Đề Đọc Hiểu Vềcâu Chuyện Quà Tặng Cuộc Sống :hoa Hồng Tặng Mẹ

--- Bài mới hơn ---

  • 6109, Bài Số 18, Level 1, Tiếng Việt (Chuyên Đề Đọc
  • Google Translate Sắp Có Tính Năng Dịch Văn Bản Từ Ảnh Chụp
  • Screentranslator: Dịch Văn Bản Từ Hình Ảnh
  • Cách Sao Chép, Copy Text Có Trong Ảnh Bằng Google Chrome Và Cốc Cốc
  • Cách Sao Chép Văn Bản Bên Trong Hình Ảnh Với Project Naptha
  • Đề đọc hiểu vềcâu chuyện Quà tặng cuộc sống:Hoa hồng tặng mẹ

    Đọc câu chuyện ” Quà tặng cuộc sống ” và trả lời các câu hỏi

    “Anh dừng lại mua hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện nhân ngày 8/3. Mẹ anh sống cách chỗ anh ở khoảng 300km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.

    – Cháu muốn mua một bông hoa hồng để tặng mẹ cháu – nó nức nở – nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá bán hoa hồng đến 20 dola.

    Anh mỉm cười và nói với nó:

    – Đến đây chú sẽ mua cho cháu.

    Anh liền mua cho cô bé và đặt một bó hồng gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh trả lời:

    – Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.

    Nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ vào ngôi mộ và nói:

    – Đây là nhà của mẹ cháu.

    Nói xong, nó ân cần đặt bông hoa hồng lên mộ. Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa hủy bỏ dịch vụ gửi hoa và mua một bó hoa hồng thật đẹp. Suốt đêm đó anh đã lái xe một mạch 300km về nhà để trao tận tay mẹ bó hoa.”

    (Quà tặng cuộc sống)

    1.Nội dung câu chuyện trên là gì?(0,5 điểm)

    2.Theo anh/chị hai nhân vật: em bé và anh thanh niên, ai là người con hiếu thảo? Vì sao?.(0,5 điểm)

    3.Tại sao người thanh niên lại hủy điện hoa để cả đêm lái xe về trao tận tay mẹ bó hoa?(0,5 điểm)

    4.Thông điệp mà văn bản muốn gửi lại cho chúng ta là gì? (0,5 điểm)

    5.Đọc xong văn bản trên, anh/chị nghĩ đến câu tục ngữ hay ca dao nào? Hãy ghi lại câu tục ngữ hay ca dao đó. (1,0 điểm)

    Đáp án

    1, Nội dung câu chuyện: ngợi ca lòng hiếu thảo của cô bé mồ côi và bài học về cách ứng xử với các đấng sinh thành trong cuộc sống.

    2, Trong câu chuyện trên, cả cô bé và anh thanh niên đều là những người con hiếu thảo. Vì cả hai người đều nhớ đến mẹ, đều biết cách thể hiện lòng cảm ơn đến mẹ. Tuy nhiên hành động cảm ơn của hai người lại bộc lệ theo hai cách khác nhau. Mẹ cô bé đã mất, cô vẫn muốn tự tay đặt bó hoa hồng lên mộ mẹ. Anh thanh niên cũng muốn tặng mẹ hoa nhưng vì xa xôi nên muốn dùng dịch vụ gửi quà. Nhưng sau khi chứng kiến tình cảm của cô bé dành cho mẹ anh đã nhận ra được ý nghĩa thực sự của món quà.

    3. Người thanh niên hủy điện hoa vì anh được đánh thức bởi hành động cảm động của cô bé. Vì anh hiểu ra rằng, bó hoa kia không mang lại hạnh phúc và niềm vui bằng việc anh xuất hiện cùng với tình cảm chân thành của mình dành cho mẹ. Và điều mẹ cần ở anh là thấy anh mạnh khỏe, an toàn. Đó là món quà ý nghĩa nhất với mẹ.

    4. Thông điệp mà văn bản muốn gửi lại cho chúng ta là: cần yêu thương trân trọng đấng sinh thành, nhất là người mẹ đã chịu nhiều vất vả, hi sinh. Trao và tặng là cần thiết nhưng trao và tặng như thế nào mới là ý nghĩa là điều mà không phải ai cũng làm được

    5. Thí sinh có thể dẫn ra một trong những câu ca dao, tục ngữ sau: (1,0 điểm)

    Theo chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phần Mềm Chuyển File Hình Ảnh Sang Word Tốt Nhất!
  • Phần Mềm Dịch Thuật Đoạn Văn Tiếng Nhật Sang Tiếng Việt Chuẩn Cho Iphone, Máy Tính, Camera Bằng Hình Ảnh
  • Dịch Tiếng Nhật Bằng Hình Ảnh
  • Cách Dịch Văn Bản Từ Ảnh Chụp Bằng Điện Thoại Siêu Đơn Giản
  • 4 Ứng Dụng Dịch Thuật Bằng Camera Cạnh Tranh Với Google Dịch
  • Đề Đọc Hiểu Về Câu Chuyện Quà Tặng Cuộc Sống :hoa Hồng Tặng Mẹ

    --- Bài mới hơn ---

  • Đề Thi Thử Thptqg Môn Văn
  • Đề Thi Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Văn Năm 2022 Quảng Bình
  • Đề Thi Và Đáp Án Học Kì Inăm Học 2022
  • Đề Đọc Hiểu Câu Chuyện Quà Tặng Cuộc Sống : Hai Anh Em
  • Soạn Bài Tôi Yêu Em (Pu
  • Đọc câu chuyện ” Quà tặng cuộc sống ” và trả lời các câu hỏi

    “Anh dừng lại mua hoa để gửi hoa tặng mẹ qua đường bưu điện nhân ngày 8/3. Mẹ anh sống cách chỗ anh ở khoảng 300km. Khi bước ra khỏi xe, anh thấy một bé gái đang đứng khóc bên vỉa hè. Anh đến và hỏi nó sao lại khóc.

    – Cháu muốn mua một bông hoa hồng để tặng mẹ cháu – nó nức nở – nhưng cháu chỉ có 75 xu trong khi giá bán hoa hồng đến 20 dola.

    Anh mỉm cười và nói với nó:

    – Đến đây chú sẽ mua cho cháu.

    Anh liền mua cho cô bé và đặt một bó hồng gửi cho mẹ anh. Xong xuôi, anh hỏi cô bé có cần đi nhờ xe về nhà không. Nó vui mừng nhìn anh trả lời:

    – Dạ, chú cho cháu đi nhờ đến nhà mẹ cháu.

    Nó chỉ đường cho anh lái xe đến một nghĩa trang, nơi có phần mộ vừa mới đắp. Nó chỉ vào ngôi mộ và nói:

    – Đây là nhà của mẹ cháu.

    Nói xong, nó ân cần đặt bông hoa hồng lên mộ. Tức thì anh quay lại tiệm bán hoa hủy bỏ dịch vụ gửi hoa và mua một bó hoa hồng thật đẹp. Suốt đêm đó anh đã lái xe một mạch 300km về nhà để trao tận tay mẹ bó hoa.”

    (Quà tặng cuộc sống)

    1.Nội dung câu chuyện trên là gì?(0,5 điểm)

    2.Theo anh/chị hai nhân vật: em bé và anh thanh niên, ai là người con hiếu thảo? Vì sao?.(0,5 điểm)

    3.Tại sao người thanh niên lại hủy điện hoa để cả đêm lái xe về trao tận tay mẹ bó hoa?(0,5 điểm)

    4.Thông điệp mà văn bản muốn gửi lại cho chúng ta là gì? (0,5 điểm)

    5.Đọc xong văn bản trên, anh/chị nghĩ đến câu tục ngữ hay ca dao nào? Hãy ghi lại câu tục ngữ hay ca dao đó. (1,0 điểm)

    Đáp án

    1, Nội dung câu chuyện: ngợi ca lòng hiếu thảo của cô bé mồ côi và bài học về cách ứng xử với các đấng sinh thành trong cuộc sống.

    2, Trong câu chuyện trên, cả cô bé và anh thanh niên đều là những người con hiếu thảo. Vì cả hai người đều nhớ đến mẹ, đều biết cách thể hiện lòng cảm ơn đến mẹ. Tuy nhiên hành động cảm ơn của hai người lại bộc lệ theo hai cách khác nhau. Mẹ cô bé đã mất, cô vẫn muốn tự tay đặt bó hoa hồng lên mộ mẹ. Anh thanh niên cũng muốn tặng mẹ hoa nhưng vì xa xôi nên muốn dùng dịch vụ gửi quà. Nhưng sau khi chứng kiến tình cảm của cô bé dành cho mẹ anh đã nhận ra được ý nghĩa thực sự của món quà.

    3. Người thanh niên hủy điện hoa vì anh được đánh thức bởi hành động cảm động của cô bé. Vì anh hiểu ra rằng, bó hoa kia không mang lại hạnh phúc và niềm vui bằng việc anh xuất hiện cùng với tình cảm chân thành của mình dành cho mẹ. Và điều mẹ cần ở anh là thấy anh mạnh khỏe, an toàn. Đó là món quà ý nghĩa nhất với mẹ.

    4. Thông điệp mà văn bản muốn gửi lại cho chúng ta là: cần yêu thương trân trọng đấng sinh thành, nhất là người mẹ đã chịu nhiều vất vả, hi sinh. Trao và tặng là cần thiết nhưng trao và tặng như thế nào mới là ý nghĩa là điều mà không phải ai cũng làm được

    5. Thí sinh có thể dẫn ra một trong những câu ca dao, tục ngữ sau: (1,0 điểm)

    Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ, kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con Chiều chiều ngó ngược, ngó xuôi Ngó không thấy mẹ, bùi ngùi nhớ thương.

    Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Chuyển Văn Bản Hình Ảnh Sang Word
  • Chuyển Pdf Dạng Ảnh Sang Word, Text Không Bị Lỗi Font Chữ 2022
  • Khám Phá Những Phần Mềm Chuyển Ảnh Sang Word Hiệu Quả
  • Chuyển Hình Ảnh Sang Word, Đổi Jpg Sang Doc
  • 3 Bài Văn Phân Tích Bài Thơ Ánh Trăng Của Nguyễn Duy, Văn Mẫu Lớp 9, T
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Mẹ Tôi

    --- Bài mới hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Mẹ Tôi Ngắn Nhất
  • Cảm Nghĩ Của Em Về Tác Phẩm Mẹ Tôi
  • Giới Thiệu Về Đoạn Trích Mẹ Tôi Của Tác Giả A
  • Vb Mẹ Tôi Me Toi Ppt
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 2
  • Hướng dẫn Soạn bài Mẹ tôi chi tiết. Với bản soạn văn 7 này các bạn sẽ được trả lời toàn bộ các câu hỏi trong phần Đọc- hiểu và Luyện tập chi tiết nhất, qua đó nắm vững nội dung bài học

    Tìm hiểu chung tác phẩm Mẹ tôi

    Câu 1. Lý do đặt nhan đề

    Câu 1. Thái độ người bố với con? Lý do

    Đối diện với việc đứa con trai yêu quí của mình có hành vi thiếu lễ độ với mẹ, người bố có rất nhiều suy nghĩ và cảm xúc nhưng chủ yếu vẫn là những cảm xúc tiêu cực

    – Buồn đau: Chứng kiến cảnh con mình xúc phạm thân mẫu của nó cũng là “nhát dao đâm vào tim”. Nhát dao ấy quá mạnh và dứt khoát đến mức người bố khó thể chống đỡ trong giây lát.

    – Tức giận: người bố không quên khi chứng kiến sự buồn khổ của mẹ khi chứng kiến con mình nằm giữa ranh giới sinh tử mong manh. Bố nhắc nhở về sự đánh đổi của mẹ để dành lại sự sống cho con. Vậy mà đứa con đó lại dùng thái độ vô ơn để trả lại ân tình của mẹ.

    – Nghiêm khắc nhắc nhở con

    + Ngày đau buồn nhất trong tất cả những ngày đau buồn mà con có thể sẽ phải trải qua là ngày mất mẹ.

    + Ngày con lớn khôn, trưởng thành và có thể tự làm chủ cuộc sống, lúc ấy điều con mong cầu sẽ không là gì hết ngoại trừ được trở lại giai đoạn thơ dại được mẹ lo lắng, chở che. Lúc không còn được ở bên mẹ, hình ảnh mẹ tổn thương do hành vi khiếm nhã của con sẽ khiến con thấy tội lỗi hơn bội phần. Niềm day dứt ấy chính là bản án lương tâm mà cả đời con không thể xóa tội.

    – Đưa ra hình phạt nhắc nhở con: từ bây giờ con không cần hôn bố trong khoảng thời gian. Điều này không phải bố hết thương con mà bố muốn nhấn mạnh rằng những điều con làm với mẹ đã tạo cho cả bố vết thương lòng.

    Câu 3. Hình ảnh người mẹ

    Người mẹ không phải nhân vật trực tiếp nhưng không khó để khắc họa. Mẹ của En-ri-cô là đại diện cho vô số người mẹ trên thế giới này với những đức tính tiêu biểu như:

    – Thương con hết mực, đau đớn khi thấy con bị bệnh và lo sợ trước nỗi đau mất con, sẵn sàng đánh đổi thanh xuân và sức khỏe để con mình có thể lớn lên khỏe mạnh và bình an

    – Hi sinh hết mình: thức suốt đêm để chăm sóc con,…

    Những lý do được đề cập ở câu a, c, d và e chính là lý do tại sao E-ri-cô vô cùng xúc động khi em đọc được thư của bố mình. Qua đó thấy được rằng bản chất của Enrico là đứa trẻ lương thiện. Em rất ngoan và luôn kính trọng, yêu thương bố mẹ mình.

