Đọc Hiểu Văn Bản: “Việt Bắc” (Tố Hữu)

--- Bài mới hơn ---

  • Cách Căn Chỉnh Lề, Khổ Giấy Trên Word Chuẩn Theo Quy Định Của Nhà Nước.
  • Khắc Phục Sự Cố Trang Word Bị Lệch Sang Trái
  • Cách Bỏ Gạch Đỏ Trong Word Bỏ Kiểm Tra Chính Tả Trong Word
  • Xóa Bỏ Dấu Gạch Chân Màu Đỏ Và Màu Xanh Trong Word
  • Bỏ Dấu Gạch Chân Trong Word
  • Đọc – hiểu văn bản: “Việt Bắc” (Tố Hữu) – Phần tác phẩm

    I. Đọc – Hiểu chú thích:

    1. Tác giả: Xem TẠI ĐÂY

    2. Tác phẩm:

    – Hoàn cảnh sáng tác: Việt Bắc là khu căn cứ đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp. Tháng 10 – 1954, ngay sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, các cơ quan trung ương của Đảng từ Việt Bắc trở về thủ đô Hà Nội.Tố Hữu cũng là một trong số cán bộ kháng chiến từng sống gắn bó nhiều năm ở Việt Bắc, nay từ biệt chiến khu về xuôi. Nhân sự kiện có tính thời sự ấy, Tố Hữu sáng tác bài thơ Việt Bắc trong buổi chia tay đầy lưu luyến đó

    – Thể loại: Thể thơ lục bát.

    – Nội dung: Khúc hồi tưởng ân tình về Việt Bắc trong những năm cách mạng và kháng chiến gian khổ; bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến. Đoạn trích thuộc phần 1 của tác phẩm, tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến.

    – Bố cục (2 phần)

    + Phần 1 (20 câu đầu): Lời nhắn nhủ của người ở lại đối với người ra đi.

    + Phần 2 (còn lại): Lời của người ra đi với nỗi nhớ Việt Bắc.

    II. Đọc – hiểu văn bản.

    1. Những phút giây đầu tiên của buổi chia tay đầy bâng khuâng, lưu luyến giữa kẻ ở – người đi (8 câu thơ đầu).

    – Bốn câu đầu là lời ướm hỏi của người ở lại: “Mình về…..nhìn sông nhớ nguồn?”. Bốn câu sau là tiếng lòng của người cán bộ về xuôi: “Tiếng ai tha thiết….hôm nay”.

    + Câu hỏi tu từ ngọt ngào, khéo léo.

    – Cách xưng hô mình – ta và giọng điệu ngọt ngào của những câu ca dao, những câu hát giao duyên gợi nên khung cảnh chia tay bịn rịn, lưu luyến.

    – Từ ngữ mến thương, gần gũi:

    + Điệp từ “mình về”, “mình có nhớ” gợi lên một khoảng không gian, thời gian đầy ắp kỉ niệm

    + 15 năm ấy: khoảng thời gian dài của cách mạng và sự gắn bó thủy chung, tình nghĩa của người dân Việt bắc với những người kháng chiến.

    + Các tính từ: Thiết tha, mặn nồng, bâng khuâng, bồn chồn gợi lên tâm trạng xúc động, luyến lưu, bồi hồi, chưa xa đã nhớ của người về, tình cảm đậm sâu, gắn bó, ân tình.

    + Điệp từ “nhớ”gợi tả nỗi nhớ triền miên, kết hợp với lối đối đáp mình – ta trong ca dao → tình cảm thân mật, gần gũi.

    – Hình ảnh thắm đượm nghĩa tình:

    + “núi”, “sông”, “nguồn” những hình ảnh tiêu biểu của núi rừng Việt Bắc.

    + áo chàm (hoán dụ): chỉ người dân Việt Bắc Với hình ảnh chiếc áo chàm bình dị, chân thành cảm xúc của người ra đi – kẻ ở dâng trào không nói nên lời.

    + Cử chỉ: Cầm tay nhau…hôm nay, câu thơ bỏ lửng giữa chừng bằng phép tu từ im lặng→ sự luyến lưu, bịn rịn, nghẹn ngào không nói thành lời của người về.

    → Không trả lời trực tiếp vào câu hỏi của người ở lại mà chỉ qua cử chỉ, thái độ của người về đã khẳng định nghĩa tình thuỷ chung, thắm thiết của người về với người ở lại. Chuyện ân tình cách mạng đã được Tố Hữu khéo léo thể hiện như tâm trạng của tình yêu lứa đôi → nét độc đáo trong cách thể hiện. Tám câu đầu như khúc dạo đầu của bản tình ca về nỗi nhớ.

    ⇒ Tám câu đầu là khung cảnh chia tay đầy tâm trạng, bịn rịn, lưu luyến, bâng khuâng của kẻ ở người đi

    2. Lời của người ở lại: gợi nhớ những kỉ niệm chiến khu gian khổ mà nghĩa tình (12 câu tiếp theo)

    – Nhớ một thiên nhiên khắc nghiệt: Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

    – Nhớ một chiến khu gian khổ, nhưng sẵn lòng căm thù giặc: bát cơm…nặng vai

    – Nhớ những sản vật của rừng: trám bùi, măng mai→ để rụng, để già→ lấy cái thừa để nói cái thiếu ( hình bóng của cán bộ, chiến sĩ)

    – Nhớ những mái nhà nghèo nhưng ấm áp tình người, tình CM: Hắt hiu…lòng son

    – Nhớ những năm đầu kháng Nhật với những địa danh lịch sử: Tân Trào, Hồng Thái

    * Với điệp khúc lặp lại ở các câu lục : mình về – mình đi, thể thơ lục bát đậm chất dân gian, biện pháp liệt kê, tiểu đối trong các câu bát. Sự phối hợp thanh điệu hài hòa giữa Bằng và Trắc giữa các câu lục – bát tạo nên giọng điệu ngân nga, trầm bổng, nhẹ nhàng, khoan thai…

    ⇒ 12 câu thơ gợi nhớ những kỉ niệm về thiên nhiên, chiến khu gian khổ và tình người Việt Bắc.

    3. Lời của người về: Nỗi nhớ những kỉ niệm sinh hoạt nghèo khổ mà ấm áp tình người (từ câu 25 đến 42)

    * Nhớ về khung cảnh Việt Bắc:

    “ Nhớ gì như nhớ người yêu

    …………………………….

    Ngòi Thia sông Đáy, suối Lê vơi đầy”

    – Biện pháp so sánh: như nhớ người yêu

    – Kết hợp điệp từ“nhớ” nhiều lần→ thể hiện nỗi nhớ da diết, quay quắt, khắc khoải về từng hình ảnh cụ thể của thiên nhiên: “trăng, núi, khói, sương…”, đến từng địa danh: “ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê – Nin…)

    → Cảnh Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp vừa hiện thực , vừa thơ mộng, thi vị, độc đáo. Tất cả đã trở thành những khoảng thời gian và không gian lung linh kỉ niệm

    * Nhớ về con người Việt Bắc:

    “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi

    ……………………………….

    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son”.

    → Biện pháp liệt kê, điệp từ “nhớ” tiếp tục vang lên da diết: nhớ về những con người lam lũ, nghèo khổ, họ đã từng chia bùi sẻ ngọt, đồng cam cộng khổ với cán bộ, bộ đội. Nhớ đến cuộc sống sinh hoạt nghèo khổ, nhớ đến hình ảnh đồng đội, đồng chí…

    ⇒ Đoạn thơ gợi ra khung cảnh bản làng, tình người, tình quân dân của chiến khu Việt Bắc trong những năm kháng Pháp với tất cả tình cảm trìu mến, nồng hậu yêu thương của tác giả

    4. Bức tranh tứ bình (Câu 43 đến 52)

    * Sự hoà quyện giữa cảnh và người Việt Bắc:

    “ Ta về mình có nhớ ta

    ……………………………

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.

    * Mùa đông:

    + Rừng xanh, hoa chuối đỏ → thiên nhiên thật tươi tắn, ấm áp lạ thường.

    + Người đi làm rẫy “đèo cao…thắt lưng”→ bình dị, khoẻ khoắn.

    * Mùa xuân:

    + Mơ nở trắng rừng→ màu trắng miên man, tinh khiết, trữ tình.

    + Người đan nón: dịu dàng, cần mẫn, chút chăm.

    * Mùa hè:

    + Tiếng ve, rừng phách đổ vàng → âm vang sôi động, náo nhiệt, ồn ã, màu sắc rực rỡ.

    + cô gái hái măng: cần mẫn, xinh tươi.

    * Mùa thu:

    + Ánh trăng hoà bình → không khí bình yên.

    + Tiếng hát ân tình của con người → không còn tiếng súng, mà hạnh phúc đã trở về với họ.

    → Cảnh vật thiên nhiên đa dạng, phong phú, sinh động, thay đổi theo từng mùa và tràn đầy sức sống. Còn con người Việt Bắc thì cần mẫn trong lao động, thuỷ chung trong tình nghĩa. Tất cả như hoà quyện với nhau tạo nên một bức tranh tuyệt đẹp và nên thơ

    ⇒ Âm hưởng trữ tình tha thiết của đoạn thơ đã tạo nên một khúc ca ngọt ngào, đằm thắm về tình đồng chí, nghĩa đồng bào, tình yêu thiên nhiên, đất nước và yêu đời

    5. Khung cảnh của chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến, lập nhiều chiến công, vai trò của VB trong Cách mạng và kháng chiến (từ câu 54 đến hết)

    – Khung cảnh chiến khu:

    “Những đường Việt Bắc của ta

    ……………………………..

    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên”

    → Khổ thơ với những từ láy, điệp từ, nhịp thơ vui, hình ảnh thơ hào hùng, lối thậm xưng đã làm nổi bật được không khí sôi nổi, dồn dập, náo nức, tấp nập của cuộc kháng chiến→ một khung cảnh thật hùng tráng, một khí thế vô cùng mạnh mẽ của quân và dân ta đứng lên chiến đấu vì Tổ quốc độc lập, tự do

    Những chiến công: Phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên …

    → những địa danh gắn với những kì tích, những chiến công mà dân tộc ta đã vượt qua bao thiếu thốn, gian khổ hi sinh để lập nên

    – Cội nguồn của sức mạnh:

    + Đó là sức mạnh của lòng căm thù: “Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”;

    + Sức mạnh của tình nghĩa thuỷ chung: “Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi”;

    + Sức mạnh của khối đại đoàn kết, của sự hoà quyện gắn bó giữa con người với thiên nhiên:

    “Nhớ khi giặc đến giặc lùng

    ………………………………

    Đất trời ta cả chiến khu một lòng”

    → Tất cả tạo thành hình ảnh ‘Đất nước đứng lên”

    – Vai trò của Việt Bắc:

    “Mình về có nhớ núi non

    ………………………..

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa”

    → Việt Bắc là một chiến khu kiên cường, nơi nuôi dưỡng bao sức mạnh đấu tranh, nơi khai sinh những địa danh sẽ mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc.

    – “Trung ương chính phủ luận bàn việc công” → Việt Bắc là,đầu não của cuộc kháng chiến, nơi có cụ Hồ soi sáng.

    “Ở đâu đau đớn giống nói

    ……………………………

    Quê hương cách mạng dụng nên Cộng hoà”.

    → Việt Bắc còn là nơi mang lại niềm tin, sức mạnh và niềm hy vọng cho mọi người dân Việt Nam.

    ⇒ Việt Bắc đã trở thành quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, là đầu não của cuộc kháng chiến, nơi hội tụ bao tình cảm, suy nghĩ, niềm tin và hi vọng cho mọi người dân yêu nước.

    • Ghi nhớ (sgk)

    III. Tổng kết:

    1. Giá trị nội dung:

    – Việt Bắc là khúc ca hùng tráng và cũng là khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Thể hiện sự gắn bó, ân tình sâu nặng với nhân dân, đất nước trong niềm tự hào dân tộc…

    – Việt Bắc là khúc hát ân tình chung của những người cách mạng, những người kháng chiến, của cả dân tộc qua tiếng lòng của nhà thơ. Bên cạnh đó, bài thơ còn cất lên âm hưởng anh hùng ca vang dội, đưa ta về với một thời kì lịch sử hào hùng, trọng đại của đất nước.

    2. Giá trị nghệ thuật:

    – Sử dụng sáng tạo hai đại từ “mình, ta” với lối đối đáp giao duyên trong dân ca, để diễn đạt tình cảm cách mạng

    – Bài thơ Việt Bắc thể hiện tính dân tộc đậm đà:

    + Sử dụng thành công thể thơ lục bát truyền thống.

    + Ngôn ngữ, hình ảnh mộc mạc, giản dị, quen thuộc, gần gũi, đậm sắc thái dân gian.

    + Sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật tài hoa như điệp từ, liệt kê, so sánh, ẩn dụ tượng trưng…

    + Nhịp điệu thơ uyển chuyển ngân vang, giọng điệu thay đổi linh hoạt.

    + Lối đối đáp giao duyên của ca dao dân ca (nhưng qua lớp đối thoại của kết cấu bên ngoài chính là lời độc thoại của tâm trạng).

    + Cách xưng hô mình – ta; phép điệp giàu tính truyền thống.

    + Tố Hữu phát huy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài: Văn Bản Văn Học – Ngữ Văn 10 Tập 2
  • Văn Phòng Ubnd Tỉnh Quảng Nam
  • Bài Văn: Soạn Bài: Uy
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Uy
  • Soạn Bài: Thạch Sanh – Ngữ Văn 6 Tập 1
  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu : Việt Bắc ( Tiếp Theo )
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu
  • Đọc Hiểu Và Phân Tích Tác Phẩm Việt Bắc
  • Tóm Tắt Việt Bắc Ngắn Gọn Nhất
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Trong Bài Thơ “việt Bắc” ( Tố Hữu)
  • Đề đọc hiểu Việt Bắc

    Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

    “- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? – Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

    Câu 1: Đoạn thơ trên tập trung làm nổi bật điều gÌ? Mười lăm năm ấy là khoảng thời gian nào? Tại sao gợi nhớ Mười lăm năm ấy ?

    Câu 2:”Mười lăm năm” là khoảng thời gian nào?

    Câu 3:Trong đoạn thơ ai là người lên tiếng trước?

    Câu 4 Hình ảnh “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” diễn tả những cung bậc cảm xúc nào?

    Câu 5 : Biện pháp tu từ được sử dụng hiệu quả nhất trong đoạn thơ là gì? Tác dụng của biện pháp tu từ đó?

    Câu 6: Sáng tạo của Tố Hữu trong việc sử dụng hình thức của đoạn thơ

    Đáp án đề đọc hiểu Việt Bắc số 1

    – Đoạn thơ trên tập trung làm nổi bật khung cảnh chia ly

    – Con số mười lăm năm vừa mang nghĩa thực, vừa mang nghĩa hư ảo : đó là mười lăm năm cách mạng. mười lăm năm chiến khu Việt Bắc nhưng đồng thời cũng là mười lăm năm gắn bó thuỷ chung giữa cán bộ kháng chiến với nhân dân Việt Bắc

    Câu 2: “Mười lăm năm” là khoảng thời gian: Từ thời kỳ kháng Nhật( khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940) đến khi người kháng chiến trở về thủ đô

    Câu 3: Trong đoạn thơ người ở lại là người lên tiếng trước.

    Câu 4: Hình ảnh “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” diễn tả: nỗi nhớ nhung, lưu luyến, bịn rịn giữa kẻ ở và người đi

    Câu 5: Biện pháp tu từ được sử dụng hiệu quả nhất trong đoạn thơ là:

    – Điêp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ tràn đầy, tha thiết

    – Hoán dụ “áo chàm”: Chỉ người Việt Bắc, diễn tả tình cảm quân dân gắn bó, tha thiết.

    Câu 6: Sáng tạo của Tố Hữu trong việc sử dụng hình thức của đoạn thơ là:

    – Hình thức đối đáp của ca dao dân ca với cặp đaị từ” mình – ta”.

    – Tố Hữu vận dụng sáng tạo vào việc thể hiện những tính cảm cách mạng lớn lao.

    Đọc đoạn thơ và trả lời các câu hỏi.

