Đọc – Hiểu Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn – Tư Liệu Ngữ Văn 7 2022

--- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 8 Tiết 21 – 22: Văn Bản: Cô Bé Bán Diêm (An
  • Giáo Án Ngữ Văn 8 Tiết 21
  • Dịch Vụ Là Gì? Đặc Điểm Và Bản Chất Của Dịch Vụ
  • Dịch Tài Liệu Tiếng Hàn
  • Bảo Quản Và Công Bố Di Chúc
  • Đang tải…

    Bài ca Côn Sơn – Tư liệu Ngữ Văn 7

    BÀI CA CÔN SƠN

    (Côn Sơn ca)

    ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

    Côn Sơn được gợi lên với vẻ đẹp sống động, đầy ắp âm thanh, đậm đà màu sắc bởi cảnh vật được cảm nhận qua tâm hồn Ức Trai giàu chất nhạc, chất hoạ, chất thơ.

    Nguyễn Trãi về với Côn Sơn là về với ngôi nhà của mình. Ta hãy để ý cái giọng thơ phóng khoáng, nhịp thơ thoải mái câu thơ tự do trong nguyên văn chữ Hán:

    Côn Sơn hữu tuyền,

    Kì thanh linh linh nhiên,

    Ngô dĩ vi cầm huyền.

    Côn Sơn hữu thạch,

    Vũ tẩy đài phô bích,

    Ngô dĩ vi đạm tịch.

    Nhịp thơ trên như nhịp của phách, nhịp của bộ gõ, vừa đệm nhạc, vừa tạo tiết tấu cho lời ca. Chính chất hào sảng trong tâm hồn đã tạo nên chất hào sảng của thơ. Bao nhiêu năm bận rộn công việc, lòng đầy âu lo việc dân, việc nước, những năm cuối đời lại sống trong vòng tị hiềm, ghen ghét, khi trở về Côn Sơn, Nguyễn Trãi thấy mình thật sự tự do. Đọc thơ, giữa cảnh thấy người, thấy Nguyễn Trãi khi nằm nghỉ, lúc dạo chơi, khi chuyện trò tâm sự, lúc cao giọng ngâm nga… Một Nguyễn Trãi thanh bạch, giản dị, ung dung mà hào phóng, cởi mở. Ức Trai như cánh chim sổ lồng, vui say giữa rừng núi quê nhà. Bản dịch thơ lục bát đã cố gắng lột tả cái tâm trạng tự do, khoáng đạt của Nguyễn Trãi khi về với Côn Sơn, nhưng cái nhịp điệu như nước suối reo, như bước chân lên xuống, khi chạy, khi dừng thì bản dịch đã không lột tả được.

    Nguyễn Trãi đang vui với Côn Sơn, suối nước thành suối nhạc, rêu xanh thành thảm biếc, tán tùng thành ô lọng… bỗng nhiên giọng thơ như lắng xuống, hơi thơ như nén lại rồi bật trào ra… Mình đã về đây, về sống giữa Côn Sơn, lần này về hẳn, khác bao lần trước, vậy mà vẫn còn tự vân :

    Về đi sao chẳng sớm toan

    Nửa đời vương vấn bụi trần làm chi.

    Loading…

    Câu hỏi đó làm ta thấy lạ. Nhưng chưa hết, ngạc nhiên hơn nữa khi Nguyễn Trãi ca khúc Quy khứ lai từ của Đào Tiềm với tâm trạng thanh thản, nhẹ tênh.

    Côn Sơn ca là sự tiếp tục Bình Ngô đại cáo, cho ta hiểu thêm một Nguyễn Trãi anh hùng ở phương diện khác : dám sống thật với chính mình. Khía cạnh “con người” trong người anh hùng Nguyễn Trãi chính là vẻ đẹp nhân bản đã nâng người anh hùng dân tộc lên tầm cao nhân loại.

    (Lã Nhâm Thìn, Giảng văn văn học Việt Nam, Sđd)

    VĂN BẢN ĐỌC THÊM

    CÔN SƠN

    Núi Côn Sơn trên đất huyện Chí Linh, suốt một trăm năm mươi năm từ khi Trần Nhân Tông khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm (1299) cho tới khi Nguyễn Trãi quy thần (1442) đã là một trung tâm của tư tưởng Việt Nam đổi diện với Thăng Long, cả hai gắn liền nhau trong đạo xuất xử của người hiền thời xưa. Nếu kinh đô Thăng Long là trung tâm quyền lực giải quyết yêu cầu dấn thân của kẻ sĩ thì Côn Sơn là nơi họ tìm về căn nhà vũ trụ để thực hiện cuộc sống tâm linh trong bản giao hưởng của trời đất. Chẳng những Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán, Chu Văn An, Nguyễn Trãi,… đã tìm về đây để sống đạo suốt phần cuối cuộc hành trình cát bụi, mà nhiều trí thức Trần – Lê dù đang phải gánh vác triều chính, thỉnh thoảng cũng lén về Côn Sơn để ăn trộm cái nhàn trong nửa ngày, theo cách nói của Nguyễn Phi Khanh.

    Côn Sơn nhìn nghiêng giông hình một con kì lân từ Tây Tạng đi về phương Nam, tới nằm trầm mặc giữa châu thổ sông Hồng. Chân núi có ngôi chùa cổ với mấy tấm bia đá đề năm Thiệu Phong đời Trần, và những cây sứ già lão cổ quái bậc nhất, khiến tôi nhìn lên phải nghiêng mình vái chào. Tên dân gian gọi là chùa Hun, vì từ xa xưa lâu đời, nơi đây vẫn là rừng sâu hoang rậm. Côn Sơn quanh năm chìm trong màu khói xanh của thợ rừng đốt than. Thời lỡ vận, người anh hùng đánh Nguyên – Trần Khánh Dứ – cũng từng lên nguồn đốt than, truyền thuyết còn lưu lại bài thơ nổi tiếng : Ở với lửa hương cho vạn kiếp, Thử xem vàng đá có bền gan.

    Lưng chừng núi là khu di tích của động Thanh Hư, canh núi Côn Sơn. Tiến sĩ Trần Nguyên Đán, nhà thiên văn và lịch pháp tài giỏi của thế kỉ XIV, vì buồn việc nước, lại nghĩ rằng “Tư sát để được tiếng khen như Khuất Nguyên là sai”, bèn về núi dựng khu trang viên này. Nguyễn Phi Khanh tả động Thanh Hư quy mô rộng lớn, cảnh quan rực rỡ, thơm đến muốn nuôi, xinh đến muốn ăn. Nay lác đác trên sườn núi vẫn còn dấu đá ong của những nền nhà cũ, nơi Trần Nguyên Đán viết sách và dạy học, người học trò vỡ lòng của ông cũng đồng thời là cháu ngoại, chính là Nguyễn Trãi. Nay vẫn còn tấm bia đá lớn đề ba chữ “Thanh Hư động”, bút tích của vua Trần Nghệ Tông, cùng với bài minh của nhà vua ngợi ca tấm lòng mải lo nước thương dân của Trần Nguyên Đán dù đã lui về núi : Sương dưới bóng cây là muốn mở lộng sức che chở cho dân, Tựa vào khóm trúc là muốn đến với nhiều người hiền.

