò…”

Lỗi này bị bắt và có vẻ thầy cô cũng không thích lắm vì xem như bạn để quá nhiều sạn trong bài cho thầy cô, xem như không tôn trọng.

Có lẽ nên có dịch vụ kiểm tra lại các lỗi này hay format luận văn cao học 😀 ví dụ 1 luận văn là 100K. 1 Khóa khoảng 500 người bảo vệ, chỉ cần bán được cho 100 bạn là có 10 triệu rồi 😀 dễ ăn đấy nhỉ. Để ad liên hệ mở the

5. Trích dẫn báo cáo trong luận văn cao học UEH

Lưu ý nữa mà ông anh chủ tịch hội đồng nói nhỏ cho là ví dụ bạn đọc 1 tài liệu sử dụng 1 đoạn và trong đó có trích dẫn 10 tài liệu khác (bạn không đọc tài liệu đó) thì trong phần trích dẫn chỉ trích 1 loại tài liệu. Trích dẫn 11 tài liệu là hi sinh đó. Mấy ổng khó vụ này lắm.

6. Thành phần buổi bảo vệ và thầy cô có hỏi khó hay không

Chủ tịch hội đồng (1 người – ông anh mình): làm nhiệm vụ điều phối chung. Thỉnh thoảng góp ý và điều chỉnh cuộc bảo vệ đi đúng hướng. Qua lần này mình thấy anh rất chuyên nghiệp. Sau này hi vọng ngồi hội đồng thầy này, mình thích cách làm việc đi vào trọng tâm.

Phản biện (2 người): Đây là 2 người phản biện chính và ra câu hỏi, bạn phải trả lời 2 người này tốt, không thì dễ hi sinh. Ngoài chủ tịch hội đồng ra, đây là 2 người có tiếng nói nhiều nhất. Nhìn chung trong buổi bảo vệ 2 người phản biện khá khó tính và hỏi lắt léo. Nhưng lúc về ra uống cafe thì thấy rất vui vẻ (2 mặt dễ sợ)

Thư ký hội đồng (1 người): Là thư ký nhưng vẫn có thể hỏi những câu chết bất đắc kỳ tử.

Ủy viên (1 người): Cũng có thể hỏi, đánh giá, nhận xét.

Khán giả ngồi xem như ad (Như ad thấy chỉ có khoảng 3-4 người có thể xem mà thôi)

Tôi đánh giá thầy cô trong hội đồng luôn hỏi rất đúng cái mà bạn làm chưa hay, nhưng cũng có 1-2 người bênh bạn khi bạn bị chém quá. Và theo ad thấy không ai muốn giữ học viên cao học lại lâu quá hay đánh rớt. Ad không rõ bảo vệ lần 1 khó thế nào nhưng lần 2 tôi thấy thầy cô cũng thương học viên lắm

Khi bảo vệ xong, trả lời phản biện xong, cả hội đồng mời tất cả ra ngoài (gồm học viên báo cáo + khán giả xem) để bàn nội bộ cho mấy điểm. Lúc này Ad cũng bị lôi cổ ra ngoài tám với mấy anh học viên.

7. Nhận xét buổi bảo vệ

Việc đánh giá đậu rớt cũng không đáng quan ngại, luận văn bị chê tơi bời nhưng khi cho điểm vẫn đậu (khoảng 5 điểm) Phải Ad thì chắc rụng hết tay chân rồi. Báo cáo bị chê tí là thấy ớn, chứ chê nhiều quá thế này thì xác định….

