Đọc Hiểu Văn Bản: Sóng (Xuân Quỳnh)

--- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Ý Nghĩa Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Sóng – Xuân Quỳnh
  • Tỉnh Ủy Thanh Hóa Yêu Cầu Tăng Cường Phòng Chống Dịch Covid
  • Thanh Hóa: 100% Sở, Ban, Ngành, Huyện, Xã Điều Hành Công Việc Trên Phần Mềm Quản Lý Văn Bản
  • Đồng Chí Đặng Tiến Dũng Phó Giám Đốc Sở Nông Nghiệp Và Ptnt Tỉnh Thanh Hóa Đi Kiểm Tra Sản Xuất Và Chỉ Đạo Các Giải Pháp Phòng, Chống Hạn Hán, Thiếu Nước, Xâm Nhập Mặn Tại Huyện Tĩnh Gia
  • Sóng

    (Xuân Quỳnh)

    I. Đọc – hiểu chú thích:

    1. Tác giả: Xuân Quỳnh

    – Xuân Quỳnh (1942-1988), quê tỉnh Hà Tây (nay thuộc hà nội), là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời kì chống Mĩ.

    – Xuất thân trong một gia đình công chức. Từng là diễn viên múa, biên tập báo văn nghệ, biên tập viên Nhà xuất bản tác phẩm mới.

    – Cuộc đời bất hạnh; luôn khao khát tình yêu, mái ấm gia đình và tình mẫu tử.

    – Năm 2001, được tặng giải thưởng về văn học nghệ thuật

    * Các tác phẩm chính:

    – Thơ Tơ tằm – Chồi biếc (1963)

    – Hoa dọc chiến hào (1968)

    – Gió Lào cát trắng (1974)

    – Lời ru trên mặt đất (1978)

    – Tự hát (1984)

    ….

    * Hồn thơ Xuân Quỳnh:

    – Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn phụ nữ nhiều trắc ẩn, vừa hồn nhiên, tươi tắn, vừa chân thành đằm thắm và luôn da diết trong khát vọng về hạnh phúc bình dị đời thường. Ở sắc thái, cung bậc nào thơ Xuân Quỳnh cũng nồng nàn sôi nổi, chân thành say đắm.

    – Xuân Quỳnh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của một tâm hồn luôn khao khát tình yêu, gắn bó hết mình với cuộc sống hằng ngày, trân trọng, nâng niu và chăm chút cho hạnh phúc bình dị của đời thường

    – Xuân Quỳnh được xem là một trong số những thi sĩ viết thơ tình hay nhất  trong nền thơ Việt Nam sau 1975. Tình yêu trong thơ chị vừa nồng nhiệt, táo bạo, vừa thiết tha, say đắm, dịu dàng, hồn nhiên giàu trực cảm mà lắng sâu những trải nghiệm suy tư

    – Cái tôi trong thơ Xuân Quỳnh giàu vẻ đẹp nữ tính: rất thành thật, giàu đức hi sinh và lòng vị tha. Ở Xuân Quỳnh, khát vọng sống, khát vọng yêu chân thành, mãnh liệt luôn gắn liền với cảm thức lo âu về sự phai tàn, đổ vỡ, cùng với những dự cảm về bất trắc

    2. Tác phẩm:

    – Hoàn cảnh sáng tác: Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền. Trước khi Sóng ra đời, Xuân Quỳnh đã phải nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu. Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968).

    – Thể loại: thơ 5 chữ.

    – Nội dung: Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn,đầy khát vọng và sắc son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời thường.

    – Bố cục: ba phần

    + 8 câu đầu: Sóng biển và tình yêu.

    + 26 câu tiếp theo: Suy nghĩ và trăn trở.

    + 4 câu cuối: Khát vọng tình yêu.

    II. Đọc – hiểu văn bản.

    1. Âm điệu của bài thơ:

    – Là âm điệu của những con sóng trên biển cả, và sâu xa hơn chính là âm điệu của những con sóng lòng nhiều cung bậc, sắc thái, cảm xúc trong trái tim nữ thi sĩ – âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập, khát khao, rạo rực tình yêu, đang rung lên đồng điệu, hoà nhịp với sóng biển, đến mức không còn thấy đâu là nhịp điệu của sóng biển, đâu là nhịp điệu tâm hồn thi sĩ.

    – Âm điệu đó được tạo nên bởi hai yếu tố chính: thể thơ năm chữ và phương thức tổ chức ngôn từ, hình ảnh.Thể thơ năm chữ cùng với sự linh hoạt , phóng túng khi ngắt nhịp, phối âm đã gợi lên thật ấn tượng nhịp sóng biển (và cả sóng lòng nữa) khi dịu êm, khoan thai, khi dồn dập, dữ dội.

    ⇒ Xuân Quỳnh đã mượn nhịp Sóng để thể hiện nhịp lòng của chính mình trong một tâm trạng bùng cháy ngọn lửa mãnh liệt của tình yêu, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát. Mỗi trạng thái tâm hồn cụ thể của người phụ nữ đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng.

    2. Hình tượng Sóng:

    * Hình ảnh sóng:

    – “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể” → nghệ thuật nhân hoá: con sóng vượt qua không gian chợt tìm đến cái bao la của biển cả. Trái tim người con gái đang yêu cũng vậy: không chịu chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao để đồng cảm, đồng điệu với khát vọng khám phá mình, khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu → Liên tưởng rất thực và cũng rất thơ. Khát vọng tình yêu đã hóa thân vào một biểu tượng đẹp là sóng. Giống như con sóng muôn đời vẫn dạt dào biển cả, tình yêu muôn đời vẫn là nỗi khát khao, đam mê của tuổi trẻ.

    ⇒ Người con gái khao khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục, cam chịu nữa. Nếu Sông không hiểu nổi mình thì Sóng dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó để tìm ra tận bể để đến với cái cao rộng, bao dung với khát vọng và kiếm tìm.

    ⇒ Có thể thấy ngay trong khổ thơ đầu này một nét mới mẻ trong quan niệm về tình yêu: sự chủ động của người con gái khi yêu (chủ động ở đây không phải là ngỏ lời mà chủ động vươn tới cái cao cả, cái lớn lao)

    + Nỗi khát vọng tình yêu, rạo rực trong trái tim của Xuân Quỳnh, cũng là khát vọng muôn đời của nhân loại, mà mãnh liệt nhất là tuổi trẻ Đó là khát vọng có tính vĩnh hằng theo thời gian

    – “Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ” → khát vọng mãnh liệt về tình yêu luôn luôn thường trực, bồi hồi trong trái tim tuổi trẻ, nhất là tình yêu lứa đôi. Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra “bể” như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu.

    ⇒ Hình tượng bao trùm toàn bộ bài thơ là hình ảnh ẩn dụ: Sóng để nói đến tình yêu. Hình tượng sóng đôi “sóng” và “em” đã bộc lộ được tâm trạng khát khao, nỗi nhớ da diết vừa trực tiếp lại vừa gợi cảm như những vòng sóng nối tiếp nhau cùng dội lại, cùng cộng hưởng và lan tỏa.

    3. Sự cắt nghĩa về tình yêu.

    Quy luật của sóng: “Từ nơi nào sóng lên?/ Sóng bắt đầu từ gió/ Gió bắt đầu từ đâu?” → lí giải quy luật xuất phát của sóng là từ gió, còn gió từ đâu? “Em cũng không biết nữa Khi nào ta yêu nhau.” → những câu hỏi không có lời giải đáp cũng như một tình yêu đích thực, không thể giải thích được, truy nguyên được nguồn gốc → chứng tỏ sự bí ẩn, diệu kì, sức hấp dẫn, mời gọi của tình yêu muôn thuở.

    Tình yêu luôn gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách: hạt nhân của tình yêu là nỗi nhớ “Con sóng dưới lòng sâu / Con sóng trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ /Ngày đêm không ngủ được/ Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức” → con sóng dù ở trạng thái nào (dưới lòng sâu, trên mặt nước), dù ở thời gian nào (ngày hay đêm) đều nhớ bờ da diết → điệp từ “nhớ” được lặp lại nhiều lần, nhân hóa “sóng nhớ bờ…không ngủ được” diễn tả một nỗi nhớ thật mãnh liệt, da diết, thường trực cả khi thức, khi ngủ, bao trùm lên cả không gian và thời gian của nhân vật trữ tình.

    ⇒ Tình yêu là một  hiện tượng tâm lí khác thường, đầy bí ẩn không thể giải thích được câu hỏi về khơi nguồn của nó, về thời điểm bắt đầu của một tình yêu. Đó là điều mà trước đó nhà thơ Xuân Diệu băn khoăn: “Làm sao cắt nghĩa được tình yêu” thì nay Xuân Quỳnh lại bộc bạch một cách hồn nhiên , thật dễ thương

    + Tình yêu cũng như sóng biển, như gió trời: cũng tự nhiên, hồn nhiên, khó hiểu, nhiều bất ngờ→ làm sao có thể giải thích được nguồn gốc của nó. Đây là một cách cắt nghĩa rất Xuân Quỳnh – một cách cắt nghĩa nữ tính và trực cảm.

    ⇒ Một nỗi nhớ cồn cào, da diết, không thể nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn,dào dạt như những đợt sóng biển triền miên, vô hồi, vô hạn. Nhịp thơ trong suốt bài thơ này là nhịp sóng, nhưng rõ nhất, và dào dạt, náo nức và mãnh liệt nhất là ở đoạn thơ này. Qua hình tượng sóng và em, Xuân Quỳnh đã nói lên thật chân thành, táo bạo, không hề giấu giếm khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt, thiết tha, nồng nàn của mình – một người phụ nữ – điều hiếm thấy trong văn học Việt Nam trước đó

    4. Sự chiêm nghiệm cuộc đời và khát vọng được sống hết mình trong tình yêu.

    “Cuộc đời tuy dài thế

    ……………………

    Mây vẫn bay về xa”

    → nhịp thơ lắng xuống, hình ảnh thơ mở ra (đi qua, biển dẫu rộng, bay về xa) như mang đến những dự cảm, sự khắc khoải lo âu, nhận thức và thấm thía sự hữu hạn của kiếp người, giữa cái vô cùng, vô tận của thời gian. Cuộc đời mỗi người tuy dài nhưng vẫn luôn là hữu hạn trong dòng thời gian, cũng như biển kia dẫu rộng vẫn không so được với cái bao la vô tận của bầu trời.

    – “Làm sao được tan ra

    …………………….

    Để ngàn năm còn vỗ”

    → cách duy nhất để tình yêu trường tồn với thời gian, để trái tim yêu được đập mãi đó là “tan ra thành trăm con sóng nhỏ” → khát vọng được sống hết mình trong tình yêu, muốn hoá thân vĩnh viễn thành tình yêu muôn thuở.

