Top #10 ❤️ Xem Nhiều Nhất Đọc Hiểu Văn Bản Ra Ma Buộc Tội Mới Nhất 10/2022 ❣️ Top Like | Athena4me.com

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 10 Tiết 17, 18 Đọc Văn Ra Ma Buộc Tội (Trích Ra Ma

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 17, 18: Đọc Văn Ra Ma Buộc Tội

Soạn Bài: Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng – Ngữ Văn 7 Tập 1

Hoàn Cảnh Sáng Tác,nội Dung Nghệ Thuật Cảnh Khuya,rằm Tháng Giêng

“Rằm Tháng Giêng” Và Quá Trình Tiếp Biến Văn Hóa

Cảm Nhận Về Truyện Sơn Tinh Thủy Tinh

Ngày giảng: 23/09/2009

Tiết 17.18. Đọc văn

Ra ma buộc tội

(Trích Ra ma – ya – na – sử thi ấn độ)

A. Mục tiêu bài học:

Giúp HS

– Qua đoạn trích Ra ma buộc tội, hiểu quan niệm của người ấn Độ cổ về người anh hùng, đấng quân vương mẫu mực và người phụ nữ lý tưởng, hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật của sử thi Ra – ma – Ya – na.

– Bồi dưỡng ý thức danh dự và tình yêu thương.

B. Phương pháp + Phương tiện:

1. Phương pháp:

Giới thiệu + Bình giảng + Phân tích và phát vấn

2. Phương tiện:

Sgk.Sgv NV10(T1) + Giáo án

C. Tiến trình lên lớp:

1. ổn định tổ chức: Kiểm tra sĩ số.

2. Kiểm tra bài cũ:

CH: Sau 20 năm trời xa cách, ngày Uy – lít – xơ trở về thì Pê – nê – lốp vợ chàng có tâm trạng và phản ứng ra sao?

Qua đoạn trích “Uy – lít – xơ trở về” cho ta hiểu thêm gì về con người Hi lạp cổ đại?

3. Bài mới:

Giới thiệu bài: Nếu người anh hùng ô – đi – xê trong sử thi Hi lạp được ca ngợi về sức mạnh của trí tuệ, lòng dũng cảm. Đăm Săn trong sử thi Tây Nguyên Việt nam là người anh hùng chiến đấu với các tù trưởng thù địch vì mục đích riêng giành lại vợ đồng thời bảo vệ cuộc sống bình yên của buôn làng thì Ra ma, người anh hùng trong sử thi ấn độ lại được ca ngợi bởi sức mạnh của đạo đức, lòng tự thiện và danh dự cá nhân. Để thấy rõ điều này chúng tìm hiểu đoạn trích “Ra ma buộc tội” trích sử thi Ra – ma – Ya – na của Van – mi – ki.

Gọi học sinh đọc tóm tắt tiểu dẫn

HS đọc

? Dựa vào tiểu dẫn, nêu nguồn gốc hình thành của sử thi Ra – ma – Ya – na?

Hs trả lời.

? Nội dung chính của sử thị Ra – ma – Ya – na là gì? Nêu giá trị chung của sử thi?

Hs trả lời.

? Đoạn trích “Ra – ma buộc tội” thuộc phần nào của tác phẩm? Đại ý chính là gì?

Hs trả lời.

GV giải thích từ khó theo SGK.

Gọi 3 học sinh đọc đoạn trích trong vai Ra – ma, Xi ta và dẫn truỵên.

? “Đoạn trích có thể chia làm mấy phần? ý của mội phần?

Hs trả lời.

? Ra ma gặp lại Xi – ta trong hoàn cảnh nào? (Không gian có gì đáng chú ý? Ra – ma và Xi ta ở trong những vai trò và cương vị nào?

? Những lời nói của Ra ma với mọi người sau chiến thắng quỷ vương Ra – va – na cứu được Xi – ta khẳng định điều gì?

Hs trả lời.

? Tự đề cao sức mạnh chiến đấu, người anh hùng Ra – ma còn bộc lộ thái độ, tâm trạng gì?Ngôn ngữ và diễn biến tâm trạng của Ra ma ntn?

Hs trả lời.

? Hành động cứu Xi – ta có ý nghĩa gì khác?

Hs trả lời.

? Qua lời nói của Ra – ma: “Ta nói cho nàng hay”, ” nay ta nghi ngờ tính cách của nàng” chứng tỏ Ra – ma đang có tâm trạng gì?

Hs trả lời.

? Do qua ghen tuông mà thái độ và hành vi đối xử của Ra – ma với Xi – ta ntn? Tìm những chi tiết chứng tỏ điều đó?

Hs trả lời.

? Tâm trạng quá ghen tuông đã làm cho Ra – ma thể nào?

Hs trả lời.

? Đến lúc Xi – ta òa khóc và đòi lập giàn hỏa thiêu thì tâm trạng của Ra – ma có biến chuyển không?

