Đọc Hiểu Văn Bản: Tức Nước Vỡ Bờ

--- Bài mới hơn ---

  • Đề & Đáp Án Hsg Cấp Huyện 2010
  • Đề Thi Hsg Môn Ngữ Văn 8
  • Đóng Vai Chị Dậu Kể Lại Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Đóng Vai Bà Lão Hàng Xóm Kể Lại Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Bài Văn Đóng Vai Chị Dậu Kể Lại Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Hay, Đặc Sắc
  • Tuyển tập bằng BA CÁCH tuyệt hay. Cách soạn bài độc đáo với 3 nội dung NGẮN NHẤT, SIÊU NGẮN, CHI TIẾT hứa hẹn sẽ giúp bạn soạn văn 8 xuất sắc nhất

    Khái quát tác phẩm: Tức nước vỡ bờ

    Chị Dậu thương con đứt ruột vì vừa bán nó, chồng vừa mới trả về sau trận đánh tàn ác của kẻ đòi sưu. Vừa được người hàng xóm cho bát gạo chị Dậu bén nấu cho chồng ăn. Bát cháo chưa kịp ăn xong thì bè lũ cái lệ và người nhà lý trưởng kéo đến đòi sưu. Mặc cho những lời van xin thống thiết của chị Dậu, chúng vẫn hoành hành, hống hách chị. ” Tức nước vỡ bờ”, chị Dậu xong vào đánh khiến cai lệ ngã chổng khoèo.

    – Phần 1 (từ đầu … ngon miệng hay khôn g): Cảnh chị Dậu lo lắng chăm sóc cho chồng

    – Phần 2 (còn lại): Cảnh chị Dậu đương đầu với cai lệ và tay sai

    Soạn bài Tức nước vỡ bờ 3 cách

    Câu 1 (trang 32 Ngữ Văn 8 Tập 1)

    – Anh Dậu- chồng chị tối hôm quá bị bắt và đánh đập đến ngất rồi mới được trả về, sáng nay tỉn lại nhưng người thì ” lề bề lệt bệt”. Anh đang đợi cháo nguội một chút để ăn.

    – Cháo vừa nấu chín từ bát gạo mà bà con hàng xóm thương tình cho, đang còn nóng hổi.

    Tình thế của chị Dậu:

    + Gia đình đang lâm vào cảnh cùng đường, khốn khổ, tiền nộp sưu không có

    + Anh Dậu vừa được thả về sau khi bị đánh bầm dập, không còn chút sức lực vì thiếu tiền sưu.

    + Chị đang đút cháo cho chồng, mong chồng có gì lót dạ

    + Chưa kịp đưa chồng đi trốn thì cai lệ đến

    Khi bọn tay sai vào nhà chị Dậu, tình thế của chị lúc bấy giờ:

    – Nhà nghèo chị đã phải bán cả con, cả chó, bán cả gánh khoai…

    – Anh Dậu đang ốm nặng, vậy mà vẫn bị tên cai lệ trói gô lại, điệu ra đình, anh đã chết ngất ở đấu, người ta vừa khiêng anh về cho chị Dậu, nhờ bà con hàng xóm cứu giúp anh đã tỉnh lại. Sáng sớm hôm sau, cháo vừa chín, cả nhà đang chuẩn bị ăn, anh Dậu nhịn suông từ hôm qua tới giờ đang run rẩy cầm bát cháo, anh vừa kề vào miệng thì lũ tay sai tiến vào

    Câu 2 (trang 32 Ngữ Văn 8 Tập 1)

    Phân tích nhân vật cai lệ. Em có nhận xét gì về tính cách của nhân vật này và sự miêu tả của tác giả?

    – Là một tên nghiện thuốc nặng, giọng nói khàn khàn nhưng cố thét ra những lời dạo nạt.

    – Đứng đầu bè lũ đám người đi đòi sưu thuế. Là những tên lính quèn có chút chức tước trong làng, làm tay sai cho lũ tham quan nhưng chúng hống hách, vô lí.

    – Những hành động như: tay roi song, tay thước và dây thừng, thét, cưới mỉa mai, chỉ, trợn mắt quát…cho thấy sự độc ác, xấc xược thẳng tay bóc lột một cách ngang ngược tầng lớp nhân dân lao động.

    Cách miêu tả chi tiết, chân thực về hình dáng, hành động của tên cai lệ đã khắc họa nên sự thối nát và xấu xa của tầng lớp thống trị trong xã hội bấy giờ. Những điều đó cũng cho thấy thái độ căm ghét, khinh bỉ của tác giả.

    Nhân vật cai lệ:

    – Cử chỉ: Gõ đầu roi xuống đất thét, trợn ngược hai mắt quát, giọng hầm hè, đùng đùng giật phắt cái thừng, chạy sầm sập, bình bịch, tát,…

    – Tiếng hắn như tiếng chó sủa, rít gầm của thú dữ. Hắn không biết nói tiếng của người và cùng không có khả năng nghe tiếng nói của đồng loại. Hắn cậy có quyền nên chửi bới, xưng hô rất thô lỗ. Bỏ ngoài tai lời van xin của chị Dậu.

    Nhân vật cai lệ:

    + Cai lệ là một tên lính hầu hạ, phục vụ bọn quan nha, thực chất là những kẻ không có một chức trách gì quan trọng mà chỉ là một tay sai chuyên hành dân, đánh người

    + Hắn cùng người nhà lý trưởng xông thẳng vào nhà anh Dậu để bắt ép đòi bằng được tiền nộp sưu

    + Vào nhà chị Dậu một cách hống hách, lộng hành:

    – Đập mạnh rồi xuống đất, hét to

    – Trói người tàn bạo, hùng dữ, hắn sầm sập chạy đến bên anh Dậu mà trói mặc chị Dậu can ngăn

    – Tát vào mặt người phụ nữ khốn khổ không do dự

    – Bị ngã chỏng khoèo vẫn hét trói vợ chồng anh Dậu- trói người thành nghề của hắn

    Ngôn ngữ, lời nói:

    – Quát mắng, hầm hè, xưng hô “mày”-“tao” , giọng điệu hống hách, tỏ vẻ quyền uy

    – Dù chị Dậu có hết lời van xin hắn vẫn ngang ngược, cố chấp, cắt ngang lời chị, không chút động lòng thương xót.

    Tác giả đã khắc hoạ nhân vật cai lệ thông qua miêu tả về cả ngoại hình và hành động, đặc biệt là ngôn từ phát ra từ lời nói để thể hiện bản chất đê tiện và xấu xa của nhân vật cai lệ.

    Câu 3 (trang 33 Ngữ Văn 8 Tập 1)

    – Khi gặp bọn lính đến bắt người: lo lắng, nhẫn nhục, chịu đựng và van xin. Chị chỉ biết dùng lí lẽ phân tích cho đám người đó mong chúng thấu hiểu cho.

    – Khi bọn lính quyết không tha cho anh Dậu: phẫn hận, căm tức tột cùng. Đám lính lệ không buông tha anh Dậu thậm chí còn đánh anh. Sự kìm nén quá sức chịu đựng bị bộc phát. Đổi xưng hô thành ông-tôi rồi mày-bà, dùng sực khỏe mạnh của người dân lao động để chống trả.

    Như bao người phụ nữ Việt Nam tảo tần khác, chị yêu thương chồng con, có thể nhẫn nhịn để bảo vệ gia đình mình. Ai đó àm tổn thương đến họ, chị sẵn sàng đứng lên chống đối lại tất cả. Chị lmang nét đặc truwngc ủa người Việt Nam, yêu gia đình nhưng cũng can đảm và mạnh mẽ..

    Diễn biến tâm lý của chị Dậu:

    + Khi cai lệ xông vào nhà, để bảo vệ chồng mình, chị van xin, nhún nhường, cố gắng trình bày những chật vật của mình để xin lòng thương từ chúng,mong chúng cho khất sưu. Giọng vừa run rẩy lo sợ, vừa chân thành, thống thiết. Khi tên cai lệ vẫn một mực hành động, hắn không hề thương cảm mà trái lại còn cố bắt trói anh Dậu thì chị Dậu liều mạng để chống cự lại hắn. Đưa ra lý lẽ để chống lại hành động tàn ác của chúng, đỉnh điểm là sự phản kháng mãnh liệt của chị Dậu khi đẩy ngã tên cai lệ chỏng quèo.

    + Miêu tả diễn biến tâm lý của chị Dậu là rất chân thực, rất hợp lý, cho thấy được đằng sau vẻ tiều tụy, yếu đuối là một bản lĩnh đặc biệt của người đàn bà đã chịu nhiều nỗi phẫn uất và ấm ức, sự phản kháng ấy là điều tất yếu.

    Nhân vật chị Dậu:

    – Chúng đặt chị vào tình huống khó xử, chúng để vận mệnh của anh Dậu trong tay chị, nhưng cũng chính lẽ đó, sức sống tiềm tàng của chị được bộc lộ sâu sắc.

    – Chị tha thiết van xin bọn chúng. Chị là người phụ nữ thôn quê quen dịu dàng, nhẫn nhục

    + Cháu van ông .. ông tha cho

    – Trước những lời van xin của chị, chúng vẫn xông vào, vẫn tỏ thái độ

    + Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ.

    + Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem.

    + Túm lấy cổ hắn ấn dúi ra cửa, ngã chỏng quèo.

    + Túm tóc lẩng cho một cái, ngã nhào ra thềm.

    Câu 4 (trang 33 Ngữ Văn 8 Tập 1)

    Em hiểu thế nào về nhan đề Tức nước vỡ bờ được đặt cho đoạn trích? Theo em, đặt tên như vậy có thỏa đáng không? Vì sao?

    -Nghĩa đen: việc làm quen thuộc của nhà nông là đắp đập ve bờ để giữ nước hoặc ngắn nước bên ngoài vào ruộng. Nước càng lên cao sức nước càng mạnh, xô vào thành bờ làm nó rạn nứt rồi vỡ ra.

    -Nghĩa bóng: sự áp bức càng lớn, nhưng chỉ có một giới hạn, vượt qua nó người ta sẽ không chịu đựng nữa mà chống trả lại. Nhan đề này rất phù hợp với bài viết vì thể hiện rõ qua diễn biến tâm lí của chị Dậu.

    Nhan đề “Tức nước vỡ bờ”:

    Thể hiện ý nghĩa: khi những người nông dân bị đẩy đến đường cùng, áp bức đến cùng cực, họ sẽ không chấp nhận cam chịu, phản kháng quyết liệt và mạnh mẽ để bảo vệ chính những người mà mình thương yêu.

    Nhan đề “Tức nước vỡ bờ”

    – Nêu lên quy luật tự nhiên: mạch nước càng đầy lên, khi nước bị tức thfi nó phải nổi sóng, tràn ra phá vỡ bờ.

    – Sự tức nước chính là sự tàn nhẫn của tên cai.

    – Vỡ bờ chính là sự vùng lên của chị Dậu.

    Câu 5 (trang 33 Ngữ Văn 8 Tập 1)

    Tình huống được xây dựng một cách khéo léo, tự nhiên, miêu tả một cách chân thực và sinh động. Những hành động được miêu tả một cách logic: Đầu tiên khi chị Dậu phản kháng bị mấy tên linh đánh mấy bịch vào ngực, tát bốp cái vào má. Nhưng rồi sức của những tên lính quanh năm quanh bàn thuốc, chỉ biết quát tháo dọa nát người khác không bằng đục người đàn bà lực điền lao động quanh năm. Tên lính nhỏ con bị chị xô ngã. Ngôn ngữ và lời thoại họp lí với dòng cảm xúc của nhân vật.

    – Từ ngữ trong đoạn văn miêu tả cảnh chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ đều được lấy nguyên vẹn từ lời ăn tiếng nói hàng ngày của người dân miền Bắc

    – Giọng văn pha chút hài hước của tác giả làm nổi bật sức mạnh ghê gớm của chị Dậu và sự thảm bại của những tên cai

    + Tình huống: sau khi đã van xin, nhún nhường mà cai lệ nhất quyết không chịu tha, chị Dậu đứng ra chống lại bằng hành động cương quyết: đánh lại tên cai lệ

    + Miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ:

    – Tên cai lệ: hống hách, thô bạo, đánh chị Dậu , xấn đến trói chồng chị, lời nói thô lỗ, tàn nhẫn, sức loẻ khoẻo, ngã lăn quay ra đất miệng vẫn lảm nhảm

    – Chị Dậu: mặt xám lại, nghiến hai hàm răng mà nói trong sự phẫn uất, túm lấy cổ rồi đùi ra cửa , sức xô đẩy mạnh mẽ, nhanh nhẹn

    Ngôn ngữ đối thoại thể hiện rõ sự căm tức của chị Dậu và sự hung tàn của kẻ quyền cao, qua đó tính cách nhân vật được bộc lộ

    + Đây là một đoạn tuyệt khéo bởi khắc hoạ được hình ảnh chị Dậu nghị lực, đầy bản lĩnh, dám đương đầu với những kẻ chuyên quyền, những kẻ tay sai của thực dân.

    Câu 6 (trang 33 Ngữ Văn 8 Tập 1)

    Nhận xét của Nguyễn Tuân hoàn toàn đúng. Trong cái xã hội phong kiến thối nát khi mà mọi bất công đều đè lên đầu lên cổ người dân thì kết quả của sự chịu đựng luôn là bóc lột thậm tệ hơn. Nếu như đều sẽ bị hà hiếp tại sao không thử đứng lên đấu tranh đòi lại chút công bằng cho chính mình. Nhiều người cùng vùng lên sẽ tạo sức mạnh to lớn.

    Đó là một nhận xét hợp lý,bởi:

    Trong bất kì xã hội bào, nếu có áp bức thì chắc chắn sẽ phải có đấu tranh, đấu tranh là điều cần thiết nếu muốn phát triển. Những người nông dân, họ chịu sự bóc lột nặng nề nhất, tàn nhẫn nhất, họ có lòng căm thù nhất bởi những khổ đau mà xã hội thực dân gây ra, giai cấp nông dân cần tiên phong trong việc phản kháng, đấu tranh.

    – Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh xã hội thực dân nửa phong kiến, tác phẩm đã có tác dụng làm thức dậy hiện thực cuộc sống trong lòng người đọc. Nguyễn Tuân nhận định như vậy là không sai, mặc dù lúc đó Ngô Tất Tố chưa được giác ngộ cách mạng, song ông đã phát hiện ra được lực lượng cách mạng tiêu biểu trong quần chúng nhân dân, từ đó thúc đẩy, nêu cao tinh thần diệt trừ bọn thực dân và bè cánh của chúng. Ngòi bút của ông sắc mạnh nhữ gươm giáo. Xứng đáng được xem là người đồng hành cùng cách mạng của nhân dân ta.

    Nội dung chính bài Tức nước vỡ bờ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giới Thiệu Về Tiểu Thuyết Tắt Đèn Và Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Của Nhà Văn Ngô Tất Tố
  • Bài Văn Giới Thiệu Về Tiểu Thuyết Tắt Đèn Và Đoạn Trích Tức Nước Vỡ B
  • Tóm Tắt Tức Nước Vỡ Bờ Ngắn Nhất (6 Bài).
  • Giáo Án Văn 8 Bài Tức Nước Vỡ Bờ
  • Em Hiểu Như Thế Nào Về Nhan Đề Tức Nước Vỡ Bờ
  • Ngữ Văn 8: Đọc Hiểu Tác Phẩm “tức Nước Vỡ Bờ”

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ
  • Phân Tích Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Trong Tác Phẩm Tắt Đèn Của Ngô Tất Tố
  • Phân Tích Nghệ Thuật Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Trong Tác Phẩm Tắt Đèn Của Nhà Văn Ngô Tất Tố
  • Nội Dung Và Ý Nghĩa Của Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ
  • Ý Nghĩa Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ
  • Những nội dung cơ bản cần nắm vững

    1.1. Ngô Tất Tố là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực trước cách mạng. Ông nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực: khảo cứu triết học cổ và văn học cổ, viết báo, phóng sự, tiểu thuyết, dịch văn học..,

    1.2. Tác phẩm Tắt đèn là tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp của Ngô Tất Tố. Qua Tắt đèn, có thể thấy Ngô Tất Tố có thái độ yêu ghét rạch ròi, dứt khoát, sâu sắc và nhất quán của Ngô Tất Tố.

    1.3. Đoạn trích Tức nước vỡ bờ cho thấy bộ mặt tàn ác bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời đã đẩy người nông dân vào bước đường cùng. Đồng thời, đoạn trích còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ nông dân, vừa giàu yêu thương, vừa có sức sống tiềm tàng,mạnh mẽ.

    Vài nét về tác giả, tác phẩm

    Ngô Tất Tố (1893 – 1954) là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực trước Cách mạng tháng Tám. Ông tham gia, đóng góp ở nhiều lĩnh vực: viết báo, tiểu thuyết, phóng sự, khảo cứu triết học, văn học cổ, dịch thuật văn học… và ở lĩnh vực nào ông cũng gặt hái được những thành công.

    Bên cạnh những công trình khảo cứu giá trị, Ngô Tất Tố có một khối lượng bài báo đồ sộ đề cập đến nhiều vấn đề thời sự, xã hội, chính trị. Với một lối viết sắc sảo, điêu luyện, giàu tính chiến đấu, một lập trường dân chủ tiến bộ; một phong cách chuyên nghiệp và một giọng điệu châm biếm “rất” Ngô Tât Tố . Ông đã được coi là “một tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho” – Vũ Trọng Phụng.

    Rất gần với phong cách báo chí ấy nhưng dài hơi hơn, giàu chất văn học hơn là những thiên phóng sự: “Tập án cái đình” (1939), “Việc làng” (1940); … và khó có thể ngờ được rằng tác giả của những bài phóng sự sắc sảo, đanh thép ấy lại củng chính là người đã dịch những bài thơ Đường cổ điển rất thoát và rất có thần.

    Ngô Tất Tố đặc biệt nổi tiếng với tư cách là một nhà văn chuyên viết về đề tài nông thôn và số phận người nông dân dưới chế độ phong kiến, thực dân lúc đó. “Tăt đèn” là tiểu thuyết tiêu biểu, cho mảng đề tài này.

    Ngoài ra, Ngô Tất Tố còn có tiểu thuyết “Lều chõng” tái hiện tỉ mỉ, sinh động chế độ thi cử đương thời với một cảm quan phê phán tính chất khắc nghiệt, tiêu cực, phản khoa học của nền giáo dục, khoa cử phong kiến lúc bấy giờ.

    “Tắt đèn” có thể coi là tác phẩm tiêu biêu nhất trong sự nghiệp văn học của Ngô Tất TỐ. Lấy đề tài từ một vụ thuế ở một làng quê đồng bằng Bắc Bộ trong những năm 1930 – 1945, cuốn tiểu thuyết vừa phản ánh được nỗi thống khổ của người nông dân vừa lột trần được bộ mặt bất nhân, tàn ác của giai cấp thống trị.

    “Tắt đèn” là một bức tranh thu nhỏ của nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám với hàng loạt nhân vật điển hình, sinh động. Đó là vợ chồng tên địa chủ keo kiệt, tàn nhẫn; là bọn cường hào tham lam, hống hách; là tên quan bỉ ổi; là những người phụ nữ nông dân bị áp bức, chà đạp đến độ phải vùng lên phản kháng và dù bị vùi dập dưới bùn đen, họ vẫn giữ trọn những phẩm chất đẹp đẽ trong tâm hồn.

    Với nghệ thuật tạo tình huống, ngôn ngữ điêu luyện, hình ảnh sinh động, những hình tượng điển hình.,, và một cảm quan hiện thực sâu săc, nhất quán, “Tắt đèn” đã trở thành một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực trước Cách mạng tháng Tám. Cũng chính với tác phẩm này, Ngô Tất Tố được tôn xưng là “Nhà văn của nông dân”.

    1. Câu hỏi 1 (GSK, trang 32)

    Đọc phần tóm tắt ở đầu đoạn trích trong SGK (phần chữ nhỏ) để xác định tình cảnh chung của chị Dậu trước tình huống xảy ra trong đoạn trích này.

    Khi bọn tay sai xông vào nhà chị Dậu, tình thế của chị đang rất nguy khốn: vụ thuế đang ở vào thời điểm gay gắt nhất, bọn tay sai đang dốc sức đốc thúc những người còn nợ SƯU vì quan sắp về làng thu thuế. Nhà chị Dậu thuộc dạng “cùng đinh”, đã phải chạy vạy hết cách, kể cả là bán con, bán chó mà vẫn chưa đủ tiền nộp SƯU. Anh Dậu bị bắt trói, cùm kẹp đến rũ rượi mới được thả về… Cả nhà đã nhịn đói mấy ngày, vừa mới được bà hàng xóm tốt bụng cho bát gạo để nấu cháo cầm hơi…

    Khi bọn cai lệ, ngưòi nhà lí trưởng xông vào, chị Dậu bị đẩy vào một tình thê vô cùng nguy cấp: không có cách gì chạy tiền nộp SƯU mà nếu để anh Dậu bị bắt trói một lần nữa thì mạng sống khó mà giữ được… Hoàn cảnh bế tắc như không lối thòát.

    2. Câu hỏi 2 (SGK, trang 32)

    Phân tích nhân vật trên cơ sở gợi ý của SGK. Em có nhận xét gì về nghệ thuật khắc hoạ nhân vật của tác giả: ngoại hình, hành động, ngôn ngữ của nhân vật được thể hiện như thế nào?

    Cai lệ là viên chỉ huy một tốp lính lệ (lính phục vụ, hầu hạ nơi quan nha). Đây là viên chỉ huy cấp thấp nhất trong quân đội của chế độ thực dân phong kiến. Vối chức danh ấy, cai lệ hoàn toàn chỉ là một công cụ, tay sai không hơn không kém. Nhưng đây lại là một công cụ chuyên dụng, một công cụ bằng sắt.

    Dù là một tên tay sai mạt hạng hắn cũng có quyền đánh trói người vô tội vạ bởi hắn đại diện cho “nhà nước”, cái nhà nước phong kiến – thực dân tàn bạo chà đạp lên quyền sống của ngưòi nông dân. Thực tế ấy được bộc lộ qua lòi cay đắng của anh Dậu: “Người ta đánh mình không sao, mình đánh người ta thì phải tù, phải tội”.

    Chỉ trong một đoạn trích ngắn ngủi, Ngô Tất Tố đã xây dựng được một hình tượng nhân vật cai lệ rất điển hình với tính cách đậm nét và nhất quán. Những chi tiết miêu tả hành động của hắn “sầm sập tiến vào”; “trợn ngược hai mắt”; “đùng đùng giật phắt cái thừng”; “bịch luôn vào ngực chị Dậu”; “Sấn đến để tóm anh Dậu”; “Tát vào mặt chị Dậu đánh bốp”… cùng thống nhất thể hiện bản chất lỗ mãng, hung hăng, độc ác của hắn. Khi bản chất ấy lộ ra, người ta không còn ngạc nhiên khi thấy tên cai lệ này dưòng như không nghe được tiếng nói con người, không mảy may đếm xỉa đến lời van xin, giãi bày của chị Dậu, và cũng không nói được tiếng ngươi, chỉ thấy hắn “quát”, “thét”, “hầm hè”, “nham nhảm”.

    Tác giả đã để chị Dậu đối đáp với cai lệ một vài câu và chỉ qua ngần ấy câu thôi, sự lỗ mãng, thô bạo của cai lệ một lần nữa được khẳng định. Lời giãi bày của chị Dậu càng lễ phép, có lí, có tình bao nhiêu thì lời đáp của cai lệ càng thô tục, hung hãn bấy nhiêu: “Mày định nói cho cha mày nghe đấy à? Sưu của nhà nước mà dám mở mồm xin khất!”; “Nếu không có tiền nộp SƯU cho ông bây giờ, thì ông sẽ dỡ cả nhà mày đi, chửi mắng thôi à!”.

    Với tên tay sai mẫn cán, đắc lực của giai cấp thông trị này, lòng trắc ẩn là một khái niệm không tồn tại. Hắn sẵn sàng thẳng tay đánh một người phụ nữ, sẵn sàng bắt trói một ngưòi ốm nặng đến độ không còn sức chống cự, thậm chí đến mạng sống cũng còn khó giữ. Hắn sẵn sàng dỡ nhà, cắm đất, đẩy một gia đình tới bước đưòng cùng chỉ nhằm hoàn thành nhiệm vụ được giao. Như vậy, từ ngôn ngữ, cử chỉ đến hành động bủa cai lệ đều thể hiện một bản chất tàn bạo, phi nhân tính của hắn.

    Đồng thời, như trên đã nói, cai lệ hành động vối tư cách là ngưòi thừa hành công vụ, là người nhà nước, do đó, hắn chính là đại diện tiêu biểu cho chê độ ấy. Bản chất tàn bạo của hắn cũng chính là bản chất tàn bạo của xã hội thực dân nửa phong kiến. Xét ở bình diện này, nhân vật cai lệ đã có một ý nghĩa khái quát hoá cao, là hiện thân sinh động của giai cấp thống trị nói chung, hệ thông địa chủ – cưòng hào ác bá ở nông thôn Việt Nam nói riêng lúc bấy giờ.

    3. Câu hỏi 3 (SGK, trang 33)

    Đọc lướt toàn đoạn trích, chú ý sự thay đổi trong cách xưng hô, giọng điệu, hành động của chị Dậu. Suy nghĩ giải thích căn nguyên của những hành động ấy.

    Trong đoạn trích “Tức nước vỡ bờ”, chị Dậu được đặt vào một tình thế đặc biệt nguy khốn (đã phân tích ở Câu 1). Đó là một hoàn cảnh điển hình, thòi điểm mà tính cách nhân vật được bộc lộ rõ ràng và đầy đủ nhất.

    Mở đầu đoạn trích, chị Dậu hiện lên với dáng vẻ của một ngựời vợ nghèo hiền hậu, yêu thương chồng con. Hành động lấy quạt, quạt cho cháo chóng nguội, “rón rén bưng một bát lớn đến chỗ chồng nằm”, “đón lấy cái Tỉu và ngồi xuống đó như có ý chờ xem chồng chị ăn có ngon miệng hay không”, giọng dịu dàng, lo lắng nói vối chồng… đều thể hiện điều đó.

    Khi bọn cai lệ và người nhà lí trưởng sầm sập tiến vào, chị đã van xin tha thiết. Dáng điệu run run, cách xưng hô cháu – ông, sắc mặt xám lại, lời lẽ quỵ luỵ… của chị đã cho thấy thân phận thấp cổ bé họng của người nông dân xưa. Họ bị áp bức đến độ phải nhẫn nhục chịu đựng, đến độ phải van xin cả những kẻ tay sai mạt hạng nhất của bọn quan lại. Nhưng những lời van xin tha thiết của chị không được đếm xỉa. Đến khi cai lệ “bịch luôn vào ngực chị Dậu mấy bịch rồi sấn đến để trói anh Dậu”, chị đã “liều mạng cự lại”: “Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ”. Hành động “cự lại” của chị lúc này vẫn chỉ là bằng lí lẽ. Chị nói đến cái lí đương nhiên trong cuộc sông, cái đạo lí tôi thiểu trong phép ứng xử giữa người với người. Chị không xưng “cháu” nữa mà xưng “tôi”. Bằng sự thay đổi đó, chị đã đứng thẳng lên, có vị thế ngang hàng với cai lệ. Nhưng rồi lí lẽ cũng chẳng ăn thua. Cai lệ vẫn tàn nhẫn thẳng tay “tát vào mặt chị một cái đánh bốp rồi hắn cứ nhảy vào cạnh anh Dậu”, chị đã vùng lên: “Chị Dậu nghiến hai hàm rằng: – Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem!”. Dương như sự tức giận, phẫn uất đã lên đến cao độ. Chị Dậu không còn ý thức kìm chế theo thân phận bị áp bức của mình nữa mà đã tự xưng là “bà”, gọi cai lệ là “mày”. Cách xưng hô ấy, câu nói hết sức “đanh đá” ấy cho thấy sự căm giận ngùn ngụt của chị. Vị thế giữa chị và cai lệ đã bị đảo ngược. Chị không còn là một người phụ nữ yếu đuôi, bé mọn nữa mà đang nhìn bọn tay sai với tư thê của người trên.