    Suối Côn Sơn mùa xuân nước vẫn đầy, bờ suối còn những dấu đại bác thời chống Pháp. Ven suối dưới chân động Thanh Hư có bãi đá bằng phang gọi là thạch bàn : Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Đúng như trong thơ ông, thạch bàn là nơi Nguyễn Trãi thường ngồi lặng lẽ ngắm bầu trời. Có lẽ những tháng ngày hội nhập vào cuộc sống lớn lao của một “công dân vũ tru”, cái ý niệm thiên dân kia đã nuôi dưỡng sâu bền thêm trong tâm thức Nguyễn Trãi nỗi khát khao lẽ công bằng và tự do cho con người, vốn lả bản chất dân chủ nhất quán trong lí tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi: Lồng lộng trời tư chút đâu, Nào ai chẳng đội ở trên đầu. Ngày tôi về, rêu thạch bàn ở Côn Sơn vẫn sáng lên một màu lục tươi mới mẻ lạ lùng, tưởng như người hiền vừa mới đứng dậy khỏi nơi này, đang lững thững một mình đâu đó trong rừng thông.

    ( Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọn núi ảo ảnh,

    NXB Thanh niên, Hà Nội, 1999)

    – Gợi dẫn

    Đoạn trích này giúp em hiểu thêm gì về bài Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi ?

    --- Bài cũ hơn ---

  • Top 12 Ứng Dụng Viết Chữ Lên Ảnh Trên Điện Thoại Đẹp Nhất
  • Hướng Dẫn Cách Đọc Báo Cáo Tài Chính Trong Doanh Nghiệp
  • Báo Cáo Thực Tập Tìm Hiểu Công Tác Soạn Thảo Và Quản Lý Văn Bản Tại Văn Phòng Ubnd Thành Phố Pleiku, Tỉnh Gia Lai
  • Mẫu Biên Bản Nhắc Nhở Vi Phạm, Mẫu Biên Bản Cảnh Cáo Vi Phạm
  • Bản Báo Cáo Tổng Kết Năm Học 2022
  • Soạn Bài: Bài Ca Côn Sơn (Côn Sơn Ca

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Cuộc Chia Tay Của Những Con Búp Bê
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9: Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều
  • Mã Độc Mạo Danh Văn Bản Chính Phủ Về Covid
  • Không Để Nợ Đọng Văn Bản Sang Chính Phủ Khóa Mới
  • Dịch Văn Bản Dịch Tài Liệu Tiếng Trung Cnn : Bongtuyet153のBlog
  • I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

    1. Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử lỗi lạc, là nhà quân sự, nhà thơ lớn của dân tộc.

    Nguyễn Trãi để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú. Trong số đó có Bình Ngô đại cáo, ức Trai thỉ tập (thơ chữ Hán), Quốc âm thi tập (thơ chữ Nôm), Quân trung từ mệnh tập.

    2. Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) được viết bằng chữ Hán. Văn bản để học là bản dịch thơ của các dịch giả sau này.

    Đây là đoạn trích phần đầu bài Côn Sơn ca. Đoạn trích cho ta thấy cảnh đẹp kì thú của Côn Sơn và tâm hồn trong sáng, hoà hợp với thiên nhiên bắt nguồn từ nhân cách thi sĩ thanh cao của Nguyễn Trãi.

    II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

    1. Bài ca Côn Sơn (bản dịch) theo thể thơ lục bát, một thể thơ dân tộc. Đặc điểm của lục bát là gồm những cặp câu sáu (lục) tám (bát) liên kết với nhau cho đến khi kết thúc bài thơ. Tiếng cuối của câu sáu vần với tiếng thứ sáu của câu tám ( rầm vần với cầm). Tiếng cuối của câu tám lại vần tiếp với tiếng cuối của câu sáu tiếp theo ( tai vần với phơi). Cứ như vậy bắt vần cho đến hết bài

    2. Trong đoạn thơ có 5 từ ta, những từ này đều nằm ở câu bát (tám).

    b) Nhân vật ta là một người yêu thiên nhiên, thích nghe tiếng suôi chảy. Từ tiếng suối, nghe thấy âm thanh tiếng đàn của tự nhiên. Ta thích ngồi trong bóng mát, thích trong màu xanh mát của trúc ngâm câu thơ nhàn. Ta là người yêu thiên nhiên, hoà hợp với thiên nhiên, có sự cảm nhận rất nghệ sĩ với thiên nhiên. Ta là một thi sĩ thực sự (ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của bóng trúc).

    c) Tiếng suôi chảy được ví với tiếng đàn. Đá rêu phơi được ví với chiếu êm. Cách ví von đó cho thấy nhân vật ta rất yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên như cây đàn, như tấm chiếu mình dùng. Đồng thời điều đó cũng cho thấy đây là một nghệ sĩ tinh tế, giàu trí tưởng tượng.

    3. Hình ảnh Côn Sơn được gợi tả với suối, với đá, với thông và với trúc. Đá có thảm rêu êm như chiếu. Thông, trúc là những loài cây đẹp, tượng trưng cho người quân tử. cảnh Côn Sơn rất nên thơ, rất hữu tình. Người biết tìm.đến cảnh ấy, biết nhìn ra vẻ đẹp ấy cũng phải là người có tâm hồn thơ, có nhân cách thanh cao, ưa hoà hợp với thiên nhiên.

    4. Nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh của bóng râm rừng trúc. Đây là hình ảnh của những người hiền, những bậc thánh nhân quân tử thường thấy trong thơ văn xưa. Họ vui vầy với thiên nhiên, di dưỡng tinh thần. Nguyễn Trãi ở Côn Sơn như một người tiên trong cõi trần.

    5. Đoạn thơ dịch có nhiều điệp từ : 5 lần từ ta, 3 lần từ như, 2 lần từ Côn Sơn, hai lần từ có. Điệp từ làm nổi bật nhân vật ta giữa thiên nhiên, mặt khác nhấn mạnh vẻ đẹp sẵn có của Côn Sơn, thể hiện sự so sánh để tìm ra nét độc đáo của cảnh vật. Điệp từ ta còn có tác dụng tạo cho câu thơ có giọng điệu êm ái, du dương. Ta khi đứng đầu, khi đứng giữa câu thơ, khi đối nhau qua một từ trong câu thơ, tạo nên sự uyển chuyên.

    Ill – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

    1. Sự giông nhau của hai cách ví von là ở chỗ cùng lấy tiếng suối của thiên nhiên làm đối tượng cảm thụ và so sánh. Sự khác biệt là tiếng suối của Nguyễn Trãi gắn với địa danh Côn Sơn, suối của Côn Sơn, còn tiếng suối trong thơ Bác là tiếng dòng suối vô danh. Sự khác biệt thứ hai là Nguyễn Trãi nghe tiếng suối như tiếng đàn, còn Bác Hồ nghe thấy âm thanh trong trẻo của suối mà so với tiếng hát, nhưng tiếng hát xa chứ không phải ở khoảng cách gần. Tiếng suối trong thơ Nguyễn Trãi có vẻ như được nghe vào ban ngày, khi nhà thơ trèo lên đá, ngồi trong bóng trúc. Còn tiếng suối trong thơ Bác được nghe trong đêm khuya, có trăng sáng. Dù có sự khác nhau trong cảm nhận nhưng đều thể hiện hai nhân cách lớn, hai tâm hồn thi sĩ lớn.