    – “Tan ra” không phải mất đi mà hoà giữa cái chung và cái riêng. Các từ chỉ số lượng lớn ® phơi bày một nỗi khát vọng hoà nhịp tình yêu của mình với tình yêu nhân loại, khát vọng về sức sống của tình yêu với muôn thuở một tình yêu say đắm chân thành

    ⇒ Tình yêu là một tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người. Khát vọng hóa thân, phân thân vào sóng thật mạnh mẽ. Tình yêu đôi lứa thật sự hạnh phúc khi hòa nhập trong biển lớn tình yêu của cộng đồng. Khát vọng hóa thân vào biển lớn tình yêu mang một giá trị văn hóa lớn, tạo nên sự thống nhất giữa cái riêng và cái chung; giữa cái hữu hạn và vĩnh hằng.

    Xuân Quỳnh viết bài thơ Sóng năm 1967, khi mà nhà thơ đã từng nếm trải sự đổ vỡ trong tình yêu. Song người phụ nữ hồn nhiên, tha thiết yêu đời này vẫn còn ấp ủ biết bao hi vọng, vẫn phơi phới một niềm tin vào hạnh phúc trong tương lai. Tương lai như đang còn ở phía trước đối với Xuân Quỳnh

    ● Ghi nhớ (sgk)

    III. Tổng kết:

    1. Giá trị nội dung:

    Qua hình tượng sóng, trên cơ sở khám phá sự tương đồng, hòa hợp giữa sóng và em, bài thơ diễn tả tình yêu của người phụ nữ thiết tha, nồng nàn, chung thủy, muốn vượt lên thử thách của thời gian và sự hữu hạn của đời người. Từ đó cho thấy tình yêu là một thứ tình cảm cao đẹp, một hạnh phúc lớn lao của con người.

    2. Giá trị nghệ thuật:

    – Bài thơ mang âm hưởng dạt dào, nhịp nhàng, gợi nhịp độ của con sóng liên tiếp.

    – Thể thơ 5 chữ với những dòng thơ thường là không ngắt nhịp, các câu thơ ngắn, đều đặn gợi sự nhịp nhàng.

    – Thành công trong việc xây dựng hình tượng sóng: hình tượng sóng trở đi trở lại với nhiều cung bậc, gợi những trạng thái cảm xúc đa dạng trong cõi lòng người con gái đang yêu.

    – Ngôn ngữ gần gũi, trong sáng, dung dị, tinh tế.

    3. Ý nghĩa văn bản:

    Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng sóng: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời người.

    LUYỆN TẬP:

    Câu 1. Nêu ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh sóng và mối quan hệ giữa hai hình tượng “sóng” và “ em” trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.

    Gợi ý :

    – Sóng là biểu tượng cho khát vọng về tình yêu của người phụ nữ, tương đồng với sự phong phú, bí ẩn của tâm hồn người phụ nữ khi yêu.

    – Sóng là hình ảnh biểu tượng cho tình yêu vĩnh hằng – Sóng cũng giống tình yêu trong mạch thời gian ngày xưa và ngày sau, quá khứ và tương lai bất diệt trước mọi đổi thay.

    – Sóng là hình ảnh tượng trưng cho quy luật không thể cắt nghĩa của tình yêu.

    – Sóng là biểu tượng cho tình yêu trong sáng, giản dị, chân thành, luôn thể hiện khát vọng về một tình yêu chung thủy và dâng hiến trọn vẹn, ý thức được sự trôi chảy của thời gian và sự nhỏ nhoi của kiếp người.

    – Sóng và em tuy hai nhưng lại là một, đều là nỗi lòng của người phụ nữ đang yêu, là sự phân thân và hóa thân của cái tôi trữ tình, từ đó diễn tả những cung bậc tình cảm mãnh liệt trong trạng thái yêu đương của người phụ nữ.

    – Vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu:

    • Nét đẹp truyền thống: đằm thắm, dịu dàng, hồn hậu, dễ thương, chung thủy.
    • Nét đẹp hiện đại: táo bạo, mãnh liệt, dám vượt qua mọi trở ngại để giữ gìn hạnh phúc, dù có phấp phỏng trước cái vô tận của thời gian nhưng vẫn tin vào sức mạnh của tình yêu.

    ⇒ Qua bài thơ “ Sóng” ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu. Người phụ nữ ấy mạnh bạo, chủ động bày tỏ những khát khao yêu đương mãnh liệt và những rung động rạo rực trong lòng mình. Người phụ nữ ấy thủy chung nhưng không còn nhẫn nhục cam chịu nữa. Nếu “không hiểu nỗi mình” thì sông dứt khoát từ bỏ nơi chật hẹp đó để “ tìm ra tận bể”, đến cái cao rộng bao dung. Đó là những nét mới mẻ hiện đại trong tình yêu.

    – Tâm hồn người phụ nữ đó giàu khao khát, không yên lặng “ Vì tình yêu muôn thuở – Có bao giờ đứng yên”

    “Tình yêu trong thơ Xuân Quỳnh không dừng lại ở mức độ tình yêu buổi đầu giản đơn, hò hẹn, non nớt, ngọt ngào mà là tình yêu hạnh phúc, với nhiều đòi hỏi ở chiều sâu tình cảm, với nhiều minh chứng thử thách mang đậm dấu ấn trách nhiệm” ( Phạm Đình Ân ).

    LUYỆN ĐỀ

    Đề 1. Đọc đoạn thơ sau:

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam

    Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh – một phương”

    Hãy xác định nội dung chính của đoạn thơ?

    Nhận xét gì về cách viết của tác giả trong câu: “Dẫu xuôi về phương Bắc – Dẫu ngược về phương Nam”? Tác dụng nghệ thuật của cách viết?

    Dấu – trong câu thơ “Hướng về anh – một phương” có ý nghĩa gì? Tác dụng của dấu – trong câu thơ là gì?

    Viết đoạn văn cảm nhận cái hay, cái đẹp của đoạn thơ.

    Gợi ý :

    – Xác định nội dung chính của đoạn thơ: Đoạn thơ là lời tự bạch khẳng định tình yêu và lòng chung thủy của nhân vật trữ tình: dù ở đâu, nơi nào, hoàn cảnh và cuộc đời có đổi thay thì em cũng chỉ có một tình yêu duy nhất đối với anh.

    – Nhận xét gì về cách viết của tác giả trong câu: “Dẫu xuôi về phương Bắc – Dẫu ngược về phương Nam”: Cách viết mới lạ, khác biệt với lô gic thông thường của tự nhiên.

    – Tác dụng nghệ thuật của cách viết: nhấn mạnh dụng ý rằng: dù cho hoàn cảnh có đổi thay, trái đất có xoay chiều đổi hướng thì tình yêu vẫn không hề thay đổi, vẫn kiên định.

    – Dấu – trong câu thơ “Hướng về anh – một phương” có ý nghĩa: Tách câu thơ làm đôi, bổ sung ý nghĩa cho câu thơ.

    -Tác dụng của dấu – trong câu thơ là gì: tạo nên điểm nhấn cho câu thơ, làm cho ý thơ thêm mạnh mẽ, kiên định.

    Viết đoạn văn cảm nhận cái hay, cái đẹp của đoạn thơ. Phải đảm bảo các ý sau:

    Giới thiệu về vị trí đoạn thơ:

    –  Cảm nhận về cái hay (nội dung) đoạn thơ: Thể hiện tấm lòng thủy chung, son sắt của người phụ nữ với nét riêng vừa nữ tính, vừa kiên định. Đó chính là nét đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu đã được thơ ca xưa nay nói đến nhiều. Nhưng đến Xuân Quỳnh vẫn mang có nét duyên dáng, ý nhị, sâu sắc.

    – Cảm nhận về cái đẹp (hình thức) của đoạn thơ: Câu thơ 5 chữ vừa trang trọng, vừa linh hoạt, phù hợp với diễn tả tâm trạng, cảm xúc. Cách nói mới lạ gây bất ngờ cho người đọc, gợi những liên tưởng sâu xa về tình yêu và lòng chung thủy. Câu thơ cuối nhấn mạnh vào vế “một phương” như một lời tạc dạ về lòng chung thủy.

    Đánh giá chung về đoạn thơ.

    Đề 2: “Thơ Xuân Quỳnh thể hiện một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường”. (SGK Văn học 12, tập 1,Nxb Giáo dục, Hà Nội,2000, tr.250). Phân tích bài thơ Sóng để làm rõ nhận định trên.

    Gợi ý :

    1.Giới thiệu bài thơ:

    + Bài thơ sáng tác tại biển Diêm Điền năm 1967, in trong tập thơ Hoa dọc chiến hào (1968).

    + Bài thơ đã hội tụ những vẻ đẹp của tâm hồn Xuân Quỳnh trong tình yêu- một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường.

    2. Giải thích nhận định:

    + Nhận định trên có ý nghĩa khái quát về thơ và con người Xuân Quỳnh. Đấy là những vần thơ thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của nhà thơ: tình yêu là cái đẹp, cái cao cả, tình yêu là sự hoàn thiện con người.

    + Nhận định còn có ý nghĩa khái quát: thơ Xuân Quỳnh tiêu biểu cho tiếng nói tâm tư, tình cảm của giới mình.

    3. Phân tích bài thơ để chứng minh nhận định:

    + Một trái tim phụ nữ hồn hậu, chân thành, nhiều lo âu và luôn da diết trong khát vọng hạnh phúc đời thường:

    + Một tâm hồn phụ nữ luôn có những rung động mãnh liệt, luôn rạo rực đầy khát khao, luôn tìm cách lí giải tâm hồn mình và đi tìm nguồn cội của tình yêu:

    “Sông không hiểu nổi mình

    Sóng tìm ra tận bể”

    Và:

    “Em cũng không biết nữa

    Khi nào ta yêu nhau”

    + Một tâm hồn phụ nữ hồn hậu, chân thành với tình yêu đắm say, trong sáng và chung thủy:

    “Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Hay:

    “Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh- một phương”

    + Một tâm hồn phụ nữ hi vọng vào tình yêu cao cả trước thử thách nghiệt ngã của thời gian và cuộc đời sẽ hoàn thiện mình:

    “Con nào chẳng tới bờ

    Dù muôn vời cách trở”

    + Một tình yêu không vị kỉ mà đầy trách nhiệm, muốn hòa nhập vào cái chung để hiến dâng trọn vẹn:

    “Giữa biển lớn tình yêu

    Để ngàn năm còn vỗ”

    * Nghệ thuật biểu hiện:

    Sử dụng thể thơ năm chữ, âm điệu bắng trắc của những câu thơ thay đổi, đan xen nhau, nhịp điệu phù hợp với nhịp điệu vận động của sóng và phù hợp với cảm xúc của nhân vật trữ tình.

    Sử dụng từ ngữ gợi hình, gợi cảm, diễn tả những trạng thái đối lập mà thống nhất của sóng và của tình cảm con người.

    Hình tượng sóng trong bài thơ đã thể hiện sinh động và chính xác những cảm xúc và khát vọng trong tâm hồn người phụ nữ đang yêu.