    Cảnh tượng chị Dậu quật ngã cai lệ và người nhà lí trưởng thể hiện sức mạnh ghê gớm tiềm ẩn bên trong ngưòi phụ nữ “lực điền”. Đôi lập với bộ dạng thảm hại của hai tên tay sai, hình ảnh chị Dậu nổi bật lên với tư thế ngang tàng của ngưòi dám đứng lên tự bảo vệ lẽ công bằng cho bản thân và cho những ngưòi thương yêu. Sức mạnh ấy phải chăng chính là sức mạnh của lòng yêu thương? Sự thay đổi thái độ của chị Dậu, hành động bất ngờ, quyết liệt của chị do bị o bê quá mà thành “tức nước vỡ bò”. Dù là van xin, dù là cãi lí hay phản kháng… cũng chỉ là các cách khác nhau để bảo vệ người chồng ốm yếu trong tình thế nguy kịch. Hiểu như thế chúng ta mới thấy hành động quyết liệt, giọng điệu đanh đá của chị Dậu ở đoạn sau không hề mâu thuẫn với thái độ dịu dàng, nhẫn nhịn, lo lắng ở đoạn đầu, thậm chí còn bổ sung, thông nhất với nhau. Đơn giản vì đó là những biểu hiện khác nhau của một tấm lòng yêu thương chồng con rất mực.

    Như vậy, nhân vật chị Dậu đã được xây dựng như một tính cách đa diện: hiền dịu, hi sinh nhưng không hề yếu đuối mà vẫn tiềm tàng một tinh thần phản kháng, một sức sống mạnh mẽ. Chị đã nhận thức được sự bất công và không chấp nhận: “Thà ngồi tù. Để chúng nó. làm tình làm tội mãi thế, tôi không chịu được…”. Mặc dù, hành động của chị Dậu có tính chất bột phát, chưa giải quyết được vấn đề (sau đoạn này, cả nhà chị Dậu vẫn bị trói, điệu ra đình làng) nhưng đã khẳng định được sức mạnh tiềm tàng của người nông dân, ý thức của họ về sự bất công và báo trước một xu thế tất yếu sẽ xảy ra theo quy luật “Con giun xéo lắm cũng quằn”.

    4. Câu hỏi 4 (SGK, trang 33)

    Cần hiểu ý nghĩa của thành ngữ “Tức nước vỡ bờ” dựa vào nội dung đoạn trích để tìm ra những lí do dẫn đến việc đặt tiêu đề đó.

    Nhan đề “Tức nước vỡ bờ” đặt cho đoán trích này rất thoả đáng. Trước hết, đây là một thành ngữ dân gian; với đặc điểm súc tích, giàu ý nghĩa của những cụm từ cấu trúc kiểu này, nhan đề “Tức nước vỡ bờ” vừa thông nhất, vừa bổ sung, làm nổi bật ý nghĩa của đoạn trích.

    Thành ngữ “Tức nước vỡ bờ” là một kinh nghiệm mà ông cha ta đã đúc kết, nêu lên một chân lí khách quan: Một sự vật khi bị dồn nén đến một mức độ nhất định tất yếu sẽ phá vỡ khuôn khổ ấy. Có thể nói hành động của chị Dậu được thể hiện trong đoạn trích chính là điểm gặp gỡ giữa Ngô Tất Tô” và tư tưởng người xưa khi cùng thể hiện lôgíc cuộc sống: có áp bức tất có đấu tranh. Rõ ràng, bằng cảm quan hiện thực của mình, nhà văn đã nhận thức được xu hướng tất yếu của thời đại: Người nông dân bị chà đạp, áp bức quá tất sẽ vùng lên đấu tranh. Không chỉ thế, Ngô Tất Tố còn dự đoán trước được sức mạnh phản kháng sẽ vô cùng mạnh mẽ. Dù chưa vạch ra con đưòng đấu tranh tự giác mà sau này Cách mạng tháng Tám đã vạch ra cho nhân dân ta, nhưng với những nhận thức biện chứng, tiến bộ ấy, Ngô Tất Tố đã có một nền tảng để vững vàng đón nhận ánh sáng của Đảng, giác ngộ và hướng ngòi bút theo Cách mạng tháng Tám trong giai đoạn về sau.

    5. Câu hỏi 5 (SGK, trang 33)

    Chứng minh nhận định trên dựa trên cơ sở tìm hiểu việc tạo dựng tình huống, việc miêu tả ngoại hình, hành động, ngôn ngữ, tâm lí nhân vật, nghệ thuật kể chuyện, ngôn ngữ tác giả và ngôn ngữ đôi thoại trong đoạn văn ấy.

    Đọc đoạn văn “Tức nước vỡ bờ”, chúng ta có cảm giác như đang xem một vở kịch ngắn, trong đó đoạn chị Dậu đánh nhau với hai tên tay sai chính là phần mở nút. Tính kịch không chỉ được thể hiện ở chỗ tác giả chú trọng đến ngôn ngữ đốì thoại, hành động, cử chỉ của nhân vật mà chủ yếu là ở tài tạo lập tình huống, dàn dựng các chi tiết, thúc đẩy sự kiện diễn biến theo một chiều hướng đầy kịch tính. Phải chăng vì lẽ đó, nhà nghiên cứu phê bình văn học Vũ Ngọc Phan đã nhận xét: “Cái đoạn chị Dậu đánh nhau với tên cai lệ là một đoạn tuyệt khéo”?

    Trước hết, cái “khéo” của Ngô Tất Tố là đã đấy nhân vật vào một tình huống mà mâu thuẫn đã đạt đến độ gay gắt, đòi hỏi phải được giải quyết: chị Dậu phải tìm mọi cách để đối phó với tên cai lệ và ngưòi nhà lí trưởng, bảo vệ tính mạng cho ngươi chồng đau ốm. Hoàn cảnh điển hình ấy là điều kiện tiên quyết để một nhân vật được nâng lên thành tính cách điển hình.

    Trong đoạn trích, ngôn ngữ đốì thoại trở thành một phương tiện hữu hiệu để tác giả khắc hoạ tính cách nhân vật. Đối lập với những lòi nói có lí, có tình của chị Dậu, thì ngôn ngữ thô tục, lỗ mãng của tên cai lệ không thể lẫn và che giấu được một bản chất tàn ác, bất nhân.

    Đặc biệt, ngôn ngữ tác giả với giọng điệu châm biếm đã tạo nên vẻ đa diện, sự cuốn hút của đoạn văn. Ngô Tất Tố đã miêu tả cảnh tượng chị Dậu quật ngã hai tên tay sai một cách sinh động với giọng điệu hài hước ấy. Tiếng cười hả hê của ngưòi đọc bật lên khi được chứng kiến sự đối lập giữa một bên là chị Dậu với tư thế ngang tàng, sức mạnh ghê gớm và một bên là bộ dạng thảm hại của hai tên tay sai. Tên cai lệ “lẻo khoẻo” bị chị Dậu “túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa”, “ngã chổng quèo trên mặt đất”, còn tên ngưòi nhà lí trưởng cũng chẳng khá hơn, bị “túm tóc lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm”. Sự hài hước còn toát lên ở chỗ, vừa ngay trước khi bị “chị chàng con mọn” làm cho bẽ mặt, cai lệ và tên ngưòi nhà lí trưởng còn hùng hổ, dữ tợn, tay gậy, tay thước doạ nạt chị. Lúc đó, chúng hung hăng bao nhiêu thì giờ đây chúng thảm bại, tơi tả bấy nhiêu. Trong vài dòng miêu tả, Ngô Tất Tô đã thực hiện việc mở nút “vở kịch” của mình một cách “tuyệt khéo”: các hành động dồn dập nhưng không rối, trái lại, rất rõ nét, đầy đủ, không thừa, không thiếu. Nhờ thế, Ngô Tất Tô” đã “làm cho độc giả hả hê một chút sau khi đọc những trang rất buồn thảm” (Vũ Ngọc Phan). Đó là sự hả hê khi được chứng kiến sự thất bại thảm hại của cái xấu, cái ác trong xã hội xưa.

    Chúng ta cũng không thể không nói đến nghệ thuật xây dựng nhân vật qua việc khắc hoạ diễn biến tâm lí rất tiêu biểu của Ngô Tất Tô trong đoạn văn này. Thái độ, tâm trạng, kéo theo hành động của chị Dậu thay đổi từ chỗ dịu dàng, nhún nhường, nín nhịn, lễ phép, thậm chí quỵ luỵ đến chỗ cứng cỏi, đanh thép và cuôì cùng là quyết liệt, ghê gớm. Diễn biến ấy được miêu tả chân thực, sinh động và hợp lôgíc. Nó khiến cho tính cách nhân vật trở nên đa dạng mà vẫn nhất quán, giàu tính hiện thực.

    Như vậy, với sự tài tình trên mọi phương diện (nghệ thuật xây dựng nhân vật, nghệ thuật tao dựng tình huống, ngôn ngữ…), Ngô Tất Tô đã rất thành công trong đoạn trích này nội riêng và trơng tiểu thuyêt “Tắt đèn” nói chung. Đến đây, có thể khẳng định rằng lòi nhận xét của Vũ Ngọc Phan về đoạn văn là hoàn toàn xác đáng.

    6. Câu hỏi 6 (SGK, trang 33)

    Giải thích nhận xét của Nguyễn Tuân trước khi đi vào chứng minh. Đặt tác phẩm trong bối cảnh ra đòi để hiểu hơn ý nghĩa “xui người nông dân nổi loạn” của tiểu thuyết này.

    Như Nguyễn Tuân đã nhận xét, vối tác phẩm “Tắt đèn”, Ngô Tất Tô” đã “xui ngưòi nông dân nổi loạn”. Điều đó có nghĩa là khẳng định giá trị hiện thực và khả năng tác động mạnh mẽ của tác phẩm này. Với cuốn tiểu thuyết của mình, Ngô Tất Tố đã phơi bày bộ mặt xấu xa, đê tiện của bọn địa chủ, cường hào ác bá; đã chỉ ra cho người nông dân thấy rằng cuộc sông của họ đã khổ quá rồi và họ chỉ còn cách phải đấu tranh, không thể chịu đựng hơn được nữa; đồng thòi nhắc họ rằng trong con người họ đang tiềm tàng một sức mạnh ghê gớm cần được phát huy.

    Chỉ riêng đoạn trích “Tức nước vỡ bờ” cũng bao hàm đầy đủ những giá trị đó.

    Qua tình huống giằng co giữa một bên là gia đình chị Dậu nghèo xác xơ, không có tiền đóng thuế, đang bị đẩy đến bước đường cùng với một bên là những kẻ đốc thúc, thu thuế cho bằng được; tác giả đã phơi bày bộ mặt tàn ác, bất nhân của bọn tay sai nói riêng, của chế độ xã hội đương thời nói chung. Đọc lên, chúng ta không thể không căm giận trước cái ác nghiễm nhiên hoành hành như thế. Bên cạnh đó, tình cảnh khổ sở của gia đình chị Dậu không chỉ khơi gợi niềm cảm thương mà chắc chắn còn khiến độc giả thời đó tự nhìn nhận, ý thức sâu sắc hơn nữa cảnh ngộ của chính mình hay những người xung quanh mình. Quan trọng hơn cả, bằng hành động phản kháng quyết liệt của chị Dậu và sự chiến thắng của chị, tư thế của chị; tác giả đã khẳng định một chân lí cuộc sông “Tức nước vỡ bờ”, đã dự báo xu thế đấu tranh tất yếu của ngưòi dân bị áp bức. Đồng thời, khẳng định sức mạnh tiềm tàng của họ. Một khi người ta đã ý thức được nỗi khổ của mình, ý thức được nguyên nhân nỗi khổ, ý thức được vũ khí, sức mạnh mà họ có, lẽ đương nhiên người ta sẽ đấu tranh. Nói Ngô Tất Tô” đã “xui người nông dân nổi loạn”, chính là vì thế!

    Giá trị đặc sắc hơn cả của “Tắt đèn” là ở chỗ đã xây dựng được một điển hình chân thực, đẹp đẽ, khoẻ mạnh về ngưòi phụ nữ nông dân lao động. Qua nhân vật chị Dậu, tác giả không những thấu hiểu nỗi thông khổ của ngưòi nông dân bị áp bức bóc lột mà còn khang định phẩm chất đẹp đẽ ỏ họ, không gì có thể vùi dập. Tác phẩm có những trang thật cảm động, miêu tả nỗi lòng người mẹ, người vợ của chị Dậu. Chị còn là một phụ nữ lao động đảm đang, tháo vát, thông minh. Sống trong nghèo khổ, chị vẫn có một ý thức về nhân phẩm trong trắng mà mạnh mẽ, tiền tài không thể làm vẩn đục, bạo lực không thể khuất phục. Chị Dậu rất mực dịu hiền nhưng không hề yếu đuôi. Khi cần, chị phản kháng dũng cảm, thể hiện một sức sống kiên cường, bất khuất của người nông dân Việt Nam.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Chị Dậu Trong Đoạn Trích “tức Nước Vỡ Bờ”.
  • Viết Đoạn Văn Thể Hiện Cảm Nhận Của Em Khi Đọc Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ
  • Em Hãy Tóm Tắt Và Soạn Thảo Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ
  • Nêu Ý Nghĩa & Tóm Tắt Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ
  • Tóm Tắt Tức Nước Vỡ Bờ Hay, Ngắn Nhất (6 Mẫu).
  • Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ”

    --- Bài mới hơn ---

  • Nêu Ý Nghĩa & Tóm Tắt Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ / Tắt Đèn Ngô Tất Tố
  • Nêu Ý Nghĩa Của Tiêu Đề Tức Nước Vỡ Bờ
  • Soạn Bài: Tức Nước Vỡ Bờ (Siêu Ngắn)
  • Viết Đoạn Văn Suy Nghĩ Về Vẻ Đẹp Người Phụ Nữ Xưa Qua Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ”
  • Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Chị Dậu Trong Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Nhớ lại, đúng là tội thật. Bọn cường hào, ác bá ngày đó lộng hành quá, chúng hạch sách, sách nhiễu người dân đủ điều. Sưu cao thuế nặng và bao nhiêu thứ oan khiên khác cứ mặc tình mà đổ xuống đầu những người nông dân hiền lành, chất phác, và nghèo đến cực cùng. Ca dao Việt Nam có câu:

    Con ơi nhớ lấy lời này,

    Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan.