Hs trả lời.

? Qua đây, ta thất Ra – ma là con người thế nào?

Hs trả lời.

GV: Trước thái độ phũ phàng ấy của Ra – ma. Tâm trạng và thái độ của Xi – ta ra sao? Chú ý đoàn 2.

? Mới gặp lại mặt chồng, Xi ta đã phải nghe những lời nói xa lạ và gặp những của chỉ thiếu thân thiết của Ra – ma, khiến nàng có thái độ ra sao?

Hs trả lời.

? Trước những lời nói có tính chất coi rẻ phẩm hạnh, khinh bỉ tư cách người phụ nữ của Xi – ta, tâm trạng nàng thế nào?

Hs trả lời.

? Sau những phút choáng vàng đau đớn đến tê dại, Xi -ta phản ứng ra sao trước những lời có tính chất cáo buộc của Ra – ma?

Hs trả lời.

? Dùng những lời lẽ sợ không có sức thuyết phục, Xi – ta đã đi đến quyết định gì? Hành động đó có ý nghĩa ntn?

Hs trả lời.

? Đọc và tìm hiểu về Xi – ta, ta dường như thấy bóng dáng của một người phụ nữ trong văn học Việt nam. Nàng là ai?

“Qua đây, cho ta thấy Xi – ta là một người phục nữ ntn?

Hs trả lời.

? Em có nhận xét gì về nghệ thuật sử dụng trong đoạn trích? Giá trị nội dung đoạn trích là gì?

Hs trả lời.

I. Tìm hiểu chung:

1. Vài nét về sử thi Ra -ma – Ya – na:

– Hình thành khoảng TK III -TCN, hoàn thiện nhờ đạo sỹ Van – mi – ki ghi lại bằng văn vần.

Gồm 24.000 câu thơ đôi chia thành 7 khúc ca – 81 chương.

Giá trị:

+ Được người ấn Độ xem là kinh thánh của dân tộc mình: Nuôi dưỡng tinh thần, đạo đức dân tộc.

+ Là kiệt tác thi ca đầu tiên của ấn độ.

+ Thành công trong miêu tả thiên nhiên tràn đầy sức sống và chứa chan tình người, thể hiện nội tâm nhân vật sâu sắc và chân thực.

2. Đoạn trích:

a. Vị trí.

Sau khi cứu được Xi ta – Ra ma bông nghi ngờ lòng chung thủy của nàng khi ở với Ra – va – na. Đoạn trích diễn tả không khí Ra ma và Xi ta gặp gỡ nhau thật nặng nề, trang nghiêm như phiên toàn xử án.

b. Bố cục:

HS đọc.

+ Phần 1 (Từ đầu” có chịu được lâu” Tâm trạng và những lời buộc tội của Ra ma đối với Xi ta sau khi đã cứu được nàng từ tay quỷ vương Ra- va – na.

+ Phần 2 (còn lại): Tâm trạng hành động của Xi – ta trước lời buộc tội của Ra ma và sự xót thương của muôn loài đối với nàng.

II. Đọc hiểu:

1. Hoàn cảnh tái hợp của Ra ma và Xi ta:

+ Xi ta: Hơn cả nỗi xót xa, tủi thẹn của 1 người vợ mà còn là nỗi khổ mất danh dự của mộ con người (Hơn nữa, một hoàng hậu) trước cộng đồng.

2. Tâm trạng Ra ma:

– Sau chiến thắng: Ra ma khẳng định chiến thắng và tài nghệ của mình, sự giúp đỡ của những người bạn hảo hán.

– Thể hiện rõ lý tưởng chiến đấu, sức mạnh của cộng đồng: “Nàng cần phải biết.mà ta đã thắng kẻ thù với sự giúp đỡ của bạn bè. Ta làm điều đó vì nhân phẩm của ta, để xóa bỏ vết ô nhục, để bảo vệ uy tín và danh dự của dòng họ lừng lẫy tiếng tăm.

– Xung đột cá nhân: Cơn ghen tuôngm nghi ngờ đức hạnh của Xi ta: “Thấy người đẹp với gương mặt bông sen lòng Ra – ma đau như dao cắt” Đau vì ý thức cá nhân trỗi dậy, tính ích kỷ bộc lộ dần.

Qua ngôn từ, giọng điệu:

– Lời nói ẩn chứa nỗi đau xót, ghen tức trong lòng. Thể hiện thái độ phũ phàng, lạnh lùng.