    2. Ghi nhớ nội dung của bốn cặp lục bát, chú ý đến vần trong thơ lục bát. Điều đó sẽ giúp cho việc học thuộc lòng dễ dàng và nhớ lâu.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Bài Ca Côn Sơn
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Ngữ Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 21: Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn (Nguyễn Trãi)
  • Soạn Văn 7 Bài Ca Côn Sơn Tóm Tắt
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn Của Nguyễn Trãi
  • Soạn Văn Bài Ca Côn Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài: Bài Ca Côn Sơn (Côn Sơn Ca
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Cuộc Chia Tay Của Những Con Búp Bê
  • Giáo Án Ngữ Văn Lớp 9: Chị Em Thúy Kiều (Truyện Kiều
  • Mã Độc Mạo Danh Văn Bản Chính Phủ Về Covid
  • Không Để Nợ Đọng Văn Bản Sang Chính Phủ Khóa Mới
  • Soạn văn Bài ca côn sơn

    I.Đọc – hiểu văn bản

    Câu 1. Côn sơn ca được làm bằng thể thơ lục bát, đặc điểm:

    -Số câu: không hạn chế, nhưng tối thiểu phải có hai câu, một câu 6 đứng trước và một câu 8 đứng sau.

    -Số chữ: một cặp lục bát (6 – 8) có 14 chữ.

    -Hiệp vần: vần chân và vần lưng.

    + Chữ thứ 6 của câu sáu hiệp với chữ thứ 6 của câu 8 (vần lưng).

    + Chữ thứ 8 của câu tám hiệp với chữ thứ 6 của câu 6 (vần chân).

    -Tất cả những hiệp vần đều thanh bằng.

    -Nhân vật ta là ai? Chính là tác giả Nguyễn Trãi.

    Trong đoạn thơ có 5 từ ‘ta’ và trải đều trong mỗi cặp lục – bát ; cứ sau mỗi cảnh đẹp được giới thiệu ở câu 6 thì chữ ta lại có mặt ở vị trí câu 8 tiếp chủ thể thưởng thức cái đẹp.

    -Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật ta:

    + Hình ảnh nhân vật ta xuất hiện mỗi lần một tâm thế khác nhau: lúc lắng nghe tiếng suối, lúc ngồi trên đá êm, lúc nằm dưới bóng thông xanh, lúc ngâm thơ giữa rừng trúc.

    + Qua những hình ảnh đó thể hiện tâm hồn yêu thiên nhiên tha thiết của thi nhân, nhà thơ như đang đắm mình, đang thả hồn vào trong thiên nhiên hữu tình thơ mộng.

    -Nhận xét về sự so sánh.

    Tiếng “suối rì rầm” được ví với “tiếng đàn cầm”, “đá rêu phong” được ví với “chiếu êm”. Cách ví đó thể hiện sự tinh tế, sự liên tưởng độc đáo lãng mạn tài hoa của nhà thơ.

    Em có thể tham khảo đoạn văn sau của Vũ Dương Quỹ:

    “Trí tưởng tượng và nghệ thuật so sánh của Nguyễn Trãi thật lãng mạn, tài hoa. Tạo vật thiên nhiên bỗng hóa thành những vât dụng của con người, gần gũi thân thương với con người. Đôi tai nhạy cảm của thi sĩ đã thổi hồn vào tiếng suối, khiến cho nó vốn đơn điệu trở thành cây đàn đa thanh, cuốn hút, xúc giác tinh tế của nhà thơ đã hóa thân cho mặt đá vốn khô rắn thành mặt chiều dịu êm”.

    Cảnh tượng Côn Sơn: Có tiếng suối rì rầm, có đá rêu phơi, có thông vi vút, có trúc bóng râm.

    Nhận xét: Cảnh Côn Sơn đẹp tựa như tranh, rất nên thơ, hữu tình và khoáng đạt. Cảnh như bao bọc lấy của con người trong sự êm đềm thanh tĩnh của nó.

    -Hình ảnh “ta ngâm thơ nhàn”:

    + Không chỉ ở bài thơ này, mà ở nhiều bài thơ khác của Nguyễn Trãi, chúng ta cũng bắt gặp sự gắn bó và giao hòa như thế giữa thiên nhiên và nhà thơ:

    “Núi láng giềng, chim bầu bạn

    Mây khách khứa, nguyệt anh em”.

    “Có nằm hạc lặn nên bầu bạn

    Ấp ủ cùng ta làm cái con”.

    -Con người nhà thơ: Qua đoạn thơ có thể hình dung Nguyễn Trãi là con người có tình yêu thiên nhiên say đắm, có phong thái ung dung, nhân cách cao nhã. Ông không màng danh lợi, xa lánh chốn bụi trần đua chen sống hòa mình với thiên nhiên.

    -Điệp từ trong đoạn thơ: Côn Sơn: điệp 2 lần ; ta: điệp 5 lần ; trong: điệp 3 lần ; có: điệp 2 lần.

    + Thể hiện sự phong phú đa dạng của cảnh.

    + Niềm say đắm của người ngắm cảnh.

    + Tạo nên tiết tấu nhịp nhàng của bài thơ.

    II.Luyện tập

    Đề: Cách ví von tiếng suối củ Nguyễn Trãi trong hai câu thơ ‘Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai’ và Hồ Chí Minh trong câu thơ ‘Tiếng suối trong như tiếng hát xa’ có gì giống và khác nhau?

    + Cả hai đều thể hiện tâm hồn hòa nhập với thiên nhiên.

    + Nguyễn Trãi so sánh tiếng suối với tiếng đàn.

    + Hồ Chí Minh so sánh tiếng suối với tiếng hát.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Ngữ Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 21: Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn (Nguyễn Trãi)
  • Soạn Văn 7 Bài Ca Côn Sơn Tóm Tắt
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn Của Nguyễn Trãi
  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn Trang 78 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn Lớp 7 Tập 1
  • Bài Soạn Lớp 7: Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài : Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh
  • Soạn Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh
  • Soạn Bài Lớp 7: Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh
  • Soạn bài Bài ca Côn Sơn (Nguyễn Trãi)

    * Bố cục: 2 phần đan xen nhau:

    – Câu 1, 2,3,5,7: Cảnh trí Côn Sơn

    – Câu 4,6,8: Cuộc sống và tâm hồn Nguyễn Trãi ở Côn Sơn.

    Câu 1 (trang 80 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Bài ca Côn Sơn được viết theo thể thơ lục bát, thể thơ dân tộc.

    – Những câu sáu, tám liên kết với nhau

    – Tiếng cuối của câu sáu vần với thứ sáu của câu tám (rầm vần với cầm)

    – Tiếng cuối của vần tám hiệp vần với tiếng cuối của câu sáu tiếp theo

    Câu 2 (trang 80 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    a, Nhân vật ta là tác giả

    b, Nhân vật ta là người yêu thiên nhiên:

    + Thích nghe tiếng suối chảy, tiếng suối như nghe âm thanh tiếng đàn của tự nhiên

    + Thích ngồi dưới bóng mát của cây cối trong rừng để ngâm thơ

    ⇒ Nhân vật “ta” hòa hợp với thiên nhiên, cảm nhận thiên nhiên bằng tâm hồn thi sĩ

    Tiếng suối được ví với tiếng đàn, đá rêu được ví với nệm êm

    → Cách ví von cho thấy nhân vật ta là người yêu thiên nhiên, giàu trí tưởng tượng như một nghệ sĩ tinh tế.