    Không có gì ******** hơn và đáng lên án hơn khi mà chính chúng – những tên quan tham ô lại – thay vì làm nhiệm vụ “dân chi phụ mẫu” (đối xử với dân như bậc cha mẹ lo cho con cái) thì chúng lại lợi dụng chức quyền của mình để bòn rút những đồng tiền vốn đã còm cõi của những người nông dân chân lấm, tay bùn, suốt tháng quanh năm bán lưng cho trời, bán mặt cho đất.

    Cướp! Chúng cướp hết! Bằng đủ mọi hình thức. Chị Dậu chạy đôn, chạy đáo bán tất cả mọi thứ mới đủ nộp suất thuế thân cho chồng, lại bị chúng buộc đóng thêm suất thuế cho người chết. Chết rồi mà vẫn phải đóng thuế! Nỗi oan rành rành ra đó mà chẳng thể nào giải được. Bao lần lên phủ, lên huyện ăn chực, nằm chờ để kêu oan, nhưng có ai nghe đâu mà kêu với réo. Chị quay về mái nhà tranh nhìn người chồng đã bị bọn chúng đánh đập dã man đến mang bệnh mà cảm thấy bất lực, không biết làm sao để thoát ra khỏi được cái bế tắc của cuộc đời mình.

    Và đấy là đoạn mà giọng thầy đã nghẹn lại, gần như khóc: Đến người bệnh chúng cũng chẳng tha, nhà chị đã trống quơ, trống hoác, chẳng còn lại gì, mà một lũ ác ôn đầu trâu, mặt ngựa vẫn cứ nhất quyết xông vào để vơ vét. Cái hình ảnh cả một bọn cai lệ hung hãn, hách dịch, ỷ đông hè nhau xông vào để trấn áp một chị nông dân cô lẻ đã làm bật lên những tiếng thét gào cùng cực cho những phận người quá rẻ rúng, đã trót sống phải nhằm thời kỳ mạt vận, khi mà bọn cường quyền gian ác cấu kết với nhau và không từ bất cứ thủ đoạn nào để vơ vét làm giàu trên những cái xác khô cằn của đồng loại.

    Con giun xéo mãi cũng quằn. “Tức nước” ắt “vỡ bờ”. Người đàn bà lực điền ấy, cuối cùng, nghiến chặt hai hàm răng lại và bật lên tiếng thách thức đầy phẫn nộ: “Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem”. Rồi chị túm cổ tên cai lệ ấn giúi ra phía cửa. “Đó là một kết cuộc tất yếu cho mọi đè ép, bất công quá mức trong cuộc đời này.” Tôi vẫn còn nhớ đó là câu nói sau cùng thầy nói trước khi trao trả bài luận viết lại cho tôi. Sự bất mãn và tức giận vẫn còn hằn sâu trên gương mặt thầy. Thầy tôi vốn nhân hậu. Thầy nói thầy không chịu đựng nỗi khi phải nghe, phải nhìn thấy cảnh con người cùng chung nguồn cội lại nỡ lòng nào ức hiếp lẫn nhau.

    Lâu quá rồi tôi đã không còn biết tin gì về thầy nữa, không biết thầy còn sống hay đã chết. Lần gặp thầy lần cuối là một kỷ niệm buồn. Lần đó, tôi trở về thăm quê khi vừa hoàn thành xong chương trình đại học và trở thành một đồng nghiệp của thầy. Vừa bước vào một quán cà phê, tôi ngỡ ngàng nhận ra thầy đang ngồi ở một góc quán với một bàn vé số kế bên: thầy đang bán vé số. Trên người thầy vẫn là bộ quần áo thầy đã mặc khi đứng trên bục giảng hơn bảy năm về trước, giờ đây đã sờn vai, bạc màu. Thầy tôi đó sao? Tôi như không tin vào mắt mình. Chưa kịp bật lên hai tiếng “thầy ơi”, tôi đã bắt gặp ánh mắt thầy ngượng ngùng lẫn tránh. Đó là lần cuối cùng tôi gặp thầy. Một vài năm sau, tôi có việc gấp, phải rời quê hương.

    Ngày ấy thầy có dạy chúng tôi: “Chúng ta đang sống trong một xã hội mới mà mọi thứ đều là của chung, mọi thứ đều phải được sung vào công quĩ.” Nhớ lại lời thầy dạy, tôi bỗng đâm lo cho thầy: Không biết sau khi tôi đi rồi, cái bàn vé số kiếm sống qua ngày của thầy có được sung vào công quĩ không? Nếu có thì rồi thầy lấy gì mà sống. Càng nghĩ tôi càng đâm lo và tự trách mình đã không thể liên lạc được với thầy trong chừng ấy năm.

    Đã hơn hai mươi năm qua trôi qua, bất chợt nhớ thầy, tôi lại nhớ về chị Dậu, nhớ về “Tức Nước Vỡ Bờ”.

    Người ta nói: “Con người không thể nào tắm hai lần trên cùng một dòng nước chảy”. Câu ấy có nghĩa là lịch sử thường không lặp lại. Thế mà, sao tôi lại nhìn thấy bóng dáng của những người nông dân khốn khổ, đáng thương của một thế kỷ trước lại mơ hồ vương vất trên những cánh đồng hôm nay của Văn Giang, của những vùng đất trải dài từ Nam ra Bắc? Những oan hồn nào đã không thể siêu sinh? Định mệnh nào lại nghiệt ngã đến thế với những người con dân Việt?

    Ngày xưa và ngày nay tưởng rằng là xa thế nhưng xét cho cùng, vẫn nằm trên cùng một dòng trục thời gian, mà ngày xưa ở đầu kia xa lắc, còn ngày nay ở đầu phía bên này của hiện thực. Tôi đứng ở đầu này của dòng thời gian, nhớ thầy, nhớ lại những gì thầy đã dạy: “Con giun xéo mãi cũng quằn, tức nước ắt vỡ bờ.” Vâng, em tin như thế, thầy ơi! Nhất định phải là như thế. Và em ước một lần nữa được nhìn lại gương mặt thỏa nguyện của thầy khi thầy cất cao câu nói của chị Dậu: “Mày trói ngay chồng bà đi, bà cho mày xem”.

    thanks nhiu nka kaka

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thuyết Minh Về Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Bài Soạn Lớp 8:tức Nước Vỡ Bờ
  • Phân Tích Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Kiểm Tra 15 Phút Học Kì 1 Ngữ Văn 8: Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ Được Trích Từ Tác Phẩm Nào, Của Ai?
  • Soạn Bài “tức Nước Vỡ Bờ” Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Ý Nghĩa Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Ý Nghĩa Nhan Đề Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Ý Nghĩa Nhan Đề Tức Nước Vỡ Bờ
  • Dàn Ý Phân Tích Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Dàn Ý Phân Tích Chi Tiết Tác Phẩm Tức Nước Vỡ Bờ
  • Em Hãy Tóm Tắt Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ
  • Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội 1975 1986 Nước Xây Dự, Tiểu Luận Nhà Nước Xhcn Và Vấn Đề Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Hiện Nay, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Tiểu Luận Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Vấn Đề Phát Huy Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Nước Ta Hiện Nay, Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Vấn Đề Phát Huy Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Nước Ta Hiện Nay, Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội 1975 1986 Nước Xây Dự, Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Xây Dựng Chủ Nghĩa ở Nước Ta, Chủ Nghĩa Mác Về Vấn Đề Nhà Nước, Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ, Định Nghĩa Yêu Nước, ý Nghĩa Của Quy Định Bán Tài Sản Nhà Nước, Bài Thu Hoạch Chủ Nghĩa Yêu Nước, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Nhà Nước, Định Nghĩa Nhà Nước, Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Nhân Dân Xây Dựng, Định Nghĩa Lòng Yêu Nước, ý Nghĩa Quá Trình Thoát Hơi Nước ở Lá, Định Nghĩa ô Nhiễm Nước, ý Nghĩa Của Thủ Tục Hành Chính Nhà Nước, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước, Bài Thu Hoạch Chủ Nghĩa Yêu Nước Việt Nam, Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Hiện Nay, ý Nghĩa Câu Thơ Nao Nao Dòng Nước Uốn Quanh, Semina Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Quá Trình Thoát Hơi Nước, Cgiáo Dục Chủ Nghĩa Yêu Nước Việt Nam, ý Nghĩa Của Lập Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước, Định Nghĩa Uống Nước Nhớ Nguồn, Bản Chất Và Chứac Năng Của Nhà Nước Chủ Nghĩa Xã Hội, Định Nghĩa ô Nhiễm Môi Trường Nước, Quan Điểm Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Nhà Nước, Bộ Luật Dân Sự Của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Lịch Sử Nghiên Cứu Vấn Đề Về Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xẫ Hội, Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ý Nghĩa Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Em Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn, Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở Cấp Huyện, Cương Lĩnh Xây Dựng Đất Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Chủ Nghĩa Xã Hội, Cương Lĩnh Xây Dựng Đất Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Con Đường Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Nước Ta, Cương Lĩnh Xây Dựng Đất Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội (b, Tiểu Luận Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Giá Trị ý Nghĩa Lịch Sử Và Tầm Vóc Thời Đại Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước, Bộ Luật Hình Sự Hiện Hành Của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Đư, Tư Tưởng Của Lênin Về Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước Trong Tác Phẩm Bàn Về Thuế Lương Thực, Bộ Luật Kinh Tế Được Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Thông Qua Năm Nào, Phân Tích Tiền Đề Lý Luận, Giá Trị Đặc Sắc Và ý Nghĩa Của Tư Tưởng Mác, ăngghen, Lênin Về Nhà Nước., Giá Trị, ý Nghĩa Lịch Sử Và Tầm Vóc Thời Đại Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước; Đường Lối Cách , Vai Trò Chức Năng Của Nhà Nước Trong Quản Lý Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa, Giá Trị, ý Nghĩa Lịch Sử Và Tầm Vóc Thời Đại Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước; Đường Lối Cách, Cương Lính Xây Dựng Dất Nước Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội Khang, Tư Tưởng Của Lênin Về Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước Trong Tác Phẩm Bàn Về Thuế Lương Thực Việc Vận Dụng , Tư Tưởng Của Lênin Về Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước Trong Tác Phẩm Bàn Về Thuế Lương Thực Việc Vận Dụng, Giải Quyết Tranh Chấp Giữa Nhà Đầu Tư Nước Ngoài Và Nhà Nước Việt Nam, Đề án Đào Tạo Bồi Dưỡng Cán Bộ Lãnh Đạo Quản Lý ở Nước Ngoài Bằng Ngân Sách Nhà Nước, Quy Chuẩn Bắt Buộc Đánh Giá Chất Lượng Nước Sau Lọc Từ Máy Lọc Nước Tại Việt Nam Là Gì, Đề Tài: Vấn Đềnâng Cao Vị Trí Vai Trò Trung Tâm Của Nhà Nước Trong Hệ Thống Chính Trị Của Nước Ta, Quy Phạm Quan Trắc Mực Nước Và Nhiệt Độ Nước Sông, Sự Cần Thiết Xây Dựng Giá Dịch Vụ Thoát Nước Và Xử Lý Nước Thải, Báo Cáo Tình Hình Xả Nước Thải Vào Nguồn Nước, ý Nghĩa Phương Pháp Luận Của Định Nghĩa Vật Chất Của Lênin, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác-lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng Của Đảng, Lý Luận Chủ Nghĩa Tư Bản Độc Quyền Và ý Nghĩa Trong Việc Hình Thành Cộng Đồng Asean, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Phạm Trù Vật Chất, Quan Niệm Của Chủ Nghĩa Duy Tâm Và Chủ Nghĩa Duy Vật Trước Mác Về Vật Chất Có Những Hạn Chế Nào, Luật Nghĩa Vụ Và Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ-bản án Và Bình Luận Bản án, Bài Tập Chuyên Đề Câu Đồng Nghĩa Trái Nghĩa Trích Từ Đề Thi Thử 2022, Gdp Danh Nghĩa Của Năm 2003 Lớn Hơn Gdp Danh Nghĩa Của Năm 2002 Có Nghĩa Là, Mẫu Báo Cáo Xả Nước Thải Vào Nguồn Nước, Đầu Nước Nước Ngoài ở Việt Nam, Quan Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lê Nin Về Xây Dựng Nền Văn Hóa Mới Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Mối Quan Hệ Giữa Cặp Từ Trái Nghĩa, ý Nghĩa Cương Lĩnh Dân Tộc Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Độc Lập Dân Tộc Gắn Liền Với Chủ Nghĩa Xã Hội Và Con Đường Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Việt Nam, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Thực Tiễn Của Chủ Nghĩa Mác Lênin, Luật Nghĩa Vụ Dân Sự Và Bảo Đảm Thực Hiện Nghĩa Vụ Dân Sự, Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Xây Dựng Nền Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm Tiết 2, ý Nghĩa Của Việc Học Chủ Nghĩa Mác Lênin, Nội Dung ý Nghĩa Bài Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác, Chủ Nghĩa Mác Lênin Việt Nam Là Chủ Nghĩa Mác Lê Nin, Định Nghĩa Nhân Nghĩa, Bài Thu Hoạch Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Là Gì? Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Về Dân Tộc Thiểu Số Cần, Bài Thu Hoạch Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Là Gì? Quản Lý Nhà Nước Về Văn Hóa Về Dân Tộc Thiểu Số Cần, ý Nghĩa ý Nghĩa Của Việc Thực Hiện Các Nguyên Tắc Phòng Chống ồn Bố Đối Với Công Tác Phòng Chống Bụ, ý Nghĩa ý Nghĩa Của Việc Thực Hiện Các Nguyên Tắc Phòng Chống ồn Bố Đối Với Công Tác Phòng Chống Bụ, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Chủ Nghĩa Xã Hội, ý Nghĩa Chủ Nghĩa Mác Lênin, ý Nghĩa Học Tập Chủ Nghĩa Mác Lênin, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Đạo Hàm, ý Nghĩa Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc, Định Nghĩa Và ý Nghĩa Của Đạo Hàm,

    Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội 1975 1986 Nước Xây Dự, Tiểu Luận Nhà Nước Xhcn Và Vấn Đề Xây Dựng Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa ở Việt Nam Hiện Nay, Quán Điểm Của Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Bản Chất Chức Năng Của Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Và Sự Vận Dụng, Tiểu Luận Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Vấn Đề Phát Huy Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Nước Ta Hiện Nay, Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Vấn Đề Phát Huy Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa ở Nước Ta Hiện Nay, Tiểu Luận Lịch Sử Đảng Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xã Hội 1975 1986 Nước Xây Dự, Dân Chủ Xã Hội Chủ Nghĩa Và Xây Dựng Chủ Nghĩa ở Nước Ta, Chủ Nghĩa Mác Về Vấn Đề Nhà Nước, Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ, Định Nghĩa Yêu Nước, ý Nghĩa Của Quy Định Bán Tài Sản Nhà Nước, Bài Thu Hoạch Chủ Nghĩa Yêu Nước, Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Nhà Nước, Định Nghĩa Nhà Nước, Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Nhân Dân Xây Dựng, Định Nghĩa Lòng Yêu Nước, ý Nghĩa Quá Trình Thoát Hơi Nước ở Lá, Định Nghĩa ô Nhiễm Nước, ý Nghĩa Của Thủ Tục Hành Chính Nhà Nước, ý Nghĩa Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Nhà Nước, Bài Thu Hoạch Chủ Nghĩa Yêu Nước Việt Nam, Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa Hiện Nay, ý Nghĩa Câu Thơ Nao Nao Dòng Nước Uốn Quanh, Semina Tổ Chức Bộ Máy Nhà Nước Xã Hội Chủ Nghĩa, ý Nghĩa Quá Trình Thoát Hơi Nước, Cgiáo Dục Chủ Nghĩa Yêu Nước Việt Nam, ý Nghĩa Của Lập Dự Toán Ngân Sách Nhà Nước, Định Nghĩa Uống Nước Nhớ Nguồn, Bản Chất Và Chứac Năng Của Nhà Nước Chủ Nghĩa Xã Hội, Định Nghĩa ô Nhiễm Môi Trường Nước, Quan Điểm Chủ Nghĩa Mác Lênin Về Nhà Nước, Bộ Luật Dân Sự Của Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Lịch Sử Nghiên Cứu Vấn Đề Về Lãnh Đạo Cả Nước Xây Dựng Và Bảo Vệ Chủ Nghĩa Xẫ Hội, Hiến Pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ý Nghĩa Khái Niệm Ngân Sách Nhà Nước, Em Hãy Giải Thích ý Nghĩa Của Câu Tục Ngữ Uống Nước Nhớ Nguồn, Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ở Cấp Huyện, Cương Lĩnh Xây Dựng Đất Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Chủ Nghĩa Xã Hội, Cương Lĩnh Xây Dựng Đất Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội, Lý Luận Hình Thái Kinh Tế – Xã Hội Với Con Đường Đi Lên Chủ Nghĩa Xã Hội ở Nước Ta, Cương Lĩnh Xây Dựng Đất Nước Trong Thời Kỳ Quá Độ Lên Chủ Nghĩa Xã Hội (b, Tiểu Luận Đặc Trưng Của Nhà Nước Pháp Quyền Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Giá Trị ý Nghĩa Lịch Sử Và Tầm Vóc Thời Đại Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước, Bộ Luật Hình Sự Hiện Hành Của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Đư, Tư Tưởng Của Lênin Về Chủ Nghĩa Tư Bản Nhà Nước Trong Tác Phẩm Bàn Về Thuế Lương Thực, Bộ Luật Kinh Tế Được Quốc Hội Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Thông Qua Năm Nào, Phân Tích Tiền Đề Lý Luận, Giá Trị Đặc Sắc Và ý Nghĩa Của Tư Tưởng Mác, ăngghen, Lênin Về Nhà Nước., Giá Trị, ý Nghĩa Lịch Sử Và Tầm Vóc Thời Đại Của Cuộc Kháng Chiến Chống Mỹ Cứu Nước; Đường Lối Cách ,

    --- Bài cũ hơn ---

  • Nội Dung Và Ý Nghĩa Của Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ
  • Phân Tích Nghệ Thuật Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Trong Tác Phẩm Tắt Đèn Của Nhà Văn Ngô Tất Tố
  • Phân Tích Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Trong Tác Phẩm Tắt Đèn Của Ngô Tất Tố
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ
  • Ngữ Văn 8: Đọc Hiểu Tác Phẩm “tức Nước Vỡ Bờ”
  • Tóm Tắt Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ”
  • Qua Hai Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ Và Lão Hạc, Chứng Minh Rằng Mặc Dù Gặp Nhiều Đau Khổ Bất Hạnh, Người Nông Dân Trước Cách Mạng Tháng Tám Vẫn Giữ Trọn Những Phẩm Chất Tốt Đẹp Của Mình
  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ Của Ngô Tất Tố
  • Soạn Bài: Tức Nước Vỡ Bờ
  • Nêu Chủ Đề Và Bố Cục Chính Của Văn Bản”tức Nước Vỡ Bờ” Các Bạn Giúp Mình Với Ạ,mai Mình Có Văn Rồi, Mình Đang Cần Gấp Ạ. Cảm Ơn Các Bạn Nhiều Ạ!!!
  • Tóm tắt văn bản tức nước vỡ bờ của Ngô Tất Tố lớp 8 ngắn gọn trong khoảng 10 dòng. Tài liệu giúp cho các em học sinh nắm được nội dung chính của đoạn trích Tức nước vỡ bờ. Ngoài ra đây còn là tài liệu tham khảo hay dành cho quý thầy cô phục vụ quá trình giảng dạy của mình. Mời các bạn cùng tham khảo.

    Tóm tắt văn bản tức nước vỡ bờ

    Tóm tắt văn bản tức nước vỡ bờ – Bài tóm tắt 1

    Được bà lão hàng xóm cho vay chút gạo chị Dậu liền nấu cháo cho anh Dậu ăn. Chị vừa múc bát cháo bưng lên cho chồng, anh Dậu còn chưa kịp ăn thì tên cai lệ và người nhà lí trưởng xông vào đòi bắt trói. Ban đầu, chị Dậu vừa lo lắng cho chồng, vừa sợ hãi trước hành động cử chỉ của đám tay sai đã rất thiết tha van nài các “ông” tha cho chồng “cháu”. Nhưng lũ đầu trâu mặt ngựa vẫn hung hăng lao vào bắt trói anh Dậu. Nỗi tức tối đã chiến thắng nỗi sợ hãi, chị Dậu cãi lí: chồng tôi đau ốm các ông không được bắt. Những tưởng lí do rất chính đáng đó có thể ngăn cản hành vi mất hết nhân tính của bọn cai lệ và người nhà lí trưởng nhưng vô hiệu. Bị bọn chúng đánh lại, chị Dậu uất ức vùng lên thách thức: “Mày trói chồng bà, bà cho mày xem” và quật ngã cả hai tên tay sai.

    Tóm tắt văn bản tức nước vỡ bờ – Bài tóm tắt 2

    Gia đình anh Dậu nghèo khổ không có tiền nộp sưu. Anh Dậu vì thiếu sưu mà bị lôi ra đình đánh đập và khi được trả về chỉ còn là một thân xác rũ rượi. Đươc bà hàng xóm cho bát gạo, chị Dậu nấu cháo cho anh Dậu ăn. Nhưng anh chưa kịp ăn thì tên cai lệ và người nhà lí trưởng đến đòi sưu. Chị Dậu van xin chúng tha cho anh Dậu nhưng chúng không nghe mà còn đánh chị và sấn đến định trói anh Dậu mang đi. Quá phẫn nộ, chị đã liều cự lại và chống trả quyết liệt, quật ngã hai tên tay sai.

    Tóm tắt văn bản tức nước vỡ bờ – Bài tóm tắt 3

    Giai đình chị Dậu là một gia đình nghèo khó sống ở thôn Đoài. Đến ngày sưu thuế thì chị phải chạy vạy khắp nơi để đóng thuế sưu cho anh Dậu. Vì đóng sưu chậm nên anh Dậu bị điệu ra đình và bị bọn cai lệ đánh như chết đi sống lại. Ngày sau chúng trả anh về cho chị Dậu, thấy chồng bị đánh đập chị Dậu lo kiếm bát cháo cho anh ăn đỡ đói, anh Dậu chưa kịp ăn thì bọn cai lệ và người nhà lí trưởng lại xông vào nhà. Bọn chúng mặt hầm hè đằng đằng sát khí vào nhà chị đòi thêm tiền sưu của chú Hợi đã chết từ lâu. Túng quá chị Dậu không đủ tiền đóng đành năn nỉ chúng thế mà bọn chúng vẫn không cho khất còn xông tới đòi đánh anh Dậu. Thương chồng và chịu không nổi cái tính của bọn cai lệ chị Dậu liều mạng đánh chúng một trận tả tơi.

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • 5 Mẫu Tóm Tắt Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Của Ngô Tất Tố, Ngắn Gọn, Tuy
  • Tóm Tắt Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ Đầy Đủ Nhất
  • Hóa Thân Vào Nhân Vật Chị Dậu Kể Lại Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Ôn Tập Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ”
  • Đóng Vai Chị Dậu Kể Lại Cảnh Trong Đoạn Tức Nước Vỡ Bờ Theo Ngôi Thứ Nhất
  • Ôn Tập Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ”

    --- Bài mới hơn ---

  • Hóa Thân Vào Nhân Vật Chị Dậu Kể Lại Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Tóm Tắt Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ Đầy Đủ Nhất
  • 5 Mẫu Tóm Tắt Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Của Ngô Tất Tố, Ngắn Gọn, Tuy
  • Tóm Tắt Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ”
  • Văn bản: Tức nước vỡ bờ

    (Trích Tắt đèn – Ngô Tất Tố)

    I. Tác giả:

    – Ngô Tất Tố (1893 – 1954) quê quán Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thủơ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, đỗ đầu kì thi khảo hạch vùng Kinh Bắc, được ái mộ gọi là “Đầu xứ Tố”. Khi nền Hán học suy tàn, ông tự học chữ Quốc ngữ, và học tiếng Pháp. ông trở thành một nhà văn, một nhà báo, nhà dịch thuật và khảo cứu nổi tiếng.

    – Ngô Tất Tố là một “tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho” (Vũ Trọng Phụng). Ông đã đứng về phía nhân dân, bênh vực những người nghèo khổ, vạch mặt bọn địa chủ, cường hào và quan lại tham lam độc ác và thối nát đã áp bức, bóc lột nhân dân một cách vô cùng dã man. ông là một tấm gương sáng về tinh thần tự học, vươn lên cho tuổi trẻ chúng ta noi theo.

    – Tác phẩm chính: tiểu thuyết “Tắt đèn”; “Lều chõng”; Phóng sự “Việc làng”

    II. Đoạn trích: “Tức nước vỡ bờ”

    1. Nhan đề đoạn trích : (Thành ngữ “Tức nước vỡ bờ” được dùng đặt tên cho văn bản như vậy có ý nghĩa gì?)

    – “Tức nước vỡ bờ” (con giun xéo lắm cũng quằn, già néo đứt dây) là một thành ngữ dân gian. “Tức” chỉ trạng thái bên trong bị dồn nén đầy chặt quá đến mức muốn bung ra. Câu thành ngữ có ý nghĩa chỉ sự chèn ép, áp bức quá sẽ khiến người ta phải vùng lên chống đối phản kháng lại. Câu thành ngữ nêu lên một quy luật của tự nhiên mà lại có ý nghĩa xã hội sâu sắc, thâm thuý vô cùng.

    – Người biên soạn đã vận dụng cách nói dân gian ngắn gọn, rất thông minh ấy để đặt tên cho chương XVIII của cuốn tiểu thuyết “Tắt đèn” giúp người đọc có sự định hướng ban đầu rõ rệt về tình huống hấp dẫn của truyện, về những hình tượng nhân vật sống động, điển hình.

    – Nhan đề ấy cũng thật phù hợp với nội dung ý nghĩa của đoạn trích. Sự áp bức trắng trợn, dã man của bọn tay sai cho chế độ thực dân phong kiến ấy đã buộc người phụ nữ nông dân đầy nhẫn nhịn như chị Dậu phải “vỡ bờ” đứng dậy đấu tranh.