    “…Ta đi ta nhớ những ngày Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi… Thương nhau, chia củ sắn lùi Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng. Nhớ người mẹ nắng cháy lưng Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô. Nhớ sao lớp học i tờ Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan Nhớ sao ngày tháng cơ quan Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo. Nhớ sao tiếng mỏ rừng chiều Chày đêm nện cối đều đều suối xa…”.

    Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các yêu cầu sau:

    Câu 1:Đoạn thơ trên thể hiện tâm tư tình cảm gì của tác giả?

    Câu 2:Nêu ý nghĩa nghệ thuật các từ “chia ” “sẻ ” “cùng ” trong đoạn thơ?

    Câu 3:Hình ảnh bà mẹ Việt Bắc hiện ra như thế nào?

    Câu 4:Phép điệp cấu trúc ” Nhớ sao ” đạt hiệu quả nghệ thuật như thế nào ?

    Đáp án đề đọc hiểu Việt Bắc số 2

    Câu 1: Đoạn thơ trên thể hiện tình cảm thương nhớ của người cán bộ cách mạng đối với cảnh vật, con người, kỷ niệm ở Việt Bắc trong những năm kháng chiến vừa qua.

    Câu 2: Ý nghĩa nghệ thuật các từ “chia ” “sẻ ” “cùng ” trong đoạn thơ là: những động từ bộc lộ tình cảm đồng cam cộng khổ của Việt Bắc và cách mạng

    : Hình ảnh bà mẹ Việt Bắc hiện ra:

    “người mẹ nắng cháy lưng địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô”

    – Đó là người lao động nghèo khổ, neo đơn nhưng dạt dào ân tình với cách mạng, không ngại vất vả, cực khổ lao động góp phần tạo nên lương thực cho cách mạng nuôi quân.

    • Nắng cháy lưng : gợi thời tiết khắc nghiệt, qua đó nói lên sự vất vả, lam lũ của người mẹ
    • Địu con lên rẫy : lời thơ giản dị, cũng là hình ảnh hiện thực của người mẹ dân tộc.
    • Từ đó tình cảm sắc son cao đẹp của người dân tộc đối với cách mạng càng hiện lên rõ nét.

    Câu 4: Phép điệp cấu trúc ” Nhớ sao ” đạt hiệu quả nghệ thuật là: có tác dụng thể hiện nỗi nhớ da diết, nhớ sâu đậm và chân thành. Nỗi nhớ như trải dài vô tận cùng thời gian năm tháng.

    Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

    – Mình về thành thị xa xôi Nhà cao, còn thấy núi đồi nữa chăng? Phố đông, còn nhớ bản làng Sáng đèn, còn nhớ mảnh trăng giữa rừng? Mình đi, ta hỏi thăm chừng Bao giờ Việt Bắc tưng bừng thêm vui? – Ðường về, đây đó gần thôi! Hôm nay rời bản về nơi thị thành Nhà cao chẳng khuất non xanh Phố đông, càng giục chân nhanh bước đường. Ngày mai về lại thôn hương Rừng xưa núi cũ yêu thương lại về Ngày mai rộn rã sơn khê Ngược xuôi tàu chạy, bốn bề lưới giăng. (Trích Việt Bắc – Thơ Tố Hữu – NXB Giáo dục 2003)

    Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là gì?

    Câu 2: Chỉ ra và nêu hiệu quả nghệ thuật của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích?

    Câu 3: Nêu kết cấu và tóm tắt nội dung của đoạn trích?

    Câu 4: Điều anh /chị tâm đắc nhất trong đoạn trích trên là gì? (Trình bày từ 5 đến 7 dòng)

    Đáp án đề đọc hiểu Việt Bắc số 3

    Câu 1: Phương thức biểu đạt chính của đoạn trích là: biểu cảm

    Câu 2: Biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích là:

    Câu hỏi tu từ (Mình về… chăng?/ Sáng đèn còn… rừng?/ Mình đi… vui?).

    +/ Tác dụng của biện pháp tu từ đó là: Nhấn mạnh, tạo ấn tượng đặc biệt cho đoạn thơ, nhắc nhở người ra đi đừng thay lòng đổi dạ, luôn khắc sâu trong lòng những kỉ niệm sâu đậm với quê hương cách mạng Việt Bắc trong kháng chiến. Dẫu có về thành thị xa xôi, về với phố đông sáng đèn thì những năm tháng gắn bó với chiến khu Việt Bắc vẫn là quãng thời gian không thể nào quên

    +/ Lặp đi lặp lại cụm từ còn thấy, còn nhớ: có tác dụng nhấn mạnh, lay động tình cảm của người ra đi, nhắc nhở người ra đi luôn khắc ghi trong lòng những kỉ niệm với quê hương Việt Bắc.

    +/ Lặp đi lặp lại từ ngày mai nhằm nhấn mạnh niềm tin, niềm hi vọng về một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn.

    Câu 3: Kết cấu của đoạn thơ là: kết cấu đối đáp

    – Nội dung chính của đoạn trích là: Mượn lời đối đáp giữa kẻ ở, người đi, đoạn thơ gợi nhắc những kỉ niệm kháng chiến, bày tỏ tình cảm lưu luyến nhớ nhung tha thiết mặn nồng của người đi, kẻ ở, đồng thời khẳng định lối sống nghĩa tình, niềm tin vào một ngày mai tươi sáng.

    Câu 4: Học sinh được tự do đưa ra những ý kiến cá nhân và dùng lập luận để bảo vệ ý kiến của mình.

    – Có thể nêu những cảm nhận như: Tình cảm tha thiết mặn nồng giữa kẻ ở, người đi; lối sống nghĩa tình trong kháng chiến; niềm tin, niềm hi vọng vào tương lai tươi sáng…

    Giangdh (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Việt Bắc Phần Tác Giả Của Tố Hữu
  • Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Soạn Văn 10 Ngắn Nhất Bài: Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Đề Tài Của Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài Hiền Tài Là Nguyên Khí Của Quốc Gia Ngắn Gọn Nhất
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu : Việt Bắc ( Tiếp Theo )

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu
  • Đọc Hiểu Và Phân Tích Tác Phẩm Việt Bắc
  • Tóm Tắt Việt Bắc Ngắn Gọn Nhất
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Trong Bài Thơ “việt Bắc” ( Tố Hữu)
  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc Ngắn Gọn Và Đầy Đủ Nhất
  • PHẦN HAI : TÁC PHẨM I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mói của đất nước và một giai đoạn mợi của cách mạng được mở ra. Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Việt Bắc là nơi Tố Hữu đã sống và gắn bó suốt thời kì kháng chiến, nay phải từ giã để về Thủ đô. Trong không khí lịch sử và tâm trạng khi chia tay Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Việt Bắc là một đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thơ ca Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp.

    II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HlỂU VĂN BẢN

    1. Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu đã buộc thực dân Pháp phải kí Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương, miền Bắc nước ta được giải phóng. Một trang sử mới của đất nước và một giai đoạn mới của cách mạng được mở ra. Tháng 10 năm 1954, các cơ quan Trung ương của Đảng và Chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội. Với Tố Hữu, Việt Bắc là nơi ông đã sống và gắn bó suốt thời kì kháng chiến, nay phải từ giã để cùng cơ quan Trung ương Đảng về thủ đô. Trong không khí lịch sử và tâm trạng khi chia tay Việt Bắc, Tố Hữu đã sáng tác bài Việt Bắc. Tác phẩm có độ lùi về thời gian, từ tháng 7 năm 1954 khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kí kết, đến tháng 10 năm 1954, bài thơ Việt Bắc mới ra đời. Chính khoảng lùi thời gian này đã tạo điều kiện để tác giả suy ngẫm về hiện thực đất nước. Bức tranh đất nước, con người trong kháng chiến được tái hiện trong cảm hứng bao trùm là nỗi nhớ, sự hồi tưởng vể Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp gian khổ mà hào hùng.

    Kết cấu của tác phẩm gần gũi với kết cấu đối đáp trong ca dao, dân ca và có tác dụng thể hiện những tình cảm sâu lắng, tha thiết của người cán bộ cách mạng miển xuôi đối với Việt Bắc. Đây cũng là một yếu tố khiến bài thơ dễ đi vào lòng người và có sức sống lâu bền cùng thời gian.

    2. Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tình, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên chân thực, sinh động và thấm đẫm ân tình. Hình ảnh mưa nguồn là một nét vẽ đặc sắc giúp người đọc hình dung đầy đủ những gian khổ của kháng chiến. Đó là cả một chặng đường kháng chiến gian khó mà con người đã vượt qua. “Miếng cơm” lại là hình ảnh gợi về một thời nhân dân Việt Bắc và người cán bộ cách mạng đồng cam cộng khổ gánh trên vai trách nhiệm với dân tộc, mối thù với đế quốc, thực dân. Tố Hữu có biệt tài trong việc gợi mở những bức tranh hiện thực bằng những câu thơ lục bát có tiểu đối.

    Không gian Việt Bắc trong nỗi nhớ của người ra đi như ngưng đọng lại ở những nét đẹp quyến rũ, thơ mộng. Âm thanh tiếng mõ rừng chiều trở thành tiếng vọng của tâm hồn con người, là thanh âm đặc trưng của Việt Bắc, là nhịp đồng vọng giữa người đi và kẻ ở, đưa người đọc trở về những tháng ngày gian khổ mà tình nghĩa, vất vả mà gắn bó, đau thương mà anh hùng của dân tộc trong kháng chiến.

    Thiên nhiên Việt Bắc được khắc hoạ rất điển hình. Tố Hữu đã mượn hình ảnh của hoa chuối đỏ tươi để gợi dậy một nét đặc trưng của mùa đông Việt Bắc. Có người cho rằng hình ảnh hoa chuối lần đầu tiên đi vào thơ Tố Hữu nhưng đã tạo được ấn tượng đặc biệt với người đọc. Cảnh mùa đông có nét ấm áp, rực rỡ, tươi tắn chứ không lạnh lẽo, hắt hiu. Bức tranh mùa đông Việt Bắc đan dệt bởi nhiều màu sắc xanh, đỏ tươi, vàng và ngập tràn ánh sáng. “Ánh” là một từ rất gợi, hé mở sức sống kì diệu của cảnh và người Việt Bắc. Không thấy con người hiện hữu cụ thể nhưng chỉ qua hình ảnh “dao gài thắt lưng”, bóng dáng của người lao động hiện lên thật bình dị, cụ thể. Bức tranh mùa đông đẹp vẻ đẹp ấm áp. Hơi ấm toả ra từ trong lòng cảnh vật, từ sức sống của con người.

    Mùa xuân Việt Bắc được gợi ra từ sắc trắng của hoa mơ trên nền xanh của lá cây rừng tạo nên nét đẹp tinh khôi, thơ mộng. Màu trắng tinh khiết của hoa mơ bao chiếm không gian. Hình ảnh con người Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp giản dị trong công việc lao động hằng ngày : “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”. Câu thơ làm sáng lên vẻ đẹp cần mẫn, bền bỉ, kiên trì trong lao động của người Việt Bắc.

    Nếu mùa xuân bừng sáng sắc trắng của hoa mơ thì mùa hạ lại ngân lên tiếng ve quen thuộc của núi rừng Việt Bắc. Tiếng ve dệt thành bản đồng ca mùa hạ rộn ràng, tươi vui. Sự hoà quyện giữa âm thanh và màu sắc đã tạo nên sự độc đáo cho cảnh vật : “Ve kêu rừng phách đổ vàng”, sắc vàng của rừng phách như muốn tràn ra ngoài, ứ nhựa sống nhờ tác động của. tiếng ve. Câu thơ vẽ lên một bức tranh mùa hạ tưng bừng bởi thanh âm, màu sắc. Hình ảnh cô gái hái măng không hiện lên lạc lõng, cô đơn mà trở thành điểm nhấn cho bức tranh mùa hạ.

    Hình ảnh ánh trăng mùa thu hiện lên mát rượi và tiếng hát ân tình vang ngân của con người đã làm sáng lên bức tranh mùa thu. Bức tranh ấy lắng lại trong nét đẹp quyến rũ, gợi cảm. Khúc hát ân tình vang lên trong tâm hồn thi sĩ, vọng lại từ rừng thu Việt Bắc. Cái đẹp của thiên nhiên hoà quyện với cái đẹp của con người.

    Điều đặc biệt là bức tranh về cảnh và người Việt Bắc được nhìn bằng tất cả niềm yêu thương, nỗi nhớ mong tha thiết của tác giả. Từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần. Tố Hữu đã dựng lên một bức tranh Việt Bắc giản dị, thân thuộc mà đẹp đẽ, mĩ lệ. Tài năng sáng tạo của nhà thơ đã được thể hiện tập trung ở việc dựng nên một bộ tứ bình độc đáo, hoàn chỉnh về cảnh và người Việt Bắc. Lời thơ lục bát ngọt ngào, tha thiết càng khiến nỗi nhớ trở nên thiết tha, sâu nặng.

    3. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến đã được Tố Hữu khắc hoạ rất rõ trong đoạn trích bài thơ Việt Bắc.

    – Đoạn thơ từ câu “Những đường Việt Bắc của ta” đến câu “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” tái hiện khung cảnh Việt Bắc trong kháng chiến với không gian núi rừng rộng lớn, những hình ảnh hào hùng, những bước hành quân vang dội, dồn dập, náo nức. Đoạn thơ mang đậm âm hưởng anh hùng ca, thể hiện thật đẹp khí thế vô cùng mạnh mẽ của cả một dân tộc đứng lên chiến đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Tiết tấu của các câu thơ nhanh, manh, gợi lại không khí của những trận đánh :

    Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.

    và cả những chiến công :

    Tin vui chiến thắng trăm miền Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

    – Không chỉ miêu tả khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến, nhà thơ còn đi sâu lí giải cội nguồn sức mạnh dẫn tới những chiến công ấy. Đó là sức mạnh của lòng căm thù (“Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai”), của tình nghĩa thuỷ chung (“Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi”) và hơn hết là sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân.

    – Trong một số câu thơ của đoạn trích, nhất là những câu thơ từ “Ở đâu u ám quân thù” đến câu “Mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào”, với những lời thơ trang trọng mà tha thiết, Tố Hữu đã khẳng định vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến. Việt Bắc là quê hương của cách mạng, là căn cứ địa vững chắc, đầu não của cuộc kháng chiến ; là nơi hội tụ bao tình cảm, niềm tin và hi vọng của mỗi người Việt Nam yêu nước. Trong suốt cả đoạn trích, Việt Bắc hiện lên với vai trò là cái nôi che chở và nuôi dưỡng cho cách mạng và kháng chiến, là nơi Trung ương, Chính phủ và Bác Hồ vạch đường chỉ lối cho cách mạng Việt Nam. Với tất cả những ý nghĩa đó, Việt Bắc xứng đáng là nơi cả dân tộc gửi trọn niềm tin yêu :

    Nhìn lên Việt Bắc : Cụ Hồ sáng soi Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

    4. Nghệ thuật biểu hiện của bài thơ Việt Bắc nói chung và đoạn trích nói riêng đậm đà tính dân tộc.

    – Đoạn trích trong SGK là phần mở đầu của bài thơ, thể hiện niềm hoài niệm về một Việt Bắc gian khó và nghĩa tình trong kháng chiến. Tính dân tộc trong hình thức nghệ thuật của đoạn trích trước hết được thể hiện ở cấu tứ của bài thơ. Đó là lối cấu tứ theo hình thức đối đáp của ca dao trữ tình . Hai nhân vật của cuộc đối đáp này là ta và mình. Đây là hình thức quen thuộc của kiểu đối đáp giao duyên truyền thống và trên cơ sở đó, bài thơ đã thể hiện được một vấn đề có ý nghĩa lớn lao : sự thuỷ chung của cách mạng với nhân dân.

    – Về ngôn ngữ thơ, Tố Hữu chú trọng sử dụng những từ ngữ gần với lời ăn tiếng nói của nhân dân, những từ ngữ giản dị, mộc mạc nhưng cũng rất sinh động để tái hiện những kỉ niệm về một thời cách mạng và kháng chiến đầy gian khổ mà dạt dào tình nghĩa. Ngôn ngữ thơ trong Việt Bắc rất giàu hình ảnh (“Nhớ người mẹ nắng cháy lưng”, “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”, “Ve kêu rừng phách đổ vàng”,…) và giàu nhạc điệu (“Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều – Chày đêm nện cối đều đểu suối xa”, “Những đường Việt Bắc của ta – Đêm đêm rầm rập như là đất rung”,…).