    Câu 5. Lý do chọn hình thức viết thư

    Người bố không trực tiếp giáo dục hay mắng mỏ con mà lại chọn viết thư là bởi những lý do sau;

    – Nếu trực tiếp nói chuyện thì có thể xảy ra hiện tượng người bố tức giận mà mắng mỏ, xúc phạm và đánh đập con mình con mình. Hành vi này sẽ không đạt được điều gì ngoài nỗi đau thể xác với con và sự chai lì của một đứa trẻ.

    – Ngược lại nếu lựa chọn hình thức viết thư, bố có thể bình tâm suy xét việc gì nên nói và việc gì không nên. Cậu bé sẽ đủ bình tĩnh để đọc và thấm thía được những gì bố muốn dạy dỗ và nhắc nhở mình.

    Soạn bài Cổng trường mở ra Luyện tập

    Câu 1. Phân tích về hình ảnh người mẹ trong bài Mẹ Tôi

    Mẹ tôi là văn bản được trích trong cuốn truyện dành cho thiếu nhi Những tấm lòng cao cả của Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, đây đồng thời cũng là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Văn bản thể hiện tấm lòng cao cả của người mẹ đối với đứa con thân yêu của mình.

    Bức thư do bố En-ri-cô viết trong hoàn cảnh En-ri-cô đã có thái độ vô lễ với mẹ, người bố viết thư này giúp En-ri-cô suy nghĩ, nhận ra và sửa chữa lỗi lầm của mình.

    Để En-ri-cô nhận ra lỗi lầm của mình trước hết người cha thể hiện thái độ đau buồn, giận dữ và có phần thất vọng. Thái độ đó được thể hiện rõ qua những lời văn gay gắt, từ ngữ mạnh mẽ: “con đã thiếu lễ độ với mẹ”, “bố không thể nén cơn tức giận”. Trong đoạn đầu bức thư ông đã hết sức nghiêm khắc trước những lỗi lầm của con, thậm chí ông còn cảnh cáo: “Việc như thế con không bao giờ được tái phạm nữa”. Lời lẽ nghiêm khắc, thái độ dứt khoát dù có đôi chút nặng nề nhưng đã tác động phần nào đến nhận thức của En-ri-cô.

    Để En-ri-cô nhận ra sự thiếu lễ độ với mẹ là hoàn toàn sai trái, bức thư đã gợi lên hình ảnh dịu dàng, hiền hậu của mẹ, một hình ảnh bình dị mà vô cùng lớn lao.

    Trước hết, mẹ của En-ri-cô có tình yêu thương con sâu sắc, cao cả. Bà tận tụy, lo lắng cho En-ri-cô suốt ngày đêm trong những ngày cậu ốm: “thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con” bà cũng giống như bao bà mẹ khác, luôn quan tâm, săn sóc và hết mình vì con. Thậm chí bà còn có thể hi sinh vì con “bỏ hết một năm hạnh phúc” để “tránh cho con một giờ đau đớn” hình ảnh tương phản kết hợp với “mẹ có thể đi ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con” càng làm nổi bật rõ hơn sự hi sinh, tình yêu thương của bà dành cho đứa con yêu quý của mình.

    Không chỉ yêu thương con, mẹ còn có vị trí vô cùng quan trọng với con. Mẹ là điểm tựa, là sự cưu mang, che chở trong suốt cuộc đời con: “mong ước thiết tha được nghe lại tiếng nói của mẹ, được mẹ dang tay đón vào lòng”, dù có khôn lớn trưởng thành thì cũng sẽ cảm thấy yếu đuối nếu không có mẹ ở bên che chở. Nỗi bất hạnh, đau đớn nhất đối với con là không còn mẹ: “ngày buồn thảm nhất tất sẽ là ngày mà con mất mẹ”. Bằng những lời lẽ vừa tha thiết, xúc động vừa nghiêm khắc, cảnh tỉnh người cha đã cho thấy vai trò to lớn của mẹ trong cuộc đời mỗi con người và “thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương đó” .

    Văn bản đã cho thấy chân dung của một người mẹ có tình yêu thương con tha thiết, sâu nặng. Qua hình ảnh người mẹ của En-ri-cô, ta thấy người mẹ với tình yêu thương bao la, cao cả có vai trò quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Bởi vậy, mỗi chúng ta cần phải yêu quý, kính trọng cha mẹ, đền đáp công ơn sinh thành và dưỡng dục của cha mẹ đối với mình.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Chủ Đề Văn Bản Nhật Dụng
  • Bài Văn Mẫu Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Người Bố Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của A
  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Người Bố Trong Văn Bản Mẹ Tôi Của Nhà Văn A
  • Soạn Bài Mẹ Tôi Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Soạn Bài Mẹ Tôi (Siêu Ngắn)
  • Đọc Hiểu Văn Bản: “Mẹ Tôi” Của Et

    --- Bài mới hơn ---

  • Phân Tích Chi Tiết Tác Phẩm Mẹ Tôi
  • Top 6 Bài Soạn “Mạch Lạc Trong Văn Bản” Lớp 7 Hay Nhất
  • Công Khai, Minh Bạch Trong Lĩnh Vực An Sinh Xã Hội
  • Văn Bản Pháp Luật Về Giấy Phép Kinh Doanh Lữ Hành Quốc Tế – Luật Việt An
  • Bài 2. Thao Tác Với Tệp Tin
  • Đọc – hiểu văn bản: “Mẹ tôi” của Et-môn-đô-đơ A-mi-xi

    I. Tác giả, tác phẩm:

    1. Tác giả: Ét – môn – đô đơ A – mi – xi

    – Ét – môn – đô đơ A – mi – xi (1846 – 190 8), nhà văn của nước ý.

    – Tác giả của các tác phẩm: “Cuộc đời của các chiến binh”, “Những tấm lòng cao cả”, …

    2. Tác phẩm

    – Thể loại: Nhật dụng, hình thức viết thư.

    – Xuất xứ: Trích “Những tấm lòng cao cả”.

    – Đại ý: Tâm trạng của người bố khi thấy con vô lễ với mẹ trước mặt cô giáo. Đồng thời nhắc nhở chúng ta phải biết kính trọng, thương yêu, biết ơn cha mẹ của mình.

    II. Đọc hiểu văn bản:

    1. Thái độ của người bố đối với En-ri-cô:

    Bài văn ngắn gọn, chủ yếu miêu tả thái độ, tình cảm và suy nghĩ của người bố.

    – Người bố buồn bã, tức giận trước sự vô lễ của En-ri-cô với mẹ.

    + Sự hỗn láo của con như nhát dao đâm vào tim bố

    + Bố không thể nén cơn tức giận đối với con

    + Thà bố không có con còn hơn thấy con bội bạc với mẹ

    + Bố không thể vui lòng đáp lại cái hôn của con được

    – Người bố đã không trực tiếp nói với con mà viết cho con một bức thư là bởi

    + Ông rất bình tĩnh, cư xử với con rất tế nhị

    + Người bố muốn con phải đọc kĩ, suy ngẫm, tự rút ra bài học cho bản thân

    + Đây cũng là cách giữ thể diện cho người bị phê bình

    + Thể hiện đây là người bố tinh tế, rất tâm lí và sâu sắc

    – Đây là bức thư của người bố nhưng tác giả lại lấy nhan đề “Mẹ tôi” vì đây là lời kể của En-ri-cô với niềm xúc động, nỗi hối hận của En-ri-cô đối với mẹ khi đọc bức thư của bố.

    * Lời khuyên của bố:

    + Phải xin lỗi mẹ.

    + Không bao giờ được thốt ra những lời nặng nề với mẹ nữa.

    ⇒ Lời khuyên nhủ nhẹ nhàng nhưng chân tình, nghiêm khắc. Qua cái nhìn của bố hiện lên hình ảnh, phẩm chất của người mẹ cao cả và lớn lao. Tác giả đã mô tả cũng như bộc lộ tình cảm, thái độ của bố đối với mẹ và quí trọng, tế nhị sâu sắc những gian khổ hi sinh mà mẹ dành cho con. Điểm nhìn này làm tăng tính khách quan cho sự việc và đối tượng được kể, thể hiện thái độ, tình cảm của người kể.

    2. Tấm lòng của người mẹ:

    Tấm lòng của người mẹ hiện lên qua cảm nhận của En-ri-cô trong bức thư:

    + Thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi để trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì lo sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng sẽ mất con.

    + Người mẹ sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn

    + Người mẹ có thể ăn xin để nuôi con, có thể hi sinh tính mạng để cứu sống con

    ⇒ Người mẹ En-ri-cô nhân hậu, hết lòng vì con, thậm chí có thể hi sinh cả tính mạng vì con

    Qua bức thư, người đọc thấy được hình tượng người mẹ cao cả, lớn lao, với tấm lòng yêu thương con vô bờ bến, sẵn sàng hi sinh tất cả cho con.

    ⇒ Câu chuyện cảm động về tình cảm gia đinh En-ri-cô khiến người đọc không khỏi xúc động. Tất cả các thành viên đều đã sống bằng trái tim, hành động bằng tình thương yêu vô hạn. Người mẹ hết lòng vì con, không ngại ngần gian khổ, hi sinh. Người bố điềm tĩnh, biết kiềm chế và tôn trọng con trai của mình khi con trai có lỗi với mẹ. Ông đã lựa chọn cách giải quyết con giận một cách khéo léo, khôn ngoan và hiệu quả nhất. Người con biết lắng nghe, thấu hiểu và sửa đổi. Sau lỗi lầm của En-ri-cô, tất cả đều nhận ra ở họ có một tình yêu thương gia đình tha thiết. Đối với họ, gia đình là quan trọng nhất, duy nhất và không thể nào thay thế được.

    II. Luyện tập:

    Câu 1: Hãy giải thích tại sao văn bản là một bức thư của người bố gửi cho con nhưng tác giả lại lấy nhan đề là Mẹ tôi?

    Câu 2: Tại sao người bố không nói chuyện trực tiếp vói con mà lại chọn cách viết thư cho con?

    Câu 3: Qua lá thư, theo em, người bố đã giáo dục được gì cho En-ri-cô?

    Câu 4: Tâm trạng và thái độ của En-ri-cô khi đọc thư bố? Theo em, tại sao En-ri -cô lại có tâm trạng và thái độ như thê?

    Câu 5: Qua lời của người bố, em thấy mẹ En – ri – cô là người như thế nào?

    Câu 6: Hình ảnh người mẹ trong truyện Mẹ tôi được khắc hoạ qua cái nhìn của nhân vật nào? Cách khắc hoạ nhân vật như vậy có tác dụng gì?

    Câu 7: Hãy tìm một câu văn nói lên tình yêu thương sâu sắc của người mẹ đối với En- ri-cô mà em thích nhất ? Vì sao em lại chọn câu văn dó?

    Câu 8: Hãy nhập vai cậu bé En-ri-cô viết một lá thư xin lỗi mẹ ngay sau khi nhận được lá thư của bố?

    Câu 9: Sau khi học xong bài văn em rút ra được bài học gì cho bản thân ? Hãy viết một đoạn văn ngắn nêu cảm xúc về hình ảnh người mẹ của mình.

    Câu 10: Hãy tìm một số câu thơ, ca dao, tục ngữ nói về tình cảm sâu nặng và công lao to lớn của cha mẹ đối với con cái?

    * Cảm nhận ý nghĩa văn bản Mẹ tôi của Ét – môn – đô đơ A – mi – xi 

    • Mở bài:

    Mẹ là tiếng gọi thiêng liêng nhất trong vũ trụ này. Người mẹ, nơi chưa đựng đức hi sinh, tình thương yêu, lòng nhân ái, độ lượng, bao dung và vị tha vĩ đại nhất trên mặt đất này. Mẹ chính là nguồn cội của mọi sự sống. Đó cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho sáng tạo nghệ thuật chân chính mọi thời…

    Văn bản Mẹ tôi rút ra từ tập truyện Những tấm lòng cao cả (viết năm 1886), một mốc phẩm nổi tiếng của nhà văn Et-môn-đô-đơ A-mi-xi.

    • Thân bài:

    Nhan đề Mẹ tôi do nhà văn tự đặt nhưng nội dung văn bản lại là một bức thư của người bố gửi cho con là En-ri-cô để nói lên thái độ, tình cảm, suy nghĩ của mình. Tuy bà mẹ không trực tiếp xuất hiện trong câu chuyện nhưng đọc kĩ văn bản ta thấy các nhân vật và chi tiết đều tập trung hướng tới việc khắc hoạ hình tượng cao cả, lớn lao, đẹp đẽ của người mẹ.

