Top 9 # Xem Nhiều Nhất Đào Tạo Luật Sư Từ Xa Mới Nhất 6/2023 # Top Like | Athena4me.com

Đào Tạo Luật Sư: Đào Tạo Luật Sư Ở Anh Thế Nào?

Việc đào tạo luật sư ở Anh không chú trọng tính bài bản mà thiên về thực tiễn, các luật sư Anh được đào tạo chủ yếu về thủ tục tố tụng và thu thập, xác minh chứng cứ bởi theo pháp luật Anh, về nguyên tắc, việc thực hiện quá trình tố tụng là trách nhiệm của các bên (thông qua luật sư của mình), vai trò của thẩm phán trong xét xử chỉ là đảm bảo sự tuân thủ các thủ tục tố tụng[4].

Nghề luật sư ở Anh được xây dựng trên mô hình tổ chức tư pháp và tố tụng của Anh được hình thành từ thế kỷ 12-13. Luật sư Anh gồm hai loại: luật sư bào chữa (barristors) và luật sư tư vấn (solicitors) – đây là điểm khác biệt xuất phát từ đặc thù của hệ thống án lệ.

Các luật sư Anh chịu sự quản lý của các tổ chức luật sư – Inns of Court và Law Society.

Inns of Court hình thành từ đầu thế kỷ 14, có thư viện luật và là nơi mở các khoá đào tạo cho những người muốn trở thành luật sư biện hộ. Thời Trung cổ, các sinh viên luật đến London để học và thực tập bên cạnh các thẩm phán tại Toà án cấp cao đã ăn, ngủ tại Inns of Court – thực ra là khu ăn ở của các luật gia trong Toà án. Mỗi Inn of Court có một nhà thờ, một thư viện và một đại sảnh – nơi mọi người ăn uống khi đến bữa, đồng thời cũng là nơi hội họp và giảng dạy về thực tiễn[5].

Người muốn trở thành luật sư biện hộ phải là một khoá sinh của Inn of Court để được đào tạo và phải thi đỗ trong kỳ thi công nhận luật sư biện hộ. Thời gian đào tạo ở các Inn of Court được đo bằng các “kỳ ăn trưa” thường kéo dài khoảng 3 tuần tuỳ Inn of Court quy định. Thông thường mỗi năm có khoảng 4 “kỳ ăn trưa” để đào tạo các khoá sinh. Trong mỗi “kỳ ăn trưa”, khoá sinh phải ăn trưa ít nhất ba lần trong đại sảnh của Inn of Court. Để trở thành luật sư biện hộ, khoá sinh phải trả qua ít nhất tám “kỳ ăn trưa”. Thời xưa, các bữa ăn trưa được coi là để giảm bớt khoảng cách giữa các luật sư biện hộ chính thức và các khóa sinh, ngày nay ở Anh việc ăn trưa cùng để đào tạo phần nhiều mang tính chất nghi lễ.

Việc công nhận luật sư biện hộ do Hội đồng của Inn of Court (Bencher of Inn) thực hiện sau khi khoá sinh đã thi đỗ kỳ thi lý thuyết và thực hành và trải qua thời gian thực tập một năm[6].

Hội Luật sư (Law Society) được thành lập từ thế kỷ 18 là tổ chức tập hợp các luật sư tư vấn. Hội đã ban hành Bộ luật ứng xử (Code of Conduct) bao gồm các quy tắc điều chỉnh hoạt động nghề nghiệp của các luật sư tư vấn. Để trở thành luật sư tư vấn chỉ cần học 9 tháng tại Trường luật của Hội Luật sư (với các môn học gắn với thực tế như lập hợp đồng bất động sản, luật thuế, luật thừa kế, luật thương mại, luật công ty…), thi đỗ kỳ thi chuyên môn do Hội Luật sư tổ chức và trải qua hai năm tập sự ở một trong những văn phòng luật sư tư vấn với tư cách nhân viên (article clek).

Chương Trình Đào Tạo Nghề Luật Sư

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT SƯ

Thời gian đào tạo: 6 tháng

(Theo Chương trình khung đào tạo nghề luật sư được Ban hành kèm theo Quyết định số 90/2008/QĐ-BTP ngày 21/1/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp)

Ghi chú:

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

I KIẾN THỨC CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ 12 tiết

1 Tổng quan về nghề luật sư 6

2 Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư 6

3 Viết thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

II QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ 24 tiết

1 Giới thiệu về Bộ quy tắc đào tạo nghề nghiệp và các nguyên tắc chung về đạo đức và ứng xử của luật sư 6

2 Quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác 12

2.1 Quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác; 6

2.2 Học viên tự nghiên cứu các quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác; 6

3 Kiểm tra hết học phần 6

III PHẦN KỸ NĂNG CHUNG 78 tiết

1 Kỹ năng đọc, nghe, hỏi 12

1.1 Lý thuyết về nghe, đọc, hỏi 6

1.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng nghe, đọc, hỏi 6

2 Kỹ năng nói 12

2.1 Lý thuyết 6

2.2 Thực hành 6

3 Kỹ năng lập luận và tranh luận 12

3.1 Kỹ năng lập luận, tranh luận 6

3.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng lập luận và tranh luận 6

4 Kỹ năng viết 12

4.1 Lý thuyết 6

4.2 Thực hành 6

5 Tổ chức và quản lý văn phòng, công ty luật 12

5.1 Thành lập và quản lý văn phòng, công ty luật 6

5.2 Học viên tự nghiên cứu về tổ chức và quản lý văn phòng, công ty luật 6

6 Hướng dẫn diễn án 6

7 Thi vấn đáp (chuyên đề do học viên tự chọn và thuyết trình) 12

IV KỸ NĂNG HÀNH NGHỀ 564 tiết

IV.1 Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án hình sự 162 tiết

1 Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ 6

2 Phương pháp định tội danh 6

3 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự

(HS 03 –Vụ án Trần Đình Dũng cố ý gây thương tích)

12

3.1 Lý thuyết kỹ năng 6

3.2 Tình huống:

– Kỹ năng trao đổi với khách hàng khi nhận bào chữa, bảo vệ;

– Kỹ năng tham gia các hoạt động điều tra

3

3

4 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề thu thập chứng cứ của luật sư trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố 6