Thấy chất lượng báo cáo không sâu, luận văn làm khó nhưng không thể kém chất lượng thế. Ad cũng thấy lạ khi học viên báo cáo còn lờ ngờ về phương pháp mình làm, đưa ra giải pháp cảm tính như tăng cái này, giảm cái kia…. không rõ định lượng giảm bảo nhiêu, tăng bao nhiêu và như thế giải quyết vấn đề gặp phải thế nào. Theo Ad luận văn thế phải siết lại, nhưng số lần báo cáo giới hạn 4 lần chẳng hạn, ý nghĩa là nhiều hơn. Chứ giờ ai làm 1 lần failure là teo hết cả rồi, hãi, học bao lâu, chi phí kinh tế mất nhiều rồi, giờ mất hết thì tiếc không… cũng là cách đỡ tiêu cực hơn nữa. Nay báo cáo thấy 1 em run nói không nên lời, khiến mình phát thương, phải người yêu mình thì mình sẽ động viên “thôi, học mà khổ thế thì về đẻ con cho anh, khà khà “

Luận văn thấy được hiện tượng, không rõ được nguyên nhân. Từ đây các bạn phải tìm hiểu phương pháp làm sao thấy được nguyên nhân chứ giải pháp không đi giải quyết hiện tượng.

Luận văn không đi vào trọng tâm, làm nhiều nhưng lan man. Cảm giác như các bạn làm đang ép mình theo 1 luận văn nào đó và áp vào cty của mình, khiến nó trở nên không tự nhiên và chẳng ăn khớp, thậm chí là chung chung. Ở trình độ môn học tôi cũng không đánh giá cao chứ đừng nói là luận văn đầu ra.

Luận văn bị chê chưa chắc rớt, còn vì sao ko rớt thì nhiều nguyên nhân, Ad cũng đang tìm hiểu mà mấy lão anh cứ khư khư không nói nhiều.

II/ Khuyến nghị

Tôi không biết bạn làm luận văn về cái gì, cao học hướng nghề nghiệp hay hướng nghiên cứu nhưng format hay định dạng bài chuẩn dùm cái. Bài nào cũng bị ném đá về điều này. Đọc bài cách thức trình bày luận văn thạc sĩ tại https://luanvanaz.com/huong-dan-trinh-bay-luan-van-thac-si.html

Ăn mặc cũng chỉnh tề chút, thấy học viên ăn mặc xuề xòa quá, Ad còn mất cảm tình chứ nói chi đến thầy cô lớn tuổi nữa.

Có kỹ năng sử dụng máy tính tí. Các bạn nữ không biết điều khiển máy chiếu. Tôi thấy 1 bạn vì để cái màn hình chờ là 3 con chó. Ôi, lúc mải nói đến màn hình chờ đợi, hiện 3 con chó… tôi cứ nghĩ liên tưởng thế nào đó… Ad vì bận nên không xem hết phiên đó, nhưng hy vọng bạn đó qua được. Thấy con gái ở miền tây nói giọng dễ thương ghê, bị bắt nạt mà như mún khóc đó… Cũng hơi tiếc vì sao học ở level cao thế này mà bạn ấy lại kém tự tin thuyết trình như thế.

Khi phần chuyển nên có cảm ơn. Ví dụ cảm ơn nhận xét của thầy cô cho em…. Chứ bụp vào cái trả lời câu hỏi (mà trả lời cũng không hay vì thấy ai cũng bị bắt bẻ và không hoàn thiện, toàn thầy cô giải)

Tương tự thế, cần có phần tổng kết câu hỏi nhận được. Ví dụ em nhận được 5 câu hỏi, 2 từ cô A, 3 từ thầy B. Như thế chuyên nghiệp và có trọng tâm giải quyết vấn đề hơn… Tôi thấy đa phần mọi người không trả lời hết các câu hỏi của hội đồng, luôn xót (ko bít là do quên phải không).

Trích dẫn tài liệu chỉ những tài liệu mình đọc, không bao gồm tài liệu bên trong tài liệu.

Nếu bạn làm giải pháp tuyệt đối không chỉ dừng lại ở lý thuyết, phải triển khai ra không thì die đó.

Sự phân bổ các chương hợp lý. Có anh kia rớt lần 1 chỉ vì làm không cân đối (Chương 1 20 trang, ch2 40 trang, ch3 có 8 trang). Vãi luôn, không rớt cũng lạ.