    Câu 3 (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    + Hình ảnh Côn Sơn được gợi tả với suối, với đá, với thông với trúc, có thảm rêu êm như chiếu

    + Thông, trúc là loại cây đẹp, tượng trưng, người quân tử

    → Cảnh Côn Sơn rất nên thơ, hữu tình, khoáng đạt. Con người biết tìm đến cảnh đẹp là người có tâm hồn thơ mộng, nhân cách thanh cao, yêu thiên nhiên

    Câu 4 (Trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    + Nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh bóng râm của rừng trúc.

    → Đây là hình ảnh của những người hiền, những thánh nhân quân tử thường thấy trong thơ văn xưa

    + Với tinh về với tự nhiên, di dưỡng tinh thần

    → Nguyễn Trãi ở Côn Sơn với tinh thần của bậc quân tử

    Câu 5 (trang 64 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    – Điệp từ: 5 lần từ “ta”, 3 lần từ “như”, 2 lần từ “Côn Sơn”, 2 lần từ “có”

    – Điệp từ làm nổi bật nhân vật ta giữa thiên nhiên, khẳng định vẻ đẹp sẵn có của Côn Sơn

    – So sánh để tìm ra nét độc đáo của cảnh vật

    – Tạo cho câu thơ có giọng điệu êm ái, du dương

    – Ta khi đứng đầu, khi đứng giữa câu thơ, khi đối nhau qua một từ câu thơ, tạo nên sự uyển chuyển

    Luyện tập

    Bài 1 (trang 81 sgk ngữ văn 7 tập 1)

    Giống nhau: hai cách ví von chỗ cùng lấy tiếng suối của thiên nhiên làm đối tượng để cảm thụ và so sánh

    + Nguyễn Trãi và Bác là những nhân cách lớn, với tâm hồn thi sĩ.

    – Khác biệt: Tiếng suối của Nguyễn Trãi gắn với địa danh Côn Sơn, suối của Côn Sơn, còn tiếng suối trong thơ Bác là tiếng suối vô danh

    + Nguyễn Trãi nghe tiếng suối như tiếng đàn, còn Bác nghe tiếng suối như tiếng hát, nhưng tiếng hát xa chứ không phải ở khoảng cách gần

    + Tiếng suối trong thơ Nguyễn Trãi có vẻ như được nghe vào ban ngày, tiếng suối trong thơ Bác cảm nhận trong đêm

    Bài 2 (Trang 81 sgk ngữ văn 7 tập 1) Học thuộc bài thơ.

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài : Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Bố Cục Trong Văn Bản Ngắn Nhất
  • Top 4 Đề Kiểm Tra 1 Tiết Văn Lớp 7 Học Kì 2 Có Đáp Án, Cực Hay.
  • Cảm Nhận Khi Đọc Bài Ca Côn Sơn Của Nguyễn Trãi.

    --- Bài mới hơn ---

  • Phát Biểu Cảm Nghĩ Về Bài Ca Côn Sơn
  • Mẫu Văn Bản Rút Kinh Nghiệm
  • Mẫu Văn Bản Rút Kinh Nghiệm Tháng Đầu
  • Báo Cáo Rút Kinh Nghiệm
  • Thủ Tục Lấy Ý Kiến Cổ Đông Bằng Văn Bản Trong Công Ty Cổ Phần
  • Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

    Dàn ý 1. Mở bài

    – Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Trãi (những nét khái quát về cuộc đời, các tác phẩm chính,…).

    – Giới thiệu khái quát về bài thơ “Bài ca Côn Sơn” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…).

    2. Thân bài a. Cảnh vật Côn Sơn

    – Hình ảnh miêu tả thiên nhiên Côn Sơn:

    + Suối: tiếng suối như tiếng đàn cầm

    + Đá rêu phơi êm ái như ngồi trên chiếu

    + Thông mọc như nêm: thông mọc rậm và dày

    + Trúc bóng râm: trúc rậm, râm mát, dày tạo nên bóng râm khi trời nắng

    – Biện pháp nghệ thuật:

    + Cảnh vật được miêu tả bằng thủ pháp so sánh giàu sức gợi.

    + Bức tranh có sự kết hợp giữa âm thanh và màu sắc.

    + Hình ảnh được lựa chọn miêu tả: thông, trúc – loài cây tượng trưng cho Côn Sơn, biểu trưng của sự thanh cao

    ⇒ Gợi vẻ đẹp ngàn xưa, thanh cao, khóang đạt, yên tĩnh và nên thơ: Có âm thanh sống động hồn người, có sắc xanh bất tận bao la hùng vĩ của cây rừng Côn Sơn. Thiên nhiên như một người bạn tri âm, tri kỉ của nhà thơ.

    b. Con người giữa cảnh vật thiên nhiên Côn Sơn

    – Sử dụng điệp từ, đại từ nhân xưng “ta” nhằm nhấn mạnh sự có mặt của “ta” ở mọi cảnh đẹp của Côn Sơn.

    – Sử dụng hàng loạt các động từ khẳng định tư thế làm chủ của con người trước thiên nhiên khoáng đạt: Ta nghe, ta ngồi, ta nằm, ta ngâm thơ nhàn…

    ⇒ Nhân vật trữ tình thả hồn mình, sống cuộc sống thanh cao, hòa mình vào giữa khung cảnh thiên nhiên Côn Sơn.

    – Mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên:

    + Gắn bó, giao hoà nhưng con người không bị tan biến trước thiên nhiên khoáng đạt.

    + Nhân vật trữ tình tha thiết muốn hoà vào cảnh vật một cách chân tình, trọn vẹn.

    + Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.

    + Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.

    + Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.

    + Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.

    ⇒ Thể hiện sức sống thanh cao, sự hoà hợp giữa con người với thiên nhiên tươi đẹp, trong lành đồng thời ca ngợi sức sống thanh cao, hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.

    3. Kết bài

    – Cảm nghĩ về tác phẩm và tác gia lớn của dân tộc.

    Bài mẫu

    Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) là một bài thơ chữ Hán nổi tiếng. Có lẽ Nguyễn Trãi viết bài thơ này trong thời kì ông cáo quan về ở ẩn ở Côn Sơn để giữ cho tâm hồn được thanh cao, trong sạch.

    Đối với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là một miền đất có sức hút kì lạ. Chẳng thế mà hai lần cáo quan về ở ẩn, ông đều tìm về với Côn Sơn. Và núi rừng Côn Sơn thanh vắng đã trở thành một thế giới riêng đầy thân thương gắn bó với thi nhân. Tại Côn Sơn, Nguyễn Trãi được sống với chính mình. Dường như thiên nhiên đã trở thành cứu cánh cho tâm hồn ông- một tâm hồn đớn đau vì nhân tình thế thái. Tại Côn Sơn, mọi vật đối với ông trở nên có tình, có nghĩa, như bầu bạn, như tri âm:

    Núi láng giềng, chim bầu bạn

    Mây khách khứa, nguyệt anh tam

    (Thuật hứng – Bài 19)

    Cảnh trí Côn Sơn thanh tĩnh, rộng mở, để cho tâm hồn Nguyễn Trãi hoá thân tìm về, ùa vào đó mà quên đi mọi nỗi ưu phiền:

    Côn Sơn suối chảy rì rầm

    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai

    Côn Sơn có đá rêu phơi

    Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm

    Trong ghềnh thông mọc như nêm,

    Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm.