5 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 6

5.2 Tình huống 1: Nghiên cứu cáo trạng, kết luận điều tra, tài liệu về thủ tục tố tụng 3

5.3 Tình huống 2: Nghiên cứu các tài liệu khác 3

6 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề tổng hợp các tài liệu có ý nghĩa trong việc bảo vệ cho thân chủ 6

7 Kỹ năng tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại

Kỹ năng trao đổi với cơ quan tiến hành tố tụng

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

6

7.1 Lý thuyết kỹ năng 3

7.2 Tình huống:

– Kỹ năng tiếp xúc, trao đổi với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại

– Kỹ năng trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng

– Kỹ năng soạn thảo văn bản kiến nghị

3

8 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề soạn thảo văn bản kiến nghị của luật sư để bảo vệ cho thân chủ 6

9 Kỹ năng chuẩn bị bài bào chữa, bảo vệ

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

12

9.1 Lý thuyết kỹ năng 6

9.2 Tình huống: Thực hành việc chuẩn bị bài bào chữa, bảo vệ 6

10 Học viên tự nghiên cứu: Thực hành chuẩn bị bản bào chữa, bảo vệ

(Hồ sơ số 05: Đoàn Văn Tư “giết người”)

6

11 Đối thoại kiểm tra bài 3,4,5,6 6

12 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm và tham gia trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

(HS 01 –Vụ án Nguyễn Thị Thịnh mua bán trái phép ma túy)

24

12.1 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm 6

12.2 Tình huống 1: Thực hành công việc chuẩn bị trước khi ra phiên tòa và thực hành kỹ năng tham gia thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm 3

12.3 Tình huống 2:

– Kỹ năng tham gia phần xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm

– Kỹ năng tham gia phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

3

12.4 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư khi tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 3

12.5 Tình huống3: Kỹ năng tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 3

12.6 Đối thoại kiểm tra 6

13 Học viên tự nghiên cứu: Phương pháp đặt câu hỏi trong trường hợp bào chữa cho bị cáo và bảo vệ cho người bị hại 6

14 Kỹ năng của luật sư trong vụ án về người chưa thành niên

(Lý thuyết + Tình huống)

6

15 Kỹ năng của luật sư trong vụ án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm

Kỹ năng của luật sư trong các vụ án tham nhũng

(Lý thuyết + Tình huống)

6

16 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn thi hành án hình sự

(Lý thuyết + Tình huống)

6

17 Kiến tập tại phiên tòa hình sự 6

18 Thực hành diễn án 18

18.1 Diễn án lần 1 (HS 06 – Vụ án Nguyễn Thanh Hoàng giết người) 6

18.2 Diễn án lần 2 (HS 07 – Vụ án Trần Việt Hùng cưỡng đoạt tài sản) 6

18.3 Diễn án lần 3 (HS 08 – Vụ án Hải, Minh buôn bán hàng giả) 6

19 Kiểm tra hết học phần 6

20 Viết thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

IV.2 Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án dân sự 150 tiết

1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự 24

1.1 Lý thuyết kỹ năng 6

1.2 Tình huống 1: Hồ sơ vụ án dân sự  (Hồ sơ 006-MNam; HS 009 MBắc)

Học viên tự nghiên cứu

6

1.3 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 011) 6

1.4 Tình huống 3: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 03) 6

2 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ 12

2.1 Lý thuyết kỹ năng 3

2.2 Tình huống 1: Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 004) 3

2.3 Tình huống 2: Nghiên cứu hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 010)

Học viên tự nghiên cứu

6

3

Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ 6

3.1 Lý thuyết kỹ năng 3

3.2 Tình huống: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 005) 3

4 Kỹ năng hòa giải vụ án dân sự 6

4.1 Lý thuyết kỹ năng 3

4.2 Tình huống: Hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình (Hồ sơ 003) 3

5 Kỹ năng chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa 12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 3

5.2 Tình huống1: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 008) 3

5.3 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 01)

Học viên tự nghiên cứu

6

6 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm và tham gia trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 36

6.1 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm 6

6.2 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 006) 6

6.3 Tình huống 3: Hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 011) 6

6.4 Tình huống 4: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 02) 6

6.5 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư khi tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 6

6.6 Tình huống 5: Hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình (Hồ sơ 007)

Học viên tự nghiên cứu

6

7 Kỹ năng tham gia giải quyết việc dân sự

(Lý thuyết + Tình huống) (Hồ sơ 001 hoặc 002)

6

8 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn thi hành án dân sự 6

9 Đối thoại kiểm tra bài 1, 2, 3, 4,5,6,7,8 6

10 Kiến tập tại phiên tòa dân sự 6

11 Thực hành diễn án 24

11.1 Diễn án lần 1 (Vụ án hôn nhân gia đình) (Hồ sơ 003)

Học viên tự nghiên cứu

6

11.2 Diễn án lần 2 (Vụ án dân sự) (Hồ sơ 008) 6

11.3 Diễn án lần 3 (Vụ án kinh doanh thương mại) (Hồ sơ 011) 6

11.4 Diễn án lần 4 (Vụ án lao động) (Hồ sơ 01) 6

12 Kiểm tra hết học phần 6

13 Viết bài thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

IV.3 Kỹ năng tham gia các vụ việc hành chính 66 tiết

1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng, đánh giá điều kiện khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án hành chính 12

1.1 Lý thuyết kỹ năng 6

1.2 Tình huống (Hồ sơ 06)

Học viên tự nghiên cứu hồ sơ

6

2 Kỹ năng của luật sư trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính 6

2.1 Lý thuyết kỹ năng 3

2.2 Tình huống (Hồ sơ 07) 3

3 Kỹ năng của luật sư trong việc thu thập, nghiên cứu và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính 6

3.1 Lý thuyết kỹ năng 3

3.2 Tình huống(Hồ sơ 06) 3

4 Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bảo vệ và kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm, tham gia giai đoạn phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm 18

4.1 Kỹ năng chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ (Tình huống + lý thuyết) (Hồ sơ 09) 6

4.2 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm (Tình huống + lý thuyết + đối thoại kiểm tra) (Hồ sơ 09) 6