Khi thực hiện khảo sát sau đó cần có phỏng vấn sâu để tìm nguyên nhân.

Thang đo là cái bị hỏi rất nhiều nên có cơ sở lý thuyết rõ ràng.

Bảng câu hỏi cần tách ý hỏi, không nên cụm vào. Ví dụ: hỏi điều kiện làm việc: không khí,vị trí, tính an toàn… thì là 3 câu chứ không góp vào 1 ý.

Dữ liệu tạo ra mà không dùng cũng là 1 điểm trừ.

III/ Bạn hay bị hỏi trong buổi cao học luận văn về cái gì?

Bạn nào làm về định lượng sẽ hay bị hỏi mấy bảng hồi quy nghĩa gì, mấy bạn nào làm SEM sẽ bị hỏi rất nặng về mô hình. Hãy nhớ giá trị beeta chuẩn hóa chưa là gì, phải quan tâm đến kiểm định t nữa.

Quá trình một buổi bảo vệ luận văn cao học quản trị kinh doanh tại UEH

Admin Mr.Luân

Với kinh nghiệm hơn 10 năm, Luận Văn A-Z nhận hỗ trợ viết thuê luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ một cách UY TÍN và CHUYÊN NGHIỆP. Liên hệ: 092.4477.999 – Mail : luanvanaz@gmail.com ✍✍✍ Báo giá dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ ✍✍✍

Ngành Mới: Thạc Sĩ Luật Kinh Tế (Ueh / 2023

Cùng với sự chuyển mình của TPHCM và các tỉnh phía Nam hướng tới một trung tâm kinh tế năng động và phát triển trong khu vực, các dịch vụ pháp lý đã ngày càng trở nên sôi động. Hàng ngàn luật sư tư vấn kinh doanh đồng hành cùng giới kinh doanh nhận biết và quản trị các rủi ro, hóa giải các xung đột, góp phần tạo dựng một môi trường kinh doanh minh bạch và đáng tin cậy.

Đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực về pháp luật kinh doanh, nhiều cơ sở đào tạo luật phía Nam đã ra đời, trong đó có Khoa Luật UEH. Từ tháng 8/2014, Khoa Luật UEH bắt đầu tuyển sinh Cao học Luật kinh tế, chuyên sâu về các khía cạnh pháp luật quản trị công ty, giao kết thực hiện các hợp đồng cũng như các giao dịch thương mại quốc tế.

Chương trình Cao học Luật kinh tế, viết tắt là UEH-LLM, được thiết kế linh hoạt dành cho người học đang đi làm, với lịch học vào các buổi tối hoặc học vào cuối tuần. Thời gian đào tạo tối thiểu là 2 năm. Với số môn học tối thiểu là 12 môn và Luận văn tốt nghiệp, học viên cần tích lũy đủ 60 tín chỉ, trong đó có 20 tín chỉ tự chọn, người học từng bước sẽ được trang bị các kỹ năng nhận biết các vấn đề pháp lý, kỹ năng phân tích và lựa chọn các giải pháp, các kỹ năng viết và trình bày các giải pháp dựa trên một khối kiến thức được định hướng cho bối cảnh hành nghề trong một thị trường dịch vụ pháp lý ngày càng mở rộng và hội nhập với khu vực.

Vì lẽ đó, chúng tôi hướng tới sáu tiêu chuẩn đầu ra cho UEH-LLM, bao gồm chuẩn đầu ra về kiến thức, về kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng tư duy, các kỹ năng truyền thông, giao tiếp với khách hàng, trong đó có yêu cầu ngày càng nâng cao đối với ngoại ngữ (Anh văn), cuối cùng là từng bước xây dựng một thái độ trách nhiệm của người hành nghề luật đối với cộng đồng và xã hội. Chương trình UEH-LLM cũng như đề cương tất cả các môn học được thiết kế để từng bước giúp học viên tốt nghiệp đạt được ở mức độ phù hợp nhất các chuẩn đầu ra kể trên.