Qua thái độ và hành vi:

+ Đay đi đay lại 3 lần về việc Xi ta ở trong vòng tay của quỷ vương Ra – va – na: “nàng đã lưu lại.đã từng sống.ở trong nhà hắn”

+ Hai lần tuyên bố không cần nàng, muốn xua đuổi nàng đi..” Ta không ưng có nàng nữa vậy ta không cần đến nàng nữa. nàng muốn đi đâu tùy ý” Thậm chí hạ lời khuyên quá tầm thường, thiếu suy nghĩ chín chắn, khuyên Xi ta muốn lấy ai thì lấy, coi rẻ phẩm hạnh, khinh bỉ tư cách người phụ nữ của Xi ta..

* Trước hành động cao cả của Xi ta:

2. Tâm trạng Xi – Ta:

– Nghe những lời tuyên bố thóa mạ của Ra – ma: Xi ta đau đớn đến nghẹn thở như 1 cây leo bị vòi voi quật nát; nàng xấu hổ cho số kiếp, muốn “vùi chôn cả hình hài của mình?

Lời nói của Ra ma như một mũi tên xuyên vào trái tim nàng.

– Nàng nhận ra thực lòng ghen tuông của Ra ma. Bởi có dũng khí, bất khuất nên Xi ta vẫn đứng vững, trấn tĩnh lại, dùng lời lẽ vừa dịu dàng, vừa nghẹn ngào để thanh minh cho mình.

+ Chỉ trích lời lẽ quá hồ đồ, thô bạo của Ra – ma, xem đó là lời của “Người thấp hèn chửi mắng 1 con mụ thấp hèn”.

+ Chỉ trích thái bộ ngờ vực không căn cứ của Ra – ma, dùng mọi lời – mọi bằng chứng hùng hồn để chứng minh lòng sắt son thủy chung, vẫn giữ gìn hạnh phúc của người vợ “Trái tim thiếp đây thuộc về chàng” Còn cái đáng trách chính là số phận của nàng.

+ Phê phán Ra ma bằng những lời lẽ hết sức cụ thể: Sao không gửi lời nhắn từ bỏ khi Ha – me – man tới không cần mạo hiểm để khổ cứu nàng; như 1 người thấp hèn bị giầy vò; không hiểu được bản chất sao hồi thanh niên còn cưới nàng.

III. Tổng kết:

1. Nghệ thuật:

2. Nội dung:

Khắc họa thành công xung đột tâm lý của Ra – ma và Xi ta. Xây dựng tượng đài về người phụ nữ chung thủy, kiên trinh.

4. Củng cố – Nhận xét:

– Hệ thống nội dung: Theo bài học

– Cho học sinh luyện tập

1. Yêu cầu HS suy nghĩ: Nếu em là Ra – ma và Xi -ta, em có sử sự như vậy không? Vì sao?

2. So sánh nghệ thuật thể hiện tâm lý nhânvật anh hùng của Ra – ma – Ya – na có gì khác so với 2 sử thi đã học là Ô – đi – xê và Đăm Săn.

5. Dăn dò:

– Học bài. Soạn bài tuần 7

Quyết Định Bổ Nhiệm Giám Đốc Sở Giao Thông Vận Tải Tỉnh Quảng Ngãi Và Phó Giám Đốc Sở Nội Vụ Tỉnh Quảng Ngãi.

Trang Hiển Thị Chi Tiết Nội Dung Bài Viết Trên Cổng Điện Tử

Cổng Điện Tử Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Quảng Ngãi

Công Bố Quyết Công Tác Cán Bộ Tại Ubnd Tỉnh Và Sở Tài Chính

Sở Y Tế Tỉnh Quảng Ngãi

Top 4 Mẫu Tóm Tắt Ra Ma Buộc Tội Hay Nhất

Giáo Án Rama Buộc Tội Ngữ Văn 10 Chi Tiết Nhất

Top 3 Soạn Bài Cảnh Khuya, Rằm Tháng Giêng Ngắn Nhất.

Soạn Bài Cảnh Khuya Và Rằm Tháng Giêng Ngắn Nhất

Soạn Bài Rằm Tháng Giêng Vnen

Nội Dung Bài Rằm Tháng Giêng

Ở bài viết này Cunghocvui gửi bạn top 5 mẫu tóm tắt ra ma buộc tội ngữ văn 10 hay nhất, 5 bài tóm tắt này sẽ được linh hoạt trong ngôi kể và điểm nhìn của người kể.

2. Ta là Ra ma, con trai cả của đức vua Đa xa ra tha – vương quốc Kô sa la. Ta có ba người em trai, trong đó có hai người em cùng cha và khác mẹ, ta hơn hẳn các em về tài lực. Năm đó vua cha có ý nhường lại ngai vàng cho ta nhưng lại chỉ vì lời hứa với bà vợ thứ Ka kê i xinh đẹp mà nhường lại ngôi vua cho Bha ra ta. Còn ta và người vợ xinh đẹp Xi ta, em trai Lắc ma na bị đày vào trong rừng sống ẩn dật. Bi kịch vẫn chưa kết thúc khi mà tên quỷ vương Ra va na lập mưu cướp Xi ta của ta về làm vợ. Nàng được tướng khỉ Ha nu man giúp đỡ mà có thể trở về, nhưng lúc đó ta hồ đồ nghi ngờ tiết hạnh của nàng mà có ý không nhận, đuổi nàng đi. Nàng vì đau khổ, muốn chứng minh tiết hạnh của bản thân mà đã gieo mình xuống lửa. May sao thần lửa biết Xi ta xinh đẹp của ta trong sạch nên đã cứu giúp. Sau đó nàng cùng ta trở về kinh đô và sống hạnh phúc bên nhau.