    Lỗi lầm của En-ri-cô

    Dưới dạng một bức thư của người bố gửi cho con, đây là câu chuyện có yếu tố cốt truyện rất mờ nhạt. Cả câu chuyện chủ yếu tập trung biểu hiện tâm trạng người cha để qua đó khắc hoạ hình ảnh người mẹ. Với những bài học giàu ý nghĩa, câu chuyện này là một trong những văn bản nhật dụng có ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

    Qua bức thư gửi cho con, người bố đã không nén được sự giận dữ, bực tức trước sự vô lễ của con trai mình với mẹ. Ông đã tỏ ra vô cùng xúc động và buồn bã trước những việc làm của En-ri-cô. Bằng những từ ngữ vừa sâu sắc, vừa dứt khoát, người bố đã khơi gợi những hình ảnh, những kỉ niệm hết sức cảm động về người mẹ làm cho người con vô cùng hối lỗi và ân hận.

    Qua nội dung bức thư ta thấy rõ người bố dù rất yêu thương con mình nhưng ông không hề khoan nhượng trước lỗi lầm của con. Bằng sự phê phán gay gắt, thái độ vừa dứt khoát, vừa kiên quyết lại vừa ôn tồn nhắc nhở. Người bố đã khiến cho En- ri-cô thấm thìa, cảm nhân được tình yêu thương sâu sắc của cha mẹ đối với con cái và đồng thời ý thức được tình cảm thiêng liêng của con cái đối với cha mẹ.

    Hình ảnh người mẹ:

    Qua thái độ giận dữ, bực tức và sự buồn bã, thất vọng của người bố trước lỗi lầm của người con và thái độ trân trọng yêu quý của ông đối với mẹ En-ri-cô, hình ảnh người mẹ đã hiện lên thật rõ nét với những phẩm chất nổi bật:

    Đó là một người mẹ tuyệt vời, có tình yêu con sâu nặng, thắm thiết. Bà âm thầm, lặng lẽ dành mọi điều tốt đẹp nhất cho dứa con thân yêu. Dù rất đau đớn, người mẹ vẫn thức suốt đêm, cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con, quằn quại vì nỗi lo sợ khi nghĩ rằng có thể mất con.

    Đó là một người mẹ có đức hi sinh cao cả, lớn lao. Bà sẵn sàng hi sinh cho con tất cả, kể cả sinh mạng của mình. sẵn sàng bỏ hết một năm hạnh phúc để tránh cho con một giờ đau đớn. Bà có thể đi ăn xin để nuôi con, có thề hi sinh tính mạng đế cứu sống con…

    Những phẩm chất tốt đẹp của người mẹ trong câu chuyện cũng chính là phẩm chất của nhiều bà mẹ trên thế giới này nói chung. Bởi vậy, người mẹ chính là nơi che chở, là chỗ dựa tinh thần hết sức vững vàng của người con trong suốt cuộc đời.

    Hình ảnh người bố:

    Hình ảnh người mẹ đã được tái hiện hết sức cảm động qua lời nói của người bố. Người mẹ với lòng yêu thương con bao la, với những phẩm chất tốt đẹp đã hiện lên thật sống động qua cái nhìn, qua lời nói vừa chân tình, vừa sâu sắc của người bố đã khiến cho câu chuyên chân thực và giàu sức truyền cảm hơn. Đồng thời qua văn bản, ta cũng thấy hình ảnh người bố dù rất yêu thương con nhưng cũng hết sức nghiêm khắc, kiên quyết không khoan nhượng đối với những lỗi lầm của con.

    Người bố đã tỏ ra thấu hiểu và cảm thông đối với người con. Dù con mắc lỗi khiến mình phải tức giận và buồn lòng nhưng ông không trực tiếp gặp để mắng con hay trừng phạt một ca mà cách thô bạo mà sử dụng cách thức viết thư để bày tỏ thái độ, suy nghĩ của mình. Nếu ông trực tiếp nói với con, có thể ông sẽ không thể giữ được bình tĩnh và sẽ để xảy ra những điều đáng tiếc. Chỉ có cách viết thư thì người bố mới có thể bày tỏ hết được tất cả những tình cảm, cảm xúc, thái độ, suy nghĩ của mình một cách cặn kẽ để gười con có thể hiểu, tiếp nhận và thay đổi.

    Mặt khác, với cách viết thư, không một ai khác ngoài hai bố con có thể biết được mọi chuyện. Điều này sẽ không làm tổn thương đến danh dự và lòng tự ái của người con. Phải là một người bố yêu con, hiểu con, có học vấn và đức độ mới có được cách ứng xử tâm lí, tế nhị như vậy. Điều đó cho thấy cha của En- ri-cô là một người cha có phương pháp giáo dục con rất tinh tế và hiệu quả.

    Cách giáo dục con của người bố trong câu chuyện đã đem lại những bài học quý giá, và những kinh nghiệm thiết thực cho các bậc phụ huynh trong việc giáo dục con cái. Câu chuyện đã cho ta thấy được tình yêu thương sâu nặng của cha mẹ đối với con cái. Đây cũng chính là cội nguồn nuôi dưỡng tâm hồn, tình cảm của mỗi con người.

    Qua cách giáo dục của người bố và qua hình ảnh người mẹ, truyện “Mẹ tôi” của nhà văn Ét-môn-đô đơ A-mi-xi đã làm cho người đọc liên hệ đến câu chuyện “Mẹ hiền dạy con”. Người mẹ hết lòng yêu thương và quan tâm đến Mamhj Tử và có phương pháp giáo dục con rất đúng đắn, rất nghiêm khắc và kiên quyết. Chính người mẹ với lòng yêu thương con sâu sắc và cách giáo dục con đúng đắn ấy đã giúp cho Mạnh Tử tiếp nhận được những điều tốt đẹp ngay từ thuở ấu thơ và sau này trở thành một “bậc hiền triết” nổi tiếng của nhân loại.

    Văn bản Mẹ tôi ca ngợi tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ của cha mẹ đối với con cái, và đức hi sinh cao cả của người mẹ dành cho con. Qua đó, tác giả còn khẳng định: tình yêu thương, kính trọng cha mẹ là tình cảm thiêng liêng hơn cả. Thật đáng xấu hổ và nhục nhã cho kẻ nào chà đạp lên tình yêu thương và đức hi sinh đó.

    • Kết bài:

    Với hình thức viết thư độc đáo, giọng điệu, lời văn sâu sắc, xúc động, hình ảnh, chi tiết giàu sức gợi cảm, người viết đã bộc lộ trực tiếp thái độ, suy nghĩ, tình cảm, cảm xúc một cách chân thành.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài Văn: Soạn Bài: Mẹ Tôi (1)
  • Chủ Đề Tự Chọn Ngữ Văn 6
  • Luật Tổ Chức Chính Quyền Địa Phương
  • Luật Phòng, Chống Tác Hại Của Thuốc Lá
  • Ban Hành 16 Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Trong Tháng 7/2020
  • Đọc Hiểu Văn Bản: Trong Lòng Mẹ (Trích Những Ngày Thơ Ấu

    --- Bài mới hơn ---

  • Tuyển Chọn Những Bài Văn Hay Cảm Nghĩ Về Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ Của Nguyên Hồng
  • Cảm Nghĩ Về Nhân Vật Hồng Ở Đoạn Trích Trong Lòng Mẹ (Trích Những Ngày Thơ Ấu)
  • Giáo Án Bồi Dưỡng Hsg Văn 8
  • Đề Thi Học Sinh Giỏi Văn 8
  • Hướng Dẫn Cách Copy Văn Bản Từ Hình Ảnh
  • Đọc hiểu văn bản:

    Trong lòng mẹ

    (trích Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng)

    I. Đọc – hiểu chú thích:

    1. Tác giả:

    – Nguyên Hồng (1918- 1982), quê tỉnh Nam Định, là nhà văn lớn của nền văn học Việt Nam thế kỷ XX. Tác phẩm của ông thường viết về những số phận bất hạnh, nghèo khổ. Bởi thế, ông được mệnh danh là nhà văn của những người cùng khổ.

    2. Tác phẩm:

    – Xuất xứ: Trong lòng mẹ là chương thứ IV của tác phẩm Những ngày thơ ấu (gồm 9 chương), tập hồi kí về tuổi thơ ít niềm vui, nhiều cay đắng của tác giả.

    – Bố cục 2 phần

    + Đoạn 1 (từ đầu… “người ta hỏi đến chứ”): Cuộc đối thoại giữa Hồng và bà cô cay nghiệt.

    + Đoạn 2 (phần còn lại): Cuộc gặp gỡ cảm động, hạnh phúc của hai mẹ con Hồng.

    – Nội dung:

    + Tóm tắt Bé Hồng sinh ra là kết quả của cuộc hôn nhân miễn cưỡng giữa người bố nghiện ngập và người mẹ trẻ trung luôn khao khát có được tình yêu thương nhưng đành ngậm ngùi chôn vùi tuổi xuân bên người chồng nghiện ngập. Khi bố Hồng mất, người mẹ bỏ hai anh em Hồng lại để đi tha hương cầu thực, anh em Hồng luôn sông trong sự ghẻ lạnh của nhà nội. Nhất là bà cô, luôn gieo rắc vào đầu Hồng những rấp tâm tanh bẩn để Hồng ghét bỏ mẹ của mình. Nhưng Hồng không những không ghét mẹ mà còn thông cảm và yêu mẹ nhiều hơn, em căm thù những hủ tục đã đày đọa mẹ mình. Chiều hôm đó khi vừa tán học, em thoáng thấy bóng dáng mẹ, em liền gọi theo với hi vọng và giọng bối rối. Khi mẹ em quay đầu lại, Hồng sà vào lòng mẹ, trong lòng mẹ, Hồng chẳng còn mảy may đến những lời nói thâm độc của bà cô mà chỉ cảm nhận được tình mẫu tử thiêng liêng, chan chứa.

    + Ý nghĩa: Đoạn văn “Trong lòng mẹ” trích hồi kí “ Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng đã kể lại một cách chân thực và cảm động những cay đắng và tủi cực cùng tình yêu thương cháy bỏng của nhà văn thời thơ ấu đối với người mẹ bất hạnh, đáng thương của mình

    II. Đọc – hiểu văn bản:

    1. Nhân vật chú  bé Hồng:

    a. Hoàn cảnh đáng thương và nỗi buồn của bé Hồng

    – Bố mới mất, mẹ tha hương cầu thực

    – Sống giữa sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của người cô, một người luôn tìm cách gieo vào đầu Hồng những suy nghĩ không tốt để Hồng từ bỏ, ruồng rẫy người mẹ của mình

    – Sống trong nỗi cô đơn và niềm khát khao tình mẹ

    b. Tình thương yêu mãnh liệt đối với mẹ:

    – Lúc nào cũng nghĩ đến mẹ và thông cảm với mẹ: khi cô hỏi ngọt nhạt ⇒ cúi đầu không đáp; từ chối cô, luôn nghĩ đến mẹ.

    – Không dao động, không suy giảm tình cảm kính yêu dành cho mẹ.

    – Vô cùng đau đớn, phẫn uất khi nghe lời dèm pha, nhục mạ mẹ: khi cô mỉa mai mẹ ⇒ nghe như sát muối vào lòng, đau đớn, tủi nhục, xúc động vì thương mẹ

    – Ghét những hủ tục phong kiến: khi nghe cô kể về mẹ ⇒ dồn dập oán hờn, kìm nén nỗi xót xa, căn ghét cổ tục phong kiến.

    c. Cảm giác của bé Hồng khi được ở trong lòng mẹ:

    – Chạy đuổi theo xe với cử chỉ vội vã, lập cập; bối rối gọi “Mợ ơi!”.

    – Chân ríu lại, lên xe ngồi cạnh mẹ, nhận được sự âu yếm vỗ về của người mẹ thì òa lên khóc nức nở ⇒ niềm dỗi hờn mà hạnh phúc, tức tưởi mà mãn nguyện

    – Gặp mẹ, với Hồng “khác nào ảo ảnh dòng nước trong suốt chảy dưới bóng râm đã hiện ra trước con mắt gần rạn nứt của người bộ hành ngã gục giữa sa mạc” → Niềm xúc động mạnh mẽ của Hồng khi đột ngột gặp lại mẹ

    – Cảm nhận mẹ vẫn tươi như ngày nào, giác ấm ấp mơn man khắp da thịt, niềm ngây ngất sung sướng khi ở trong lòng mẹ và ước ao mình nhỏ lại → Cảm nhận của bé Hồng về tình mẫu tử thiêng liêng, sâu nặng khi gặp mẹ

    2. Nhân vật người cô.

    – Đối xử với BH không thật lòng:

    + Bên ngoài tỏ ra dịu dàng, thân mật: “cười”, nói giọng ngọt ngào, xưng hô “mày tao”

    + Lời nói mỉa mai mẹ BH, làm tổn thương tình cảm mẹ con nhằm gieo rắc hoài nghi để BH khinh miệt, ruồng rẫy mẹ

    – Là người cay nghiệt thâm độc, luôn gây ra nỗi đau cho người khác.

    III. Tổng kết:

    1. Nội dung:

    – Đoạn trích thể hiện tình mẫu tử thiêng liêng và xúc động thông qua những rung động mãnh liệt của một tâm hồn trẻ thơ luôn khao khát tình yêu thương. Đến khi gặp mẹ, được nằm gọn trong lòng mẹ, Hồng có những cảm xúc rạo rực, nồng ấm, vui sướng mong đợi bấy lâu. Qua đó thể hiện tình cảm đáng thương của chú bé Hồng và lên án sự

    2. Nghệ thuật.

    – Lời văn nhẹ nhàng, tình cảm, giàu hình ảnh và chan chứa cảm xúc

    – Mạch truyện, mạch cảm xúc tự nhiên, chân thực

    – Kết hợp lời văn kể chuyện với miêu tả, biểu cảm

    – Khắc họa thành công hình tượng nhân vật bé Hồng thông qua lời nói, hành động, tâm trạng sinh động chân thật.