Chương trình UEH-LLM được thiết kế với sự hỗ trợ của Trường Luật Melbourne (Australia). Giáo sư Carolyn Evans (Dean of Melbourne Law School), Giáo sư Pip Nicolson đã hỗ trợ Khoa Luật UEH trong việc giới thiệu tầm nhìn về toàn cầu hóa trong đào tạo luật học và giới thiệu kinh nghiệm của Hiệp hội các trường luật Australia trong xây dựng chuẩn đầu ra ngành luật. Không thể so sánh với Trường Luật Melbourne, đang được xếp hạng trường luật đứng thứ 5 trên toàn thế giới về đào tạo thạc sĩ luật (thạc sĩ luật theo hệ course work cần tích lũy tối thiểu 8 môn với tổng số 64 tín chỉ, tương ứng số học phí tối thiểu là 32.000 đô-la Úc, mỗi môn theo thời giá 2014 là 4000 đô-la Úc), tuy nhiên UEH-LLM ngay từ đầu đã được định hướng từng bước vươn tới các giá trị và chuẩn mực của họ.

Không có cái gì mới trên thế gian này được nảy mầm một cách dễ dàng. Cũng như vậy, nhiều khó khăn sẽ xuất hiện khi bắt đầu một Chương trình theo kiểu mới. Tuy vậy, chúng tôi tin người học nước ta xứng đáng được hưởng một nền giáo dục đứng đắn. Khi trò và thầy cùng toàn xã hội chung tay, chúng tôi tin Trường Đại học kinh tế TPHCM sẽ thành công trong những nỗ lực xây dựng và thực hiện các chương trình theo định hướng tiên tiến, mà Chương trình Cao học Luật kinh tế UEH-LLM là một trong số đó ./.

Giáo Trình Kinh Tế Chính Trị Mác / 2023

Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận

Chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa

Như chúng ta đã biết, muốn tạo ra giá trị hàng hoá, tất yếu phải chi phí một số lao động nhất định, gọi là chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ và lao động hiện tại. Lao động quá khứ (lao động vật hoá), tức là giá trị của tư liệu sản xuất (c); lao động hiện tại (lao động sống) tức là lao động tạo ra giá trị mới (v + m).

Đứng trên quan điểm xã hội mà xét, chi phí lao động đó là chi phí thực tế của xã hội, chi phí tạo ra giá trị hàng hoá. Ký hiệu giá trị hàng hoá: W = c + v + m.

Song, đối với nhà tư bản, họ không phải chi phí lao động để sản xuất hàng hoá, cho nên họ không quan tâm đến điều đó. Trên thực tế, họ chỉ quan tâm đến việc ứng tư bản để mua tư liệu sản xuất (c) và mua sức lao động (v). Do đó, nhà tư bản chỉ xem hao phí hết bao nhiêu tư bản, chứ không tính đến hao phí hết bao nhiêu lao động xã hội. C. Mác gọi chi phí đó là chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, ký hiệu bằng k (k = c + v).

Vậy chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa là chi phí về tư bản mà nhà tư bản bỏ ra để sản xuất hàng hoá.

Khi xuất hiện chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa, thì công thức giá trị hàng hoá (W = c + v + m) sẽ chuyển thành W = k + m.

Như vậy, giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa có sự khác nhau cả về mặt lượng lẫn mặt chất.

Về mặt lượng: chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn chi phí thực tế hay giá trị hàng hoá:

(c + v) < (c + v + m)

Vì tư bản sản xuất được chia thành tư bản cố định và tư bản lưu động cho nên chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn nhỏ hơn tư bản ứng trước.

Ví dụ: Một nhà tư bản sản xuất đầu tư tư bản với số tư bản cố định (c 1) là 1200 đơn vị tiền tệ; số tư bản lưu động (c 2 và v) là 480 đơn vị tiền tệ (trong đó giá trị của nguyên, nhiên, vật liệu (c 2) là 300 và tiền công (v) là 180). Nếu tư bản cố định hao mòn hết trong 10 năm, tức là mỗi năm hao mòn 120 đơn vị tiền tệ, thì:

Chi phí sản xuất là: 120 + 480 = 600 đơn vị tiền tệ.