    Trong rừng có bóng trúc râm,

    Trong màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn.

    (Trích Côn Sơn ca).

    Đoạn mở đầu bài Côn Sơn ca đem đến cho người đọc bao cảm nhận mới mẻ về tâm hồn thi sĩ của Ức Trai. Trong cảm xúc của ông, cảnh trí Côn Sơn hiện ra thật thơ mộng và lãng mạn: có tiếng suối chảy rì rầm, có đá rêu phơi êm ái, có rừng thông mọc rậm, dày, có rừng trúc xanh mát…, vừa có cái hoang dã của thiên nhiên, vừa có hơi ấm của cuộc sống đầy ắp tình người. Hơn nữa, trong con mắt thi nhân, thiên nhiên không chỉ là cảnh, mà đã trở thành nhà. Ngôi nhà thiên nhiên ấy thật đặc biệt: suối là đàn, rêu là chiếu, bóng thông làm giường, bóng tre trúc là nơi ngâm vịnh thơ ca. Thật là tuyệt thú! Và trong ngôi nhà thiên nhiên ấy, ông để tâm hồn mình giao hoà với cảnh và vẽ lại nó bằng một ngọn bút tài hoa.

    Bức tranh thiên nhiên được chấm phá bằng âm thanh rì rầm của tiếng suối được cảm nhận như tiếng đàn:

    Côn Sơn suối chảy rì rầm,

    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai.

    Một hình ảnh so sánh thật độc đáo và gợi cảm. Suối đang chảy hay thi nhân đã thả hồn mình vào tiếng suối, làm rung lên cung đàn diễn tả nỗi khát khao yêu cuộc sống?

    Năm trăm năm sau, thi sĩ Hồ Chí Minh cũng có chung cảm nhận ấy:

    Tiếng suối trong như tiếng hát xa

    Phải chăng những tâm hồn nghệ sĩ đã tìm về với nhau?

    Sau những giây phút thả hồn mình cùng tiếng suối, thi nhân lặng đến ngồi bên những phiến đá mà thời gian đã rêu phong bao phủ. Ông ngồi chơi ngắm cảnh, hay ngồi đánh cờ một mình? Có lẽ là cả hai. Trên nhân gian này, không ít người đã từng ngồi trên đá, nhưng làm sao họ cảm nhận được như thi nhân?

    Côn Sơn có đá rêu phơi,

    Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm.

    Một hình ảnh so sánh liên tưởng đầy thú vị khiến ta không khỏi ngỡ ngàng. Nguyễn Trãi trở về Côn Sơn không phải là để ẩn dật theo đúng nghĩa của cách sống ẩn dật, mà ông trở về Côn Sơn với nỗi hân hoan đầy tự do của một con người trở về nhà mình (Hoàng Phủ Ngọc Tường). Và trong ngôi nhà ấy, ông không những được tha hồ nghe nhạc rừng, ngồi trên đá đánh cờ, mà còn được nằm dưới bóng thông râm mát, được ngâm thơ nhàn dưới bóng trúc xanh. Một cuộc sống mà người và cảnh gắn bó với nhau, hoà nhập vào nhau. Lòng Ức Trai thanh thản đến lạ kì.

    Chưa bao giờ mà tâm hồn thi sĩ của Ức Trai lại được bộc lộ đầy đủ, sâu sắc và đầm thắm đến thế!

    Cũng tại Côn Sơn này, hồn thơ Ức Trai còn tiếp tục rộng mở để đón nhận thiên nhiên, chở thiên nhiên về chất đầy kho:

    Kho thu phong nguyệt đầy qua nóc

    Thuyền chở yến hà nặng vay then

    (Thuật hứng – Bài 24)

    Tình yêu thiên nhiên sâu nặng đến mức thi nhân sợ bóng hoa tan mà không dám quét nhà:

    Hé cửa, đêm chờ hương quế lọt,

    Quét hiên, ngày đợi bóng hoa tan

    (Quốc Âm thi tập – Bài 160)

    Nhân cách thanh cao và tâm hồn thi sĩ của nguyễn Trãi thực sự là tấm gương sáng để ta soi vào.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kể Lại Chuyện Bánh Chưng Bánh Giầy Bằng Lời Văn Của Em
  • Soạn Bài Bánh Chưng Bánh Giầy Lớp 6 Ngắn Gọn
  • Dàn Ý Phân Tích Truyện Bánh Chưng Bánh Giày, Chi Tiết, Dễ Hiểu
  • Soạn Văn Bài: Văn Bản Báo Cáo
  • Soạn Bài Luyện Tập Làm Văn Bản Đề Nghị Báo Cáo
  • Soạn Bài: Bài Ca Côn Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn (Siêu Ngắn)
  • Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn Trang 78 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn Của Nguyễn Trãi
  • Soạn Văn 7 Bài Ca Côn Sơn Tóm Tắt
  • I. Tác giả, tác phẩm

    1. Tác giả

    Nguyễn Trãi (1380 – 1442), người thôn Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương, sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông là một nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn tài hiếm có nhưng cũng là người phải chịu án oan vào loại thảm khốc nhất trong lịch sử Việt Nam. Nguyễn Trãi là người Việt Nam đầu tiên được Tổ chức giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc công nhận là danh nhân văn hóa thế giới (năm 1980).

    2. Tác phẩm

    * Xuất xứ: Văn bản Bài ca Côn Sơn có thể được viết trong khoảng thời gian Nguyễn Trãi cáo quan về ở ẩn tại Côn Sơn (nay thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương).

    Đoạn thơ trong SGK được trích từ bài thơ Côn Sơn ca rút trong tập Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi.

    * Thể thơ: Văn bản Bài ca Côn Sơn được viết theo thể thơ lục bát

    II. Hướng dẫn soạn bài

    Câu 1:

    Bài thơ Bài ca Côn Sơn được viết theo thể thơ lục bát. Đặc điểm của thể thơ này là:

    • Số câu: không hạn chế, nhưng tối thiểu phải có 2 câu, một câu 6 chữ đứng trước và một câu 8 chữ đứng sau.
    • Số chữ: một cặp lục – bát (6 – 8), có 14 chữ.
    • Hiệp vần: vần chân và lưng (Chữ thứ 6 của câu sáu gieo vần với chữ thứ 6 của câu tám, chữ thứ 8 của câu tám gieo vần với chữ thứ 6 của câu sáu).

    Tất cả những hiệp vần của thơ lục bát đều thanh bằng.