4.3 Kỹ năng tham gia giai đoạn phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm

Học viên tự nghiên cứu

6

5 Kiến tập tại phiên tòa hành chính 6

6 Thực hành diễn án 12

6.1 Diễn án lần 1 (Hồ sơ 07) 6

6.2 Diễn án lần 2 (Hồ sơ 08) 6

7 Kiểm tra hết học phần 6

8 Viết tiểu luận theo chuyên đề tự chọn

IV.4 Kỹ năng tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng 186 tiết

1 Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật, tiếp xúc khách hàng 12

1.1 Lý thuyết kỹ năng tư vấn pháp luật và  tiếp xúc khách hàng 6

1.2 Tình huống 6

2 Học viên tự nghiên cứu kỹ năng tiếp xúc khách hàng, nhận định, đánh giá bước đầu về yêu cầu của khách hàng, thỏa thuận hợp đồng dịch vụ pháp lý 6

3 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, phân tích vụ việc, xác định vấn đề tư vấn 12

3.1 Lý thuyết kỹ năng 6

3.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

4 Kỹ năng viết thư tư vấn, ý kiến pháp lý 6

5 Kỹ năng tư vấn các vụ việc dân sự 12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 6

5.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

6 Kỹ năng tư vấn các vụ việc hành chính, lao động 24

6.1 Tư vấn sử dụng lao động trong doanh nghiệp 6

6.2 Tư vấn khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc (Hồ sơ 01) 6

6.3 Tư vấn khiếu kiện xử lý vi phạm hành chính (Hồ sơ 03) 6

6.4 Tư vấn khiếu kiện về nhà, đất (Hồ sơ 02) 6

7 Kỹ năng tư vấn doanh nghiệp 24

7.1 Tư vấn thành lập, tổ chức lại và giải thể, phá sản doanh nghiệp 6

7.2 Tư vấn về quản lý nội bộ doanh nghiệp 6

7.3 Tư vấn về vốn, tài chính doanh nghiệp 6

7.4 Tư vấn về quyền sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp 6

8 Kỹ năng tư vấn thuế, kế toán, kiểm toán 12

8.1 Lý thuyết kỹ năng 6

8.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

9 Kỹ năng tư vấn dự án đầu tư 12

9.1 Lý thuyết kỹ năng 6

9.2 Tình huống 6

10 Kỹ năng đàm phán, ký kết hợp đồng

(Lý thuyết +Tình huống)

6

11 Kỹ năng tư vấn và soạn thảo một số hợp đồng đặc thù 18

11.1 Kỹ năng tư vấn, soạn thảo hơp đồng mua bán 6

11.2 Kỹ năng tư vấn, soạn thảo hợp đồng hợp tác kinh doanh 6

11.3 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng tư vấn và soạn thảo một số hợp đồng đặc thù 6

12 Kỹ năng thương lượng, hòa giải và giải quyết tranh chấp 18

12.1 Lý thuyết kỹ năng + tình huống 6

12.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng thương lượng, hòa giải và giải quyết tranh chấp 6

12.3 Đối thoại- Kiểm tra 6

13 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc dân sự, hành chính 12

13.1 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc dân sự

(Lý thuyết + Tình huống)

6

13.2 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc hành chính

(Lý thuyết + Tình huống)

6

14 Kiến tập tại tổ chức hành nghề luật sư 6

15 Kiểm tra hết học phần 6

16 Viết tiểu luận theo chuyên đề tự chọn

Ghi chú:

–          24 tiết dự phòng phải bố trí cho học viên 2 lần xem băng Tòa tuyên án có viết nhận xét theo yêu cầu của Tổ bộ môn để chấm điếm, cộng vào để tính điểm nhận thức; 1 buổi học chính trị; 1 buổi để luật sư đã tham gia các vụ án lớn trao đổi kinh nghiệm;

–          Đối với các lớp luật sư không có điều kiện tổ chức thi vấn đáp phần kỹ năng chung thì thay bằng hình thức thi viết;

–          Nghiên cứu và viết tiểu luận – Mỗi bộ môn có 5 đến 10 đề tài để học viên chọn thực hiện và đăng ký giáo viên hướng dẫn. Tên đề tài có thể thay đổi cho từng năm hoặc từng khóa học;

–          Thời gian trên đã bao gồm cả kiểm tra thường xuyên, kiểm tra nhận thức và các hình thức kiểm tra khác;

–          Chương trình này bắt đầu được áp dụng cho khóa đào tạo luật sư 7 đợt 2 trở đi.

Theo tài liệu tổ tư vấn luật

Đào Tạo Luật Sư Có Trình Độ Quốc Tế

Liên đoàn Luật sư có kế hoạch đào tạo một số luật sư có trình độ quốc tế. Về việc này tôi xin góp vài ý kiến cho công việc chung. Ắt sẽ có vị sẽ hỏi rằng “Anh có phải là luật sư có trình độ quốctế không mà ý kiến, ý cò”. Tôi xin thưa là không, nhưng tôi có thiện chí, và biết người ta làm như thế nào.

Trước hết, luật sư có trình độ quốc tế nên được hiểu cho đúng. Trình độ quốc tế thì ở một nước nào đó, chứ không phải trên nhiều nước;và cũng chỉ ở trong một số lãnh vực luật nhất định thôi, chứ không phải nhiều ngành. Thứ nữa không nên nghĩ rằng có trình độ đó là có thể đi cãi ở tòa án tại các nước khác. Tôi chắc rằng trong đoàn ngũ chúng ta, không ai nghĩ như thế vì chúng ta biết luật sư của một đoàn luật sư khu vực nào thì được biện hộ tại tòa án trong khu vực đó; sang thẩm quyền khác thì phải xin phép. Ngoài khó khăn ấy ra, tôi nghĩ khó có thân chủ nào ở Việt Nam nhờ một luật sư ở chúng tôi hay Hà Nội đi biện hộ cho mình ở ICC bên Pháp. Thuê luật sư ở bên đó rẻ hơn. Thuê luật sư ở Việt Nam phải trả tiền máy bay, khách sạn, còn thù lao thì không thấp hơn mức họ kiếm được ở nhà. Chưa hết, luật sư mình có rành rẽ thủ tục tố tụng của người ta không? Bản thân tôi, được nhắc têntrong vài quyển niên giám chuyên ngành (directory) như Chambers, Legal Practice… và là “leading lawyer in corporate governance” năm 2008 và 2009 ở Việt Nam của Asia Law& Practice, hay “senior stateman” của văn phòng mình, năm 2008 trong Chambers. Tuy vậy, tôi chẳng cảm thấy mình có trình độ quốc tế!. Tôi thấy có luật sư nói đã từng cãi ở Tòa án Singapore. Nói phét đấy. Luật sư Singapore nhờ mình sang làm “expert witness” thôi. Tôi đã làm việc này vào năm 1991 và biết rõ. Nghe họ nói với tòa “Sir, my learned collegue” thì đã không biết dịch là gì rồi! Không nên gây hiểu nhầm tai hại.