Tư bản ứng trước là: 1200 + 480 đơn vị tiền tệ.

Nhưng khi nghiên cứu, C.Mác thường giả định tư bản cố định hao mòn hết trong một năm, nên tổng tư bản ứng trước và chi phí tư bản luôn bằng nhau và cùng ký hiệu là k (k = c + v).

Về mặt chất: chi phí thực tế là chi phí lao động, phản ánh đúng, đầy đủ hao phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tạo ra giá trị hàng hoá, còn chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (k) chỉ phản ánh hao phí tư bản của nhà tư bản mà thôi, nó không tạo ra giá trị hàng hoá.

C.Mác viết: phạm trù chi phí sản xuất không có quan hệ gì với sự hình thành giá trị hàng hoá, cũng như không có quan hệ gì với quá trình làm cho tư bản tăng thêm giá trị.

Việc hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa (k) che đậy thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Giá trị hàng hoá: W = k + m, trong đó k = c + v. Nhìn vào công thức trên thì sự phân biệt giữa c và v đã biến mất, người ta thấy dường như k sinh ra m. Chính ở đây chi phí lao động bị che lấp bởi chi phí tư bản (k), lao động là thực thể, là nguồn gốc của giá trị thì bị biến mất, và giờ đây hình như toàn bộ chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa sinh ra giá trị thặng dư.

Lợi nhuận

Giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa luôn luôn có một khoảng chênh lệch, cho nên sau khi bán hàng hoá (giá cả = giá trị), nhà tư bản không những bù đắp đủ số tư bản đã ứng ra, mà còn thu được một số tiền lời ngang bằng với m. Số tiền này được gọi là lợi nhuận, ký hiệu là p.

Giá trị thặng dư được so với toàn bộ tư bản ứng trước, được quan niệm là con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước sẽ mang hình thức chuyển hoá là lợi nhuận. Hay lợi nhuận là số tiền lời mà nhà tư bản thu được do có sự chênh lệch giữa giá trị hàng hoá và chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa.

Nếu ký hiệu lợi nhuận là p thì công thức:

W = c + v + m = k + m bây giờ sẽ chuyển thành:

W = k + p

(hay giá trị hàng hoá bằng chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa cộng với lợi nhuận).

Vấn đề đặt ra là giữa p và m có gì khác nhau?

Về mặt lượng: nếu hàng hoá bán với giá cả đúng giá trị thì m = p; m và p giống nhau ở chỗ chúng đều có chung một nguồn gốc là kết quả lao động không công của công nhân làm thuê.

Về mặt chất: thực chất lợi nhuận và giá trị thặng dư đều là một, lợi nhuận chẳng qua chỉ là một hình thái thần bí hoá của giá trị thặng dư. C.Mác viết: “Giá trị thặng dư, hay là lợi nhuận, chính là phần giá trị dôi ra ấy của giá trị hàng hoá so với chi phí sản xuất của nó, nghĩa là phần dôi ra của tổng số lượng lao động chứa đựng trong hàng hoá so với số lượng lao động được trả công chứa đựng trong hàng hoá”

.

Phạm trù lợi nhuận phản ánh sai lệch bản chất quan hệ sản xuất giữa nhà tư bản và lao động làm thuê, vì nó làm cho người ta tưởng rằng giá trị thặng dư không phải chỉ do lao động làm thuê tạo ra. Nguyên nhân của hiện tượng đó là:

Thứ nhất, sự hình thành chi phí sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xoá nhoà sự khác nhau giữa c và v, nên việc p sinh ra trong quá trình sản xuất nhờ bộ phận v được thay thế bằng sức lao động, bây giờ lại trở thành con đẻ của toàn bộ tư bản ứng trước.