    – Song nhan đề đoạn trích còn toát lên chân lí: con đường sống của quần chúng bị áp bức chỉ có thể là con đường đấu tranh để tự giải phóng, không có con đường nào khác. Vì vậy mà tuy tác giả “Tắt đèn” khi đó chưa giác ngộ Cách mạng, tác phẩm kết thúc rất bế tắc nhưng nhà văn Nguyễn Tuân đã nói rằng: “Với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn”. Ngô Tất Tố chưa nhận thức được chân lí Cách mạng nên chưa chỉ ra được con đường đấu tranh tất yếu của quần chúng bị áp bức, nhưng bằng cảm quan hiện thực mạnh mẽ, nhà văn đã cản nhận được xu thế “tức nước vỡ bờ” và sức mạnh to lớn khôn lường của sự “vỡ bờ” đó. Và không phải quá lời nếu cho rằng cảnh ”

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đóng Vai Chị Dậu Kể Lại Cảnh Trong Đoạn Tức Nước Vỡ Bờ Theo Ngôi Thứ Nhất
  • Em Thử Đóng Vai Chị Dậu Và Kể Lại Cảnh Diễn Ra Trong Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ (Trong Tắt Đèn) Theo Ngôi Thứ Nhất.
  • Hãy Tưởng Tượng Mình Là Chị Dậu Và Kể Lại Cảnh Tức Nước Vỡ Bờ (Trong Tắt Đèn) Theo Ngôi Thứ Nhất
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Tức Nước Vỡ Bờ
  • Kể Lại Tức Nước Vỡ Bờ Theo Ngôi Thứ Nhất
  • Suy Nghĩ Về Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Chị Dậu Trong Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Của Ngô Tất Tố
  • Phan Tích Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ” (Trích Tiểu Thuyết Tắt Đèn Của Ngô Tất Tố)
  • Tức Nước Vỡ Bờ (Trích Tắt Đèn)
  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ (Trích Tắt Đèn) Trang 28 Sgk Ngữ Văn 8
  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ (Trích Tắt Đèn) Siêu Ngắn
  • Ngô Tất Tố là một trong những nhà văn hiên thực phê phán nổi tiếng nhất thời kì cách mạng. các tác phẩm của ông luôn đi liền với hình ảnh những người nông dân khốn khổ, luôn bị bóc lột, bị áp bức mà không thể tìm ra được lối thoát. Và nhắc tới ông, có lẽ chúng ta sẽ được nghe đầu tiền là tác phầm “tắt đèn”. Và trong tác phẩm , phân đoạn ” tức nước vỡ bờ” là một trong những đoạn văn gây nhiều xúc động và có ý nghĩa nhất trong lòng người đọc.

    Tác giả lấy đề tài từ vụ thuế hàng năm ở những làng quê Bắc Bộ, với những hình ảnh như in đậm vào tâm trí của người đọc, hiện lên số phận bi thảm của những người phụ nữ nói chung và những người nông dân nói riêng cùng bản chất của giai cấp thống trị trong xa hôi đương thời. Đó là tình cảnh của người nông dân “một cổ hai tròng” khi vừa chịu ách bóc lột của những kẻ tàn dư phong kiến còn sót lại, vừa của những kẻ đi theo thực dân pháp, bán đứng tổ quốc. Trong tác phẩm, tác giả đã sử dụng ngòi bút hiện thực để vẽ nên chân dung của hàng loạt những nhân vật ở trong tác phẩm. Điển hình cho những kẻ áp bức con người là vợ chồng Nghị Quế, luôn lợi dụng tình cảnh của những con người đang gặp khó khăn nhằm trục lợi hay những bọn tay sai cường hào tuy chỉ là những kẻ làm thuê nhưng chúng lại không biết thương yêu những người đồng loại vất vả mà lại chỉ biết áp bức những người nông dân tay không tấc sắt. đó chính là những con người đại diện tầng lớp tiêu biểu phong kiến tàn dư của xã hội. Ngoài ra, tác giả còn rất khéo léo xây dựng hình tượng vô cùng kiên cường mà cũng đầy cảm động về hình ảnh của chị Dậu- một người phụ nữ luôn hết lòng chăm lo cho chồng cho con mà không nghĩ cho mình bao giờ. Tốt đẹp là thế nhưng họ luôn phải chịu sự áp bức từ kẻ khác. Họ cũng không có cách nào để phản kháng hoàn toàn bởi chính họ còn không biết làm cách nào thoát ra khỏi vũng lầy Mở đầu là cảnh chị Dậu chăm sóc người chồng ốm yếu vừa bị bọn hào lí trong làng đánh đập dã man chỉ vì thiếu tiền nộp sưu. Chị Dậu đã cô gắng hết sức để cứu chồng nhưng cuối cùng anh Dậu vẫn không tránh được sự bắt bớ, hành hạ. Có thấy được tình thương yêu chổng con sâu sắc của chị Dậu, ta mới hình dung được sự dũng cảm quên mình của chị. Chị tất tả chạy ngược chạy xuôi, vay được nắm gạo nấu nồi cháo loãng. Cảm động thay là cảnh chị Dậu múc cháo ra mấy cái bát cũ kĩ, sứt mẻ và quạt cho cháo mau nguội rồi ân cần mời mọc: Thầy em cố dậy húp tí cháo cho đỡ xót ruột. Trong ánh mắt và giọng nói của người vợ nghèo khổ ấy toát lên một tình cảm tha thiết đến nao lòng.

    Chị Dậu đã trở thành trụ cột của cái gia đình đang quẫn bách khốn khổ vì sưu, vì thuế. Chồng bị đánh đập, gông cùm. Một tay chị chèo chống, chạy vạy, phải bán tất cả những gì có thể bán được, kể cả đứa con gái đầu lòng ngoan ngoãn, hiếu thảo mà chị thương đứt ruột để lấy tiền nộp sưu, cứu chồng khỏi vòng tù tội. Chị đã phải đổ bao mồ hôi nước mắt để anh Dậu được trả tự do trong tình trạng tưởng như chỉ còn là một cái xác không hồn. Giữa lúc anh Dậu vừa bưng bát cháo kề vào miệng thì cai lệ và người nhà lí trưởng đã sầm sập sấn vào với những roi song, tay thước và dây thừng, hò hét bắt anh phải nộp tiền sưu. Quá khiếp đảm, anh Dậu đã lăn đùng ra không nói được câu gì, chỉ còn chị Dậu một mình phải đối phó với những kẻ độc ác, luôn đòi ra tay với vợ chồng chị.

    Ban đầu, khi bọn chúng ập vào định lôi anh Dậu đi nhưng chưa hành hung mà chỉ chửi bới, mỉa mai, đe dọa thì chị Dậu vẫn nhũn nhặn van xin tên cai lệ độc ác. Vả lại, kinh nghiệm lâu đời đã thành bản năng của người nông dân thấp cổ bé họng là phải biết rõ thân phận mình. Thói quen nhẫn nhục khiến chị chỉ dám năn nỉ, khơi gợi lòng nhân từ của tên cai lệ: Cháu van ông, nhà cháu vừa mới tĩnh được một lúc, ông tha cho! Cách xưng hô ông, cháu của chị Dậu là cách xưng hô của kẻ dưới với người trên, biểu hiện sự hạ mình. Bọn chúng chẳng thèm nghe mà sầm sập chạy đến chỗ anh Dậu, định bắt trói anh một lần nữa thì chị Dậu đã giận xám mặt nhưng vẫn cố chịu đựng, níu tay tên cai lệ van nài: Cháu xin ông! Mọi lời nói, hành động của chị Dậu đều không ngoài mục đích để bảo vệ chồng.

    Đến khi giới hạn của sự chịu đựng bị phá vỡ thì tính cách cứng cỏi của chị Dậu mới thật sự bộc lộ. Lúc tên cai lệ đáp lại lời van xin của chị bằng những cú đấm thô bạo rồi sấn đến trói anh Dậu thì chị tức quá không thể chịu được nên đã liều mạng chống cự lại. Sự bùng nổ tính cách này là kết quả tất yếu của quá trình chịu đựng lâu dài sự tàn ác, bất công. Điều đó đúng với quy luật có áp bức, có đấu tranh. Người đọc xót thương một chị Dậu phải hạ mình van xin bao nhiêu thì càng đồng tình, nể phục một chị Dậu đáo để, quyết liệt bấy nhiêu.

    Lúc đầu, chị cự lại tên cai lệ bằng lí lẽ: Chồng tôi đau ốm, ông không được phép hành hạ! Thực ra, chị chỉ nói đốn lòng nhân đạo tối thiểu của con người. Chị không còn xưng cháu và gọi tên cai lệ bằng ông nữa mà xưng là tôi – ông, ngẩng cao đầu nhìn thẳng vào mặt đối thủ.

    Từ vị thế thấp hèn của kẻ dưới, chị Dậu vụt trở thành ngang hàng với những kẻ xưa nay vẫn đè đầu cưỡi cổ mình. Câu nói của chị là lời cảnh cáo cứng rắn mà vẫn có đủ tình, đủ lí. Nhưng cái ác thường không biết chùn tay. Tên cai lệ cứ sấn tới đánh chị và nhảy vào định lôi anh Dậu đi. Lòng yêu thương chổng tha thiết đã thúc đẩy chúng phải hành động chống trả quyết liệt lũ tay sai tàn ác đang cố tình phá nát gia đình chị.

    Chị không chấp nhận để chồng mình bị hành hạ thêm một lần nữa. Hành động chống trả bọn tay sai diễn ra thật bất ngờ nhưng thực ra mầm mống phản kháng đã ẩn chứa tử lâu dưới vẻ ngoài cam chịu nhẫn nhục thường ngày của chị. Sự chịu đựng kéo dài và sự áp bức lên đến tột đỉnh khiến cho thái độ phản kháng bùng lên dữ dội. Tiếp sau lời cảnh cáo đanh thép là hành động phản kháng mạnh mẽ. Rồi chị túm lấy cổ hắn, ấn dúi ra cửa. Sức lẻo khẻo của anh chàng nghiện chạy không kịp với sức xô đẩy của người đàn bà lực điền, hắn ngã chỏng quèo trên mặt đất… Còn tên người nhà lí trưởng hung hăng kết cục cũng bị chị Dậu túm tóc; lẳng cho một cái, ngã nhào ra thềm Do đâu mà chị Dậu có sức mạnh lạ lùng một lúc quật ngã hai tên tay sai hung hãn như vậy ? Đó là sức mạnh của lòng căm hờn mà cái gốc của lòng căm hờn ấy lại chính là tình yêu thượng và ý thức bảo vệ chồng con của người đàn bà nghèo khổ.

    Tuy vậy, sự phản kháng của chị Dậu mới chỉ là hành động tức nước vỡ bờ của một cá nhân chứ chưa phải là hành động vùng lên phá vỡ áp bức bất công để tự giải phóng của một giai cấp, một dân tộc. Thế nhưng nó cũng chứng minh cho quy luật có áp bức, có đấu tranh. Áp bức càng nhiều thì đấu tranh càng quyết liệt.

    Ý nghĩa của câu tục ngữ tức nước vỡ bờ qua ngòi bút hiện thực của Ngô Tất Tố đã được thể hiện thật sống động và đầy thuyết phục. Tuy tác giả khỉ đó chưa giác ngộ cách mạng và tác phẩm kết thúc bằng cảnh ngộ bế tắc của chị Dậu nhưng nhà văn Nguyễn Tuân đã nhận xét rằng Ngô Tất Tố, với Tắt đèn đã “xui người nông dân đấu tranh cách mạng…”.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Suy Nghĩ Của Em Về Nhân Vật Chị Dậu Trong Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Viết Đoạn Văn Suy Nghĩ Về Vẻ Đẹp Người Phụ Nữ Xưa Qua Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ”
  • Soạn Bài: Tức Nước Vỡ Bờ (Siêu Ngắn)
  • Nêu Ý Nghĩa Của Tiêu Đề Tức Nước Vỡ Bờ
  • Nêu Ý Nghĩa & Tóm Tắt Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ / Tắt Đèn Ngô Tất Tố
  • Em Hãy Đóng Vai Chị Dậu Kể Lại “tức Nước Vỡ Bờ” (Trong Văn Bản “tức Nước Vỡ Bờ”)

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Tưởng Tượng Mình Là Người Được Chứng Kiến Cảnh Chị Dậu Phản Kháng Lại Cai Lệ Và Người Nhà Lí Trưởng Trong Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ. Hãy Viết Một Đoạn Văn Tự Sự Kể Lại Lần Chứng Kiến Đó
  • Soạn Bài “tức Nước Vỡ Bờ” Lớp 8 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Kiểm Tra 15 Phút Học Kì 1 Ngữ Văn 8: Văn Bản Tức Nước Vỡ Bờ Được Trích Từ Tác Phẩm Nào, Của Ai?
  • Phân Tích Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Bài Soạn Lớp 8:tức Nước Vỡ Bờ
  • Đóng vai chị Dậu kể lại ” Tức nước vỡ bờ “.( Trong văn bản “Tức nước vỡ bờ”)

    Ngoài đầu làng, tiếng mõ lại inh ỏi vang lên, trong nhà, tôi trở mình thở dài lặng lẽ. Sao mà ngột ngạt, sao mà bức bối thế này? Tiếng khóc, tiếng thét cứ vẳng lên trong đầu, khiến tôi chẳng thể nào chợp mắt nổi. Con bé Tỉu đang bú, bị tôi làm giật mình thức dậy kêu oe oe. Khốn khổ cho cái thân đàn bà này! Nếu gia đình tôi không phải hạng cùng đinh của cái làng này thì đâu đến nông nỗi này!

    Số là mấy hôm nay đến ngày thu sưu thuế của triều đình, lính lệ, các quan nha từ trên tề tựu đông đủ ở đình làng, bắt mỗi đầu đinh ba đồng bạc để nộp suất sưu. Nếu không có tiền đóng, các quan sai lính lệ bắt người ấy ra đình, đánh cho đến khi nào đủ tiền thì thôi. Ôi cái thân nghèo mạt kiếp như gia đình tôi lấy đâu ra từng ấy tiền mà đóng cho triều đình bây giờ? Tôi chạy vạy khắp nơi, lo tiền lo bạc, chồng tôi ốm phải nằm ở nhà, ấy vậy mà mấy tên lính lệ lại bắt chồng tôi ra đình mà đánh mà đập đến chết đi sống lại. Nhìn chồng nằm co quắp ở đình làng, tôi chẳng biết phải làm gì cho đủ cái suất sưu kia. Giờ nhà chẳng còn gì mà bán, chỉ còn cách ấy, thôi thì còn người là còn của, tôi nghĩ vậy rồi trở lại nhà. Cho con bé ăn một bữa cuối cùng, nhìn đứa con gái mới chỉ bảy tuổi mà đã biết lo lắng cho gia đình, phần thầy phần u từng củ khoai nhỏ, tôi thấy lòng mình thắt lại, nước mắt tràn ra, nhưng biết sao bây giờ? Tôi cắn răng bán nó làm người ở cho nhà Nghị Quế ở đầu làng mới tạm đủ số tiền đóng sưu cho chồng. Biết đâu sau này trời cho vợ chồng tôi khấm khá có thể chuộc lại con bé thì sao?