    Câu 2:

    Trong đoạn thơ có 5 từ “ta”.

    a) Nhân vật “ta” ở đây chính là Nguyễn Trãi.

    b) Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật “ta” hiện lên mỗi lần với một tâm thế khác nhau: lúc lắng nghe tiếng suối, lúc ngồi trên đá êm, lúc nằm dưới bóng thông xanh, lúc ngâm thơ giữa rừng trúc.

    c) Tiếng “suối chảy rì rầm” được ví với “tiếng đàn cầm”. “Đá rêu phơi” được ví với “chiếu êm”. Cách ví von đó thể hiện sự tinh tế, liên tưởng độc đáo lãng mạn tài hoa của nhà thơ.

    Câu 3:

    Cùng với hình ảnh của nhân vật “ta”, cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết: có tiếng suối rì rầm, có đá rêu phơi, có thông vi vút, có trúc bóng râm.

    Câu 4:

    Hình ảnh nhân vật “ta” “ngâm thơ màu trong màu xanh mát” của “trúc bóng râm”. Đây là hình ảnh cho thấy một sự giao hòa tuyệt đối giữa con người với cảnh vật. Qua câu thơ, ta hình dung Nguyễn Trãi như đang nằm giữa rừng trúc xanh mát bóng râm cất tiếng thơ ngâm để ngợi ca vẻ đẹp thiên nhiên, để cùng thiên nhiên chia sẻ tâm tình của mình.

    Từ đó, ta thấy Nguyễn Trãi vừa là một con người có nhân cách thanh cao, vừa là một con người có tâm hồn thi sĩ. Tất cả đều dựa trên một triết lý sâu xa: con người và thiên nhiên là một.

    Câu 5:

    * Điệp từ trong đoạn thơ:

    • “Côn Sơn”: điệp hai lần
    • “Ta”: điệp 5 lần
    • “Trong”: điệp 3 lần
    • “Có”: điệp 2 lần

    * Tác dụng:

    • Thể hiện sự phong phú, đa dạng của cảnh vật
    • Thể hiện niềm say đắm của người ngắm cảnh
    • Tạo nên tiết tấu nhịp nhàng của bài thơ

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn Ngắn Nhất
  • 2 Cách Để Xóa Tin Nhắn Văn Bản Trên Điện Thoại Android
  • Cách Xóa Chữ Trên Ảnh Photoshop Cs6
  • 3 Cách Xóa Chi Tiết Thừa Trên Ảnh, Xóa Logo Trên Ảnh Nhanh Nhất
  • Xóa Chữ Trên Ảnh, Delete Text Thừa Trong Ảnh Bằng Photoshop
  • Soạn Bài : Bài Ca Côn Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn Lớp 7 Tập 1
  • Bài Soạn Lớp 7: Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài : Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh
  • Soạn Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh
  • Hướng dẫn soạn văn, soạn bài, học tốt bài

    Nguyễn Trãi (1380 – 1442), người thôn Chi Ngại, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Ông là một nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn tài hiếm có nhưng cũng là người phải chịu cái án oan vào loại thảm khốc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Nguyễn Trãi là người Việt Nam đầu tiên được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc (UNESCO) công nhận là danh nhân văn hoá thế giới (năm 1980).

    Đoạn thơ trong SGK này được trích từ bài thơ Côn Sơn carút trong tập Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi.

    1. Nhận dạng thể thơ của bài thơ dịch về soa câu, số chữ, cách hiệp vần theo những kiến thức đã biết về thể thơ lục bát.

    c) Tiếng suối chảy đước tác giả ví với tiếng đàn, rêu trên đá được ví với chiếu êm, cách ví von này cho thấy tác giả là người giàu tình cảm với thiên nhiên, coi thiên nhiên như những người ttri kỉ. Cách miêu tả ấy cũng cho thấy đây là một người nghệ sĩ tinh tế, giàu trí tưởng tượng.

    5. Đoạn thơ này dùng nhiều điệp từ ( ta, Côn Sơn, trong, …). Hiện tượng điệp từ đã góp phần tích cực làm cho đoạn thơ có giọng điệu nhẹ nhàng, thơi thảnh, êm tai.

    + Các câu tám chủ yếu theo nhịp 4/4, trừ câu thứ hai “Ta nghe / như tiếng đàn cầm bên tai” được viết theo nhịp 2/6.

    Với nhịp điệu như vậy cần đọc chậm, thong thả, rõ ràng, chú ý ngắt đúng nhịp để tăng sức diễn cảm.

    + Các tiếng thứ tư (cả câu sáu và câu tám) đều là thanh trắc, sau đó là thanh bằng. Cách bố trí thanh điệu như vậy khiến cho ở giữa các câu thơ, giọng điệu có xu hướng cao lên rồi lại hạ thấp xuống, tạo ra một âm điệu trầm bổng, du dương. Khi đọc phải chú ý lên cao giọng ở giữa câu và hạ thấp dần ở cuối câu.

    2. So sánh cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi trong hia câu thơ ” Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” và của Hồ Chí Minh trong câu thơ ” Tiếng suối trong như tiếng hát xa” ( Cảnh khuya):

    : Cả hai cách ví von này đều là sản phẩm của những tâm rất nên thơ và tinh tế (ẩn sau một tình yêu say đắm với thiên nhiên). Tuy sự so sánh có khác nhau (một bên so sánh với tiếng đàn cần, bên kia tiếng suối được cảm như tiếng hát của một người sơn nữ) thế nhưng cả hai đều gợi ra sự ấm áp, tươi vui; gợi về tình yêu, niềm tin và sức sống.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Bố Cục Trong Văn Bản Ngắn Nhất
  • Top 4 Đề Kiểm Tra 1 Tiết Văn Lớp 7 Học Kì 2 Có Đáp Án, Cực Hay.
  • Đề Kiểm Tra Học Kì 2 Môn Ngữ Văn Lớp 7 Trường Thcs Cao Viên, Hà Nội
  • Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn Trang 78 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn Của Nguyễn Trãi
  • Soạn Văn 7 Bài Ca Côn Sơn Tóm Tắt
  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 21: Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn (Nguyễn Trãi)
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Ngữ Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn
  • Bài thơ: Bài ca Côn Sơn (Nguyễn Trãi)

    Nội dung bài thơ: Bài ca Côn Sơn

    I. Đôi nét về tác giả Nguyễn Trãi

    – Nguyễn Trãi sinh năm 1380, mất năm 1442, hiệu là Ức Trai, con của Nguyễn Phi Khanh

    – Quê quán: quê gốc ở thôn Chi Ngại, xã Cộng Hòa, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; sau dời đến làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội)

    – Ông tham gia khởi nghĩa Lam Sơn với vai trò rất lớn bên cạnh Lê Lợi. Nguyễn Trãi trở thành một nhân vật lịch sử lỗi lạc, toàn tài hiếm có. Nhưng cuối cùng, ông bị giết oan khốc và thảm thương vào năm 1442 và mãi đến năm 1464, mới được vua Lê Thành Tông rửa oan

    – Ông đế lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú, trong đó có “Bình ngô đại cáo”, “Ức Trai thi tập”, “Quốc âm thi tập”, “Quân trung từ mệnh tập”

    – Ông là người Việt Nam đầu tiên được UNESCO công nhận là Danh nhân van hóa thế giới (năm 1980)

    II. Đôi nét về tác phẩm Bài ca Côn Sơn

    1. Hoàn cảnh ra đời

    – “Bài ca Côn Sơn” (Côn Sơn ca) có nhiều khả năng được sáng tác trong thời gian ông bị chèn ép, đành phải cáo quan về sống ở Côn Sơn