Tỷ suất lợi nhuận

Trên thực tế, các nhà tư bản không chỉ quan tâm đến lợi nhuận, mà còn quan tâm đến tỷ suất lợi nhuận.

Tỷ suất lợi nhuận là tỷ số tính theo phần trăm giữa giá trị thặng dư và toàn bộ tư bản ứng trước.

Nếu ký hiệu tỷ suất lợi nhuận là p’ ta có:

Lợi nhuận là hình thức chuyển hoá của giá trị thặng dư, nên tỷ suất lợi nhuận cũng là sự chuyển hoá của tỷ suất giá trị thặng dư, vì vậy chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Nhưng giữa m’ và p’ lại có sự khác nhau cả về lượng và chất.

Về mặt lượng: p’ luôn luôn nhỏ hơn m’, vì:

, còn

Về mặt chất: m’ phản ánh trình độ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân làm thuê. Còn p’ không thể phản ánh được điều đó, mà chỉ nói lên mức doanh lợi của việc đầu tư tư bản.

Tỷ suất lợi nhuận chỉ cho nhà tư bản biết tư bản của họ đầu tư vào đâu thì có lợi hơn. Do đó, việc thu lợi nhuận và theo đuổi tỷ suất lợi nhuận là động lực thúc đẩy các nhà tư bản, là mục tiêu cạnh tranh của các nhà tư bản.

Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận

Sự thèm khát lợi nhuận của các nhà tư bản là không có giới hạn. Mức tỷ suất lợi nhuận cao bao nhiêu cũng không thoả mãn được lòng tham vô đáy của chúng. Nhưng mức tỷ suất lợi nhuận cao hay thấp không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của các nhà tư bản, mà phụ thuộc vào những nhân tố khách quan sau đây:

– Tỷ suất giá trị thặng dư:

Tỷ suất giá trị thặng dư càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn và ngược lại.

Ví dụ:

+ Nếu cơ cấu giá trị hàng hoá là: 800 c + 200 v + 200 m, thì m’ = 100% và p’= 20%.

+ Nếu cơ cấu giá trị hàng hoá là: 800 c + 200 v + 400 m, thì m’ = 200% và p’ = 40%.

Do đó, tất cả những thủ đoạn nhằm nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư, cũng chính là những thủ đoạn nhằm nâng cao tỷ suất lợi nhuận.

– Cấu tạo hữu cơ của tư bản:

Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư không đổi, nếu cấu tạo hữu cơ tư bản càng cao thì tỷ suất lợi nhuận càng giảm và ngược lại.

Ví dụ:

+ Nếu cấu tạo hữu cơ tư bản là 7/3 thì :

W = 70c + 30v + 30m và p’ = 30%

+ Nếu cấu tạo hữu cơ tư bản là 8/2 thì:

W = 80c +20v + 20m và p’ = 20%.

Thông thường, khi cấu tạo hữu cơ của tư bản tăng, thì tỷ suất giá trị thặng dư cũng có thể tăng lên, nhưng không thể tăng đủ bù đắp mức giảm của tỷ suất lợi nhuận.

– Tốc độ chu chuyển của tư bản:

+ Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản càng lớn, thì tỷ suất giá trị thặng dư hàng năm càng tăng lên, do đó tỷ suất lợi nhuận cũng càng tăng.

Ví dụ:

+ Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản một năm 1 vòng:

80c + 20v + 20m, thì p’ = 20%.

– Nếu tốc độ chu chuyển của tư bản một năm 2 vòng:

80c + 20v + (20 + 20)m, thì p’ = 40%.

Vậy tỷ suất lợi nhuận tỷ lệ thuận với số vòng chu chuyển của tư bản và tỷ lệ nghịch với thời gian chu chuyển của tư bản.

– Tiết kiệm tư bản bất biến

Trong điều kiện tỷ suất giá trị thặng dư và tư bản khả biến không đổi, nếu tư bản bất biến càng nhỏ thì tỷ suất lợi nhuận càng lớn.