    * Đánh giá:

    + Nhận định trên hoàn toàn xác đáng. Từ ý kiến trên và bài thơ giúp ta nhìn lại tâm hồn mình để sống đẹp trong tình yêu và trong cuộc đời.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đơn Xin Rút Hồ Sơ Dự Thầu
  • Ban An Toàn Giao Thông Thị Xã Ninh Hòa Ban Hành Văn Bản Về Việc Đẩy Mạnh Thực Hiện Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Rượu Bia
  • Ban Hành Quy Chế Quản Lý Cán Bộ Trong Tkv
  • Quản Lý Tài Chính Doanh Nghiệp
  • Bộ Y Tế Trả Lời Các Vấn Đề Xoay Quanh Quản Lý Thực Phẩm Chức Năng
  • Bài Thơ Mây Và Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Bài Thơ Sóng (Xuân Quỳnh)
  • Vẻ Đẹp Mộng Mơ Và Ý Nghĩa Sâu Sắc Của Bài Thơ Mây Và Sóng Của Ta
  • Tìm Hiểu Văn Bản: Sóng
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Ngữ Văn 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Bài thơ: Mây và sóng (R. Ta-go)

    Bài giảng: Mây và sóng – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Nội dung bài thơ Mây và sóng

    I. Vài nét về tác giả

    – R. Ta-go (1861-1941) tên đầy đủ là Ra-bin-đra-nát Ta-go (Ra-bin-đra-nát nghĩa là Thần Thái Dương, dịch tên ông sang Tiếng Việt là Tạ Cơ Thái Dương)

    – Quê quán: sinh tại Kolkata, Tây Bengal, Ấn Độ, trong 1 gia đình quý tộc

    – Tuy tài năng nhưng số phận Ta-go gặp nhiều bất hạnh

    – Sự nghiệp sáng tác:

    + Ta- go làm thơ từ rất sớm và cũng tham gia các hoạt động chính trị và xã hội

    + Năm 14 tuổi ông được đăng bài thơ “Tặng hội đền tín đồ Ấn Độ giáo”

    + Vào năm 1913, ông trở thanh người Châu Á đầu tiên được trao Giải Nobel Văn học với tập “Thơ dâng”

    + Ta-go đã để lại cho nhân loại gia tài văn hóa đồ sộ: 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, khoảng 100 truyện ngăn, trên 1500 bức họa và nhiều bút kí, luận văn…

    + Một số tác phẩm tiêu biểu: Tập thơ Người làm vườn, tập Trăng non, tập Thơ dâng…

    – Phong cách sáng tác: Đối với văn xuôi, Ta-go đề cập đến các vấn đề xã hội, chính trị, giáo dục. Về thơ ca, những tác phẩm của ông thể hiện tinh thần dân tộc và dân chủ sâu sắc, tinh thần nhân văn cao cả và chất trữ tình triết lí nồng đượm; sử dụng thành công những hình ảnh thiên nhiên mang ý nghĩa tượng trưng, hình thức so sánh, liên tưởng vè thủ pháp trùng điệp

    II. Tác phẩm

    1. Hoàn cảnh sáng tác

    – “Mây và sóng” được viết bằng tiếng Ben-gan, in trong tập thơ Si-su (Trẻ thơ), xuất bản năm 1909 và được Ta-go dịch ra tiếng Anh, in trong tập Trăng non xuất bản năm 1915.

    2. Bố cục: 2 phần

    – Phần 1: (Từ đầu đến “xanh thẳm”): Cuộc trò chuyện của em bé với mây và mẹ

    – Phần 2: (Còn lại): Cuộc trò chuyện của em bé với sóng và mẹ.

    3 Giá trị nội dung

    – Thông qua cuộc trò chuyện của em bé với mẹ, bài thơ Mây và sóng của Ta-go ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc

    – Bài thơ chứa đựng những triết lí giản dị nhưng đúng đắn về hạnh phúc trong cuộc đời

    4 Giá trị nghệ thuật

    – Sử dụng hình ảnh mang giàu chất trữ tình mang ý nghĩa biểu tượng

    – Kết cấu bài thơ như một câu chuyện kể tạo ấn tượng thú vị với hình thức đối thoại lồng trong lời kể của em bé

    – Nghệ thuật đối lập, ẩn dụ, nhân hóa….

    5 Phân tích tác phẩm I. Mở bài

    – Vài nét về Ta-go: Một nhà thơ Ấn Độ tài năng với tấm lòng yêu thương đối với trẻ thơ

    – Mây và sóng là một bài thơ ông viết với tấm lòng yêu trẻ thơ của mình, đồng thời gửi gắm vào đó những triết lí sâu sắc về tình mẫu tử

    II. Thân bài

    1. Lời mời gọi của những người trên mây và sóng

    – Lời mời gọi của mây và sóng:

    + Những người trên mây: “Bọn tớ chơi từ khi thức dậy cho đến lúc chiều tà. Bọn tớ chơi với bình minh vàng, bọn tớ chơi với vầng trăng bạc”

    + Những người trên sóng: “Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn. Bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ mà không biết từng đến nơi nao?”

    ⇒ Thế giới mà mây và sóng vẽ ra là thế giới diệu kì, bí ẩn, hấp dẫn, đặc biệt là đối với trẻ thơ

    – Cách đến với mây và sóng:

    + Đến với mây: đến nơi tận cùng trái đất và đưa tay lên trời

    + Đến với sóng: đến rìa biển cả và nhắm nghiền mắt lại

    – Nhận xét:

    + Lời mời gọi của mây và sóng: Lời mời gọi hấp dẫn, thú vị, khơi gợi trí tò mò

    + Cách đến với mây và sóng: rất dễ thực hiện, thú vị, hấp dẫn

    – Nghệ thuật: nhân hóa, sử dụng hình ảnh ẩn dụ đầy sức gợi

    ⇒ “mây” và “sóng” là biểu tượng cho thế giới thần tiên kì ảo mà em bé tưởng tượng ra, nhưng “mây” và “sóng” cũng là những thú vui, những cám dỗ trong cuộc sống thường ngày mà con người rất dễ bị thu hút

    2. Phản ứng của em bé trước lời mời gọi

    – Ban đầu: Em bé bị hấp dẫn bởi những lời mời, bằng chứng là em bé hỏi lại:

    + Với mây: “Nhưng làm thế nào mình lên đó được?”

    + Với sóng: “Nhưng làm thế nào mình ra đó được?”

    ⇒Phản ứng ban đầu của em bé là có thể hiểu được vì những lời mời ấy vô cùng thú vị, dễ hấp dẫn, đặc biệt là đối với trẻ con

    – Sau đó: Em bé từ chối lời mời: “Làm sao có thể rời mẹ mang đi được”

    ⇒ lời từ chối dễ thương nhưng đầy cảm động

    – Nghệ thuật: đối thoại

    ⇒ Dù luyến tiệc cuộc vui, nhưng sự từ chối lời mời gọi đã thể hiện tình yêu thương mẹ thiết tha của em bé, lúc nào em cũng nghĩ đến mẹ, luôn mong muốn ở bên mẹ. Mẹ với tình yêu thương đã trở thành sức mạnh, nguồn động lực cho em bé vượt qua những cám dỗ

    3. Trò chơi của em bé và mẹ

    – Trò chơi của em bé và mẹ :

    + Sau khi từ chối mây: “Con là mây và mẹ là trăng. Hai bàn tay con ôm lấy mẹ, và mái nhà ta sẽ là bầu trời xanh thẳm”

    + Sau khi từ chối sóng: “Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ”

    – Đối với em bé: đó là trò chơi thú vị hơn, hay hơn vì những trò chơi ấy bắt nguồn từ tình yêu thương mẹ

    ⇒ Hình ảnh thiên nhiên “mây”, “sóng” ở đây tượng trưng cho con thích vui chơi, hình ảnh “trăng”, ” bến bờ kì lạ” tượng trưng cho sự dịu dàng dàng và tấm lòng bao la, tình yêu thương con không bờ bến ⇒ Lòng yêu thương mẹ bộc lộ rõ nét hơn nữa

    – Hai câu thơ cuối: Hai câu thơ là lời khẳng định tình mẫu tử thiêng liêng và bất diệt, đó là tình cảm lớn lao được nâng tầm vũ trụ

    – Nghệ thuật: Sử dụng hình ảnh biểu tượng, điệp ngữ, câu thơ giàu hình ảnh…(đặc trưng nghệ thuật tiêu biểu cho thơ Ta-go)

    ⇒ Hình tượng em bé hiện lên vừa có những nét ngây thơ đáng yêu đồng thời thể hiện thông minh, trí tưởng tượng phong phú và tình yêu thương mẹ thiết tha ⇒ tinh thần nhân văn của Ta-go: ngợi ca vẻ đẹp tình mẫu tử

    4. Triết lí qua bài thơ

    – Con người không tránh khỏi những sự thu hút, cám dỗ từ đời sống, nếu như không có điểm tựa vững chắc, con người rất dễ vướng vào những cám dỗ đó. Tình mẫu tử chính là một điểm tựa vững chắc trong đời người

    – Hạnh phúc, đó không phải là những thứ quá xa vời, cũng không phải tự nhiên mà có, hạnh phúc luôn nằm ngay gần chúng ta, trong những điều giản dị hàng ngày, do chính chúng ta tạo ra

    III. Kết bài

    – Khái quát lại những nét đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của bài thơ

    – Liên hệ thực tế bản thân

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Các bài Soạn văn lớp 9 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 9 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 9 hơn.

    --- Bài cũ hơn ---

  • 4 Bài Tóm Tắt Truyện Kiều Hay Nhất, Chọn Lọc
  • Sơ Lược Tác Phẩm Sóng (Xuân Quỳnh)
  • 20 Đề Đọc Hiểu Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn
  • Tuyển Tập Các Đề Đọc Hiểu Sóng (Xuân Quỳnh)
  • Đọc Hiểu Văn Bản Sóng (Xuân Quỳnh) Gắn Liền Với Đời Sống Thực Tiễn
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Ngắn Gọn)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Văn 12 Sóng Tóm Tắt
  • Các Dạng Đề Bài Thơ: Mây Và Sóng
  • Tổng Ôn Kiến Thức Tác Phẩm Mây Và Sóng Của Ta Go
  • Đề Cương Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì 2 Bài Mây Và Sóng
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Của Tagor
  • a.

    * Điểm giống nhau: mỗi phần đều có kết cấu theo trình tự:

    – Ban đầu là thuật lại lời rủ rê

    – Tiếp đến thuật lại lời từ chối và lý do từ chối.

    – Những trò chơi thú vị do em bé sáng tạo.

    * Điểm khác nhau:

    – Lời rủ rê mỗi lần một hấp dẫn hơn:

    – Tình cảm của em bé đối với mẹ.

    b. Nếu ta bỏ phần thứ hai ý thơ sẽ không trọn vẹn.

    Câu 2:

    Vị trí của dòng thơ “Con hỏi…” nằm ở dòng thơ thứ ba của mỗi phần, sau những lời rủ rê mời mọc hấp dẫn.

    – Lí do em bé chưa từ chối ngay lời mời: Trẻ con vốn rất ham chơi, bởi vậy khi nghe những lời mời bao giờ cũng rất tò mò muốn biết là điều gì và cũng rất muốn được phiêu du. Thế nhưng tình yêu thương mẹ đã thắng, em đã từ chối lời mời của những người “trên mây” và “trong sóng”.