    Những tưởng thế là yên, nhưng hôm sau quan trên lại sai lính lệ báo cho tôi rằng nhà tôi còn một suất đinh của người em chồng nữa. Ôi trời ơi, khốn nạn đến thế là cùng! Chú ấy đã chết từ năm ngoái rồi các người còn đòi thu nữa sao? Thế nhưng nào ai dám cả gan mở lời ấy với quan? Nhưng nhà tôi một suất đã khốn đốn, còn thêm một suất sưu nữa thì làm sao gánh nổi? Ấy vậy, tôi đành ra cắp nón ra trình bày với quan trên, mong quan trên đèn giời soi xét, nhưng tôi đã bị đuổi trở về.

    Nằm trằn trọc chẳng sao ngủ được thì nghe tiếng người huyên náo ngoài đầu cổng, tiếng chó sủa inh ỏi khắp làng. Tôi bật dậy chạy ra ngoài thì thấy người ta cõng chồng tôi trên lưng rồi vứt bịch vào một góc nhà. Nhìn chồng rũ rượi như một người đã chết, tôi thốt thoảng gọi “thầy nó ơi” nhưng chồng tôi chẳng hề động đậy. Tôi đau xót, uất ức, hoang mang, có khi nào chồng tôi đã chẳng còn thở nữa. Bác Lý, bác Cả xúm lại gọi tên rồi xoa bóp cho chồng tôi, may sao một lúc thì chồng tôi mở mắt. Ông giời may còn xót thương cho gia đình tôi mà để chồng tôi được sống. Chắc chồng tôi đói lắm, từ hôm qua tới nay nào được miếng gì vào bụng, lại còn bị đánh đập tới chết ngất đi như thế! Nhưng mà chẳng còn gì ngoài mấy củ khoai rãi, tôi định bụng đem lên cho chồng thì may sao bà hàng xóm đưa cho tôi một bát gạo:

    – Này, chị cầm lấy mà nấu cho anh ấy tí cháo! Từ hôm qua tới nay, nào đã được cái gì vào bụng đâu, người như thế, còn sức đâu mà ăn khoai.

    Tôi nhìn bà, xúc động, run run cầm lấy bát gạo:

    – Ơn nghĩa này cháu cảm tạ bà, chẳng biết bao giờ cháu mới trả lại được cho bà …

    – Thôi cứ lo cho anh ấy khỏe lại đã, ơn nghĩa gì?

    Nói rồi bà cất bước lại nhà, tôi may mắn đem bát gạo nấu thành bát cháo loãng mang lên cho người chồng tội nghiệp của mình.

    Tôi bắc nồi cháo, đem lên giữa nhà, ngả mấy chiếc bát đã sứt mẻ mà múc ra la liệt rồi lấy quạt quạt cho chóng nguội.

    Mặt trời đã ló dạng qua ngọn tre, tiếng tù và, tiếng trống lại đua nhau kéo lên thủng thẳng, lại một ngày ngột ngạt nữa ở cái làng nhỏ bé này. Tiếng chân người, tiếng kêu, tiếng chó sủa cứ đua nhau vọng lên khắp các con đường, ngõ hẻm. Tiếng bước chân lật đật trên nền đất, bà lão hàng xóm đứng giữa cái sân con mà hỏi vọng vào:

    – Anh nhà đã đỡ hay chưa?

    – Cháu đội ơn cụ. Chồng cháu đã đỡ hơn đêm qua, ấy nhưng mà vẫn còn lệt bệt, mỏi mệt lắm cụ ạ!

    – Này, cô có bảo chú ấy tí nữa liệu mà trốn đi đâu, không người ta đến thúc sưu, không có người ta lại bắt, lại đánh cho thì khổ lắm. Người đã ốm yếu như thế, sức nào mà chịu nổi trận đòn?

    – Vâng cụ ạ, cháu cũng định như cụ dạy. Chờ chồng cháu ăn xong bát cháo, cháu sẽ giục chồng cháu đi ngay chứ đã được ăn gì từ qua đến giờ đâu?

    – Ừ, thế thì chóng lên, không họ vào bây giờ đấy!

    Nói rồi, bà lại lật đật lại nhà với vẻ mặt vừa như lo lắng, vừa như băn khoăn điều gì. Thằng Dần – đứa con thứ hai đã vục vội một bát cháo nóng bỏng. Nó vừa húp nấy húp để, vừa thổi phì phỉ. Tôi rón rén bưng bát cháo lại gần chồng:

    – Thầy em cố dậy ăn lấy bát cháo này cho đỡ xót ruột!

    Nói rồi, tôi đón lấy con bé con, bế ẵm ngửa nó ngồi cạnh chồng, chẳng biết chồng tôi có ăn được hay không. Anh ngồi gượng dậy, vươn vai, ngáp dài một tiếng, uể oải chống tay xuống cái phản nằm, rên nhẹ một tiếng rồi ngẩng lên. Vừa kề bát cháo vào miệng, chưa kịp húp thì tiếng người rầm rập bước vào trong sân. Thế rồi, tiếng cai lệ, người nhà lý trưởng xồng xộc xông vào nhà tôi. Thằng Dần hốt hoảng, vứt bát cháo chỏng chơ dưới sàn chạy nép vào mẹ, con bé Tỉu khóc ré lên từng hồi. Tôi đưa con bé cho thằng Dần, rồi đứng dậy.

    Một tay roi song, tay thước, một tay dây thừng, cai lệ gõ đầu roi xuống đất, thét lên:

    – Cái thằng kia, tao tưởng mày chết đêm qua rồi đấy? Còn ngồi đấy à? Tiền sưu đâu? Nộp ngay ra đây cho ông!

    Cái giọng khàn khàn, ốm yếu của một kẻ hút xái vang lên khiến cho chồng tôi phải run rẩy. Phải, chẳng gì hắn cũng là người có chức có quyền, không sợ sao được. Chồng tôi vội đặt bát cháo xuống phản, yếu ớt lăn đùng ra cái phản con con.

    – Này, anh ta lại sắp phải gió như đêm qua đấy!

    Chúng nói với nhau bằng cái giọng đầy mỉa mai như thế!

    Thế rồi hắn chỉ thẳng vào mặt tôi, quát lên:

    – Này nhà chị kia, chị khất sưu đến chiều mai phỏng? Đấy, chị kêu với ông lý, ông ấy ra đình kêu với quan trên cho, chứ còn tôi, tôi chả có quyền mà cho chị khất thêm giờ nào nữa đâu!

    Tôi run rẩy nhìn họ, nhà tôi đến gạo còn chẳng có, lấy đâu tiền mà nộp cho quan. Tôi mới nhẹ nhàng, dè dặt chắp tay tâu bẩm với chúng rằng:

    – Thưa các ông, nhà cháu đã nghèo, lại nộp thêm suất sưu cho chú ấy nữa nên mới chậm tiền sưu của các ông, chứ cháu có lòng nào dám bê trễ tiền sưu của nhà nước đâu ạ? Các ông thương cháu, làm phúc nói với ông cai ông lí cho cháu xin được khất …

    Lời còn chưa nói xong, tên cai lệ đã trợn ngược mắt với tôi:

    – Này con kia, mày đang xin xỏ với cha mày đấy à? Tiền của nhà nước mà mày dám mở mồm bảo tao nói với các quan xin cho mày khất sao?

    – Thưa ông, nhà cháu nào dám bỏ bê, chỉ là nhà cháu nghèo quá, chẳng còn gì, các ông có đánh, có mắng, cháu cũng xin chịu vậy, mong ông thương tình trông lại cho gia cảnh nhà cháu!

    Tôi nói với cái giọng rơm rớm nước mắt. Quả là nhà tôi chẳng còn gì nữa, cái nhà tranh dột nát này còn chẳng đủ che nắng che mưa cho mẹ con tôi, lấy đâu ra mà đóng sưu cho nhà nước? Thế nhưng, tiền của nhà nước chẳng thể khất lần khất lữa được mãi. Đang miên man suy nghĩ thì cái giọng của tên cai lệ hằm hè thốt lên:

    – Không có ông dỡ cả nhà mình đi đấy chứ ông chẳng chửi mắng không đâu! Không hơi đâu nói lắm, bắt gô cổ thằng chồng, điệu ra ngoài đình kia!

    Hắn quát lên với tên người nhà lí trưởng. Thế nhưng cái tên ấy lại lóng lóng ngóng, hình như hắn không biết nên làm gì với người chồng tội nghiệp ốm yếu của tôi. Hắn đứng đó, hết nhìn tên lý trưởng, lại nhìn tôi rồi nhìn chồng tôi. Thấy vậy, tên Lý trưởng giặt phắt sợi dây thừng, hầm hầm chạy đến bên tấm phản.

    Tôi vội buông hai đứa con, chạy lại đỡ lấy tay hắn:

    – Cháu xin ông, nhà cháu vừa mới tỉnh, còn chưa kịp ăn gì, ông thương tình cho cháu …

    – Này thì thương tình này, này thì tha cho mày này!

    Hắn giơ chân đạp thẳng vào ngực tôi hai bịch. Hai cú đá khiến tôi tối sầm mặt mũi, ngực đau đến nỗi chẳng thể thở được, thế nhưng chẳng hiểu sức lực nào mà tôi đứng lên, chạy lại cự lại cái tên cai lệ cầm thú ấy;

    – Chồng tôi đang đau ốm, các người không được phép mang chồng tôi đi!

    Lại một cái tát nảy đom đóm mắt giáng vào bên má phải của tôi, cái tát đau rát, đỏ ửng. Tôi ức quá, nghiến chặt quai hàm, túm lấy cổ tên cai lệ mà dúi. Sức cái tên nghiện ấy làm sao đọ với sức của người đàn bà như tôi, tôi dúi ấn đầu hắn ra tới tận cửa, ấy vậy mà mồm hắn vẫn còn thét nham nhảm đòi trói vợ chồng tôi.

    Tên người nhà lí trưởng hình như ngạc nhiên quá trước hành động bất ngờ của tôi, hắn đứng yên như tượng gỗ, bây giờ mới hoàn hồn, sấn sổ bước tới đòi đánh tôi. Tôi chẳng để hắn được như ý, nắm lấy cán gậy, tôi cố giằng cho bằng được cái gậy trong tay hắn. Thế rồi cái gậy văng ra lúc nào không rõ, tôi chỉ biết tay mình đang vật sức với tên hầu cận của ông lý. Nhưng cuối cùng, tôi nắm được tóc hắn, lẳng cho một cái tới cửa, còn đá thêm một cái vào cái lưng của hắn, hắn kêu “ối” lên một tiếng rồi ngã nhào ra thềm.

    Hả hê, tôi đứng chống nạnh trước cửa mà quát rằng:

    – Đứa nào dám trói chồng bà đi, bà cho chúng mày biết tay!

    Chồng tôi hoảng hồn, vội thều thào:

    – U nó đừng làm thế! Làm thế rồi người ta bắt tù bắt tội cho đấy!

    – Tôi thà để phải ngồi tù chứ làm sao để chúng nó làm tình làm tội mình mãi được! Tôi không chịu được…

    Hai tên tay sai mặt mày xám ngắt, lồm cồm đứng dậy, líu ríu bước chân vào nhau mà chạy ra đường. Chúng chạy nhưng vẫn không quên ngoảnh lại mà quát với tôi rằng:

    – Con đàn bà kia, mày đợi đấy, rồi mình biết tay ông!

    Nói rồi chúng bước vội ra khỏi nhà tôi. Thật là một lũ hèn, chỉ dám ức hiếp người nghèo!

    Tôi bước vội vào nhà, đỡ chồng ngồi dậy, dựa lưng vào tường. Bát cháo ăn dở tôi lại đưa lại cho chồng. Những bát cháo giữa nhà đã xô đẩy đổ vỡ, thằng Dần đứng bế em mà khóc thút thít. Tôi nhẹ nhàng ôm con, bế cái Tỉu rồi ngồi lại bên chồng nhìn anh ăn. Không biết bao giờ mới thoát khỏi cảnh này, không biết bao giờ mới khỏi cái sưu thuế này nữa. Tôi ngồi nhìn ra xa xăm… Ngoài kia, tiếng chó lại sủa, tiếng khóc lại vang lên nghe thật não nề…

    Đóng vai Lão Hạc kể lại chuyện bán chó.( Trong văn bản “Lão Hạc”).

    Từ nhỏ, tôi rất thích đi học nhưng vì hoàn cảnh khó khăn nên không được đến trường. Khi ông giáo dọn nhà về đây, tôi qua làm quen và nhờ ông giáo chỉ dạy những con chữ. Kể từ đó, tôi trở thành học trò của một ông giáo tốt bụng mặc dù lúc đó tôi cũng đã lớn tuổi. Do thường hay qua nhà ông giáo nên một lần tôi được chứng kiến câu chuyện hết sức xúc động: lão Hạc kể chuyện bán chó với ông giáo. Bạn có thể nghĩ: “Có gì to tát đâu, chỉ là bán một con chó thôi mà!”. Nhưng bạn ơi, nếu bạn hiểu về hoàn cảnh sống và phẩm chất của lão Hạc thì hẳn bạn sẽ hiểu vì sao đây là một câu chuyện mà dù nhiều năm trôi qua nhưng tôi vẫn không thể nào quên.