    – Trong nguyên văn chữ Hán, bài thơ được viết theo thể thơ khác nhưng ở đây được dịch bằng thể thơ lục bát

    2. Giá trị nội dung

    Với hình ảnh nhân vật “ta” giữa cảnh tượng Côn Sơn nên thơ, hấp dẫn, đoạn thơ cho thấy sự giao hòa trọn vẹn giữa con người và thiên nhiên bắt nguồn từ nhân cách thanh cao, tâm hồn thi sĩ của chính Nguyễn Trãi

    3. Giá trị nghệ thuật

    – Sử dụng đại từ nhân xưng “ta”

    – Đan xen các chi tiết, các câu thơ tả cảnh và tả người

    – Sử dụng các biện pháp tu từ: so sánh, điệp từ (ta, Côn Sơn, như)

    – Giọng điệu nhẹ nhàng, êm ái

    – Bản dịch theo thể thơ lục bát với ngôn ngữ trong sáng, sinh động, hấp dẫn

    III. Dàn ý phân tích tác phẩm Bài ca Côn Sơn

    I. Mở bài

    – Giới thiệu khái quát về tác giả Nguyễn Trãi (những nét khái quát về cuộc đời, các tác phẩm chính,…)

    – Giới thiệu khái quát về bài thơ “Bài ca Côn Sơn” (hoàn cảnh ra đời, khái quát giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật…)

    II. Thân bài

    1. Cảnh vật Côn Sơn

    – Hình ảnh miêu tả thiên nhiên Côn Sơn

    + Suối: tiếng suối như tiếng đàn cầm

    + Đá rêu phơi

    + Thông mọc như nêm: thông mọc rậm và dày

    + Trúc bóng râm: trúc rậm, râm mát, dày tạo nên bóng râm khi trời nắng

    – Biện pháp nghệ thuật:

    + Điệp từ: Côn Sơn

    + So sánh

    ⇒ Bức tranh thiên nhiên khoáng đạt, thanh cao, hấp dẫn, thú vị và nên thơ. Thiên nhiên như một người bạn tri âm, tri kỉ của nhà thơ

    2. Con người giữa cảnh vật thiên nhiên Côn Sơn

    – Sử dụng điệp từ, đại từ nhân xưng “ta” nhằm nhấn mạnh sự có mặt của “ta” ở mọi cảnh đẹp của Côn Sơn

    – Sử dụng hàng loạt các động từ khẳng định tư thế làm chủ của con người trước thiên nhiên: Ta nghe, ta ngồi, ta nằm, ta ngâm thơ nhàn…

    ⇒ Nhân vật trữ tình thả hồn mình, sống cuộc sống thanh cao, hòa mình vào giữa khung cảnh thiên nhiên Côn Sơn

    ⇒ Ca ngợi sức sống thanh cao, hòa hợp giữa con người với thiên nhiên.

    III. Kết bài

    – Khái quát lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ:

    + Nội dung: vẻ đẹp hấp dẫn, nên thơ của thiên nhiên Côn Sơn và tâm hồn, nhân cách thanh cao, sống hòa hợp với thiên nhiên của Nguyễn Trãi

    + Nghệ thuật: điệp từ, so sánh, giọng thơ nhẹ nhàng, êm đềm, bản dịch bằng thể thơ lục bát với ngôn ngữ trong sáng, sinh động,…

    Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

    Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k8: chúng tôi

    Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

    Các bài Soạn văn lớp 7 siêu ngắn được biên soạn bám sát câu hỏi sgk Ngữ Văn lớp 7 Tập 1, Tập 2 giúp bạn dễ dàng soạn bài Ngữ Văn 7 hơn.

    tac-gia-tac-pham-lop-7.jsp

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài: Bài Ca Côn Sơn
  • Hướng Dẫn Soạn Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn Ngắn Nhất
  • 2 Cách Để Xóa Tin Nhắn Văn Bản Trên Điện Thoại Android
  • Cách Xóa Chữ Trên Ảnh Photoshop Cs6
  • Soạn Văn 7 Bài Ca Côn Sơn Tóm Tắt

    --- Bài mới hơn ---

  • Giáo Án Ngữ Văn 7 Tiết 21: Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn (Nguyễn Trãi)
  • Đề Cương Ôn Tập Học Kì 1 Ngữ Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Văn Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài: Bài Ca Côn Sơn (Côn Sơn Ca
  • Soạn + Gợi Ý Câu Hỏi Trên Lớp Bài Cuộc Chia Tay Của Những Con Búp Bê
  • 1. Bố cục bài thơ

      Chia làm 2 phần

      • Phần 1: Cảnh thiên nhiên Côn Sơn
      • Phần 2: Con người trong thiên nhiên Côn Sơn

    2. Hướng dẫn soạn văn Bài ca Côn Sơn

    Câu 1: Em dựa vào lời giới thiệu sơ lược về thể thơ lục bát ở chú thích để nhận dạng thể thơ của đoạn thơ được trích trong bài “Côn Sơn ca” về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần.

      Bài thơ được viết theo thể lục bát: tối thiểu có một cặp câu 6 – 8. Cách hiệp vần: tiếng cuối của câu 6 vần với tiếng 6 của câu 8, tiếng cuối của câu 8 lại hiệp vần với tiếng cuối của câu 6 tiếp theo.

    Câu 2: Em hãy đếm trong đoạn thơ có mấy từ “ta” và trả lời các câu hỏi:

    • Nhân vật “ta” là ai?

        Nhân vật “ta” là nhà thơ.
    • Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật “ta”: người yêu và hòa hợp với thiên nhiên, một thi sĩ có tâm hồn phóng khoáng, nhân cách thanh cao.
    • Nhận xét về sự so sánh: Tiếng “suối rì rầm” được ví với “tiếng đàn cầm”, “đá rêu phong” được ví với “chiếu êm”
        Cách ví von cho thấy tâm hồn yêu thiên nhiên của nhân vật “ta”, đồng thời thể hiện sự tinh tế, óc tưởng tượng của người thi sĩ.

    Câu 3: Cùng với hình ảnh nhân vật, cảnh tượng trong Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết nào? Hãy nhận xét về cảnh tượng Côn Sơn.

    • Cảnh tượng Côn Sơn: có tiếng suối rì rầm, đá rêu phơi, thông vi vút, trúc.
    • Cảnh Côn Sơn đẹp tựa như tranh, nên thơ, hữu tình, khoáng đạt, yên tĩnh.

    Câu 4: Em có cảm nghĩ gì về hình ảnh nhân vật “ta ngâm thơ nhàn” trong màu xanh mát của bóng trúc râm? Từ đó em thử hình dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người thế nào?

    • Hình ảnh của con người và thiên nhiên gắn bó, hòa hợp với nhau, thiên nhiên là người bạn tâm giao, người bạn tri âm tri kỉ của nhà thơ.
    • Nguyễn Trãi là con người có tình yêu thiên nhiên say đắm, có phong thái ung dung, nhân cách thanh cao, tao nhã.

    Câu 5: Hãy chỉ ra hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu của đoạn thơ.