Trình bày điều trên tôi không định khoe mình (vì tôi biết nhiều người không thích) mà là chỉ nói thật và để độc giả đánh giá các nhận xét sẽ được nêu. Tôi xin trình bày hai điểm: Một là yêu cầu về bản thân của luật sư có trình độ quốc tế và các điều kiện bên ngoài để luật sư ấy duy trì được trình độ; sau khi đã giới hạn “trình độ quốc tế” như trên.

Yêu cầu về bản thân của luật sư

Luật sư có trình độ quốc tế phải là người hiểu (không phải là biết) các luật căn bản của ta như tố tụng, dân sự, hình sự, hành chánh, nắm rõ các nguyên tắc căn bản của chúng, và chuyên sâu về một số ngành luật mình định chọn cho nghề nghiệp.

Muốn thế, khi tốt nghiệp cử nhân người ấy phải giỏi tiếng Anh hay tiếng Pháp để học cao học ở một đại học luật nước ngoài hầu tiếp cận và “bơi” trong tập tục và nội dung của luật pháp quốc tế. Một trong những khó khăn của sinh viên học cao học là không được học luật căn bản (tố tụng,dân sự, hợp đồng…) của nước đó vì họ không dạy chúng ở cao học. Hơn nữa lúc sửa soạn du học đa số người nghĩ rằng nên học môn nào mà Việt Nam không có; chứ còn cái đã biết rồi thì học làm gì. Do vậy, ít người chọn các môn cơ bản. Nếu muốn chọn còn tùy trường họ có cho hay không. Tôi không biết trường luật ởcác nước khác, nhưng ở Harvard, học cao học thì bạn có thể học luật tố tụng, luật về bằng chứng của sinh viên cử nhân; chỉ với điều khi thì phải đạt B- trở lên không thì rớt; trong khi cử nhân thì C cũng đỗ. Sang Mỹ mà học luật tố tụng của họ thì phíquá, dùng nó làm gì ở Việt Nam?

Thế nhưng khi hành nghề ở Việt Nam thì lại cần phải biết chúng, ít nhiều, để còn nói chuyện với khách nước ngoài, giải thích cho họ sự khác biệt. Thí dụ thủ tục nhận tội (plead guilty), tại ngoại, nếu họ hỏi mình; hoặc biết chúng để giao dịch với luật sư nước ngoài khi làm chung với họ trong một vụ của thân chủ mình. Không biết sơ sơ các luật ấy thì mình không biết từ chối và giải thích với họ; thí dụ, ở nước tôi không có luật “đào bới bằng chứng”, rồi sẽ giải thích quy định về bằng chứng của ta, nhấn mạnh là ” không đào bới gì cả” mà “trung thực và khách quan”. Thếlà đồng nghiệp nước ngoài thích mình ngay! Thú thật dịch bằng chứng “khách quan” là gì theo nội dung sang tiếng Anh cho họ hiểu cũng khó.Đó là một từ triết học!Côngviệc thứ nhất của luật sư có trình độ quốc tế là am hiểu luật căn bản của mình và biết về luật căn bản của một hệ thống luật nào đó (dân luật hay thông luật) và nắm bắt các sự thay đổi của ngành luật mình chuyên phụ trách.

Học kiểu đó là học để “đáp ứng” vì có nhu cầu của khách đặt ra cho mình. Chưa hết! Người Pháp gọi luật sư là “thầy” (maitre) nên luật sư phải đi trước thân chủ một bước về kiến thức. Thí dụ, để trả lời về Công ước Berne mà chính phủ tuyên bố tham gia, nhà xuất bản sách đến hỏi; luật sư không chỉ trả lời theo văn bản mà còn phải giải thích rộng ra; so sánh với thực tế nhà xuất bản đã kinh qua để họ hiểu quy định mới và cách làm cũ. Muốn đi trước khách hàng một bước thì phải học theo kiểu “đón đầu” (không phải là “đi tắt đón đầu” đâu ạ). Hoc kiểu này mà khách không bao giờ đến là… toi công! Thế nhưng vẫn phải làm dẫu có… công toi!

Xin mở rộng một tí về việc học và hành của luật sư. Làm luật sư khác với làm thầy giáo. Nếu ví môn học như một cái cuốc để phân biệt, thì thầy giáo cầm cái cuốc múa may trên tay, càng “hoành tráng” thì càng được sinh viên khen nức nở. Bảo đảm sẽ có một hai cô sinh viên xinh đẹp đến thăm thầy ngày Nhà giáo. Luật sư thì khác hẳn: cầm cuốc và cuốc, đất, hay đá ong, không ngừng nghỉ! Được trả tiền hay không thì thấy ngay. Kết quả nhãn tiền chứ không phải một sự khâm phục… trong lòng!