3. Sau chiến thắng giải cứu vợ là Xi ta, Ra ma lại nghi ngờ tiết hạnh của nàng. Ra ma nổi cơn ghen dữ dội, mặc cho đôi mắt đẫm lệ của Xi ta chàng vẫn buồng lời xúc phạm và ruồng bỏ nàng. Xi ta vì đau đớn, giải thích, thanh minh rằng mình vẫn giữ được tiết hạnh với Ra ma, nhưng vô ích. Đến cuối cùng nàng chứng minh phẩm hạnh, lòng chung thủy với chồng bằng cách nhảy vào lửa, tất cả đều bật tiếng khóc vang trời trước cảnh tượng đau đớn đó. Thần lửa biết được sự trong sạch của Xi ta mà đã cứu giúp nàng, nàng trở về bên Ra ma sống hạnh phúc trong hoàng cung.

4. Chuyện kể về hoàng tử Ra ma bị đày vào ải rừng 14 năm, tình nguyện đi theo chàng là người vợ xinh đẹp Xi ta và người em Lắc ma na. Khi thời hạn lưu đày sắp hết thì tên quỷ vương Ra va na mưu đồ bắt cóc Xi ta. Ra ma bắt đầu hành trình giải cứu vợ, gian khó và hoạn nạn chàng đều trải qua để có thể giải cứu được Xi ta. Nhưng khi gặp lại vợ mình chàng lại nghi ngờ danh tiết không còn trọn vẹn, mặc cho Xi ta giải thích, thanh minh thì Ra ma vẫn tuyên bố từ bỏ nàng. Xi ta vì không còn cách nào chứng minh cho mình nữa bèn bước lên giàn hỏa thiểu, nhờ thần lửa chứng minh cho sự trong sạch của mình. Chứng kiến cảnh tượng này mọi người thương tiếc vô cùng.

5 Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Đoạn Trích Ra

Văn 8 Tuần 1 Van 8Tuan 1 Doc

Bài Phân Tích Tính Thống Nhất Về Chủ Đề Của Văn Bản: Rừng Cọ Quê Tôi Theo Những Yêu Cầu: Cho Biết Văn Bản Trên Viết Về Đối Tượng Nào Và Vấn Đề Gì. Tìm Các Từ Ngữ, Các Câu Tiêu Biêu Thể Hiện Chủ Đề Của Văn Bản

Bài Phân Tích Tính Thống Nhất Về Chủ Đề Của Văn Bản: Rừng Cọ Quê Tôi Theo Những Yêu Cầu: Cho Biết Văn Bản Trên Viết Về Đối Tượng Nào Và Vấn Đề Gì…. Tài Liệu Học Tập

70 Surprising Ways To Make Extra Money On The Side

Đọc Hiểu Văn Bản: “Uy

Văn Bản Pháp Luật – Bdif.vn

Gia Lai: Ban Hành Quy Chế Quản Lý, Vận Hành, Khai Thác, Sử Dụng Hệ Thống Một Cửa Điện Tử Và Cổng Dịch Vụ Công Của Tỉnh

Giáo Án Ngữ Văn 10 – Nâng Cao

Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm “Văn Học Nghệ Thuật”

Rèn Kỹ Năng Đọc – Hiểu Văn Bản Văn Học Ngoài Chương Trình Cho Học Sinh Chuyên Văn

Đọc – hiểu văn bản: “Uy-lit-xơ Trở về” (trích SỬ THI “Ô ĐI XÊ”)

I. ĐỌC – HIỂU TIỂU DẪN.

1. SỬ THI “Ô ĐI XÊ”.

– Là 1 trong hai sử thi nổi tiếng của văn học Hi Lạp cổ đại (TK IX-VIIITCN)

– Tương truyền là do Hô me rơ (nhà thơ mù) sáng tác dựa theo truyền thuyết về cuộc chiến thành Tơ roa (xảy ra trước đó 3 thế kỉ)

– Tác phẩm gồm 12 110 câu thơ chia thành 24 khúc ca

* Tóm tắt: sgk (nhân vật chính là người anh hùng Uy-lit-xơ và hành trình trở về quê hương I tác đoàn tụ cùng gia đình)

* Chủ đề: Khát vọng chinh phục thiên nhiên để khai sáng, mở rộng giao lưu giữa các nền văn minh văn hoá; đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình.Qua đó thể hiện sức mạnh trí tuệ, ý chí của con người.