    – V ề các biện pháp nghệ thuật, trong Việt Bắc, Tố Hữu rất thành công trong việc phát huy sức biểu cảm của các tiểu đối (“Tiếng ai tha thiết bên cồn – Bâng khuâng trong dạ / bồn chồn bước đi”, “Mình đi, mình lại nhớ mình – Nguồn bao nhiêu nước / nghĩa tình bấy nhiêu”,…). Nhờ sử dụng những tiểu đối này mà ý thơ của Tố Hữu chẳng những được nhấn mạnh mà nhịp thơ cũng uyển chuyển, cân xứng, hài hoà. Vì thế mà câu thơ cũng trở nên dễ nhớ, dễ thuộc, dễ đi vào lòng người. Việt Bắc cũng thể hiện tài năng của Tố Hữu trong việc sử dụng phép trùng điệp. Hàng loạt các câu thơ bắt đầu bằng các cụm từ như : “Mình về” (“Mình về, mình có nhớ ta”, “Mình về, có nhớ chiến khu”), “Nhớ sao” (“Nhớ sao ngày tháng cơ quan”, “Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều”),… đã làm cho lời thơ thêm tha thiết, ngọt ngào, dễ đi vào tâm trí người đọc.

    – Sử dụng thể lục bát truyền thống, Tố Hữu không chỉ kế thừa được những tinh hoa của thể loại này mà bằng sự sáng tạo và vận dụng linh hoạt, nhà thơ đã đưa thể thơ lục bát phát triển lên một tầm cao mới.

    III – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng đại từ xưng hô ta – mình trong bài thơ.

    – Cách sử dụng hai đại từ xưng hô mình, ta trong bài thơ Việt Bắc đã góp phần thể hiện chiều sâu trong tình cảm của con người. Lối đối đáp quen thuộc của ca dao tạo nên một giọng điệu ngọt ngào, sâu lắng. Lời đối đáp giữa Việt Bắc và người cán bộ cách mạng là những bộc bạch, tâm tình khẳng định tình cảm thuỷ chung son sắt.

    – Các đại từ xưng hô mình, ta được sử dụng linh hoạt, có lúc chuyển hoá lẫn nhau là một sáng tạo độc đáo của Tố Hữu trên cơ sở ảnh hưởng của thơ ca dân gian.

    2. Chọn trong bài thơ hai đoạn tiêu biểu :

    – Đoạn thơ về vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc, có thể chọn đoạn thơ sau :

    Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang. Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

    Phân tích : Xem gợi ý câu 2 phần Hướng dẫn đọc – hiểu văn bản.

    Đoạn thơ về khung cảnh hùng tráng của Việt Bấc trong kháng chiến :

    Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đẩu súng bạn cùng mũ nan. Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay. Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

    Để thấy được vẻ đẹp của đoạn thơ cũng như hình ảnh hùng tráng của Việt Bắc trong kháng chiến, cần tập trung phân tích những đặc điểm sau :

    + Phân tích những hình ảnh kì vĩ có tính chất sử thi thể hiện sức mạnh vũ bão của đoàn quân kháng chiến : “Đêm đêm rầm rập”, “Quân đi điệp điệp trùng trùng”, “Dân công đỏ đuốc từng đoàn”,…

    + Niềm vui chiến thắng toả rộng khắp không gian.

    + Về nghệ thuật, chú ý nghệ thúật sử dụng từ láy (rầm rập, điệp điệp trùng trùng, thăm thẳm), nghệ thuật nói quá (“Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”) thể hiện sức manh của đoàn quân anh hùng ; nghệ thuật liệt kê (các địa danh : Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, …) nhằm biểu hiện niềm tự hào, niềm vui chiến thắng.

    XEM THÊM : Hướng dẫn đọc hiểu : Việt Bắc – Ngữ văn 12 ” TẠI ĐÂY “

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Soạn Bài Việt Bắc Phần Tác Giả Của Tố Hữu
  • Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Soạn Văn 10 Ngắn Nhất Bài: Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học
  • Soạn Bài Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học Ngắn Gọn Nhất Văn 10: Đề Tài Của Văn Bản Văn Học
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Việt Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Việt Bắc Đầy Đủ Nhất
  • Tìm Hiểu Bài Việt Bắc, Tố Hữu
  • Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Bố Cục Phân Tích Bài Thơ Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Soạn Bài Việt Bắc Phần 2 Ngắn Gọn Nhất
  • – Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành; quê Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

    – Sinh trưởng trong gia đình nho học ở Huế và yêu văn chương.

    – Tố Hữu sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thực dân.

    – Tố Hữu đảm nhiệm nhiều cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hóa và trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

    – Đường thơ, đường cách mạng: con đường thơ và con đường hoạt động cách mạng của ông có sự thống nhất, không thể tách rời. Mỗi tập thơ của ông là một chặng đường cách mạng.

    + Tập thơ “Từ ấy” (1937-1946)

    + Tập thơ “Việt Bắc” (1946-1954)

    + Tập thơ “Gió lộng” (1955-1961)

    + Các tập thơ còn lại: thể hiện những chiêm nghiệm về cuộc đời của tác giả

    + Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình – chính trị.

    + Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    + Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình, ngọt ngào.

    + Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà.

    ⇒ Thơ Tố Hữu là tấm gương phản chiếu tâm hồn một người chiến sĩ cách mạng suốt đời phấn đấu, hi sinh vì tương lai tươi đẹp của dân tộc, cuộc sống hạnh phúc của con người.

    – Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu, cũng là một trong những thành công xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

    – Việt Bắc được coi là khúc hùng ca và bản tình ca về cách mạng, cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bài thơ đã thể hiện những nét tiêu biểu nhất trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

    – Chiến thắng Điện Biên Phủ thắng lợi. Tháng 7-1954, Hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, một trang sử mới mở ra cho toàn dân tộc

    – Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện có tính lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ.

    – Bốn câu thơ đầu là lời của người Việt Bắc:

    + Nhà thơ để cho người ở lại lên tiếng trước. Hai đại từ mình – ta được lặp lại nhiều lần. Đó là cách xưng hô thân mật lấy trong ca dao, dân ca, là lời xưng hô trong tình yêu lứa đôi, nghe tiếng thiết tha bâng khuâng được Tố Hữu sử dụng rất linh hoạt.

    + Trong bài thơ Việt Bắc, mình là người cán bộ về xuôi, ta là người Việt Bắc. Cụm từ Mười lăm năm ấy gợi nhắc câu Kiều của Nguyễn Du: Mười lăm ấy biết bao nhiêu tình. Đó là sự kế thừa thơ ca truyền thống của dân tộc của Tố Hữu.

    + Câu hỏi tu từ có nhớ ta, có nhớ không nghe da diết, nhắn nhủ, tâm tình. Lời hỏi cũng là lời nhắc nhở, nhắn gửi người về đừng quên Việt Bắc.

    – Bốn câu thơ tiếp là lời cán bộ về xuôi:

    + Ai là đại từ phiếm chỉ, chỉ người Việt Bắc.

    + Từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” đặc tả chính xác tâm trạng vấn vương, lưu luyến, bịn rịn.

    + Hình ảnh áo chàm là nghệ thuật hoán dụ để chỉ đồng bào Việt Bắc, vì người Việt Bắc thường mặc loại áo này. Màu chàm là màu đơn sơ, chân thực, không lòe loẹt mà giản dị, chân thành, chung thủy.

    + Câu hỏi tu từ và dấu chấm lửng ở cuối câu: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” thể hiện tình cảm tha thiết, mặn nồng, ấm áp. Ngôn ngữ bàn tay nóng ấm gắn với trái tim đầy xúc động.

    + Cum từ “Biết nói gì” không phải là cả người ra đi và người ở lại không biết nói gì, không có gì để nói mà là không biết nói sao cho thỏa nỗi nhớ thương.

    – Hình thức lặp “mình đi, mình về, có nhớ” đặt trong hàng loạt câu hỏi khiến đoạn thơ tràn đầy cảm xúc, gợi nhớ về những kỉ niệm đẹp đầy tự hào và yêu thương. Hai tiếng “mình đi, mình về” được luân phiên, chuyển đổi, gợi hình ảnh người cán bộ kháng chiến về xuôi mỗi lúc một xa dần:

    + Hình ảnh ẩn dụ “mưa nguồn, suối lũ, mây mù” nhằm miêu tả thời tiết Việt Bắc thật khắc nghiệt, mưa lớn gây lũ sông suối, trời u ám đầy mây đen. Thời tiết càng khắc nghiệt, họ càng gắn bó đoàn kết để vượt qua và chiến đấu.

    + Ngoài ra, những hình ảnh đó nhằm hàm chỉ những gian khó, thử thách mà cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc phải trải qua trong những năm tháng dài máu lửa.

    – Nhớ về cuộc sống khó khăn, vất vả, mối thù đè nặng lên đôi vai:

    + Chi tiết có thực miếng cơm chấm muối nhằm phản ánh cuộc sống thiếu thốn gian khổ về vật chất nhưng họ vẫn lạc quan chiến đấu bởi người cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc có chung một lý tưởng, một mối thù.

    + Cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân Pháp đang đè nặng lên đôi vai dân tộc ta.

    – Tình cảm của người ở lại được dấu kín trong lòng:

    + Nghệ thuật hoán dụ “rừng núi nhớ ai”, người ở lại đã lấy nỗi buồn của rừng núi để thổ lộ thầm kín nỗi buồn của mình trong niềm vui chung đất nước được giải phóng. Việt Bắc có nỗi buồn riêng, có nỗi nhớ riêng đó là phải chia tay với cán bộ cách mạng.

    + Họ buồn đến nỗi không còn tha thiết trong lao động: “Trám bùi để rụng, măng mai để già”. Trám măng là những nguồn lương thực vô tận của núi rừng Việt Bắc để nuôi cán bộ đánh giặc, nay cán bộ về xuôi thì họ đi hái trám, bẻ măng để làm gì? Câu thơ gợi nỗi buồn thiếu vắng trong lòng người ở lại.

    – Nỗi nhớ về bản làng nghèo khó mà thủy chung:

    + Cụm từ “những nhà” được nhà thơ nhắc đến ý chỉ đồng bào Việt Bắc.

    + Câu tiểu đối “hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” chứa đựng sự tương phản giữa cuộc sống nghèo khó về vật chất và phẩm chất cao đẹp của người Việt Bắc, đó là nhiệt tình và thủy chung cách mạng.

    – Nhớ Việt Bắc là nhớ cội nguồn quê hương cách mạng cùng với những địa danh lịch sử:

    + Điệp từ nhớ và hình ảnh liệt kê Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa nhằm nhắc nhở người cán bộ cách mạng luôn nhớ đến cội nguồn, nhớ địa điểm thành lập quân đội đầu tiên của nước ta đó là cây đa Tân Trào.

    + Nhớ đình Hồng Thái là nơi hội họp quốc dân lần đầu khai sinh ra chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

    – Khúc tâm tình của người cán bộ kháng chiến

    + Cách ngắt nhịp 3/3, ta với mình/ mình với ta làm cho người đọc cảm nhận, ta với mình tuy hai mà một, gắn bó không thể tách rời.

    + Cấu trúc so sánh, tăng tiến kết hợp với từ láy mặn mà, đinh ninh nằm nhấn mạnh tình cảm của người ra đi đối với Việt Bắc bao la và sâu nặng.

    + Câu thơ gợi nhớ câu Kiều của Nguyễn Du

    – Nỗi nhớ được cụ thể hóa:

    + Từ mình được dùng đa nghĩa thể hiện sự sáng tạo, độc đáo trong việc bộc lộ tình cảm.

    + Từ “lại” như nhân tình cảm lên gấp đôi.

    + Nghệ thuật so sánh “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” thể hiện cụ thể và sinh động hơn nghĩa tình sâu đậm của người cán bộ kháng chiến với quê hương Việt Bắc. Câu thơ gợi liên tưởng đến câu ca dao:

    – Nỗi nhớ lại được khắc họa cụ thể:

    + Qua hồi tưởng của cán bộ cách mạng, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp, vừa hiện thực lại vừa thơ mộng, tạo nét đẹp riêng biệt không nơi nào có được.

    + Nỗi nhớ Việt Bắc được tác giả so sánh “nhớ gì như nhớ người yêu”, mà nhớ người yêu thì thật da diết, cồn cào. Ca sao có viết:

    + Đó là nỗi nhớ bao trùm lên mọi không gian và thời gian, nhớ ánh nắng ban chiều, ánh trăng ban tối, đến bản làng mờ sương sớm, bếp lửa hồng trong đêm khuya lạnh.

    + Núi rừng, sông suối mang những tên quen thuộc được thể hiện bằng hàng loạt hình ảnh liệt kê ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê.

    – Nhớ sự gần gũi, quấn quí chia ngọt sẻ bùi của tình quân dân:

    + Nhớ Việt Bắc không phải là nỗi nhớ chung chung mà rất cụ thể. Nhớ những ngày gần gũi “mình đây ta đó”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi.

    + Có những ngày lũ rừng về xối xả, mưa rừng ào ào, gạo muối bị cuốn trôi, địch phục kích sau lưng… Những đêm bị sốt rét rừng hành hạ được các mẹ, các chị chăm sóc… thấm thía vô cùng tình quân dân keo sơn gắn bó.

    + Hàng loạt tính từ “đắng cay” “ngọt bùi” thể hiện những khó khăn tột cùng của cuộc sống trong kháng chiến. Nhờ tinh thần đồng cam cộng khổ giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng, họ đã thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chi từng củ khoai, sẻ từng bát cơm và cùng đắp chung chăn để vượt qua mùa đông lạnh lẽo.

    – Nhớ hình ảnh người lao động khó nhọc:

    + Hình ảnh người mẹ giúp người đọc cảm nhận hình ảnh người dân Việt Bắc lao động tạo ra của cải vật chất thật khó nhọc, thế mà họ vẫn sẵn sàng nuôi dưỡng cách mạng.

    + Nhớ Việt Bắc là nhớ những hình ảnh mộc mạc, thân thương, chân thực:

    + Điệp từ “nhớ sao” được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ của tác giả càng lúc càng day dứt.

    + Nhớ cảnh học tập của lớp bình dân học vụ, nhớ niềm vui trong đêm liên hoan, nhớ tinh thần lạc quan yêu đời của nhân dân Việt Bắc, đặc biệt là nhớ âm thanh đặc trưng của núi rừng với tiếng mõ, tiếng chày giã gạo.

    + Nếu thờ ơ nhà thơ sẽ chẳng thấy có gì nên thơ nhưng sự lưu luyến, gắn bó yêu thương thực sự khiến tác giả thấy có ngọn lửa lung linh, bền bỉ của sự sống.

    – Cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ là nỗi nhớ về Việt Bắc:

    + Tác giả sử dụng điệp ngữ “ta về” hai lần. Cùng một thời điểm chia tay nhưng ở trên là hỏi người, ở dưới là giãi bày lòng mình.

    + Cặp từ “ta”, “mình” được xưng hô như cách đối đáp giao duyên của trai gái trong ca dao, dân ca khiến cho cuộc chia tay của người cán bộ và Việt Bắc thành cuộc “giã bạn” của lứa đôi.

    + Ta là người cán bộ kháng chiến, mình là nhân dân Việt Bắc đang lưu luyến chia ta. Câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta” thể hiện sự lưu luyến của người đi, kẻ ở.

    + Nhớ hoa là nhớ thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng làm đắm say lòng người. Nhớ người là nhớ người dân Việt Bắc từng cưu mang, gắn bó, đồng cam cộng khổ với cán bộ cách mạng.

    + Hoa chuối rừng đỏ như son nổi bật trên nền xanh bạt ngàn của lá. Sự tương phản của hai mùa xanh, đỏ làm cho núi rừng bớt hoang vu, lạnh lẽo mà trở nên ấm áp hơn. Hoa chuối là bông hoa có thật chứ không mông mênh chóng tàn như những loài hoa khác.

    + Vượt qua mùa đông lạnh giá, con người lên nương, lên rừng. Nghệ thuật đảo ngữ nắng ánh (động từ) là các luồng sáng của nắng chói lên bởi sự phản quang của lưỡi dao rừng thắt trên lưng người dân khi họ đi khai thác lâm, thổ sản. Đó là cái đẹp rất đời thường, rất giản dị của người lao động.