Khi có các yêu cầu trên thì có ba vấn đề khác phát sinh. Ấy là: (i) tiếp cận được nguồn sách báo, thông tin ở nước ngoài để cập nhật kiến thức; (ii) vậy phải có tiền và (iii) có thời giờ để làm. Về các hệ quả này, là dân ngoại đạo, tôi xin kể chỉ một điều về thời gian, mắt thấy tai nghe. Luật sư có trình độ quốc tế thực sự hiện nay mà làm việc với khách nước ngoài thì họ thường đến văn phòng từ 9 giờ sáng, đến hơn 10 giờ đêm mới về.Vợ trách con than họ còn giải thích (“em thông cảm”) chứ sách vở nằm trên kệ chờ họ đọc thì… còn lâu! Họ phải thường ăn xôi đi làm; vì sáng dậy thì vợ con đi rồi, phở không để nguội được, cơm rang thì cứng quá do để lâu; chỉ có gói xôi đậu xanh, hay đậu đen là… bền vững! Cuộc sống luật sư Việt Nam có trình độ quốc tế căng thẳng lắm. Họ nhiều việc đến nỗi phải gắt lên “nhiều việc quá, cực quá, không cần tiền nữa!” Than vậy chứ thôi, cũng sợ mất khách. Họ – có cả tôi- sợ mất khách hơn sợ Đoàn luật sư hay Sở Tư pháp nhiều! Các luật sư làm trưởng văn phòng luật sư quốc tếhầu hết đều thấm đẫm cảm giác này. Từ chối khách thì sợ không đủ sở hụi để chi trả hàng tháng cho văn phòng; mà nhiều khách quá thì cả mình lẫn văn phòng không kham nổi. Cách giải quyết là làm thêm về đêm. Khách thuê luật sư thì chỉmuốn “xong từ hôm qua”! Vào tuổi tôi, nhìn lại mình vì có thời giờ, tôi nhận ra: Luật sư chỉ là “Nô lệ cao cấp – Làm đẹp đất nước – Làm an lòng người”.

Tóm lại, cho điều kiện thứ nhất, tự bản thân mình, ngoài công việc phải làm; người luật sư có trình độ quốc tế phải “làm thêm” để trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, và tiếp xúc trong nước lẫn quốc tế (tham gia các hội luật sư, đóng hội phí hàng năm). Gay go lắm. Có khi mồ hôi hột đổ, sau áo sơ- mi có thắt cà- vạt, trong máy lạnh!

Hoàn cảnh bên ngoài

Về điểm này có hai điều kiện bắt buộc để luật sư có trình độ quốc tế duy trì được trình độ; không có thì sẽ bị tụt! Ấy là (i) khách hàng và (i) các cơ quan tư pháp cùng hỗ trợ tư pháp hay môi trường pháp lý.

Về khách hàng

Nếu có ai hỏi các luật sư đang hành nghề rằng yếu tố nào ảnh hưởng đến công việc của họ nhiều nhất thì tôi tin đến 99% luật sư sẽ trả lời là khách hàng. Vâng ạ, khách hàng rất quan trọng đối với luật sư. Khách hàng được hiểu là “người đến thuê luật sư làm và trả tiền”. Đối với luật sư, “khách hàng” quyết định chứ không phải “nhu cầu” của họ. Bộ Tư pháp trước kia và Liên đoàn Luật sư hiện nay biết rõ là có nhu cầu cao ở trong nước về kiến thức trong giao thương quốc tế. Và chủ trương của Liên đoàn hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu này. Tuy nhiên “nhu cầu” không nuôi được luật sư, quốc tế hay không!

Luật sư – như đã đề cập – không có quyền gì. Vậy ai muốn họ làm “nô lệ cao cấp” thì phải trả tiền cho họ. Không có tiền thì họ treo niêu! Chẳng ai cứu họ vì nghĩ họ giàu! Đó là mặt “trắng”; vậy “mặt đen” sẽ là trả tiền thì mới làm. Đấy là quy luật của cuộc sống mà không ai có thể dùng quyền lực gì để thay đổi. Khách hàng là người quản lý luật sư mạnh nhất và khắc nghiệt nhất. Cách làm của họ khi thất vọng là: “Chào luật sư, tôi đi”. Người nọ truyền tai người kia, và luật sư sẽ từ từ… nợ tiền nhà!

Khi luật sư có trình độ quốc tế hành nghề trong những điều kiện như thế;ai sẽ bảo đảm cho họ rằng, họ sẽ có khách! Đấy là vấn đề cơ bản. Luật sư không thể trông chờ sự giới thiệu khách của bất cứ ai. Giới thiệu là một chuyện, nhận làm hay không là một chuyện khác, do khách hàng và luật sư định đoạt. Đấy là một mặt về sự quan trọng của khách hàng đối với luật sư.

Mặt khác, đòi hỏi của khách hàng sẽ tác động vào, hay thậm chí tạo nên, khả năng chuyên môn của luật sư. Khách hàng toàn đến nhờ luật sư để xin ly hôn – không nhờ làm thủ tục hôn thú – thì luật sư trở thành “luật sư ly hôn.”Họ nhờ luật sư về nhà đất thì thành “nhà đất” vân vân. Nếu khả năng chuyên môn của một luật sư có trình độ quốc tế mà được khách hàng “chuyển đổi” như thế thì rõ ràng trình độ quốc tế cũng bị giảm theo. Họ từ chối ư? Sao họ trả tiền thuê văn phòng?

Về tầm quan trọng của khách hàng thì đã có tiền lệ. Xin cứ nhìn vào hoạt động của các trung tâm trọng tài, quốc tế lẫn quốc nội. Tại sao thế? Thưa vì doanh nhân không đến các trung tâm đó; dẫu có nhiều trọng tài viên có trình độ chuyên môn cao (vì họ đang hành nghề mà).

Tóm lại, luật sư có trình độ quốc tế phải có khách. Không có khách thì tài năng của họ cũng mai một. Khách tìm đến luật sư tại vì uy tín của luật sư mà họ nghe từ người quen và rồikiểm chứng, trước khi trả tiền. Có vẻ như điều kiện này nằm ngoài tầm tay của Liên đoàn. Tôi đoán các cơ quan hữu trách khi đề cập luật sư có trình độ quốc tế chỉ nhìn đến “nhu cầu” của xã hội, một yếu tố chính trị; chứ chưa biết tận tường yếu tố “nhân sinh” của thân phận luật sư.

Toà án và các cơ quan hỗ trợ tư pháp

Trong hoàn cảnh kia, xin hỏi đã có những cố gắng gì để làm tăng trình độ của thẩm phán? Trong hệ thống tư pháp, luật sư là khâu yếu nhất vì họ không có quyền mà chỉ “đề nghị toà”. Chọn khâu yếu nhất để nâng trình độ tư pháp của đất nước lên thì cũng giống như nâng một sợi dây xích bằng thép nặng trĩu lên để kéo đi, mà nắm cái mắt xích làm bằng chì. Gia tăng số lượng luật sư là dễ nhất vì không phải đưa tiền cho họ đi học, mà lại còn thu được tiền của họ nữa. Đã có tiền lệ. Cứ hỏi các luật sư đang tập sự thì biết ngay!.