Vì theo công thức:

Rõ ràng khi m và v không đổi, nếu c càng nhỏ thì p’ càng lớn.

Vì vậy, trong thực tế, để nâng cao tỷ suất lợi nhuận, các nhà tư bản đã tìm mọi cách để tiết kiệm tư bản bất biến như sử dụng máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nhà kho, phương tiện vận tải với hiệu quả cao nhất; kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động; thay thế nguyên liệu đắt tiền bằng nguyên liệu rẻ tiền, giảm những chi tiêu bảo hiểm lao động, bảo vệ môi trường, giảm tiêu hao vật tư năng lượng và tận dụng phế liệu, phế phẩm, phế thải để sản xuất hàng hoá.

Cạnh tranh trong nội bộ ngành và sự hình thành giá trị thị trường

Cạnh tranh xuất hiện và gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá. Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa những người sản xuất, kinh doanh hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện có lợi về sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, để thu lợi nhuận cao nhất. Trong nền kinh tế hàng hoá, cạnh tranh vừa là môi trường vừa là động lực.

Trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, tồn tại hai loại cạnh tranh là: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành.

Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong cùng một ngành, cùng sản xuất ra một loại hàng hoá nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá có lợi hơn để thu lợi nhuận siêu ngạch.

Biện pháp cạnh tranh: các nhà tư bản thường xuyên cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá xí nghiệp sản xuất ra thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá đó để thu được lợi nhuận siêu ngạch.

Kết quả của cạnh tranh nội bộ ngành là hình thành nên giá trị xã hội (giá trị thị trường) của từng loại hàng hoá. Điều kiện sản xuất trung bình trong một ngành thay đổi do kỹ thuật sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng lên, giá trị xã hội (giá trị thị trường) của hàng hoá giảm xuống.

Chúng ta biết rằng, trong các đơn vị sản xuất khác nhau, do điều kiện sản xuất (điều kiện kỹ thuật, tổ chức sản xuất, trình độ tay nghề công nhân…) khác nhau, cho nên hàng hoá có giá trị cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường các hàng hoá phải bán theo giá trị xã hội – giá trị thị trường.

Theo C. Mác, “một mặt phải coi giá trị thị trường là giá trị trung bình của những hàng hoá được sản xuất ra trong một khu vực sản xuất nào đó. Mặt khác, lại phải coi giá trị thị trường là giá trị cá biệt của những hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình của khu vực đó và chiếm một khối lượng lớn trong tổng số những sản phẩm của khu vực này”

.

Cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành lợi nhuận bình quân

Cạnh tranh giữa các ngành là sự cạnh tranh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư có lợi hơn.

Biện pháp cạnh tranh: tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, tức là tự phát phân phối tư bản (c và v) vào các ngành sản xuất khác nhau.

Kết quả cuộc cạnh tranh này là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân, và giá trị hàng hoá chuyển thành giá cả sản xuất.

Chúng ta đều biết, ở các ngành sản xuất có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, kỹ thuật và tổ chức quản lý khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau.

Giả sử có ba ngành sản xuất khác nhau, tư bản của mỗi ngành đều bằng 100, tỷ suất giá trị thặng dư đều bằng 100%, tốc độ chu chuyển của tư bản ở các ngành đều như nhau. Nhưng do cấu tạo hữu cơ của tư bản ở từng ngành khác nhau, nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau.

Ví dụ:

Như vậy, cùng một lượng tư bản đầu tư, nhưng do cấu tạo hữu cơ khác nhau nên tỷ suất lợi nhuận khác nhau. Nhà tư bản không thể bằng lòng, đứng yên ở những ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp. Trong ví dụ trên, các nhà tư bản ở ngành cơ khí sẽ di chuyển tư bản của mình sang ngành da, làm cho sản phẩm của ngành da nhiều lên (cung lớn hơn cầu), do đó giá cả hàng hoá ở ngành da sẽ hạ xuống thấp hơn giá trị của nó, và tỷ suất lợi nhuận ở ngành này giảm xuống. Ngược lại, sản phẩm của ngành cơ khí sẽ giảm đi (cung thấp hơn cầu), nên giá cả sẽ cao hơn giá trị, và do đó tỷ suất lợi nhuận ở ngành cơ khí sẽ tăng lên. Như vậy, do hiện tượng di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác, làm cho ngành có cung (hàng hoá) lớn hơn cầu (hàng hoá) thì giá cả giảm xuống, còn ngành có cầu (hàng hoá) lớn hơn cung (hàng hoá) thì giá cả tăng lên. Sự tự do di chuyển tư bản từ ngành này sang ngành khác làm thay đổi cả tỷ suất lợi nhuận cá biệt vốn có của các ngành. Sự tự do di chuyển tư bản này chỉ tạm dừng lại khi tỷ suất lợi nhuận ở tất cả các ngành đều xấp xỉ bằng nhau. Kết quả là hình thành nên tỷ suất lợi nhuận bình quân.

Tỷ suất lợi nhuận bình quân là tỷ số tính theo % giữa tổng giá trị thặng dư và tổng số tư bản xã hội đã đầu tư vào các ngành của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, ký hiệu là .

Theo ví dụ trên thì:

C.Mác viết: … Những tỷ suất lợi nhuận hình thành trong những ngành sản xuất khác nhau, lúc đầu rất khác nhau. Do ảnh hưởng của cạnh tranh, những tỷ suất lợi nhuận khác nhau đó san bằng thành tỷ số lợi nhuận chung, đó là con số trung bình của tất cả những tỷ suất lợi nhuận khác nhau.

Khi hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân thì số lợi nhuận của các ngành sản xuất đều tính theo tỷ suất lợi nhuận bình quân và do đó nếu có số tư bản bằng nhau, dù đầu tư vào ngành nào cũng đều thu được lợi nhuận bằng nhau, gọi là lợi nhuận bình quân.

Vậy, lợi nhuận bình quân là số lợi nhuận bằng nhau của những tư bản bằng nhau, dù đầu tư vào những ngành khác nhau, ký hiệu là .

Theo ví dụ trên thì: = 30% x 100 = 30.

Sự bình quân hoá tỷ suất lợi nhuận chỉ được thực hiện khi chủ nghĩa tư bản đã phát triển đến một trình độ nhất định.

Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân đã che giấu hơn nữa thực chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản. Sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân không làm chấm dứt quá trình cạnh tranh trong xã hội tư bản, trái lại cạnh tranh vẫn tiếp diễn.

Sự chuyển hoá của giá trị hàng hoá thành giá cả sản xuất

Cùng với sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và lợi nhuận bình quân thì giá trị hàng hoá chuyển hoá thành giá cả sản xuất.

Giá cả sản xuất bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân (giá cả sx = k + ).

Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân. Điều kiện để giá trị biến thành giá cả sản xuất gồm có: đại công nghiệp cơ khí tư bản chủ nghĩa phát triển; sự liên hệ rộng rãi giữa các ngành sản xuất, quan hệ tín dụng phát triển, tư bản tự do di chuyển từ ngành này sang ngành khác.

Trước đây, khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cả hàng hoá xoay quanh giá trị hàng hoá. Giờ đây, giá cả hàng hoá sẽ xoay quanh giá cả sản xuất. Xét về mặt lượng, ở mỗi ngành giá cả sản xuất và giá trị hàng hoá có thể không bằng nhau, nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá cả sản xuất luôn bằng tổng giá trị hàng hoá. Trong mối quan hệ này thì giá trị vẫn là cơ sở, là nội dung bên trong giá cả sản xuất; giá cả sản xuất là cơ sở của giá cả thị trường, và giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất.

Quá trình hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất có thể tóm tắt ở bảng sau đây:

Thực chất hoạt động của quy luật giá cả sản xuất là sự biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị trong thời kỳ tự do cạnh tranh của chủ nghĩa tư bản.