    Trả lời câu hỏi SGK:

    Trả lời câu 1 (trang 20 sgk): Phân tích nhân vật bà cô trong cuộc đối thoại giữa bà ta với chú bé Hồng.

    Trả lời:

    Đoạn đối thoại giữa bà cô với chú bé Hồng được nhà văn Nguyên Hồng kể lại thật sinh động, chiếm hai phần ba đoạn trích. Qua đoạn này, tính cách của bà cô hiện ra rất rõ:

    – Bà cô của bé Hồng giàu có và rất cay nghiệt, độc địa. Bà đã khoét sâu vào nỗi đau của đứa cháu đáng thương.

    – Xoáy sâu vào sự thiếu thốn tình mẫu tử của bé Hồng bằng câu hỏi nhẫn tâm ” mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không”

    – Ý nghĩ cay độc trong giọng nói, nét mặt cười rất kịch

    – Cố gieo rắc vào đầu đứa cháu hoài nghi để chia rẽ tình mẹ con

    – Giọng nói, cử chỉ quan tâm của bà cô là giả dối, sáo rỗng

    – Khi đứa cháu khóc bà cô vẫn cố tình khơi vào nỗi đau của cháu

    ⇒ Bà cô với dã tâm độc ác muốn chia rẽ tình cảm mẹ con, muốn đứa cháu “khinh miệt và ruồng rẫy mẹ” bằng những cử chỉ ngọt ngào nhưng rất kịch, hành động quan tâm giả dối, lời nói cay độc, nhẫn tâm, ý nghĩ xấu xa, nham hiểm.

    Trả lời câu 2 (trang 20 sgk): Tình yêu thương mãnh liệt của chú bé Hồng đối với người mẹ đáng thương được thế hiện như thế nào?

    Trả lời:

    a) Tâm trạng của chú bé khi nói chuyện với bà cô:

    – Khi nói chuyện với bà cô, hiểu được ý nghĩa chua cay, thâm độc trong giọng nói và trên nét mặt “khi cười rất kịch” của bà ta, chú bé Hồng đã lẳng lặng “cúi đầu không đáp”.

    – Nghe những lời lẽ cay độc ấy, trong lòng chú bé trào dâng niềm thương mẹ và căm ghét đến tột cùng những cố tục đã đày đọa mẹ mình. Từ chỗ đè nén “im Lặng cúi đầu”, đến chỗ không nhẫn nhục được nữa, chú đã bật lên tiếng khóc, cuối cùng, vừa yêu thương vừa căm tức khiến chú đã “cười dài trong tiếng khóc”.

    – Tâm trạng đau đớn uất ức cực điểm của chú bé Hồng được thể hiện bằng các chi tiết đầy ấn tượng với lời văn dồn dập, nhiều hình ảnh, nhiều động từ mạnh mẽ: “Cô tôi chưa dứt câu, cổ họng tôi đã nghẹn ứ khóc không ra tiếng. Giá những cổ tục đã đày đọa mẹ tôi là một vật như hòn đá hay cục thủy tinh, đầu mẩu gỗ, tôi quyết vồ ngay lấy mà cắn mà nhai, mà nghiến cho kì nát vụn mới thôi”.

    b) Tâm trạng của chú bé khi gặp lại người mẹ:

    – Vừa chợt thoáng thấy bóng người trên xe kéo giống mẹ, chú bé Hồng đã vội chạy đuối theo với các cử chỉ bối rối, lập cập “thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi”.

    – Vừa được lên xe ngồi cùng mẹ, chú bé đã òa lên khóc rồi cứ thể mà nức nở. Cũng những giọt nước mắt, nhưng lần này những giọt nước mắt không nghẹn ứ đau đớn như khi trả lời cô. Những giọt nước mắt này vờ òa, dỗi hờn mà hạnh phúc, tức tười mà mãn nguyện biết bao!

    – Những cảm giác “ấm áp” mơn man khắp da thịt của chú. Chú còn cảm nhận được cả mùi quần áo quen thuộc của mẹ và “những hơi thở ở khuôn miệng xinh xắn phát ra… thơm tho lạ thường”. Niềm vui sướng cực điểm của chú bé Hồng không chỉ thấm vào cả da thịt mà còn tràn ngập cả tâm hồn. Khoảnh khắc ấy, chú bé không nghĩ gì, nhớ gì khác nữa. Tất cả tâm hồn chú dồn cho sự tận hướng tình mẹ. Đối với chú lúc này, đó là niềm sung sướng và hạnh phúc nhất trên đời.

    Trả lời câu 3 (trang 20 sgk): Chất trữ tình thấm đượm trong văn bản Trong lòng mẹ.

    Trả lời:

    Chất trữ tình thể hiện trong văn Nguyên Hồng:

    – Tình huống truyện, nội dung đặc sắc:

    + Hồng phải sống trong sự cay nghiệt ghẻ lạnh của họ hàng

    + Người mẹ âm thầm chôn tuổi thanh xuân, chịu nhiều cay đắng, thành kiến của xã hội cũ

    + Sự yêu thương, kính mến mẹ không hề lung chuyển, thay đổi trước lời nói, rắp tâm tàn độc của người cô

    – Dòng cảm xúc mãnh liệt của Hồng:

    + Xót xa, tủi nhục, căm hờn, uất nghẹn

    + Quyết liệt bảo vệ tình mẫu tử

    + Thấu hiểu, cảm thông và yêu thương mẹ

    – Hình ảnh so sánh gây ấn tượng mạnh, giàu sức biểu đạt, gợi cảm

    – Lời văn say mê diễn đạt cảm xúc dạt dào, chân thật

    – Kết hợp tài tình, nhuần nhuyễn kể, tả, biểu lộ cảm xúc.

    Trả lời câu 4 (trang 20 sgk ): Qua văn bản trích giảng em hiểu hồi kí là gì?

    Trả lời:

    – Hồi kí thuộc thể kí, là truyện kể từ bằng chính ngôi kể tác giả kể về những sự kiện có thật trong quá khứ mà tác giả đã chứng kiến hoặc trải qua.

    Trả lời câu 5 (trang 20 sgk): Có nhà nghiên cứu nhận định Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng. Nên hiểu thế nào về nhận định đó? Qua đoạn trích Trong lòng mẹ, em hãy chứng minh nhận định trên.

    Trả lời:

    – Nguyên Hồng là nhà văn của phụ nữ và nhi đồng:

    + Nhân vật trong các sáng tác chính của ông là phụ nữ và trẻ em: hồi kí Những ngày thơ ấu, tiểu thuyết Bỉ vỏ, Khi đứa con ra đời, Hai nhà nghỉ…

    + Thấu hiểu, đồng cảm với những thân phận nhỏ bé bị o ép trong xã hội cũ.

    + Nhìn thấy được phẩm chất tốt đẹp cao quý của người phụ nữ, sự ngây thơ trong sáng của trẻ nhỏ.

    – Trong đoạn trích Những ngày thơ ấu:

    + Nhân vật bà cô đại diện những hủ tục phong kiến còn tồn tại.

    + Nhân vật mẹ Hồng: hiện sinh hình ảnh người phụ nữ tảo tần, chịu nhiều vất vả, điều tiếng tủi nhục.

    + Nhân vật bé Hồng: sống trong cảnh thiếu thốn tình cảm, mất mát trong gia đình.

    Cảm nhận đoạn trích Trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng)

    Nguyên Hồng là một trong những nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam. Ông để lại số lượng tác phẩm tương đối phong phú và giàu giá trị. Ông là nhà văn của những người cùng khổ, đồng cảm và có tình yêu thương tha thiết với họ, bênh vực và bảo vệ những phẩm chất tốt đẹp trong họ. Những ngày thơ ấu là tập hồi kí tiêu biểu cho phong cách Nguyên Hồng: giản dị, chân thành, đậm chất trữ tình. Trong lòng mẹ thuộc chương thứ IV của tác phẩm, thể hiện tình yêu thương sâu sắc của bé Hồng với mẹ.

    Bé Hồng là kết quả của cuộc hôn nhân không hạnh phúc, cha mất sớm, mẹ vì cùng túng phải đi tha phương cầu thực. Hồng sống trong sự ghẻ lạnh, cay nghiệt của bà cô. Dù xa mẹ nhưng cậu luôn nhớ và yêu thương mẹ, khao khát có ngày được gặp lại mẹ. Tình yêu thương đó được thể hiện trong cuộc đối thoại với bà cô và khi bất ngờ được gặp lại mẹ.

    Trong tác phẩm gồm hai nhân vật: bà cô, bé Hồng. Qua ngôn ngữ, cử chỉ và tâm trạng của mỗi nhân vật ta thấy được những nét tính cách tiêu biểu, cảm xúc của các nhân vật.

    Trước hết bà cô là một người thâm hiểm, độc ác. Trước tình cảnh của Hồng, bà ta “Cười hỏi: Hồng! Mày có muốn vào Thanh Hóa chơi với mẹ mày không?”. Là cười hỏi chứ không phải vì lo lắng, quan tâm mà hỏi, bà ta là kẻ bên ngoài ngọt ngào, yêu thương mà bên trong thực chất là kẻ độc ác, thâm hiểm. Không chỉ vậy từng hành động, lời nói của bà ta còn mang ý xúc phạm đến mẹ bé Hồng, đặc biệt hai chữ “em bé” kéo dài thể hiện rõ sự độc ác, tính toán của bà ta. Trước sự kháng cự yếu ớt của bé Hồng, bà cô tiếp tục cười rồi kể chuyện mẹ Hồng gầy gò, ốm yếu, chật vật với cuộc sống ra sao. Những lời lẽ thâm độc này nhằm làm bé Hồng tổn thương, khiến Hồng oán hận mẹ. Bé Hồng càng đau đớn bao nhiêu thì bà cô càng sung sướng thỏa mãn bấy nhiêu. Bà ta là kẻ độc ác, tàn nhẫn, thích thú khi nhìn người khác đau khổ. Với hình thức đối thoại theo trình tự tăng tiến, người đọc ngày càng thấy rõ sự độc ác của bà cô. Khi nỗi đau của bé Hồng bị đẩy lên cùng cực, bà cô mới “ngậm ngùi”: “Mấy lại rằm tháng tám này là giỗ đầu cậu mày, mợ mày về dù sao cũng đỡ tủi cho cậu mày, và mày cũng còn phải có họ, có hàng, người ta hỏi đến chứ”, sự ngậm ngùi lại càng cho thấy rõ hơn bản chất chơ trẽn, xảo trá của mụ. Bà cô là kẻ độc ác, thâm hiểm, đại diện cho những định kiến hẹp hòi, tàn nhẫn với người phụ nữ trong xã hội cũ.

    Bé Hồng là nhân vật chính của đoạn trích, thể hiện tình yêu thương mẹ mãnh liệt. Trước hết là trong cuộc đối thoại với bà cô. Khi nghe bà cô hỏi, là một đứa bé nhạy cảm Hồng nhận ra ngay ý cay độc sau giọng nói và nét mặt “rất kịch” của bà cô. Cậu thầm nghĩ về mẹ và không đáp lại lời bà cô, trong lòng cậu vẫn có một niềm tin mãnh liệt chắc chắn thế nào mẹ cũng về, cậu trả lời bà cô mà lòng thắt lại, khóe mắt đã bắt đầu cay cay. Rồi liên tiếp bị những lời lẽ bà cô dồn ép, nước mắt cậu chảy ròng ròng, vì thương mẹ, cũng vì đau đớn khi mẹ đã giấu mình sinh em bé. Hai chữ “em bé” như bóp nghẹt trái tim nhỏ bé, non nớt của cậu. Bé Hồng cười dài trong tiếng khóc. Giận dữ vì những hủ tục đã đầy đọa mẹ mình và ước chúng là những vật hữu hình như đầu mẫu gỗ, hay cục thủy tinh mà nhai, mà cắn cho nát vụn mới thôi. Cậu bé đau đớn, xót xa trước những lời gièm pha, xúc xiểm với người mẹ bất hạnh của bà cô. Hồng là một người mang trái tim nhân hậu, có niềm tin và tình yêu thương mẹ sâu sắc.

    Tình yêu đó được thể hiện rõ hơn khi Hồng bất ngờ gặp lại mẹ. Bỗng thấy bóng dáng quen thuộc, cậu vội vàng chạy theo: gọi bối rối, thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, ríu cả chân lại. Hàng loạt động từ đã cho thấy khao khát gặp mẹ mãnh liệt của Hồng. Khi biết đó chính là mẹ, cậu bé òa khóc nức nở. Đây là những giọt nước mắt bị dồn nén bấy lâu nay, là những giọt nước mắt hạnh phúc chứ không phải những giọt nước mắt phẫn uất, đau đớn tủi hổ: “Mẹ tôi vừa kéo tay tôi, xoa đầu tôi, thì tôi òa lên khóc rồi cứ thế nức nở”. Cậu nằm trong lòng mẹ và cảm nhận hơi ấm từ mẹ sang mình.