* Vị trí đoạn trích: Đoạn trích thuộc khúc ca thứ XXIII của sử thi Ô-đi-xê.

II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN.

1. Nhân vật Uy lít xơ:

– Tài năng: như một vị thần ( thắng trong cuộc thi bắn cung; tiêu diệt những tên cầu hôn đầu sỏ; trừng phạt lũ đầy tớ phản bội..) với trí tuệ mẫn tiệp ( bảo gia nhân bày tiệc, tìm cách đối phó với gia đình những kẻ cầu hôn vừa bị mình trừng trị..)

– Ngoại hình: đẹp như một vị thần

⇒ Uy-lit-xơ là hiện thân cho vẻ đẹp của người anh hùng chiến trận thời cổ đại

– Tính cách:

+ Nhẫn nại đợi vợ công nhận mình trong sự tin tưởng (thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy )

+ Trách Pê-nê-lốp vì có trái tim sắt đá hơn ai hết trong đám đàn bà yếu đuối … có gan ngồi cách xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời, trải qua bao nỗi gian truân, nay mới về xứ sở

+ Hờn dỗi: đòi nhũ mẫu kê giường để ngủ một mình

+ Giật mình vì tưởng tình cảm vợ chồng không còn nguyên vẹn (qua bí mật về chiếc giường của hai vợ chồng )

+ khi vợ nhận ra chồng: ôm lấy vợ và khóc dầm dề

⇒ Diễn biến tâm lí phức tạp nhằm khắc họa tính cách trần tục của Uy-lit-xơ. Uy-lit-xơ vừa là người anh hùng muôn vàn trí xảo vừa là con người trần thế nhất mực thủy chung với gia đình

2. Nhân vật Pê-nê-lốp:

* Khi chưa gặp Uy-lit-xơ:

– Nàng thận trọng nói với nhũ mẫu về mối hồ nghi của mình: Chính chàng đã chết rồi; Chỉ có thần linh mới có thể tiêu diệt được bọn cầu hôn

– Nhũ mẫu đưa bằng chứng vết sẹo: Pê-nê-lốp không tin;

* Khi gặp Uy-lit-xơ:

– Pê-nê-lốp rất đỗi phân vân: vừa bàng hoàng xúc động vừa thận trọng dò xét.

– Ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu, lòng sửng sốt: đăm đăm âu yếm nhìn chồng; lúc lại không nhận ra chồng; gọi chồng là “ngài” xưng “tôi”.

– Bị con trai và cả Uy-lit-xơ trách móc, Pê-nê-lốp vẫn thận trọng đưa ra phép thử đối với Uy-lit-xơ dựa vào bí mật chỉ có hai người biết

+ Cách thử bí mật chiếc giường trong đoạn này vừa cho thấy phẩm chất trí tuệ của Pê-nê-lốp ( trọng danh dự, thận trọng, tỉnh táo) vừa cho thấy sự thủy chung, kiên trinh của nàng

* Khi Uy-lit-xơ nói ra bí mật chiếc giường:

– Pê-nê-lốp bủn rủn cả chân tay, chạy ngay lại, nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng, giãi bày tâm sự. Niềm vui sướng, hạnh phúc tột cùng.

⇒ Pê-nê-lốp là người phụ nữ khôn ngoan, tỉnh táo, thủy chung

3. Nghệ thuật:

– Ngôn ngữ kể chuyện trang trọng, chậm rãi, sử dụng nhiều định ngữ ( Pê-nê-lốp thận trọng, Uy-lit-xơ muôn vàn trí xảo,..)

– Lời nói của nhân vật được chau chuốt (vừa có hình ảnh vừa có chiều sâu trí tuệ ); tâm lí nhân vật được khắc họa rõ nét

– Sử dụng nghệ thuật so sánh mở rộng

Cổng Điện Tử Thành Phố Hưng Yên

Hưng Yên Triển Khai Bổ Sung Các Biện Pháp Cấp Bách Phòng, Chống Dịch

Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Trà Vinh

Sở Tư Pháp Tỉnh Tuyên Quang

Cổng Điện Tử Tỉnh Ninh Bình

Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi

Tổng Hợp Kiến Thức Đọc Hiểu Văn Bản Môn Ngữ Văn Đầy Đủ Nhất

Đọc Hiểu Văn Bản Cha Tôi, Gợi Dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825

Bộ 5 Đề Đọc Hiểu Và Nghị Luận Văn Học Xoay Quanh Tác Phẩm Làng Của Kim Lân

Tình Huống Truyện Độc Đáo Trong Tác Phẩm Làng Và Chiếc Lược Ngà

Phân Tích Tình Huống Độc Đáo Trong Truyện Ngắn Làng

Đọc hiểu văn bản Cha tôi

Gợi dẫn 1. Đặng Huy Trứ (1825 – 1874) hiệu là Tỉnh Trai và Vọng Tân, tự là Hoàng Trung, người làng Thanh Lương, huyện Hương Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Năm 1843, Đặng Huy Trứ đỗ cử nhân, năm 1848 đỗ tiến sĩ nhưng vì phạm huý ông đã bị đánh trượt và bị tước luôn học vị cử nhân.