    Tôi vẫn nhớ như in hôm ấy! Khi đang ngồi trò chuyện cùng ông giáo thì bất chợt thấy lão Hạc từ đằng xa đi lại. Cả cái làng này ai cũng biết lão Hạc – một lão nông già có hoàn cảnh hết sức đáng thương.Lão Hạc rất nghèo, vợ lão mất, lão sống cô độc, chỉ có con chó Vàng làm bạn. Con trai lão vì nghèo, không lấy được vợ đã phẫn chí bỏ làng đi xa. Lão ở nhà chờ con về, làm thuê để sống. Dù đói, lão quyết không bán đi mảnh vườn và ăn vào tiền dành dụm do “bòn vườn”, lão giữ cả lại cho con trai. Nhưng một trận ốm dai dẳng, lão không còn sức đi làm thuê nữa. Và mấy ngày nay, tôi cũng ít thấy lão. (tóm tắt hoàn cảnh lão Hạc)

    Thế mà, có ngờ đâu, hôm nay trông lão tiều tụy quá. Dáng đi thất thiểu như một người không còn sức sống. Da lão xanh xao, vàng vọt, gương mặt sầu khổ và vừng trán hiện lên rất nhiều nếp nhăn. Mái tóc lão bạc phơ, trông xơ xác quá. Nhìn thấy lão như thế ai mà không chạnh lòng cho được. Mà hình như lão có chuyện gì đó thì phải?! (miêu tả và biểu cảm)

    Đúng như dự đoán, vừa bước vào nhà, thấy chúng tôi, lão báo ngay:

    – Cậu Vàng đi đời rồi, các bác ạ!

    – Cụ bán rồi? – Ông giáo hỏi với vẻ ngạc nhiên.

    – Bán rồi! Họ vừa bắt xong. – lão trả lời giọng như có vật gì trong cổ họng.

    Rồi sau đó, lão cố làm ra vẻ vui vẻ. Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước. Thấy thế, trong chúng tôi, ai muốn ôm choàng lấy lão mà oà lên khóc, vì chúng tôi hiểu lão quý “cậu vàng” như thế nào. Thật ái ngại cho lão Hạc làm sao. Như để thay đổi không khí trầm lắng, ông giáo hỏi lão Hạc:

    – Thế nó cho bắt à?

    Sau câu hỏi của ông giáo, tôi bỗng thấy mặt lão đột nhiên co rúm và những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra. Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con nít. Lão hu hu khóc… Tội nghiệp cho lão! Như muốn bộc lộ nỗi lòng dằn vặt, lão chợt thốt lên:

    – Khốn nạn… Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu! Nó thấy tôi gọi thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừng. Tôi cho nó ăn cơm. Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên. Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lại. Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết! Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn! Nó cứ làm in như nó trách tôi ; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng : “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”. Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!

    Rất khéo léo, ông giáo vội an ủi lão:

    – Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả biết đâu! Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt? Ta giết nó chính là hoá kiếp cho nó đấy, hoá kiếp để cho nó làm kiếp khác.

    Thế nhưng, lão chua chát bảo:

    – Ông giáo nói phải! Kiếp cho chó là kiếp khổ thì ta hoá kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút… kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn…

    Tôi cũng bùi ngùi nhìn lão, chua chát nói:

    – Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ! Cụ tưởng chúng tôi sung sướng hơn chăng?

    – Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm kiếp gì cho thật sướng.

    Lão cười và ho sòng sọc. Ông giáo nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:

    – Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng: bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc; ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào… Thế là sướng.

    – Vâng! Ông giáo dạy phải! Ðối với chúng mình thì thế là sung sướng.

    Lão nói xong lại cười đưa đà. Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lại. Chúng tôi đều nhẹ người hẳn lại.

    Tôi vui vẻ bảo:

    – Thế là được, chứ gì? Vậy cụ ngồi xuống đây, nói chuyện với thầy tôi, để tôi đi luộc khoai, nấu nước.

    – Nói đùa thế, chứ ông giáo và bác để khi khác vậy?…

    Chúng tôi hết sức ngỡ ngàng vì câu nói của lão. Hình như lão có chuyện gì chăng???

    – Việc gì còn phải chờ khi khác?… Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lại cụ ơi. Cụ cứ ngồi xuống đây đi ạ! Tôi làm nhanh lắm!

    – Ðã biết thế, cảm ơn bác, nhưng tôi còn muốn nhờ ông giáo một việc…

    Rồi tự dưng mặt lão nghiêm trang lại…

    – Việc gì thế, cụ? – Ông giáo nhẹ nhàng hỏi.

    – Ông giáo để tôi nói… Nó hơi dài dòng một tí.

    – Vâng, cụ nói.

    – Nó thế này, ông giáo ạ!

    Tôi cũng thôi nấu khoai, ngồi xuống cùng ông giáo nghe lão Hạc kể. Lão kể nhỏ nhẹ và dài dòng thật. Nhưng đại khái có thể rút vào hai việc. Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng, vả lại nó cũng còn dại lắm, nếu không có người trông nom cho thì khó mà giữ được vườn đất để làm ăn ở làng này. Thầy của tôi là người nhiều chữ nghĩa, nhiều lý luận người ta kiêng nể, vậy lão muốn nhờ thầy cho lão gửi ba sào vườn của thằng con lão, lão viết văn tự nhượng cho thầy tôi để không ai còn tơ tưởng dòm ngó đến; khi nào con lão về thì nó sẽ nhận vườn làm, nhưng văn tự cứ để tên thầy tôi cũng được,… Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào : con không có nhà, lỡ chết không biết ai đứng ra lo cho được; để phiền cho hàng xóm thì chết không nhắm mắt. Lão còn được hăm nhăm đồng bạc với năm đồng vừa bán chó là ba mươi đồng bạc, muốn gửi thầy để lỡ có chết thì thầy đem ra, nói với hàng xóm giúp, gọi là của lão có tí chút, còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả… Ôi lão Hạc quả thật xứng đáng để người ta kính trọng và yêu quý. Sau đó, lão về. Chúng tôi nhìn theo dáng gầy gò của lão mà không cầm được nước mắt. Rồi lão sẽ sống ra sao những ngày tháng sau này?… Cuộc đời sao mà thật đáng buồn!

    Nhìn đời sống hạnh phúc ấm no và khá đầy đủ của người nông dân thời bây giờ, tôi chợt chạnh lòng xót xa cho số phận cùng cực khổ đau mà người nông dân trong xã hội cũ âm thầm gánh chịu. Câu chuyện tôi chứng kiến cảnh lão Hạc kể chuyện bán chó mãi mãi in sâu vào trong tâm trí cũng như làm sao tôi có thể quên hình ảnh người nông dân nghèo nhưng giàu tình cảm, giàu lòng tự trọng, yêu thương con – Lão Hạc!

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn Đóng Vai Chị Dậu Kể Lại Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ Hay, Đặc Sắc
  • Đóng Vai Bà Lão Hàng Xóm Kể Lại Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Đóng Vai Chị Dậu Kể Lại Đoạn Trích Tức Nước Vỡ Bờ
  • Đề Thi Hsg Môn Ngữ Văn 8
  • Đề & Đáp Án Hsg Cấp Huyện 2010
  • Tìm Hiểu Chung Về Tác Phẩm Tức Nước Vỡ Bờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Kiểm Tra Văn 8
  • Soạn Bài Tức Nước Vỡ Bờ Siêu Ngắn
  • Truyền Thuyết Thánh Gióng Phản Ánh …
  • Top 6 Bài Soạn “Tìm Hiểu Chung Về Văn Tự Sự” Lớp 6 Hay Nhất
  • Lập Dàn Ý Và Viết Bài Văn Kể Chuyện…
  • 1. Tìm hiểu chung

    a. Xuất xứ

    – Tức nước vỡ bờ là đoạn trích thuộc chương XVIII của tiểu thuyết Tắt đèn. Đây là tác phẩm tiêu biểu nhất của Ngô Tất Tố, và cũng là một trong những tác phẩm xuất sắc của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930 – 1945.

    b. Tóm tắt

           Gia đình anh Dậu nghèo khổ không có tiền nộp sưu. Anh Dậu vì thiếu sưu mà bị lôi ra đình đánh đập và khi được trả về chỉ còn là một thân xác rũ rượi. Đươc bà hàng xóm cho bát gạo, chị Dậu nấu cháo cho anh Dậu ăn. Nhưng anh chưa kịp ăn thì tên cai lệ và người nhà lí trưởng đến đòi sưu. Chị Dậu van xin chúng tha cho anh Dậu nhưng chúng không nghe mà còn đánh chị và sấn đến định trói anh Dậu mang đi. Quá phẫn nộ, chị đã liều cự lại và chống trả quyết liệt, quật ngã hai tên tay sai.

    c. Bố cục: 2 phần

    -Phần 1 (từ đầu… “ăn có ngon miệng hay không”): Cảnh chị Dậu chăm sóc chồng.

    -Phần 2 (còn lại): Cảnh chị Dậu phản kháng.

    2. Giá trị nội dung và nghệ thuật:

    a. Giá trị nội dung

    Vạch trần bộ mặt tàn ác, bất nhân của xã hội thực dân phong kiến đương thời; xã hội ấy đã đẩy người nông dân vào tình cảnh khổ cực, khiến họ phải liều mạng chống lại. Đoạn trích còn cho thấy vẻ đẹp tâm hồn của người nông dân, vừa giàu tình yêu thương vừa có sức sống tiềm tàng mạnh mẽ.

    b. Giá trị nghệ thuật

    – Tình huống truyện đặc sắc, có kịch tính cao.

    – Cách kể chuyện, miêu tả nhân vật chân thực, sinh động. Nghệ thuật tương phản làm nổi bật tính cách nhân vật.

    – Ngòi bút hiện thực sinh động, ngôn ngữ đối thoại đặc sắc.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Tức Nước Vỡ Bờ”
  • Dòng Cảm Xúc Lấp Lánh Chất Thơ
  • Chuyên Đề Hình Ảnh Trẻ Thơ Trong “ Tôi Đi Học” ( Thanh Tịnh) Và “Trong Lòng Mẹ” (Nguyên Hồng)
  • Kỉ Niệm Mơn Man Buổi Tựu Trường
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Tôi Đi Học – Thanh Tịnh
  • Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ

    --- Bài mới hơn ---

  • Hãy Chia Bố Cục Và Tóm Tắt Truyện Ngắn Lão Hạc Của Nam Cao
  • Viết Đoạn Văn Từ 8 Đến 10 Câu Tóm Tắt Truyện “lão Hạc” Của Nam Cao
  • Soạn Bài Lão Hạc Trang 38 Sgk Ngữ Văn 8 Tập 1 (Siêu Ngắn)
  • Giáo Án Ngữ Văn 8 Bài: Lão Hạc
  • Cảm Nhận Về Nhân Vật Lão Hạc
  • Văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã sinh ra những tác giả và tác phẩm để đời.Riêng mảng đề tài về người nông dân,chúng ta phải xếp lên nhóm đầu Lão Hạc của Nam Cao và Tắt đèn của Ngô Tất Tố.Hai tác phẩm tuy chỉ là những truyện ngắn nhưng sức khái quát của chúng không hề nhỏ.Đọc tác phẩm,người ta thấy cả không khí ngột ngạt mà người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng tháng Tám phải chịu đựng.Và ở giữa cái guồng quay tàn nhẫn ấy,có những con người,những thân phận đang cố chới với thoát khỏi dòng đời một cách đầy tuyệt vọng.

    Với Tắt đèn và Lão hạc,cả Ngô Tất Tố và Nam Cao đều trở về với nông thôn.Nhưng nếu như người ta cứ tưởng nông thôn Việt Nam từ xưa đến nay yên bình sau những lũy tre lành thì hình ảnh cái vùng quê kiểu ấy biến mất hoàn toàn trên những trang văn của Ngô Tất Tố lẫn Nam Cao.Ở Tắt đèn và Lão Hạc,sau cái cổng làng đầy rêu mốc là một nông thôn dữ dội như một bãi chiến trường và kỳ thực ở đó người nông dân dù muốn hay không cũng đang bị biến thành những “chiến binh số phận”.

    Chỉ với mấy chục trang văn,hai tác giả đã cho bạn đọc một hình dung khá trọn vẹn về người nông dân Việt Nam trước Cách Mạng.Đó là những con người đang dần nghẹn thở vì sự bóc lột của thực dân và phong kiến theo mọi cách khác nhau.Cuộc sống của họ tủi nhục,đau buồn khiến họ lúc nào cũng có thể nghĩ cái chết có khi còn dễ chịu hơn nhiều.

    Ta hãy sống với cuộc đời của Lão Hạc.Một lão nông dân nghèo,chỉ cần nghe qua tiểu sử cũng đủ thấy bao điều bất hạnh.Vợ lão chết sớm để lại cho lão một cậu con trai với mấy sào vườn-thành quả bòn mót suốt cuộc đời của người đàn bà xấu số.Nhưng có vẻ như nhà lão Hạc còn khá khẩm hơn nhiều gia đình khacd.Mọi chuyện chỉ nảy sinh khi con lão đến tuổi lập gia đình.Nhà gái thách cưới cao,nhà lão thì nghèo quá.Kết quả là thằng con lão đành nhìn cô người yêu lấy chồng sang cửa giàu hơn.Nó quẫn chí,ngay mấy hôm sau xin đi đồn điền.Lão Hạc đau lòng lắm nhưng tất cả cũng vì nghèo nên đành ngậm đắng nuốt chúng tôi lão bỏ đi lão con chó với mảnh vườn nhưng cái vườn của lão lúc nào cũng bị người ta dòm ngó đòi cướp mất.Lại thêm làng mất vê sợi,lão lại ốm đau luôn.Trăm cái bất hạnh,trăm cái lo lắng đổ xuống cái túi đang dần nhẵn thín của lão nông nghèo.lão không thể nào chống lại,lão đành chấp nhận “chết mòn” rồi “chết hẳn” trong đau đớn,xót xa.Một cái chết đầy bi kịch.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Qua Tức Nước Vỡ Bờ Và Lão Hạc, Chứng Minh Rằng: Mặc Dù Gặp Nhiều Đau Khổ Bất Hạnh, Người Nông Dân Trước Cách Mang Tháng Tám Vẫn Giữ Trọn Những Phẩm Chất Tốt Đẹp Của Mình
  • 3 Bài Văn Chứng Minh Người Nông Dân Vẫn Giữ Trọn Phẩm Chất Tốt Đẹp Qua
  • Qua 2 Văn Bản Lão Hạc Và Tức Nước Vỡ Bờ Hình Ảnh Người Nông Dân Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng 8 Hiện Lên Ntn??
  • Ôn Tập Văn Bản Lão Hạc
  • Tóm Tắt Văn Bản Lão Hạc Của Nam Cao Ngắn Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100