    Câu 3:

    – Sự giống nhau: sự khoáng đạt bao la, ước mong được đi đến tận cùng mọi nơi.

    – Sự khác nhau: trò chơi do em bé tạo ra thể hiện sự quấn quýt của tình mẹ con.

    – Ý nghĩa:

    + Nói lên sự tưởng tượng thông minh của em bé trong một trò chơi đầy sáng tạo.

    + Ước muốn hòa nhập với thiên nhiên vĩnh hằng của con người.

    + Ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt.

    Câu 4:

    Tất cả những hình ảnh đó trong bài thơ đều do chú bé tưởng tượng ra. Đó là hình ảnh đẹp, lung linh, kì ảo

    – Những hình ảnh đó tuy lung linh kì ảo nhưng cũng rất sinh động và chân thực.

    Câu 5:

    Hai câu thơ miêu tả hình ảnh rất thực của cuộc đời, đó là bức tranh hạnh phúc của tình mẹ con thắm thiết.

    Câu 6:

    – Con người trong cuộc sống vẫn thường gặp những cám dỗ và quyến rũ. Muốn khước từ chúng, cần có những điểm tựa vững chắc mà tình mẫu tử là một trong những điểm tựa ấy.

    – Bài thơ đã chắp cánh cho trí tưởng tượng của tuổi thơ song cũng nhắc nhở mọi người rằng, hạnh phúc không phải là điều gì xa xôi bí ẩn, do ai ban cho mà ở ngay trên trần thế và do chính con người tạo dựng.

    – Bài thơ cho thấy mối quan hệ giữa tình yêu và sự sáng tạo…

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Targo)
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Siêu Ngắn
  • Top 3 Soạn Bài Mây Và Sóng Ngắn Nhất.
  • Giáo Án Bài Mây Và Sóng
  • Phân Tích Bài Thơ “sóng” Của Xuân Quỳnh
  • Bài Thơ: Mây Và Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Đọc Hiểu Văn Bản Sóng (Xuân Quỳnh) Gắn Liền Với Đời Sống Thực Tiễn
  • Tuyển Tập Các Đề Đọc Hiểu Sóng (Xuân Quỳnh)
  • 20 Đề Đọc Hiểu Thi Thpt Quốc Gia Môn Ngữ Văn
  • Sơ Lược Tác Phẩm Sóng (Xuân Quỳnh)
  • 4 Bài Tóm Tắt Truyện Kiều Hay Nhất, Chọn Lọc
  • Ta-go là nhà thơ hiện đại lớn nhất của Ấn Độ. Ông đã để lại một gia tài văn hoá nghệ thuật đồ sộ. Thơ Ta-go thể hiện tinh thần dân tộc và dân chủ sâu sắc, tính nhân văn và tính trữ tình triết lí nồng đượm. Bài thơ Mây và sóng in trong tập thơ Trăng non là một tuyệt tác, nó là bài ca về tình nhân ái, là ước mơ và khát vọng về tự do, hạnh phúc của con người. Bài thơ là lời của em bé nói với mẹ, là vẻ đẹp mộng mơ của trẻ thơ, là vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẫu tử.

    Mở đầu bài thơ là cụm từ mẹ con ngọt ngào, sâu lắng, nó mở ra một không gian tràn ngập tình yêu thương giữa con và mẹ. Hình ảnh người mẹ không xuất hiện trực tiếp trong thơ nhưng lại có mặt khắp không gian câu chuyện, có mặt trong lời gọi ngọt ngào và trong lời kể của con. Mẹ đang trân trọng lắng nghe lời con kể: trên my có người gọi con, đây là hình ảnh mộng mơ của con. Có lẽ em bé đang ngước mắt nhìn bầu trời xanh trong, nhìn mây trắng nhởn nhơ bay trong vũ trụ bao la. Bé tưởng tượng mình sẽ lên được tân mây xành để cùng mây chơi với bình minh vàng, chơi với vầng trăng bạc và để khám phá những điều kì diệu trên vũ trụ bao la. Cuộc sống trên mây thật hấp dẫn tuổi thơ nhưng em bé vẫn luôn nghĩ đến mẹ. Cuộc đối thoại tưởng tượng giữa những người trên mây và em bé đã khẳng định tình mẫu tử thắm nồng.

    Hãy đến nơi tận cùng Trái đất, đưa tay lên trời, cậu sẽ được nhấc bổng lên tận tầng mây.

    Mẹ mình đang đợi ở nhà.

    Làm sao có thể rời mẹ mà đến được? Con yêu mẹ hiền nên không thể bỏ mẹ để lên đến tầng mây. Có hạnh phúc nào hơn sống bên mẹ của mình. Mặc dù trên mây thật lí tưởng.

    Tình yêu mẹ và ước mơ diệu kì vẫn song hành trong con: Con là mây, mẹ sẽ là trăng. Hai bàn tay con ôm lấy mẹ và mái nhà ta sẽ là bầu trời xanh thắm.

    Sự lựa chọn của con thật cảm động. Con sẽ luôn gần mẹ. Con và mẹ gần nhau như mây với trăng, mây với bầu trời xanh thẳm. Trong suy nghĩ của con, mẹ là vầng trăng toả sáng, con là áng mây quanh quẩn bên trăng, gắn bó với tràng. Tình mẫu tử thiêng liêng ấy càng biểu hiện sâu đậm hơn qua cuộc trò chuyện của em bé với những người trong sóng.

    Bọn tớ ca hát từ sáng sớm cho đến hoàng hôn. Bọn tớ ngao du nơi này nơi nọ mà không biết từng đến nơi nao.

    Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?

    Hãy đến ria biển cả, nhắm nghiền mắt lại, cậu sẽ được sóng mang đi.

    Buổi chiều mẹ luôn muốn mình ở nhà, làm sao có thể rời mẹ mà đi được?

    Cuộc đối thoại tưởng tượng của những người trong sóng và em bé đã khẳng định được tình mẹ con sâu đậm. Mặc cho những người trong sóng thủ thỉ cùng em về một cuộc viễn du, mặc cho sóng vẫy gọi chào mời, sóng vỗ rì rầm trên mặt biển thật là thích thú. Tuổi thơ nào mà không thích rong chơi đây đó? Mơ ước được đi xa, nhưng, bé lại băn khoăn vì mẹ muốn mình ở nhà. Em không thể đi du ngoạn cùng mây và cũng không muốn đi chơi xa với sóng. Em mơ ước đến tận chân trời góc bể, mơ ước được khám phá những điều kì diệu trong chuyến đi chơi, nhưng em không thể nào rời mẹ. Với em, mẹ là nguồn vui nhất, nụ cười của mẹ là niềm vui của con.

    Tình mẹ con thiêng liêng đã làm cho bé ước mơ nhiều điều, liên tưởng đến những trò chơi kì diệu.

    Con là sóng và mẹ là bến bờ kì lạ

    Con lăn, Lăn mãi rồi sẽ cười vang vỡ tan vào lòng mẹ.

    Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào.

    Không có biển thì làm sao có sóng, cũng như không có mẹ thì làm sao có con.. Không có bến bờ thì sóng vỗ vào đâu, cũng khư không có mẹ thì cuộc đời con có ý nghĩa gì. Lòng mẹ bao dung như bến bờ, luôn rộng mở. Hình ảnh bến bờ kì lạ để sóng lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vỡ tan được ví như hình ảnh người mẹ luôn vỗ về, ôm ấp con thơ. Mẹ mang đến hạnh phúc cho con, là chỗ dựa của cuộc đời con.

    Hình ảnh thiên nhiên giữa sóng và bến bờ, giữa mây và trăng là những hình ảnh tượng trưng, nó thể hiện tấm lòng bao dung của mẹ, nó diễn tả tình mẫu tử thiêng liêng bất diệt. Tình mẫu tử ấy không gì chia cắt được, đúng như câu khẳng định của con:

    Và không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào.

    Tình mẹ con trong câu thơ thật sâu đậm, đây là vẻ đẹp vĩnh hằng của tình mẫu tử. Dù thế gian có như thế nào chăng nữa nhưng tình mẹ con vẫn mãi mãi muôn đời, vẫn tồn tại theo thời gian, vẫn ẩn hiện trong không gian rộng lớn.

    Với hình thức đối thoại lồng độc thoại và cách sử dụng, những hình ảnh thiên nhiên giàu ý nghĩa tượng trưng, bài thơ Mây và sóng của Ta-go đã ngợi ca tình mẹ con thắm thiết, thiêng liêng và bất diệt. Nó là điểm tựa để con hướng tới tương lai tươi sáng, hướng tới những điều tốt đẹp trong” cuộc đời.

    (Theo Nguyễn Thị Thanh Huyền, giáo viên dạy văn tại trường THPT chuyên Hùng Vương – Việt Trì – Phú Thọ)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Sóng Lớp 12
  • Soạn Bài Thơ Sóng Lớp 12
  • Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 12: Sóng
  • Tăng Cường Dạy Bù Để Đảm Bảo Đủ Thời Lượng Học Tập
  • Cong Van So 90 Sgddt Binh Phuoc
  • Soạn Bài Mây Và Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Chi Tiết)
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Siêu Ngắn)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Mây Và Sóng
  • Soạn Bài Mây Và Sóng, Soạn Văn Lớp 9 Trang 88 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2, Giá
  • Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội
  • Soạn bài Mây và sóng

    Bố cục:

    – Phần 1 (từ đầu … xanh thẳm): Thuật lại cuộc trò chuyện với những người trên mây.

    – Phần 2 (còn lại): Thuật lại cuộc trò chuyện những người trong sóng

    Đọc hiểu văn bản

    Câu 1 (trang 88 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

    a. Giữa hai phần của bài thơ :

    – Giống : kết cấu, số dòng thơ, cách xây dựng hình ảnh đều theo trình tự thuật lại lời rủ rê, lời từ chối và sự tưởng tượng sáng tạo trò chơi.

    – Khác về ý và lời giữa phần 1 – phần 2 :

    + Đối tượng : mây – sóng.

    + Trò chơi : con là mây và mẹ là trăng – con là sóng và mẹ là bến bờ kì lạ.

    + Không gian : trên trời – dưới biển.

    b. Phần thứ hai cho ý thơ trọn vẹn hơn, tác động trùng điệp, hô ứng, khẳng định những tình cảm đã được thể hiện trong thử thách thứ nhất.

    Câu 2 (trang 88 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

    Dòng thơ “Con hỏi : …” được đặt sau lời mời, lời rủ rê và đặt trước lời đáp của những người trên mây và người trong sóng. Chi tiết này chứng tỏ tính xác thực, hấp dẫn của trò chơi. Trẻ con nào mà chẳng ham chơi. Khi nghe những lời mời gọi, lần nào chú bé cũng tỏ ra băn khoăn. Dù vậy, tình yêu mẹ vẫn luôn chiến thắng để từ chối những lời gọi.