Ông đã dâng nhiều thư điều trần đề xuất nhiều tư tưởng tân tiến nhưng đáng tiếc là những tư tưởng của ông không được thực hiện.

2. Đặng Dịch Trai ngôn hành lục thuộc thể kí, là tác phẩm khá thành công của Đặng Huy Trứ. Tác phẩm là những trang hồi tưởng của tác giả về người cha đáng kính của mình, ông Đặng Văn Trọng (tên hiệu là Dịch Trai). Tác phẩm ghi lại chi tiết lời nói và việc làm của Đặng Văn Trọng cùng nhiều chi tiết quan trọng về cuộc đời, qua đó thể hiện những quan niệm về cuộc sống của tác giả và tình cảm kính trọng của ông đối với người cha đáng kính.

3. Đoạn trích có nhiều từ cổ, cần đọc kĩ chú thích. Lưu ý thể hiện rõ giọng đọc các lời thoại.

Đoạn tríchlần lượt thuật lại ba sự kiện tiêu biểu, ba khúc ngoặt trên đường thi cử của nhân vật “tôi” (tức Đặng Huy Trứ). Sự kiện là việc thi cử đỗ trượt của “tôi” nhưng vấn đề tác giả muốn thể hiện ở đây lại nằm ở hành động, lời nói của người cha. Những phản ứng của người cha trước việc đỗ trượt của con trai đã thể hiện rõ nhân cách và cái nhìn sâu sắc của ông về con người.

Sự kiện thứ nhất xảy ra vào mùa thu năm Quý Mão (1843), “tôi theo cha cùng người anh con bác trưởng là Đặng Huy Sĩ đến trường Phú Xuân để thi”. Nhân vật “tôi” đi thi với mục đích “quen với tiếng trống trường thi”. Khi người ta xướng danh, yết bảng thì “tôi” đi xem hát. Cũng chỉ định đi chơi về rồi ngó bảng tú tài. Tất nhiên, đây chỉ là cách nói khiêm tốn của người thuật chuyện, song nó cũng thể hiện được thái độ đi thi của ông. Sự kiện đầy bất ngờ đã xảy ra, khi xướng danh họ Đặng, mọi người đều nghĩ là Đặng Văn Trọng. Thế nhưng người đỗ thứ ba lại chính là “tôi”. Đỗ thứ ba trong kì thi này là một vinh dự rất lớn, là hi vọng và mong đợi của mọi sĩ tử, kể cả của thân phụ Đặng Huy Trứ, tức Đặng Văn Trọng, một người tài giỏi mà ai cũng nghĩ là xứng đáng. Thế nhưng, thái độ của hai cha con lại hoàn toàn bất ngờ. Con thì không quan tâm, vẫn mải đi chơi và khiêm tốn với “ý định” “để đến tối sẽ đi coi bảng tú tài xem có tên mình hay không”. Còn người cha, nghe tin con đỗ, một tin vui đối với cả gia tộc, dòng họ thì lại có phản ứng thật lạ : “cha tôi dựa vào cây xoài, nước mắt ướt áo” như là “gặp việc chẳng lành”. Không phải ông buồn vì con thi đỗ mà ông lại trượt. Những giọt nước mắt của người cha ấy thể hiện tấm lòng cao cả, nỗi lo lắng của một người cha, một người từng trải, người vốn đã rất hiểu lẽ đời. Câu trả lời của ông hợp tình hợp lí : “Có gì đáng vui đâu. Đỗ đạt cao là để dành cho người có phúc đức. Con tôi tính tình chưa già dặn, chưa có đức nghiệp gì… Cổ nhân đã nói “Thiếu niên đăng khoa nhất bất hạnh dã !””. Đó là nỗi băn khoăn của một người cha luôn lo lắng cho con. Câu trả lời của ông vừa rất khiêm tốn lại rất chân thành. Những câu nói ấy đã có ngầm ý rằng : mục đích của việc thi cử không nhất thiết phải đỗ đạt để làm quan ngay. Sự đời cái gì dễ kiếm thì không được trân trọng dù nó rất quý giá. Dù là người có tài năng thực sự nhưng nếu đỗ đạt quá sớm sẽ sinh ra kiêu ngạo và tự mãn. Phản ứng của người cha là phản ứng của người hiểu sâu xa câu chuyện “Tái ông thất mã”. Kể lại sự kiện này, tác giả đã chọn chi tiết, ngôn ngữ rất khéo léo để thể hiện nhân cách và suy nghĩ sâu xa của người cha. Ngôn ngữ và cách nói của người cha thể hiện ông là một nhà nho mẫu mực. Những lí lẽ ông đưa ra đều thật trọn vẹn, có trên có dưới. Không tự ti nhưng cũng không kiêu căng tự mãn: “Nào ngờ, mới một lần đi thi lại trúng thứ ba. Đó là do triều đình nuôi dưỡng, tổ tông tích đức, gia đình giáo dục mà được thế… Nhìn lên, tôi đội ơn tác thành của thiên tử, lại cảm kích công vun trồng của tổ tiên, chỉ sợ con tôi không báo đáp được nghĩa nặng ơn dày nên không cầm nổi nước mắt”. Tác giả đã dùng lời đáp ấy và mượn lời nhận xét của mọi người để tỏ lòng kính trọng và niềm tự hào về người cha của mình.