    + Hoa nở tinh khôi, thanh khiết phủ trắng cả cánh rừng, gợi cảm giác choáng ngợp trước cảnh thơ mộng. Âm điệu mạnh mẽ của hai từ “trắng rừng” bộc lộ cảm giác ngỡ ngàng hạnh phúc của con người.

    + Hình ảnh người lao động chuốt từng sợi giang rất nhịp nhàng, khoan thai. Động từ chuốt là làm cho thật nhẵn sợi giang để đan nón. Hai từ chuốt và từng gợi tả đức tính cẩn thận, tỉ mỉ, chịu thương, chịu khó của người đan nón. Họ làm ra sản phẩm để phục vụ cho lao động và còn để tặng cho cán bộ kháng chiến.

    + Câu thơ sáu chữ xôn xao cả màu sắc lẫn âm thanh. Khi tiếng ve râm ran, cả một rừng phách như hối hả. nhanh chóng thay màu, cùng đồng loạt đổ vàng.

    + Hai động từ “kêu” và “đổ” thể hiện không khí rạo rực rất đặc trưng của mùa hạ. “Đổ vàng” là ngả vàng hàng loạt hoặc là cây trút lá vàng.

    + Hình ảnh người lao động: cô gái đi hái măng, khơi dậy trong ta những rung động ngọt ngào, sâu lắng. Đọc câu thơ, ta nghe như có tiếng nhạc ngân nga bởi nghệ sĩ gieo vần lưng (gái, hái) và điệp phụ âm đầu m (măng, một, mình). Cô hái say sưa lao động trong một không gian vui tươi, trong trẻo. Sự hiện diện của cô gái càng tăng thêm nét duyên dáng, trẻ trung cho bức tranh mùa hạ.

    + Ánh trăng vàng êm dịu trải dài lên cảnh vật, gợi không khí thanh bình, yên ả.

    + Từ hòa bình vừa khẳng định cuộc sống êm đềm, vừa nói đến sự thanh tĩnh của rừng khuya. Đêm trăng thu huyền ảo nơi núi rừng Việt Bắc thấp thoáng ước mơ thầm kín về cuộc sống thanh bình, êm ả.

    + Trên cái nền gợi cảm ấy, văng vẳng tiếng hát ân tình thủy chung của ai đó nghe thật bâng khuâng, xao xuyến. Tiếng hát ấy chính là tấm lòng của người Việt Bắc, dù nghèo khó nhưng suốt đời thủy chung với cách mạng.

    – Đứng trước gia khổ khó khăn, ý chí quật cường và tinh thần đoàn kết của dân tộc ta được nhân lên gấp bội. Theo dòng hồi tưởng của nhà thơ, ta như được chứng kiến sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp với bao chiến thắng lẫy lừng:

    + Nhớ những lần giặc càn quét săn lùng, chúng như bầy dã thú khát máu, tìm mọi cách khủng bố, đàn áp nhân dân ta, để lại bao oán hận.

    + Nghệ thuật nhân hóa đã làm sinh động hơn hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc. Thiên nhiên cũng như con người Việt Bắc kiên cường, anh dũng. Đoạn thơ trên, tác giả đã làm rõ sứ mệnh của rừng núi che bộ đội, vây quân thù.

    + Các điệp từ “rừng”, “núi” và nghệ thuật đối lập che bộ đội, vây quân thù càng làm nổi bật vai trò của những cánh rừng trùng điệp, nhấn mạnh một trong ba yếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc chiến: thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

    – Việt Bắc quả là một vùng địa linh quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đánh giặc:

    + Cả núi rừng Việt Bắc cùng nhịp đập trái tim quyết hoàn thành sứ mệnh bảo vệ quê hương đất nước yêu mến.

    + Cụm từ “cả chiến khu một lòng” cho thấy sự đồng tâm hiệp lực của quân dân ta, sự nhất trí cao độ của ý Đảng, lòng dân. Đó cũng là bí quyết thành công của ta trong kháng chiến.

    – Chính sức mạnh đoàn kết và ý chí quyết tâm đã giúp quân dân Việt Bắc lập nên những chiến công vang dội:

    + Hàng loạt những địa danh gắn với những thắng lợi vinh quang: phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng,… đó là chiến công nhập tràn không gian, trải dài theo nỗi nhớ.

    + Câu hỏi tu từ “Ai về ai có nhớ không?” nghe đậm đà âm hưởng ca dao. Hỏi mà như khẳng định: người ra đi làm sao quên được những trận đánh, những chiến công. Bởi trong vinh quang còn bao đau thương phải trả giá bằng máu sương của đồng đội. Nhớ về chiến công cũng là nhớ về những người đã ngã xuống để mà tự hào, để mà nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình trong hiện tại.

    – Cả núi rừng đất trời vang dậy trong bước hành quân. Cả nước ta đang chuyển sang giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Hàng vạn người ra trận, từng đoàn bộ đội, dân công đi như sóng cuộn, rung chuyển cả núi rừng, đêm đốt đuốc sáng rừng:

    + Một loạt điệp từ, điệp âm, điệp vần và từ láy: đêm đêm, rầm rập, điệp điệp, trùng trùng miêu tả cảnh hành quân thật sinh động, khiến người đọc cảm thấy hối hả, luân chuyển không ngừng của những đoàn quân ra trận dài, dài mãi dường như không dứt. Âm hưởng thơ thật hào hùng.

    + Hình ảnh thơ chân thực, đậm chất lãng mạn: Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

    – Cùng với đoàn chiến binh còn có đoàn dân công xung phong ra tuyến lửa:

    + Nghệ thuật đảo ngữ và điệp phụ âm đ (đỏ, đuốc) tạo âm hưởng mạnh mẽ, vững vàng.

    + Nhịp thơ 2/2 như nhịp bước hành quân sôi nổi, háo hức.

    + Lối nói quá khắc họa sức mạnh của con người được nhân lên gấp bội: Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.

    + Nghệ thuật đối lập: Nghìn đêm thăm thẳm và đèn pha bật sáng và nghệ thuật so sánh như ngày mai lên thể hiện tinh thần lạc quan, khí thế hào hùng của quân dân Việt Bắc.

    – Sự hào hùng ấy biểu hiện rõ trên con đường Việt Bắc trải dài bất tận, có sự hòa hợp tiếp nối của mọi lực lượng từ bộ đội du kích dân công đến những đoàn xe vận tải. Con đường đi đến tiền tuyến là con đường đến chiến thắng:

    + Trong bốn câu thơ, tác giả đã liệt kê một loạt 8 địa danh, kết hợp với điệp từ vui, nhịp thơ nhanh, mạnh, dồn dập bộc lộ một cách sâu sắc niềm sung sướng về chiến thắng của dân tộc. Chiến thắng ấy trải dài khắp mọi miền Tổ quốc tạo nên ngày hội chiến thắng của toàn thể dân tộc ta.

    – Những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc về thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái hiện trong tình cảm tha thiết , gắn bó sâu sắc của tác giả.

    – Tình nghĩa của người cán bộ và đồng bào Việt Bắc với cách mạng, kháng chiến, với Bác Hồ là những tình cảm cách mạng sâu sắc của thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập và tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc.

    + Thể thơ: thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng.

    + Kết cấu: lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng một cách thích hợp, tài tình

    + Những lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ)

    + Giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, cách xưng hô mình- ta quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc

    --- Bài cũ hơn ---

  • 7 Đoạn Mở Bài Việt Bắc Hay Sáng Tạo Nhất
  • Tuyển Tập Những Mở Bài Hay Về Bài Thơ Việt Bắc
  • Mở Bài Kết Bài Việt Bắc Hay Nhất 2022
  • Mở Bài Và Kết Bài Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Mở Bài Kết Bài Cho Bài Thơ Việt Bắc
  • Đọc Hiểu Và Phân Tích Tác Phẩm Việt Bắc

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Việt Bắc Ngắn Gọn Nhất
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Trong Bài Thơ “việt Bắc” ( Tố Hữu)
  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc Ngắn Gọn Và Đầy Đủ Nhất
  • Mở Bài Kết Bài Cho Bài Thơ Việt Bắc
  • Mở Bài Và Kết Bài Việt Bắc Của Tố Hữu
  • – Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7/1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới. Một trang sử mới của đất nước được mở ra.

    – Tháng 10/1954, những người kháng chiến từ chiến khu Việt Bắc trở về miền xuôi. Trung ương Đảng và Chính phủ từ quê hương cách mạng về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. Đó là một cuộc chia tay lịch sử để đưa đất nước tiếp tục đi lên trong giai đoạn mới. Nhân sự kiện có tính lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc, gồm hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ngợi ca công ơn của Đảng, Bác Hồ đối với dân tộc. Đoạn trích được học là phần đầu của tác phẩm.

    II. NỘI DUNG VĂN BẢN 1. Kết cấu của bài thơ

    – Bài thơ là lời đối đáp giữa người dân Việt Bắc và người cán bộ kháng chiến từ giã Việt Bắc. Đây là cuộc chia tay mang ý nghĩa lịch sử, cuộc chia tay giữa những người đã từng gắn bó dài lâu, đầy tình nghĩa sâu nặng, mặn nổng, từng chia sẻ mọi đắng cay, ngọt bùi, nay trong giờ phút chia tay, cùng nhau gợi lại bao kỉ niệm đẹp, cùng cất lên nỗi hoài niệm tha thiết vê’ những ngày đã qua, khẳng định nghĩa tình bền chặt và hẹn ước trong tương lai.

    – Lời đối đáp gần gũi, thân thuộc như trong ca dao, dân ca.

    – Bài thơ vì thế mà như lời tâm tình chan chứa yêu thương của những người yêu nhau.

    – Trong đối đáp, Tố Hữu sử dụng đại từ ‘mình – ta” với ý nghĩa vừa là ngôi thứ nhất, vừa là ngôi thứ hai. Tình cảm chan chứa yêu thương vì thế mà như được nhân lên. Chuyện nghĩa tình cách mạng, kháng chiến đến với lòng người bằng con đường của tình yêu.

    – Nhìn sâu hơn vào kết cấu bài thơ thì đối thoại chỉ là lớp bên ngoài, còn ở chiều sâu bên trong chính là lời độc thoại của chính nhân vật trữ tình đang đắm mình trong hoài niệm vê quá khứ gian khổ mà tươi đẹp, ấm áp nghĩa tình. Đó là nghĩa tình nhân dân, nghĩa tình kháng chiến và cách mạng, thể hiện khát vọng vê’ tương lai tươi sáng. Kẻ ở – người đi, lời hỏi – lời đáp có thể xem là sự phân thân để tâm trạng được bộc lộ đầy đủ hơn trong sự hô ứng, đồng vọng, vang ngân.

    2. Phân tích

    a. Tám câu đầu: Những phút giây đẩu tiên của buổi chia tay đầy bâng khuâng, lưu luyến giữa kẻ ở người đi.

    – Bốn câu đầu: Lời ướm hỏi của người ở lại.

    + Câu hỏi ngọt ngào, khéo léo “mười lăm năm” cách mạng gian khổ hào hùng, cảnh và người Việt Bắc gắn bó nghĩa tinh với những người kháng chiến; khẳng định tấm lòng thủy chung của mình.

    + Nghĩa tình của kẻ ở – người về được biểu hiện qua các đại từ “mình – ta” quen thuộc trong thơ ca dân gian gắn liền với tình yêu đôi lứa, tạo nên sự thân mật, gần gũi. Điệp từ “nhớ” láy đi, láy lại cùng với lời nhắn nhủ “mình có nhớ ta”, “mình có nhớ không” vang lên day dứt khôn nguôi.

    + Các từ “thiết tha”, “mặn nồng” thể hiện bao ân tình gắn bó.

    – Bổn câu sau: Tiếng lòng của người cán bộ vê’ xuôi.

    + Tuy không trả lời trực tiếp câu hỏi của người ở lại nhưng tâm trạng bâng khuâng, bổn chồn, cùng với cử chỉ “cầm tay nhau” xúc động, bồi hồi đã nói lên tình cảm: chưa xa đã nhớ, sự bịn rịn, lưu luyến của người cán bộ với cảnh và người Việt Bắc.

    + Lời hỏi của người ở lại đã khéo nhưng câu trả lời còn khéo léo hơn thế: Không phải là câu trả lời “có” hay “không” mà là những cử chỉ. Câu thơ “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay..diễn tả thái độ nghẹn ngào không nói nên lời của người cán bộ giã từ Việt Bắc về xuôi.

    + Hình ảnh “áo chàm” – nghệ thuật hoán dụ, trang phục quen thuộc của người dân Việt Bắc. Rất có thể đó là hình ảnh thực, nhưng cũng có thể là hình ảnh trong tưởng tượng của người cán bộ kháng chiến, để rồi mỗi lần hình ảnh áo chàm hiện lên trong tâm trí là biết bao nỗi nhớ thân thương lại ùa về.

    b. Mười hai câu tiếp theo: Gợi lại những kỉ niệm chiến khu gian khổ nhưng thắm đượm nghĩa tình.

    + Nhớ về thiên nhiên, cuộc sống, tình người Việt Bắc.

    + Nhớ cảnh thiên nhiên khắc nghiệt: Mưa nguồn, suối lũ, những mây cùng mù.

    + Nhớ nơi chiến khu đầy khó khăn, gian khổ, nhưng sẵn lòng căm thù giặc sâu sắc: Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai.

    + Nhớ những sản vật miền rừng: “trám bùi”, “măng mai”.

    + Nhớ những mái nhà lá đơn sơ nhưng ấm áp tình người, tình cách mạng.

    + Nhớ những năm đầu kháng Nhật với những địa danh lịch sử: “cây đa Tân Trào”, “mái đình Hồng Thái”.

    – Nỗi nhớ ấy được thể hiện bằng những dòng thơ lục bát đậm chất dân gian, những cặp lục bát có sự phối hợp thanh điệu hài hòa. Sáu dòng lục bát tạo thành một điệp khúc âm thanh: nó đan dày thành những cấu trúc thanh bằng – trắc – bằng, tạo nên khúc nhạc điệu ngân nga trầm bổng, nhẹ nhàng, khoan thai.

    – Hầu hết các câu thơ ngắt theo nhịp 4/4 làm nên những tiểu đối cân xứng, hô ứng về cấu trúc, nhạc điệu: Mưa nguồn suối lủ/ những mây cùng mù; Miếng cơm chấm muối/ mối thù nặng vai… Có những cặp tiểu đối khắc ghi những sự kiện, có những cặp tiểu đối vế đầu nói về hiện thực gian khổ, vế còn lại khắc sâu vẻ đẹp tâm hồn của con người Việt Bắc son sắt thủy chung. Người đọc như gặp lại hồn xưa dân tộc nương náu trong những trang thơ lục bát của Tố Hữu.

    – Câu thơ: Mình đi mình lại nhớ mình: “nhớ mình” – tức là nhớ người ở lại nhưng cũng là nhắc nhở chính mình hãy nhớ về quá khứ gian khổ nhưng thấm đượm nghĩa tình.

    c. Từ câu 25 – 42: Nỗi nhớ những kỉ niệm sinh hoạt nghèo khổ mà ấm áp nghĩa tình.

    – Nỗi nhớ được so sánh với nhớ người yêu: Mãnh liệt và da diết.

    – Từ nỗi nhớ “như nhớ người yêu”, Việt Bắc hiện lên với những nét đẹp rẩt riêng: “trăng đầu núi”, “nắng lưng nương” cùng những tên gọi, địa danh cụ thể.

    – Điệp từ “nhớ từng” lặp đi lặp lại làm cho nỗi nhớ thêm ngân vang da diết. Trong kí ức của người đi còn in dấu khoảnh khắc thời gian (trăng đầu núi, nắng chiều lưng nương), từng khoảng không gian của cây, sông, suối (Nhớ từng rừng nứa… vơi đầy). Vẻ đẹp thiên nhiên nên thơ sẽ còn đọng mãi trong nỗi nhớ nhung của người ra đi.

    – Tuy nhiên, da diết và đậm sâu hơn cả vẫn là nỗi nhớ về con người, về ân tình Việt Bắc: mộc mạc, giản dị mà ân nghĩa thủy chung.

    + Nhớ Việt Bắc là nhớ đến tấm lòng biết sẻ chia: Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

    + Nhớ cả những người mẹ Việt Bắc với dáng hình địu con lên nương hái bắp: Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.