    Hình ảnh mẹ trong cảm nhận của Hồng thật gần gũi, thân quen lại vừa có gì đó mới mẻ, lạ lẫm: “vạt áo nâu”, “gương mặt tươi sáng với đôi mắt trong” vẫn thật ấm áp, quen thuộc. Nhưng từ hơi quần áo đến hơi thở của mẹ đều “thơm tho lạ thường”. Những cảm giác của tình mẫu tử bao lâu nay mất đi thì bỗng lại mơn man khắp da thịt: “để bàn tay người mẹ vuốt ve từ trán xuống cằm, và gãi rôm ở sống lưng cho, mới thấy người mẹ có một êm dịu vô cùng”. Lúc này chỉ còn tình mẹ con, tình mẫu tử thiêng liêng tồn tại còn bao nhiêu lời nói, ý nghĩ cay độc của bà cô đều tan biến hết thảy.

    Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật tài tình qua việc xây dựng tình huống, ngôn ngữ và cử chỉ của nhân vật. Nghệ thuật tăng tiến độc đáo, sự độc ác của bà cô ngày càng tăng lên thì cùng với đó tình yêu thương, sự bảo vệ của bé Hồng với mẹ cũng ngày một nhiều hơn. Những hình ảnh so sánh độc đáo, thể hiện được cung bậc cảm xúc, tình yêu thương mẹ mãnh liệt của bé Hồng. Câu chuyện đậm chất trữ tình được thể hiện rõ qua tình huống, nội dung và ngôn ngữ kể chuyện giàu cảm xúc, đầy chất thơ.

    Chỉ với một phần trích ngắn ngủi nhưng cũng đủ để người đọc cảm nhận được tình cảm mẫu tử thiêng liêng, sâu sắc mà bé Hồng dành cho mẹ. Không chỉ vậy tác phẩm còn thể hiện niềm cảm thông, lên án những hủ tục phong kiến đã đẩy người phụ nữ vào con đường bất hạnh, cùng cực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Trong Lòng Mẹ” (Trích Những Ngày Thơ Ấu Của Nguyên Hồng)
  • Tóm Tắt Nội Dung Văn Bản “Trong Lòng Mẹ”
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Trong Lòng Mẹ Ngắn Gọn
  • Soạn Bài: Trong Lòng Mẹ – Ngữ Văn 8 Tập 1
  • Trường Thcs Đào Duy Từ Hà Nội
  • Đọc Hiểu Văn Bản: “Uy

    --- Bài mới hơn ---

  • Văn Bản Pháp Luật – Bdif.vn
  • Gia Lai: Ban Hành Quy Chế Quản Lý, Vận Hành, Khai Thác, Sử Dụng Hệ Thống Một Cửa Điện Tử Và Cổng Dịch Vụ Công Của Tỉnh
  • Giáo Án Ngữ Văn 10 – Nâng Cao
  • Về Nội Dung Và Cấu Trúc Của Khái Niệm “Văn Học Nghệ Thuật”
  • Rèn Kỹ Năng Đọc – Hiểu Văn Bản Văn Học Ngoài Chương Trình Cho Học Sinh Chuyên Văn
  • Đọc – hiểu văn bản: “Uy-lit-xơ Trở về” (trích SỬ THI “Ô ĐI XÊ”)

    I. ĐỌC – HIỂU TIỂU DẪN.

    1. SỬ THI “Ô ĐI XÊ”.

    – Là 1 trong hai sử thi nổi tiếng của văn học Hi Lạp cổ đại (TK IX-VIIITCN)

    – Tương truyền là do Hô me rơ (nhà thơ mù) sáng tác dựa theo truyền thuyết về cuộc chiến thành Tơ roa (xảy ra trước đó 3 thế kỉ)

    – Tác phẩm gồm 12 110 câu thơ chia thành 24 khúc ca

    * Tóm tắt: sgk (nhân vật chính là người anh hùng Uy-lit-xơ và hành trình trở về quê hương I tác đoàn tụ cùng gia đình)

    * Chủ đề: Khát vọng chinh phục thiên nhiên để khai sáng, mở rộng giao lưu giữa các nền văn minh văn hoá; đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình.Qua đó thể hiện sức mạnh trí tuệ, ý chí của con người.

    * Vị trí đoạn trích: Đoạn trích thuộc khúc ca thứ XXIII của sử thi Ô-đi-xê.

    II. ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN.

    1. Nhân vật Uy lít xơ:

    – Tài năng: như một vị thần ( thắng trong cuộc thi bắn cung; tiêu diệt những tên cầu hôn đầu sỏ; trừng phạt lũ đầy tớ phản bội..) với trí tuệ mẫn tiệp ( bảo gia nhân bày tiệc, tìm cách đối phó với gia đình những kẻ cầu hôn vừa bị mình trừng trị..)

    – Ngoại hình: đẹp như một vị thần

    ⇒ Uy-lit-xơ là hiện thân cho vẻ đẹp của người anh hùng chiến trận thời cổ đại

    – Tính cách:

    + Nhẫn nại đợi vợ công nhận mình trong sự tin tưởng (thế nào rồi mẹ con cũng sẽ nhận ra, chắc chắn như vậy )

    + Trách Pê-nê-lốp vì có trái tim sắt đá hơn ai hết trong đám đàn bà yếu đuối … có gan ngồi cách xa chồng như thế, khi chồng đi biền biệt hai mươi năm trời, trải qua bao nỗi gian truân, nay mới về xứ sở

    + Hờn dỗi: đòi nhũ mẫu kê giường để ngủ một mình

    + Giật mình vì tưởng tình cảm vợ chồng không còn nguyên vẹn (qua bí mật về chiếc giường của hai vợ chồng )

    + khi vợ nhận ra chồng: ôm lấy vợ và khóc dầm dề

    ⇒ Diễn biến tâm lí phức tạp nhằm khắc họa tính cách trần tục của Uy-lit-xơ. Uy-lit-xơ vừa là người anh hùng muôn vàn trí xảo vừa là con người trần thế nhất mực thủy chung với gia đình

    2. Nhân vật Pê-nê-lốp:

    * Khi chưa gặp Uy-lit-xơ:

    – Nàng thận trọng nói với nhũ mẫu về mối hồ nghi của mình: Chính chàng đã chết rồi; Chỉ có thần linh mới có thể tiêu diệt được bọn cầu hôn

    – Nhũ mẫu đưa bằng chứng vết sẹo: Pê-nê-lốp không tin;

    * Khi gặp Uy-lit-xơ:

    – Pê-nê-lốp rất đỗi phân vân: vừa bàng hoàng xúc động vừa thận trọng dò xét.

    – Ngồi lặng thinh trên ghế hồi lâu, lòng sửng sốt: đăm đăm âu yếm nhìn chồng; lúc lại không nhận ra chồng; gọi chồng là “ngài” xưng “tôi”.

    – Bị con trai và cả Uy-lit-xơ trách móc, Pê-nê-lốp vẫn thận trọng đưa ra phép thử đối với Uy-lit-xơ dựa vào bí mật chỉ có hai người biết

    + Cách thử bí mật chiếc giường trong đoạn này vừa cho thấy phẩm chất trí tuệ của Pê-nê-lốp ( trọng danh dự, thận trọng, tỉnh táo) vừa cho thấy sự thủy chung, kiên trinh của nàng

    * Khi Uy-lit-xơ nói ra bí mật chiếc giường:

    Pê-nê-lốp bủn rủn cả chân tay, chạy ngay lại, nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng, giãi bày tâm sự. Niềm vui sướng, hạnh phúc tột cùng.

    ⇒ Pê-nê-lốp là người phụ nữ khôn ngoan, tỉnh táo, thủy chung

    3. Nghệ thuật:

    – Ngôn ngữ kể chuyện trang trọng, chậm rãi, sử dụng nhiều định ngữ ( Pê-nê-lốp thận trọng, Uy-lit-xơ muôn vàn trí xảo,..)

    – Lời nói của nhân vật được chau chuốt (vừa có hình ảnh vừa có chiều sâu trí tuệ ); tâm lí nhân vật được khắc họa rõ nét

    – Sử dụng nghệ thuật so sánh mở rộng

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cổng Điện Tử Thành Phố Hưng Yên
  • Hưng Yên Triển Khai Bổ Sung Các Biện Pháp Cấp Bách Phòng, Chống Dịch
  • Sở Tài Nguyên Và Môi Trường Trà Vinh
  • Sở Tư Pháp Tỉnh Tuyên Quang
  • Cổng Điện Tử Tỉnh Ninh Bình
  • Đề Đọc Hiểu Câu Chuyện Quà Tặng Cuộc Sống : Hai Anh Em

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Tôi Yêu Em (Pu
  • Suy Nghĩ Của Bạn Về Nhân Vật Người Anh Trong Văn Bản Bức Tranh Của Em Gái Tôi Của Tạ Duy Anh
  • Sách Chị Ơi Anh Yêu Em
  • Ôn Thi Vào 10 Môn Văn: Ánh Trăng
  • 5 Công Cụ Giúp Trích Xuất Văn Bản Từ Hình Ảnh
  • Tài liệu luyện thi THPT Quốc gia môn văn. Bộ đề minh họa kì thi THPT Quốc gia .Đề đọc hiểu câu chuyện quà tặng cuộc sống : Hai anh em

    Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

    Hai anh em

    Ngày xưa ở một làng nọ, có hai anh em đẻ sinh đôi, trẻ tuổi, đáng yêu. Tuy nhiên tính tình của họ rất ngỗ nghịch. Và mọi việc trở nên nghiêm trọng khi hai anh em bắt đầu đi ăn trộm cừu của những người nông dân trong vùng – một hành vi bị coi là trọng tội. Một lần nọ, cả hai anh em bị bắt quả tang. Dân làng quyết định trừng phạt bằng cách trích lên trán họ hai chữ ” ST” (sheep thief – tên trộm cừu) như một dấu ấn tội lỗi sẽ theo họ suốt đời.

    Một người trong hai anh em vì quá xấu hổ, nên đã bỏ làng đi biệt xứ. Kể từ đó, chẳng còn ai biết tin tức được gì về anh ta.

    Còn người thứ hai vô cùng ân hận, đã ở lại làng và cố gắng hết sức để bù đắp lại những lỗi lầm của mình. Lúc đầu mọi người đều e dè và chẳng muốn dính líu gì với anh ta. Tuy nhiên anh ta vẫn quyết tâm chuộc lỗi. Hễ trong làng có ai đau yếu anh đều tìm đến ân cần chăm sóc và lo lắng. Bất cứ ai có việc gì nặng nhọc, anh đều giúp đỡ hết mình, chẳng cần biết đó là ai, giàu hai nghèo. Cứ thế, anh luôn sống vì người khác mà chẳng hề đòi ban thưởng hay trả công.

    Nhiều năm trôi qua, một bữa nọ, có một vị khách đi ngang qua ngôi làng. Trong lúc ngồi quán nước bên đường, ông trông thấy một cụ già, trên trán có khắc một dấu khác lạ. Bất kì ai trong làng đi qua đều dừng lại kính cẩn chào hỏi cụ; đám trẻ con chơi xong cũng chạy đến sà vào long cụ. Tất cả mọi người đều thể hiện thái độ yêu quý, kính trọng ông cụ.

    Vị khách tò mò hỏi chủ quán:

    – Hai kí tự trên trán ông cụ có nghĩa là gì thế?

    – Tôi cũng không rõ nữa. Chuyện xảy ra cách đây đã lâu lắm rồi – người chủ quán đáp.

    Sau đó ông ngừng suy nghĩ một chút rồi nói – nhưng theo tôi chắc nó có nghĩa là ” Thánh nhân” ( Saint) ( Theo sách Hạt giống tâm hồn)

    Câu 1. Cho biết phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản trên? ( 0,5 điểm)

    Câu 2. Nêu ngắn gọn nội dung chính của văn bản? ( 1,0 điểm)

    Câu 3. Theo anh/chị, tại sao chàng trai ngày xưa trộm cừu lúc về già lại được ” tất cả mọi người yêu quí, kính trọng” và suy tôn là “Thánh nhân”? ( 0,5 điểm)

    Câu 4. Viết một đoạn văn ngắn ( 6 đến 8 dòng) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về bài học rút ra từ văn bản trên? ( 1,0 điểm)

    Đáp án :

    Câu 1. Phương thức tự sự ( 0,5 điểm)

    Câu 2. Nội dung văn bản

    – Câu chuyện kể về hai anh em sinh đôi ăn trộm cừu, sau đó bị dân làng trùng phạt, một người bỏ đi biệt tích, một người ở lại tìm cách chuộc lại lỗi lầm, lúc về già được mọi người yêu quí, kính trọng. ( 0,5 điểm)

    – Ý nghĩa câu chuyện: Cuộc sống không ai tránh khỏi những sai trái, lỗi lầm. Hãy can đảm, kiên trì sửa lỗi sẽ được đền đáp. Đó là cách ứng xử đẹp khi lầm lỗi, thất bại trên đường đời. ( 0,5 điểm)

    Câu 3. Chàng trai trộm cừu ngày xưa lúc về già được suy tôn là thánh nhân vì anh đã nhận ra lỗi lầm, cố gắng hết sức để bù lại lỗi lầm, luôn sống vì người khác… ( 0,5 điểm)

    Câu 4. ( 1,0 điểm)

    – HS viết đúng yêu cầu một đoạn văn

    – Rút ra được bài học thiết thực, chân thành từ câu chuyện. Có thể là bài học về cách ứng xử trước lầm lỗi, bài học về sự kiên trì…

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Thi Và Đáp Án Học Kì Inăm Học 2022
  • Đề Thi Tuyển Sinh Lớp 10 Môn Văn Năm 2022 Quảng Bình
  • Đề Thi Thử Thptqg Môn Văn
  • Đề Đọc Hiểu Về Câu Chuyện Quà Tặng Cuộc Sống :hoa Hồng Tặng Mẹ
  • Cách Chuyển Văn Bản Hình Ảnh Sang Word
  • Đọc Hiểu Văn Bản “khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ”

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ Siêu Ngắn
  • Soạn Bài: Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ
  • Soạn Bài Truyện Kiều Của Nguyễn Du Trang 80 Sgk Ngữ Văn 9 Tập 1
  • Hướng Dẫn Soạn Bài Cảnh Khuya
  • Soạn Bài Cảnh Khuya Của Hồ Chí Minh
  • KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN TRÊN LƯNG MẸ

    (Nguyễn Khoa Điềm)

    – Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, tại thôn Ưu Điềm, xã Phong Hòa, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế. Quê gốc: làng An Cựu, xã Thủy An, thành phố Huế. Lúc nhỏ đi học ở quê, năm 1955 ra miền Bắc học tại trường học sinh miền Nam. Sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Sư phạm Hà Nội năm 1964, vào miền Nam hoạt động trong phong trào học sinh, sinh viên Huế, tham gia quân đội, xây dựng cơ sở cách mạng, viết báo, làm thơ… cho đến năm 1975. Ông thuộc thế hệ nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ của dân tộc. Nguyễn Khoa Điềm từng làm Tổng Thư kí Hội Nhà văn Việt Nam. Từ năm 2000, ông giữ cương vị Uỷ viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tư tưởng văn hoá Trung ương.