Sự kiện thứ hai được thuật lại trong đoạn trích vẫn lại là chuyện thi cử. Lần thứ hai, người con đỗ đạt và người cha cũng có phản ứng tương tự. Đó là”Khoa thi Hội mùa xuân năm Đinh Mùi nhân tứ tuần đại khánh của đức Hiến tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị, vua cho mở Ân khoa”.

Người cha nghe tin con đỗ đạt không hồ hởi vui mừng mà lo lắng : “Bậc đỗ đại khoa ắt phải là người phúc phận lớn. Con tôi đức độ ra sao mà được như vậy, chỉ làm cho tôi thêm lo lắng”. Không phải người cha không tin vào khả năng của con mình. Đây là cách phản ứng của một người cha có suy nghĩ sâu sắc, chín chắn. Ông đã thể hiện quan niệm của mình về người quân tử. Người đỗ đạt phải là người có tài và có đức. Đó là quan niệm của một chính nhân quân tử, một con người hiểu đời, hiểu người, hiểu lẽ sống và hiểu chính con trai mình.

Sự kiện thứ ba được tác giả thuật lại trong đoạn trích có khác với hai sự kiện trên. Tác giả đã chọn kể hai sự việc đồng thời xảy ra trong gia đình để ngợi ca tấm lòng và nhân cách của người cha. “Kì thi Đình năm ấy vào ngày 26 tháng 4. Đúng hôm đó, từ cuối nhà bên trái điện Cần Chánh báo tin dữ : bác ngự y Đặng Văn Chức mất […]. Tôi thì vừa bị đánh hỏng trong kì thi Đình… Cả nhà lại càng buồn cho tôi”. Trước hai tin dữ ấy, Đặng Văn Trọng đau đớn trước cái chết của người anh và coi việc con trai bị đánh hỏng là “không có chuyện gì đáng kể”. Với phản ứng của người cha như trên, có thể suy đoán dường như người cha không muốn con trai mình đỗ đạt. Một nhà nho theo nghiệp sách đèn khoa cử không lẽ lại coi thường chuyện đỗ đạt như vậy. Xem lại thì không phải vậy. Tấm lòng của người cha ấy được thể hiện rõ ở lời nói của ông trong phần kết đoạn trích. Khi việc tang người anh trai đã hơi thư, ông mời quay sang khuyên nhủ con trai. Lời khuyên nhủ này là tâm sự giấu kín từ nơi sâu thẳm tấm lòng người cha : “Đã vào thi Đình thì không còn đánh trượt nữa, từ đời Lê đến nay như thế đã lâu mà nay con lại bị đánh trượt”. Ông đã phân tích cho con trai thấy sai lầm nghiêm trọng của mình để người con nhận rõ điều trái phải. Việc để bị đánh trượt trong kì thi Đình là một lỗi lầm rất lớn. Nhưng ông không dừng lại ở việc chỉ ra sai lầm của con, mà quan trọng hơn, ông đã khuyên nhủ con trai những lời thấu tình đạt lí. Lời khuyên của người cha chứa đựng những triết lí về cuộc sống. Nó đã giúp cho người con nhận ra lỗi lầm của mình, nhưng không bị rơi vào sự tuyệt vọng, bi quan hay phẫn uất. Bài học ông dạy con có thể thu gọn trong câu “Thất bại là mẹ thành công”. Những lí lẽ người cha đưa ra thật thấu tình đạt lí, nó buộc người con phải suy nghĩ mà quyết tâm tiến thủ. “… tước cả khoa danh của con là để rèn luyện cho con nên người. Ông Phạm Văn Huy ở Thiên Lộc… Tài học, phẩm hạnh của con còn kém các ông ấy muôn lần. Người ta ai chẳng có lúc mắc sai lầm, quý là ở chỗ biết sửa chữa”.

Lí lẽ và quan niệm về chuyện thi cử, về thành công và thất bại của người cha đều rất sâu sắc. Đó cũng chính là một bài học nhân sinh quý giá cho người đời sau.