    + Nhưng cũng là nhớ đến đổng chí, đổng đội với bao gian nan vất vả: Nhớ sao… núi đèo.

    – Việt Bắc vì thế tuy gian khổ, vất vả nhưng trong kí ức vẫn thanh bình, đẹp đẽ: Nhớ sao tiếng mõ… suối xa.

    Đoạn thơ gợi ra thật rõ nét và thấm thìa khung cảnh bản làng, tình người, tình quân dân của chiến khu những năm kháng chiến chống Pháp với tất cả những đường nét, âm thanh, thấm nghĩa đượm tình. Những câu thơ nói về mẹ, về trẻ thơ, về người thương yêu cất lên nghe thật trìu mến.

    d. Từ câu 43 – 52: Bức tranh tứ bình vê’ thiên nhiên, con người Việt Bắc.

    – Hai dòng thơ đầu là lời khẳng định nỗi nhớ thương da diết và tình cảm thủy chung của người ra đi dành cho quê hương Việt Bắc. Nỗi nhớ đã làm sống dậy trong tâm tưởng hình ảnh thiên nhiên, con người nơi chiến khu cách mạng.

    – Thiên nhiên Việt Bắc đẹp trong sự đan cài với Yẻ đẹp của con người: “hoa” cùng “người”. Đoạn thơ có bốn cặp câu lục bát: câu 6 miêu tả thiên nhiên; câu 8 miêu tả con người.

    Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên trong vẻ đẹp bốn mùa:

    + Mùa đông: Trên nền xanh bạt ngàn cây lá bỗng hiện lên sắc đỏ tươi của hoa chuối. Màu đỏ ấy dường như làm ấm cả không gian.

    + Mùa xuân: Với sắc trắng của hoa mơ – loài hoa đặc trưng của Việt Bắc, một màu trắng miên man, tinh khiết, đẹp đến nao lòng.

    + Mùa hè: Với tiếng ve kêu vang ngân và sắc vàng của rùng phách.

    + Mùa thu: Với ánh trăng chan hòa chiếu rọi khắp nơi, đem lại không khí bình yên.

    – Hình ảnh con người đã trở thành tầm điểm của bức tranh tứ bình, tạo nên sức sống của thiên nhiên cảnh vật. Những con người Việt Bắc hiện về trong nỗi nhớ thật thân quen, bình dị, thầm lặng trong những công việc thường nhật nên mùa đông đã trở nên ấm áp hơn với “nắng ánh dao gài thắt lưng”.

    + Bức tranh mùa xuân hòa cùng dáng vẻ cần mẫn, chút chăm của “người đan nón”.

    + Bức tranh mùa hè quá đỗi dịu dàng với hình ảnh “cô em gái hái măng một mình”.

    + Mùa thu là “tiếng hát ân tình thủy chung” của con người cẫt lên giữa đêm trăng.

    – Đoạn thơ mang nét đẹp cổ điển mà hiện đại:

    + Vẻ đẹp cổ điển: Bức tranh tứ bình hiện lên qua những nét gợi tả.

    + Vẻ đẹp hiện đại: Hình ảnh con người đã trở thành tâm điểm, tạo nên yẻ đẹp, sức sống của bức tranh.

    e, Từ câu 53 – 83: Khung cảnh Việt Bắc kháng chiến, lập nhiều chiến công, vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến.

    *Từ câu 53 – 74:

    Trong hoài niệm bao trùm có ba mảng thống nhất hòa nhập, đó là: nỗi nhớ thiên nhiên – nỗi nhớ cuộc sống con người ở Việt Bắc – nỗi nhớ về cuộc chiến đấu anh hùng chống thực dân Pháp xâm lược. Theo dòng hổi tưởng, người đọc được sống lại những giây phút của cuộc kháng chiến với không gian rộng lớn, những hoạt động sục sôi khí thế được vẽ bằng bút pháp của những khúc tráng ca.

    Cảnh Việt Bắc đánh giặc được miêu tả bằng những bức tranh rộng lớn, kì vĩ:

    – Rừng núi mênh mông, hùng vĩ trở thành bạn của ta, chở che cho bộ đội ta, cùng quân và dân ta đánh giặc.

    – Chiến khu là căn cứ vững chắc, đầy nguy hiểm với quân thù.

    – Nghệ thuật so sánh, nhân hoá: “núi giăng thành luỹ sắt”, “rừng che”, “rùng vây”,…

    – Những cái tên, những địa danh ở chiến khu Việt Bắc: “Phủ Thông”, “đèo Giàng”, “sông Lồ”, “phố Ràng”, “Cao – Lạng”… vang lên đầy mến yêu, tự hào, cũng trở thành nỗi nhớ của người cán bộ kháng chiến về xuôi.

    – Không khí chiến đấu hào hùng, khí thế hừng hực trào sôi:

    + Sức mạnh của quân ta với các lực lượng bộ đội, dân công,… sự hợp lực của nhiều thành phần tạo thành khối đoàn kết vững chắc.

    + Các từ: rầm rập, điệp diệp, trùng trùng,… thể hiện khí thế dồn dập.

    + Thành ngữ “Chân cứng đá mềm” đã được nâng lên thành một bước cao hơn “Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay”.

    – Chiến công tưng bừng vang dội khắp nơi: Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên, đèo De, núi Hồng… Niềm vui chiến thắng chan hoà bốn phương: Vui về, vui từ, vui lên.

    – Đoạn thơ ngập tràn ánh sáng: ánh sao, ánh đuốc, ánh đèn pha… như ánh sáng của niềm vui tràn ngập và niềm tin vào ngày mai tươi sáng.

    – Nhịp thơ dồn dập, gấp gáp, âm hưởng hào hùng, náo nức tạo thành khúc ca chiến thắng.

    Đoạn thơ phác họa hình ảnh giản dị mà trang trọng của một cuộc họp Chính phủ trong hang núi mà vẫn rực rỡ dưới ánh cờ đỏ sao vàng trong nắng trưa và kết thúc bằng sự thâu tóm hình ảnh Việt Bắc quê hương cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin tưởng và hi vọng của con người Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt là những nơi còn “u ám quân thù”.

    3. Đặc sắc nghệ thuật

    Việt Bắc là một trong những đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam. Tiếng thơ trữ tình – chính trị của Tố Hữu đậm đà tính dân tộc.

    – Những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc vẽ thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái hiện trong tình cảm tha thiết, gắn bó sâu sắc của tác giả.

    – Tình nghĩa của người cán bộ và đổng bào Việt Bắc với cách mạng, kháng chiến, với Bác Hổ là những tình cảm cách mạng sâu sắc của thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập và tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc.

    + Thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng.

    + Lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng một cách hợp lý, tài tình.

    + Những lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ) được vận dụng khéo léo, tinh tế.

    + Giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, cách xưng hô “mình – ta” quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc.

    4. Chủ đề

    Việt Bắc là một câu chuyện lớn, một vấn đề tư tưởng được diễn đạt bằng một cảm nhận mang tính chất riêng tư. Bài thơ gợi về những ân nghĩa, nhắc nhở sự thủy chung của con người đối với con người và đối với quá khứ cách mạng nói chung. 

    HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    Câu 1 (2 điểm). Nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ Việt Bấc.

    Xem mục I.

    Câu 2. (2 điểm). Sự sáng tạo của Tố Hữu trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô “mình – ta” trong bài thơ.

    Xem mục II.2. a

    Câu 3. (2 điểm). Nhận xét về hình thức nghệ thuật đậm đà tính dần tộc trong bài thơ Việt Bắc.

    Xem mục II. 3 Cáu 4. (5 điểm)

    Đề ra theo đoạn, học sinh luyện tập theo mục II.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu : Việt Bắc ( Tiếp Theo )
  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Soạn Bài Việt Bắc Phần Tác Giả Của Tố Hữu
  • Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Tố Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Hiểu Và Phân Tích Tác Phẩm Việt Bắc
  • Tóm Tắt Việt Bắc Ngắn Gọn Nhất
  • Những Vấn Đề Cơ Bản Trong Bài Thơ “việt Bắc” ( Tố Hữu)
  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc Ngắn Gọn Và Đầy Đủ Nhất
  • Mở Bài Kết Bài Cho Bài Thơ Việt Bắc
  • Đề đọc hiểu về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

    Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

    “- Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn? Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

    ( việt bắc – Tố Hữu)

    Câu 1 (0.5điểm):

    Đoạn thơ trên tập trung làm nổi bật điều gi?

    Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    1. Khung cảnh chia li
    2. Tâm trạng nhớ thương của người ở lại
    3. Thiên nhiên Việt Bắc

    Câu 2 (0.5điểm):

    “Mười lăm năm” là khoảng thời gian nào?

    1. Từ Cách mạng tháng Tám đén khi người kháng chiến trở về thủ đô
    2. Từ thời kỳ kháng Nhật( khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940) đến khi người kháng chiến trở về thủ đô
    3. Từ khi giặc Pháp đến xâm lược đến khi người kháng chiến trở về thủ đô.

    Câu 3 (0.5điểm):

    Trong đoạn thơ ai là người lên tiếng trước?

      Đáp án đúng A / Khung cảnh chia li

    Câu 2: (0.5 điểm)

    – Đáp án đúng B / Từ thời kỳ kháng Nhật( khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940) đến khi người kháng chiến trở về thủ đô

    Câu 3: (0.5 điểm):

    – Đáp án đúng B / Người ở lại

    Mức không đạt(0 điểm):

    Câu 4: (0.5 điểm):

      HS nêu được : Hình ảnh diễn tả nỗi nhớ nhung, lưu luyến, bịn rịn giữa kẻ ở và người đi

    Mức chưa tối đa: (0.25 điểm):

      HS nêu được: + Bộc lộ những tình cảm , cảm xúc dạt dào

    + Bộc lộ những xúc động khó nói bằng lời

    Câu 5(1.0điểm):

    – HS nêu được 2 biện pháp: + Điêp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ tràn đầy, tha thiết

    + Hoán dụ “áo chàm”: Chỉ người Việt Bắc, diễn tả tình cảm quân dân gắn bó, tha thiết

    Mức chưa tối đa: (0.5 điểm):

    • HS nêu được một trong hai biện pháp tu từ và giá trị của biện pháp đó
    • Hoặc HS chỉ nêu được các biện pháp tu từ

    Câu 6: (1.0 điểm):

    – HS nêu được : + Hình thức đối đáp của ca dao dân ca với cặp đaị từ” mình – ta”

    + Tố Hữu vận dụng sáng tạo vào việc thể hiện những tính cảm cách mạng lớn lao

    Mức chưa tối đa: (0.5 điểm):

    • HS nêu được hình thức đối đáp của ca dao dân ca
    • Hoặc HS chỉ ra hình thức này được sử dụng để thể hiện tình cảm Cách mạng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu : Việt Bắc ( Tiếp Theo )
  • Các Đề Đọc Hiểu Việt Bắc
  • Soạn Bài Việt Bắc Phần Tác Giả Của Tố Hữu
  • Việt Bắc Của Tố Hữu
  • Soạn Văn 10 Ngắn Nhất Bài: Nội Dung Và Hình Thức Của Văn Bản Văn Học
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Việt Bắc – Tố Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 12: Việt Bắc
  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc Đọc Là Nhớ Thi Là Đỗ Mới Nhất 2022
  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc Chưa Bao Giờ Đơn Giản Như Vậy. 2022
  • Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 1+ 2 Đọc Văn: Vào Phủ Chúa Trịnh ( Trích “Thượng Kinh Kí Sự”
  • Mở File Word Bị Khóa Chỉnh Sửa, Copy Trong Office 2013
  • I. Những nét chính về tác giả – tác phẩm

    1. Tác giả

    * Lai lịch:

    – Tố Hữu (1920 – 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành; quê Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế.

    – Sinh trưởng trong gia đình nho học ở Huế và yêu văn chương.

    – Tố Hữu sớm giác ngộ cách mạng và hăng say hoạt động cách mạng và hăng say hoạt động, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù thực dân.

    – Tố Hữu đảm nhiệm nhiều cương vị trọng yếu trên mặt trận văn hóa và trong bộ máy lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

    * Sự nghiệp sáng tác:

    – Đường thơ, đường cách mạng: con đường thơ và con đường hoạt động cách mạng của ông có sự thống nhất, không thể tách rời. Mỗi tập thơ của ông là một chặng đường cách mạng.

    + Tập thơ “Từ ấy” (1937-1946)

    + Tập thơ “Việt Bắc” (1946-1954)

    + Tập thơ “Gió lộng” (1955-1961)

    + Tập thơ “Ra trận” và tập “Máu và hoa”

    + Các tập thơ còn lại: thể hiện những chiêm nghiệm về cuộc đời của tác giả

    * Phong cách thơ Tố Hữu:

    + Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình – chính trị.

    + Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn.

    + Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình, ngọt ngào.

    + Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà.

    ⇒ Thơ Tố Hữu là tấm gương phản chiếu tâm hồn một người chiến sĩ cách mạng suốt đời phấn đấu, hi sinh vì tương lai tươi đẹp của dân tộc, cuộc sống hạnh phúc của con người.

    2. Tác phẩm

    a. Vị trí – giá trị:

    – Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu, cũng là một trong những thành công xuất sắc của thơ ca Việt Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

    – Việt Bắc được coi là khúc hùng ca và bản tình ca về cách mạng, cuộc kháng chiến và con người kháng chiến. Bài thơ đã thể hiện những nét tiêu biểu nhất trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu.

    b. Hoàn cảnh sáng tác

    – Chiến thắng Điện Biên Phủ thắng lợi. Tháng 7-1954, Hiệp định Giơ – ne – vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, một trang sử mới mở ra cho toàn dân tộc

    – Tháng 10-1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi trở về miền xuôi, Trung ương Đảng, Chính phủ rời chiến khu Việt bắc về lại thủ đô. Nhân sự kiện có tính lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ.

    II. Trọng tâm kiến thức

    1. Lời người Việt Bắc và nỗi lòng của cán bộ lúc chia tay (8 câu thơ đầu)

    – Bốn câu thơ đầu là lời của người Việt Bắc:

    Mình về mình có nhớ ta

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

    Mình về mình có nhớ không

    Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?

    + Nhà thơ để cho người ở lại lên tiếng trước. Hai đại từ mình – ta được lặp lại nhiều lần. Đó là cách xưng hô thân mật lấy trong ca dao, dân ca, là lời xưng hô trong tình yêu lứa đôi, nghe tiếng thiết tha bâng khuâng được Tố Hữu sử dụng rất linh hoạt.

    + Trong bài thơ Việt Bắc, mình là người cán bộ về xuôi, ta là người Việt Bắc. Cụm từ Mười lăm năm ấy gợi nhắc câu Kiều của Nguyễn Du: Mười lăm ấy biết bao nhiêu tình. Đó là sự kế thừa thơ ca truyền thống của dân tộc của Tố Hữu.

    + Câu hỏi tu từ có nhớ ta, có nhớ không nghe da diết, nhắn nhủ, tâm tình. Lời hỏi cũng là lời nhắc nhở, nhắn gửi người về đừng quên Việt Bắc.

    – Bốn câu thơ tiếp là lời cán bộ về xuôi:

    Tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi.

    Áo chàm từ buổi phân ly

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay.

    + Ai là đại từ phiếm chỉ, chỉ người Việt Bắc.

    + Từ láy “tha thiết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn” đặc tả chính xác tâm trạng vấn vương, lưu luyến, bịn rịn.

    + Hình ảnh áo chàm là nghệ thuật hoán dụ để chỉ đồng bào Việt Bắc, vì người Việt Bắc thường mặc loại áo này. Màu chàm là màu đơn sơ, chân thực, không lòe loẹt mà giản dị, chân thành, chung thủy.

    + Câu hỏi tu từ và dấu chấm lửng ở cuối câu: “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” thể hiện tình cảm tha thiết, mặn nồng, ấm áp. Ngôn ngữ bàn tay nóng ấm gắn với trái tim đầy xúc động.

    + Cum từ “Biết nói gì” không phải là cả người ra đi và người ở lại không biết nói gì, không có gì để nói mà là không biết nói sao cho thỏa nỗi nhớ thương.