    – Nguyễn Khoa Điềm trưởng thành trong giai đoạn kháng chiến chống Mĩ. Tập thơ Đất ngoại ô và trường ca Mặt đường khát vọng nhanh chóng khẳng định sự đóng góp và tài thơ Nguyễn Khoa Điềm lúc bấy giờ. Có thể nói thơ Nguyễn Khoa Điềm là thơ của một trí thức trẻ, giàu vốn sống thực tế và vốn văn hoá, triết lí và trữ tình, suy tư và cảm xúc. Cũng chính nhờ đó mà ông đã gây được ấn tượng khá đậm với bạn đọc cả nước nhất là các bài thơ: Đất ngoại ô, Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ, Con gà đất, cây kèn và khẩu súng, chương Đất nước trong Mặt đường khát vọng, v.v…

    Nguyễn Khoa Điềm viết không nhiều. Hơn một chục năm sau chiến tranh nhà thờ mới cho ra đời tập thơ Ngôi nhà có núi lửa ấm. Giai đoạn 1974-1986 là một chặng đường dài mà Nguyễn Khoa Điềm phải tự vươn lên. Trong sự khó khăn chung của thể loại trữ tình, nhà thơ viết cũng không mấy dễ dàng, mỗi bài thơ muốn khám phá và thể hiện đầy đủ hơn, sâu đậm hơn thế giới bên trong: Ngôi nhà có ngọn lửa ấm, Lặng lẽ, Những bài thơ tình viết trong chiến tranh, Kính tặng Nguyên Hồng, Trên khối đá của từ ngữ, tặng một người sáng tạo.

    Với những câu thơ nói ít, gợi nhiều, những tứ thơ giàu sức liên tưởng, gợi mở, những từ ngữ chắt lọc, hàm súc, thấm đượm tình yêu đối với con người, đối với lao động sáng tạo nghệ thuật, đối với quê hương đất nước, Nguyễn Khoa Điềm là một trong những tên tuổi đã có chỗ đứng trong nền thơ ca Việt Nam hiện đại.

    2. Tác phẩm:

    – Tác phẩm đã xuất bản: Đất ngoại ô (thơ, 1973); Cửa thép (ký, 1972); Mặt đường khát vọng (trường ca, 1974); Ngôi nhà có ngọn lửa ấm (thơ, 1986); Thơ Nguyễn Khoa Điềm (thơ, 1990).

    Nhà thơ đã được nhận Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam với tập “Ngôi nhà có ngọn lửa ấm”.

    – Bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ được tác giả Nguyễn Khoa Điềm sáng tác năm 1971, khi đang công tác ở chiến khu Thừa Thiên.

    Trong bài thơ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện truyền thống yêu nước thương dân một cách đặc sắc qua hình ảnh bà mẹ cõng con lên rẫy. Những lời người mẹ ru con bộc lộ sâu sắc tinh thần yêu nước cùng ý chí quyết tâm đánh giặc đến cùng của đồng bào các dân tộc nói riêng và nhân dân ta nói chung.

    II – GIÁ TRỊ TÁC PHẨM

    Cách nói những em bé ngủ trên lưng mẹ là cách nói mới lạ, rất ấn tượng, có nhiều hàm nghĩa: vừa cụ thể, vừa khái quát. Nhiều em bé ở vùng cao được lớn lên trên lưng mẹ khi mẹ đi nương, xuống chợ. Cũng ở trên lưng mẹ, nhưng em bé trong đoạn thơ này lại lớn trong một hoàn cảnh khá đặc biệt – đó là lớn lên theo quá trình mẹ tham gia kháng chiến.

    Đoạn thơ được mở đầu bằng lời của tác giả và kết thúc bằng lời ru của người mẹ:

    Em Cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi

    Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ

    Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội

    Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng…

    Hoàn cảnh em bé lớn lên và hình ảnh những người mẹ miền tây Thừa Thiên những năm đánh Mĩ được khắc hoạ chân thực và cảm động: em lớn lên cùng gian lao kháng chiến, em lớn lên trong tình cảm thiêng liêng của mẹ với bộ đội, với cách mạng. Câu thơ thứ bảy đột ngột chuyển ý:

    Lưng đưa nôi và tim hát thành lời:

    Ngủ ngoan, a-kay ơi, ngủ ngoan a-kay hỡi

    Mẹ thương a – kay, mẹ thương bộ đội

    Con mơ cho mẹ hạt gạo trắng ngần

    Mai sau con lớn vung chày lún sân…

    Lời tâm tình, nhắn nhủ, vừa là lời ru của tác giả với Cu Tai đã làm nền cho lời ru thiết tha của mẹ cất lên. A-kay (tiếng dân tộc Tà-ôi, có nghĩa là: con) bỗng như được thấm đẫm những âm điệu nồng nàn trong tình cảm của mẹ. Lời ru da diết, lời ru do “tim hát thành lời” – lời ru cũng là tiếng lòng, ước mơ, khát khao tình cảm của mẹ với con và tình cảm của mẹ với cách mạng, với công việc mà mẹ hăng hái tham gia.

    Trong câu thơ Nhịp chày nghiêng, giấc ngủ em nghiêng, hình ảnh “giấc ngủ nghiêng” được thể hiện trong mối quan hệ với không gian giã gạo của mẹ. Hình ảnh Mẹ thương a-kay, mẹ thương bộ đội được thể hiện trong mối quan hệ song hành.

    Dưới hình thức một lời ru mới, Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ của Nguyễn Khoa Điềm đồng thời là lời ca ngợi hình ảnh người mẹ Việt Nam vừa có những nét truyền thống: cần cù và yêu lao động, nhưng cũng rất hiện đại: các công việc giã gạo, phát rẫy, đạp rừng ở đây là để nuôi bộ đội, nuôi dân làng và đánh giặc. Tình cảm của mẹ trong lời ru với con mình và với bộ đội, với dân làng, với đất nước được thể hiện trong sự đan kết, quấn quýt; cách cấu trúc tình cảm Mẹ thương a-kay – mẹ thương bộ đội khẳng định tình cảm đó tuy hai mà một, đậm đà, ruột thịt. Hình ảnh em cu Tai ở đây vừa là đối tượng của lời ru vừa là dấu nối tinh thần giữa mẹ và nhân dân, Tổ quốc; giữa hiện thực với khát vọng tương lai; giữa hiện thực với lí tưởng thời đại. Vì thế, người mẹ Tà-ôi trong bài thơ dường như không chỉ của riêng em, mẹ chính là người phụ nữ Việt Nam mới: người mẹ chiến sĩ.

    Cảm xúc trữ tình chân thực, vận dụng đặc sắc phong cách ngôn ngữ của đồng bào dân tộc, hình tượng thơ trong Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ vừa lấp lánh, vừa giàu nhạc điệu.

    (Sưu tầm)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 9: Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ
  • Soạn Bài Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ Của Nguyễn Khoa Điềm
  • Soạn Bài Khúc Hát Ru Những Em Bé Lớn Trên Lưng Mẹ
  • Soạn Bài Khi Con Tu Hú Ngắn Gọn Và Hay Nhất
  • Soạn Bài Khi Con Tu Hú (Siêu Ngắn)
  • Ôn Tập Văn Bản “trong Lòng Mẹ” (Nguyên Hồng)

    --- Bài mới hơn ---

  • Giải Vbt Ngữ Văn 8 Trong Lòng Mẹ
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Ngữ Văn Lớp 8 Bài Trong Lòng Mẹ
  • Trắc Nghiệm Trong Lòng Mẹ
  • Bài 2 . Trong Lòng Mẹ Trong Long Me Ppt
  • Sự Kết Hợp Các Phương Thức Biểu Đạt
  • “Trong lòng mẹ” là một đoạn trích đầy cảm động về tình mẫu tử. Văn bản nằm trong chương trình Ngữ văn 8, tập một. Tư liệu Ngữ văn THCS xin giới thiệu với các thầy cô và các em phần phân tích văn bản “Trong lòng mẹ”, hi vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích dành cho các thầy cô và các em trong quá trình học tập.

    – Ông luôn hướng ngòi bút về những người cùng khổ. Là nhà văn của phụ nữ và trẻ em.

    Trong lòng mẹ là chương IV của tác phẩm Những ngày thơ ấu. Tác phẩm gồm chín chương, kể về tuổi thơ cay đắng của tác giả.

    + Từ đầu đến “người ta hỏi đến chứ”: Cuộc trò chuyện với bà cô.

    + Còn lại: Cuộc gặp gỡ giữa hai mẹ con bé Hồng.

    c. Thể loại: Tiểu thuyết tự thuật (tự truyện), kết hợp nhuần nhuyễn giữa các phương thức biểu đạt: tự sự, miêu tả và biểu cảm.

    Nhân vật người kể chuyện xưng tôi – ngôi thứ nhất cũng chính là tác giả kể lại chuyện đời mình một cách chân thực và cảm động.

    Hoàn cảnh của bé Hồng: cha mất sớm, mẹ bỏ đi, họ hàng không yêu thương mà chỉ dè bỉu, khinh miệt; luôn sống trong sự khao khát tình thương của mẹ.

    Chỉ là một đứa trẻ mà em đã phải sớm chịu nhiều mất mát, phải đối diện với những cay nghiệt, bạc bẽo của cuộc đời. Đó là một số phận đáng thương.

    Bà cô hiện lên rất chân thực, sống động qua ngòi bút kể, tả của tác giả:

    + Hai con mắt long lanh nhìn bé Hồng chằm chặp

    + Ngân thật dài, thật rõ hai tiếng em bé

    – Những hành động, cử chỉ của bà cô không xuất phát từ tình yêu và sự quan tâm dành cho cháu mà mục đích chính của bà cô chính là săm soi, gieo rắc vào đầu bé Hồng những hoài nghi để bé khinh miệt và ruồng rẫy mẹ.

    Bà cô là người đàn bà độc ác, hẹp hòi, tàn nhẫn, vô cảm với cả đứa cháu ruột thịt.

    Bà cô là đại diện của những hủ tục lạc hậu trong xã hội cũ.

    – Tâm trạng của bé Hồng được thể hiện qua những hành động:

    + im lặng cúi đầu xuống đất, lòng thắt lại, khóe mắt cay cay dù nhận ra mục đích của bà cô nhưng em không sao ngăn được nỗi đau trong lòng.

    + Nước mắt ròng ròng rớt xuống hai bên mép rồi chan hòa đầm đìa ở cằm và ở cổ thương mẹ, căm tức những thành kiến một cách cực độ.

    + Cười dài trong tiếng khóc

    + Cổ họng nghẹn ứ khóc không ra tiếng

    + Muốn phá tan những cổ tục lạc hậu.

    Tính cách hẹp hòi, tàn nhẫn của bà cô được xây dựng tương phản với sự trong sáng, giàu tình yêu thương của bé Hồng.Từ câu chuyện riêng của đời mình, Nguyên Hồng đã truyền đến cho người đọc những nội dung mang ý nghĩa xã hội bằng những dòng văn giàu cảm xúc, có hình ảnh, ấn tượng qua cuộc đối thoại và những cung bậc cảm xúc của H. Chúng ta cảm thông với những nỗi đau, những mất mát của H,chúng ta cũng trân trọng bản lĩnh cứng cỏi, tấm lòng thương yêu mẹ sâu sắc của H.

    Khi chợt nhìn thấy bóng người ngồi trong xe giống mẹ, Hồng liền đuổi theo, bối rối gọi theo. Ba tiếng mợ ơi đầy tha thiết, cuống quýt, mừng tủi, xót xa, thể hiện sự khát khao gặp mẹ trong tâm hồnnon nớt của đứa trẻ mồ côi.