Người cha hiện lên trong lời tự thuật của nhân vật “tôi” thật đáng kính trọng. Ông là điển hình mẫu mực của một nhà nho chân chính. Qua câu chuyện của bản thân mình, tác giả đã đưa ra một triết lí sống rất thực tế và sâu sắc : ở đời, điều quan trọng không phải là thành công hay thất bại. Điều quan trọng là ta phải biết vì sao mình thất bại, từ đó rút ra bài học cho bản thân. Thành công không kiêu ngạo tự mãn, thất bại không bi quan tuyệt vọng. Phải biết mình biết ta, biết sống cho đúng mực và phải biết đứng lên sau khi ngã.

Cách kể chuyện trong đoạn trích rất tiêu biểu cho nghệ thuật viết kí. Tác giả rất trung thành với sự thực nhưng không dừng lại ở việc thuật lại sự việc. Trong khi thuật lại các sự kiện, người viết đã lựa chọn chi tiết, sự việc tiêu biểu để từ đó thể hiện thái độ của bản thân hoặc những quan niệm, tư tưởng có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Đặng Huy Trứ để lại nhiều sách về giáo dục, sử, binh thư, riêng về văn, có Đặng Hoàng Trung văn sao(Bản sao tập văn của Đặng Hoàng Trung), Đặng Hoàng Trung thi sao (Bản sao tập thơ của Đặng Hoàng Trung), Đặng Dịch Trai ngôn hành lục (Sao lục châm ngôn và hành trạng của Đặng Dịch Trai), Tứ giới thi(Thơ về bốn điều răn)…, trong đó đáng kể nhất là Đặng Hoàng Trung thi sao và Đặng Dịch Trai ngôn hành lục. Thi sao gồm 12 quyển, 1250 bài thơ làm trong thời gian 1840 – 1860. Thơ ông bày tỏ tấm lòng quan tâm đến đời sống người dân thường ở nông thôn, chung niềm vui nỗi buồn với họ, từ bác thợ cày, phụ nữ nuôi tằm, chị vú nuôi trẻ, bà đỡ hộ sản đến người chạy chợ, nhà nho nghèo… Qua nhiều bài thơ, tác giả đã khắc hoạ nhiều mặt đời sống phong phú ở miền quê, bằng những chi tiết cụ thể, như đống rấm trấu ban đêm, mẹt cau phơi ngày lạnh. Các sản vật địa phương cùng những nghề thủ công như rổ tre Bàu La, gạo gie An Cựu, lò vịt An Xuân, nghề làm đá ở Lục Bảo v.v… cũng đi vào thơ của ông. Sau khi ra làm quan, tác giả dành phần lớn thơ để bộc lộ rõ hơn nữa lòng ưu thời mẫn thế cùng những suy tư về vận mệnh ngả nghiêng của đất nước. Lòng yêu nước đó đã được thể hiện cụ thể bằng hành động chống giặc Pháp đến hơi thở cuối cùng.

Thơ Đặng Huy Trứ tuy chưa sánh được với các nhà thơ cự phách về mặt nghệ thuật nhưng mặt mạnh của ông lại là đưa được những hình ảnh hiện thực sinh động, cá thể, giàu sắc thái địa phương vào thơ. Mặt mạnh này càng thể hiện đầy đủ hơn ở cuốn văn xuôi Đặng Dịch Trai ngôn hành lục. Đây là cuốn hồi kí viết về người cha nhưng đề cập đến cả một gia đình đông đúc của ông, gồm bà, mẹ, các bác, anh em họ, hàng xóm láng giềng…, đặc biệt là phần kể chuyện về thuở ấu thơ, việc học hành, thi cử cùng mối tình thuỷ chung vượt lễ giáo của ông với cô hàng bánh. Những chân dung nhân vật, những tập tục một thời đều được ông kể lại tỉ mỉ, chân thật, do đó rất hấp dẫn người đọc ; là những tư liệu quý giúp bạn đọc đời sau hiểu về đời sống đương thời mà không phải nhà văn đương thời nào cũng để tâm ghi chép. Điều đó hẳn không tách rời với những cởi mở, đổi mới của ông trong việc nhìn ra nước ngoài, góp phần chấn hưng nền kinh tế nước nhà một cách thiết thực.

Đề Thi Thử Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn Năm 2022 Trường Thpt Yên Lạc, Vĩnh Phúc (Lần 5)

Hương Làng (Bài Đọc Hiểu Tiếng Việt Lớp 5

Những Bài Văn Mẫu Tóm Tắt Văn Bản Làng Hay Nhất

2 Bài Văn Em Hãy Giới Thiệu Về Nhà Văn Kim Lân Và Truyện Ngắn Làng

Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9 Chuẩn Nhất, Học Kì 2

🌟 Home
🌟 Top