    2. Lời nhắn nhủ thiết tha của Việt Bắc – người ở lại (12 câu tiếp)

    – Hình thức lặp “mình đi, mình về, có nhớ” đặt trong hàng loạt câu hỏi khiến đoạn thơ tràn đầy cảm xúc, gợi nhớ về những kỉ niệm đẹp đầy tự hào và yêu thương. Hai tiếng “mình đi, mình về” được luân phiên, chuyển đổi, gợi hình ảnh người cán bộ kháng chiến về xuôi mỗi lúc một xa dần:

    Mình đi có nhớ những ngày

    Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

    + Hình ảnh ẩn dụ “mưa nguồn, suối lũ, mây mù” nhằm miêu tả thời tiết Việt Bắc thật khắc nghiệt, mưa lớn gây lũ sông suối, trời u ám đầy mây đen. Thời tiết càng khắc nghiệt, họ càng gắn bó đoàn kết để vượt qua và chiến đấu.

    + Ngoài ra, những hình ảnh đó nhằm hàm chỉ những gian khó, thử thách mà cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc phải trải qua trong những năm tháng dài máu lửa.

    – Nhớ về cuộc sống khó khăn, vất vả, mối thù đè nặng lên đôi vai:

    Mình về có nhớ chiến khu,

    Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai

    + Chi tiết có thực miếng cơm chấm muối nhằm phản ánh cuộc sống thiếu thốn gian khổ về vật chất nhưng họ vẫn lạc quan chiến đấu bởi người cán bộ cách mạng và nhân dân Việt Bắc có chung một lý tưởng, một mối thù.

    + Cách nói “mối thù nặng vai” nhằm cụ thể hóa nhiệm vụ chống thực dân Pháp đang đè nặng lên đôi vai dân tộc ta.

    – Tình cảm của người ở lại được dấu kín trong lòng:

    Mình về rừng núi nhớ ai

    Trám bùi để rụng, măng mai để già

    + Nghệ thuật hoán dụ “rừng núi nhớ ai”, người ở lại đã lấy nỗi buồn của rừng núi để thổ lộ thầm kín nỗi buồn của mình trong niềm vui chung đất nước được giải phóng. Việt Bắc có nỗi buồn riêng, có nỗi nhớ riêng đó là phải chia tay với cán bộ cách mạng.

    + Họ buồn đến nỗi không còn tha thiết trong lao động: “Trám bùi để rụng, măng mai để già”. Trám măng là những nguồn lương thực vô tận của núi rừng Việt Bắc để nuôi cán bộ đánh giặc, nay cán bộ về xuôi thì họ đi hái trám, bẻ măng để làm gì? Câu thơ gợi nỗi buồn thiếu vắng trong lòng người ở lại.

    – Nỗi nhớ về bản làng nghèo khó mà thủy chung:

    Mình đi có nhớ những nhà,

    Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

    + Cụm từ “những nhà” được nhà thơ nhắc đến ý chỉ đồng bào Việt Bắc.

    + Câu tiểu đối “hắt hiu lau xám đậm đà lòng son” chứa đựng sự tương phản giữa cuộc sống nghèo khó về vật chất và phẩm chất cao đẹp của người Việt Bắc, đó là nhiệt tình và thủy chung cách mạng.

    – Nhớ Việt Bắc là nhớ cội nguồn quê hương cách mạng cùng với những địa danh lịch sử:

    Mình đi có nhớ núi non

    Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh

    Mình đi, mình có nhớ mình

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa

    + Điệp từ nhớ và hình ảnh liệt kê Tân Trào, Hồng Thái mái đình cây đa nhằm nhắc nhở người cán bộ cách mạng luôn nhớ đến cội nguồn, nhớ địa điểm thành lập quân đội đầu tiên của nước ta đó là cây đa Tân Trào.

    + Nhớ đình Hồng Thái là nơi hội họp quốc dân lần đầu khai sinh ra chính phủ lâm thời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

    3. Nỗi nhớ nhung da diết của người cán bộ về xuôi (10 câu tiếp)

    – Khúc tâm tình của người cán bộ kháng chiến

    Ta với mình, mình với ta

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

    + Cách ngắt nhịp 3/3, ta với mình/ mình với ta làm cho người đọc cảm nhận, ta với mình tuy hai mà một, gắn bó không thể tách rời.

    + Cấu trúc so sánh, tăng tiến kết hợp với từ láy mặn mà, đinh ninh nằm nhấn mạnh tình cảm của người ra đi đối với Việt Bắc bao la và sâu nặng.

    + Câu thơ gợi nhớ câu Kiều của Nguyễn Du

    Vầng trăng vằng vặc giữa trời

    Đinh ninh hai miệng một lời song song

    – Nỗi nhớ được cụ thể hóa:

    Mình đi mình lại nhớ mình

    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

    + Từ mình được dùng đa nghĩa thể hiện sự sáng tạo, độc đáo trong việc bộc lộ tình cảm.

    + Từ “lại” như nhân tình cảm lên gấp đôi.

    + Nghệ thuật so sánh “Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” thể hiện cụ thể và sinh động hơn nghĩa tình sâu đậm của người cán bộ kháng chiến với quê hương Việt Bắc. Câu thơ gợi liên tưởng đến câu ca dao:

    Qua đình ngả nón trông đình

    Đình bao nhiêu ngói em thương mình bấy nhiêu

    – Nỗi nhớ lại được khắc họa cụ thể:

    Nhớ gì như nhớ người yêu

    Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

    Nhớ từng bản khói cùng sương

    Sớm khuya bếp lửa người thương đi về

    Nhớ từng rừng nứa bờ tre

    Ngòi Thia sông Đáy suối Lê vơi đầy.

    + Qua hồi tưởng của cán bộ cách mạng, cảnh và người Việt Bắc hiện lên thật đẹp, vừa hiện thực lại vừa thơ mộng, tạo nét đẹp riêng biệt không nơi nào có được.

    + Nỗi nhớ Việt Bắc được tác giả so sánh “nhớ gì như nhớ người yêu”, mà nhớ người yêu thì thật da diết, cồn cào. Ca sao có viết:

    Nhớ ai bồi hổi bồi hồi

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than.

    + Đó là nỗi nhớ bao trùm lên mọi không gian và thời gian, nhớ ánh nắng ban chiều, ánh trăng ban tối, đến bản làng mờ sương sớm, bếp lửa hồng trong đêm khuya lạnh.

    + Núi rừng, sông suối mang những tên quen thuộc được thể hiện bằng hàng loạt hình ảnh liệt kê ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê.

    4. Nhớ tình người Việt Bắc đậm đà, sâu lắng (12 câu tiếp)

    – Nhớ sự gần gũi, quấn quí chia ngọt sẻ bùi của tình quân dân:

    Ta đi ta nhớ những ngày

    Mình đây ta đó đắng cay ngọt bùi

    + Nhớ Việt Bắc không phải là nỗi nhớ chung chung mà rất cụ thể. Nhớ những ngày gần gũi “mình đây ta đó”, cùng chia sẻ đắng cay ngọt bùi.

    + Có những ngày lũ rừng về xối xả, mưa rừng ào ào, gạo muối bị cuốn trôi, địch phục kích sau lưng… Những đêm bị sốt rét rừng hành hạ được các mẹ, các chị chăm sóc… thấm thía vô cùng tình quân dân keo sơn gắn bó.

    + Hàng loạt tính từ “đắng cay” “ngọt bùi” thể hiện những khó khăn tột cùng của cuộc sống trong kháng chiến. Nhờ tinh thần đồng cam cộng khổ giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng, họ đã thương yêu đùm bọc lẫn nhau, chi từng củ khoai, sẻ từng bát cơm và cùng đắp chung chăn để vượt qua mùa đông lạnh lẽo.

    Thương nhau chia củ sắn lùi,

    Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng

    – Nhớ hình ảnh người lao động khó nhọc:

    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng,

    Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô.

    + Hình ảnh người mẹ giúp người đọc cảm nhận hình ảnh người dân Việt Bắc lao động tạo ra của cải vật chất thật khó nhọc, thế mà họ vẫn sẵn sàng nuôi dưỡng cách mạng.

    + Nhớ Việt Bắc là nhớ những hình ảnh mộc mạc, thân thương, chân thực:

    Nhớ sao lớp học i tờ

    Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa

    + Điệp từ “nhớ sao” được lặp lại nhiều lần nhằm nhấn mạnh nỗi nhớ của tác giả càng lúc càng day dứt.

    + Nhớ cảnh học tập của lớp bình dân học vụ, nhớ niềm vui trong đêm liên hoan, nhớ tinh thần lạc quan yêu đời của nhân dân Việt Bắc, đặc biệt là nhớ âm thanh đặc trưng của núi rừng với tiếng mõ, tiếng chày giã gạo.

    + Nếu thờ ơ nhà thơ sẽ chẳng thấy có gì nên thơ nhưng sự lưu luyến, gắn bó yêu thương thực sự khiến tác giả thấy có ngọn lửa lung linh, bền bỉ của sự sống.

    5. Vẻ đẹp của bức tranh tứ bình (10 câu tiếp)

    – Cảm hứng chủ đạo của đoạn thơ là nỗi nhớ về Việt Bắc:

    Ta về mình có nhớ ta

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người.

    + Tác giả sử dụng điệp ngữ “ta về” hai lần. Cùng một thời điểm chia tay nhưng ở trên là hỏi người, ở dưới là giãi bày lòng mình.

    + Cặp từ “ta”, “mình” được xưng hô như cách đối đáp giao duyên của trai gái trong ca dao, dân ca khiến cho cuộc chia tay của người cán bộ và Việt Bắc thành cuộc “giã bạn” của lứa đôi.

    + Ta là người cán bộ kháng chiến, mình là nhân dân Việt Bắc đang lưu luyến chia ta. Câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta” thể hiện sự lưu luyến của người đi, kẻ ở.

    + Nhớ hoa là nhớ thiên nhiên Việt Bắc thơ mộng làm đắm say lòng người. Nhớ người là nhớ người dân Việt Bắc từng cưu mang, gắn bó, đồng cam cộng khổ với cán bộ cách mạng.

    – Bức tranh mùa đông:

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

    + Hoa chuối rừng đỏ như son nổi bật trên nền xanh bạt ngàn của lá. Sự tương phản của hai mùa xanh, đỏ làm cho núi rừng bớt hoang vu, lạnh lẽo mà trở nên ấm áp hơn. Hoa chuối là bông hoa có thật chứ không mông mênh chóng tàn như những loài hoa khác.

    + Vượt qua mùa đông lạnh giá, con người lên nương, lên rừng. Nghệ thuật đảo ngữ nắng ánh (động từ) là các luồng sáng của nắng chói lên bởi sự phản quang của lưỡi dao rừng thắt trên lưng người dân khi họ đi khai thác lâm, thổ sản. Đó là cái đẹp rất đời thường, rất giản dị của người lao động.

    – Bức tranh mùa xuân:

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

    Nhớ người đang nón chuốt từng sợi giang

    + Hoa nở tinh khôi, thanh khiết phủ trắng cả cánh rừng, gợi cảm giác choáng ngợp trước cảnh thơ mộng. Âm điệu mạnh mẽ của hai từ “trắng rừng” bộc lộ cảm giác ngỡ ngàng hạnh phúc của con người.

    + Hình ảnh người lao động chuốt từng sợi giang rất nhịp nhàng, khoan thai. Động từ chuốt là làm cho thật nhẵn sợi giang để đan nón. Hai từ chuốt và từng gợi tả đức tính cẩn thận, tỉ mỉ, chịu thương, chịu khó của người đan nón. Họ làm ra sản phẩm để phục vụ cho lao động và còn để tặng cho cán bộ kháng chiến.

    – Bức tranh mùa hạ:

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

    + Câu thơ sáu chữ xôn xao cả màu sắc lẫn âm thanh. Khi tiếng ve râm ran, cả một rừng phách như hối hả. nhanh chóng thay màu, cùng đồng loạt đổ vàng.

    + Hai động từ “kêu” và “đổ” thể hiện không khí rạo rực rất đặc trưng của mùa hạ. “Đổ vàng” là ngả vàng hàng loạt hoặc là cây trút lá vàng.

    + Hình ảnh người lao động: cô gái đi hái măng, khơi dậy trong ta những rung động ngọt ngào, sâu lắng. Đọc câu thơ, ta nghe như có tiếng nhạc ngân nga bởi nghệ sĩ gieo vần lưng (gái, hái) và điệp phụ âm đầu m (măng, một, mình). Cô hái say sưa lao động trong một không gian vui tươi, trong trẻo. Sự hiện diện của cô gái càng tăng thêm nét duyên dáng, trẻ trung cho bức tranh mùa hạ.

    – Bức tranh mùa thu:

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

    + Ánh trăng vàng êm dịu trải dài lên cảnh vật, gợi không khí thanh bình, yên ả.

    + Từ hòa bình vừa khẳng định cuộc sống êm đềm, vừa nói đến sự thanh tĩnh của rừng khuya. Đêm trăng thu huyền ảo nơi núi rừng Việt Bắc thấp thoáng ước mơ thầm kín về cuộc sống thanh bình, êm ả.

    + Trên cái nền gợi cảm ấy, văng vẳng tiếng hát ân tình thủy chung của ai đó nghe thật bâng khuâng, xao xuyến. Tiếng hát ấy chính là tấm lòng của người Việt Bắc, dù nghèo khó nhưng suốt đời thủy chung với cách mạng.

    6. Nhỡ những kỉ niệm và nỗi nhớ về kháng chiến (10 câu tiếp)

    – Đứng trước gia khổ khó khăn, ý chí quật cường và tinh thần đoàn kết của dân tộc ta được nhân lên gấp bội. Theo dòng hồi tưởng của nhà thơ, ta như được chứng kiến sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân trong cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp với bao chiến thắng lẫy lừng:

    Nhớ khi giặc đến giặc lùng

    Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

    Núi giăng thành lũy sắt dày

    Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

    + Nhớ những lần giặc càn quét săn lùng, chúng như bầy dã thú khát máu, tìm mọi cách khủng bố, đàn áp nhân dân ta, để lại bao oán hận.

    + Nghệ thuật nhân hóa đã làm sinh động hơn hình ảnh thiên nhiên Việt Bắc. Thiên nhiên cũng như con người Việt Bắc kiên cường, anh dũng. Đoạn thơ trên, tác giả đã làm rõ sứ mệnh của rừng núi che bộ đội, vây quân thù.

    + Các điệp từ “rừng”, “núi” và nghệ thuật đối lập che bộ đội, vây quân thù càng làm nổi bật vai trò của những cánh rừng trùng điệp, nhấn mạnh một trong ba yếu tố vô cùng quan trọng trong cuộc chiến: thiên thời, địa lợi, nhân hòa.

    – Việt Bắc quả là một vùng địa linh quý báu, tạo điều kiện thuận lợi cho ta đánh giặc:

    Mênh mông bốn cõi sương mù

    Đất trời ta cả chiến khu một lòng.

    + Cả núi rừng Việt Bắc cùng nhịp đập trái tim quyết hoàn thành sứ mệnh bảo vệ quê hương đất nước yêu mến.

    + Cụm từ “cả chiến khu một lòng” cho thấy sự đồng tâm hiệp lực của quân dân ta, sự nhất trí cao độ của ý Đảng, lòng dân. Đó cũng là bí quyết thành công của ta trong kháng chiến.

    – Chính sức mạnh đoàn kết và ý chí quyết tâm đã giúp quân dân Việt Bắc lập nên những chiến công vang dội:

    Ai về ai có nhớ không?

    Ta về ta nhớ phủ Thông đèo Giàng

    Nhớ sông Lô, nhớ phố Ràng

    Nhớ từ Cao Lạng, nhớ sang Nhị Hà

    + Hàng loạt những địa danh gắn với những thắng lợi vinh quang: phủ Thông, đèo Giàng, sông Lô, phố Ràng,… đó là chiến công nhập tràn không gian, trải dài theo nỗi nhớ.

    + Câu hỏi tu từ “Ai về ai có nhớ không?” nghe đậm đà âm hưởng ca dao. Hỏi mà như khẳng định: người ra đi làm sao quên được những trận đánh, những chiến công. Bởi trong vinh quang còn bao đau thương phải trả giá bằng máu sương của đồng đội. Nhớ về chiến công cũng là nhớ về những người đã ngã xuống để mà tự hào, để mà nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình trong hiện tại.