    – Sự lo sợ nếu mình nhầm cùng hình ảnh so sánh: ảo ảnh của người đi trên sa mạc đã nhấn mạnh nỗi khát khao được gặp mẹ của bé Hồng, nếu không được gặp mẹ thì đó là nỗi thất vọng quá lớn.

    – Khi biết đó là mẹ, cậu đuổi theo, thở hồng hộc, trán đẫm mồ hôi, ríu cả chân lại à cuống quýt, mừng rỡ.

    – Cậu khóc òa lên nức nở. Đó vừa là giọt nước mắt tủi thân, lại là sự vỡ òa của hạnh phúc khi được gặp lại mẹ.

    + Hồng ngắm nhìn mẹ. Mẹ hiện lên tươi tắn với đôi mắt trong, làn da mịn, hai gò má hồng hào. à Em có suy nghĩ mẹ tươi đẹp vì được gặp em và ôm ấp em. à Người mẹ trong cái nhìn hạnh phúc và tình yêu của con hiện lên thật đẹp.

    + Cảm xúc của chú bé Hồng: cảm xúc ấm áp mơn man khắp da thịt, êm dịu vô cùng, rạo rực; những lời chế nhạo cũng chìm đi ngay.

    à Trong lòng mẹ là cả một thế giới bình yên, ấm áp và hạnh phúc.

    – Nghệ thuật: miêu tả kết hợp với tự sự và biểu cảm.

    Giây phút được nằm trong lòng mẹ là giây phút bình yên, hạnh phúc nhất. Với cậu bé luôn khát khao tình yêu thương của mẹ, giây phút ấy càng đáng quý biết bao. Dường như cậu ước ao được nằm thật lâu, thật lâu trong lòng mẹ. Trong lòng mẹ, trong hạnh phúc dạt dào, tất cả những phiền muộn, những sầu đau, tủi hổ cũng chỉ như bong bóng xà phòng, như áng mây trôi, cũng trôi tuột đi mà thôi.

    – Truyện kể lại một cách chân thực và cảm động những cay đắng, tủi cực của cậu bé Hồng.

    – Qua đó, làm nổ bật tình yêu thương cháy bỏng của cậu bé dành cho mẹ.

    – Kết hợp lời kể với miêu tả, biểu cảm (qua các hình ảnh so sánh giàu sức gợi tả, gợi cảm) tạo rung động trong lòng độc giả

    – Khắc hoạ hình tượng nhân vật Hồng với lời nói, hành động, tâm trạng sinh động, chân thật

    Nguồn – Tư liệu Ngữ văn THCS (Mọi sao chép vui lòng ghi rõ nguồn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn 8 Vnen Bài 2: Trong Lòng Mẹ
  • Bài Giảng Môn Học Ngữ Văn Lớp 8
  • Tóm Tắt Văn Bản Trong Lòng Mẹ
  • Soạn Bài Trong Lòng Mẹ Đầy Đủ Lớp 8 Hay Nhất
  • Soạn Bài Trong Lòng Mẹ ( Trích Những Ngày Thơ Ấu
  • Chuyên Đề Đọc Hiểu Văn Bản

    --- Bài mới hơn ---

  • Bí Quyết Vận Dụng Kiến Thức Liên Môn Trả Lời Câu Hỏi Đọc Hiểu Văn Bản Nhật Dụng
  • Sáng Kiến Kinh Nghiệm Tích Hợp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Các Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn 8
  • Tích Hơp Giáo Dục Bảo Vệ Môi Trường Trong Các Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn 8
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 8
  • Soạn Bài Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng Văn 9 Trang 94 (Ngắn Gọn): Hệ Thống Các Văn Bản Nhật Dụng Đã Học
  • 1. Yêu cầu nhận diện phương thức biểu đạt

    Ví dụ 1: Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi:

    …Còn xa lắm mới đến cái thác dưới. Nhưng đã thấy tiếng nước réo gần mãi lại, réo to mãi lên. Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo. Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tới cái thác rồi. Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đã trắng xoá cả chân trời đá. Đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong lòng sông, hình như mỗi lần có chiếc thuyền nào xuất hiện ở quãng ầm ầm mà quạnh hiu này, mỗi lần có chiếc nào nhô vào đường ngoặt sông là một số hòn bèn nhổm cả dậy để vồ lấy thuyền. Mặt hòn đá nào trông cũng ngỗ ngược, hòn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này.

    (Trích Tuỳ bútNgười lái đò Sông Đà -Nguyễn Tuân)

    Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào là chính?

    (Trả lời: Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn trên là miêu tả).

    Ví dụ 2: ” Hắn về lần này trông khác hằn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai. Trông đặc như thằng săng đá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai con mắt gườm gườm trong gớm chết! Hắn mặt cái quần nái đen với áo tây vàng. Cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết! ( – Nam Cao )

    Hãy chỉ ra các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên ?

    (Trả lời: Các phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn văn trên là: tự sự, miêu tả, biểu cảm).

    Ví dụ 3: ” Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

    Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa

    (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

    Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào?

    ( Trả lời: Đoạn văn trên được viết theo phương thức nghị luận)

    Ví dụ 4: Nước là yếu tố thứ hai quyết định sự sống chỉ sau không khí, vì vậy con người không thể sống thiếu nước. Nước chiếm khoảng 58 – 67% trọng lượng cơ thể người lớn và đối với trẻ em lên tới 70 – 75%, đồng thời nước quyết định tới toàn bộ quá trình sinh hóa diễn ra trong cơ thể con người.

    Khi cơ thể mất nước, tình trạng rối loạn chuyển hóa sẽ xảy ra, Protein và Enzyme sẽ không đến được các cơ quan để nuôi cơ thể, thể tích máu giảm, chất điện giải mất đi và cơ thể không thể hoạt động chính xác. Tình trạng thiếu nước do không uống đủ hàng ngày cũng sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của não bởi có tới 80% thành phần mô não được cấu tạo từ nước, điều này gây trí nhớ kém, thiếu tập trung, tinh thần và tâm lý giảm sút…”

    (Nanomic.com.vn)

    Đoạn trích được viết theo phương thức biểu đạt nào?

    (Trả lời: Đoạn trích được viết theo phương thức thuyết minh)

    Ví dụ 5:

    Đò lên Thach Hãn ơi chèo nhẹ

    Đáy sông còn đó bạn tôi nằm.

    Có tuổi hai mươi thành sóng nước

    Vỗ yên bờ mãi mãi ngàn năm.

    (Lê Bá Dương, Lời người bên sông)

    Phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ là phương thức nào?

    (Phương thức biểu đạt chủ yếu trong đoạn thơ là biểu cảm)

    Ví dụ 6: Dịch bệnh E-bô-la ngày càng trở thành “thách thức” khó hóa giải. Hiện đã có hơn 4000 người tử vong trong tổng số hơn 8000 ca nhiễm vi rút E-bô-la. Ở năm quốc gia Tây Phi. Hàng nghìn trẻ em rơi vào cảnh mồ côi vì E-bô-la. Tại sao Li-bê-ri-a, cuộc bầu cử thượng viện phải hủy do E-bô-la “tác quái”

    Với tinh thần sẻ chia và giúp đỡ năm nước Tây Phi đang chìm trong hoạn noạn, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã gửi những nguồn lực quý báu với vùng dịch để giúp đẩy lùi “bóng ma” E-bô-là, bất chấp nhưng nguy cơ có thể xảy ra.

    Mĩ đã quyết định gửi 4000 binh sĩ, gồm các kĩ sư, chuyên gia y tế, hàng loạt nước ở Châu Âu, Châu Á và Mĩ-la-tinh gửi trang thiết bị và hàng nghìn nhân viên y tế tới khu vực Tây Phi. Cu-ba cũng gửi hàng trăm chuyên gia y tế tới đây.

    Trong bối cảnh chưa có vắc xin điều trị căn bệnh E-bô-la, việc cộng đồng quốc tế không “quay lưng” với vùng lõi dịch ở Tây Phi, tiếp tục gửi chuyên gia và thiết bị tới đây để dập dịch không chỉ là hành động mang tính nhân văn, mà còn thắp lên tia hi vọng cho hàng triệu người Phi ở khu vực này.

    (Dẫn theo nhân dân.Com.vn)

    Văn bản trên sử dụng các phương thức biểu đạt chủ yếu nào?

    ( Trả lời: Phương thức chủ yếu: thuyết minh – tự sự)

    2- Yêu cầu nhận diện phong cách chức năng ngôn ngữ:

    1

    Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

    – Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hàng ngày, mang tính tự nhiên, thoải mái và sinh động, ít trau chuốt…Trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm trong giao tiếp với tư cách cá nhân

    – Gồm các dạng chuyện trò/ nhật kí/ thư từ…

    Ví dụ 1 : Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi: ” Tất cả trẻ em trên thế giới đều trong trắng, dễ bị tổn thương và còn phụ thuộc. Đồng thời chúng hiểu biết, ham hoạt động và đầy ước vọng. Tuổi chúng phải được sống trong vui tươi, thanh bình, được chơi, được học và phát triển. Tương lai của chúng phải được hình thành trong sự hòa hợp và tương trợ. Chúng phải được trưởng thành khi được mở rộng tầm nhìn, thu nhận thêm những kinh nghiệm mới“.

    * Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

    ( Trả lời: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ chính luận).

    Ví dụ 2:

    Dịch bệnh E-bô-la ngày càng trở thành “thách thức” khó hóa giải. Hiện đã có hơn 4000 người tử vong trong tổng số hơn 8000 ca nhiễm vi rút E-bô-la. Ở năm quốc gia Tây Phi. Hàng nghìn trẻ em rơi vào cảnh mồ côi vì E-bô-la. Tại sao Li-bê-ri-a, cuộc bầu cử thượng viện phải hủy do E-bô-la “tác quái”

    Với tinh thần sẻ chia và giúp đỡ năm nước Tây Phi đang chìm trong hoạn noạn, nhiều quốc gia và các tổ chức quốc tế đã gửi những nguồn lực quý báu với vùng dịch để giúp đẩy lùi “bóng ma” E-bô-là, bất chấp nhưng nguy cơ có thể xảy ra.

    Mĩ đã quyết định gửi 4000 binh sĩ, gồm các kĩ sư, chuyên gia y tế, hàng loạt nước ở Châu Âu, Châu Á và Mĩ-la-tinh gửi trang thiết bị và hàng nghìn nhân viên y tế tới khu vực Tây Phi. Cu-ba cũng gửi hàng trăm chuyên gia y tế tới đây.

    Trong bối cảnh chưa có vắc xin điều trị căn bệnh E-bô-la, việc cộng đồng quốc tế không “quay lưng” với vùng lõi dịch ở Tây Phi, tiếp tục gửi chuyên gia và thiết bị tới đây để dập dịch không chỉ là hành động mang tính nhân văn, mà còn thắp lên tia hi vọng cho hàng triệu người Phi ở khu vực này“.

    (Dẫn theo nhân dân.Com.vn)

    Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

    (Văn bản trên được viết theo phong cách ngôn ngữ báo chí)

    Ví dụ 3:Nhà di truyền học lấy một tế bào của các sợi tóc tìm thấy trên thi thể nạn nhân từ nước bọt dính trên mẩu thuốc lá. Ông đặt chúng vào một sản phẩm dùng phá hủy mọi thứ xung quanh DNA của tế bào.Sau đó, ông tiến hành động tác tương tự với một số tế bào máu của nghi phạm.Tiếp đến, DNA được chuẩn bị đặc biệt để tiến hành phân tích.Sau đó, ông đặt nó vào một chất keo đặc biệt rồi truyền dòng điện qua keo. Một vài tiếng sau, sản phẩm cho ra nhìn giống như mã vạch sọc ( giống như trên các sản phẩm chúng ta mua) có thể nhìn thấy dưới một bóng đèn đặc biệt. Mã vạch sọc DNA của nghi phạm sẽ đem ra so sánh với mã vạch của sợi tóc tìm thấy trên người của nạn nhân”.

    ( Nguồn : Le Ligueur, 27 tháng 5 năm 1998)

    * Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ nào?

    ( Trả lời: Đoạn văn được viết theo phong cách ngôn ngữ khoa học).

    3. Yêu cầu nhận diện và nêu tác dụng (hiệu quả nghệ thuật) các hình thức, phương tiện ngôn ngữ

    3.1. Các biện pháp tu từ:

    Tu từ về ngữ âm: điệp âm, điệp vần, điệp thanh,… (tạo âm hưởng và nhịp điệu cho câu)

    so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, nhân hóa, tương phản, chơi chữ, nói giảm, nói tránh, thậm xưng,…

    Tu từ về cú pháp: Lặp cú pháp, liệt kê, chêm xen, câu hỏi tu từ, đảo ngữ, đối, im lặng,…

    Ví dụ 1: Chỉ ra biện pháp tu từ chính được sử dụng trong đoạn thơ sau và nêu hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó:

    Của ong bướm này đây tuần tháng mật;

    Này đây hoa của đồng nội xanh rì;

    Này đây lá của cành tơ phơ phất;

    Của yến anh này đây khúc tình si;”( – Xuân Diệu)

    (Trả lời: – Biện pháp tu từ được sử dụng là phép trùng điệp (điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc): Của…này đây…/ Này đây… của … Hiệu quả nghệ thuật của phép tu từ là nhấn mạnh vẻ đẹp tươi non, phơi phới, rạo rực, tình tứ của mùa xuân qua tâm hồn khát sống, khát yêu, khát khao giao cảm mãnh liệt của nhân vật trữ tình).