    Câu 3 (trang 88 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

    So sánh những cuộc vui chơi của người “trên mây” và người “trong sóng”:

    Đó đều là những cuộc vui từ sáng sớm đến chiều muộn, chơi với thiên nhiên, thế giới kì diệu, rực rỡ sắc màu và những trò chơi vô cùng thú vị.

    → Nói lên sức mạnh của tình mẫu tử. Tấm lòng mẹ bao la như “bến bờ kì lạ”, tình mẹ con gắn bó như mây – trăng, biển – bờ, tình cảm ấy đã lên kích cỡ vũ trụ, thiêng liêng, bất diệt.

    Câu 4 (trang 88 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

    Thành công nghệ thuật bài thơ trong xây dựng hình ảnh thiên nhiên :

    Mây, trăng, sóng, bờ, bầu trời… vốn đã là những hình ảnh thiên nhiên thơ mộng, chúng đều do trí tưởng tượng của em bé tạo ra nên càng lung linh kì ảo. Chúng cũng là những hình ảnh ẩn dụ cho cuộc sống rộn rã, cuốn hút xung quanh.

    Câu 5 (trang 88 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

    Ý nghĩa câu thơ “Con lăn, lăn, lăn mãi…ở chốn nào” : Lòng mẹ bao la luôn sẵn sàng đón tiếp con. “Mẹ con ta” ở khắp mọi nơi, không ai tách rời được cũng là tình mẫu tử ở khắp mọi nơi, thiêng liêng, bất diệt.

    Câu 6 (trang 88 sgk Ngữ Văn 9 Tập 2):

    Ngoài ca ngợi tình mẹ con, bài thơ còn gợi suy ngẫm :

    – Những cám dỗ cuộc đời là vô vàn, muốn khước từ chúng cần phải có điểm tựa vững chắc, tình cảm gia đình, tình mẫu tử chính là điểm tựa ấy.

    – Hạnh phúc không xa xôi bí ẩn, nó ở quanh ta, do chúng ta tạo nên.

    Bài giảng: Mây và sóng – Cô Nguyễn Ngọc Anh (Giáo viên VietJack)

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k6: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 9 Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga Tóm Tắt
  • Soạn Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga
  • Soạn Bài Cảnh Khuya (Hồ Chí Minh)
  • Soạn Bài Cảnh Khuya Của Hồ Chí Minh
  • Giáo Án Bài Mây Và Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Top 3 Soạn Bài Mây Và Sóng Ngắn Nhất.
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Siêu Ngắn
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Targo)
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn 12 Sóng Tóm Tắt
  • Giáo án điện tử Ngữ Văn 9

    Giáo án Ngữ văn lớp 9

    Giáo án bài Mây và sóng thuộc môn Ngữ văn lớp 9 được biên soạn kỹ lưỡng nhằm giúp các thầy cô nắm chắc nội dung bài học nhanh hơn. Giáo án điện tử bài Mây và sóng này còn giúp các thầy cô biết được ý nghĩa thiêng liêng của tình mẫu tử, thấy được đặc sắc nghệ thuật trong sáng tạo tứ thơ bằng những cuộc đối thoại tưởng tượng và xây dựng hình ảnh thiên nhiên mang ý nghĩa tượng trưng. Mời các bạn cùng tải Giáo án Ngữ văn 9 – Tuần 27 – Tiết 126: Mây và sóng mà chúng tôi sưu tầm được.

    MÂY VÀ SÓNG

    R.TA-GO

    I. Mục tiêu bài dạy. 1. Kiến thức.

    Giúp học sinh cảm nhận được ý nghĩa thiêng liên của tình mẫu tử, thấy được đặc sắc nghệ thuật trong sáng tạo tứ thơ bằng những cuộc đối thoại tưởng tượng và xây dựng hình ảnh TN mang ý nghĩa tượng trưng.

    2. Kỹ năng

    Rèn kỹ năng đọc, phân tích thơ tự do, phân tích những hình ảnh tượng trưng trong thơ, kết cấu đối thoại, độc thoại trong thơ.

    3. Thái độ:

    Giáo dục ý thức đọc, tìm hiểu thơ nước ngoài, đồng thời giáo dục lòng kính yêu cha mẹ.

    II. Phương pháp thực hiện. III. Cách thức tiến hành IV. Tiến trình bài dạy: 1. Tổ chức: 2. Kiểm tra:

    Đọc thuộc lòng bài thơ “Nói với con” và nêu ND, NT? Ý nghĩa bài thơ

    3. Bài mới:

    Tình mẫu tử có lẽ là một trong những tình cảm thiêng liêng và gần gũi, phổ biến nhất của con người, đồng thời cũng là nguồn thi cảm không bao giờ cũ, không bao giờ vơi cạn của nhà thơ. Nếu Chế Lan Viên phát triển từ thơ từ hình ảnh con cò trong ca dao: Nguyễn Khoa Điềm làm khúc hát ru….. mẹ thì đại thi hào Ấn Độ, trong những năm tháng đau thương mất mát ghê gớm của cuộc đời và gia đình đã viết lặp Si-Su trong đó có Mây và Sóng – là tiếng hát đau buồn sâu thẳm nhưng vẫn chứa chan tình yêu thương và niềm tin vào tủ thơ vào thế hệ tương lai.

    Hướng dẫn học sinh đọc, đọc mẫu, gọi học sinh đọc: Giọng đọc thay đổi và phân biệt ở mức độ nhất định giữa lời kể của em bé với những lời đối thoại giữa em bé và những người ở trên mây trong sóng

    → Nhận xét cách đọc

    Nêu vài nét chính về tác giả?

    • Ra-bin-đra- nát Ta-go.
    • Thơ ông kết hợp nhuần nhuyễn, hài hoà giữa hiện đại và truyền thống, quốc tế và dân tộc, tinh thần nhân văn và chất trữ tình triết lí nồng đượm.

    Giới thiệu vài nét chính về tác phẩm?

    Bài thơ ra đời năm nào?

    – Sáng tác 1909 in trong tập Si-su.

    Xác định kiểu văn bản và PTBĐ?

    – Trữ tình biểu cảm.

    Xác định bố cục?

    2 đoạn

    I. Đọc tìm hiểu chú thích 1. Đọc 2. Chú thích

    * Tác giả:

    • Ta-go (1861-1941)
    • Là nhà thơ hiện đại lớn nhất của Ấn Độ
    • Làm thơ rất sớm, là nhà văn đầu tiên ở Châu Á được nhận giải thưởng Nôben về văn học 1913
    • Thơ ông sử dụng thành công hình ảnh TN mang ý nghĩa tượng trưng những hình ảnh liên tưởng so sánh và thủ pháp trùng điệp

    * Tác phẩm

    Mây và sóng ra đời 1909, được Ta – go dịch ra tiếng Anh.

    II. Tìm hiểu văn bản 1. Kiểu văn bản và PTB đạt 2. Bố cục:

    2 đoạn:

    • Từ đầu → xanh thẳm: câu chuyện với mẹ về những người ở trên mây và trò chơi thứ nhất của bé
    • Câu chuyện với mẹ về những người ở trong sóng và trò chơi thứ hai của bé.

    → Cấu trúc giống nhau, trình tự giống nhau, song ý và lời lại có cách diễn đạt khác nhau.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ “sóng” Của Xuân Quỳnh
  • Cảm Nhận Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Hình Tượng Sóng Và Em Trong Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Hình Tượng Sóng Trong Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Targo)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Ngắn Gọn)
  • Soạn Văn 12 Sóng Tóm Tắt
  • Các Dạng Đề Bài Thơ: Mây Và Sóng
  • Tổng Ôn Kiến Thức Tác Phẩm Mây Và Sóng Của Ta Go
  • Đề Cương Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì 2 Bài Mây Và Sóng
  • Bạn muốn tìm tài liệu soạn bài Mây và sóng để tham khảo? Không cần tìm nữa. Ở bài viết này không chỉ hướng dẫn chi tiết trả lời các câu hỏi tại trang 88 sách giáo khoa mà chúng tôi còn giúp bạn nắm vững các kiến thức quan trọng của bài học

    này.

    Những kiến thức về tác giả và tác phẩm bạn cần nắm vững.

    1. Tên tuổi nhà thơ Ta-go ( Rabindranath Tagore: 1861 – 1941) đã rất quen thuộc với độc giả Việt Nam. Ông là nhà thơ hiện đại lớn nhất Ấn Độ. Tác phẩm của ông mang đến cho bạn đọc những cảm xúc rất sâu sắc, mãnh liệt một phần cũng bởi đã được trải nghiệm qua cuộc sống đầy gian nan, trắc trở của chính nhà thơ. Ta-go có sức sáng tạo thật phi thường. Ông đã để lại một gia tài văn hoá nghệ thuật đồ sộ với 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, ngoài ra còn có trên một trăm truyện ngắn và 1.500 bức hoạ… Ông là nhà văn châu Á đầu tiên được nhận giải thưởng No-ben về văn học.

    2. Bài thơ Mây và sóng được viết bằng tiếng Ben-gan, in trong tập Si-su, xuất bản năm 1909, sau này được chính Ta-go dịch ra tiếng Anh, in trong tập Trăng non, xuất bản năm 1915.

    Hướng dẫn soạn bài Mây và sóng chi tiết

    Gợi ý trả lời các câu hỏi SGK:

    1 – Trang 88 SGK

    Lời nói của em bé gồm hai phần có nhiều nét giống nhau.

    b) Giả thiết không có phần thứ hai thì ý thơ có được trọn vẹn và đầy đủ không?

    Trả lời

    a) Bài thơ có cấu trúc hai phần khá giống nhau:

    – Ban đầu là thuật lại lời rủ rê.

    – Tiếp đến thuật lại lời từ chối và lí do từ chối.

    – Cuối cùng là những trò chơi của em bé.

    Mới thoạt nhìn, tưởng như đó là hai đoạn thơ độc lập bởi đoạn nào cũng đủ ý, diễn tả trọn vẹn một sự việc xảy ra giữa em bé và thiên nhiên bè bạn. Tưởng như việc loại bỏ bớt đoạn thứ hai không ảnh hưởng nhiều đến ý nghĩa chung của cả bài thơ.

    b) Hai phần giống nhau về số dòng thơ, có sự lặp lại một số từ ngữ, cấu trúc, cách xây dựng hình ảnh nhưng không hoàn toàn trùng lặp.

    – Lời tâm tình của bé đặt trong hai tình huống thử thách khác nhau, diễn tả tình cảm dạt dào, dâng trào của em bé.

    – Qua lời từ chối, bé đã thể hiện tình thương yêu mẹ qua những trò chơi bé tự nghĩ ra, tình thương yêu ấy mới càng trở nên nổi bật. Sự thử thách càng lớn thì lòng yêu mẹ của em bé càng được chứng minh, được củng cố. Trò chơi em bé nghĩ ra càng thú vị hơn, càng thể hiện tình mẹ con thắm thiết thiêng liêng.

    2 – Trang 88 SGK

    Xác định vị trí của dòng thơ “Con hỏi: …” ở mỗi phần.