Đấy là về toà án. Còn về những cơ quan hỗ trợ tư pháp thì sao? Luật sư soạn hợp đồng phải đem ra công chứng mà làm khác bản mẫu dùng ở đó thì khó lòng được công chứng lắm. Như vậy thì, khả năng soạn thảo hợp đồng quốc tế của luật sự sẽ bị bản mẫu hợp đồng – xin nhấn mạnh bản mẫu – hạ gục ngay! Công chứng viên rất tươi cười và thông cảm nhưng họ chỉ vào… bản mẫu! Bản hướng dẫn thì còn thêm bớt được, “mẫu hợp đồng” thì phải theo. Rất tiếc các cơ quan của ta thích ra mẫu (trừ Bộ Xây dựng)! Xin kết đoạn này bằng một câu tóm tắt: “Luật sư có trình độ quốc tế sẽ thất bại trước các yêu cầu của bản… mẫu”.Luật lệ của chúng ta trước kia điều chỉnh các hoạt động xã hội theo câu chữ, nay đang từ từ đi vào bản chất (luật đầu tư chung, luật thuế thu nhập doanh nghiệp là ví dụ); nhưng các cấp thi hành luật vẫn giải thích theo câu chữ để “bảo vệ mình” tối đa. Não trạng như thế sao giúp luật sư quốc tế hội nhập!

Xem như thế, ước muốn đào tạo luật sư có trình độ quốc tế sẽ rất khó thực hiện. Việc tồn tại một đội ngũ như mong muốn đòi hỏi ba yếu tố vững bền: bản thân luật sư, khách hàng và trình độ chung của nền tư pháp. Một cái kiềng ba chân mà hai chân khập khễnh thì chắc chắn sẽ làm đổ nồi cơm gạo chợ Đào!

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích ( Phap luat vietnam)

Công ty luật DRAGON

Qui Chế Đào Tạo

Qui chế đào tạo

SỞ Y TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

BỆNH VIỆN HÙNG VƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

QUY CHẾ

Đào tạo, Bồi dưỡng viên chức, người lao động

tại Bệnh viện Hùng Vương

(Ban hành kèm theo quyết định số 410 /QĐ-BVHV, ngày 02  tháng 10 năm 2017

của Giám đốc Bệnh viện Hùng Vương)

Điều 1. Đối tượng, phạm vi áp dụng

1. Đối tượng đào tạo: Viên chức, Người lao động có hợp đồng lao động đang làm việc tại Bệnh viện Hùng Vương

2. Phạm vi áp dụng: tại Bệnh viện Hùng Vương.

Điều 2. Mục tiêu, nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng

1. Mục tiêu đào tạo, bồi dưỡng:

-Nâng cao trình độ chuyên môn đáp ứng nhu cầu công việc, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao chất lượng bệnh viện.

-Trang bị kiến thức các kỹ năng về nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý hành chính, quản lý bệnh viện và bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp.

2. Nguyên tắc đào tạo, bồi dưỡng:

-Đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp, tiêu chuẩn viên chức quản lý và kế hoạch đào tạo được xây dựng hàng năm theo nhu cầu cụ thể.

-Đảm bảo tính công khai, minh bạch, hiệu quả trong công tác đào tạo, bồi dưỡng.

-Khuyến khích tinh thần học tập nâng cao trình độ đáp ứng yêu cầu công tác, nhiệm vụ.

-Đảm bảo thực hiện đúng các chế độ đào tạo theo qui định của pháp luật và quy chế chi tiêu nội bộ của bệnh viện.

Điều 3. Tiêu chuẩn và điều kiện để được cử đi đào tạo, bồi dưỡng.

1.Tiêu chuẩn chung:

Viên chức người lao động được cử đi đào tạo, bồi dưỡng phải đảm bảo:

Có trình độ chuyên môn phù hợp với vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp, đồng thời phải gắn bó với quy hoạch, kế hoạch luân chuyển khi bệnh viên phân công.

Có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo qui định tuyển sinh của trường đào tạo.

Có đủ sức khỏe để tham dự khóa học, có đủ trình độ đáp ứng điều kiện tuyển sinh; Cam kết tiếp tục thực hiện nhiệm vụ sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo với thời gian tối thiểu theo qui định pháp luật.

Có ít nhất 03 năm liên tục hoàn thành tốt nhiệm vụ đối với trường hợp đi học dài hạn và hoàn thành tốt nhiệm vụ năm trước khi được đi bồi dưỡng.

Không đang trong thời gian xem xét kỷ luật, thi hành kỷ luật, đối tượng bị điều tra và đang nghỉ theo chế độ chính sách.

Số lượng cử đi đào tạo nâng cao trình độ đại học, sau đại học tối đa là 20% theo chức danh nghề nghiệp bác sĩ, hộ sinh, điều dưỡng..,

VD: Khoa A có 20 hộ sinh trung cấp, cử đi học liên thông đại học là 4; Khoa B có 10 bác sĩ , tối đa cử đi học sau đại học là 2, tùy theo từng trình độ đi học tương ứng với tiêu chuẩn, điều kiện cụ thể.

2. Đối tượng, tiêu chuẩn và điều kiện cụ thể:

a. Bác sĩ, Dược sĩ đi học thạc sĩ, chuyên khoa I:

Ký hợp đồng lao động với bệnh viện đủ 12 tháng.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của năm trước và năm duyệt đào tạo. (VD: Hội đồng họp 2017 duyệt danh sách thi 2018, phải hoàn thành tốt nhiệm vụ 2016, 2017).

b. Bác sĩ, Dược sĩ đi học chuyên khoa II, Nghiên cứu sinh:

Có đủ các tiêu chuẩn chung theo qui định.

Có đề tài nghiên cứu khoa học hoặc tham gia 02 đề tài nghiên cứu khoa học trong vòng 5 năm gần nhất tính đến thời điểm xét duyệt đào tạo đề tài đã nghiệm thu.