    3.2. Các hình thức, phương tiện ngôn ngữ khác:

    – Từ láy, thành ngữ, từ Hán – Việt …

    – Điển tích điển cố,…

    Ví dụ 1: “Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?” (Trích Vợ nhặtKim Lân)

    Chỉ ra những thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn và nêu hiệu quả nghệ thuật của chúng.

    . (Trả lời: – Các thành ngữ dân gian được sử dụng trong đoạn văn: dựng vợ gả chồng, sinh con đẻ cái, ăn nên làm nổi. Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các thành ngữ: các thành ngữ dân gian quen thuộc trong lời ăn tiếng nói nhân dân được sử dụng một cách sáng tạo, qua đó lời kể của người kể hòa vào với dòng suy nghĩ của nhân vật bà cụ Tứ; suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật trở nên thật gần gũi, được thể hiện rất tự nhiên; nỗi lòng, tâm trạng cùa người mẹ thương con thật được diễn tả thật chân thực).

    Ví dụ 4: Cho đoạn văn sau:

    Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lí cố tình để sát vào mâm cỗ cho bàn ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò… – món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây…”

    (Trích Mùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng)

    Đoạn văn sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó trong đoạn văn?

    (Trả lời: – Trong đoạn văn, tác giả có sử dụng biện pháp liệt kê:

    “…gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò…”

    -Tác dụng: Biện pháp liệt kê giúp cho nhà văn miêu tả sinh động mâm cỗ Tết vốn tràn trề, ngồn ngộn những của ngon vật lạ)

    4. Yêu cầu nhận diện các phương thức trần thuật

    5. Yêu cầu nhận diện các phép liên kết ( liên kết các câu trong văn bản)

    Phép lặp từ ngữ

    Lặp lại ở câu đứng sau những từ ngữ đã có ở câu trước

    Phép liên tưởng (đồng nghĩa / trái nghĩa)

    Sử dụng ở câu đứng sau những từ ngữ đồng nghĩa/ trái nghĩa hoặc cùng trường liên tưởng với từ ngữ đã có ở câu trước

    Phép thế

    Sử dụng ở câu đứng sau các từ ngữ có tác dụng thay thế các từ ngữ đã có ở câu trước

    Phép nối

    Sử dụng ở câu sau các từ ngữ biểu thị quan hệ (nối kết)với câu trước

    Ví dụ: Đọc kỹ đoạn văn sau và xác định các phép liên kết được sử dụng:

    Trường học của chúng ta là trường học của chế độ dân chủ nhân dân, nhằm mục đích đào tạo những công dân và cán bộ tốt, những người chủ tương lai của nước nhà. Về mọi mặt, trường học của chúng ta phải hơn hẳn trường học của thực dân phong kiến.

    Muốn được như thế thì thầy giáo, học trò và cán bộ phải cố gắng hơn nữa để tiến bộ hơn nữa . (Hồ Chí Minh – Về vấn đề giáo dục)

    ( Trả lời: Các phép liên kết được sử dụng là:

    Phép lặp: “Trường học của chúng ta”

    Phép thế: “Muốn được như thế”… thay thế cho toàn bộ nội dung của đoạn trước đó.)

    6. Nhận diện các thao tác lập luận

    6

    So sánh

    So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, đối tượng hoặc là các mặt của một sự vật để chỉ ra những nét giống nhau hay khác nhau, từ đó thấy được giá trị của từng sự vật hoặc một sự vật mà mình quan tâm.

    Hai sự vật cùng loại có nhiều điểm giống nhau thì gọi là so sánh tương đồng, có nhiều điểm đối chọi nhau thì gọi là so sánh tương phản.

    7. Yêu cầu nhận diện kiểu câu và nêu hiệu quả sử dụng

    7.1. Câu theo mục đích nói:

    Câu tường thuật (câu kể)

    – Câu cảm thán (câu cảm)

    – Câu nghi vấn ( câu hỏi)

    – Câu khẳng định

    – Câu phủ định.

    7.2. Câu theo cấu trúc ngữ pháp

    – Câu đơn

    – Câu ghép/ Câu phức

    – Câu đặc biệt.

    Ví dụ 1: Sáng ngày 16/5, hơn 1.300 học sinh trường THPT Phan Huy Chú, Hà Nội tham gia buổi học ngoại khóa mang tên Chủ quyền biển đảo, khát vọng hòa bình. Buổi học được tổ chức với ý nghĩa thể hiện tình yêu đất nước, một lòng hướng về biển Đông.

    Nhà trường cho rằng buổi ngoại khoá như thế này rất cần thiết, giúp nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc cho các em học sinh, đồng thời nâng cao hiểu biết về chủ quyền lãnh thổ và ý thức trách nhiệm của tuổi trẻ đối với quê hương, đất nước.

    Trong buổi ngoại khoá này, các học sinh trong trường đã xếp hình, tạo thành dải chữ S bản đồ đất nước Việt Nam cùng hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Hoạt động xếp hình diễn ra khá sớm vào lúc 6h30 nhưng các học sinh tham gia đều rất hào hứng, sôi nổi. Vừa xếp hình, các học sinh trường Phan Huy Chú còn được nghe kể về chiến công của cha ông trong việc bảo vệ đất nước, được nâng cao và tự ý thức được trách nhiệm của bản thân đối với Tổ quốc. (Theo )

    Đọc đoạn trích trên và cho biết kiểu câu nổi bật nhất mà văn bản sử dụng là gì? Tác dụng của kiểu câu đó trong việc thể hiện nội dung văn bản?

    ( Trả lời: – Kiểu câu sử dụng nhiều nhất là câu tường thuật, câu phức.

    – Tác dụng: Cung cấp cụ thể, đầy đủ và chính xác các thông tin hoạt động ngoại khóa của học sinh trường THPT Phan Huy Chú.)

    Ví dụ 2: Tại Thế vận hội đặc biệt Seatte [dành cho những người tàn tật] có chín vận động viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham dự cuộc đua 100m. Khi súng hiệu nổ, tất cả đều lao đi với quyết tâm chiến thắng. Trừ một cậu bé. Cậu cứ bị vấp té liên tục trên đường đua. Và cậu bật khóc. Tám người kia nghe tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Rồi họ quay trở lại. Tất cả, không trừ một ai! Một cô gái bị hội chứng down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé: – Như thế này, em sẽ thấy tốt hơn. Cô gái nói xong, cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích. Khán giả trong sân vận động đồng loạt đứng dậy. Tiếng vỗ tay hoan hô vang dội nhiều phút liền. Mãi về sau, những người chứng kiến vẫn còn truyền tai nhau câu chuyện cảm động này”.

    . Đọc đoạn văn bản trên và chỉ ra những câu đặc biệt được sử dụng trong văn bản trên. Nêu tác dụng của chúng.

    (Trả lời: Các câu đặc biệt được sử dụng trong đoạn văn:

    Câu: ” Trừ một cậu bé“. Hiệu quả biểu đạt: tạo sự chú ý về sự đặc biệt của một vận động viên so với đám đông trên đường đua.

    -Câu: ” Tất cả không trừ một ai“. Hiệu quả biểu đạt: Đặt trong mối liên hệ với câu trước đó, câu có tác dụng nhấn mạnh, gây sự chú ý sự đồng lòng thực hiện một hành động cao cả (vì người bị tổn thương về thể chất nặng hơn mình).

    8. Yêu cầu xác định nội dung chính của văn bản/ Đặt nhan đề cho văn bản

    Ví dụ 1:Tràn trề trên mặt bàn, chạm cả vào cành quất Lí cố tình để sát vào mâm cỗ cho bàn ăn thêm đẹp, thêm sang, là la liệt bát đĩa ngồn ngộn các món ăn. Ngoài các món thường thấy ở cỗ Tết như gà luộc, giò, chả, nem, măng hầm chân giò, miến nấu lòng gà, xúp lơ xào thịt bò… – món nào cũng mang dấu ấn tài hoa của người chế biến – là các món khác thường như gà quay ướp húng lìu, vịt tần hạt sen, chả chìa, mọc, vây…”

    (TríchMùa lá rụng trong vườn – Ma Văn Kháng)

    Đọc kĩ và xác định nội dung chính của đoạn trích trên? Hãy đặt nhan đề cho đoạn văn. (Trả lời: Đoạn văn miêu tả mâm cỗ Tết thịnh soạn do bàn tay tài hoa, chu đáo của cô Lí làm ra để thết đãi cả gia đình. Có thể đặt nhan đề là ” Mâm cỗ Tết”.

    Ví dụ 2: Từ sau khi Việt Nam hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường, tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) của đất nước tăng lên đáng kể. Đầu tư từ ngân sách cho KH&CN vẫn giữ mức 2% trong hơn 10 năm qua, nhưng giá trị tuyệt đối tăng lên rất nhanh, đến thời điểm này đã tương đương khoảng 1tỷ USD/năm. Cơ sở vật chất cho KH&CN đã đạt được mức độ nhất định với hệ thống gần 600 viện nghiên cứu và trung tâm nghiên cứu của Nhà nước, hơn 1.000 tổ chức KH&CN của các thành phần kinh tế khác, 3 khu công nghệ cao quốc gia ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đã bắt đầu có sản phẩm đạt kết quả tốt. Việt Nam cũng có cơ sở hạ tầng thông tin tốt trong khu vực ASEAN (kết nối thông tin với mạng Á- Âu, mạng VinaREN thông qua TEIN2, TEIN4,… (Báo , ngày 16/5/2014- Mai Hà, Ánh Tuyết)

    *Đọc đoạn văn trên và cho biết nội dung chính bàn về vấn đề gì? Đặt tên cho văn bản.

    ( Trả lời: – Nội dung chính của đoạn văn bàn về: Sự phát triển của KH&CN Việt Nam trong hoàn cảnh hội nhập, Có thể đặt tên cho đoạn văn làKhoa học công nghệ của Việt Nam,….)

    Bản quyền bài viết này thuộc về http://vanhay.edu.vn. Mọi hành động sử dụng nội dung web xin vui lòng ghi rõ nguồn

    9. Yêu cầu nhận diện các lỗi diễn đạt và chữa lại cho đúng

    9.1. Lỗi diễn đạt ( chính tả, dùng từ, ngữ pháp)

    9.2. Lỗi lập luận ( lỗi lô gic…)

    Ví dụ: Đây là đoạn văn còn mắc nhiều lỗi dùng từ, chính tả, ngữ pháp, logic…, Anh/chị hãy chỉ ra những sai sót đó và chữa lại cho đúng.

    Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố, người đọc tiếp nhận với một không gian ngột ngạt, với nỗi khổ đè nặng trên đôi vai gầy yếu và nỗi đau xé lòng chị Dậu tưởng như đã thành nỗi đau tột cùng. Nhưng khi Chí Phèo với những tiếng chửi tục tĩu cùng khuôn mặt đầy vết sẹo, với bước chân chện choạn, ngật ngưởng bước đi trên những dòng văn của Nam Cao, thấy rằng đó mới là kẻ khốn cùng ở nông dân Việt Nam ngày trước. Qua đó, Nam Cao không chỉ lột trần sự thật đau khổ của người nông dân mà còn nêu được một quy luật xuất hiện trong làng xã Việt Nam trước Cách mạng Tháng Tám: hiện tượng người nông dân bị đẩy vào con đường lưu manh hoá

    10. Yêu cầu nêu cảm nhận nội dung và cảm xúc thể hiện trong văn bản

    Cảm nhận về nội dung phản ánh

    Cảm nhận về cảm xúc của tác giả

    Ví dụ: Đọc đoạn thơ sau trong bài Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa…của Nguyễn Duy và trả lời câu hỏi sau:

    “(…) Mẹ ta không có yếm đào

    nón mê thay nón quai thao đội đầu

    rối ren tay bí tay bầu

    váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa”

    Ở khổ thơ này, hình ảnh người mẹ hiện lên như thế nào? Cảm xúc của nhà thơ dành cho mẹ là gì?

    (Trả lời: – Hình ảnh của người mẹ nghèo bình dị, lam lũ, quê mùa, tần tảo, tất tả, bươn chải giữa chốn trần gian được gợi qua trang phục, qua lam lũ nhọc nhằn lao động với bao lo toan vất vả.

    – Cảm xúc của nhà thơ là nỗi buồn lặng thấm thía về gia cảnh nghèo nàn của mẹ là tình yêu thương, trân trọng và niềm tự hào về mẹ).

    11. Yêu cầu xác định từ ngữ, hình ảnh biểu đạt nội dung cụ thể trong văn bản

    12. Yêu cầu nhận diện các hình thức nghị luận (hoặc cách thức trình bày của đoạn văn/ Kết cấu đoạn văn)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tổng Kết Phần Văn (Tiếp Theo)
  • Tiết 132, 133: Tổng Kết Phần Văn Bản Nhật Dụng
  • Soạn Bài Cầu Long Biên
  • “nâng Cao Hiệu Quả Dạy Văn Bản Nhật Dụng Ngữ Văn Thcs”
  • Một Số Kinh Nghiệm Dạy Học Văn Bản Nhật Dụng
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100