    (Gợi ý: Hãy lí giải vì sao em bé chưa từ chối ngay lời mời gọi của những người sống “trên mây” và những người sống “trong sóng”.) Trả lời

    Trong cả hai lần, khi những người bạn đến rủ rê, chú bé đều hỏi lại:

    “Con hỏi: Nhưng làm thế nào mình lên đó được?” “Con hỏi: Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được?”

    Trẻ em cũng ham chơi. Nếu em bé từ chối ngay lời rủ rê của những “người sống trên mây” và “những người sống trong sóng” thì không hợp tâm lí. Phần nào em bé cũng bị quyến rũ, có phân vân: “Nhưng bằng cách nào tôi lên được với các bạn? – Nhưng bằng cách nào tôi gia nhập cùng các bạn?”. Nhưng cuối cùng là quyết không đánh đổi những thú vui chính với việc phải rời xa mẹ. Tình thương yêu mẹ đã thắng những lời mời gọi của “những người sống trên mây” và “những người sống trong sóng”.

    3 – Trang 88 SGK

    Hãy so sánh những cuộc vui chơi của những người “trên mây” và “trong sóng” giữa thế giới tự nhiên và những trò chơi của “mây và sóng” do em bé tạo ra. Sự giống nhau cũng như sự khác nhau giữa các cuộc chơi đó nói lên điều gì?

    Trả lời

    – Em bé đè nén ham muốn, từ chối những trò chơi của mây và sóng giữa thế giới tự nhiên không có nghĩa là ghét bỏ mây và sóng. Em đã nghĩ ra một hình thức hay hơn, một trò chơi thú vị để hòa hợp tình yêu thiên nhiên và tình mẫu tử: “Con sẽ là mây và mẹ là vầng trăng; Con là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ”.

    – Những trò chơi mây và sóng do em bé tạo ra tuyệt diệu, hơn hẳn trò chơi của tự nhiên.

    4 – Trang 88 SGK

    Hãy chỉ ra những thành công về mặt nghệ thuật của bài thơ trong việc xây dựng các hình ảnh thiên nhiên (chú ý các hình ảnh mây, trăng, sóng, bờ biển).

    Trả lời

    * Trong phần 1, trò chơi của em bé: em là mây, mẹ là trăng, không phải chỉ để dùng chơi với vầng trăng bạc như “những người sống trên mây”, mà để cùng sống dưới một mái nhà ta là bầu trời xanh thẳm và con sẽ lấy đôi tay choàng lên người mẹ.

    * Trong phần 2, trò chơi của em bé: em là sóng, mẹ là bến bờ, không phải chỉ để cùng ngao du, nhảy múa như “những người sống trên sóng”, mà đế Con là sóng sẽ lăn, lăn, lăn mãi, cùng tiếng cười vỡ tan vào lòng mẹ. Quả là những trò chơi thật kì lạ, chúng cho thấy tình cảm mẹ con nông âm, thân thiết đến mức nào.

    Mây, trăng, sóng, bờ biển, bầu trời… là những hình ảnh đẹp do thiên nhiên ban tặng. Nhưng ai là người đang đến rủ chú bé đi chơi? “Trong mây có người gọi con”, “Trên sóng có người gọi con”… Thực ra đó chỉ là những âm thanh do chú bé tưởng tượng ra. Trên mây là tiếng của mây, trong sáng là tiếng của sóng. Hình ảnh đó có thể coi là biểu tượng của cuộc sống rộn rã, cuốn hút xung quanh, có sức cuốn hút kì lạ một tình yêu vô cùng của cuộc sống rộn rã, cuốn hút xung quanh, có sức cuốn hút kì lạ một tình yêu vô cùng sâu sắc, đầm thắm của chú bé đối với mẹ. Tình yêu ấy vượt lên trên cả những thú vị hằng ngày, mãnh liệt đến mức lấn át tất cả.

    Những thú vui chơi trên mây” và “trong sóng” tượng trưng của mọi quyến rũ của cuộc đời. Bến bờ kì lạ tượng trưng cho tấm lòng bao la của người mẹ

    – Không ai trên thế gian này biết chốn nào là nơi ở của mẹ con ta có nghĩa là mẹ con ta ở khắp mọi nơi, không có ai có thể chia cách được mẹ với con, cũng có nghĩa là tình mẫu tử ở khắp nơi, bất diệt và thiêng liêng.

    5 – Trang 88 SGK

    Phân tích ý nghĩa của câu thơ ” Con lăn, lăn, lăn mãi… ở chốn nào“.

    Trả lời

    Câu thơ mang một ý nghĩa hết sức cao đẹp mà lại dễ hiểu: Tình mẫu từ là một nguồn hạnh phúc dồi dào, bí mật và vô biên không bờ bên như biển cả. Người con nào sống bên mẹ hãy biết tận hưởng hạnh phúc ấy.

    6 – Trang 88 SGK

    Ngoài ý nghĩa ca ngợi tình mẹ con, bài thơ còn có thể gợi cho ta suy ngẫm thêm điều gì nữa?

    Trả lời

    Con người trong cuộc sống thường gặp những cám dỗ (nhất là với một đứa trẻ). Muốn khước từ chúng, cần có những điểm tựa vững chắc, trong đó tình mẫu tử là điểm tựa vững chắc nhất.

    – Hạnh phúc không phải là điều gì quá bí ẩn. Hạnh phúc ở ngay trên trần thế do chính con người tạo dựng nên.

    Soạn bài Mây và sóng ngắn nhất

    Với hình thức đối thoại lồng trong lời kể của em bé, qua những hình ảnh thiên nhiên giàu ý nghĩa tượng trưng, bài thơ Mây và sóng của Ra-bin-dra-nát Ta-go đã ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, bất diệt.

    [ĐỪNG SAO CHÉP] – Bài viết này chúng tôi chia sẻ với mong muốn giúp các bạn tham khảo, góp phần giúp cho bạn có thể để tự soạn bài Mây và sóng một cách tốt nhất. “Trong cách học, phải lấy tự học làm cố” – Chỉ khi bạn TỰ LÀM mới giúp bạn HIỂU HƠN VỀ BÀI HỌC và LUÔN ĐẠT ĐƯỢC KẾT QUẢ CAO.

    Giangdh (Tổng hợp)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Mây Và Sóng Siêu Ngắn
  • Top 3 Soạn Bài Mây Và Sóng Ngắn Nhất.
  • Giáo Án Bài Mây Và Sóng
  • Phân Tích Bài Thơ “sóng” Của Xuân Quỳnh
  • Cảm Nhận Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Chi Tiết)

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Siêu Ngắn)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Mây Và Sóng
  • Soạn Bài Mây Và Sóng, Soạn Văn Lớp 9 Trang 88 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 2, Giá
  • Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội
  • Soạn Bài Muốn Làm Thằng Cuội (Siêu Ngắn)
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Lời nói của em bé trong bài thơ Mây và sóng gồm hai phần có nhiều nét giống nhau, gắn với hai cảnh thơ ngoạn mục được sáng tạo bằng trí tưởng tượng. Cảnh đầu Mây, cảnh sau Sóng đã rủ em bé bò nhà đi rong chơi. Trẻ con nào mà chẳng ham chơi. Ít nhiều em bé đã bị lôi cuốn trước lời rủ rê, mời gọi nhưng cuối cùng, tình yêu thương mẹ đã chiến thắng.

    a)

    * Điểm giống nhau: kết cấu, số dòng thơ, cách xây dựng hình ảnh đều theo trình tự thuật lại lời rủ rê, lời từ chối và sự tưởng tượng sáng tạo trò chơi.

    * Điểm khác nhau:

    – Đối tượng: mây – sóng.

    – Trò chơi: con là mây và mẹ là trăng – con là sóng và mẹ là bến bờ kì lạ.

    – Không gian: trên trời – dưới biển.

    b) Mây và sóng cũng có thể xem là lời thổ lộ tình cảm của em bé với mẹ. Lời thổ lộ đó tự nhiên, liền mạch. Điều đáng chú ý ở đây là sự thổ lộ tình cảm của em bé không phải là sự thổ lộ tình cảm trong tình huống thông thường mà chính là sự thổ lộ tình cảm trong tình huống có thử thách, không chỉ xảy ra một lần. Chính vì thế, đến phần thứ hai thì ý thơ mới được trọn vẹn. Có như vậy, tình thương yêu mẹ của em bé mới được thể hiện đầy đủ.

    Câu 2 Câu 2 (trang 88 SGK Ngữ văn 9, tập 2): Xác định vị trí của dòng thơ “Con hỏi: …” ở mỗi phần. (Gợi ý: Hãy lí giải vì sao em bé chưa từ chối ngay lời mời gọi của những người sống “trên mây” và những người sống “trong sóng”.) Trả lời:

    – Ở mỗi phần, khi những người sống “trên mây” và những người sống “trong sóng” rủ rê, chú bé đều hỏi lại:

    Con hỏi: “Nhưng làm thế nào mình Lên đó được?”

    Con hỏi: “Nhưng làm thế nào mình ra ngoài đó được “

    Chú bé hỏi và những người kia đã trả lời, hướng dẫn.

    -Nếu chú bé từ chối ngay lời rủ rê của những người ấy thì tình cảm thiếu chân thực vì trẻ con nào mà chẳng ham chơi Khi nghe lời mời gọi rủ rê, hai lần, lần nào chú cũng ra vẻ băn khoăn. Ít nhiều chú bé đã bị lôi cuốn. Thế nhưng, tình yêu thương mẹ vẫn luôn chiến thắng. Chỉ cần nghĩ đên việc mẹ đang đợi ở nhà, mẹ không muốn chú đi chơi là chú bé đã từ chôi những lời rủ rê mời gọi dù những trò chơi đó hấp dẫn đên đâu chăng nữa.

    Câu 3 Câu 3 (trang 88 SGK Ngữ văn 9, tập 2): Hãy so sánh những cuộc vui chơi của những người “trên mây” và “trong sóng” giữa thế giới tự nhiên và những trò chơi của “mây và sóng” do em bé tạo ra. Sự giống nhau cũng như sự khác nhau giữa các cuộc chơi đó nói lên điều gì? Trả lời:

    – So với nhừng cuộc vui chơi của những người “trên mây” và “trong sóng” giữa thế giới tự nhiên, những trò chơi của “mây và sóng” của chú bé hay và thú vị hơn nhiều.

    – Chú bé không chỉ có “mây” (chính chú biến thành mây mà còn có mặt trăng, hiện thân cùa mẹ để cùng sống dưới một mái nhà cho chú được ôm ấp, tiếp nhận ánh sáng dịu dàng. Chú không chỉ có “sóng” (chính chú biến thành sóng) mà còn có “bến bờ kì lạ” hiện thân của mẹ, luôn bao dung rộng mở luôn sần sàng tiếp đón em “lăn, lăn mãi vào lòng”.

    Câu 4 Câu 4 (trang 88 SGK Ngữ văn 9, tập 2): Hãy chỉ ra những thành công về mặt nghệ thuật của bài thơ trong việc xây dựng các hình ảnh thiên nhiên (chú ý các hình ảnh mây, trăng, sóng, bờ biển). Trả lời:

    – Hình ảnh mây, trăng, sóng, bờ biển, bầu trời… hình ảnh tự nhiên đẹp đẽ.