Có nhiều điểm cộng ưu tiên (nhân viên có nhiều tiêu chuẩn ưu tiên sẽ được đi học trước).

Viên chức quản lý (cán bộ chủ chốt) hoặc diện quy hoạch

Đạt danh hiệu hạng I, II, III của các kỳ thi chuyên môn: bác sĩ chuyên nghiệp…

Có điểm ngoại ngữ tương đương theo khung năng lực ngoại ngữ Toeic 650, IELTS 6.0, Toefl ITP 550 trở lên.

Có giải thưởng hoặc bằng khen cấp thành phố, cấp bộ ngành (chính quyền, đoàn thể,..).

c. Hộ sinh, Điều dưỡng, Kỹ thuật Y:

Đi học liên thông cao đẳng, đại học:

Viên chức, người lao động có trình độ trung cấp: Hộ sinh, Điều dưỡng, Kỹ thuật  viên xét nghiệm, Gây mê hồi sức, X quang, Vật lý trị liệu, Dược được đi học chuẩn hóa trình độ đại học, cao đẳng với điều kiện cụ thể:

Được Ban chủ nhiệm Khoa Phòng sắp xếp thứ tự cử đi đào tạo và được Hội đồng duyệt danh sách cho phép đi đào tạo theo năm.

Hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao của năm trước liền kề.

Các tiêu chuẩn chấm điểm ưu tiên để được cử đi học trước: Thuộc danh sách quy hoạch, giữ nhiệm vụ Điều dưỡng Phó, đạt giải từ hạng 1 – hạng 5 trong các kỳ thi Điều dưỡng giỏi; có thâm niên làm việc cao hơn, *Nhân viên có nhiều tiêu chuẩn ưu tiên sẽ được đi học trước.

Đi học chuyên khoa I, Thạc sĩ điều dưỡng

Sau khi tốt nghiệp hệ đại học chuyên ngành 03 năm.

Có đủ các tiêu chuẩn chung theo qui định.

Có đề tài nghiên cứu khoa học, hoặc  tham gia 01 đề tài nghiên cứu khoa học trong vòng 5 năm gần nhất tính đến thời điểm xét duyệt đào tạo đề tài đã nghiệm thu.

Có nhiều điểm cộng ưu tiên theo thứ tự (nhân viên có nhiều tiêu chuẩn ưu tiên sẽ được đi học trước).

Viên chức quản lý (cán bộ chủ chốt) hoặc diện quy hoạch

Có điểm ngoại ngữ tương đương theo khung năng lực ngoại ngữ B2, Toeic 600, IELTS 5.5, Toefl ITP 500 trở lên.

Có giải thưởng hoặc bằng khen cấp thành phố, cấp bộ ngành (chính quyền, đoàn thể,..).

Đi học Chuyên khoa II, Tiến sĩ điều dưỡng

Sau tốt nghiệp chuyên khoa I, thạc sĩ: 05 năm

Có đủ các tiêu chuẩn chung theo qui định.

Có đề tài nghiên cứu khoa học hoặc tham gia 02 đề tài nghiên cứu khoa học trong vòng 5 năm gần nhất tính đến thời điểm xét duyệt đào tạo đề tài đã nghiệm thu.

Có nhiều điểm cộng ưu tiên theo thứ tự (nhân viên có nhiều tiêu chuẩn ưu tiên sẽ được đi học trước).

Viên chức quản lý (cán bộ chủ chốt) hoặc diện quy hoạch

Có điểm ngoại ngữ tương đương theo khung năng lực ngoại ngữ Toeic 650, IELTS 6.0, Toefl ITP 550 trở lên.

Có giải thưởng hoặc bằng khen cấp thành phố, cấp bộ ngành (chính quyền, đoàn thể,..).

d.  Chuyên viên, Cử nhân sinh học, Y tế công cộng đi học Thạc sĩ

Ký hợp đồng lao động với bệnh viện đủ 3 năm (36 tháng).

Có đủ các tiêu chuẩn chung theo qui định.

Có đề tài nghiên cứu khoa học hoặc tham gia 01 đề tài nghiên cứu khoa học trong vòng 5 năm gần nhất tính đến thời điểm xét duyệt đào tạo đề tài đã nghiệm thu.

Có nhiều điểm cộng ưu tiên theo thứ tự (nhân viên có nhiều tiêu chuẩn ưu tiên sẽ được đi học trước).

Viên chức quản lý (cán bộ chủ chốt) hoặc diện quy hoạch

Có điểm ngoại ngữ tương đương theo khung năng lực ngoại ngữ Toeic 600, IELTS 5.5, Toefl ITP 500 trở lên.

Có giải thưởng hoặc bằng khen cấp thành phố, cấp bộ ngành (chính quyền, đoàn thể,..)

e. Các trường hợp đào tạo theo nhu cầu công tác:

Viên chức, người lao động được cử đi đào tạo, bồi dưỡng do yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công tác chuyên trách, nâng cấp, thành lập đơn vị mới, đào tạo chuyên gia, đào tạo lại để cập nhật các kỹ thuật chuyên khoa sâu tại các cơ sở có mối liên kết với bệnh viện Hùng Vương trong nước hoặc nước ngoài được Ban Giám đốc quyết định theo thực tế. Người đi học phải cam kết phục vụ dài hạn từ 24 tháng trở lên, và phải áp dụng vào công việc thực tế hoặc hướng dẫn kỹ thuật vừa được học lại cho Khoa phòng nơi đang công tác.

Điều 4. Hội đồng xét duyệt đào tạo, bồi dưỡng

Chủ tịch: Giám đốc Bệnh viện Hùng Vương.

Thư ký: Chuyên viên phụ trách công tác đào tạo

Thành viên hội đồng: Ban giám đốc, Chủ tịch Công đoàn, Đoàn thanh niên và các Trưởng phòng chức năng: Tổ chức cán bộ, Kế hoạch tổng hợp,  Điều dưỡng.

Điều 5. Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng

Viên chức, người lao động được tuyển cử đi học tại chức, liên thông trình độ (Đại học, sau đại học) dài hạn theo kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ tại các trường đào tạo của Nhà nước đúng chuyên ngành, được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được hỗ trợ học phí theo qui chế chi tiêu nội bộ của bệnh viện.