    • Điệp từ trong đoạn thơ: “Côn Sơn” (điệp 2 lần), “Trong” (điệp 3 lần), “Ta” (điệp 5 lần), “Có” (điệp 2 lần)
    • Tác dụng: thể hiện sự phong phú đa dạng của cảnh vật, niềm say đắm của người ngắm cảnh, tạo nên tiết tấu nhịp nhàng của bài thơ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cảm Nghĩ Về Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn Của Nguyễn Trãi
  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn Trang 78 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1
  • Bài Thơ Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn (Siêu Ngắn)
  • Soạn Bài: Bài Ca Côn Sơn
  • Bài Soạn Lớp 7: Bài Ca Côn Sơn

    --- Bài mới hơn ---

  • Soạn Bài : Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh
  • Soạn Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh
  • Soạn Bài Lớp 7: Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Cảm Nghĩ Trong Đêm Thanh Tĩnh (Tĩnh Dạ Tứ)
    • Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu Ức Trai
    • Là nhà thơ, nhà quân sự, nhà chính trị , nhà ngoại giao lỗi lạc. Ông được công nhận danh nhân văn hoá thế giới 1980.
    • Một số tác phẩm tiêu biểu : Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập . . .

    2. Tác phẩm:

    • Hoàn cảnh sáng tác: Khi ông cáo quan về sống ẩn dật ở Côn Sơn.
    • Thể thơ: Nguyên tác chữ Hán nhưng bản dịch là thể thơ lục bát.
    • Phương thức biểu đạt: Biểu cảm

    Em hãy dựa vào lời giới thiệu sơ lược về thể thơ lục bát ở chú thích để nhận dạng thể thơ của đoạn thơ được trích, dịch trong Bài ca Côn Sơn về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần.

    Trả lời:

    • Thơ lục bát là thể thơ quá quen thuộc đối với văn học Việt Nam.
    • Thơ Lục bát không quy định về số câu, nhưng ít nhất phải có hai câu: một câu 6 (đứng trước) và một câu 8 (đứng sau).
    • Số chữ: một cặp lục bát (6 – 8) có 14 chữ.
    • Hiệp vần: vần chân và vần lưng.
      • Chữ thứ 6 của câu sáu hiệp với chữ thứ 6 của câu 8 (vần lưng).
      • Chữ thứ 8 của câu tám hiệp với chữ thứ 6 của câu 6 (vần chân).
      • Tất cả những hiệp vần đều thanh bằng.

    a. Nhân vật ta là ai?

    b. Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật ta hiện lên trong đoạn thơ như thế nào?

    c. Tiếng suối chảy rì rầm được ví với tiếng đàn cầm. Đá rêu phơi được ví với chiếu êm. Cách ví von đó giúp em cảm nhận được gì về nhân vật ta?

    Trả lời:

    a. Nhân vật ta chính là tác giả (Nguyễn Trãi).

    b. Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật ta thể hiện trong đoạn thơ thể hiện ở nhiều tâm thế khác nhau: khi lắng nghe tiếng suối, khi ngồi trên đá, khi nằm dưới bóng mát cây thông, khi ngâm thơ giữa rừng trúc. Trong đoạn thơ này cho thấy, nhân vật là một người nghệ sĩ thực thụ, tận hưởng cảnh đẹp xung quanh mà không một chút vướng bận của nhân gian.

    c. Tiếng sói chảy rì rầm được ví với tiếng đàn cầm. Đá rêu phơi dược ví với chiếu êm. Cách ví đó của tác giả không chỉ cho ta thấy tác giả là một người tinh tế, giàu trí tưởng tượng mà đó còn là một con người yêu thiên nhiên, luôn gần gũi và hòa mình với thiên nhiên, coi thiên nhiên như là một người tri kỉ.

    Cùng với hình ảnh của nhân vật ta, cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết nào? Nhận xét về cảnh tượng Côn Sơn.

    Trả lời:

    Cùng với hình ảnh của nhân vật ta, cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết đó là: suối chảy rì rầm, đá rêu phơi, thông mọc như nêm, rừng trúc xanh mát. Chỉ cần vài nét vẽ đơn giản, nhưng tác giả đã phác họa được bức tranh nên thơ, hữu tình ở Côn Sơn. Chính sự nên thơ và yên tĩnh nơi đây, Côn Sơn đã khiến cho “ta” muốn được gắn bó, được hòa mình vào nó để được nó bao bọc trong sự êm đềm thanh tĩnh.

    Em có cảm nghĩ gì về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong bóng râm mát của trúc bóng râm? Từ đó, em thử hình dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người như thế nào?

    Trả lời:

    Hình ảnh cuối cùng được tác giả nhắc đến trong bài thơ đó chính là hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của trúc bóng râm gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh một tiên ông nhàn tản, không chút vấn vương thế sự.

    Trong hai câu thơ này, ta thấy được, hình ảnh của thi nhân trực tiếp xuất hiện với một tư thế vô cùng ung dung và tự tại. Điều này gợi ca sự nhàn tản để tận hưởng thú vui lâm tuyền. Qua đây ta thấy, Nguyễn Trãi mặc dù đã về ở ẩn nhưng vẫn giữ được tư thế lạc quan, vủi vẻ với tâm thế ung dung, an bần lạc đạo.

    Hãy chỉ ra hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu của đoạn thơ.

    Trả lời:

    Ngoài thể thơ lục bát có tác dụng biểu đạt biểu thị tâm hồn dân tộc thì bài còn sử dụng nghệ thuật điệp từ (Côn Sơn điệp 2 lần; ta điệp 5 lần; trong điệp 3 lần; cóđiệp 2 lần..). Cách điệp từ trong các câu thơ có ý nghĩa rất đặc biệt nó tiết tấu nhịp nhàng của bài thơ, không gian như được mở rộng bao la và cả những hình tượng thơ sâu sắc đã làm cho tâm hồn của tác giả.

    Ngoài ra, điệp từ sóng đôi giữa “Côn Sơn” và “ta” đã cho ta thấy rõ, càng khắc họa rõ hơn sự giao hòa, sự gắn bó và sự quấn quýt song hành giữa thiên nhiên và con người.

    Cách ví von tiếng suối của Nguyền Trãi trong hai câu thơ “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” và của Hồ Chí Minh trong câu thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” (Cảnh khuya) có gì giống và khác nhau?

    Trả lời:

    • Giống nhau:
      • Cả hai đều thể hiện tâm hồn hòa nhập với thiên nhiên.
      • Cả hai đều giống nhau ở sự so sánh, liên tưởng: nhạc của thiên nhiên với nhạc của con người. Sự tinh tế tài hoa của hai thi nhân.
    • Khác nhau: Cách ví von tiếng suối của Hồ Chí Minh có phần sinh động hơn vì được so sánh với tiếng hát của con người. Còn cách ví von của Nguyễn Trãi lại mang sắc thái cổ điển hơn, được so sánh với tiếng đàn cầm.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn Lớp 7 Tập 1
  • Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Bài : Bài Ca Côn Sơn
  • Soạn Văn Lớp 7 Bài Bài Ca Côn Sơn Ngắn Gọn Hay Nhất
  • Soạn Bài Liên Kết Trong Văn Bản Lớp 7 Đầy Đủ Hay Nhất
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100