    + Những hình ảnh này là trí tưởng tượng của chú bé.

    + Hai hình ảnh tượng trưng cho cuộc sống rộn rã, cuốn hút xung quanh, có sức hút kì lạ với con người.

    + Là những hình ảnh ẩn dụ cho những điều cám dỗ trong cuộc đời.

    – Là những hình ảnh lung linh, huyền ảo có tính biểu tượng, tạo ra sự logic.

    “Con lăn, lăn, lăn mãi rồi sẽ cười vang vờ tan vào lòng mẹ”.

    Và không ai trên thế gian này biết rnẹ con ta ở chốn nào”.

    – Nói “không ai trên thế gian này biết mẹ con ta ở chốn nào” nghĩa là mẹ con ta ở khắp mọi nơi không gì có thể chia cách, tách rời, phân biệt được. Tình mẹ con mãi là thiêng liêng, bất diệt ở khắp mọi nơi.

    Câu 6 (trang 88 SGK Ngữ văn 9, tập 2): Ngoài ý nghĩa ca ngợi tình mẹ con, bài thơ còn có thể gợi cho ta suy ngẫm thêm điều gì nữa? Trả lời:

    Ngoài ý nghĩa ca ngợi tình mẹ con, bài thơ Mây và sóng của Tago còn có thể gợi cho ta suy ngẫm thêm bao điều khác.

    – Muốn khước từ những cám dỗ và quyến rũ trong cuộc đời, con người phải có điểm tựa vững chắc. Tình mẹ con chính là một trong những điểm tựa vững chắc đó.

    – Hạnh phúc không phải ở “trên mây” cao vợi, hay “trong sóng” xa xôi, do ai ban phát mà hạnh phúc ở ngay trong cuộc sống trần thế và đo chính con người chúng ta tạo dựng nên.

    Bố cục

    Bố cục: 2 phần

    – Phần 1: (Từ đầu đến “xanh thẳm”): Cuộc trò chuyện của em bé với mây và mẹ

    – Phần 2: (Còn lại): Cuộc trò chuyện của em bé với sóng và mẹ.

    ND chính

    Thông qua cuộc trò chuyện của em bé với mẹ, bài thơ Mây và sóng của Ta-go ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng sâu sắc. Bài thơ chứa đựng những triết lí giản dị nhưng đúng đắn về hạnh phúc trong cuộc đời.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Mây Và Sóng
  • Soạn Văn 9 Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga Tóm Tắt
  • Soạn Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga (Trích Truyện Lục Vân Tiên)
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Lục Vân Tiên Cứu Kiều Nguyệt Nga
  • Soạn Bài Cảnh Khuya (Hồ Chí Minh)
  • Hướng Dẫn Đọc Hiểu Và Phân Tích Sóng

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Hình Tượng Sóng Trong Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Hình Tượng Sóng Và Em Trong Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Cảm Nhận Khổ 3 4 Bài Thơ Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Phân Tích Bài Thơ “sóng” Của Xuân Quỳnh
  • I. HOÀN CẢNH SÁNG TÁC

    Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi công tác vùng biển Diêm Điền. Trước khi Sóng ra đời, Xuân Quỳnh đã phải nếm trải những đổ vỡ trong tình yêu. Đây là bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ và phong cách thơ Xuân Quỳnh. Tác phẩm được in trong tập Hoa dọc chiến hào (1968).

    – Bài thơ có hai hình tượng là “sóng” và “em” – lúc phân tách, soi chiếu vào nhau, lúc nhập hòa làm một trong cái “tôi” trữ tình duy nhất là Xuân Quỳnh.

    II. NỘI DUNG

    1. Bố cục và nội dung từng khổ thơ

    – Khổ 1:

    + Sóng khát khao thoát khỏi giới hạn chật hẹp (sông) để tìm ra “bể” như người phụ nữ khát khao tìm đến những chân trời đích thực của tình yêu.

    – Khổ 2:

    + Từ ngàn, triệu năm qua, con sóng vẫn thế, cũng như từ ngàn, triệu năm qua, tình yêu vẫn là một khát vọng cháy bỏng trong trái tim con người, nhất là tuổi trẻ.

    + Đó cũng là khát vọng cháy bỏng trong trái tim không bao giờ thôi khát khao yêu đương của nhân vật trữ tình trong bài thơ.

    – Khổ 3,4:

    + Không thể truy nguyên nguồn gốc của sóng cũng như tình yêu của con người. Đó mãi mãi là bí ẩn diệu kì, là sức hấp dẫn mời gọi của tình yêu. Không thể cắt nghĩa tình yêu và cũng chẳng nên cắt nghĩa tình yêu, bởi rất có thể khi ta biết yêu vì một lẽ gì thì cũng là lúc tình yêu sẽ ra đi.

    + Người phụ nữ, nhân vật “em” trong bài thơ cũng không thể cắt nghĩa được tình yêu. Một sự bất lực đáng yêu của một trái tim yêu không chỉ đòi hỏi cảm xúc mà còn đòi hỏi nhận thức mãnh liệt.

    – Khổ 5:

    + Con sóng, dù ở trạng thái nào (trong lòng sâu, trên mặt nước, ngày hay đêm), đều thao thức một nỗi niềm “nhớ bờ”. Nỗi nhớ choán cả không gian, thời gian.

    + Tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ cũng vậy. Hạt nhân của nó là nỗi nhớ, một nỗi nhớ cồn cào, da diết, nỗi nhớ chiếm cả tầng sầu, chiều rộng và trải dài theo thời gian, lúc hiện hữu, khi lắng sâu, lúc ý thức, khi nằm ngoài sự kiểm soát của ý thức.

    – Khổ 6, 7:

    + Cũng như sóng chỉ có một hướng đích duy nhất là bờ, em chỉ có phương anh làm điểm đến, bất chấp cuộc đời có nhiều trái ngang.

    + Sự thuỷ chung của sóng với bờ hay cũng chính là sự chung thuỷ của em với anh. Nếu nỗi nhớ làm thành biểu hiện nồng nàn, sôi nổi của tình yêu thì sự thuỷ chung lại là phần đằm sâu trong trái tim người phụ nữ.

    – Hai khổ cuối:

    + Sự sống, tình yêu ở thời đại nào cũng luôn hữu hạn trong tương quan với cái vô thuỷ, vô chung, vô cùng, vô tận của thiên nhiên, vũ trụ. Trước cái vĩnh hằng của tạo hoá, trước dòng chảy vô hồi, vô hạn của cuộc đời, tình yêu của con người mãi mãi chỉ là “bóng câu qua cửa sổ”. Đó là cảm thức về thời gian. Dường như càng yêu mãnh liệt, càng khát khao gắn bó, con người càng hay nghĩ về thời gian! Người phụ nữ đang cháy bỏng khát khao yêu và được yêu trong Sóng cũng không phải là ngoại lệ.

    + Vậy, chỉ có một cách duy nhất để tình yêu trường tồn với thời gian, để trái tim yêu được đập mãi.

    Đó là khát vọng được vĩnh cửu hoá tình yêu, được hoà tình yêu của mình vào khối tình chung của nhân loại, như con sóng hoà vào đại dương mênh mông, bất tận.

    2. Hình tượng “sóng” và “em”

    – Sóng là hình ảnh ẩn dụ của tâm trạng người con gái đang yêu, là sự hoá thân, phân thần của cái tôi trữ tình – một kiểu đặc biệt của cái tôi trữ tình nhập vai. Hai “nhân vật” trữ tình này (sóng và em) tuy hai mà một, có lúc phân đôi ra để soi chiếu vào nhau, làm nổi bật sự tương đồng, có lúc lại hoà nhập vào nhau để tạo nên sự âm vang, cộng hưởng. Hai hình tượng này đan cài, quấn quýt với nhau như hình với bóng, song song tồn tại từ đầu đến cuối bài thơ, soi sáng, bổ sung cho nhau nhằm diễn tả một cách mãnh liệt hơn, sâu sắc và thấm thìa hơn khát vọng tình yêu đang cuồn cuộn trào dâng trong trái tim nữ thi sĩ.

    – Hình tượng “sóng” là một tìm tòi nghệ thuật độc đáo của Xuân Quỳnh. Hình tượng sóng trước hết được gợi ra từ âm hưởng dào dạt, nhịp nhàng của bài thơ. Đó là nhịp của những con sóng trên biển cả, liên tiếp, triền miên, vô hổi vô hạn. Thể thơ năm chữ không ngắt nhịp liên tiếp đã tạo nên nhịp điệu của những con sóng biển lúc dạt dào sôi nổi, khi sâu lắng chạy dài suốt bài thơ.

    + Âm điệu chung của cả bài thơ không phải chỉ là âm điệu nguyên con sóng. Nó còn là âm điệu của một nỗi lòng đang tràn ngập khao khát tình yêu vô hạn, đang rung lên đồng điệu, hòa hợp với sóng biển, hòa hợp tới nỗi không còn biết đâu là nhịp điệu của sóng biển, đâu là nhịp điệu của thi sĩ nữa. Xuân Quỳnh đã mượn hình tượng sóng để thể hiện nhịp điệu tâm hồn mình đang bùng cháy một tình yêu mãnh liệt, không chịu yên định mà đầy biến động, khao khát.

    + Qua hình tượng “sóng”, Xuân Quỳnh đã diễn tả vừa cụ thể vừa sinh động những trạng thái, cảm xúc, những cung bậc tình cảm khác nhau trong trái tim của người phụ nữ đang rạo rực yêu đương. Mỗi trạng thái tầm hồn cụ thể của người phụ nữ đang yêu đều có thể tìm thấy sự tương đồng của nó với một khía cạnh, một đặc tính nào đó của sóng.

    + Xuân Quỳnh đã diễn tả thật cụ thể trạng thái khác thường, vừa phong phú vừa phức tạp trong một trái tim đang cồn cào, khao khát tình yêu.

    + Cũng như sóng, trái tim người con gái đang yêu không chịu chấp nhận sự tầm thường, nhỏ hẹp, luôn vươn tới cái lớn lao có thể đồng cảm, đồng điệu với mình: “Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bế’ – một nét mới mẻ trong quan niệm vể tình yêu. Người con gái khao khát yêu đương nhưng không còn nhẫn nhục cam chịu nữa. Nếu “sông không hiểu nổi mình” thì sóng nhất quyết từ bỏ nơi chật hẹp ấy để “tìm ra tận bể’, đến với cái cao rộng bao dung. Thật là minh bạch và cũng thật là quyết liệt.

    + Nỗi khát vọng tình yêu xôn xao, rạo rực trong trái tim con người trong quan niệm của Xuân Quỳnh, là khát vọng muôn đời của nhân loại mà mãnh liệt nhất là của tuổi trẻ. Nó cũng như sóng, mãi mãi trường tồn, vĩnh hằng với thời gian. Từ ngàn xưa, con người đã đến với tình yêu và mãi mãi cứ đến với tình yêu.