    7. Tái hiện chiến thắng Điện Biên Phủ hào hùng (12 câu cuối)

    – Cả núi rừng đất trời vang dậy trong bước hành quân. Cả nước ta đang chuyển sang giai đoạn mới của cuộc kháng chiến. Hàng vạn người ra trận, từng đoàn bộ đội, dân công đi như sóng cuộn, rung chuyển cả núi rừng, đêm đốt đuốc sáng rừng:

    Những đường Việt Bắc của ta

    Đêm đêm rầm rập như là đất rung

    Quân đi điệp điệp trùng trùng

    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

    + Một loạt điệp từ, điệp âm, điệp vần và từ láy: đêm đêm, rầm rập, điệp điệp, trùng trùng miêu tả cảnh hành quân thật sinh động, khiến người đọc cảm thấy hối hả, luân chuyển không ngừng của những đoàn quân ra trận dài, dài mãi dường như không dứt. Âm hưởng thơ thật hào hùng.

    + Hình ảnh thơ chân thực, đậm chất lãng mạn: Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan.

    – Cùng với đoàn chiến binh còn có đoàn dân công xung phong ra tuyến lửa:

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn

    Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay

    Nghìn đêm thăm thẳm dương dày

    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

    + Nghệ thuật đảo ngữ và điệp phụ âm đ (đỏ, đuốc) tạo âm hưởng mạnh mẽ, vững vàng.

    + Nhịp thơ 2/2 như nhịp bước hành quân sôi nổi, háo hức.

    + Lối nói quá khắc họa sức mạnh của con người được nhân lên gấp bội: Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay.

    + Nghệ thuật đối lập: Nghìn đêm thăm thẳm và đèn pha bật sáng và nghệ thuật so sánh như ngày mai lên thể hiện tinh thần lạc quan, khí thế hào hùng của quân dân Việt Bắc.

    – Sự hào hùng ấy biểu hiện rõ trên con đường Việt Bắc trải dài bất tận, có sự hòa hợp tiếp nối của mọi lực lượng từ bộ đội du kích dân công đến những đoàn xe vận tải. Con đường đi đến tiền tuyến là con đường đến chiến thắng:

    Tin vui chiến thắng trăm miền

    Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

    Vui từ Đồng Tháp, An Khê

    Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.

    + Trong bốn câu thơ, tác giả đã liệt kê một loạt 8 địa danh, kết hợp với điệp từ vui, nhịp thơ nhanh, mạnh, dồn dập bộc lộ một cách sâu sắc niềm sung sướng về chiến thắng của dân tộc. Chiến thắng ấy trải dài khắp mọi miền Tổ quốc tạo nên ngày hội chiến thắng của toàn thể dân tộc ta.

    III. Tổng kết

    1. Nội dung

    – Những bức tranh chân thực, đậm đà bản sắc dân tộc về thiên nhiên và con người Việt Bắc được tái hiện trong tình cảm tha thiết , gắn bó sâu sắc của tác giả.

    – Tình nghĩa của người cán bộ và đồng bào Việt Bắc với cách mạng, kháng chiến, với Bác Hồ là những tình cảm cách mạng sâu sắc của thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập và tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc.

    2. Nghệ thuật

    + Thể thơ: thể thơ lục bát truyền thống đã được vận dụng tài tình trong một bài thơ dài, vừa tạo âm hưởng thống nhất mà lại biến hóa đa dạng.

    + Kết cấu: lối kết cấu đối đáp trong ca dao dân ca được vận dụng một cách thích hợp, tài tình

    + Những lối nói giàu hình ảnh, các cách chuyển nghĩa truyền thống (so sánh, ẩn dụ, tượng trưng, ước lệ)

    + Giọng thơ ngọt ngào, tâm tình, cách xưng hô mình- ta quen thuộc trong ca dao khiến bài thơ như một bản tình ca về lòng thủy chung son sắt của người cách mạng với người dân Việt Bắc

    --- Bài cũ hơn ---

  • Dàn Ý Bài Thơ Việt Bắc Đầy Đủ Rễ Hiểu Mới Nhất 2022
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu
  • Chia Sẻ Kiến Thức, Kết Nối Đam Mê
  • Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Phần 2: Tác Phẩm
  • Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Phần 1: Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • Đọc Hiểu Văn Bản: “Uy

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật – Bdif.vn
  • Gia Lai: Ban Hành Quy Chế Quản Lý, Vận Hành, Khai Thác, Sử Dụng Hệ Thống Một Cửa Điện Tử Và Cổng Dịch Vụ Công Của Tỉnh
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 – Nâng Cao
  • Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm “Văn Học Nghệ Thuật”
  • Rèn Kỹ Năng Đọc – Hiểu Văn Bản Văn Học Ngoài Chương Trình Cho Học Sinh Chuyên Văn
  • Đọc – hiểu văn bản: “Uy-lit-xơ Trở về” (trích SỬ THI “Ô ĐI XÊ”)

    I. ĐỌC – HIỂU TIỂU DẪN.

    1. SỬ THI “Ô ĐI XÊ”.

    – Là 1 trong hai sử thi nổi tiếng của văn học Hi Lạp cổ đại (TK IX-VIIITCN)

    – Tương truyền là do Hô me rơ (nhà thơ mù) sáng tác dựa theo truyền thuyết về cuộc chiến thành Tơ roa (xảy ra trước đó 3 thế kỉ)

    – Tác phẩm gồm 12 110 câu thơ chia thành 24 khúc ca

    * Tóm tắt: sgk (nhân vật chính là người anh hùng Uy-lit-xơ và hành trình trở về quê hương I tác đoàn tụ cùng gia đình)

    * Chủ đề: Khát vọng chinh phục thiên nhiên để khai sáng, mở rộng giao lưu giữa các nền văn minh văn hoá; đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình.Qua đó thể hiện sức mạnh trí tuệ, ý chí của con người.

    * Vị trí đoạn trích: Đoạn trích thuộc khúc ca thứ XXIII của sử thi Ô-đi-xê.

    II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN.

    1. Nhân vật Uy lít xơ:

    – Tài năng: như một vị thần ( thắng trong cuộc thi bắn cung; tiêu diệt những tên cầu hôn đầu sỏ; trừng phạt lũ đầy tớ phản bội..) với trí tuệ mẫn tiệp ( bảo gia nhân bày tiệc, tìm cách đối phó với gia đình những kẻ cầu hôn vừa bị mình trừng trị..)

    – Ngoại hình: đẹp như một vị thần

    ⇒ Uy-lit-xơ là hiện thân cho vẻ đẹp của người anh hùng chiến trận thời cổ đại

    – Tính cách:

    + Nhẫn nại đợi vợ công nhận mình trong sự tin tưởng (thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy )

    + Trách Pê-nê-lốp vì có trái tim sắt đá hơn ai hết trong đám đàn bà yếu đuối … có gan ngồi cách xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời, trải qua bao nỗi gian truân, nay mới về xứ sở

    + Hờn dỗi: đòi nhũ mẫu kê giường để ngủ một mình

    + Giật mình vì tưởng tình cảm vợ chồng không còn nguyên vẹn (qua bí mật về chiếc giường của hai vợ chồng )

    + khi vợ nhận ra chồng: ôm lấy vợ và khóc dầm dề

    ⇒ Diễn biến tâm lí phức tạp nhằm khắc họa tính cách trần tục của Uy-lit-xơ. Uy-lit-xơ vừa là người anh hùng muôn vàn trí xảo vừa là con người trần thế nhất mực thủy chung với gia đình

    2. Nhân vật Pê-nê-lốp:

    * Khi chưa gặp Uy-lit-xơ:

    – Nàng thận trọng nói với nhũ mẫu về mối hồ nghi của mình: Chính chàng đã chết rồi; Chỉ có thần linh mới có thể tiêu diệt được bọn cầu hôn

    – Nhũ mẫu đưa bằng chứng vết sẹo: Pê-nê-lốp không tin;

    * Khi gặp Uy-lit-xơ:

    – Pê-nê-lốp rất đỗi phân vân: vừa bàng hoàng xúc động vừa thận trọng dò xét.

    – Ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu, lòng sửng sốt: đăm đăm âu yếm nhìn chồng; lúc lại không nhận ra chồng; gọi chồng là “ngài” xưng “tôi”.

    – Bị con trai và cả Uy-lit-xơ trách móc, Pê-nê-lốp vẫn thận trọng đưa ra phép thử đối với Uy-lit-xơ dựa vào bí mật chỉ có hai người biết

    + Cách thử bí mật chiếc giường trong đoạn này vừa cho thấy phẩm chất trí tuệ của Pê-nê-lốp ( trọng danh dự, thận trọng, tỉnh táo) vừa cho thấy sự thủy chung, kiên trinh của nàng

    * Khi Uy-lit-xơ nói ra bí mật chiếc giường:

    Pê-nê-lốp bủn rủn cả chân tay, chạy ngay lại, nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng, giãi bày tâm sự. Niềm vui sướng, hạnh phúc tột cùng.

    ⇒ Pê-nê-lốp là người phụ nữ khôn ngoan, tỉnh táo, thủy chung

    3. Nghệ thuật:

    – Ngôn ngữ kể chuyện trang trọng, chậm rãi, sử dụng nhiều định ngữ ( Pê-nê-lốp thận trọng, Uy-lit-xơ muôn vàn trí xảo,..)

    – Lời nói của nhân vật được chau chuốt (vừa có hình ảnh vừa có chiều sâu trí tuệ ); tâm lí nhân vật được khắc họa rõ nét

    – Sử dụng nghệ thuật so sánh mở rộng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Điện Tử Thành Phố Hưng Yên
  • Hưng Yên Triển Khai Bổ Sung Các Biện Pháp Cấp Bách Phòng, Chống Dịch
  • Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Trà Vinh
  • Sở Tư Pháp Tỉnh Tuyên Quang
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Ninh Bình
  • Đề Đọc Hiểu Về Bài Thơ Việt Bắc Của Nhà Thơ Tố Hữu

    --- Bài mới hơn ---

  • Dàn Ý Bài Thơ Việt Bắc Đầy Đủ Rễ Hiểu Mới Nhất 2022
  • Tìm Hiểu Chi Tiết Văn Bản: Việt Bắc – Tố Hữu
  • Giáo Án Ngữ Văn 12: Việt Bắc
  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc Đọc Là Nhớ Thi Là Đỗ Mới Nhất 2022
  • Sơ Đồ Tư Duy Việt Bắc Chưa Bao Giờ Đơn Giản Như Vậy. 2022
  • Đề đọc hiểu về bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu

    Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi:

    “- Mình về mình có nhớ ta

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

    Mình về mình có nhớ không

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

     

    Tiếng ai tha thiết bên cồn

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

    Áo chàm đưa buổi phân li

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…”

                                                              (việt bắc  – Tố Hữu)

    Câu 1 (0.5điểm):

    Đoạn thơ trên tập trung làm nổi bật điều gi?

    1. Khung cảnh chia li
    2. Tâm trạng nhớ thương của người ở lại
    3. Thiên nhiên Việt Bắc

    Câu 2 (0.5điểm):

    “Mười lăm năm” là khoảng thời gian nào?

    1. Từ Cách mạng tháng Tám đén khi người kháng chiến trở về thủ đô
    2. Từ thời kỳ kháng Nhật( khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940) đến khi người kháng chiến trở về thủ đô
    3. Từ khi giặc Pháp đến xâm lược đến khi người kháng chiến trở về thủ đô.

    Câu 3 (0.5điểm):

    Trong đoạn thơ ai là người lên tiếng trước?

    1. Người ra đi
    2. Người ở lại
    3. Cả hai cùng im lặng

    Câu 4 (0.5điểm)

    Hình ảnh “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” diễn tả những cung bậc cảm xúc nào?

    Câu 5 (1.0điểm):

    Biện pháp tu từ được sử dụng hiệu quả nhất trong đoạn thơ là gì? Tác dụng của biện pháp tu từ đó?

    Câu 6 (1.0điểm)

    Sáng tạo của Tố Hữu trong việc sử dụng hình thức của đoạn thơ

    ĐÁP ÁN

    Câu 1 (0.5điểm):

    • Đáp án đúng A / Khung cảnh chia li

    Câu 2: (0.5 điểm)

    – Đáp án đúng B / Từ thời kỳ kháng Nhật( khởi nghĩa Bắc Sơn năm 1940) đến khi người kháng chiến trở về thủ đô

    Câu 3: (0.5 điểm):

    – Đáp án đúng B / Người ở lại

    Mức không đạt(0 điểm):

    Câu 4: (0.5 điểm):

    • HS nêu được : Hình ảnh diễn tả nỗi nhớ nhung, lưu luyến, bịn rịn giữa kẻ ở và người đi

    Mức chưa tối đa: (0.25 điểm):       

    • HS nêu được: + Bộc lộ những tình cảm , cảm xúc dạt dào

    + Bộc lộ những xúc động khó nói bằng lời

    Câu 5(1.0điểm):

    – HS nêu được 2 biện pháp: + Điêp từ “nhớ”: diễn tả nỗi nhớ tràn đầy, tha thiết

                                              + Hoán dụ “áo chàm”: Chỉ người Việt Bắc, diễn tả tình cảm quân dân gắn bó, tha thiết

    Mức chưa tối đa: (0.5 điểm):         

    • HS nêu được một trong hai biện pháp tu từ và giá trị của biện pháp đó
    • Hoặc HS chỉ nêu được các biện pháp tu từ

    Câu 6: (1.0 điểm):

    – HS nêu được : + Hình thức đối đáp của ca dao dân ca với cặp đaị từ” mình – ta”

    + Tố Hữu vận dụng sáng tạo vào việc thể hiện những tính cảm cách mạng lớn lao

    Mức chưa tối đa: (0.5 điểm):         

    • HS nêu được hình thức đối đáp của ca dao dân ca
    • Hoặc HS chỉ ra hình thức này được sử dụng để thể hiện tình cảm Cách mạng

    (Tài liệu sưu tầm )

    Tất tần tật về  bài Việt Bắc Tố Hữu: http://vanhay.edu.vn/tag/viet-bac

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chia Sẻ Kiến Thức, Kết Nối Đam Mê
  • Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Phần 2: Tác Phẩm
  • Soạn Bài: Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc – Phần 1: Tác Giả Nguyễn Đình Chiểu
  • 100 Tác Giả Nổi Bật Trong Nền Văn Học Trung Đại Việt Nam
  • Giáo Án Ngữ Văn 12 Nâng Cao Tiết 123+ 124: Tổng Kết Phương Pháp Đọc, Hiểu Văn Bản Văn Học
  • Chuyên Đề Đọc Hiểu Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Vận Dụng Kiến Thức Liên Môn Trả Lời Câu Hỏi Đọc Hiểu Văn Bản Nhật Dụng
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tích Hợp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Các Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn 8
  • Tích Hơp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Các Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn 8
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng Văn 9 Trang 94 (Ngắn Gọn): Hệ Thống Các Văn Bản Nhật Dụng Đã Học
  • 1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt

    Ví dụ 1: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    …Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này.

    (Trích Tuỳ bútNgười lái đò Sông Đà -Nguyễn Tuân)

    Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào là chính?

    (Trả lời: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là miêu tả).

    Ví dụ 2: ” Hắn về lần này trông khác hằn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai con mắt gườm gườm trong gớm chết! Hắn mặt cái quần nái đen với áo tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết! ( – Nam Cao )

    Hãy chỉ ra các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên ?

    (Trả lời: Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên là: tự sự, miêu tả, biểu cảm).

    Ví dụ 3: ” Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

    Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa

    (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

    Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào?

    ( Trả lời: Đoạn văn trên được viết theo phương thức nghị luận)

    Ví dụ 4: Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí, vì vậy con người không thể sống thiếu nước. Nước chiếm khoảng 58 – 67% trọng lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70 – 75%, đồng thời nước quyết định tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con người.

    Khi cơ thể mất nước, tình trạng rối loạn chuyển hóa sẽ xảy ra, Protein và Enzyme sẽ không đến được các cơ quan để nuôi cơ thể, thể tích máu giảm, chất điện giải mất đi và cơ thể không thể hoạt động chính xác. Tình trạng thiếu nước do không uống đủ hàng ngày cũng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của não bởi có tới 80% thành phần mô não được cấu tạo từ nước, điều này gây trí nhớ kém, thiếu tập trung, tinh thần và tâm lý giảm sút…”

    (Nanomic.com.vn)

    Đoạn trích được viết theo phương thức biểu đạt nào?