Hỗ trợ 1 phần học phí cho các đối tượng học liên thông theo kế hoạch chuẩn hóa trình độ từ trung cấp lên cao đẳng, đại học (có tên trong danh sách được duyệt đi đào tạo theo kế hoạch hàng năm) do Giám đốc phê duyệt.

Tiền hỗ trợ học phí được trả theo từng năm học và được phòng Tổ chức cán bộ giám sát (không giải quyết trường hợp mất biên lai, phiếu thu và học phí của năm trước)

Đối với cán bộ, viên chức được cử đi học các lớp bồi dưỡng ngắn hạn để nâng cao trình độ theo yêu cầu công tác được hỗ trợ 100% học phí theo hoá đơn hoặc phiếu thu học phí của nhà trường (không thanh toán phí mua tài liệu).

Điều 6. Trách nhiệm và quyền lợi

1. Trách nhiệm của người đi học

-Viên chức, người lao động được cử đi đào tạo bồi dưỡng phải thực hiện đúng các qui định về đào tạo, bồi dưỡng, quy chế đào tạo, chịu sự quản lý của cơ sở đào tạo, và đảm bảo hoàn thành tốt khóa học.

-Nộp giấy báo trúng tuyển (Giấy triệu tập) về phòng Tổ chức cán bộ ngay khi nhận để Bệnh viện ra quyết định cử đi học.

-Có cam kết phục vụ sau khi được đào tạo ít nhất gấp 3 lần thời gian đào tạo và bồi hoàn chi phí đào tạo theo qui định.

-Sau khi kết thúc khóa học, viên chức người lao động phải báo cáo kết quả học tập (nộp bản Thông báo kết thúc khóa học, Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời) về Phòng Tổ chức cán bộ, nếu không nộp xem như chưa hoàn thành nhiệm vụ đi học.

-Trường hợp đi đào tạo ở nước ngoài về, người đi học phải tự đi làm thủ tục “công nhận văn bằng của người Việt Nam do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp” theo Quyết định số 77/2007/QĐ-BGDĐT và Thông tư 26/2013 của Bộ Giáo dục đào tạo ban hành; Nếu chưa hoàn tất thủ tục công nhận bằng thì xem như chưa hoàn thành nhiệm vụ đi học và không điều chỉnh hệ số lương tăng thêm theo trình độ đã học.

2. Quyền lợi:

-Được hưởng các chế độ lương, phụ cấp, thưởng theo qui chế chi tiêu nội bộ của bệnh viện.

-Được tính thời gian đào tạo, bồi dưỡng vào thời gian công tác liên tục.

-Được biểu dương, khen thưởng nếu đạt kết quả xuất sắc trong học tập (thi đầu vào và tốt nghiệp)

-Được tăng hệ số lương tăng thêm theo qui chế chi tiêu nội bộ, nếu có nộp văn bằng tốt nghiệp về phòng Tổ chức cán bộ, thời gian hưởng là tháng liền kề khi nộp văn bằng.

Điều 7. Đền bù chi phí đào tạo

Viên chức người lao động phải bồi hoàn chi phí đào tạo, bồi dưỡng và chi phí khác theo qui định trong các trường hợp sau:

Tự ý bỏ học hoặc không tham gia khóa học do bệnh viện cử đi và đã hoàn tất thủ tục nhập học,

Hoàn thành khóa học nhưng không được cơ sở đào tạo cấp văn bằng tốt nghiệp, chứng nhận kết quả học tập do nguyên nhân chủ quan,

Tự ý bỏ việc, xin thôi việc, xin chuyển công tác, đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc trong thời gian được cử đi đào tạo hoặc chưa công tác đủ thời gian yêu cầu, cam kết phục vụ cho bệnh viện, vi phạm pháp luật bị xử lý kỷ luật.

Chi phí đền bù, cách tính, điều kiện được tính giảm trừ, trả và thu hồi được thực hiện theo quy định tại Thông tư số 15/2012/TT-BNV ngày 25 tháng 12 năm 2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về tuyển dụng, ký kết hợp đồng làm việc và đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng đối với viên chức; và theo quy chế chi tiêu nội bộ của bệnh viện quy định, cụ thể sau:

Người được cử đi đào tạo dài hạn nhưng vẫn có làm việc (ghi nhận theo bảng chấm công) và xin ngày công của bệnh viện khi thi cuối khóa, thi tốt nghiệp các khoản tiền bệnh viện thu hồi: học phí, thưởng lễ, thưởng tết người đi học được hưởng trong thời gian đi học.

Người được cử đi đào tạo dài hạn tập trung không làm việc nhưng vẫn được hưởng nguyên lương, các khoản tiền bệnh viện thu hồi: học phí, thu nhập tăng thêm, dịch vụ, thưởng lễ, thưởng tết người đi học được hưởng trong thời gian đi học.

Điều 8. Tổ chức thực hiện

Phòng Tổ chức cán bộ: Xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng viên chức người lao động định kì hàng năm và 5 năm; Tổ chức các buổi họp xét duyệt đào tạo; Công khai, niêm yết danh sách được đào tạo trên bảng tin nội bộ; Giám sát quá trình học tập, tổng hợp kết quả, thống kê và báo cáo công tác đào tạo bồi dưỡng theo quý/năm.

Hội đồng đào tạo: có nhiệm vụ  họp xét duyệt đào tạo, đền bù chi phí đào tạo.

Phòng Tài chánh kế toán: Lập dự toán ngân sách chi cho công tác đào tạo, bồi dưỡng; Hướng dẫn thực hiện và quyết toán kinh phí đào tạo bồi dưỡng viên chức người lao động theo quy chế chi tiêu nội bộ của bệnh viện; tham gia và báo cáo kinh phí tại các buổi họp hội đồng đào tạo.

Ban chủ nhiệm các khoa, phòng: Xem xét đề cử viên chức người lao động đi đào tạo phù hợp với trình độ chuyên môn, vị trí việc làm và chức danh nghề nghiệp; Đảm bảo đủ nhân sự làm việc trong khoa phòng; Chấm công đúng và đủ số giờ làm việc của người đi học./.

                                                                                                    GIÁM ĐỐC

                                                                                        HOÀNG THỊ DIỄM TUYẾT

Bài viết khác