    + Khi tình yêu đến như một tâm lí tự nhiên và thường tình, người ta luôn có nhu cầu tự tìm hiểu và phân tích. Nhưng tình yêu là một hiện tượng tâm lí khác thường, đầy bí ẩn không thể giải thích bằng lí lẽ thông thường.

    + Tình yêu cũng giống như sóng biển, như gió trời, làm sao có thể lí giải được. Mặc dù đã ra đến tận bể rồi ấy vậy mà sóng vẫn chưa hiểu nổi mình. Cũng như sóng, em đã hòa nhập vào biển lớn của tình yêu anh mà em nào đã hiểu được:

    + Tình yêu cũng gắn liền với nỗi nhớ khi xa cách. Nỗi nhớ của một trái tim đang yêu được Xuân Quỳnh diễn tả thật mãnh liệt. Một nỗi nhớ thường trực cả khi thức, khi ngủ, bao trùm lên cả không gian và thời gian. Một nỗi nhớ cồn cào, da diết, không khi nào yên, không thể nào nguôi. Nó cuồn cuộn, dào dạt như những đợt sóng biển triền miên. Nhịp thơ trong suốt bài thơ là nhịp sóng, nhưng rõ nhất, dào dạt, hăm hở, náo nức nhất, mãnh liệt nhất là ở đoạn thơ này:

    + Hình tượng song hành của sóng và em bổ sung, đắp đổi cho nhau nhằm diễn tả sâu sắc hơn, ám ảnh hơn tình yêu và nỗi nhớ cùng với lòng thủy chung vô hạn của một trái tim đang rạo rực yêu thương. Nỗi nhớ được diễn tả qua hình tượng con sóng nhớ bờ “ngày đêm không ngủ được” vẫn chưa đủ, chưa thỏa, lại được thể hiện một lẩn nữa qua nỗi nhớ trực tiếp của nhà thơ:

    Nỗi nhớ tràn đầy lòng yêu của nữ thi sĩ. Nỗi nhớ thường trực trong mọi không gian và thời gian, không chỉ tổn tại trong ý thức mà còn len lỏi trong tiềm thức, xâm nhập vào cả trong giấc mơ. Những đòi hỏi, khao khát yêu đương của người con gái được bộc lộ thật mãnh liệt nhưng cũng thật giản dị. Tình yêu của người con gái thiết tha, mãnh liệt, trong sáng, giản dị, thủy chung, duy nhất.

    + Qua hình tượng “sóng” và “em”, Xuân Quỳnh đã nói lên thật chân thành, táo bạo, không hề giấu giếm khát vọng tình yêu sôi nổi, mãnh liệt của mình – một người phụ nữ, đây là điểu thật hiếm thấy trong văn học Việt Nam.

    III. NGHỆ THUẬT

    – Âm điệu của bài thơ Sóng là ầm điệu của những con sóng ngoài biển khơi, lúc ào ạt, dữ dội, khi nhẹ nhàng, khoan thai. Âm điệu đó được tạo nên bởi thể ngũ ngôn với những câu thơ được ngắt nhịp, gieo vần, nổi khổ linh hoạt.

    – Giọng điệu tha thiết chân thành, ít nhiều có sự phấp phỏng lo âu.

    – Xây dựng hình tượng sóng như một ẩn dụ nghệ thuật về tình yêu của người phụ nữ.

    – Kết cấu song hành: sóng và em.

    IV. CHỦ ĐỀ

    Sóng là bài thơ tình đặc sắc. Bài thơ là sự khám phá những khát vọng tình yêu của trái tim người phụ nữ chân thành, giàu khao khát nhưng cũng rất tự nhiên.

    HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    Câu 1 (2 điểm). Nêu hoàn cảnh sáng tác, ầm điệu, nhịp điệu của bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh).

    Xem mục 1, 2.

    Câu 2. (5 điểm). Hình tượng sóng và em trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh.

    Xem mục 3b.

    Câu 3. (5 điểm). Phân tích bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh).

    Xem toàn bộ mục 3, 4.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Một Số Đề Đọc Hiểu Ôn Thi Thpt Quốc Gia Môn Văn Năm 2022
  • Hướng Dẫn Phân Tích Đọc Hiểu : Sóng
  • Soạn Bài Thơ Sóng Của Tác Giả Xuân Quỳnh
  • Soạn Bài Sóng Của Xuân Quỳnh
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Ngữ Văn 9 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Mây Và Sóng Của Tagor

    --- Bài mới hơn ---

  • Quy Định 875 Của Tỉnh Ủy Thanh Hóa
  • Thanh Hóa Đề Nghị Xử Lý Bịa Đặt Về Bí Thư Tỉnh Ủy
  • Cách Chuyển Chữ Thường Thành Chữ Hoa Và Ngược Lại
  • Hàm Upper Chuyển Đổi Văn Bản Thành In Hoa?
  • Cách Chuyển Chữ Thường Thành Chữ Hoa Và Ngược Lại Trên Word
    • Bài thơ Mây và sóng đã cho thấy tình mẫu tử thiêng liêng và triết lí sâu sắc về tình yêu trong cuộc sống.

      Thơ văn xuôi, lời kể xen lẫn đối thoại, phép lặp biến hóa, hình ảnh thiên nhiên giàu ý nghĩa tượng trưng.

    Câu 1. Lời nói của em bé gồm hai phần có nhiều nét giống nhau.

    a) Giả thiết không có phần thứ hai thì ý thơ có được trọn vẹn và đầy đủ không?

    • Phần thứ nhất bài thơ được mở đầu bằng cụm từ “Mẹ ơi” là lúc em bé đang kể lại với mẹ về việc quyến rũ em đi chơi của mây.
    • Phần thứ hai lại không có cụm từ này vì đứa con vẫn đang kể lại cuộc rủ rê của “sóng” đưa em đi chơi.
    • Vai trò của mẹ ở cả hai phần đều có tính quyết định hành động vui chơi của em bé.
    • Giả định bài thơ không có phần thứ hai thì bài thơ vẫn trọn vẹn.
    • Giống nhau:
      • Cả hai phần đề có số dòng thơ giống nhau.
      • Từng câu sóng đôi nhau ở hai phần.
      • Theo trình tự của “mây” ứng với từng dòng theo trình tự của “sóng” với sự lặp lại tối đa về từ và cấu trúc trên cả hai phương diện ngữ âm và ngữ pháp.
    • Khác nhau
        Ở phần trước thì “mây” rủ em đi chơi, còn ở phần sau thì “sóng” rủ em đi chơi.

    Câu 2. Xác định vị trí của dòng thơ ” Con hỏi:…” ở mỗi phần. (Hãy lí giải vì sao em bé chưa từ chối ngay lời mời gọi của những người sống “trên mây” và những người sống “trong sóng”).

    • Những dòng thơ “Con hỏi:…” được đạt ngay sau lời rủ rê ở mỗi phần cho thấy sự tò mò thích thú và cảm giác hào hứng phấn chấn của đứa trẻ.
    • Em chưa từ chối ngay lời mời gọi của những người sống “trên mây” và những người sống “trong sóng” vì em vẫn chỉ là đứa bé với bản chất trẻ thơ: thích đi chơi, thích vui đùa,…

    Câu 3. Hãy so sánh những cuộc vui chơi của những người “trên mây” và “trong sóng” giữa thế giới tự nhiên và những trò chơi của “mây và sóng” do em bé tạo ra. Sự giống nhau cũng như sự khác nhau giữa các cuộc chơi đó nói lên điều gì?

      Cuộc vui chơi của “mây và sóng” giữa thế giới tự nhiên và những trò chơ “mây và sóng” do em tạo ra rất khác nhau.

      • Mây và sóng thì rủ em đi chơi khỏ bàn tay mẹ. (Trò chơi giữa thế giới tự nhiên).
      • Trò chơi “mây và sóng” do em tạo ra thì vẫn ở trong vòng tay mẹ. (Con sẽ là sóng và mẹ sẽ là bến bờ kì lạ).

    Câu 4. Hãy chỉ ra những thành công về mặt nghệ thuật của bài thơ trong việc xây dựng các hình ảnh thiên nhiên (chú ý các hình ảnh mây, trăng, sóng, bờ biển).

    • Thành công về mặt nghệ thuật của bài thơ là hình tượng hóa tự nhiên thành nhân vật sinh động và xây dựng hình ảnh người mẹ tuy không hiện lên hình ảnh nhưng có một sức thu hút kì diệu đối với đứa con.
    • Âm thanh, hình ảnh trong bài thơ lung linh kì ảo song vẫn sinh động và chân thực. Đó là hình ảnh mang tính chất biểu tượng trong bài thơ.

    Câu 5. Phân tích ý nghĩa của câu thơ “Con lăn, lăn, lăn mãi… ở chốn nào”.

    • Những trò chơi “trên mây”, “trong sóng” là tượng trưng cho bao trò chơi hấp dẫn trong cuộc sống. “Bến bờ kì lạ” tượng trưng cho tấm lòng bao la, bao dung của mẹ. So sánh tình mẹ con gắn bó với quan hệ mây – trăng, biển – bờ, tác giả đã nâng tình cảm ấy lên kích cỡ vũ trụ.
    • Câu thơ “Con lăn, lăn, lăn mãi… ở chốn nào” diễn đạt ý nghĩa: “mẹ con ta” ở khắp mọi nơi, tình mẫu tử gắn kết mẹ và con, và con được thoả thích sống trong tình yêu thương mênh mông của mẹ.

    Câu 6. Ngoài ý nghĩa ca ngợi tình mẹ con, bài thơ còn có thể gợi cho ta suy ngẫm thêm điều gì nữa?

    • Muốn từ khước những cám dỗ và quyến rũ trong cuộc đời, con người phải có điểm tựa vững chắc. Tình mẹ con chính là một trong những điểm tựa vững chắc đó.
    • Hạnh phúc không phải ở “trên mây” cao vời, hay “trong sóng” xa xôi, do ai ban phát mà hạnh phúc ở ngay trong cuộc sống trần thế và đó chính con người chúng ta tạo dựng nên.

    Nếu có thắc mắc cần giải đáp các em có thể để lại câu hỏi trong phần Hỏi đáp, cộng đồng Ngữ văn HỌC247 sẽ sớm trả lời cho các em.

    • Kể lại câu chuyện Mây và Sóng

      Kể lại câu chuyện mây và sóng

    • Ý nghĩa nhan đề Mây và Sóng

      Ý nghĩa nhan đề bài thơ Mây và Sóng?

    • Hướng dẫn soạn Mây và sóng

      Hướng dẫn soạn bài ” Mây và sóng” – Ta go – Văn lớp 9

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Ngữ Văn Lớp 9 Học Kì 2 Bài Mây Và Sóng
  • Tổng Ôn Kiến Thức Tác Phẩm Mây Và Sóng Của Ta Go
  • Các Dạng Đề Bài Thơ: Mây Và Sóng
  • Soạn Văn 12 Sóng Tóm Tắt
  • Soạn Bài Mây Và Sóng (Ngắn Gọn)
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100