    (Trả lời: Đoạn trích được viết theo phương thức thuyết minh)

    Ví dụ 5:

    Đò lên Thach Hãn ơi chèo nhẹ

    Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.

    Có tuổi hai mươi thành sóng nước

    Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

    (Lê Bá Dương, Lời người bên sông)

    Phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ là phương thức nào?

    (Phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ là biểu cảm)

    Ví dụ 6: Dịch bệnh E-bô-la ngày càng trở thành “thách thức” khó hóa giải. Hiện đã có hơn 4000 người tử vong trong tổng số hơn 8000 ca nhiễm vi rút E-bô-la. Ở năm quốc gia Tây Phi. Hàng nghìn trẻ em rơi vào cảnh mồ côi vì E-bô-la. Tại sao Li-bê-ri-a, cuộc bầu cử thượng viện phải hủy do E-bô-la “tác quái”

    Với tinh thần sẻ chia và giúp đỡ năm nước Tây Phi đang chìm trong hoạn noạn, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã gửi những nguồn lực quý báu với vùng dịch để giúp đẩy lùi “bóng ma” E-bô-là, bất chấp nhưng nguy cơ có thể xảy ra.

    Mĩ đã quyết định gửi 4000 binh sĩ, gồm các kĩ sư, chuyên gia y tế, hàng loạt nước ở Châu Âu, Châu Á và Mĩ-la-tinh gửi trang thiết bị và hàng nghìn nhân viên y tế tới khu vực Tây Phi. Cu-ba cũng gửi hàng trăm chuyên gia y tế tới đây.

    Trong bối cảnh chưa có vắc xin điều trị căn bệnh E-bô-la, việc cộng đồng quốc tế không “quay lưng” với vùng lõi dịch ở Tây Phi, tiếp tục gửi chuyên gia và thiết bị tới đây để dập dịch không chỉ là hành động mang tính nhân văn, mà còn thắp lên tia hi vọng cho hàng triệu người Phi ở khu vực này.

    (Dẫn theo nhân dân.Com.vn)

    Văn bản trên sử dụng các phương thức biểu đạt chủ yếu nào?

    ( Trả lời: Phương thức chủ yếu: thuyết minh – tự sự)

    2- Yêu cầu nhận diện phong cách chức năng ngôn ngữ:

    1

    Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

    – Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt…Trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm trong giao tiếp với tư cách cá nhân

    – Gồm các dạng chuyện trò/ nhật kí/ thư từ…

    Ví dụ 1 : Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: ” Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời chúng hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi chúng phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của chúng phải được hình thành trong sự hòa hợp và tương trợ. Chúng phải được trưởng thành khi được mở rộng tầm nhìn, thu nhận thêm những kinh nghiệm mới“.

    * Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

    ( Trả lời: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận).

    Ví dụ 2:

    Dịch bệnh E-bô-la ngày càng trở thành “thách thức” khó hóa giải. Hiện đã có hơn 4000 người tử vong trong tổng số hơn 8000 ca nhiễm vi rút E-bô-la. Ở năm quốc gia Tây Phi. Hàng nghìn trẻ em rơi vào cảnh mồ côi vì E-bô-la. Tại sao Li-bê-ri-a, cuộc bầu cử thượng viện phải hủy do E-bô-la “tác quái”

    Với tinh thần sẻ chia và giúp đỡ năm nước Tây Phi đang chìm trong hoạn noạn, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã gửi những nguồn lực quý báu với vùng dịch để giúp đẩy lùi “bóng ma” E-bô-là, bất chấp nhưng nguy cơ có thể xảy ra.

    Mĩ đã quyết định gửi 4000 binh sĩ, gồm các kĩ sư, chuyên gia y tế, hàng loạt nước ở Châu Âu, Châu Á và Mĩ-la-tinh gửi trang thiết bị và hàng nghìn nhân viên y tế tới khu vực Tây Phi. Cu-ba cũng gửi hàng trăm chuyên gia y tế tới đây.

    Trong bối cảnh chưa có vắc xin điều trị căn bệnh E-bô-la, việc cộng đồng quốc tế không “quay lưng” với vùng lõi dịch ở Tây Phi, tiếp tục gửi chuyên gia và thiết bị tới đây để dập dịch không chỉ là hành động mang tính nhân văn, mà còn thắp lên tia hi vọng cho hàng triệu người Phi ở khu vực này“.

    (Dẫn theo nhân dân.Com.vn)

    Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

    (Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí)

    Ví dụ 3:Nhà di truyền học lấy một tế bào của các sợi tóc tìm thấy trên thi thể nạn nhân từ nước bọt dính trên mẩu thuốc lá. Ông đặt chúng vào một sản phẩm dùng phá hủy mọi thứ xung quanh DNA của tế bào.Sau đó, ông tiến hành động tác tương tự với một số tế bào máu của nghi phạm.Tiếp đến, DNA được chuẩn bị đặc biệt để tiến hành phân tích.Sau đó, ông đặt nó vào một chất keo đặc biệt rồi truyền dòng điện qua keo. Một vài tiếng sau, sản phẩm cho ra nhìn giống như mã vạch sọc ( giống như trên các sản phẩm chúng ta mua) có thể nhìn thấy dưới một bóng đèn đặc biệt. Mã vạch sọc DNA của nghi phạm sẽ đem ra so sánh với mã vạch của sợi tóc tìm thấy trên người của nạn nhân”.

    ( Nguồn : Le Ligueur, 27 tháng 5 năm 1998)

    * Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

    ( Trả lời: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ khoa học).

    3. Yêu cầu nhận diện và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) các hình thức, phương tiện ngôn ngữ

    3.1. Các biện pháp tu từ:

    Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu)

    so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng,…

    Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…

    Ví dụ 1: Chỉ ra biện pháp tu từ chính được sử dụng trong đoạn thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó:

    Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

    Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

    Này đây lá của cành tơ phơ phất;

    Của yến anh này đây khúc tình si;”( – Xuân Diệu)

    (Trả lời: – Biện pháp tu từ được sử dụng là phép trùng điệp (điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc): Của…này đây…/ Này đây… của … Hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ là nhấn mạnh vẻ đẹp tươi non, phơi phới, rạo rực, tình tứ của mùa xuân qua tâm hồn khát sống, khát yêu, khát khao giao cảm mãnh liệt của nhân vật trữ tình).

    3.2. Các hình thức, phương tiện ngôn ngữ khác:

    – Từ láy, thành ngữ, từ Hán – Việt …

    – Điển tích điển cố,…

    Ví dụ 1: “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?” (Trích Vợ nhặtKim Lân)

    Chỉ ra những thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng.

    . (Trả lời: – Các thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn: dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, ăn nên làm nổi. Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các thành ngữ: các thành ngữ dân gian quen thuộc trong lời ăn tiếng nói nhân dân được sử dụng một cách sáng tạo, qua đó lời kể của người kể hòa vào với dòng suy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ; suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật trở nên thật gần gũi, được thể hiện rất tự nhiên; nỗi lòng, tâm trạng cùa người mẹ thương con thật được diễn tả thật chân thực).

    Ví dụ 4: Cho đoạn văn sau:

    Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lí cố tình để sát vào mâm cỗ cho bàn ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò… – món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây…”

    (Trích Mùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng)

    Đoạn văn sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó trong đoạn văn?

    (Trả lời: – Trong đoạn văn, tác giả có sử dụng biện pháp liệt kê:

    “…gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò…”

    -Tác dụng: Biện pháp liệt kê giúp cho nhà văn miêu tả sinh động mâm cỗ Tết vốn tràn trề, ngồn ngộn những của ngon vật lạ)

    4. Yêu cầu nhận diện các phương thức trần thuật

    5. Yêu cầu nhận diện các phép liên kết ( liên kết các câu trong văn bản)

    Phép lặp từ ngữ

    Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước

    Phép liên tưởng (đồng nghĩa / trái nghĩa)

    Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/ trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước

    Phép thế

    Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các từ ngữ đã có ở câu trước

    Phép nối

    Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối kết)với câu trước

    Ví dụ: Đọc kỹ đoạn văn sau và xác định các phép liên kết được sử dụng:

    Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

    Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa . (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

    ( Trả lời: Các phép liên kết được sử dụng là:

    Phép lặp: “Trường học của chúng ta”

    Phép thế: “Muốn được như thế”… thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước đó.)

    6. Nhận diện các thao tác lập luận

    6

    So sánh

    So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm.

    Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh tương phản.

    7. Yêu cầu nhận diện kiểu câu và nêu hiệu quả sử dụng

    7.1. Câu theo mục đích nói:

    Câu tường thuật (câu kể)

    – Câu cảm thán (câu cảm)

    – Câu nghi vấn ( câu hỏi)

    – Câu khẳng định

    – Câu phủ định.

    7.2. Câu theo cấu trúc ngữ pháp

    – Câu đơn

    – Câu ghép/ Câu phức

    – Câu đặc biệt.

    Ví dụ 1: Sáng ngày 16/5, hơn 1.300 học sinh trường THPT Phan Huy Chú, Hà Nội tham gia buổi học ngoại khóa mang tên Chủ quyền biển đảo, khát vọng hòa bình. Buổi học được tổ chức với ý nghĩa thể hiện tình yêu đất nước, một lòng hướng về biển Đông.

    Nhà trường cho rằng buổi ngoại khoá như thế này rất cần thiết, giúp nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho các em học sinh, đồng thời nâng cao hiểu biết về chủ quyền lãnh thổ và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước.

    Trong buổi ngoại khoá này, các học sinh trong trường đã xếp hình, tạo thành dải chữ S bản đồ đất nước Việt Nam cùng hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Hoạt động xếp hình diễn ra khá sớm vào lúc 6h30 nhưng các học sinh tham gia đều rất hào hứng, sôi nổi. Vừa xếp hình, các học sinh trường Phan Huy Chú còn được nghe kể về chiến công của cha ông trong việc bảo vệ đất nước, được nâng cao và tự ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với Tổ quốc. (Theo )

    Đọc đoạn trích trên và cho biết kiểu câu nổi bật nhất mà văn bản sử dụng là gì? Tác dụng của kiểu câu đó trong việc thể hiện nội dung văn bản?

    ( Trả lời: – Kiểu câu sử dụng nhiều nhất là câu tường thuật, câu phức.

    – Tác dụng: Cung cấp cụ thể, đầy đủ và chính xác các thông tin hoạt động ngoại khóa của học sinh trường THPT Phan Huy Chú.)

    Ví dụ 2: Tại Thế vận hội đặc biệt Seatte [dành cho những người tàn tật] có chín vận động viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham dự cuộc đua 100m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao đi với quyết tâm chiến thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ bị vấp té liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người kia nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ một ai! Một cô gái bị hội chứng down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé: – Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn. Cô gái nói xong, cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích. Khán giả trong sân vận động đồng loạt đứng dậy. Tiếng vỗ tay hoan hô vang dội nhiều phút liền. Mãi về sau, những người chứng kiến vẫn còn truyền tai nhau câu chuyện cảm động này”.

    . Đọc đoạn văn bản trên và chỉ ra những câu đặc biệt được sử dụng trong văn bản trên. Nêu tác dụng của chúng.

    (Trả lời: Các câu đặc biệt được sử dụng trong đoạn văn:

    Câu: ” Trừ một cậu bé“. Hiệu quả biểu đạt: tạo sự chú ý về sự đặc biệt của một vận động viên so với đám đông trên đường đua.

    -Câu: ” Tất cả không trừ một ai“. Hiệu quả biểu đạt: Đặt trong mối liên hệ với câu trước đó, câu có tác dụng nhấn mạnh, gây sự chú ý sự đồng lòng thực hiện một hành động cao cả (vì người bị tổn thương về thể chất nặng hơn mình).

    8. Yêu cầu xác định nội dung chính của văn bản/ Đặt nhan đề cho văn bản

    Ví dụ 1:Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lí cố tình để sát vào mâm cỗ cho bàn ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò… – món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây…”

    (TríchMùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng)

    Đọc kĩ và xác định nội dung chính của đoạn trích trên? Hãy đặt nhan đề cho đoạn văn. (Trả lời: Đoạn văn miêu tả mâm cỗ Tết thịnh soạn do bàn tay tài hoa, chu đáo của cô Lí làm ra để thết đãi cả gia đình. Có thể đặt nhan đề là ” Mâm cỗ Tết”.

    Ví dụ 2: Từ sau khi Việt Nam hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) của đất nước tăng lên đáng kể. Đầu tư từ ngân sách cho KH&CN vẫn giữ mức 2% trong hơn 10 năm qua, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên rất nhanh, đến thời điểm này đã tương đương khoảng 1tỷ USD/năm. Cơ sở vật chất cho KH&CN đã đạt được mức độ nhất định với hệ thống gần 600 viện nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu của Nhà nước, hơn 1.000 tổ chức KH&CN của các thành phần kinh tế khác, 3 khu công nghệ cao quốc gia ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã bắt đầu có sản phẩm đạt kết quả tốt. Việt Nam cũng có cơ sở hạ tầng thông tin tốt trong khu vực ASEAN (kết nối thông tin với mạng Á- Âu, mạng VinaREN thông qua TEIN2, TEIN4,… (Báo , ngày 16/5/2014- Mai Hà, Ánh Tuyết)

    *Đọc đoạn văn trên và cho biết nội dung chính bàn về vấn đề gì? Đặt tên cho văn bản.

    ( Trả lời: – Nội dung chính của đoạn văn bàn về: Sự phát triển của KH&CN Việt Nam trong hoàn cảnh hội nhập, Có thể đặt tên cho đoạn văn làKhoa học công nghệ của Việt Nam,….)

    Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    9. Yêu cầu nhận diện các lỗi diễn đạt và chữa lại cho đúng

    9.1. Lỗi diễn đạt ( chính tả, dùng từ, ngữ pháp)

    9.2. Lỗi lập luận ( lỗi lô gic…)

    Ví dụ: Đây là đoạn văn còn mắc nhiều lỗi dùng từ, chính tả, ngữ pháp, logic…, Anh/chị hãy chỉ ra những sai sót đó và chữa lại cho đúng.

    Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, người đọc tiếp nhận với một không gian ngột ngạt, với nỗi khổ đè nặng trên đôi vai gầy yếu và nỗi đau xé lòng chị Dậu tưởng như đã thành nỗi đau tột cùng. Nhưng khi Chí Phèo với những tiếng chửi tục tĩu cùng khuôn mặt đầy vết sẹo, với bước chân chện choạn, ngật ngưởng bước đi trên những dòng văn của Nam Cao, thấy rằng đó mới là kẻ khốn cùng ở nông dân Việt Nam ngày trước. Qua đó, Nam Cao không chỉ lột trần sự thật đau khổ của người nông dân mà còn nêu được một quy luật xuất hiện trong làng xã Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám: hiện tượng người nông dân bị đẩy vào con đường lưu manh hoá

    10. Yêu cầu nêu cảm nhận nội dung và cảm xúc thể hiện trong văn bản

    Cảm nhận về nội dung phản ánh

    Cảm nhận về cảm xúc của tác giả

    Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau trong bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…của Nguyễn Duy và trả lời câu hỏi sau:

    “(…) Mẹ ta không có yếm đào

    nón mê thay nón quai thao đội đầu

    rối ren tay bí tay bầu

    váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa”

    Ở khổ thơ này, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là gì?

    (Trả lời: – Hình ảnh của người mẹ nghèo bình dị, lam lũ, quê mùa, tần tảo, tất tả, bươn chải giữa chốn trần gian được gợi qua trang phục, qua lam lũ nhọc nhằn lao động với bao lo toan vất vả.

    – Cảm xúc của nhà thơ là nỗi buồn lặng thấm thía về gia cảnh nghèo nàn của mẹ là tình yêu thương, trân trọng và niềm tự hào về mẹ).

    11. Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản

    12. Yêu cầu nhận diện các hình thức nghị luận (hoặc cách thức trình bày của đoạn văn/ Kết cấu đoạn văn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Kết Phần Văn (Tiếp Theo)
  • Tiết 132, 133: Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng
  • Soạn Bài Cầu Long Biên
  • “nâng Cao Hiệu Quả Dạy Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn Thcs”
  • Một Số Kinh Nghiệm Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100